BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH -------------------------
Lê Duy Trinh
ĐẶC ĐIỂM CHỨC NĂNG CỦA GIỚI TỪ
TRONG TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI
Chuyên ngành : Ngôn ngữ học
Mã số : 60 22 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
TS DƯ NGỌC NGÂN
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2006
Lôøi caûm ôn
Ñeå hoaøn thaønh luaän vaên naøy, chuùng toâi ñaõ nhaän ñöôïc söï giuùp ñôõ cuûa quyù Thaày
Coâ giaûng daïy lôùp Cao hoïc Lí luaän ngoân ngöõ khoùa 14; quyù Thaày Coâ ôû khoa Ngöõ vaên,
Phoøng Khoa hoïc coâng ngheä – Sau ñaïi hoïc Tröôøng Ñaïi hoïc Sö phaïm thaønh phoá Hoà
Chí Minh; Ban Giaùm hieäu, quyù Thaày Coâ giaûng daïy taïi Khoa Sö phaïm tröôøng Ñaïi
hoïc Tieàn Giang.
Ñaëc bieät, chuùng toâi nhaän ñöôïc söï giuùp ñôõ, höôùng daãn taän tình cuûa Coâ Dö Ngoïc
Ngaân, tieán só Ngoân ngöõ hoïc, chuû nhieäm boä moân Ngoân ngöõ hoïc khoa Ngöõ vaên Tröôøng
Ñaïi hoïc Sö phaïm thaønh phoá Hoà Chí Minh.
Chuùng toâi traân troïng nhöõng söï giuùp ñôõ ñoù vaø xin ñöôïc noùi lôøi caûm ôn chaân
thaønh.
Taùc giaû
QUY ƯỚC TRÌNH BÀY
1. Tài liệu trích dẫn được đặt trong dấu . Chữ số đầu tiên đặt trước dấu (,) biểu thị số
thứ tự của tài liệu theo danh mục tài liệu tham khảo. Chữ số thứ hai đặt sau dấu phẩy biểu thị
số thứ tự trang của tài liệu được trích dẫn; ví dụ 7,tr. 24 là tài liệu thứ 7 trong danh mục tài
liệu tham khảo, trang 24. Nếu đoạn trích dẫn nằm ở hai ba trang liên tục thì giữa trang đầu và
trang cuối có ghi thêm dấu gạch nối (-), ví dụ 27,tr. 240 - 247. Thông tin đầy đủ về tài liệu
trích dẫn được ghi trong mục Tài liệu tham khảo đặt cuối luận văn.
2. Ví dụ được in nghiêng và ghi theo thứ tự a, b,c ... của từng phần.
3. Ngoài một vài chữ viết thông dụng như : x (xin xem), vd (ví dụ), luận văn còn sử
dụng một số ký hiệu :
- Dấu / : hay, hoặc
- Dấu + : có
- Dấu - : không có
- Dấu : có thể phát triển, biến đổi thành
4. Những từ trong ngoặc đơn ( ) là những từ có thể lược bỏ mà không làm cho câu thay
đổi về phương diện “có thể” hay “không thể” được người bản ngữ chấp nhận.
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Giới từ (preposition) là lớp từ được xác định từ rất sớm trong lịch sử nghiên cứu ngữ
pháp nói chung và từ loại nói riêng của thế giới. Các công trình nghiên cứu về ngữ pháp của
nhiều nước từ trước đến nay, khi miêu tả từ loại hoặc cấu trúc của các đơn vị ngữ pháp, ít nhiều
đều có đề cập đến lớp từ này.
Ở Việt Nam, kể từ cuốn “Việt Nam văn phạm” (1940) của Trần Trọng Kim, Phạm Duy
Khiêm, Bùi Kỷ cho đến các sách ngữ pháp gần đây, các tác giả, ở những mức độ khác nhau,
đều có bàn đến giới từ (có khi được thay bằng thuật ngữ khác như kết từ phụ thuộc, quan hệ
từ phụ thuộc, từ nối chính phụ). Trong những công trình nghiên cứu đó, các tác giả xuất phát
từ nhiều góc nhìn khác nhau đã khảo sát, miêu tả giới từ tiếng Việt ở những bình diện khác
nhau và thực tế đã có những đóng góp đáng kể trong việc chỉ ra những đặc điểm chức năng
của lớp từ này.
Tuy vậy, theo quan sát của chúng tôi, giới từ trong tiếng Việt có một diện mạo phong
phú và phức tạp hơn những gì mà các tác giả đi trước đã miêu tả. Nói một cách cụ thể hơn,
với tư cách là một yếu tố ngôn ngữ có tần số sử dụng rất cao trong giao tiếp, giới từ đảm
nhận khá nhiều chức năng và đóng vai trò quan trọng khi tham gia tạo lập phát ngôn. Một
số đặc trưng ngữ pháp và thuộc tính ngữ nghĩa của nó không phải chưa từng được nói đến
trong các công trình nghiên cứu trước đây. Có điều, chưa có một công trình nào khảo sát,
giới từ trong hệ thống từ loại tiếng Việt, nhất là gắn việc xem xét giới từ với bản chất tín
hiệu học nhằm phát hiện những hoạt động có tính quy luật của nó khi tham gia hành chức.
Hơn nữa, các công trình nghiên cứu đó đa phần chỉ quan tâm đến chức năng ngữ pháp của
giới từ do quan niệm giới từ là “hư từ” thuần túy; vì vậy, chức năng ngữ nghĩa của lớp từ
này chưa được chú ý.
Mặt khác, khả năng phát triển thành ngữ đoạn trong giao tiếp của giới từ là hoàn toàn
hiện thực. Nhưng kiểu ngữ đoạn như vậy (giới ngữ) hoặc không được thừa nhận hoặc thừa
nhận nhưng chưa được quan tâm và khảo sát đúng mức, trong khi ở một số ngôn ngữ khác
loại ngữ đoạn này đã được xác định và miêu tả tương đối đầy đủ.
miêu tả ở mức độ đủ chi tiết để tổng kết các đặc điểm chức năng (ngữ pháp, ngữ nghĩa) của
Xuất phát từ tình hình trên và từ mong muốn góp phần tường minh hóa các đặc điểm
chức năng (ngữ pháp, ngữ nghĩa) của giới từ – giới ngữ trong tiếng Việt, chúng tôi tiến hành
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
nghiên cứu đề tài này.
Việc phân định từ loại nói chung, việc xác định từ loại giới từ nói riêng đã có lịch sử
khá lâu đời. Trên cơ sở kế thừa và phát triển lí luận về từ loại của các triết gia, học giả Hy
Lạp thời cổ đại (Protagoras, Platon, Aristote), học phái Alexandrie đã xác lập hệ thống từ
loại tiếng Hy Lạp gồm tám từ loại trong đó có giới từ hay tiền trí từ (các từ loại khác là danh
từ, động từ, tính động từ, thành phần, đại danh từ, phó từ và liên từ). Giới từ được học phái
này quan niệm là loại từ có thể đứng trước các loại từ khác và cũng có thể dùng trong kết cấu
nội bộ của cụm từ và câu. Đến thế kỷ IV sau công nguyên, Donatus và Priscianus, hai nhà
ngữ pháp học La tinh chia tiếng La tinh thành tám loại (danh từ, động từ, đại từ, tính động từ,
phó từ, liên từ, thán từ và giới từ). Trong đó, giới từ được xác định có đặc điểm là dùng như
một từ riêng biệt trước các từ biến cách và kết hợp với cả các từ biến cách và các từ không
biến cách. Các nhà ngữ pháp học châu Âu đã dựa vào kết quả này để xây dựng một hệ thống
từ loại bao gồm chín loại sau: article (quán từ), substantif (danh từ), adjectif (tính từ) verbe
(động từ), adverbe (trạng từ), pronom (đại từ), préposition (giới từ), conjonction (liên từ) và
interjection (thán từ).
Về sau, bảng từ loại này mang tính chất truyền thống và được dùng để miêu tả hoạt động
ngữ pháp của nhiều ngôn ngữ trên thế giới, nhất là ở châu Âu.
cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông kinh” trong cuốn từ điển thường được gọi là từ điển
Việt–Bồ–La của Alexandre de Rhôdes xuất bản năm 1651 tại Rome. Trong phần III của bài
tựa này, tác giả đã xem giới từ tiếng Việt là một trong bốn loại thuộc phần không biến hình
của lời nói (ba loại kia là phó từ, thán từ, liên từ).
Với những tài liệu thu thập được, chúng tôi nhận thấy: giới từ tiếng Việt đã được các
nhà nghiên cứu ở những thời kỳ khác nhau đề cập đến trong các công trình ngữ pháp học của
mình.
Từ năm 1940, các tác giả (Trần Trọng Kim, Phạm Duy Khiêm, Bùi Kỷ) của cuốn “Việt
Nam văn phạm” đã xác định và đặt tên cho giới từ tiếng Việt với định nghĩa như sau:
Ở Việt Nam, tài liệu cũ nhất bằng tiếng Việt có đề cập đến giới từ có lẽ là bài tựa “Báo
“Giới từ là tiếng dùng để liên lạc một tiếng với tiếng túc từ của nó” 23, tr.131.
Sau đó, trên thực tế, các tác giả đã dựa vào ngữ nghĩa để phân loại các giới từ.
Trong cuốn “Văn phạm Việt Nam” (1952), Bùi Đức Tịnh không nêu rõ định nghĩa về
giới từ mà xếp luôn các liên từ phụ thuộc (bởi, vì, cho nên, tuy... nhưng) vào cùng một loại
với giới từ và gọi chúng là “giới từ và giới ngữ”. Theo ông, “giới từ và giới ngữ” là những
tiếng dùng để chỉ sự tương quan giữa ý nghĩa của hai từ ngữ và hai mệnh đề 43, tr.230.
Nguyễn Kim Thản trong công trình “Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt” (1963) tách
riêng giới từ thành một từ loại như trong “Việt Nam văn phạm” (1940) và quan niệm: Giới từ
là một loại hư từ (trong nhóm quan hệ từ) có tác dụng nối liền từ phụ (hoặc từ tổ phụ) với từ
chính (hoặc từ tổ chính), biểu thị quan hệ ngữ pháp giữa hai đơn vị đó. Ví dụ:
– Đi với tôi; viết bằng bút chì; ăn cho no
– Người mà tôi gặp hôm qua là người miền Nam 39, tr.330.
Trong công trình nghiên cứu này, ông mới chỉ đặt vấn đề “nghiên cứu qua về một số
giới từ chính trong tiếng Việt” và xét một số giới từ như sau: ở, ở trong (Anh bếp ở trong
chạy ra), từ (tự), với, đối với, cùng với, cùng, bởi, vì, để, do, tại, cho, bằng (chiếc nhẫn này
bằng vàng), rằng (một lúc, ngài dạy rằng...).
Có điểm cần lưu ý là Nguyễn Kim Thản cho các từ “trên”, “dưới”, “trong”, “ngoài”,
“trước”, “sau” không thuộc từ loại giới từ mà thuộc phạm trù “thời vị từ”, “đứng trước danh
từ, chúng và danh từ là đồng ngữ, có ý nghĩa ngữ pháp về địa điểm, thời gian hay khối
Tác giả Nguyễn Tài Cẩn trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt (Tiếng – Từ ghép – Đoản
ngữ)” quan niệm: quan hệ từ (bao gồm giới từ và liên từ) là những từ có khả năng đi kèm với
đoản ngữ với tư cách là những cái dấu nối hai chiều, nối đoản ngữ với một đơn vị nào đấy ở
trước để tạo thành một đơn vị lớn hơn. Ông viết “những từ này có thể xem như là những dấu
hiệu hình thức chứng tỏ rằng đoản ngữ sau chúng đã được đặt vào một thế phân bố nhất
định”. 7, tr.326
Giáo trình “Ngữ pháp tiếng Việt” (1983) của trường Đại học Sư phạm Hà Nội không
nêu ra định nghĩa quan hệ từ mà chỉ giới thiệu đặc điểm và tác dụng của từ loại này. Theo
đó, quan hệ từ “ là loại đơn vị được gọi là giới từ, liên từ hoặc từ định hình cú pháp hoặc từ
lượng,...và làm thành phần của câu (hay của từ tổ)” 39, tr.330-347
nối dùng để nối các thành phần trong nhóm và trong câu hay các thành tố trong cụm từ ”8,
tr.162. Các tác giả cũng cho rằng: khác với các lớp từ cơ bản và các phụ từ, lớp từ này
không có ý nghĩa phạm trù, chức năng, không có khả năng kết hợp với những lớp từ khác; nó
là một thứ công cụ ngữ pháp, được dùng để góp phần “hiện thực hóa” các quan hệ cú pháp
trong cụm từ, trong câu... để xây dựng nên các kết cấu cú pháp.
Trong công trình nghiên cứu tập thể “Ngữ pháp tiếng Việt” (UBKHXH, 1983), các tác
giả đã xác định một từ loại gọi là kết từ với cách phân loại hết sức cô đọng như sau:
a. Kết từ chính phụ tức là kết từ biểu thị quan hệ chính phụ.
Đó là những từ như: do, của, để, bởi, bởi vì, tại, tại vì, mà, đối với, từ ...
b. Kết từ liên hợp tức là kết từ biểu thị quan hệ liên hợp.
Đó là những từ như: và, với, hay, hoặc, cùng, nhưng, song... và những từ có thể dùng
thành cặp như: nếu... thế, tuy... nhưng, vì... cho nên, không những... mà còn, càng... càng...
46, tr.91
Như vậy, tuyệt đại đa số các từ được các tài liệu ngữ pháp trước đó cho là giới từ được
các tác giả công trình nghiên cứu nói trên xếp vào loại kết từ chính phụ.
Cũng dùng thuật ngữ kết từ, Diệp Quang Ban trong tài liệu “Ngữ pháp tiếng Việt phổ
thông” (1989) cho rằng “Kết từ (còn gọi là quan hệ từ) là những hư từ dùng để liên kết các từ
với nhau hoặc các vế trong câu”. Sau đó, mặc dù viết: “Trong nhiều ngôn ngữ, kết từ được
phân biệt rõ thành giới từ và liên từ. Cách phân biệt này không thuận lợi đối với tiếng Việt”
từ và liên từ”. Tiếp đến, trên thực tế, khi tiến hành phân loại, tác giả đã chia kết từ thành hai
tiểu loại như sau:
“10.1. Giới từ: dùng để nối định ngữ với danh từ – thành tố chính hoặc bổ ngữ gián
tiếp với động từ – thành tố chính .. : của, bằng, do, vì, tại, bởi, để, từ, đến...
“10.2. Liên từ: và, với, cùng, cùng với, cũng, như, còn, mà, hay, hay là, hoặc, hoặc
nhưng tác giả vẫn thừa nhận “ở những chỗ cần thiết người ta vẫn phải nhắc đến tên gọi giới
Năm 1986, trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt (Từ loại)”, Đinh Văn Đức cũng có quan
niệm tương tự như Diệp Quang Ban khi viết rằng “so với các ngôn ngữ châu Âu việc tìm
ranh giới triệt để giữa liên từ và giới từ trong tiếng Việt là khó, do tính chất đa chức năng của
là,...” 2, tr.143-149.
các yếu tố”. Từ đó, tác giả kết luận: “tất cả các hư từ cú pháp có thể tập hợp trong một phạm
trù chung là quan hệ từ”16, tr.186.
Khi tiến hành phân loại quan hệ từ, tác giả chia ra các tiểu loại như sau:
a. Các liên từ thuần túy.
b. Các giới từ thuần túy.
c. Các liên từ – giới từ.
Hoàng Văn Thung trong giáo trình “Ngữ pháp tiếng Việt” – tập I (1991) không nói đến
thuật ngữ giới từ, liên từ mà dùng thuật ngữ kết từ chính phụ, kết từ đẳng lập. Đây là 2 tiểu
loại của từ loại kết từ. Loại từ này có đặc trưng như sau:
Về ý nghĩa khái quát, kết từ biểu thị ý nghĩa về quan hệ giữa các khái niệm và đối tượng
được phản ánh. Kết từ là dấu hiệu biểu thị các quan hệ cú pháp giữa các thực từ (và hư từ)
một cách tường minh.
Về khả năng kết hợp và chức năng cú pháp, kết từ được dùng nối kết các từ, các kết hợp
từ, các câu và đoạn văn có quan hệ cú pháp.
Trong công trình nghiên cứu “Cú pháp tiếng Việt” (1992), Hồ Lê sử dụng bộ thuật ngữ
rất khác với các tác giả đi trước. Ông cho rằng kết từ trong tiếng Việt gồm ba tiểu loại. Mỗi
tiểu loại có chức năng cụ thể như sau:
a. Kết từ nối tiếp: dùng để nối những bộ phận ghép, gồm có: và, với, cùng, nhưng ,
song ...
từ, động từ, tính từ, gồm những từ như: của, về, với, cho, ở, tại, vào, bằng, để, đặng, vì ...
c. Kết từ đề – thuyết : dùng để nối phần đề với phần thuyết, gồm những từ như: thì, là,
mà, nếu ... thì ... , hễ ...thì ... , tuy ... nhưng ... 26, tr.372-403.
Theo đó, kết từ chính phụ chính là giới từ trong quan niệm của nhiều nhà nghiên cứu
khác.
Trong giáo trình “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” (1997), các tác giả Mai Ngọc Chừ,
Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến cũng sử dụng thuật ngữ kết từ và giải thích ngắn gọn
“kết từ là những từ dùng để chỉ quan hệ bình đẳng, quan hệ chính phụ và làm nhiệm vụ liên
kết hai từ hay hai bộ phận từ ngữ với nhau” 13, tr.273.
b. Kết từ chính phụ: dùng để nối bộ phận chính với bộ phận phụ trong các từ tổ danh
Tương tự như vậy, cuốn “Cơ sở tiếng Việt” (2000) của Hữu Đạt, Trần Trí Dõi, Đào
Thanh Lan cho biết “kết từ dùng để nối kết các từ thực hoặc các vế câu”. Và nói thêm “ngoài
việc nối kết, chúng còn diễn đạt mối quan hệ giữa các thực từ, các vế câu”. Trên cơ sở chia
kết từ thành hai tiểu loại là liên từ và giới từ, các tác giả quan niệm “giới từ : diễn đạt quan
hệ chính phụ thường dùng để nối định ngữ với danh từ hoặc bổ ngữ gián tiếp với động từ”
15, tr.160 (trong khi liên từ: diễn đạt quan hệ bình đẳng về ngữ pháp hoặc quan hệ liên hợp
qua lại về ngữ pháp và ý nghĩa khi nối các vế câu).
“Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học” (1997) đã giải thích giới từ là “từ loại có ý
nghĩa phạm trù, đặc trưng là biểu thị quan hệ của đối tượng với đối tượng, hiện tượng, cảnh
huống. Ý nghĩa này được biểu hiện không phải bằng ý nghĩa từ vựng chân thực của từ mà
bằng những đặc điểm hoạt động của chúng với tư cách là các từ hư chỉ quan hệ. Ví dụ: Sách
của tôi; làm việc ở nhà máy” 49, tr.105.
Trong giáo trình “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” (1997) do Bùi Tất Tươm chủ biên,
các tác giả xem “quan hệ từ là những hư từ dùng để nối từ với từ, hoặc nối đoạn câu, câu với
nhau. Quan hệ từ cũng được dùng để nối những cấu tạo ngôn ngữ lớn hơn câu” 44, tr.180.
Xét theo quan hệ ngữ pháp do quan hệ từ diễn đạt, các tác giả phân quan hệ từ ra làm hai
loại: Quan hệ từ bình đẳng và quan hệ từ phụ thuộc; đồng thời nói rõ : các quan hệ từ bình
đẳng có tên gọi truyền thống là liên từ; các quan hệ từ phụ thuộc có tên gọi truyền thống là
giới từ.
Cũng tập thể tác giả này, đến cuốn “Ngữ pháp chức năng tiếng Việt , quyển 2 –Ngữ
đoạn và Từ loại” (2005), dưới sự chủ biên của Cao Xuân Hạo, đã tách giới từ và liên từ ra
quan hệ chính phụ, tức là cho biết ngữ đoạn đi sau nó là phụ (phụ của câu thì gọi là trạng
ngữ, phụ của ngữ danh từ thì gọi là định ngữ, phụ của ngữ vị từ thì gọi là bổ ngữ)” 21,
tr.113.
Trước đó, trong cuốn “Từ loại tiếng Việt hiện đại” (1999), Lê Biên đã có suy nghĩ
tương tự như Đinh Văn Đức (1986) khi cho rằng “việc tách ra thành giới từ và liên từ thiếu
những căn cứ khách quan, vả lại cũng không có tác dụng lớn lao gì cả về lý thuyết và thực
tiễn, cho nên để chung một loại từ”. Tác giả gọi đó là quan hệ từ; đồng thời xác định quan hệ
thành hai từ loại riêng biệt. Ở đây, giới từ được coi là “những từ được dùng để đánh dấu
từ là những hư từ cú pháp, không có nghĩa sở chỉ, sở biểu, là “những từ có chức năng diễn
đạt các mối quan hệ giữa các khái niệm trong tư duy” 6,tr.161.
Tác giả Hữu Quỳnh, trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt” (2001), xác định “quan hệ từ là
những từ chỉ các quan hệ ngữ pháp dùng để nối các thành phần trong câu hay các thành tố
trong cụm từ” 36, tr.161.Kết thúc chương quan hệ từ, tác giả chú thích: Ngữ pháp tiếng
Việt trước kia chia quan hệ từ thành giới từ (nối các thành tố trong cụm từ) và liên từ (nối
các thành tố trong thành phần câu).
Trái lại, Nguyễn Văn Thành với công trình nghiên cứu “Tiếng Việt hiện đại (Từ pháp
học)” (2003) tách giới từ và liên từ ra thành hai từ loại độc lập. Đồng thời, tác giả đưa ra
định nghĩa về giới từ như sau:
“Giới từ là những từ trợ nghĩa ngữ pháp, luôn đi trước danh từ, đại từ, số từ, để giới hạn
hành động hay sự kiện về địa điểm cụ thể, thời gian cụ thể hoặc biểu thị nguyên nhân, mục
đích, đối tượng, phương tiện và cách thức cụ thể diễn ra hành động trong câu”41, tr.476.
Qua việc điểm lại các công trình nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt tiêu biểu có đề cập đến
giới từ ở các thời kỳ, chúng tôi sơ bộ nhận thấy:
a. Có tác giả xem giới từ nói riêng và quan hệ từ (kết từ, từ nối) nói chung là một loại
“hư từ” thuần túy, là từ công cụ, không có ý nghĩa phạm trù, chức năng và không có khả
năng kết hợp với những lớp từ khác. Vai trò của giới từ trong cơ cấu ngữ pháp tiếng Việt
được xác định bằng các chức năng liên kết, “xúc tác”, “môi giới, trung gian” nên nó không
Có tác giả thừa nhận tư cách là phương tiện tổ hợp cú pháp của giới từ và xác định
nó có khả năng đảm nhiệm “vai trò chỉ tố đánh dấu ý nghĩa ngữ pháp” cho các thành tố quan
hệ. Khi đảm nhận vai trò này, giới từ (và liên từ) không phải là một yếu tố trung gian mà
gắn với thành phần được đánh dấu và có tư cách một thành phần trong quan hệ với một thành
phần khác.
b. Trong khi khảo sát và miêu tả đặc điểm chức năng của giới từ tiếng Việt, hầu hết
các công trình đều nghiêng về phương diện ngữ pháp; mà ngay ở phương diện này, các tác
giả có khi lại có quan niệm rất khác nhau, thậm chí đối lập nhau. Trong khi đó, phương diện
ngữ nghĩa của giới từ tiếng Việt hầu như chưa được khảo sát và miêu tả có hệ thống mà
thường dừng ở chỗ giải nghĩa và nêu cách sử dụng của từng giới từ riêng lẻ.
có liên quan gì đến cấu tạo và chức năng của các kết cấu cú pháp.
c. Khi tiến hành phân định từ loại, giới từ có khi được xem là một loại từ có cương vị
ngang hàng với các từ loại khác trong hệ thống từ loại tiếng Việt; có khi chỉ được coi là một
tiểu loại cùng với liên từ hợp thành một loại từ được gọi là quan hệ từ hoặc kết từ, từ nối.
d. Việc vạch ra biên giới của giới từ và liên từ gặp nhiều khó khăn cho nên có tác giả
phải đi đến giải pháp trung gian khi cho rằng bên cạnh giới từ và liên từ còn có một tiểu loại
nữa là giới từ – liên từ; hoặc gộp giới từ và liên từ thành một từ loại như đã nói ở mục (c).
Những nhận xét bước đầu như trên càng chứng tỏ giới từ tiếng Việt là một lớp từ có
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
“diện mạo” rất đa dạng và phức tạp trong hệ thống từ loại tiếng Việt.
3.1. Theo quan sát của chúng tôi, giới từ tiếng Việt: về ngữ pháp, là phương tiện đánh
dấu mối quan hệ chính phụ giữa các thành tố trong một ngữ đoạn cho biết thành tố đi sau nó
là phụ; về ngữ nghĩa, là chỉ tố đánh dấu vai nghĩa của các thành phần chức năng có quan hệ
trực tiếp với nó trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu. Từ đó, chúng tôi xác định lớp từ có
những đặc điểm từ loại nêu trên chính là đối tượng nghiên cứu của đề tài.
3.2. Trên cơ sở xác định đối tượng nghiên cứu như vậy, trong khuôn khổ một luận văn
cao học, đề tài này tập trung khảo sát và miêu tả đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của giới từ
4. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
trong tiếng Việt hiện đại.
Giới từ thuộc vào số đối tượng chưa được giới Việt ngữ học nghiên cứu thật đầy đủ.
xét chức năng và miêu tả cách sử dụng của từng giới từ riêng lẻ. Việc nghiên cứu này là cần
thiết. Song, theo chúng tôi, cần phải nhìn nhận lớp từ này một cách toàn diện hơn, cần tìm ra
những đặc điểm chức năng chung cho cả lớp từ để từ đó làm rõ điểm khác biệt của chúng so
với các từ loại khác, giúp cho việc nhận diện, nắm bắt cũng như sử dụng chúng đạt được
hiệu quả tốt hơn. Đây chính là mục đích nghiên cứu của đề tài này.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục đích là tìm ra những đặc điểm chức năng có tính chất khái quát của
giới từ tiếng Việt, đề tài tập trung giải quyết những nhiệm vụ chính sau đây:
Ngay cả các công trình nghiên cứu trước đây phần lớn thường mới chỉ dừng lại ở việc xem
Thứ nhất: Xác định cương vị của giới từ trong hệ thống từ loại tiếng Việt.
Thứ hai: Tìm ra những tiêu chí nhận diện giới từ tiếng Việt; trên cơ sở đó, lập danh
sách và đề xuất cách phân loại giới từ tiếng Việt.
Thứ ba: Phân tích những đặc điểm chức năng của giới từ tiếng Việt trên cơ sở thừa
nhận sự hiện diện của giới ngữ trong cơ cấu ngữ pháp tiếng Việt. Cụ thể là khảo sát và miêu
tả vai trò xác lập quan hệ ngữ nghĩa – ngữ pháp, khả năng tham gia cấu tạo nghĩa cho ngữ
đoạn và chức năng đánh dấu vai nghĩa của giới từ tiếng Việt (Đây là nhiệm vụ trọng tâm).
Như vậy, việc nghiên cứu giới từ tiếng Việt theo nhiệm vụ đặt ra sẽ có những đóng góp
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
nhất định cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn.
Về phương pháp luận, chúng tôi tuân thủ quan niệm: coi ngôn ngữ là công cụ giao tiếp
đồng thời là công cụ tư duy; ngôn ngữ là một hệ thống, các yếu tố tạo nên nó có quan hệ
khắng khít với nhau, hai mặt của ngôn ngữ – ý nghĩa và hình thức – gắn bó với nhau. Coi
trọng đặc điểm riêng của tiếng Việt và xuất phát từ thực tiễn của tiếng Việt, đồng thời coi
trọng tính hệ thống của ngữ pháp tiếng Việt nhằm tránh suy luận không có căn cứ hoặc dựa
vào sự kiện rời rạc.
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu đề ra, ngoài những phương pháp nghiên cứu khoa
học chung, đề tài này sử dụng chủ yếu phương pháp phân tích ngôn ngữ để làm rõ những đặc
trưng ngữ nghĩa – ngữ pháp của giới từ tiếng Việt. Từ kết quả của việc phân tích đó, chúng
giới từ so với các từ loại khác trong tiếng Việt. Đồng thời, chúng tôi còn sử dụng phương
pháp thu thập dữ liệu, phương pháp thống kê để phục vụ cho việc phân tích và lập danh sách
giới từ tiếng Việt.
7. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Chúng tôi nghĩ rằng: ngoài những đặc điểm ngữ pháp đã được các công trình nghiên
cứu trước đây miêu tả, giới từ tiếng Việt còn có những đặc trưng riêng về ngữ nghĩa. Cho
tôi sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu ngôn ngữ để thấy được đặc điểm chức năng của
nên, nếu chỉ dừng lại ở những nhận xét từ bình diện ngữ pháp thì rất dễ đi vào mô tả các đặc
điểm phân bố và khó vượt ra khỏi việc chỉ tìm vai trò của lớp từ này đối với sự hình thành
các kết cấu ngữ pháp. Vì thế, để làm rõ bản chất từ loại của giới từ, đề tài này, bên cạnh việc
hệ thống hóa các đặc điểm ngữ pháp của giới từ tiếng Việt, còn đặc biệt chú ý đến việc miêu
tả đặc điểm ngữ nghĩa chức năng của nó. Đây chính là phần đóng góp khiêm tốn của người
8. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
thực hiện luận văn.
Luận văn có 157 trang (Chính văn: 125 trang, Tài liệu tham khảo: 6 trang, Phụ
lục: 26 trang).
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, phần Nội dung của luận văn gồm 2 chương.
Chương 1: Một số vấn đề chung về giới từ tiếng Việt
Ở chương này, chúng tôi trình bày khái niệm giới từ trong Việt ngữ học; đặc điểm
từ loại và tiêu chí nhận diện giới từ tiếng Việt; phân biệt giới từ với từ chỉ hướng, danh từ vị
trí. Từ đó, laäp danh saùch vaø đề xuất cách phân loại giới từ tiếng Việt.
Nội dung chương này là cơ sở để giải quyết những vấn đề được đặt ra ở chương 2.
Chương 2 : Đặc điểm chức năng của giới từ tiếng Việt
tiêu biểu trong tiếng Việt hiện đại, chúng tôi miêu tả đặc điểm chức năng của giới từ tiếng
Việt bằng việc chỉ ra những khả năng mà nó có thể thực hiện ở hai bình diện : ngữ pháp và
ngữ nghĩa.
Nội dung chương này là trọng tâm của luận văn.
Trong chương này, trên cơ sở phân tích chức năng, cách sử dụng của một số giới từ
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIỚI TỪ TIẾNG VIỆT
1.1. Khái niệm giới từ
Thuật ngữ giới từ đã được một số tác giả sử dụng trong nhiều công trình nghiên cứu về
ngữ pháp tiếng Việt như đã nêu. Điều đáng chú ý là thuật ngữ này được dùng theo những
nghĩa khác nhau. Để tránh nhầm lẫn nội dung khái niệm và để xác định phạm vi khái niệm
trong khi sử dụng, dưới đây chúng tôi tạm thời phân ra các “nghĩa” của thuật ngữ này ở hai
bình diện: ngữ pháp và ngữ nghĩa.
1.1.1. Bình diện ngữ pháp
1.1.1.1.. Nghĩa thứ nhất:
Giới từ là tiếng “dùng để liên lạc một tiếng với tiếng túc từ của nó”, “làm nhiệm vụ
liên kết hai từ hay hai bộ phận từ ngữ với nhau”, “có tác dụng nối liền từ phụ (hoặc từ tổ
phụ) với từ chính (hoặc từ tổ chính)”, giới từ “có khả năng đi kèm với đoản ngữ... , nối đoản
ngữ với một đơn vị nào đấy ở trước để tạo thành một đơn vị lớn hơn”, “cho biết ngữ đoạn đi
sau nó là phụ”. Tiêu biểu cho cách hiểu này là các tác giả Trần Trọng Kim – Bùi Kỷ – Phạm
Duy Khiêm, Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Tài Cẩn. Theo nghĩa này, giới từ dùng để nối các
thành tố trong một cụm từ (ngữ, từ tổ, ngữ đoạn) và đối lập với liên từ về mặt quan hệ ngữ
pháp trong nội bộ một cụm từ (giới từ biểu thị quan hệ chính phụ, liên từ biểu thị quan hệ
đẳng lập).
1.1.1.2.. Nghĩa thứ hai :
Giới từ là những từ có nhiệm vụ “liên kết các từ với nhau hoặc các vế trong câu”,
“diễn đạt mối quan hệ giữa các thực từ, các vế câu, dùng để nối các từ, các kết hợp từ, các
câu và đoạn văn có quan hệ với nhau”; tức là “cũng được dùng để nối những cấu tạo ngôn
ngữ lớn hơn câu”.
Tiêu biểu cho quan niệm này là Diệp Quang Ban, Bùi Tất Tươm – Hoàng Xuân Tâm
– Nguyễn Văn Bằng, Hoàng Văn Thung. Theo nghĩa này, giới từ có thể dùng để nối các
thành tố trong một cụm từ, các vế trong một câu, các câu trong một đoạn. Như vậy, ở trường
hợp này giới từ không được phân biệt với liên từ về mặt chức năng và quan hệ ngữ pháp bởi
vì giới từ cùng với lớp từ thường được ngữ pháp truyền thống gọi là “liên từ phụ thuộc” nhập
thành một loại, được gọi chung là quan hệ từ chính phụ, kết từ chính phụ, từ nối chính phụ.
1.1.2. Bình diện ngữ nghĩa
1.1.2.1. Nghĩa thứ nhất :
Giới từ là một loại hư từ cú pháp, “không có nghĩa sở chỉ, sở biểu” mà chỉ là những
từ chức năng dùng để “diễn đạt các mối quan hệ giữa các khái niệm trong tư duy”, “chỉ sự
tương quan giữa ý nghĩa của hai từ ngữ và hai mệnh đề”. Đây là quan niệm của Bùi Đức
Tịnh, Đinh Văn Đức và Lê Biên. Theo nghĩa này, giới từ không có ý nghĩa từ vựng.
1.1.2.2. Nghĩa thứ hai :
Giới từ là “những từ trợ nghĩa ngữ pháp... để giới hạn hành động hay sự kiện về địa
điểm cụ thể, thời gian cụ thể hoặc biểu thị nguyên nhân, mục đích, đối tượng, phương tiện và
Tác giả đã dẫn ý kiến của nhà ngôn ngữ học người Nga A.A Reformatskij để thừa nhận rằng
: các từ trợ nghĩa (trong đó có giới từ) là những từ mà “ý nghĩa từ vựng của chúng trùng với
ý nghĩa ngữ pháp của chúng ... chức năng ngữ pháp trong các từ trợ nghĩa ngữ pháp đã hàm
chứa bản chất từ vựng của chúng” 41, tr.93.
Cần nói thêm là, Nguyễn Văn Thành không chấp nhận các khái niệm thực từ, hư từ
mà quan niệm hệ thống từ loại tiếng Việt bao gồm hai mảng lớn là các từ đủ nghĩa và các từ
trợ nghĩa.
cách thức cụ thể diễn ra hành động trong câu”. Đây là quan niệm của Nguyễn Văn Thành.
Rõ ràng, quan niệm về nghĩa của thuật ngữ giới từ rất khác nhau. Có thể tạm thời rút
ra một số nhận xét như sau:
a. Về mặt ngữ pháp:
Các tác giả một cách không tường minh đã cho rằng giới từ không có khả năng đảm
nhận bất kỳ chức vụ cú pháp gì ở trong câu, không độc lập hành chức mà chỉ có vai trò
“nối”, “liên kết” các kiểu cấu trúc ngữ pháp. Giới từ dùng để biểu thị quan hệ chính phụ giữa
các thành tố hoặc ở bậc cụm từ hoặc ở cả bậc câu. Sự khác nhau của từng quan niệm là do
các tác giả mở rộng hay thu hẹp chức năng biểu thị quan hệ chính phụ của giới từ. Điều này
tất yếu đưa đến hệ quả: có tác giả xem giới từ là một loại từ loại độc lập, đối lập với liên từ
về mặt quan hệ ngữ pháp: giới từ biểu thị quan hệ chính phụ, còn liên từ biểu thị quan hệ
đẳng lập bất kể kết cấu ngữ pháp mà chúng tham gia là ngữ đoạn (cụm từ) hay câu. Có tác
giả chỉ coi giới từ là một tiểu loại của quan hệ từ, khác biệt với liên từ về mặt chức năng
(giới từ chỉ dùng để nối các thành tố trong một ngữ đoạn còn liên từ có thể dùng để nối các
thành tố trong một ngữ đoạn, các vế trong câu, các câu) và một phần nào đó “đồng chất” với
liên từ về mặt quan hệ ngữ pháp (trong tương quan với liên từ phụ thuộc – là liên từ nhưng
biểu thị quan hệ chính phụ).
b. Về mặt ngữ nghĩa:
Các nghĩa nêu trên hoàn toàn đối lập nhau: nghĩa thứ nhất khẳng định giới từ không
có ý nghĩa từ vựng. Nghĩa thứ hai thừa nhận sự tồn tại (một cách ngầm ẩn) ý nghĩa từ vựng
của giới từ, cho ý nghĩa từ vựng của giới từ trùng với ý nghĩa ngữ pháp của nó.
không có ý nghĩa từ vựng, dùng để biểu thị quan hệ chính phụ trong một ngữ đoạn (từ tổ,
cụm từ) và / hoặc dẫn nhập thành phần phụ (trạng ngữ) trong cấu trúc cú pháp của câu.
Thuật ngữ giới từ (preposition) được dùng theo quan niệm là từ thường đứng trước
danh ngữ, động ngữ, đại từ để báo trước một bổ ngữ. Cách hiểu này là theo đặc điểm của các
ngôn ngữ dùng trật tự S-V-O như tiếng Việt. Trong khi đó, ở một số ngôn ngữ khác như
tiếng Nhật, tiếng Thổ, vị trí của lớp từ này có chức năng tương tự nhưng thường đứng sau
danh từ nên được gọi là hậu trí từ (postposition).
1.2. Cương vị của giới từ trong hệ thống từ loại tiếng Việt
Trong đề tài này, thuật ngữ giới từ được hiểu theo nghĩa như sau: Giới từ là những từ
1.2.1. Nhìn chung, trong các sách viết về ngữ pháp tiếng Việt từ trước đến nay đều có một
phần dành riêng cho vấn đề từ loại tiếng Việt. Chẳng hạn, ở giai đoạn đầu, Trần Trọng Kim,
Bùi Kỷ, Phạm Duy Khiêm [23] phân định vốn từ tiếng Việt thành 13 loại: danh từ, mạo từ,
loại từ, chỉ định từ, đại danh từ, tính từ, động từ, trạng từ, giới từ, liên từ, tán thán từ, trợ ngữ
từ, từ đệm. Bùi Đức Tịnh 43 phân các “tự ngữ” thành 8 từ loại: danh từ, đại từ, trạng từ,
động từ, phó từ, liên từ, giới từ và giới ngữ, hiệu từ. Ở giai đoạn này, tuy các tác giả không
đưa ra những cơ sở để phân định từ loại nhưng có thể thấy bình diện ngữ nghĩa của từ đã
được sử dụng ở một mức độ nhất định để làm cơ sở phân chia từ loại. Trong quan niệm của
các tác giả này, giới từ được tách thành một từ loại riêng, phân biệt với các từ loại khác.
Ở các công trình về sau, vấn đề phân định từ loại đã được xem xét một cách kỹ lưỡng
và khoa học hơn. Các tác giả đã căn cứ cả vào mặt ý nghĩa lẫn mặt ngữ pháp của từ để phân
chia từ loại tiếng Việt. Nhìn chung, đa số các tác giả trước hết đều phân vốn từ tiếng Việt
thành hai loại lớn: thực từ và hư từ. Theo cách hiểu phổ biến, thực từ là những từ có nghĩa
thực (hoặc nghĩa từ vựng) về sự vật, hiện tượng; là loại nghĩa mà nhờ nó, có thể làm được sự
liên hệ giữa từ với sự vật, hiện tượng nhất định; còn hư từ là những từ có nghĩa hư, loại
nghĩa mà không thể nhờ nó làm sự liên hệ với sự vật, hiện tượng; cho nên khi nói đến nghĩa
hư là nói đến vai trò ngữ pháp của hư từ.
Cần nói thêm rằng, bên cạnh việc phân chia như vậy, một số tác giả còn phân từ vốn
từ tiếng Việt ra một lớp từ khác độc lập so với thực từ và hư từ. Đó là lớp từ biểu thị mối
quan hệ của người nói với nội dung phát ngôn và quan hệ của phát ngôn với thực tại. Lớp từ
Vậy, giới từ – đối tượng khảo sát của đề tài này – nằm ở vị trí nào trong các cách phân
loại nói trên ?
1.2.2. Trước hết, nói về cơ sở phân định từ loại: Theo suy nghĩ của chúng tôi, trong số các
quan niệm về từ loại như đã nêu ở trên, Đinh Văn Đức là người đã đề ra những tiêu chuẩn để
phân định từ loại rõ ràng hơn cả. Theo tác giả này, vốn từ tiếng Việt được phân chia thành
các từ loại là căn cứ vào một tập hợp các tiêu chuẩn sau :
a. Tiêu chuẩn ý nghĩa:
Trong cách xem xét bản chất ý nghĩa của từ loại, Đinh Văn Đức cho rằng ý nghĩa từ
đó Nguyễn Kim Thản gọi là ngữ thái từ, Đinh Văn Đức gọi là tình thái từ.
loại là ý nghĩa khái quát, trong đó có sự thống nhất giữa các yếu tố từ vựng và yếu tố ngữ
pháp, nói một cách khác, đó là ý nghĩa từ vựng – ngữ pháp. Tác giả nói rõ thêm : “Yếu tố từ
vựng, có mặt trong ý nghĩa từ loại là do chức năng phản ánh thực tại của các khái niệm. Ý
nghĩa sự vật của danh từ, ý nghĩa vận động của động từ, ý nghĩa tính chất của tính từ ... là
những ý nghĩa phạm trù vì có tính chất khái quát hóa cao, nhưng đó lại là kết quả của một
quá trình trừu tượng hóa hàng loạt cái cụ thể (...), ý nghĩa khái quát trở thành nòng cốt của ý
nghĩa từ loại” 15, tr.34.
b. Tiêu chuẩn khả năng kết hợp:
Xét đến mối quan hệ của từ với từ trong ngữ lưu, Đinh Văn Đức cho rằng : đối với
tiếng Việt, bản chất của khả năng kết hợp từ là sự phân bố các vị trí trong bối cảnh. Trong
khi áp dụng tiêu chuẩn này, Đinh Văn Đức đã sử dụng khái niệm đoản ngữ do Nguyễn Tài
Cẩn đề xuất để mô tả, nhận xét.
c. Tiêu chuẩn chức vụ cú pháp:
Xét đến chức năng của từ trong câu, theo Đinh Văn Đức, đây là một tiêu chuẩn đã
được nhiều tác giả sử dụng đồng thời với khả năng kết hợp của từ để tạo thành một cơ sở
chung cho sự phân định từ loại dưới tên gọi “đặc trưng phân bố”.
Căn cứ vào một tập hợp tiêu chuẩn nói trên, Đinh Văn Đức đã vạch ra các đối lập
trong nội bộ kho từ vựng tiếng Việt, hình thành nên các tập hợp lớn, các tập hợp nhỏ (các từ
loại) và các tập hợp nhỏ hơn (các tiểu loại trong nội bộ một từ loại). Theo đó, vốn từ tiếng
Việt được phân thành ba tập hợp lớn:
– Thực từ
– Tình thái từ.
Thực từ gồm các từ loại: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ.
Hư từ gồm các từ loại: từ phụ, từ nối.
Tình thái từ gồm các từ loại: tiểu từ, trợ từ 16, tr.42 - 44.
Đến phần phân chia các từ loại trong tập hợp hư từ, Đinh Văn Đức xác định hư từ
tiếng Việt bao gồm hai tập hợp: Thứ nhất là các hư từ làm từ phụ diễn đạt các ý nghĩa ngữ
pháp của thực từ, một số đạt tới khả năng làm công cụ ngữ pháp gần giống các hư từ của
dạng thức phân tích tính trong ngôn ngữ Ấn – Âu hoặc các phụ tố. Thứ hai là các hư từ với
– Hư từ
chức năng liên kết có thể tạm gọi là hư từ cú pháp (quan hệ từ) truyền thống vẫn gọi là liên
từ và giới từ. Ở phần trình bày cụ thể về quan hệ từ, Đinh Văn Đức cho rằng: so với các
ngôn ngữ châu Âu, việc tìm một ranh giới triệt để giữa liên từ và giới từ trong tiếng Việt là
khó, do tính chất đa chức năng của các yếu tố. Các chỉ tố quan hệ mang tính chất nửa liên từ
nửa giới từ khó đạt được một giải pháp thỏa đáng theo hướng liên từ hoặc giới từ. Do vậy,
tác giả đã xếp tất cả các hư từ cú pháp vào trong một phạm trù chung là quan hệ từ. Từ đó,
phân chia quan hệ từ thành các tiểu loại:
– Các liên từ thuần túy
– Các giới từ thuần túy
– Các liên – giới từ.
1.2.3. Đối với vấn đề phân định từ loại, chúng tôi có ý kiến như sau:
Về cơ bản, chúng tôi tán thành cách phân loại từ loại của Đinh Văn Đức: chia vốn từ
tiếng Việt ra thành ba tập hợp lớn (thực từ, hư từ, tình thái từ).
Riêng việc phân chia các từ loại trong tập hợp hư từ và các tiểu loại trong quan hệ từ,
chúng tôi có quan niệm khác Đinh Văn Đức.
Việc xem giới từ và liên từ chỉ là tiểu loại của từ loại quan hệ từ là không thỏa đáng.
Dù rằng việc vạch ra một đường ranh giới giữa giới từ và liên từ trong tiếng Việt không phải
là đơn giản nhưng gộp chúng vào cùng một phạm trù chung “chỉ là một thủ thuật nhằm gạt
bỏ vấn đề chứ không phải có tác dụng giải quyết vấn đề” 2, tr.149.
Theo các nhà nghiên cứu, giới từ và liên từ có những đặc điểm giống nhau: Cả hai
Như đã biết, khi thông báo, giao tiếp với nhau, người ta phải dùng từ đặt thành câu.
Trong câu có nhiều bộ phận, nhiều thành phần khác nhau. Mối quan hệ về mặt ngữ pháp
giữa các bộ phận, các thành phần được gọi là quan hệ ngữ pháp. Theo đó, chức năng của giới
từ và liên từ là nối các bộ phận, các thành phần có quan hệ ngữ pháp với nhau. Ví dụ:
a. Sách của tôi
b. Sách với vở
c. Làm việc tại nhà
d. Làm việc và giải trí
Tuy vậy, quan hệ ngữ pháp do giới từ và liên từ biểu thị rất khác nhau.
đều là loại từ chuyên làm phương tiện tổ hợp cú pháp.
Ở ví dụ (a), (c), giới từ “của”, “tại” biểu thị quan hệ chính phụ giữa hai bộ phận
“sách – tôi”, “làm việc – nhà”, còn ở ví dụ (b), (d), liên từ “với”, “và” biểu thị quan hệ đẳng
lập (liên hợp, song song) giữa hai bộ phận “sách – vở”, “làm việc - giải trí”.
Mặt khác, xu hướng gắn kết với các thành phần, các bộ phận trong tổ hợp của giới từ
và liên từ cũng rất khác nhau. Liên từ không có xu hướng gắn chặt với thành phần, bộ phận
nào trong tổ hợp có sự hiện diện của nó. Còn giới từ lại có xu hướng gắn kết với thành phần,
bộ phận đi liền sau nó tạo thành một đơn vị chức năng. Do vậy, trong các công trình nghiên
cứu ngữ pháp tiếng Việt, vấn đề “liên ngữ” hầu như không được đặt ra còn đơn vị chức
năng thường gọi là “giới ngữ” đã được hầu hết các nhà nghiên cứu Việt ngữ đề cập đến. Liên
quan đến vấn đề này, A.I.Smirnitsky đã có nhận xét khá thú vị : “Thậm chí người ta có thể
nói rằng bản thân sự tồn tại một từ loại nhất định là căn cứ vào chỗ những từ trong từ loại
này được dùng một cách đều đặn ở chức năng một thành phần nhất định của câu” (dẫn theo
[8, tr.123]). (Diệp Quang Ban (1993) có dùng khái niệm “Liên ngữ” nhưng với một nghĩa
khác. Theo ông, liên ngữ thường đứng đầu câu, tuy nhiên cũng có khi liên ngữ đứng sau chủ
ngữ, được dùng để nối ý câu chứa nó với ý của câu đứng trước hoặc đứng sau câu ấy, với ý
cả cụm gồm nhiều câu đứng trước hoặc đứng sau câu ấy. Đây chính là thành phần chuyển
tiếp của câu).
Hơn nữa, về mặt ngữ nghĩa chức năng, liên từ chỉ thuần túy là từ công cụ, không có
khả năng chỉ ra vai nghĩa của các thành phần chức năng trong các kết cấu ngữ pháp. Còn khả
năng này của giới từ lại rất tường minh.
trong việc xác định vai nghĩa các thành phần chức năng hữu quan, chúng tôi sẽ bàn kỹ trong
chương 2.
Từ những lý do cơ bản như trên, trong luận văn này, chúng tôi xem giới từ và liên từ
là từ loại độc lập có cương vị ngang hàng với các từ loại khác trong hệ thống từ loại tiếng
Việt.
1.3. Tieâu chí nhận diện và danh sách giới từ tiếng Việt
1.3.1. Con đường hình thành giới từ tiếng Việt
Hiện nay, khi bàn về sự hình thành giới từ trong tiếng Việt vẫn chưa có sự thống
nhất ý kiến giữa các nhà nghiên cứu. Có thể chia thành hai quan điểm như sau :
Về sự hiện diện của giới ngữ trong cơ cấu ngữ pháp tiếng Việt và vai trò của giới từ
Quan ñieåm 1 :Quan điểm này cho rằng con đường phổ biến nhất và đặc trưng
nhất để tạo nên từ nói chung, giới từ nói riêng là con đường chuyển loại, tức là một từ có thể
được sử dụng ở nhiều từ loại khác nhau. Lập luận của những người theo quan điểm này là :
trong tiếng Việt không có hình thái học của từ như trong các ngôn ngữ châu Âu cho nên việc
chuyển một từ vốn mang ý nghĩa của từ loại này sang biểu thị ý nghĩa của một từ loại khác là
điều tất yếu.
Quan ñieåm 2 :Quan điểm này cho rằng cơ chế hình thành giới từ tiếng Việt là
thông qua quá trình ngữ pháp hóa các thực từ. Theo quan điểm này, hầu hết các giới từ tiếng
Việt là những thực từ được ngữ pháp hóa mà thành. Chúng vốn là những vị từ ngoại động
(đến, tới, ra, vào, lên, xuống, qua, về, ở, cho…) hay danh từ (của, trên, dưới, trong, ngoài,
trước, sau…) được chuyển sang dùng như giới từ mà không hề kèm theo một quá trình
chuyển hẳn từ loại.
1.3.2. Tiêu chí nhận diện giới từ tiếng Việt
Tiếp thu thành tựu của các công trình nghiên cứu đi trước, cùng với việc phân tích
trên ngữ liệu (thể hiện ở những phần sau), chúng tôi đề xuất một số tiêu chí nhận diện giới từ
Đặc điểm ngữ pháp :
tiếng Việt như sau :
– Không độc lập đảm nhận chức vụ cú pháp trong câu, không có khả năng tạo thành
câu độc lập;
– Không có khả năng thay thế các từ nghi vấn, không thể dùng từ nghi vấn để thay
thế;
– Biểu thị quan hệ chính phụ giữa các thành tố trong một ngữ đoạn;
– Có khả năng dẫn nhập một ngữ đoạn để tạo nên một đơn vị chức năng được gọi là
giới ngữ.
– Không sử dụng một mình để trả lời cho câu hỏi;
– Không có ý nghĩa từ vựng nhưng có ý nghĩa ngữ pháp.
Đặc điểm ngữ nghĩa chức năng :
– Đóng vai trò là chỉ tố đánh dấu vai nghĩa của một số thành phần chức năng có quan
hệ trực tiếp với nó.
Ví dụ: Xét từ “vì”.
+ “Vì” không độc lập đảm nhận bất kỳ chức vụ cú pháp gì trong câu, cũng không một
mình tạo câu dù là câu tỉnh lược hay câu đặc biệt và đương nhiên không được sử dụng để trả
lời cho câu hỏi.
+ “Vì” không gọi tên sự vật, hành động, tính chất tức là không có nghĩa từ vựng nhưng
“vì” có mang ý nghĩa ngữ pháp. Ví dụ :
a. Chết vì tai nạn ( vì biểu thị ý nghĩa quan hệ nguyên nhân giữa chết và tai nạn).
b. Hy sinh vì tổ quốc ( vì biểu thị ý nghĩa quan hệ mục đích giữa hy sinh và tổ quốc).
+ “Vì” dùng để biểu thị quan hệ chính phụ giữa hai thực từ : “khổ vì con”(khổ là thành
tố chính, con là thành tố phụ); hoặc dẫn nhập một ngữ đoạn thực từ tạo thành một đơn vị
chức năng, đảm nhận một chức vụ cú pháp nhất định trong câu.Ví dụ :
a. Vì mưa, nó không thể đến trường ( Vì mưa là trạng ngữ).
b. Nó thi rớt là vì anh (vì anh là vị ngữ).
+ “Vì” có khả năng đánh dấu vai nghĩa của danh ngữ hữu quan.Ví dụ:
a. Nó nghỉ vì bệnh (bệnh đóng vai Nguyên nhân).
b. Chúng ta học tập vì ngày mai (ngày mai đóng vai Mục đích).
“Vì” thỏa mãn những tiêu chí nhận diện giới từ cho nên có thể kết luận “vì” là một giới
từ.
1.3.3. Phân biệt giới từ với từ chỉ hướng
Đến đây, chúng tôi nghĩ rằng cần tiếp tục làm rõ đặc điểm của giới từ trên cơ sở phân
biệt vai trò, tác dụng của giới từ với những từ thường được gọi là từ chỉ hướng, phó động từ
phương hướng, trạng từ chỉ hướng. Cụ thể đó là những từ như : ra, vào, lên, xuống, về ...
Trong tiếng Việt hiện đại, nhóm từ này là một trong những nhóm từ được nhiều nhà
Việt ngữ học quan tâm. Tuy nhiên, hiện vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về nhóm từ
này và việc phân biệt từ chỉ hướng vận động với giới từ.
c. Anh ấy gắng sức vì cô ta (cô ta đóng vai Người hưởng lợi).
Lê Văn Lý coi những từ này là những hư từ làm công cụ ngữ pháp của động từ chính,
dùng để biểu thị ý nghĩa về phương hướng. “Đó là những động từ hao mòn, khi chúng là
động từ, chúng đều chỉ vận động cho nên khi chúng là hư từ, chúng tôi gọi là từ chỉ hướng”
27, tr.215.
Trong một số sách ngữ pháp dùng trong nhà trường trước đây, đối với các trường hợp
kể trên, các tác giả thống nhất với quan điểm của Trần Trọng Kim, Phạm Duy Khiêm, Bùi
Kỷ trong Việt Nam văn phạm (1940) cho rằng nếu không có bổ ngữ thì “ra, vào, lên,
xuống”... là trạng từ, nếu có bổ ngữ thì chúng là giới từ 23, tr.97- 99. Chẳng hạn, Dương
Thanh Bình căn cứ vào sự có mặt hay vắng mặt của bổ ngữ để xác định đặc điểm của loại từ
đứng sau (từ chỉ hướng vận động) : Khi có bổ ngữ đứng sau thì từ chỉ hướng vận động có thể
trở thành giới từ và khi không có bổ ngữ thì nó trở thành tiểu từ (particle).
Liên quan đến mối quan hệ với thành tố trước và thành tố sau của những từ “ra, vào,
lên, xuống …”, Nguyễn Tài Cẩn trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt” đã nêu lên khá đầy đủ
mức độ phức tạp của những từ chỉ hướng vận động. Theo tác giả, khi những từ này kết hợp
với động từ hoặc danh từ đứng trước và danh từ đứng sau thì có khả năng xảy ra những
trường hợp sau:
- Xu thế kết dính với danh từ đứng sau và động từ đứng trước là ngang nhau. Ví dụ:
Chúng tôi đã bàn đến vấn đề đó một cách rất cụ thể.
- Đứng riêng ra mà không có sự kết dính với bên nào cả. Ví dụ: Anh ấy đã tìm ra lời
giải đáp.
tr.82- 84].
Nguyễn Kim Thản thì cho rằng “ra, vào, lên, xuống, sang, qua, về, lại, đến” không còn
đầy đủ những đặc điểm ngữ pháp của động từ, cũng không phải là từ cùng loại hay từ thứ
yếu trong cụm từ. Chúng đã trở thành công cụ ngữ pháp biểu thị phương hướng của hành
động đi trước... là phó động từ phương hướng 40, tr.74-75. Tuy vậy, Nguyễn Thị Quy
trong công trình “Vị từ hành động” (1995) đã chứng minh tính vô lý của công thức “(đổ lên)
+ đầu” của Nguyễn Kim Thản bằng những trường hợp mà ý nghĩa hướng được chứa sẵn
trong những vị từ (động từ) như đổ, trút, rơi, dẫm vốn chỉ có thể là hướng xuống; thành ra
“đổ lên đầu”, “trút lên vai”, “dẫm lên sàn” đồng nghĩa với “đổ xuống đầu”, “trút xuống vai”,
- Gắn với danh từ hơn. Ví dụ: Thầy giáo đã nói về vấn đề này một cách đầy đủ [7,
“dẫm xuống sàn”. Do đó phải thay công thức trên bằng công thức “đổ + (lên đầu)” nghĩa là
phải thấy “lên” không phải là trạng ngữ chỉ hướng (vì hướng là xuống) mà là giới từ chỉ
đích.
Trong công trình nghiên cứu “Ngữ pháp tiếng Việt - Từ loại”,
Đinh Văn Đức chủ trương coi nhóm từ chỉ hướng là những yếu tố ngữ pháp đa chức năng.
Ngoài trường hợp chúng hoạt động như một động từ, các trường hợp khác có thể gặp là:
a. Xuất hiện trong cấu trúc ngữ động từ với tö cách là từ phụ chỉ hướng (bước ra,
chui ra) hoặc chỉ kết quả (tìm ra, nhận ra ...) làm thành tố phụ cho trung tâm.
b. Xuất hiện sau động từ và trước một danh từ có quan hệ với động từ đó (bước vào
lớp, bám vào cây). Lúc đó, các từ này không hoàn toàn còn là từ phụ nữa mà đã có thêm mối
quan hệ với danh từ đứng sau, “đã có một chức năng khá gần gũi với chức năng giới từ
truyền thống” 16, tr.181.
Nguyễn Văn Thành 41 xử lý nhóm từ này là trường hợp chuyển từ loại của các
động từ chuyển động thành trạng từ chỉ phương hướng của hành động. Theo tác giả, khi
ghép các từ nói trên với các động từ khác thì các “động từ chuyển động” đi trước chỉ rõ quá
trình vận động còn các từ đi sau chỉ biểu thị phương hướng của chuyển động mà thôi. Tác
giả cho rằng ý nghĩa từ vựng của các từ “ra, vào, lên, xuống, tới, qua, về” ở đây không hề
giảm xuống hay yếu; do vậy không coi những từ này là những công cụ ngữ pháp biểu thị
phương hướng của hành động đi trước bởi vì số lượng các động từ mà các “từ chỉ hướng” có
thể ghép vào sau chúng rất hạn hẹp và cũng không đồng nhất. Từ đó, tác giả đề nghị : trong
còn trong trường hợp có danh từ đi theo sau thì cần phải xử lý các từ chỉ phương hướng là
những giới từ.
Tác giả Nguyễn Lai trong cuốn “Nhóm từ chỉ hướng vận động trong tiếng Việt” cho
rằng “từ chỉ hướng mang hướng cụ thể của sự vận động không gian nhưng không mang một
phương thức vận động xác định” 24, tr.64. Ông lập luận rằng vì chưa mang phương thức
vận động xác định nên từ chỉ hướng vận động có thể đứng sau một động từ mang phương
thức vận động xác định để bổ sung hướng hoạt động cho động từ ấy. Ông cũng nói rõ “nó
cũng có thể dùng độc lập như động từ. Khi dùng độc lập như động từ thì những từ chỉ hướng
vận động biểu thị hoạt động hướng không gian; và hướng không gian này là hướng có giới
trường hợp không có các danh từ đi sau ta có thể coi các “từ chỉ phương hướng” là trạng từ;
hạn. Khi đứng sau động từ chính từ chỉ hướng vận động nói trên – ngoài phạm vi hoạt động
không gian – có thể tùy theo tính chất kết hợp mà nó còn biểu hiện những sắc thái trừu tượng
khác, không còn ý nghĩa không gian” 24, tr.64-65.
Hầu hết các tác giả chưa nêu một cách đầy đủ sự phân biệt những trường hợp sử dụng
khác nhau của các từ chỉ hướng mà chỉ nhập làm một rồi đưa ra cách giải quyết chung trong
khi mỗi một từ cụ thể trong nhóm từ này có những đặc trưng ngữ pháp - ngữ nghĩa không
phải bao giờ cũng như nhau. Các từ ra, vào, lên, xuống ... có nguồn gốc từ động từ là điều ai
cũng thừa nhận. Do vậy, để xác định bản chất từ loại của các từ này thì cần đặt chúng trong
quan hệ ngữ nghĩa với động từ sinh ra chúng để thấy được đặc trưng ngữ pháp - ngữ nghĩa
của các từ trong nhóm này. Đồng thời, trên cơ sở phân biệt vai trò, chức năng của x trong
cấu trúc (AxB ) (A là một động từ, B là một danh từ hoặc một đại từ, x là một hư từ) đưa ra
một số tiêu chí khu biệt giới từ - với tư cách là một loại hư từ cú pháp - với từ chỉ hướng -
các hư từ phi cú pháp - trong cấu trúc đã nêu.
Về mặt ngữ nghĩa, chúng ta nhận thấy :
a. x được thành lập từ động từ không gian - chỉ hướng. Do đó “ý nghĩa từ vựng” của x
không đứt đoạn với ý nghĩa từ vựng của động từ sinh ra nó. Ở một x nào đó có thể tồn tại
một trong những nét nghĩa tạo nên “ý nghĩa” của nó như sau:
+ Quan niệm về sự di chuyển của hành động theo hướng thẳng đứng;
+ Quan niệm của người Việt Nam về hướng của các vùng được phân bố trên lãnh
+ Quan niệm của người Việt Nam về cấp bậc hành chính trong hệ thống hành chính
của Việt Nam;
+ Quan niệm về hướng phát triển của quá trình hành động.
b. Quá trình ngữ pháp hóa của hàng loạt hư từ x xảy ra phụ thuộc vào ý nghĩa của toàn
câu. Chính vì đặc trưng ngữ nghĩa của những thực từ bao quanh hư từ x, đặc biệt là ý nghĩa
của động từ - vị ngữ trong câu tác động mạnh mẽ đến quá trình ngữ pháp hóa của x nên có
thể nghiên cứu quá trình ngữ pháp hóa này qua ngữ nghĩa - cấu trúc của động từ - vị ngữ.
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy tình hình như sau:
thổ Việt Nam;
– Có một số động từ chuyển động có thể kết hợp với x để biểu đạt hướng chuyển
động chính xác của hành động. Ví dụ:
a. Chạy về nhà
b. Bước ra vườn
c. Đi lên đồi
d. Nhảy xuống mương
– Có một số động từ vốn đã có nét nghĩa về “hướng” (như Nguyễn Thị Quy đã
chứng minh) trong ý nghĩa từ vựng của mình khi kết hợp với x nét nghĩa về hướng được hiển
lộ. Ví dụ:
a. Phát ra hồ sơ
b. Sáng tạo ra nhiều tác phẩm
c. Mở ra một con đường
d. Thêm vào hai nhân khẩu
e. Thu vào hai công nhân
– Có một số động từ không hàm chứa nét nghĩa về hướng nhưng khi kết hợp với x,
chúng biểu đạt hướng của hành động theo cách quan niệm của người bản ngữ về vị trí giữa
các vùng lãnh thổ đã phân bố trên lãnh thổ
Việt Nam. Ví dụ:
a. Chuyển vào Sài Gòn một lô hàng
b. Gởi ra Hà Nội hai chiếc xe
– Có một số động từ kết hợp với x chỉ đơn giản biểu đạt mối quan hệ cú pháp giữa
động từ đứng trước x và danh từ hoặc đại từ đứng sau nó. Ví dụ:
a. Nói về vấn đề dân chủ
b. Hiểu về ngôn ngữ
c. Bàn đến hiện tượng chuyển loại từ
Từ tình hình trên, chúng tôi nghĩ rằng : khi muốn xác định từ loại của những từ ra, vào,
lên, xuống … cần phải dựa vào ý nghĩa của động từ trung tâm bởi lẽ ý nghĩa của động từ
trung tâm quy định chức năng của các từ này. Chẳng hạn như các trường hợp sau :
c. Đưa xuống Cà Mau một số thuyền
1. Một số động từ chỉ sự chuyển động như chạy, bay, bước, bò; chỉ những hành động
gây nên như đẩy, dắt, ném, phun, rót … vốn không mang ý nghĩa hướng. Khi muốn thể hiện
hướng của hành động thì người ta dùng những động từ chỉ hướng làm trạng ngữ chỉ hướng.
Trường hợp này cần xử lý những từ muốn xác định là từ chỉ hướng di chuyển của hành động.
2. Riêng từ “ra” được dùng làm trạng ngữ cho những động từ chỉ những hành động
nhằm đạt đến những hiệu quả như “tìm, kiếm, chạy (với ý nghĩa kiếm), nghĩ, nghiên cứu, chế
tạo. Có thể xem đây là từ chỉ hướng kết quả của hành động.
3. Có những động từ gây “chuyển động” mà nghĩa nội tại của nó bao gồm cả kết quả
như dắt, ném, thả, đè, nâng …Với những động từ này, các từ ra, vào, lên, xuống chỉ biểu thị
hướng chuyeån ñộng của đối tượng mà thôi. Nhưng lại có những động từ gây “chuyển động”
không bao hàm kết quả như rút, đút, đẩy, moi, nhét … Với những động từ này, những từ “ra,
vào, lên, xuống …” vừa chỉ kết quả vừa chỉ hướng và do đó có những thuộc tính cú pháp
tương đồng với cả trường hợp (1) và (2) nêu trên. So sánh (1), (2), (3):
– dắt ngựa ra (+) tìm bạn ra (–) moi sạn ra (+)
– dắt ra ngựa (–) tìm ra bạn (+) moi ra sạn (+)
– dắt không ra (–) tìm không ra (+) moi không ra (+)
ÔÛ trường hợp này, nhöõng töø neâu treân coù theå xöû lyù như là những từ chỉ hướng
chuyển động và kết quả của hành động.
4. Một số động từ di chuyển như rơi, dẫm, rắc, đổ, trút … lại đòi hỏi từ đi sau nó là
từ chỉ đích chứ không chỉ hướng vì hướng di chuyển của những động từ này vốn là xuống.
lên người … được dùng để chỉ đích. Do vậy, cần xem đây là giới từ chæ ñích.
Về mặt ngữ pháp, từ cấu trúc A x B có thể có những biến thể như sau :
1. A x B A x (không B); xB (không A)
2. A x B ABx
Trong các biến thể đó, xB (không A) là một giới ngữ mà x là hư từ cú pháp (giới từ)
có một chức năng cú pháp nhất định trong câu. Trong các biến thể còn lại x là hư từ phi cú
pháp (từ chỉ hướng đi sau động từ). Là giới từ, x gắn chặt với danh từ (hoặc đại từ) đi sau nó
Chẳng hạn từ “lên” trong các ngữ đoạn như rơi lên đầu, dẫm lên chân bạn, trút lên vai, đổ
hơn là động từ đứng trước nó. Còn với tư cách là hư từ phi cú pháp, x có đặc điểm là có thể
gắn liền hoặc tách rời khỏi động từ đứng trước nó.
Trên cơ sở những nhận xét ấy, chúng tôi thấy rằng có thể dựa vào tiêu chí hình thức
sau đây để khu biệt giới từ và từ chỉ hướng trong cấu trúc AxB:
Nếu có thể chuyển cả khối (xB) lên đầu câu mà ý nghĩa ban đầu của câu không thay
đổi thì x là giới từ. Ngoài điều kiện này ra, x là hư từ chỉ hướng.Ví dụ:
a. Nó chạy về nhà Về nhà, nó chạy (–)
(“Về” là từ chỉ hướng)
b. Nó đã có ý kiến về vấn đề đó Về vấn đề đó, nó đã có ý kiến (+)
(“Về” là giới từ)
Khi chuyển lên đầu câu, nó không còn là bổ ngữ nữa vì đã tách khỏi vị ngữ và chiếm
vị trí của một trạng ngữ trong câu.
Điều cần lưu ý là, trong tiếng Việt, việc phân biệt như trên không phải lúc nào cũng dễ
dàng vì về mặt hình thức các từ chỉ hướng vận động hoàn toàn giống với những giới từ
tương ứng.Ví dụ: trong câu “Tôi nhìn ra biển”, từ “ra” được dùng để chỉ hướng của hành
động “nhìn”. Các hướng khác có thể đi kèm với động từ “nhìn” là:
– nhìn lên (trời)
– nhìn xuống (biển)
– nhìn về (thành phố)
– nhìn vào (tài liệu)
Từ “ra” trong trường hợp trên không mang đặc điểm ngữ nghĩa – ngữ pháp của giới từ
bởi nó không hề có sự liên kết với danh ngữ đứng sau nó mà gắn với động từ đứng trước nó.
Khi không muốn thể hiện hướng của hành động “nhìn” thì có thể lược bỏ “ra” : Tôi nhìn
biển.
Hoặc trong câu “Tôi gửi xuống Cà Mau một lô hàng”, từ “xuống” cũng được xem xét
như từ “ra” về chức năng trong cấu trúc cú pháp. Sự xuất hiện của “xuống” ở đây chỉ xác
định cho hành động “gửi” theo hướng từ vùng phía bắc Việt Nam xuống Cà Mau (thuộc
– nhìn sang (nhà hàng xóm)
vùng phía nam Việt Nam). Từ “xuống” có thể xuất hiện ngay sau động từ như ví dụ trên
nhưng cũng có thể đứng sau bổ ngữ chỉ đối tượng của hành động : “Tôi gửi một lô hàng
xuống Cà Mau”. Cả hai cấu trúc:
a. Tôi gửi xuống Cà Mau một lô hàng.
b. Tôi gửi một lô hàng xuống Cà Mau.
Về mặt hình thức tương ứng với hai cấu trúc:
a’.Tôi gửi cho nó một lô hàng.
b’. Tôi gửi một lô hàng cho nó.
Trong cấu trúc (a’), (b’), “cho” được xác định là giới từ (phát âm không có trọng âm).
Như vậy, phải chăng “xuống” trong hai cấu trúc (a), (b) cũng có chức năng như “cho”, tức
chúng đều là giới từ ?
Điều này gây nên một khó khăn lớn cho việc phân biệt giới từ với từ chỉ hướng vận
động. Nhìn chung, có thể giải thích rằng : Những từ đang bàn đều sinh ra từ thực từ, “ý
nghĩa” của chúng bao giờ cũng liên quan chặt chẽ với ý nghĩa từ vựng của thực từ sinh ra
chúng. Chúng vốn là những vị từ ngoại động đã ngữ pháp hóa chuyển sang dùng như giới từ
không hề kèm theo một quá trình chuyển hẳn từ loại ; các chức năng tồn tại song song.
Chúng hoạt động hết sức đa dạng giống như những từ đa chức năng : Với tư cách là một thực
từ, mỗi từ trong nhóm đều có thể đóng vai trò là một vị ngữ trong phát ngôn; còn với tư cách
là một hư từ, mỗi từ trong nhóm có thể thực hiện chức năng là một giới từ thực thụ (nối liền
hay hướng kết quả của hành động, trạng thái. Tình hình này xuất phát từ chỗ quá trình ngữ
pháp hóa không gắn liền với trạng thái “mất nghĩa”. Trái lại, trong một chừng mực nhất
định có thể hiểu đó là hiện tượng tạo nghĩa mới theo yêu cầu giao tiếp. Tín hiệu ngôn ngữ
xuất hiện sau không phủ định sự tồn tại những tín hiệu cùng gốc xuất hiện trước mà tồn tại
song song và được sử dụng một cách bình đẳng với tín hiệu xuất hiện trước.
1.3.4. Phân biệt giới từ với danh từ vị trí
Các từ chỉ vị trí trong ngôn ngữ nào cũng có. Xét trong mối quan hệ giữa ngôn ngữ và
tư duy thì vị trí là sự phản ánh mối quan hệ tồn tại của sự vật về mặt không gian và nơi diễn
các thành tố trong một ngữ đoạn) hoặc thực hiện chức năng là một từ chỉ hướng vận động
ra các hoạt động trong quan hệ với thời gian.Vì vậy, các từ chỉ vị trí có quan hệ tất yếu với
danh từ và động từ.Trong khi chỉ vị trí ở bậc trừu tượng hóa, các từ này cũng diễn đạt cả
quan hệ về thời gian.
Trong tiếng Việt, các từ chỉ vị trí là trên, dưới, trong, ngoài, trước, sau, giữa, cạnh,
bên,…Các từ này này hoạt động rất phức tạp.Có thể kể ra những trường hợp sau:
1.3.4.1. Hoạt động với tư cách chủ ngữ hay chủ đề của phát ngôn. Ví dụ:
a. Trên có núi, dưới có sông.
b. Trước sau phải nhất quán, trên dưới phải một lòng.
1.3.4.2. Hoạt động với tư cách một thành tố phụ trong kết cấu động ngữ.Ví dụ:
a. Miền Nam đi trước về sau.
b. A chạy trước, C chạy sau còn B chạy giữa.
Các tổ hợp kiểu này rất dễ gặp trong tiếng Việt : ngồi ngoài, ăn sau, nằm giữa,…
1.3.4.3. Hoạt động với tư cách một thành tố phụ (sau) trong kết cấu danh ngữ. Ví dụ :
nhà trước, vườn sau, áo ngoài, tầng trên, cổng giữa,…
1.3.4.4. Hoạt động với tư cách của một yếu tố giống các giới từ trong các ngôn ngữ
châu Âu khi đứng sau một động từ và đứng trước danh từ ( ngồi trên bàn, đứng trước cổng,
ăn dưới bếp,…) ; hoặc khi đứng trước một danh từ ( trong nhà, ngoài ngõ, trước mặt, sau
lưng, trên trời, dưới đất,…).
Từ những nhận xét trên, chúng tôi xử lý các từ chỉ vị trí trong các trường hợp đã nêu
+ Ba trường hợp đầu : Từ chỉ vị trí là danh từ vì chúng có thể đảm nhận chức năng ngữ
pháp của một danh từ thực thụ là làm chủ ngữ trong câu ( trường hợp 1.3.4.1), bổ ngữ trong
kết cấu động ngữ ( trường hợp 1.3.4.2), định ngữ trong kết cấu danh ngữ (trường hợp
1.3.4.3).
+ Riêng trường hợp 1.3.4.4, từ chỉ vị trí được xác định là giới từ do chúng hoạt động
với chức năng là diễn đạt mối quan hệ giữa động từ với danh từ ; hoặc dẫn nhập một danh từ
(danh ngữ) tạo thành một đơn vị có khả năng đảm nhiệm một chức vụ cú pháp trong câu
(thường là trạng ngữ).
như sau :
1.3.5. Danh sách giới từ tiếng Việt
Căn cứ vào tiêu chí nhận diện giới từ và sự phân biệt giới từ với từ chỉ hướng, danh
từ vị trí đã trình bày bên treân, chúng tôi lập danh sách giới từ tiếng Việt (được nêu trong
Bảng 1).
DANH SÁCH GIỚI TỪ TRONG TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI
STT GIỚI TỪ VÍ DỤ
Bằng Cái bàn này bằng gỗ lim 1
Bởi (vì) Thất bại bởi chủ quan 2
3 Chí Từ già chí trẻ, ai nấy cũng đều ra sức học tập
4 Cho Lan gửi cho mẹ một lá thư
5 Của Chiếc xe này của tôi
6 Cùng Mấy lời cùng bạn đọc
7 Dù (Dầu) Nó vẫn đến dầu mưa
Dù gian khổ, chúng ta vẫn không sờn chí.
8 Do Xe hư là do nó
9 Dưới Sống ở dưới quê
10 Đặng Thổ lộ tâm tình đặng vơi bớt nỗi lòng
11 Để Sách này để kỷ niệm
12 Đến Ảnh hưởng đến sức khỏe
14 Kỳ
Làm kỳ được
15 Lên
Đặt lọ hoa lên bàn
16 Mà
Người mà tôi gặp hôm qua là một nhà văn
17 Nếu
Anh cứ ăn nếu đói
18 Ngoài
Mẹ làm việc ở ngoài sân
19 Nhằm
Nói thêm nhằm thanh minh
20 Nhờ
Việc này hoàn thành là nhờ anh
21 Như
Thân em như tấm lụa đào
13 Giữa Họ tiến vào giữa hội trường
STT GIỚI TỪ VÍ DỤ
Nội hôm nay phải làm xong việc này 22 Nội
Đặt hy vọng nơi anh 23 Nơi
Nó sống ở Tiền Giang 24 Ở
Học tập qua sách vở 25 Qua
Trút ra bàn mấy lít gạo 26 Ra
Nói sang chuyện khác 27 Sang
Rời trường sau 17 giờ 28 Sau
Làm việc tại nông trường 29 Tại
Được tin tôi về, mẹ tôi ra đón tận đầu làng 30 Tận
Theo tôi, anh nên đi 31 Theo
32 Tới Chờ tới nöûa đêm
Trèo lên trên ngọn cây 33 Trên
Phát biểu trên tivi
Cây lá ở trong vườn 34 Trong
Hoàn thành công trình trước tháng 6 35 Trước
Tốt bụng tuy nghèo 36 Tuy
Đi từ Tp. Hồ Chí Minh 37 Từ
Trời Liêu non nước bao xa 38 Tự
Nghĩ đâu rẽ cửa chia nhà tự tôi (Kiều)
Trông vào sự giúp đỡ của bạn
39 Vào
Bàn về giáo dục
40 Về
Chết vì chiến tranh
41 Vì
42 Với (Đối với)
Với tôi,việc này không quan trọng
43 Xuống
Ngồi bệt xuống đất
Tự anh nên hỏng việc
Điều cần nói rõ là, trong bảng danh sách này, có những từ là giới từ chuyên dùng như
tại, vì, với…; có những từ trong văn cảnh cụ thể được lâm thời dùng làm giới từ như ra, vào,
1.4. Phân loại giới từ tiếng Việt
1.4.1. Điểm qua tình hình phân loại
sang, qua…
Đã có nhiều cách phân loại khác nhau về giới từ tiếng Việt. Có thể nhận thấy một số
quan niệm tiêu biểu như sau:
Quan nieäm 1: Căn cứ vào từ chính trong từ tổ
Quan niệm này cho rằng “Nếu lấy ý nghĩa ngữ pháp do giới ngữ biểu thị để chia thì
một là rất nhiều, hai là không thể nào chia dứt khoát được” 39,tr. 332, vì vậy tác giả
Nguyễn Kim Thản trên cơ sở phân biệt từ phụ và từ chính (từ chính gồm thể từ và vị từ), chủ
trương lấy từ chính làm căn cứ để chia giới từ tiếng Việt ra thành hai tiểu loại:
– Giới từ nối liền thành phần phụ với thể từ: của, mà.
Quan nieäm 2: Căn cứ vào nguồn gốc của giới từ
– Giới từ nối liền thành phần phụ với vị từ: ở, từ, với, bởi, do, bằng…
Đây là quan niệm của các tác giả quyển “Việt Nam văn phạm” 23, tr.139. Các tác
– Tiếng bản nhiên giới tự: bằng, bởi, của, nhân, từ, tự, với.
– Tiếng tính tự dùng làm giới tự: gần, xa, giữa, ngang, ngay, v.v…
– Tiếng động tự dùng làm giới tự: cho, để, đến, đối, lại, khỏi, lên, xuống, ra, vào,
v.v...
– Tiếng quán ngữ giới tự: còn về, đối với, v.v…
Quan niệm này được chia sẻ trong công trình nghiên cứu “Ngữ pháp chức năng
tiếng Việt, quyển 2, Ngữ đoạn và Từ loại”. Theo đó, giới từ tiếng Việt gồm hai loại :
– Giới từ chính danh: tại, bởi, vì, từ, nếu, dù, tuy, mặc dầu, v.v…
giả đã phân biệt:
– Giới từ do các danh từ và vị từ chuyển thành:
+ Do danh từ chuyển thành: trên, dưới, trước, sau, của, trong, ngoài.
+ Do vị từ chuyển thành: ở, đến, cho, về, qua, vào, bằng, tới, lên, xuống, ra,
sang, lại, với, cùng, ngang.
Quan nieäm 3 : Căn cứ vào ý nghĩa quan hệ do giới từ biểu thị
Đây là quan niệm phổ biến trong các công trình nghiên cứu kể cả những công trình
gộp chung giới từ và liên từ vào một từ loại. Trên thực tế, giới từ tiếng Việt thường được
chia ra thành các tiểu loại như sau:
– Giới từ chỉ địa điểm: trên, dưới, trong (nhà), ngoài, trước, sau, ở, tại,…
– Giới từ chỉ thời gian : vào, đến, từ, trong (những ngày ấy),…
– Giới từ chỉ nguyên nhân: tại (anh), vì, do, nhờ,…
– Giới từ chỉ mục đích : để, cho, vì (hạnh phúc của nhân dân),…
– Giới từ chỉ sở thuộc : của.
– Giới từ chỉ phương tiện, cách thức : bằng, theo,…
1.4.2. Định hướng phân loại giới từ tiếng Việt
Trước tình hình phân loại giới từ tiếng Việt như trên, chúng tôi có ý kiến như sau :
Ngôn ngữ được tạo ra là để dùng cho mục đích giao tiếp. Do vậy, một sự phân loại
ngôn ngữ học được coi là có hiệu lực khi sự phân loại đó cung cấp cho người sử dụng những
gắn được với sự hành chức của ngôn ngữ thì khó được coi là có hiệu lực. Quan niệm 1 và 2
được điểm qua bên trên thuộc về trường hợp chưa thật sự có hiệu lực.
Một số nhà nghiên cứu cho rằng khi tiến hành phân loại các từ loại nói chung, các tiểu
loại từ loại nói riêng cần căn cứ vào chức năng tín hiệu học của từ. Theo quan niệm này, Đỗ
Hữu Châu 10, tr.49 - 51 đã xếp giới từ vào nhóm từ hư miêu tả. Nhóm này cùng với các từ
miêu tả (các từ chủ yếu thực hiện chức năng miêu tả như danh từ, động từ, tính từ, số từ v.v.)
lập thành các thông điệp miêu tả - thông điệp nòng cốt của tất cả các thông điệp.
Chúng tôi nhận thấy đây là một quan niệm hợp lý. Giới từ chính là một loại từ tuy
không trực tiếp dùng để miêu tả các sự vật, hiện tượng như các từ miêu tả nhưng chuyên
chỉ dẫn cần thiết, cụ thể trong quá trình tạo lập phát ngôn. Bất kỳ một sự phân loại nào, chưa
dùng để diễn đạt các loại quan hệ giữa sự vật với sự vật, giữa sự vật với hoạt động, giữa hiện
tượng này với hiện tượng kia. Mọi người đều thừa nhận rằng : sự vật, hiện tượng ngoài ngôn
ngữ không tồn tại độc lập đối với nhau mà nằm trong những mối quan hệ nhất định. Và, con
người không chỉ nhận thức, thông tin về sự vật mà còn phải xác lập được mối quan hệ giữa
chúng. Xét về mặt chức năng, giới từ là lớp từ chủ yếu đảm nhận vai trò đưa các quan hệ này
vào thông điệp, tổ chức các từ miêu tả thành các thông điệp nhằm miêu tả các quan hệ giữa
các sự vật, hiện tượng.
Trên lý thuyết, mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng có thể quy về hai dạng cơ bản :
quan hệ hiện thực (quan hệ khách quan) và quan hệ lập luận (quan hệ chủ quan). Hai dạng
quan hệ này được hiểu như sau :
a. Quan hệ hiện thực: là quan hệ có tính khách quan giữa các sự vật, hiện tượng trong
hiện thực khách quan. Đây là loại quan hệ tồn tại hiển nhiên không phụ thuộc vào ý chí,
nhận định của con người. Trong tiếng Việt, có những giới từ nhằm phản ánh các quan hệ
khách quan đó vào trong phát ngôn. Ví dụ:
a. Quyển sách của tôi.
b. (Nam) sống ở Tiền Giang.
Trong hai ví dụ này, giới từ “của”, “ở” phản ánh quan hệ tất yếu, khách quan giữa
các sự vật, hành động nhằm cung cấp một thông tin miêu tả chứ không nhằm đưa ra một lập
luận chủ quan
mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng. Đây là loại quan hệ do chủ quan người nói liên kết
các sự kiện, các hành động (được đưa ra như một luận cứ) để dẫn đến một kết luận nào đó.
Ví dụ:
a. Bà ta chết vì quá no.
(Nhưng cũng có thể kết luận ngược lại: Bà ta chết vì quá đói.)
b. Việc này tại trời.
(Cũng có thể cho rằng: Việc này tại anh)
b. Quan hệ lập luận: là quan hệ có tính chủ quan của người tạo lập phát ngôn đối với
Trong hai ví dụ này, giới từ “vì”, “tại” không phản ánh quan hệ tất yếu, khách quan
giữa các sự vật, hiện tượng nhằm cung cấp một thông điệp miêu tả mà nhằm thực hiện một
hành vi lập luận có tính dụng học của sự nói năng.
Theo một số nhà nghiên cứu, sự phân loại các từ nói chung, giới từ nói riêng dưới
góc độ từ loại học cần phải sử dụng tiêu chí ngữ nghĩa chức năng như là một trong những
tiêu chí hàng đầu. Bởi lẽ, ngữ pháp - hiểu theo nghĩa cổ điển – như nhiều người thừa nhận
chưa đủ giải thích các dạng hoạt động của giới từ ; còn chú ý đến các đặc điểm ngữ nghĩa
chức năng chẳng những góp phần làm sáng tỏ những vấn đề về ngữ nghĩa mà còn góp phần
làm sáng tỏ những vấn đề về hoạt động của giới từ.
Như một số nhà nghiên cứu thừa nhận, giới từ không có ý nghĩa từ vựng (nghĩa sở
chỉ, nghĩa sở biểu) mà chỉ có ý nghĩa ngữ pháp. Do vậy, theo chúng tôi không thể dựa vào “ý
nghĩa” của giới từ để phân loại mà chỉ có thể căn cứ vào ý nghĩa của mối quan hệ giữa các
sự vật, hiện tượng do giới từ biểu thị. Chẳng hạn, không thể nói giới từ “của” chỉ sở thuộc,
giới từ “vì” chỉ nguyên nhân mà chỉ có thể nói giới từ thứ nhất biểu thị ý nghĩa về quan hệ sở
thuộc và giới từ thứ hai biểu thị ý nghĩa về quan hệ nguyên nhân.
Tuy vậy, trong thực tế các giới từ tiếng Việt hoạt động rất phức tạp. Ở nhiều trường
hợp, sự chuyển hóa của giới từ từ chỗ biểu thị loại quan hệ này sang loại quan hệ kia rất tinh
tế, phụ thuộc nhiều vào các nhân tố giao tiếp. Chẳng hạn, nhóm giới từ biểu thị quan hệ ý
nghĩa về nơi chốn, địa điểm – mà nơi chốn, địa điểm vốn tồn tại khách quan, hiển nhiên –
khi được sử dụng lại phụ thuộc vào cách phản ánh mang tính chủ quan của người nói. Ví dụ:
Đứng trước sự kiện một con thuyền đang di chuyển trên mặt sông, người Việt Nam chọn
đây, người nói đã đưa yếu tố thứ ba (vị trí người nói) vào trong cách thức phản ánh sự kiện
chứ không xác lập mối quan hệ vị trí mang tính khách quan giữa hai sự vật “thuyền” và
“sông” như các ngôn ngữ châu Âu.
Ngay cả những giới từ vốn thường được xem là tác tử lập luận, phản ánh sự đánh
giá, nhận xét mang tính chủ quan của người nói nhiều lúc chỉ nhằm đem lại cho câu nội dung
thông tin mang tính khách quan. Ví dụ: “Nhà sập vì bão”. Giới từ “vì” trong câu này chỉ cho
thấy mối quan hệ khách quan giữa việc “nhà sập” với hiện tượng “bão” mà thôi, chứ không
bộc lộ ý kiến, thái độ của người nói.
cách diễn đạt “thuyền chạy dưới sông” chứ ít khi nói “thuyền chạy trên sông”. Như vậy, ở
Do vậy, việc quy các giới từ vào hai dạng quan hệ: quan hệ hiện thực khách quan và
quan hệ lập luận chủ quan dù là hợp lý và thật sự cần thiết nhưng rất khó khăn và thiếu một
ranh giới rạch ròi.
Từ việc phân tích như trên, chúng tôi nghĩ rằng việc phân loại giới từ tiếng Việt cần
phải sử dụng tiêu chí về ý nghĩa quan hệ mà giới từ biểu thị. Có điều, trong thực tế sử dụng,
một giới từ nào đó có thể biểu thị những loại ý nghĩa quan hệ rất khác nhau. Chẳng hạn, giới
từ “trong” có thể biểu thị những ý nghĩa quan hệ như sau:
Ý nghĩa quan hệ không gian hình học:
a. Học sinh ngồi trong lớp.
Ý nghĩa quan hệ không gian trừu tượng:
b. Tiền để trong tủ.
a. Sóng dậy trong lòng anh.
Ý nghĩa quan hệ thời gian:
b. Có ở trong cuộc mới thấy hết sự phức tạp của vấn đề.
a. Tôi sẽ trả lời cho anh trong tuần sau.
b. Trong 3 tháng nữa, sẽ xây xong căn nhà này.
Ý nghĩa quan hệ chất liệu:
Ở giới từ “bằng” cũng diễn ra tình hình như vậy.
b. Thau bằng nhôm
Ý nghĩa quan hệ về phương tiện cụ thể:
a. Đi bằng xe đạp
b. Viết bằng bút mực
Ý nghĩa quan hệ về phương tiện trừu tượng:
Bằng tài năng của mình, anh đã có nhiều đóng góp cho sự nghiệp giáo dục tỉnh nhà.
Từ đó, chuùng toâi nghó raèng việc phân loại cần dựa vào loại ý nghĩa quan hệ được
xem là chủ yếu mà một giới từ biểu thị.
1.4.3. Phaân loaïi giôùi töø tiếng Việt
a. Nhẫn bằng vàng
Căn cứ vào tiêu chí và quan niệm đã nêu bên trên, chúng tôi phân loại hệ thống giới
từ tiếng Việt thành những nhóm như sau :
– Giới từ biểu thị ý nghĩa quan hệ không gian :
+ Vị trí : trên, dưới, trong, ngoài, giữa, trước, sau, ở, tại.
+ Hướng : sang, về,…
+ Đích : đến, tới, vào, ra, lên, xuống.
+ Nguồn : từ.
– Giới từ biểu thị ý nghĩa quan hệ thời gian : “nội” và một số giới từ biểu thị ý nghĩa
quan hệ không gian chuyển sang (trong, ngoài, trước, sau, từ, đến…).
– Giới từ biểu thị ý nghĩa quan hệ điều kiện – giả thiết: nếu, dù.
– Giới từ biểu thị ý nghĩa quan hệ nghịch nhân quả : tuy, dù.
– Giới từ biểu thị ý nghĩa quan hệ nguyên nhân : vì, bởi, tại, do, tự, nhờ.
– Giới từ biểu thị ý nghĩa quan hệ sở hữu : của
– Giới từ biểu thị ý nghĩa quan hệ liên đới : với, cùng, theo.
– Giới từ biểu thị ý nghĩa quan hệ công cụ, phương tiện, cách thức : bằng, với …
– Giới từ biểu thị ý nghĩa quan hệ mục đích : để, đặng, kỳ, nhằm.
– Giới từ biểu thị ý nghĩa quan hệ phương diện : về, đối với.
Cần nói thêm rằng việc phân loại giới từ tiếng Việt dựa vào ý nghĩa quan hệ mà nó
biểu thị chỉ là tương đối vì loại ý nghĩa này có cơ sở từ nghĩa của giới từ mà nghĩa của giới
từ thì rất khó xác định. Cho nên người ta thường xác định những ý nghĩa quan hệ cụ thể mà
một giới từ có thể biểu thị thông qua cách dùng của nó (xem Phụ lục 1).
– Giới từ biểu thị ý nghĩa quan hệ thuyết minh : mà.
Chương 2
ĐẶC ĐIỂM CHỨC NĂNG CỦA GIỚI TỪ TIẾNG VIỆT
Khái niệm “chức năng” trong ngôn ngữ học được các nhà nghiên cứu quan niệm theo
những cách khác nhau.Trần Ngọc Thêm [42] cho biết khái niệm này chủ yếu được hiểu theo
ba nghĩa chính như sau:
– Thứ nhất, vì giao tiếp là chức năng quan trọng nhất của ngôn ngữ cho nên “chức
năng” được đồng nhất với giao tiếp. Đây là quan niệm phổ biến nhất, đặc biệt là ở châu Âu.
– Thứ hai, vì truyền đạt nghĩa chính là nhiệm vụ trung tâm của ngôn ngữ nên “chức
năng” được đồng nhất với ngữ nghĩa.
– Thứ ba , vì hình thức tồn tại chính là để thực hiện chức năng của một công cụ giao
tiếp nhất định nhằm đáp ứng những yêu cầu của giao tiếp và truyền đạt nghĩa cho nên “chức
năng” cũng được hiểu là hình thức.
Thông thường, “chức năng” được hiểu là sự làm tròn một công việc nào đó. Trong ngôn
ngữ học, các nhà nghiên cứu xác định chức năng cơ bản của ngôn ngữ là làm công cụ của
thông báo và tư duy. Không thực hiện được “công việc” này thì ngôn ngữ không tồn tại,
không phát triển được và tất nhiên xã hội cũng không tồn tại được nếu không có ngôn ngữ.
Ngôn ngữ bao giờ cũng có tính hướng đích và trong hệ thống ngôn ngữ, chức năng chính là
ngữ nghĩa bởi lẽ chức năng ngôn ngữ phải do yếu tố ngôn ngữ thực hiện mà yếu tố ngôn ngữ
bao giờ cũng có một cấu trúc nhất định chứa đựng một nội dung ngữ nghĩa nhất định. Vả lại,
ngôn ngữ học hiện đại đã đề cập đến ba bình diện của ngôn ngữ ( kết học, nghĩa học, dụng
học) thì việc hiểu khái niệm “chức năng” cũng cần xuất phát và gắn với việc nghiên cứu
ngôn ngữ ở những bình diện này.
Trong luận văn này, chức năng của giới từ tiếng Việt được cụ thể hóa bằng những khả
năng mà nó có thể thực hiện ở hai mặt ngữ pháp và ngữ nghĩa. Sự phân biệt hai mặt như vậy
cũng chỉ là tương đối bởi vì ngữ pháp và ngữ nghĩa luôn gắn bó với nhau như hai mặt của
một tờ giấy.
vai trò của yếu tố ngôn ngữ đối với hệ thống mà nó tham gia xét trên cả hai mặt hình thức và
2.1. Vai trò ngữ pháp của giới từ tiếng Việt
Vai trò ngữ pháp của giới từ tiếng Việt đã được các nhà nghiên cứu thảo luận từ lâu.
Tuy vậy, còn nhiều ý kiến khác nhau.
2.1.1. Một quan niệm có tính chất truyền thống của ngữ pháp tiếng Việt là xem giới từ nói
riêng, quan hệ từ nói chung là từ công cụ “khác với lớp từ cơ bản và các phụ từ, lớp từ này
không có ý nghĩa phạm trù, chức năng, không có khả năng kết hợp với những lớp từ khác”
7, tr.162.
Có tác giả quan niệm: Giới từ là một loại hư từ cú pháp trong sự đối lập với hư từ từ
pháp, là một thứ phương tiện liên kết “xúc tác” thành tố phụ với trung tâm đoản ngữ, các
đoản ngữ, các mệnh đề với nhau trong cấu trúc phát ngôn 16, tr.179.
Như vậy, theo quan niệm này, vai trò của giới từ trong cơ cấu ngữ pháp tiếng Việt được
xác định bằng các chức năng liên kết, “xúc tác”, “môi giới, trung gian”. Với chức năng này,
giới từ được xem như một “chất keo” kết dính các thành tố trong các kết cấu ngữ pháp chứ
không có liên quan gì đến cấu trúc và chức năng của các kết cấu ngữ pháp mà nó tham gia.
2.1.2. Quan niệm tách giới từ ra khỏi kết cấu ngữ pháp đã không được sự đồng thuận của
một số nhà nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt. Trong công trình nghiên cứu “Ngữ pháp tiếng
Việt : Tiếng - Từ ghép - Đoản ngữ”, Nguyễn Tài Cẩn đã nhận xét : “Đối với trường hợp giới
từ (và liên từ) ngữ pháp truyền thống thường gây ấn tượng rằng chúng có một vị trí trung
gian giữa 2 đơn vị A và B nhưng nằm ngoài A và B”. Thực ra không phải thế “Phải cho là x
gồm giới từ và liên từ - với tư cách là phương tiện tổ hợp cú pháp có khả năng đảm nhiệm
vai trò chỉ tố đánh dấu ý nghĩa ngữ pháp cho các thành tố quan hệ và khi thực hiện vai trò
này, kết từ không phải là một yếu tố trung gian mà gắn với thành tố được đánh dấu làm
thành một thành phần trong quan hệ với các thành phần khác. Cao Xuân Hạo [21] xác nhận
giới từ có vai trò dẫn nhập một ngữ đoạn, cho biết ngữ đoạn ấy làm thành phần câu hoặc làm
phụ ngữ trong một ngữ đoạn lớn hơn. Trước đó, Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê khi
miêu tả quan hệ từ phụ thuộc của tiếng Việt cũng đã thấy được sự khác biệt của hai trường
hợp : a) Làng tôi có cái chuông bằng vàng (“bằng” là quan hệ từ diễn tả quan hệ của hai
tiếng trong từ kết - tức tổ hợp từ chính phụ); b) Cái chuông này bằng vàng (“ bằng” là tiếng
chính trong thuật từ - tức thành phần vị ngữ hay thuyết ngữ trong câu) 12, tr.454.
(tức giới từ) có xu thế gắn chặt với B hơn là A” 7, tr.329. Lê Xuân Thại [38] cho kết từ -
2.1.3. Ý kiến của chúng tôi về vai trò của giới từ trong các kết cấu ngữ pháp như sau :
a. Các nhà nghiên cứu đều thừa nhận rằng, trong tiếng Việt, sơ đồ tổ chức (A+x+B)
(trong đó A và B là các đơn vị có quan hệ với x, còn x là từ chỉ quan hệ) là sơ đồ phổ biến
nhất. Nhưng thực tế chúng ta thỉnh thoảng còn thấy sự có mặt của sơ đồ (x+B). Ví dụ :
a. Tại anh nó mới thi hỏng !
b. Cái ấm này bằng nhôm.
Trong cấu trúc cú pháp của câu, ngữ đoạn “Tại anh” đóng vai trò là trạng ngữ ở ví
dụ (a) còn ngữ đoạn “bằng nhôm” là vị ngữ ở ví dụ (b).
Chức vụ cú pháp và cấu trúc của hai ngữ đoạn này cho thấy là x có xu hướng gắn
chặt với B hơn A (trong hai trường hợp trên A cũng không cần có mặt), có tác dụng làm dấu
hiệu chỉ rõ sự biến hóa của ngữ đoạn B đứng ở sau, khi x kết hợp với B thì cả tổ hợp (x + B)
có khả năng thực hiện một chức vụ cú pháp nhất định trong câu.
b. Hơn nữa, trong tiếng Việt, giới từ chỉ có khả năng dùng theo sơ đồ (x+B) trong lúc
khả năng dùng theo sơ đồ (A+x) hầu như là không có. So sánh:
a. (Sống) tại đây (+)
b. Sống tại (đây) (–)
c. (Áo) của tôi (+)
d. Áo của (tôi) (–)
c. Để làm rõ hơn đặc điểm ngữ pháp của giới từ, thiết nghĩ cần phân biệt sự khác
Trong cả hai trường hợp liên từ và giới từ có mặt trong cấu trúc (A +x + B) : (A+
liên từ +B), (A+ giới từ + B), ta thấy đơn vị A giống với tổ hợp (A + x + B) ở chỗ chưa xác
định được về mặt chức vụ. Nhưng ở tổ hợp (A + giới từ + B) thì chức vụ của B được qui
định vì nó phụ thuộc vào A; còn ở (A + liên từ + B) thì chức vụ của B vẫn không được qui
định vì B bình đẳng với A. Ví dụ:
a. Ngôi nhà của tôi
b. Ăn bằng đũa
c. Ngôi nhà và khu vườn
d. Thông minh nhưng lười
nhau về vai trò, chức năng giữa giới từ và liên từ trong sơ đồ tổ chức (A+x+B).
Ở ví dụ (a), nhờ sự có mặt của giới từ “của”, ta xác định được “tôi” là định ngữ
của ngữ đoạn “Ngôi nhà”; ở ví dụ (b), giới từ “bằng” chỉ ra chức vụ bổ ngữ của “đũa” trong
quan hệ với động từ “ăn”. Còn trong hai ví dụ (c) và (d), liên từ “và”, “nhưng” không cho
biết chức vụ của hai ngữ đoạn “khu vườn” và “lười”; tức là không thể cho rằng “và khu
vườn”, “nhưng lười” được gắn với một chức vụ nhất định nào đó.
Như vậy, cùng có tác dụng là làm dấu hiệu chứng tỏ rằng yếu tố B đứng sau chúng
không còn là một “ngữ đoạn trung lập” mà là một ngữ đoạn đã mang dấu ấn cú pháp, chỉ có
thể sử dụng trong hoàn cảnh cú pháp nhất định nhưng giữa giới từ và liên từ có đặc điểm ngữ
pháp không giống nhau : Ở giới từ thì cấu trúc (x+B) khác B cả về mặt phân bố lẫn mặt chức
vụ cú pháp; còn ở liên từ thì cấu trúc (x+B) chỉ khác B ở một mặt - mặt phân bố. Nói rõ ra :
trong lúc B là một đơn vị độc lập với bối cảnh, có thể tồn tại như một chỉnh thể hay như một
thành tố có khả năng tham gia một cách tương đối tự do vào khá nhiều kiểu cấu trúc cú pháp
khác nhau thì tổ hợp (liên từ + B) chỉ là một biến thể có bối cảnh hạn chế, cụ thể là nó chỉ
tồn tại với tư cách là một thành tố và chỉ làm thành tố sau trong một tổ hợp cú pháp được xây
dựng theo quan hệ đẳng lập.
Vai trò ngữ pháp của giới từ còn thể hiện ở chỗ: Cùng với liên từ, giới từ đóng vai trò là
một phương thức cú pháp: phương thức hư từ, một phương thức cú pháp quan trọng đối với
các ngôn ngữ phân tích tính. Giới từ không những cho thấy yếu tố này có quan hệ cú pháp
với yếu tố khác mà còn chỉ rõ tính chất của mối quan hệ: quan hệ phụ thuộc (chính phụ) giữa
a. AÙo cuûa toâi
b. Ñi vôùi meï
Giới từ có vai trò quan trọng về mặt ngữ pháp trong tổ chức các kết caáu cú pháp. Trong
khá nhiều trường hợp, vai trò của chúng không thể thiếu được trong việc liên kết các thực từ
lại trên cơ sở quan hệ cú pháp phụ thuộc trong các kết cấu cú pháp. Trong các ví dụ sau:
a. Hy sinh vì Toå quoác
b. Khoûe nhö voi
các yếu tố (trong khi liên từ biểu thị quan hệ đẳng lập).Ví dụ:
d. Quyeån saùch naøy cuûa toâi
c. Thaéng lôïi cuûa nhaân daân
Sự có mặt của các giới từ là hết sức cần thiết. Nếu lược bỏ chúng đi thì kết cấu cú pháp
bị phá vỡ và trở thành vô nghĩa như: khỏe voi, quyển sách này tôi.
Hoặc ý nghĩa trở nên mập mờ, khó hiểu: thắng lợi nhân dân.
Hoặc nội dung bị hiểu ngược lại: hi sinh tổ quốc.
Điều cần nói thêm là, khi phân tích khả năng kết hợp của bổ ngữ với vị từ (động từ, tính
từ) trung tâm trong ngữ đoạn, nhiều người đã bỏ qua vai trò của giới từ. Chẳng hạn, các ngữ
đoạn “đi đến trường”, “làm ở xí nghiệp”, “học trong lớp”, “ngồi trước thềm” thường được
biểu diễn bằng sơ đồ:
a. Đi (đến) trường
b. Làm (ở) xí nghiệp
c. Học (trong) lớp
d. Ngồi (trước) thềm
Thực ra, tình hình không phải như vậy. Nếu khảo sát kỹ cấu trúc của ngữ đoạn có
thể thấy giới từ có vai trò quan trọng trong việc hình thành các ngữ đoạn. Chẳng hạn, chỉ có
thể có ngữ đoạn “khóc vì đau” chứ không thể có quan hệ kết hợp “khóc đau”; còn ngữ đoạn
chính danh mà cũng đúng với các giới từ có nguồn gốc từ thực từ.
Trường hợp những giới từ có nguồn gốc từ động từ: cho, vào, về, đến, tới, ở, qua,
sang, ...
Xét các ví dụ sau:
“làm mẹ” rất khác với ngữ đoạn “làm với mẹ”. Điều này không chỉ đúng với những giới từ
b. Ở xí nghiệp
b’. (Làm) ở xí nghiệp
a. Đến trường a’. (Đi) đến trường
c. Cho nó (một bát cơm) c’. (Thí) cho nó (một bát cơm)
“Trường” ở cả hai trường hợp đều là bổ ngữ chỉ đích: Ở (a) chức năng của “trường”
được xác lập trong quan hệ với vị từ “đến”, ở (a’) chức năng của “trường” cũng chỉ được xác
lập trong quan hệ với giới từ “đến” vì không thể có quan hệ kết hợp “đi trường”.
Tương tự như vậy, nếu ở (b), (c) “xí nghiệp” và “nó” là bổ ngữ chỉ nơi chốn và bổ
ngữ chỉ đối tượng tiếp nhận của động từ “ở” và “cho” thì ở (b’), (c’) các giới từ “ở”, “cho”
chi phối trực tiếp các bổ ngữ cũng với chức năng ngữ nghĩa ñoù( không thể có có quan hệ kết
Trường hợp những giới từ có nguồn gốc từ danh từ : trên, dưới, trước, sau, trong,
hợp “làm xí nghiệp”, “thí nó”).
ngoài, ...
Những từ này trong tiếng Việt vốn là những danh từ chỉ vị trí : Trên là núi, dưới là
sông; Trước sau nào thấy bóng người.
Trong một số cấu trúc cú pháp, những từ này được sử dụng như những giới từ kết hợp
với danh từ (danh ngữ) đi sau tạo thành đơn vị được gọi là giới ngữ.
Xét các ví dụ sau:
a. Bay trên trời
b. Học trong lớp
c. Ngồi trước thềm
Ở các ví dụ trên, chức năng bổ ngữ chỉ vị trí của “trời”, “lớp”, “thềm” được xác lập
trong quan hệ với các giới từ chỉ vị trí đứng trước (không thể có quan hệ kết hợp “Bay trời”,
2.2. Sự phân bố của giới từ tiếng Việt trong ngữ đoạn
2.2.1. Để tìm hiểu sự phân bố của giới từ trong ngữ đoạn , cần đặt giới từ trong một đơn vị
cấu trúc lớn hơn từ được thiết lập theo quan hệ chính phụ. Đó chính là ngữ đoạn (có khuôn
hình riêng cho mỗi loại: ngữ đoạn danh từ, ngữ đoạn động từ, ngữ đoạn tính từ). Trong cấu
tạo nội bộ của ngữ đoạn có thành tố chính là thực từ ở vị trí trung tâm và kèm theo các thành
tố phụ (có thể là thực từ hay hư từ) ở vị trí đứng trước hay đứng sau thành tố trung tâm.
Sự phân bố vị trí của các lớp từ trong cấu trúc ngữ đoạn là có tính qui tắc khách quan,
hệ thống, chứ không phải ngẫu nhiên, tùy tiện. Do vậy, chỉ có đặt giới từ trong các ngữ đoạn
mới thấy rõ vai trò và tác dụng của chúng. Từ đó, có thể dựa vào vị trí được phân bố của giới
“Học lớp”, “Ngồi thềm”).
từ mà xem xét khả năng kết hợp của giới từ với các lớp từ khác để thấy được đặc điểm ngữ
pháp của giới từ.
Nhiều người cho rằng : Là phương tiện tổ hợp cú pháp cho nên giới từ không có khả
năng làm thành tố của mối quan hệ tức là thành phần của một cấu trúc cú pháp như các từ
loại danh từ, động từ, tính từ, đại từ. Giới từ chỉ tồn tại trong cấu trúc cú pháp và làm phương
tiện cho sự tổ chức cú pháp mà thôi. Chúng tôi có suy nghĩ khác như đã nói ở mục 2.1.3 :
Giới từ có đủ tư cách là một thành tố của ngữ đoạn trong mối quan hệ với các thành tố khác.
Trong ngữ đoạn, giới từ bao giờ cũng đứng trước thành tố phụ. Trong chuỗi lời nói nó cùng
thành tố phụ hợp thành một khối ngữ âm và được phát âm nhẹ đi (khinh âm). Nhiều nhà
goác với nó.
nghiên cứu xem đây là một trong những tiêu chuẩn để phân biệt giới từ với những từ cuøng
Khi kết hợp với thành tố phụ đứng sau, giới từ cùng thành tố phụ đó tạo thành một giới
ngữ tức là một ngữ đoạn được dẫn nhập bởi một giới từ. Bản thân giới từ không có ý nghĩa
từ vựng mà chỉ có ý nghĩa ngữ pháp. Do vậy, nó không thể làm thành phần ngữ pháp của
ngữ đoạn hay của câu. Nhưng giới ngữ có thể làm thành một thành phần ngữ pháp (một đơn
vị chức năng). Chẳng hạn, không thể nói “vì” có nghĩa từ vựng là gì và có chức năng ngữ
pháp gì. Song, những giới ngữ như “vì anh”, “vì đói”... thì có những ý nghĩa ngữ pháp và
chức năng cú pháp khác nhau khi tham gia tạo lập phát ngôn.
Từ đó, có thể suy ra rằng:
– Giới từ không thể một mình đứng sau một thực từ;
chức năng;
– Có thể không cần có một thành tố đứng trước nó.
2.2.2. Như trên đã nói, giới từ làm phương tiện tổ hợp cú pháp. Nhưng trong một ngôn
ngữ, làm phương tiện cú pháp không chỉ có giới từ. Trong tiếng Việt, ngoài giới từ (và liên
từ) còn có trật tự từ và ngữ điệu. Theo các nhà nghiên cứu, trong ba loại phương tiện này thì
phương tiện trật tự từ giữ vai trò chính yếu, còn ngữ điệu và giới từ (cùng liên từ) thì giữ vai
trò phụ trợ. Bằng chứng là có nhiều cấu trúc cú pháp không cần đến từ chỉ quan hệ, chỉ cần
sắp xếp theo một trật tự nhất định là đủ rõ ý. Trong trường hợp tự thân trật tự từ đã làm rõ ý
nghĩa quan hệ thì việc sử dụng giới từ trở nên không cần thiết, nghĩa là có cũng được, không
– Luôn đòi hỏi phía sau nó một thực từ, cùng với thực từ đó tạo thành một đơn vị
có cũng được. (Ngoài trường hợp này, còn có thể có trường hợp lược bỏ giới từ do ý muốn
chủ quan của người nói hay cũng có thể do phụ thuộc vào nhịp điệu của lời nói). Ví dụ:
a. Tài sản (của) công dân
b. Nhà (bằng) tranh
c. Phương tiện (để) cấp cứu
d. Chính sách (về) kinh tế
e. Thuyền (bằng) gỗ
Có thể kể ra một số quan hệ cho phép vắng mặt giới từ như sau:
Bộ phận – chỉnh thể (chân bàn, mái nhà, …)
Hành động – công cụ (ăn đũa, ăn thìa, …)
Trạng thái – nguyên nhân (chết bệnh, chết đói, chết khát, …)
Hành động – mục đích (mua dùng)
Söï vaät - chất liệu (bàn gỗ, thau nhôm)
Đối tượng – địa điểm cư trú (dân ở miền biển/ dân miền biển).
Cuõng caàn thaáy raèng trong trường hợp bản thân trật tự từ không đủ khả năng bộc lộ sáng
tỏ ý nghĩa quan hệ khiến cho người nghe, người đọc có thể hiểu theo hai cách thì lúc đó, cần
đến vai trò của giới từ. Tổ hợp “Mẹ con” trong câu “Mẹ con đi chợ” là một ví dụ. “Mẹ con”
nghĩa quan hệ sở hữu). Nhưng nếu nói “Mẹ của con” thì “con” ở đây chỉ mang ý nghĩa kẻ sở
hữu chứ không thể hiểu theo một nghĩa nào khác.
ÔÛ nhieàu trường hợp việc sử dụng giới từ trở nên bắt buộc vì không có giới từ thì không
thể biểu thị được ý nghĩa quan hệ. Nhöõng tröôøng hôïp: “đẹp như tiên”, “làm việc ở nông
trường” nếu không có các giới từ “như”, “ở” thì không thể biểu thị ý nghĩa so sánh và ý
nghĩa nơi chốn. Điều này cho thấy hoạt động của giới từ là có quy luật. Chẳng hạn, giới từ
“của” khi được sử dụng phải tuân thủ những quy định sau: nó phải nằm giữa hai danh từ A
và B, danh từ A đứng trước chỉ đối tượng được sở hữu, danh từ B đứng sau chỉ đối tượng sở
hữu; có những lúc có thể không dùng đến giới từ “của” mà ý nghĩa sở hữu vẫn bảo đảm
có thể hiểu là “Mẹ và con” (ý nghĩa quan hệ liên hợp) cũng có thể hiểu là “Mẹ của con” (ý
(“tình yêu mẹ”) nhưng khi danh từ A phát triển với những định tố nhất định thì “của” phải có
Söï coù maët mang tính baét buộc cuûa giới từ lệ thuộc vào những điều kiện sau đây:
mặt (không nói : “tình yêu bao la mẹ” mà phải nói : “tình yêu bao la của mẹ”).
– Tránh hiểu nhầm đối với tình huống cụ thể. Ví dụ: “mượn tôi cây bút” có thể hiểu
là “mượn của tôi” cũng có thể hiểu là “mượn cho tôi”. Với câu “nó mượn tôi cây bút mà
chưa thấy trả” không cần có từ “của” vẫn không thể hiểu nhầm được.
– Chịu sự qui định của trật tự các bổ ngữ. Chẳng hạn, chỉ nói “mua cái nón để dùng”,
chứ không nói “mua để dùng cái nón”, mặc dù cụm từ “mua dùng” vẫn song song tồn tại với
cụm từ “mua để dùng”.
a. Phaûi gaén baèng xi maêng thì môùi chaéc.
b. Phaûi gaén xi maêng thì môùi chaéc.
– Khi có ý nhấn mạnh. So sánh:
– Tiết tấu của lời nói: giới từ xuất hiện để câu nói được cân đối. Ví dụ nói “mua cho
con nào bánh, nào quà” dễ nghe hơn “mua con nào bánh, nào quà” trong lúc đó vẫn nói
“mua cho con cái bánh nhé! ” hoặc nói “mua con cái bánh nhé! ”.
Ở một số trường hợp có thể tưởng như sự có mặt của giới từ là không bắt buộc. So sánh
:
b. Nằm giường / Nằm trên giường
c. Vặn kìm / Vặn bằng kìm
Nhưng những trường hợp như vậy bị hạn chế trong những điều kiện ngặt nghèo và
không thể khái quát hóa cách dùng giới từ trong tiếng Việt được. Ở các ví dụ trên, khi nào
ngữ đoạn chỉ nơi chốn hay công cụ là một nơi chốn hay công cụ quen dùng cho hành động
được vị từ biểu thị mới có thể được bỏ giới từ. Một trường hợp phổ biến hơn nhiều là việc
lược bỏ giới từ “của” trong những ngữ đoạn chỉ quan hệ sở hữu. Trường hợp này dễ hiểu
hơn vì quan hệ này chính là quan hệ điển hình trong các ngữ đoạn chính phụ của bất kỳ thứ
a. Ăn đũa / Ăn bằng đũa
baèng moät tính töø).
tiếng nào (trong nhiều tiếng châu Âu ñeå chæ quan heä sôû höõu coù theå duøng ñònh ngöõ sôû höõu
Sau đây, chúng tôi thử tìm hiểu và phân tích sự hoạt động, sự có mặt hay vắng mặt
trong các kiểu cấu trúc cú pháp khác nhau của một số giới từ tiêu biểu trong tiếng Việt.
BẰNG :
“Bằng” là giới từ chỉ ý nghĩa quan hệ về chất liệu. Trong phần lớn cấu trúc cú pháp có
liên quan đến chất liệu thì giới từ “bằng” có thể xuất hiện hoặc có thể vắng mặt. Ví dụ:
a. Viết bằng phấn Viết phấn
b. Đi bằng xe đạp Đi xe đạp
c. Cái bàn bằng sắt Cái bàn sắt
Tuy nhiên, một số trường hợp bắt buộc phải có mặt của “bằng”, nếu không sẽ có sự
hiểu nhằm về quan hệ ý nghĩa hoặc cấu trúc trở nên vô nghĩa. Ví dụ:
a. Máy ép bằng nhựa Máy ép nhựa
b. Kéo cắt bằng thép Kéo cắt thép
c. Phá bằng mìn Phá mìn
Trong một số tổ hợp nhất định có ý nghĩa liên quan đến chất liệu thì nhất thiết không
VÌ :
“Vì” là một giới từ gốc Hán do “vị” mà ra. Giới từ “vì” thường được dùng để chỉ ý
nghĩa quan hệ về nguyên nhân bên cạnh ý nghĩa quan hệ về mục đích. Trong một số trường
hợp, giới từ này có thể được thay bằng “bởi”, “do”. Đối với phần lớn các ngữ đoạn chỉ
nguyên nhân, mục đích thì sự xuất hiện của “vì” hay “bởi”, “do” là điều bắt buộc. Ví dụ:
a. Nó chết vì nghèo (không thể nói: nó chết nghèo)
b. Mẹ khổ vì con (không thể nói: mẹ khổ con)
Song, khi “vì” được dùng trong một số cấu trúc có tính thành ngữ thì nó có thể vắng
mặt. Ví dụ:
cần phải dùng bằng. Ví dụ: Cửa gỗ, tủ kính, túi vải, đường nhựa, áo lụa, ly thủy tinh ...
a. Chết vì đói Chết đói
b. Trọng vì tài Trọng tài
c. Yêu vì nết Yêu nết
CỦA :
“Của” là giới từ chỉ ý nghĩa quan hệ về sở hữu.
Mỗi khi quan hệ sở hữu đã được chỉ ra một cách rõ ràng, cụ thể thì trong cấu trúc, giới
từ chỉ ý nghĩa quan hệ về sở hữu có thể được lược bỏ mà không nhất thiết phải có mặt. Ví
dụ:
a. Mũ của tôi Mũ tôi.
b. Mẹ của cô ấy Mẹ cô ấy.
c. Đừng đánh vào lưng của tôi Đừng đánh vào lưng tôi.
Trong trường hợp các quan hệ sở hữu chưa rõ ràng, tách bạch thì bắt buộc phải dùng
giới từ. Ví dụ:
a. Chính sách của Đảng (+) Chính sách Đảng (-)
b. Chiến thắng của quân ta Chiến thắng quân ta
c. Đề nghị của mọi người Đề nghị mọi người
Thông thường, khi quan hệ giữa thành phần chính và thành phần phụ trong ngữ đoạn là
quan hệ sở hữu, vị trí của vật sở hữu và kẻ sở hữu được đặt liền nhau, thành phần chính và
điều đương nhiên.
ĐẾN, VỀ :
Trong số các động từ chuyển động như đến, về, ra, vào, lên, xuống, v.v. thì đến và về là
những động từ bị ngữ pháp hóa khá mạnh để trở thành những giới từ mang nhiều nét nghĩa
khác nhau. Ngoài những cách dùng thông thường, khi đến, về chỉ quan hệ ý nghĩa về hướng
hoặc đối tượng của hành động hay chỉ ý nghĩa quan hệ về thời gian, không gian thì đến, về
thành phần phụ kết hợp lại tạo thành một từ ghép thì việc vắng mặt của giới từ chỉ sở hữu là
có thể có hoặc vắng mặt trong cấu trúc ngữ đoạn. Ví dụ:
a. Chúng tôi đã nói chuyện (đến) khuya mới đi ngủ.
b. Nói rõ (đến) thế mà cậu vẫn chưa hiểu à ?
c. Các em cần phải quan tâm (đến) mọi người.
Khi giới từ về được dùng trong cấu trúc chỉ ý nghĩa quan hệ về nội dung thì đối với
những cấu trúc này việc có mặt hay vắng mặt của về thường không mang lại sự thay đổi nào
cho ý nghĩa của lời nói. Ví dụ:
a. Nghiên cứu (về) văn chương
b. Học thuyết (về) kinh tế
c. Sức mạnh (về) vật chất
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, nếu về được dùng một cách tùy tiện thì sẽ dẫn đến
một số khác biệt về nghĩa. Chẳng hạn: Chính sách về kinh tế chính sách kinh tế (khi nói
“chính sách kinh tế” là nói về một phạm trù, một lĩnh vực, một quan niệm; còn “chính sách
về kinh tế” mang hàm ý nhấn mạnh, phân biệt về một chủ trương, một quan niệm về sự phát
triển của xã hội).
Nếu về được dùng sau động từ chỉ cảm giác thì sự có mặt của về là bắt buộc. Ví dụ:
a. Người ta phát ngấy về sự phì nộn của hắn.
b. Hắn cứ lầm lũi đi về phía trước.
Trường hợp về dùng trước một số từ chỉ ý nghĩa quan hệ về thời điểm thì về có thể
a. (Về) mùa xuân, cây cối đâm chồi, nẩy lộc.
b. (Về) mùa hè, trời trở nên oi bức.
2.3. Khả năng xác lập quan hệ cú pháp và quan hệ ngữ nghĩa của giới từ
2.3.1. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: Giới từ có chức năng là cho thấy rõ mối quan hệ
chính phụ về mặt cú pháp và biểu thị ý nghĩa quan hệ giữa các thành tố trong ngữ đoạn theo
quan niệm “ngữ đoạn là những bộ phận của câu có chức năng cú pháp nhất định biểu thị
những vai nghĩa nhất định” [21,tr.6].
được lược bỏ nhưng ý nghĩa của câu vẫn không thay đổi. Ví dụ:
nghĩa. Nó chỉ bộc lộ ý nghĩa khi tham gia vào một kết cấu cú pháp nào đó, trong một văn
Chúng tôi thừa nhận điều này và thấy rằng: Giới từ tự nó không có khả năng biểu hiện
cảnh nào đó. Cụ thể là giới từ có chức năng diễn đạt quan hệ giữa thực từ với thực từ. Trong
những trường hợp như thế, ngoài việc diễn đạt ý nghĩa về quan hệ nó còn có tác dụng xác
định quan hệ cú pháp, chỉ ra tính chất của mối quan hệ cú pháp giữa các từ, các ngữ. Ví dụ:
a. Khổ vì con
b. Sách của thư viện
c. Đi bằng máy bay
Quan hệ giữa các từ “khổ - con”, “sách - thư viện”; “đi - máy bay” trong các tổ hợp
trên được xác lập nhờ các giới từ : giới từ “vì”, “của”, “bằng” đã làm rõ mối quan hệ cú pháp
chính phụ trong các tổ hợp trên đồng thời chỉ rõ ý nghĩa của mối quan hệ đó (“vì” chỉ quan
hệ nguyên nhân, “của” chỉ quan hệ sở hữu, sở thuộc; “bằng” diễn đạt quan hệ về phương
tiện, phương thức). Thậm chí có người còn cho rằng: chỉ có chỉ tố quan hệ mới mang thông
tin về quan hệ, nếu trong các phát ngôn bỏ đi chỉ tố quan hệ thì chúng sẽ thiếu đi thông tin
quan hệ.
2.3.2. Là loại từ làm phương tiện tổ hợp cú pháp, giới từ có mặt trong một mối quan hệ cú
pháp nhất định. Ở một mối quan hệ cú pháp có thể có nhiều giới từ khác nhau để biểu thị các
ý nghĩa khác nhau. Nhờ có giới từ, các mối quan hệ ngữ nghĩa trong các tổ hợp cú pháp được
bộc lộ rõ hơn và phân biệt với nhau. Chẳng hạn, trong một ngữ danh từ tức là trong mối quan
hệ chính phụ lấy danh từ làm trung tâm, có thể có các giới từ như “của”, “bằng”, “để”, “ở” ...
biểu thị các ý nghĩa quan hệ khác nhau. Ví dụ:
b. Ngôi nhà bằng tranh (ý nghĩa quan hệ chất liệu)
c. Ngôi nhà để nghỉ mát (ý nghĩa quan hệ mục đích)
d. Ngôi nhà ở trên sườn núi (ý nghĩa quan hệ địa điểm)
2.3.3. Điều cần chú ý là, một giới từ có thể tham gia vào các tổ hợp cú pháp có quan hệ
ngữ pháp khác nhau. Tổ hợp đó (có giới từ) có thể đảm nhiệm những chức vụ cú pháp khác
nhau nhưng nét nghĩa quan hệ của giới từ vẫn không thay đổi. Ví dụ:
a. Nam mượn quyển sách của Bắc (định ngữ).
b. Quyển sách này của Bắc (vị ngữ).
a. Ngôi nhà của tôi (ý nghĩa quan hệ sở thuộc)
(Tổ hợp cú pháp có giới từ “của” vẫn biểu thị ý nghĩa quan hệ sở hữu, sở thuộc)
c. Nước này để rửa tay (vị ngữ).
d. Để rửa tay, bạn hãy dùng nước này (trạng ngữ).
(Cả hai tổ hợp cú pháp “để rửa tay” đều có ý nghĩa chỉ mục đích mặc dù chúng khác
nhau về chức vụ cú pháp).
e. Ngôi nhà này bằng tranh (vị ngữ).
f. Trong vườn có 1 ngôi nhà bằng tranh (định ngữ).
(Trong hai câu trên, tổ hợp “bằng tranh” dù giữ chức vụ cú pháp gì cũng đều mang ý
2.4. Khả năng tham gia thành lập ngữ đoạn giới từ (giới ngữ)
nghĩa chỉ quan hệ về chất liệu).
2.4.1. Trước hết, cần nói rõ rằng bên cạnh khái niệm ngữ đoạn còn có khái niệm cụm từ,
từ tổ. Xoay quanh các khái niệm này, các nhà ngôn ngữ học còn nhiều ý kiến khác nhau về
thành phần cấu tạo, về quan hệ giữa các thành tố, về đặc trưng và cương vị ngữ pháp của
chúng.
Trong ngôn ngữ học cổ điển có một khái niệm rất quen dùng để chỉ việc kết hợp giữa từ
với từ một cách có tổ chức và có ý nghĩa làm thành những tổ hợp từ. Đó là khái niệm cụm từ
(hay từ tổ) thường được định nghĩa một cách hiển ngôn hay hàm ẩn là một tổ hợp gồm hai từ
trở lên, giữa chúng có mối quan hệ về ngữ nghĩa và ngữ pháp nhưng chưa thành câu. Đó là
Những tác giả theo lý luận hạt nhân có tầng bậc quan niệm cụm từ hay từ tổ là đơn vị
từ vựng học còn đơn vị ngữ pháp trực tiếp trên từ phải là ngữ. Đồng thời, các tác giả cũng
cho rằng đảm nhận chức năng cú pháp trong câu là ngữ có khi ở dạng hạt nhân chứ không
phải là từ. Ngữ là từ đã nằm trong sự sắp xếp bên cạnh những từ khác theo những qui tắc cú
pháp nhất định. Ngữ có một vị trí nhất định trong lời nói, một chức năng cú pháp nhất định
trong câu [25].
Đối lập với quan điểm có tính chất truyền thống, Cao Xuân Hạo (1998) cho rằng trong
ngôn ngữ học khó lòng có thể tưởng tượng là có một thứ cấp bậc gì lại có được một cương vị
trong hệ tôn ty của các đơn vị ngôn ngữ học chỉ vì nó “gồm hai cái gì đó trở lên”. Theo ông,
hai ba từ cộng lại thì chỉ là hai ba từ cộng lại chứ không phải là một đơn vị ngôn ngữ học.
“những kiến trúc lớn hơn từ”.
Cái mà người ta gọi là cụm từ và hiểu như một đơn vị trên từ thật ra là một cái gì khác hẳn
và không thể gọi như thế vì nó hoàn toàn có thể chỉ gồm có một từ. Đó là ngữ đoạn. Ông lý
giải : Khi sử dụng ngôn ngữ con người chỉ cốt sao truyền đạt lại được những mệnh đề bằng
cách phát ra những câu mà ý nghĩa sẽ tác động đến người nghe như mình muốn. Trong câu,
các đơn vị ngôn ngữ lùi vào “hậu cảnh” để nhường chỗ cho những ý niệm được biểu thị bằng
ngữ đoạn. Những ngữ đoạn có thể có kích thước khác nhau. Điều đó không quan trọng. Điều
quan trọng là chức năng ngữ pháp của các ngữ đoạn ấy trong câu, nghĩa là trong cách diễn
đạt một mệnh đề và trong những ngữ đoạn ở cấp cao hơn nếu ngữ đoạn đang xét không phải
là thành tố trực tiếp của câu. Theo ông, trong câu chỉ có những ngữ đoạn (cũng là những đơn
vị của ngôn ngữ) mang những chức năng cú pháp nhất định để biểu thị những sự tình và
những tham tố nhất định. Chức năng cú pháp trong câu là tất cả bản chất và lý do tồn tại của
ngữ đoạn[20].
Khi tiến hành phân loại, Cao Xuân Hạo phân biệt hai loại ngữ đoạn : ngữ đoạn nội tâm
và ngữ đoạn ngoại tâm.
Ngữ đoạn nội tâm là loại ngữ đoạn chứa trung tâm của nó ở bên trong mình. Theo quan
niệm này, ngữ đoạn nội tâm là loại ngữ đoạn có yếu tố hoạt động như một yếu tố trung tâm
hay gọi theo thuật ngữ của Bloomfield là chủ tố (head). Các yếu tố còn lại trong ngữ đoạn
phụ thuộc và hướng vào yếu tố trung tâm; trong khi yếu tố trung tâm này có thể tách ra đứng
độc lập xét trong sự biểu hiện của toàn ngữ đoạn mà không cần đến các yếu tố khác.
Ngữ đoạn ngoại tâm là loại ngữ đoạn mà trung tâm nằm ở bên ngoài ngữ đoạn, cho nên
giữa ngữ đoạn và trung tâm của nó không có đặc trưng chung. Theo quan niệm này ngữ đoạn
trong cấu trúc ngữ đoạn là ngang bằng, bình đẳng và có cương vị ngữ pháp như nhau. Cao
Xuân Hạo cũng nói là, thuộc về ngữ đoạn ngoại tâm đầu tiên phải kể đến ngữ đoạn giới từ,
sau đó là ngữ đoạn chủ vị. Tuy nhiên, theo tác giả, đối với ngữ đoạn chủ vị thì thuật ngữ
predicative đã từ lâu cởi bỏ cho mọi người cái nhu cầu phải dùng đến thuật ngữ ngữ đoạn
ngoại tâm.
Ở góc độ đặc điểm chức năng thì quan niệm của các tác giả [25], [20] là hoàn toàn có
sức thuyết phục. Trong luận văn này, khái niệm “ngữ đoạn” được hiểu theo quan niệm như
vậy.
ngoại tâm là ngữ đoạn không có yếu tố trung tâm, không có chủ tố. Quan hệ giữa các yếu tố
2.4.2. Chúng tôi cho rằng: do giới từ thuộc phạm trù hư từ, không có nghĩa sở chỉ, nghĩa sở
biểu mà chỉ có ý nghĩa ngữ pháp nên giới từ không thể độc lập tạo thành thành phần chức năng
trong câu nhưng tổ hợp do giới từ dẫn nhập hoàn toàn có thể đảm nhiệm các chức năng ngữ
pháp trong câu. Ví dụ, không thể định nghĩa “với” là gì và nói nó đảm nhận chức năng ngữ
pháp gì trong câu. Nhưng tổ hợp được dẫn nhập bởi một giới từ như “(ăn) với mẹ”; “(làm
việc) với tất cả nhiệt tình” thì có những ý nghĩa ngữ pháp khác nhau và có thể thực hiện
những chức năng ngữ pháp khác nhau trong câu. Tổ hợp như vậy được nhiều nhà nghiên cứu
ngôn ngữ học gọi là ngữ đoạn giới từ hay giới ngữ. “Giới ngữ là tên gọi một tổ hợp từ tự do có
giới từ dẫn đầu. Trong tổ hợp này, cả giới từ lẫn thành tố đi sau cùng tồn tại mới tạo thành giới
ngữ” [4,tr.26].
Khi bàn về ngữ đoạn giới từ, các tác giả thường xem xét nó ở hai phương diện sau:
+ Hoặc nó được phân tích về cấu trúc – chức năng trong sự so sánh với cấu trúc –
chức năng của các loại ngữ đoạn khác nhau nhằm nêu bật thuộc tính tiêu biểu của từng loại
ngữ đoạn, qua đó cho phép người sử dụng vận dụng những thuộc tính này để trắc nghiệm các
ngữ ñoaïn(Cao Xuân Hạo, 1998).
+ Hoặc nó được xem xét với tư cách là một thành phần thứ yếu (thường là trạng ngữ)
bổ sung cho thành phần chính của câu về các ý nghĩa không gian, thời gian, cách thức,
nguyên nhân, mục đích, công cụ hay điều kiện. Đây là phương diện thu hút khá đông đảo
giới nghiên cứu. Có thể tìm thấy điều này trong những công trình của các tác giả Hoàng
Trọng Phiến (1980), Nguyễn Minh Thuyết – Nguyễn Văn Hiệp (1998).
Việt” của tác giả Dư Ngọc Ngân (2001) là có miêu tả tương đối chi tiết về chức năng ngữ
nghĩa – ngữ pháp của lớp đơn vị ngôn ngữ này.
Giới ngữ - theo các nhà nghiên cứu - là một cấu trúc cú pháp có những chức năng ngữ
pháp nhất định. Đây là một loại tổ hợp từ đặc thù không cùng loại với những tổ hợp từ do
các từ kết hợp với nhau mà tạo nên, được gọi là từ tổ, cụm từ như đã nói bên trên. Diệp
Quang Ban [3] xem giới ngữ là tổ hợp từ tự do có kết từ ở đầu để chỉ chức vụ ngữ pháp của
toàn bộ phần còn lại của tổ hợp. Nguyễn Tài Cẩn [7] cho rằng “tổ hợp giới từ + đoản ngữ” là
một đoản ngữ đã được dạng thức hóa để đặt vào một chức vụ nào đấy ở trong câu nói. Hoàng
Có lẽ trong các tài liệu nghiên cứu về giới ngữ tiếng Việt thì bài “Về giới ngữ tiếng
Trọng Phiến [31] nói rõ : những giới từ kết hợp với danh từ tạo ra giới ngữ; giới ngữ, đến
lượt mình, có chức năng làm thành phần câu, chủ yếu làm định tố trong danh ngữ, làm bổ tố
trong động ngữ và làm trạng ngữ ở đầu phát ngôn. Còn Cao Xuân Hạo [21] xem giới ngữ là
một loại đơn vị chức năng để tạo câu và là một ngữ có một giới từ làm trung tâm, kèm theo
một danh ngữ hoặc một động ngữ làm bổ ngữ cho nó.
Hầu hết các nhà nghiên cứu cho là có giới ngữ trong tiếng Việt đã dựa vào tiêu chí sau
đây để phân biệt giới ngữ với các loại tổ hợp khác (cụm từ, đoản ngữ, từ tổ):
a. Giới ngữ là đơn vị chức năng : bên cạnh đặc trưng về cấu trúc, giới ngữ còn có thể
trực tiếp đảm nhận chức năng các thành phần câu để tạo câu; còn cụm từ (từ tổ) là đơn vị cấu
trúc ngữ pháp, gồm hai từ trở lên kết hợp với nhau theo những quan hệ ngữ pháp hiển hiện
nhất định.
b. Giới ngữ cũng như các loại đoản ngữ thường đảm nhiệm chức năng ngữ pháp
trong câu nhưng giới ngữ gắn với một số chức năng nhất định, còn đoản ngữ chưa gắn liền
với một chức năng nào cho sẵn nhất định và có tính độc lập về mặt ngữ pháp.
Chúng tôi nghĩ rằng sự phân biệt như trên là hợp lý. Ở đây, có lẽ cần nhắc đến một
định nghĩa có liên quan đến vấn đề này của V.B.Kacevich: “Đơn vị chức năng là đơn vị phân
loại hoặc tổ hợp các đơn vị phân loại thực hiện một chức năng cú pháp nhất định trong câu”
Về mặt cấu trúc:
(dẫn theo [24, tr.82]).
Chúng tôi nhận thấy giữa giới ngữ và cụm từ có sự khác nhau rất rõ về vị trí của thành
đại diện được cho cả cụm từ và có thể dùng một mình không cần có các thành tố phụ. Thành
tố trung tâm nằm bên trong cụm từ và các thành tố phụ hướng về nó. Trái lại, trong giới ngữ,
giới từ không tồn tại nếu không có thành tố đi sau kèm theo và thành tố phụ đi sau dẫu là do
một thực từ đảm nhiệm tự mình cũng không thể làm giới ngữ; tức là, cả giới từ lẫn thành tố
đi sau đều là điều kiện cần như nhau trong việc tạo thành giới ngữ.
Như vậy, cấu trúc nội tại của giới ngữ gồm hai phần : Một là giới từ, một là phần được
dẫn nhập. Ví dụ:
a. Ở nơi ấy …
b. Qua phong trào dạy tốt – học tốt …
tố trung tâm. Trong cụm từ, thành tố chính về mặt ngữ pháp giữ vai trò thành tố trung tâm,
c. Dù ai nói ngả nói nghiêng …
d. Tuy đã cố gắng hết sức …
Một đặc điểm đáng lưu ý của tiếng Việt là có xu hướng sử dụng cơ chế từ vựng – ngữ
pháp để tạo ra các giới từ. Cụ thể là giới từ tiếng Việt thường do những thực từ được “ngữ
pháp hóa” mà thành. Cho neân có thể nói ở đâu có giới từ thì ở đó có giới ngữ, bởi vì các giới
từ không thể đứng một mình. Chính điều này ít nhiều đã chi phối cấu trúc nội tại của giới
ngữ tiếng Việt.
Khi phân tích cấu tạo của câu, có quan điểm cho là không phải đưa các quan hệ từ
(bao gồm giới từ và liên từ) vào các ngữ đoạn đảm nhiệm thành phần câu vì chúng chỉ có
chức năng “công cụ”. Điều này chỉ đúng khi xét đến liên từ vì một liên từ không thuộc một
ngữ đoạn nào trong hai ngữ đoạn mà nó nối kết. Nhưng đối với giới từ thì không thể xử lý
như vậy vì chức năng của giới từ là dẫn nhập thì nó phải đứng đầu và gắn với phần mà nó
dẫn nhập để tạo nên ngữ đoạn giới từ. Có điều, trong một ngữ đoạn giới từ, giới từ không đại
diện được cho phần mà nó dẫn nhập trong bất kỳ chu cảnh nào. Chính vì vậy mà có tác giả
cho giới ngữ là một loại ngữ đoạn ngoại tâm. (Khái niệm này thật mơ hồ bởi lẽ dù là “ngoại
tâm” nhưng cũng có “tâm”, vậy mà “tâm” của một ngữ đoạn lại nằm ngoài ngữ đoạn và
không thể xác định được). Quan hệ giữa giới từ và phần sau nó là quan hệ không có trung
tâm vì không có phần nào mang thuộc tính của cả ngữ đoạn, đủ tư cách đại diện cho toàn
ngữ đoạn trong quan hệ với các thành phần chức năng khác trong câu.
Trong bài báo “Ngữ đoạn giới từ trong tiếng Việt” (Ngữ học trẻ, 2001), tác giả Dương
như sau:
GIỚI NGỮ
Bổ tố m (tiền bổ tố)
Chủ tố h
Đơn vị làm đầy c (hậu bổ tố)
chỉ
bằng
việc nỗ lực nghiên cứu
thậm chí
với
tôi
hoàn toàn
ở
ngay đây
Hữu Biên cho giới ngữ tiếng Việt ở dạng đầy đủ gồm 3 phần theo sơ đồ (với ví dụ kèm theo)
Như vậy, so với quan niệm có tính chất phổ biến, quan niệm của Dương Hữu Biên có
điểm rất khác là: trong giới ngữ, trước giới từ có thêm một thành phần mà tác giả gọi là tiền
bổ tố.
Theo chúng tôi, quan niệm này rất xa lạ, khó có thể chấp nhận ít ra ở hai điểm:
– Tước bỏ chức năng dẫn nhập của giới từ trong giới ngữ.
– Đưa các đơn vị diễn đạt ý nghĩa tình thái của phát ngôn vào trong cấu trúc vốn đã
đầy đủ của giới ngữ.
Về phần được giới từ dẫn nhập, chúng tôi nhận thấy có cấu tạo rất đa dạng, có thể là:
+ Danh ngữ:
a. Theo công văn của Bộ Giáo dục …
b. Với tấm lòng nhân ái …
c. Trước chiến tranh chống Mỹ …
+ Động ngữ:
a. Qua phân tích và thí nghiệm …
b. Nhờ lao động tích cực …
c. Do thức khuya…
+ Tiểu cú (cấu trúc chủ – vị hay đề – thuyết):
b. Tuy nó nghèo …
Về mặt ngữ nghĩa:
Nhiều người cho rằng giới từ thuộc loại đơn vị hư, nghĩa là không có nội dung ngữ
nghĩa. Tuy nhiên, đi sâu vào thực tế hoạt động của ngôn ngữ, vấn đề không phải đơn giản
như vậy.
Trong tiếng Anh, hai câu được hiểu khác nhau vì có giới từ khác nhau.Ví dụ:
a. He sat in a tree (Nó ngồi ở gốc cây).
b. He sat under a tree (Nó ngồi dưới bóng cây).
a. Dù ai nói ngả nói nghiêng…
Cho nên, A. I. Smirnisky có cơ sở khi nhận xét “ cũng như bất cứ từ nào nó (quan hệ
từ) có ý nghĩa từ vựng nhất định”
Tương tự như tiếng Anh, trong tiếng Việt hai câu được hiểu khác nhau cũng vì có mặt
của hai giới từ khác nhau, chúng xác lập các quan hệ cú pháp và làm biến đổi các phạm trù
ngữ pháp. So sánh:
a. Tài liệu của Việt Nam về vấn đề bảo vệ môi trường được mọi người chú ý.
b. Tài liệu về Việt Nam được mọi người chú ý.
Ngoài ra, trong tiếng Việt, giới từ có tác dụng điều chỉnh mối quan hệ giữa các đơn vị
cú pháp và làm biến đổi ý nghĩa của mối quan hệ. So sánh:
a. Tiếng khóc mẹ Tiếng khóc của mẹ
b. Tài liệu của Việt Nam Tài liệu về Việt Nam
Trong giới từ chứa nhiều ý nghĩa quan hệ – một loại ý nghĩa ngữ pháp quan trọng – có
khả năng chi phối những ngữ đoạn, làm cho ngữ đoạn thậm chí cả câu có được những ý
nghĩa mà nếu không có sự hiện diện của nó thì không sao diễn đạt được. Giới từ có khả năng
tác động vào những từ và ngữ trong câu làm cho những từ, ngữ đó và cả câu biến nghĩa hay
có thêm những nghĩa mà nó vốn không có.
Một điều cần thừa nhận là mối quan hệ giữa từ ngữ biểu thị các sự vật, đối tượng trong
thực tại khách quan là phần nghĩa quan trọng nhất của câu. Giả sử ta biết nghĩa từ vựng của
tất cả các từ trong câu nhưng lại không biết các sự vật, đối tượng được các từ ấy biểu thị có
câu là gì mà ñieàu chủ yếu người ta cần thông báo cho nhau lại chính là nghĩa của câu chứ
không phải số lượng, danh sách các sự vật, đối tượng. Do vậy, không thể cho rằng giới từ
“rỗng nghĩa”.
Hơn nữa, trong tiếng Việt, hầu hết các giới từ đều có nguồn gốc từ thực từ (vị từ ngoại
động : ra, vào, lên, xuống … hay danh từ : của, trên, dưới, trước, sau …) mà các từ này còn
giữ gần như y nguyên nghĩa từ vựng của nó, cho nên có tác giả xem các giới từ có nguồn
gốc từ động từ là những “động từ” được dùng làm trạng ngữ chỉ hướng cho động từ chính
chöù khoâng thöøa nhaän tö caùch giôùi töø cuûa noù.
quan hệ với nhau như thế nào trong sự tình được diễn đạt thì ta sẽ không hiểu được nghĩa của
Khi hoạt động trong câu, các giới ngữ mang ý nghĩa quan hệ, một loại ý nghĩa không
phải được tạo nên từ hoạt động phản ánh vào ngôn ngữ các sự vật, hiện tượng trong thực tế
khách quan mà từ hoạt động cấu trúc hóa thực tại được tiến hành trong tư duy của người bản
ngữ, đặt các đối tượng được phản ánh hoặc các khái niệm trong mối quan hệ cấu trúc. Khi đảm
nhận chức năng các thành phần câu, những ý nghĩa quan hệ khác nhau của giới ngữ có thể
quyết định đặc điểm ngữ nghĩa của câu (chẳng hạn khi đảm nhận thành phần chính của câu
như vị ngữ) hoặc của các thành phần chức năng trong câu. Ví dụ:
a. Cây viết này của Nam.
b. Việc này tại nó.
c. Cái thau này bằng nhôm.
d. Áo này do mẹ tôi may.
e. Bó hoa này để tặng bạn.
Nếu tiến hành phân loại theo cấu trúc nghĩa thì các câu có ngữ đoạn giới từ bên trên
phải được xếp vào loại câu quan hệ : câu (a) là câu quan hệ sở thuộc, câu (b) là câu quan hệ
nguyên nhân, câu (c) là câu quan hệ chất liệu, câu (d) là câu quan hệ nguồn gốc, câu (e) là
câu quan hệ mục đích.
Khi phân biệt các loại trạng ngữ và bổ ngữ, các tài liệu ngữ pháp tiếng Việt cũng
thường chủ yếu dựa vào ý nghĩa quan hệ của các giới ngữ. Ví dụ:
a. Vì mưa, ông ấy không thể đến thư viện.
b. Để học giỏi, các em cần phải chuyên cần.
(trạng ngữ chỉ mục đích).
c. Tôi soạn văn bản bằng máy vi tính.
(bổ ngữ chỉ phương tiện)
d. Họ bàn về văn chương.
(bổ ngữ chỉ phương diện)
Từ đây có thể nói rằng: quan niệm cho ngữ là phương tiện định danh các hiện tượng
trong thực tại khách quan là chưa bao quát hết các loại ngữ đoạn trong tiếng Việt. Quan niệm
như vậy chỉ đúng ở phạm vi các ngữ thực từ mà ngay cả ở loại ngữ đoạn vốn được xếp vào
(trạng ngữ chỉ nguyên nhân)
phạm trù ngữ đoạn thực từ như ngữ đoạn có đại từ là trung tâm cũng không có chức năng
định danh, gọi tên sự vật vì đại từ vốn chỉ có chức năng thay thế và chỉ định (ví dụ: những gì
hắn làm đều bị mọi người phê phán; những ai biết hắn đều coi thường hắn). Chúng ta dễ
dàng nhận thấy: ngoài nghĩa biểu hiện, ngôn ngữ nào cũng có các loại nghĩa khác trong đó ý
nghĩa quan hệ cũng là loại nghĩa cơ bản và phổ biến. Do vậy, không thể dựa vào một loại
nghĩa khác về bản chất với ý nghĩa của giới từ, giới ngữ để phủ nhận tư cách ngữ đoạn của tổ
hợp bắt đầu bằng giới từ.
Trong ý nghĩa của từ thường có sự phân biệt ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp.
Sự phân biệt hai loại ý nghĩa này trong các ngôn ngữ biến hình nói chung dễ nhận biết.
Nhưng trong các ngôn ngữ không có hiện tượng biến hình như trong tiếng Việt (ngôn ngữ
đơn lập), sự phân biệt phần nghĩa từ vựng và phần nghĩa ngữ pháp khó nhận ra, nhất là việc
tách ra phần ý nghĩa ngữ pháp. YÙ nghóa ngöõ phaùp ở từ tiếng Việt chỉ bộc lộ khi từ đang xét
kết hợp (đúng qui tắc) với từ khác.
Ở thực từ, ý nghĩa ngữ pháp không bộc lộ hiển nhiên trong từ, nó là thứ nghĩa tiềm
tàng đi kèm với ý nghĩa từ vựng cụ thể và chỉ bộc lộ trong khả năng kết hợp với từ khác.
Ở hư từ, tình hình vẫn là như thế, duy cách bộc lộ của ý nghĩa ngữ pháp có khác: nó
bộc lộ ngay trong từ nhưng không phải bằng cách gọi tên hiện tượng như là một đối tượng
của sự tư duy. Điều này thấy rất rõ ở từ loại giới từ. Ví dụ : chúng ta thường nói từ “vì” chỉ
quan hệ nguyên nhân. Đúng vậy, nhưng từ “vì” chỉ biểu thị quan hệ nguyên nhân chứ không
gọi tên quan hệ nguyên nhân. Gọi tên quan hệ nguyên nhân là việc của các từ “nguyên
nhân”, “lí do”, “nguyên cớ” v.v… Từ “vì” chỉ biểu thị cái ý nghĩa chỉ nguyên nhân, nó
với các thực từ, nói cách khác ý nghĩa của nó ñöôïc biểu hiện baèng ngöõ phaùp chöù khoâng
phaûi baèng töø vöïng. Mà đã là thuộc ngữ pháp thì cách biểu hiện là kết hợp với yếu tố từ vựng
(hoặc đi theo yếu tố từ vựng). So sánh:
– Việc này có nguyên nhân của nó (+)
– Việc này có lí do của nó (+)
– Việc này có vì của nó (–)
không dùng để gọi tên mối quan hệ đó. Với cương vị như vậy, từ “vì” chỉ được để kết hợp
của nó, và với ý nghĩa hiển nhiên thuộc về ngữ pháp này, nó chỉ có thể kết hợp với thực từ
Như vậy, đối với hư từ nói chung, giới từ nói riêng, ý nghĩa ngữ pháp là mặt nội dung
chứ không hoạt động độc lập. Ñoù laø lyù do vì sao giới từ không tự mình tạo thành một ngữ
đoạn như các thực từ được.
Nếu xét giới từ và bộ phận cấu thành ngữ đoạn giới từ với tư cách là một cấu trúc chỉnh
thể thì ngữ nghĩa của ngữ đoạn giới từ sẽ rất đa dạng. Có thể phân chia ngữ nghĩa của ngữ
đoạn giới từ thành hai loại lớn sau đây:
Những ý nghĩa mà theo đó việc chọn lựa giới từ mang tính quy ñònh vaø được xác
định bằng nghóa thực từ đi trước nó và nghĩa của bộ phận mà giới từ dẫn nhập. Ví dụ:
a. May bằng tay
b. Nón của nó
c. Học cho biết
d. Ăn để sống
ÔÛ nhöõng ví duï naøy, vieäc söû duïng giôùi töø trong töøng ngöõ ñoaïn mang tính quy ñònh
vaø khoâng theå ñöôïc thay theá baèng giôùi töø khaùc.
Những ý nghĩa mà theo đó việc chọn lựa giới từ có thể thay đổi cho phù hợp với
chủ định của người nói. Ví dụ:
a. Chúng tôi bay trong / vào / qua / trên / dưới / cạnh những đám mây.
b. Nó bước lên / xuống thuyền.
c. Dẫn bị cáo ra / vào đây.
từ chứ không phải động từ đòi hỏi phải dùng giới từ nào.
Những ý nghĩa gắn với văn cảnh của ngữ đoạn giới từ rất đa dạng và không thể lập
thức, khó có khả năng hệ thống hóa chúng một cách đầy đủ. Khi nghiên cứu về giới ngữ
trong tiếng Anh, Downing & Locke (1992)[51] dựa trên khoảng 140 giới từ và mỗi một giới
từ trong số này có thể biểu thị hai hoặc nhiều hơn hai mối quan hệ hoặc những phương diện
khác nhau của mối quan hệ đã đề xuất một danh sách có 55 mối quan hệ rộng (broad
relationship) (xem Phụ lục 2).
Ở những ví duï này, chính mục đích chủ quan của người nói quyết định cách dùng giới
Danh sách này ít nhiều có tính phổ quát, có thể vận dụng cho nhiều ngôn ngữ trong đó
có tiếng Việt. Điều này chứng minh: một số lượng khá lớn các ý nghĩa quan hệ được diễn đạt
bởi giới từ.
Về mặt chức năng :
– Các giới ngữ tuy không phải là phương tiện định danh, gọi tên sự vật, quá trình, tính
chất, đặc trưng của sự vật được xác định trong thực tại như các ngữ thực từ (chủ yếu là ngữ
danh từ, ngữ động từ, ngữ tính từ) nhưng giới ngữ vẫn có thể đảm nhiệm một số chức năng
ngữ pháp trong câu.
+ Chức năng vị ngữ hay thuyết ngữ. Ví dụ:
a. Hàng này do Việt Nam sản xuất.
b. Quyển sách này của tôi.
c. Việc này tại nó.
d. Cái bàn đó bằng sắt.
e. Bà ta làm thế là vì con.
f. Chiếc đồng hồ này để tặng mẹ.
g. Thịt kho trong nồi ấy !
+ Chức năng chủ ngữ hay đề ngữ. Ví dụ:
a. Của tôi bị hư rồi !
c. Ở trên đã đưa ra chủ trương này.
d. Ở nhà có gởi tiền cho em không ?
Ở các ví dụ (b), (c), (d), danh từ đi theo sau giới từ “ở” được chuyển nghĩa theo
phép hoán dụ. Cách dùng này thường gặp trong khẩu ngữ.
+ Chức năng trạng ngữ. Ví dụ:
a. Vì mưa Lan không đến trường được.
b. Bằng nghị lực anh đã vượt lên chính mình.
c. Với chị ấy, công việc là trên hết.
b. Ở dưới đó thế nào ?
d. Theo tôi, ta không nên bàn vấn đề đó nữa.
e. Như một người điên hắn la hét suốt ngày.
+ Chức năng định ngữ. Ví dụ:
a. Sách của thư viện
b. Vai trò của giáo viên trong quá trình dạy học
c. Chính sách về giáo dục
d. Người trong làng
+ Chức năng bổ ngữ. Ví dụ:
a. Chuyển quà Tết cho người nghèo
b. Bàn về Triết học
c. Làm bằng máy
d. Nghĩ đến cha mẹ
Cần nói thêm là, về chức năng bổ ngữ, có quan niệm xếp vào loại chức năng cú pháp ở
bậc ngữ, cũng có quan niệm xếp vào thành phần chức năng ở bậc câu, chẳng hạn như các tác
giả Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp trong cuốn “Thành phần câu tiếng Việt”
(1998).
+ Trong một số trường hợp có điều kiện nghiêm ngặt, giới ngữ có thể được dùng như
a. A : Tôi đã đi khỏi nơi đó.
b/ B : Trong trường hợp đó, tôi cũng làm vậy.
b. Nó rất thích âm nhạc, trên thực tế là nhạc disco.
+ Một giới ngữ cuõng coù khaû naêng ñaûm nhaän thaønh phaàn cuù phaùp đóng vai trò là
trọng tâm thông báo cuûa caâu, chẳng hạn trong những trường hợp như đoạn đối thoại sau đây:
A : Ngôi nhà này có cái gì làm cho anh quan tâm và xúc động như vậy?
một phương tiện liên kết để nối các ngữ đoạn, các câu. Ví dụ:
B : Trong ngôi nhà này, mẹ tôi đã qua đời khi sinh tôi ra. Ở đây, tôi đã sống
qua cả thời niên thiếu.
+ Trong một số cấu trúc câu, giới ngữ có thể xuất hiện ở những vị trí khác nhau, thực
hiện những chức năng ngữ pháp khác nhau. Và, những sự thay đổi về chức năng ngữ pháp
của giới ngữ sẽ dẫn đến sự thay đổi về cấu trúc ngữ pháp và cấu trúc ngữ nghĩa của câu. Ví
dụ:
a. Họ cố gắng học tập vì ngày mai.
b. Họ cố gaéng học tập là vì ngày mai.
c. Vì ngày mai họ ñaõ coá gaéng học tập.
Trong các ví dụ trên, câu (a) là câu chỉ hành động với giới ngữ làm bổ ngữ; câu (b) là
câu chỉ quan hệ với giới ngữ làm vị ngữ; câu (c) là câu chỉ hành động với giới ngữ làm trạng
ngữ.
+ Khi đảm nhận chức năng cú pháp trong câu, giới ngữ có thể được dùng thay thế
cho các ngữ đoạn thực từ dưới dạng tỉnh lược. Ví dụ:
a. Đây là cuốn sách của tôi chứ không phải của bạn.
b. Tôi sẽ đi xem phim với cô ấy chứ không phải với anh.
c. Họ đi du lịch ở Thái Lan chứ không phải ở Trung Quốc.
bản, chẳng hạn như các tiêu đề của một số văn bản báo chí hay khoa học. Ví dụ:
a. Về khái niệm ngữ đoạn
b. Về giới ngữ trong tiếng Việt
c. Từ những câu hỏi đặt ra ...
d. ... đến tình hình nghiên cứu
e. Để có thể hòa nhập với cộng đồng
f. Vì một ngày mai không có vũ khí hạt nhân
+ Giới ngữ cũng có thể xuất hiện dưới hình thức câu tỉnh lược trong nhiều loại văn
Ngoài ra, cũng có một loại giới ngữ thường được dùng dưới dạng rút gọn có cấu tạo là
“giới từ + đại từ nghi vấn”.Ví dụ: Của ai ? Vì sao ? Ở đâu ? Do cái gì ? Bằng cách nào ? ...
Một số giới ngữ có cấu tạo “giới từ + đại từ thay thế (có chức năng hồi chỉ sự tình)”
như vì vậy, nếu vậy, nếu thế đảm nhiệm chöùc naêng là vế câu gắn bó chặt chẽ với phần còn
lại của câu với tư cách là vế câu phụ (chứ không phải là thành phần chuyển tiếp như một số
tác giả đã quan niệm). Ví dụ :
(“Vaäy” coù chöùc naêng hoài chæ. Caâu treân coù theå caûi bieân thaønh : Vì noù khoâng nghe lôøi
Noù khoâng nghe lôøi toâi. Vì vaäy, noù ñaõ thi rôùt.
toâi neân noù ñaõ thi rôùt)
Từ những điều trình bày trên đây, chúng tôi thiết nghĩ cần phải thừa nhận việc giới từ
tham gia vào các cấu trúc cú pháp và nhất là sự hiện diện của giới ngữ trong cơ cấu tiếng
Việt. Theo nhiều nhà nghiên cứu, ngữ là đơn vị cú pháp được xác định bằng sự tổng hợp các
đặc trưng về chức năng, ngữ nghĩa, cấu trúc; trong đó khả năng đảm nhiệm chức năng cú
pháp là đặc trưng chủ yếu, bao quát của các loại ngữ có thể được xem là cơ sở để nhận diện
ngữ, phân biệt ngữ với các đơn vị khác trong hệ thống ngôn ngữ nói chung và hệ thống ngữ
pháp nói riêng. Tổ hợp bắt đầu bằng giới từ tuy không thuộc các ngữ thực từ nhưng như trên
đã phân tích vẫn có đầy đủ tư cách của một ngữ : ngữ đoạn giới từ là một loại đơn vị có chức
năng biểu thị ý nghĩa quan hệ và có khả năng tham gia cấu tạo câu. Nếu không thöøa nhaän söï
hieän dieän cuûa giôùi ngöõ trong cô caáu ngöõ phaùp tieáng Vieät thì ôû nhiều trường hợp, chẳng hạn
xác định được thành phần câu. Tất nhiên, trong trường hợp như vậy, câu sẽ là vô nghĩa. Ví
dụ:
a. Quyển sách này / của tôi. (+)
a’. Quyển sách này / tôi (-)
b. Cái bàn đó / bằng sắt. (+)
b’. Cái bàn đó / sắt (-)
2.5. Khả năng tham gia cấu tạo nghĩa cho ngữ đoạn của giới từ tiếng Việt
trường hợp giới ngữ đảm nhiệm chức năng vị ngữ cuûa câu, chúng ta không thể phân tích và
Do liệt giới từ vào phạm trù hư từ nên một số tác giả đã cho rằng giới từ “rỗng nghĩa,
trống nghĩa”. Điều này không được sự đồng tình của nhiều nhà nghiên cứu. Trên quan điểm
chức năng khi nói đến vấn đề “nghĩa”, Cao Xuân Hạo viết “(...) người ta đã từng thấy có thể
phân định “từ” ..., phân chia từ loại, phân biệt thực từ với hư từ ... căn cứ vào những tiêu chí
ngữ nghĩa được hiểu một cách đơn giản hóa quá mức (“nghĩa” ở đây chẳng qua là khả năng
biểu hiện những sự vật, những hiện tượng của thế giới hiện thực), không thấy rằng chức
năng biểu thị và cương vị ngữ pháp không phải là một, cũng không thấy rằng nghĩa biểu thị mới
chỉ là một trong các bình diện đa dạng của nghĩa.
Cách quan niệm sơ lược về nghĩa khiến cho phần đông các tác giả không thấy cần biết
đến nghĩa logic – ngôn từ, ý nghĩa tình thái, giá trị thông báo, giá trị ngôn trung
(illocutionary force), giá trị xuyên ngôn (perlocutioncary force) ...” 19,tr.4-5.
Còn Hoàng Trọng Phiến đã cho rằng giới từ tuy không có nghĩa từ vựng nhưng có vai
trò làm phương tiện biểu hiện các quan hệ ngữ pháp - ngữ nghĩa khác nhau giữa các thực từ
mà “về mặt triết học, quan hệ cũng là nghĩa. Đó là khái niệm về sự liên hệ và quan hệ giữa
các sự vật mà các từ biểu thị” [32,tr.8].
Nhöõng yù kieán nhö treân laø hoaøn toaøn hôïp lyù. Xeùt veà maët chöùc naêng ngöõ nghóa, giới từ
có vai trò nhất định trong việc cấu tạo nghĩa cho ngữ đoạn mà nó tham gia.
Khi miêu tả nghĩa của các giới từ các nhà ngữ pháp thường đối lập giới từ - một loại hư
từ cú pháp - với các hư từ từ pháp Theo đó, giới từ không được dùng để diễn đạt ý nghĩa ngữ
pháp của thực từ (danh từ, động từ, tính từ, số từ) mà dùng để diễn đạt mối quan hệ giữa thực
trừu tượng. Giới từ, đồng thời là công cụ diễn đạt các quan hệ logic – các quan hệ trong cách
thức phản ánh của người bản ngữ. Như vậy, nghĩa của giới từ là ý nghĩa quan hệ, một loại ý
nghĩa ngữ pháp, là sự phản ánh những kết quả nhận thức của tư duy về mối quan hệ giữa các
đối tượng bên ngoài vào ngôn ngữ. Ví dụ:
a. Áo của mẹ (nghĩa quan hệ mục đích)
từ với thực từ trong phát ngôn tức là diễn đạt mối quan hệ giữa các khái niệm trong tư duy
c. Chết vì đói (nghĩa quan hệ nguyên nhân)
b. Làm bằng tay (nghĩa quan hệ phương tiện)
Có điều, khi đi vào hoạt động nói năng, ý nghĩa quan hệ không chỉ được biểu hiện bằng
một lớp từ có cùng đặc điểm ngữ pháp - tức giới từ - mà còn bằng các thành tố chức năng
trong các kết cấu cú pháp dùng để tạo ngữ hoặc câu. Những thành tố chức năng này vốn là
những thực từ hay ngữ đoạn thực từ phản ánh các đối tượng khách quan. Khi tham gia hành
chức, các thành tố này còn mang thêm một ý nghĩa chức năng, loại ý nghĩa được tạo nên từ
mối quan hệ ngữ pháp - ngữ nghĩa giữa chúng với các đơn vị khác trong kết cấu cú pháp.
Những quan niệm quá đề cao vai trò của thực từ thường chỉ cho đơn vị biểu hiện các ý nghĩa
quan hệ trong kết cấu là các thực từ hay các ngữ đoạn thực từ còn giới từ chỉ là phương tiện,
công cụ “hiện thực hóa” các mối quan hệ ngữ pháp - ngữ nghĩa. Chẳng hạn, quan niệm này
cho rằng trong các ngữ đoạn “Mái trường của tôi”, “Học để làm người”, “Hy sinh vì tổ
quốc”, nghĩa sở hữu là nghĩa của “tôi” trong quan hệ với “Mái trường”, nghĩa mục đích là
nghĩa của “làm người” trong quan hệ với “Học”, của “tổ quốc” trong quan hệ với “Hy sinh”.
Thực ra, giới từ khi được hiện thực hóa có thể tham gia tạo nghĩa cho cả ngữ đoạn. Đồng
thời, trong nhiều trường hợp giới từ có tác dụng khu biệt nghĩa, biểu hiện sự khác biệt về
nghĩa một cách tường minh của cả giới ngữ và các thành tố trong giới ngữ. Ví dụ:
a. Làm việc tại xí nghiệp
b. Làm việc với xí nghiệp
c. Làm việc cho xí nghiệp
Ở các ví dụ trên, sự có mặt của các giới từ “tại”, “với”, “cho”, “vì” cho phép phân
biệt sự khác nhau về ý nghĩa quan hệ của các giới ngữ :
a. tại xí nghiệp
: ý nghĩa quan hệ về vị trí
b. với xí nghiệp
: ý nghĩa quan hệ về đối tượng liên đới
c. cho xí nghiệp
: ý nghĩa quan hệ đối tượng tiếp nhận
d. vì xí nghiệp
: ý nghĩa quan hệ về mục đích
Ngoài ra sự có mặt hay không có mặt của giới từ trong tổ hợp cũng đưa đến sự khác
biệt về các ý nghĩa quan hệ. So sánh:
e. Ăn no
: ý nghĩa thể cách.
d. Làm việc vì xí nghiệp
f. Ăn cho no : ý nghĩa quan hệ về mục đích.
Mặt khác, về cấu trúc ngữ nghĩa - ngữ pháp, giới từ không chỉ xác lập quan hệ ngữ pháp
với đơn vị đứng sau nó có tư cách là bổ ngữ mà còn cùng bổ ngữ biểu thị những chức năng
ngữ nghĩa khác nhau.
Ở ví dụ (a),(b),(c),(d), các chức năng bổ ngữ chỉ vị trí, chỉ đối tượng liên đới, chỉ đối
tượng tiếp nhận, chỉ mục đích của danh từ “xí nghiệp” được xác lập không phải bằng mối
quan hệ trực tiếp với động từ “làm việc” mà chính với các giới từ đi trước. Đồng thời ý nghĩa
của bổ ngữ cũng sẽ khác nhau với sự xuất hiện của những giới từ khác nhau. So sánh:
Làm việc xí nghiệp (-)
a. tại xí nghiệp : bổ ngữ chỉ vị trí
b. với xí nghiệp : bổ ngữ chỉ đối tượng liên đới
c. cho xí nghiệp : bổ ngữ chỉ đối tượng tiếp nhận.
d. vì xí nghiệp : bổ ngữ chỉ mục đích
Ở ví dụ (e), (f) khi có mặt hay không có mặt của giới từ thì ý nghĩa chức năng của tổ
hợp cũng có sự thay đổi. So sánh:
e. Ăn no : bổ ngữ chỉ thể cách
2.6. Khả năng đánh dấu vai nghĩa và dụng pháp của giới từ tiếng Việt
f. Ăn cho no : bổ ngữ chỉ mục đích.
danh từ tùy thuộc vào vị từ. Thậm chí, J.Lyons còn cho rằng nó là phạm trù biến hình ngữ
pháp đặc biệt nhất vì nó không có phạm trù tương ứng trong các khoa học anh em với nó là
logic học, nhận thức luận và siêu hình học.
Trong những năm 60 của thế kỷ XX, Fillmore viết một loạt bài trong đó nổi tiếng nhất
là bài “The case of case”. Ông cho rằng có thể xác định một tập hợp hữu hạn và phổ quát
những mối quan hệ giữa vị từ và các tham tố của nó, có những vai trò nhất định mà lý thuyết
ngữ pháp có thể xác định được. Những mối quan hệ đó được ông gọi là quan hệ cách. Trong
nghĩa từ vựng của mỗi động từ đều có những đặc trưng khung nêu rõ các khung “cách” mà
Cách vốn là một khái niệm của ngữ pháp châu Âu gắn liền với sự biến đổi hình thái của
Các quan hệ “cách” có thể được biểu hiện bằng nhiều phương tiện trong đó có :
các động từ đó có thể được điền vào; và các động từ được phân loại theo những khung ấy.
1. Đánh dấu danh từ hay đại từ bằng phụ tố.
2. Thêm tiền giới từ hay hậu giới từ.
3. Trật tự trước sau của từ.
4. Đánh dấu vào động từ.
Những phương tiện đánh dấu các quan hệ cách được gọi là hình thái cách. Mỗi quan
hệ cách có thể được thể hiện bằng những hình thái cách khác nhau và một hình thái cách có
thể thể hiện những quan hệ cách khác nhau.
Các cách chỉ ra những chức năng ngữ nghĩa căn bản của danh từ, can thiệp vào việc
chọn lựa các giới từ khác nhau. Những giới từ riêng lẻ thường được xếp chung với nhau
chính là dấu hiệu của cùng một cách.
Mấy chục năm trở lại đây, ít nhất là từ Fillmore, cách được hiểu như là các vai / tham tố
của vị từ, nghĩa là một khái niệm thuộc về nghĩa học và người ta xem nó như một phổ quát
của ngôn ngữ nhân loại bởi vì ngôn ngữ nào cũng có “cách”.
Ở tiếng Việt, việc nghiên cứu ít nhiều có liên quan đến “Ngữ pháp cách” có từ rất
sớm. Theo Cao Xuân Hạo, năm 1883, Trương Vĩnh Ký trong cuốn Grammaine de la langue
annamite, khi nói về danh từ đã trình bày một vấn đề khá quan trọng và lý thú là cách diễn
đạt ý nghĩa “cách” trong ngữ pháp tiếng Việt. Học giả này cho rằng các danh từ tiếng Việt
khi được dùng trong câu có thể ở vào một trong tám cách:
STT Ý nghĩa cách Phương thức diễn đạt
1 Nominatif (Danh cách) (không đánh dấu)
2 Génitif (Sinh cách, Sở hữu của / (không đánh dấu)
3 Datif (Tặng cách, Dữ cách) cho
4 Accusatif hay Objectif
(không đánh dấu)
(Đối cách)
5 Vocatif (Hô cách)
ôû – bớ
6 Ablatif (Tác cách, Ly cách) khoûi – bởi
7
Intrumental (Công cụ cách) bằng
8
Locatif (Vị trí cách)
nơi, trong …
Trương Vĩnh Ký nói rõ là tiếng Việt không có cách hiểu theo nghĩa hẹp như tiếng
Latinh vì cách là sự biến hình trong vĩ tố của từ tùy theo vai trò mà nó đảm đương trong câu,
cách)
nhưng trong tiếng Việt, sự biến hình ấy chỉ được thể hiện bằng những tiểu tố tiền vị (tức giới
từ) và dĩ nhiên đó không phải là “cách” thực sự. Dù khái niệm “cách” không thích hợp và
đúng đắn song ông vẫn dùng nó “theo pheùp loại suy cho dễ hiểu” và định nghĩa “cách” là
những vị trí khác nhau của một danh từ tùy theo cương vị là làm yếu tố chính hay làm bổ
Keá thöøa thaønh töïu cuûa Fillmore vaø caùc nhaø nghieân cöùu ngöõ phaùp khaùc, một số tác
ngữ cho một từ khác.
giả của các công trình về ngôn ngữ học lý luận trên thế giới khi nghiên cứu về mối quan hệ
ngữ pháp - ngữ nghĩa trong câu đã xem xét mối quan hệ về vai trò của ngữ pháp đối với cấu
trúc nghĩa hay cấu trúc tham tố của vị từ. Các tác giả đã miêu tả cơ chế liên kết các đối tượng
ngữ nghĩa trong cấu trúc nghĩa của câu với các đơn vị ngữ pháp, các loại phạm trù từ vựng -
ngữ pháp (từ loại). Theo đó, các ngữ đoạn có một cương vị ngữ nghĩa - ngữ pháp rất quan
trọng trong khung vị ngữ, xoay quanh hạt nhân vị ngữ do vị từ đảm nhiệm. Bởi lẽ, các ngữ
đoạn có thể nhận hoặc là những bổ ngữ bắt buộc hoạt động như những diễn tố của vị từ,
cùng với vị từ lập nên khung vị ngữ hạt nhân hoặc chúng có thể hành chức như những chu tố
bổ sung cho khung vị ngữ hạt nhân ở một số phương diện ý nghĩa nào đó.
Sự phân biệt giữa hai loại tham tố nêu trên được căn cứ vào tính tất yếu (bắt buộc) hay
không tất yếu (không bắt buộc) có mặt của chúng trong khung vị ngữ. Diễn tố là loại tham tố
cần và đủ, có số lượng nhất định cho từng vị từ tham gia vào nội dung biểu hiện của khung
ngữ vị từ như một nhân / vật được giả định một cách tất yếu trong nội dung nghĩa của vị từ
mà nếu thiếu đi thì sự tình hữu quan không thể được thực hiện hay không còn là nó nữa. Còn
chu tố là loại tham tố không bắt buộc, không có số lượng nhất định dùng để biểu thị các tình
mặt để cho sự tình có thể được gọi tên bằng các vị từ trung tâm.
Những chỉ dẫn chung cho thấy, các tham tố của sự tình biểu hiện các vai nghĩa xung
quanh nội dung của sự tình do nghĩa của vị từ quy định. Về cơ bản, trong vai trò diễn tố các
ngữ đoạn thường là danh ngữ còn trong vai chu tố các ngữ đoạn thường là giới ngữ (một ngữ
đoạn được dẫn nhập bởi một giới từ). Tất nhiên, trong một số trường hợp giới ngữ cũng có
thể đảm nhận vai trò diễn tố. Chẳng hạn, trong tiếng Việt, đối với những vị từ có ý nghĩa
hành động phát nhận : cho, đưa, biếu, tặng, gửi, cấp, mượn, vay, thu, nhận, lấy, lĩnh ...thì
giới ngữ đóng vai trò là tham tố bắt buộc. Ví dụ:
huống như thời gian, phương thức, nguyên nhân, mục đích, kết quả, không nhất thiết phải có
a. Nó bỏ tiền vào túi.
b. Thầy đặt viên phấn xuống bàn.
c. Bé bày đồ chơi trên sàn nhà.
Chu tố không có số lượng nhất định như các diễn tố. Các nghĩa chu tố được biểu hiện
trong ngữ pháp thông qua các bổ ngữ, trạng ngữ. Tuy vậy, một vai nghĩa có thể là chu tố đối
với vị từ này nhưng lại là diễn tố đối với vị từ khác. Có thể nói đến ở Việt ngữ trường hợp bổ
ngữ hay trạng ngữ chỉ nơi chốn và mục tiêu là chu tố đối với đa số các vị từ hành động nhưng
lại là diễn tố đối với các vị từ hành động như đặt, bày, treo, đút, thọc, vùi, bỏ (vào) ... Ví dụ:
a. Treo taám aûnh leân töôøng
b. Baøy maáy chaäu hoa ngoaøi saân
c. Ñuùt tay vaøo tuùi
Về mặt ngữ pháp, các chu tố tương ứng với các bổ ngữ chỉ hoàn cảnh như không gian,
thời gian, nguyên nhân, mục đích, phương tiện, cách thức ... là những bổ ngữ không bắt buộc
- theo các tác giả sách “Ngữ pháp tiếng Việt” [46] - có thể có hay không có một cách tùy
nghi không do động từ trung tâm yêu cầu riêng. Còn các diễn tố với hình thức biểu hiện là
các danh ngữ tương ứng với nhiều thành phần chức năng cú pháp khác nhau : chủ ngữ, cả bổ
ngữ bắt buộc (xuất hiện một cách tất yếu do yêu cầu của vị từ) lẫn bổ ngữ không bắt buộc
(xuất hiện một cách tùy nghi).
Theo chúng tôi, sự có mặt hay không có mặt của một giới từ cụ thể để đánh dấu một bổ
trung tâm mới có quan hệ cú pháp với các bổ ngữ đứng sau nó. Cho nên phải xem xét đến
các thuộc tính ngữ pháp và thái độ cú pháp của trung tâm để có thể hiểu được mối quan hệ
cú pháp và nắm được trật tự của các bổ ngữ. Từ đó, có thể nói khả năng đánh dấu vai nghĩa
của giới từ chịu sự chi phối của loại vị từ trung tâm và đến lượt mình giới từ chi phối bổ ngữ
về “cách” (vai nghĩa).
Theo Cao Xuân Hạo (1998), giới từ là những tác tử đánh dấu cách của các ngữ đoạn và
thông qua đó cho biết vai trò của các nhân vật trong màn kịch nhỏ làm thành cái nội dung
nghĩa mà một câu biểu hiện. Ngữ đoạn thực từ tự nó chỉ cho biết có nhân vật nào tham gia sự
tình và sự tình ấy là cái gì (biến cố, hành động hay trạng thái …). Chính các giới từ cho biết
ngữ đảm nhận một vai nghĩa nào đó phụ thuộc vào loại vị từ trung tâm cụ thể. Bởi lẽ, chỉ có
các nhân vật ấy đóng vai trò gì trong sự tình. Thiết nghĩ, đó là đặc điểm ngữ nghĩa chức năng
quan trọng nhất mà giới từ có được.
Khi tham gia vào cấu trúc giới ngữ, về mặt chöùc naêng, giới từ đánh dấu ngữ đoạn đi sau
nghóa, giới từ phản ánh mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng trong một sự kiện khách
nó, cho biết vai nghĩa mà đơn vị này biểu hiện trong cấu trúc nghĩa của câu. Veà maët ngöõ
quan. Trong hiện thöïc khách quan, một sự vật có thể tham gia vào nhiều mối quan hệ sự kiện
khác nhau. Chẳng hạn, cùng một nhân vật “con” có thể đóng nhiều vai trò khác nhau trong
nhiều mối quan hệ. “Con” có thể là :
– Kẻ sở hữu : sách của con
– Đối tượng tiếp nhận: tặng cho con
– Nguyên nhân của nội dung sự tình: khổ vì con
– Nguồn: Lấy của con
– Đích: Nói đến con
– Ñoái töôïng liên đới: Ăn với con
Trong những ví dụ nêu trên, các vai nghĩa khác nhau của “con” được đánh dấu bằng
những giới từ khác nhau. Hiện tượng một tham tố trong cấu trúc nghĩa của câu có thể kiêm
nhiều vai nghĩa là hiện tượng bình thường, phổ biến.
Giới từ tiếng Việt thường đánh dấu vai chu tố. Ví duï:
+ “baèng”: ñaùnh daáu vai coâng cuï cuûa “möïc ñoû”
+ “ôû”: ñaùnh daáu vai nôi choán cuûa “phoøng chaám thi”
+ “ñeå”: ñaùnh daáu vai muïc ñích cuûa haønh ñoäng “vieát”
Ba vai naøy trong quan heä vôùi vò töø trung taâm ñoùng vai troø laø tham toá khoâng baét buoäc.
Nhưng giôùi töø cũng có khả năng đánh dấu vai diễn tố. Chẳng hạn trong các trường hợp
sau:
Cô ấy viết thư bằng mực đỏ ở phòng chấm thi để gửi lên hội đồng tuyển sinh trường.
* Đánh dấu vai Người nhận (Tiếp thể) trong khung vị ngữ của các vị từ như biếu,
dâng, tặng, nộp, chuyển, trao, cấp …
Các vị từ này có diễn tố 2 và diễn tố 3 là vai Tiếp thể và Ñối thể (cho ai, cái gì). Ví dụ:
Nó gửi một lá thư cho tôi.
Diễn tố 1: Diễn tố 2: Diễn tố 3:
Chủ thể Đối thể Tiếp thể.
Bổ ngữ chỉ đối thể và bổ ngữ chỉ tiếp thể có thể quan hệ với vị từ trung tâm theo hai
cách :
a. V – N1 – N2
Gửi tôi một lá thư
b. V – N2 – cho – N1
Gửi một lá thư cho tôi.
Như vậy, khi bổ ngữ chỉ người nhận đứng sau vị trí trung tâm thì không cần sử dụng
giới từ, còn trường hợp bổ ngữ chỉ người nhận đứng xa vị từ trung tâm thì sự có mặt của giới
từ là bắt buộc. Không thể nói :
Gửi một lá thư tôi (–).
* Đánh dấu vai Nguồn trong khung vị ngữ của các vị từ như đoạt, cướp, mượn, vay …
Nó vay của ông ấy một số tiền
Diễn tố 1: Diễn tố 2: Diễn tố 3:
Chủ thể Nguồn Đối thể
Nếu chuyển “của ông ấy” ra sau Ñối thể “một số tiền” thì có thể hiểu là “một số tiền
Các vị từ này có diễn tố 2 và 3 là vai Nguồn và Ñối thể (đoạt của ai, cái gì). Ví dụ:
Vai Nguồn không thể có được nếu tách ra khỏi vai Đối thể. Không thể nói :
Nó vay của ông ấy (–)
của ông ấy” bên cạnh cách hiểu “vay của ông ấy một số tiền”.
* Đánh dấu vai Đích trong khung vị ngữ của các vị từ như nhồi, đút, cắm, dán, chèn,
rót … Các vị từ này có diễn tố 2 và 3 là Ñối thể và Đích (dán cái gì, vào đâu). Ví dụ :
Nó dán giấy vào tường .
Diễn tố : Diễn tố 2: Diễn tố 3:
Cuõng coù theå keå ñeán một trường hợp khác mà một giới ngữ đảm nhận vai trò là tham tố
Chủ thể Đối thể Đích
cần yếu. Ñoù là trường hợp những giới ngữ chỉ không gian, thời gian trong một kiểu câu tồn
tại.
Trong cấu trúc nghĩa của câu tồn tại, cuøng vôùi töø ngöõ chæ khoâng gian, thôøi gian, các
giới ngữ chỉ không gian, thời gian (đóng vai trò quan trọng trong việc tạo lập câu) là một
tham tố bắt buộc xuất hiện một cách tất yếu do yêu cầu của vị töø trung tâm. Chính vì vậy mà
tác giả các sách ngữ pháp chức năng tiếng Việt gọi là khung đề. Ví dụ:
a. Taïi ñaây treo nhiều ảnh nghệ thuật.
b. Ở ngoài vöôøn nôû roä nhöõng boâng hoa.
c. Ở cuoái phoá thaáp thoaùng maáy boùng ngöôøi.
Đặc điểm sự tình của câu tồn tại là mối quan hệ giữa các nhân / vật với phạm vi không
trong trường hợp này là bắt buộc do các vị từ trung tâm không mang sẵn nghĩa tồn tại nên
quá trình chuyển nghĩa ở những trường hợp này không thể diễn ra nếu không có tham tố chỉ
vai nơi chốn hoặc thời gian.
a/. Treo nhiều ảnh nghệ thuật (–)
b/. Nôû roä nhöõng boâng hoa (–)
c/. Thaáp thoaùng maáy boùng ngöôøi (–)
Trong tư duy con người, phạm trù không gian và thời gian có mối quan hệ logic với
phạm trù tồn tại : một nhân / vật bao giờ cũng tồn tại ở một vị trí không gian và trong một
gian hoặc thời gian. Do vậy, sự xuất hiện của giới ngữ đảm nhiệm vai nơi chốn, vai thời gian
thời gian nhất định. Mối quan hệ giữa không gian, thời gian với tồn tại mang tính tất yếu, tự
nhiên, nằm trong bản chất của vật thể. Tất cả những điều này đều được phản ánh vào ngôn
ngữ. Một số câu tồn tại tiếng Việt có thể có cả giới ngữ chỉ không gian và chỉ thời gian. Tuy
nhiên, trong lúc giới ngữ chỉ không gian đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nghĩa tồn tại
cho vị từ trung tâm và cho câu thì giới ngữ chỉ thời gian không có tác dụng này. So sánh:
a. Taïi ñaây treo nhiều ảnh nghệ thuật (+)
b. Vào những ngày đó, taïi ñaây treo nhiều ảnh nghệ thuật (+)
c. Vào những ngày đó treo nhiều ảnh nghệ thuật (–)
Ở trường hợp này, giới ngữ chỉ không gian là tham tố bắt buộc còn giới ngữ chỉ thời
gian là tham tố không bắt buộc. Kiểu câu tồn tại này trong tiếng Việt là kiểu câu có cấu trúc
nghĩa chung bao gồm một tham tố chỉ vị trí không gian (tham tố bắt buộc) thường có cấu tạo
là một giới ngữ và một tham tố chỉ sự vật tồn tại thường có cấu tạo là một danh ngữ không
xác định.
Moät giôùi töø tieáng Vieät coù khaû naêng ñaùnh daáu nhöõng vai nghóa khaùc nhau. Töø “cho”
laø moät ví duï.
Từ “cho” khi làm vị từ có nghĩa là “chuyển một vật z nào đó của người trao x cho người
nhận y”. Ñây cũng là nghĩa chung của một loạt vị từ khác như trao, hiến, dâng, tặng, biếu,
ban, thí …
Khi làm giới từ, “cho” đánh dấu nhiều vai nghĩa khác nhau như vai Người nhận, vai
Mục đích, vai Kẻ trải nghiệm, vai Người hưởng lợi. Ví dụ:
(“noù” laø ngöôøi nhaän)
b. Xã đã xây nhà tình nghĩa cho nhöõng ngöôøi ngheøo.
(“nhöõng ngöôøi ngheøo” ñoùng vai muïc ñích)
c. Hàng me xanh ngắt … đứng đó cho em làm thơ.
(“em” laø keû traûi nghieäm)
d. Ông ấy hiến toàn bộ gia tài cho Hội Chữ thập đỏ.
(“Hội Chữ thập đỏ” laø ngöôøi höôûng lôïi)
a. Tôi trao cho nó một bức thư.
Trong tieáng Vieät, một số giới từ có nguồn gốc từ vị từ. Đây là sự thay đổi về chức
năng : từ chức năng biểu hiện nội dung của sự tình chuyển sang chức năng đánh dấu các vai
nghĩa (chỉ “cách” của bổ ngữ trong một ngữ vị từ). Ví dụ:
a. Nhằm thẳng vào quân thù mà bắn!
b. Chiếc xe chưa chạy đến bến mà đã ngừng lại.
Trong câu (a), “vào” đánh dấu vai mục tiêu (“quân thù”); trong câu (b) “đến” đánh
dấu vai đích (“bến”)
Có thể kể ra đây một số vị từ được chuyển sang dùng làm giới từ:
VỊ TỪ GIỚI TỪ ĐÁNH DẤU VAI
– đến, với, vào mục tiêu
– ở vị trí
– cho tiếp thể
– lên, xuống, ra đích có hướng xác định
– sang, về, lại hướng có tính xác định
– về phương diện
– bằng công cụ
– qua, ngang lối đi
– để mục đích
– theo, cùng liên đới
hiện tượng thuộc về dụng pháp, tức là thuộc vào mục đích sử dụng từ ngữ trong chức năng
biểu hiện của nó. Chẳng hạn, xem xét từ cho trong những câu sau đây:
a. Tôi vừa cho nó một quyển sách.
b. Tôi vừa gửi cho nó một quyển sách.
c. Tôi vừa gửi một quyển sách cho nó.
Trong câu (a), “cho” là vị từ diễn đạt một hành động chuyển tác có cấu trúc tham tố
là :
Việc sử dụng giới từ có nguồn gốc từ thực từ ở một số trường hợp có thể xem là một
Diễn tố 1 “tôi”: chỉ người hành động (vai Tác thể)
Diễn tố 2 “nó”: chỉ người nhận (vai Tiếp thể)
Diễn tố 3 “một quyển sách”: chỉ đối tượng đem cho (vai Ñối thể).
Trong câu (b) , “cho” được dùng trong thế lưỡng khả về nghĩa:
+ Có thể hiểu “cho” là vị töø chuyển tác như trong câu (a) theo nghĩa “(gửi) để
cho”. Trường hợp này phải phát âm “cho” có trọng âm như “gửi” [1–1].
+ Có thể hiểu “cho” là một yếu tố chỉ “cách”, tức chỉ vai nghĩa của “nó”. Trường
hợp này phải phát âm“cho” không có trọng âm [1 – 0].
Trong câu (c), “cho” cũng có thể hiểu theo hai cách như đã nêu ở câu (b) nhưng trong
cách sử dụng và cách hiểu thông thường thì “cho” được dùng làm chỉ tố đánh dấu vai nghĩa
(phát âm không có trọng âm)
Sau đây là những phaân tích böôùc ñaàu về khả năng đánh dấu những vai nghĩa (phổ biến)
của một số giới từ (tiêu biểu) trong mối quan hệ với vị từ trung tâm.
2.6.1. Đánh dấu vai Đối tượng bị tác động
Theo các nhà nghiên cứu, Đối tượng bị tác động là vai nghĩa hay có mặt nhất trong
các sự thể được biểu hiện bằng vị từ hành động và cũng là vai nghĩa được biểu hiện một cách
nhất quán nhất trong các ngôn ngữ khác nhau.
Trong tiếng Việt, vai Đối tượng bị tác động có thể được biểu hiện trong ba trường
2.6.1.1. Vai Đối tượng bị tác động được đặt ở vị trí chủ đề của câu. Ví dụ:
a. Bệnh nhân X đã được mổ.
b. Nó bị bạn đánh.
2.6.1.2. Vai Đối tượng bị tác động được biểu hiện bằng một danh ngữ làm bổ ngữ
trực tiếp đặt sau vị từ (cũng có thể là một danh từ, hay một đại từ nhân xưng hay hồi chỉ). Ví
dụ:
a. Nuôi một đàn con
b. Nuôi con
hợp :
c. Nuôi nó
2.6.1.3. Vai Đối tượng bị tác động được biểu hiện bằng một danh ngữ do giới từ
dẫn nhập (giới ngữ) nếu vị từ có thêm một bổ ngữ chỉ đơn vị hành động (lúc này đối tượng
bị tác động nếu là người hay động vật có thể được xử lý như vai “người nhận” ) thì trước bổ
ngữ chỉ đối tượng tác động có mặt của giới từ “cho”. Ví dụ:
a. Mắng cho hắn một trận
b. Đánh cho nó mấy cái
c. Dạy cho chúng một bài học
Cách biểu hiện vai Đối tượng bị tác động của trường hợp này không thể thực hiện được
nếu không có bổ ngữ chỉ đơn vị hành động. Những câu như “Hôm qua tôi đã mắng cho nó”,
“Tôi giơ tay đánh cho nó”, “Nhân dân ta sẽ dạy cho chúng” đều không được chấp nhận.
Có những trường hợp mà bổ ngữ chỉ đối tượng bị tác động được xử lý khác nhau tùy
theo nghĩa của nó (động vật hay bất động vật chẳng hạn) trong quan hệ với vị từ trung tâm.
Những trường hợp này qui định việc có mặt hay không có mặt của giới từ dẫn nhập bổ ngữ.
Xét trường hợp cụ thể với vị từ “đánh”.
+ “Đánh” dùng với một bổ ngữ trực tiếp (danh ngữ) trong những trường hợp sau:
* Bổ ngữ là một danh ngữ chỉ người hay động vật làm đối tượng cho hành động.
Ví dụ:
a. Đánh giặc
c. Đánh chó
d. Đánh mèo
* Bổ ngữ
là một danh ngữ chỉ vật phát ra âm thanh, tiếng động.
Ví dụ:
a. Đánh đàn
b. Đánh chuông
c. Đánh trống
b. Đánh người
*Bổ ngữ là một danh từ có ý nghĩa liên quan đến âm thanh mà hành động “đánh”
(dùng theo nghĩa chuyển) với nghĩa là tạo nên một thông tin.Ví dụ:
a. Đánh tiếng
b. Đánh động
* Bổ ngữ là một danh từ chỉ vật dụng mà hành động “đánh” (với nghĩa là cọ rửa)
làm cho sạch, cho trơn bóng. Ví dụ:
a. Đánh giày
b. Đánh lư đồng
* Bổ ngữ là một danh ngữ chỉ một trò chơi thể thao hoặc một đồ chơi thể thao có
thể dùng tay hoặc dụng cụ cầm tay làm cho chuyển động.
Ví dụ:
a. Đánh cờ
b. Đánh bóng
c. Đánh cầu
d. Đánh banh
+ “Đánh” dùng với một bổ ngữ được giới từ dẫn nhập (giới ngữ):
* Bổ ngữ là một danh ngữ chỉ một cá nhân, một tổ chức, một hành vi (trường hợp
“công kích”, “tố cáo”). Ví dụ:
a. Đánh vào đối thủ
b. Đánh vào điểm yếu của kẻ thù
c. Đánh vào những hoạt động phi pháp
* Bổ ngữ là một danh ngữ chỉ một vật có những thuộc tính sau đây:
– Không dùng để phát ra âm thanh hay tiếng động. Vật này có thể là một bộ phận trên
cơ thể của một động thực vật. Ví dụ:
a. Đánh vào tay nó
này “đánh” được dùng theo nghĩa phát sinh gần với nghĩa của từ “lên án”, “phê pháp”,
b. Đánh vào lưng nó
c. Đánh vào thân cây
Trường hợp này, hành động “đánh” có thể và thường nhằm gây thương tích hay đau
đớn giống như trường hợp đối tượng là một động vật như đã nêu ở mục (a)
– Dùng để phát ra âm nhạc hay tiếng động (nhưng hành động “đánh” không nhằm
mục đích tạo ra tiếng động). Ví dụ : Đánh vào cây đàn Đánh đàn.
Như vậy, sự phân biệt trong cách xử lý vai đối tượng bị tác động ngoài sự qui định của
vị từ trung tâm còn có sự tham gia hay không tham gia của giới từ “vào”.
2.6.2. Đánh dấu vai Mục tiêu
Theo các nhà ngữ pháp chức năng, trong nhiều ngôn ngữ, vai Mục tiêu của sự di chuyển
và của những hành động không tác động nhưng có đích như nhìn, xem, quan sát ... được xử
lý rất giống vai đối tượng bị tác động.
Trong tiếng Việt, các vị từ chuyển động có thể chia ra làm hai loại: “nội động” và
“ngoại động” theo tiêu chí có hay không có bổ ngữ trực tiếp biểu thị diễn tố mục tiêu. Tương
tự như vậy, các vị từ không biểu hiện sự chuyển động nhưng lại có “đích” cũng có thể chia
thành hai loại, trong đó loại thứ nhất bao giờ cũng “ngoại động” còn loại thứ hai có đến hai
cách dùng (hoặc “ngoại động” hoặc “nội động”) chứ không có loại “nội động” thuần túy như
các vị từ chuyển động bay, bò, bơi ... So sánh:
a. Nhìn nó (+) / nhìn vào nó(+) và a’.Bay nó(-) / bay vaøo nó(+)
Sự khác biệt này do vị từ trung tâm qui định và được thể hiện ở chỗ bổ ngữ là một danh
ngữ hay giới ngữ.
Theo các nhà nghiên cứu, trong nhiều thứ tiếng Châu Âu - vốn là những thứ tiếng biến
hình – các giới từ chỉ “cách” của bổ ngữ đảm nhiệm vai mục tiêu thường trùng với giới từ
dùng cho vai nơi chốn. Đối chiếu với tiếng Việt, chúng ta thấy trong tiếng Việt có hẳn một
hệ thống giới từ chỉ mục tiêu tồn tại song song và đối lập với hệ thống giới từ chỉ nơi chốn.
Mục tiêu
Nơi chốn
vào
trong
b. Xem nó(+) / xem vào nó (-) và b’.Đến nó(+) / đến vào nó(-)
ngoài ra
trên lên
dưới xuống
bên sang
tại, ở đến, tới
về
Điều cần chú ý là: Những từ vào, ra, lên, xuống, sang, đến, tới, về nêu trên vốn có
nguồn gốc từ các động từ di chuyển “ngoại động” nên chúng có thể duy trì ý nghĩa chỉ
hướng vốn có trong động từ gốc. Vì thế, nhiều lúc chúng được dùng như một trạng từ chỉ
hướng (phụ từ chỉ hướng). Nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Chẳng hạn, trong các ví dụ
sau : “đổ lên đầu”, “bắn vào quân thù (đang ở bên ngoài)” các từ “lên”, “vào” được dùng để
chỉ “đích” chứ ý nghĩa “hướng” đã hoàn toàn mất đi vì “hướng” của “đổ” là “đi xuống phía
dưới” và hướng của “bắn” (quân thù đang ở bên ngoài) là “đi ra phía ngoài”).
Do vậy, trong những trường hợp này cần xử lý các từ “lên”, “vào” là những giới từ
dùng để đánh dấu vai mục tiêu chứ không thể xem là những từ chỉ hướng (như đã trình bày ở
phần 1.3.3).
Sự phân biệt giữa hai vai nghĩa hướng và mục tiêu là sự phân biệt cần thiết trong việc
xem xét cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu. Sự phân biệt giữa hai vai nghĩa này là phổ biến
Về ý nghĩa hướng: Ý nghĩa hướng thường được biểu hiện ở hai khía cạnh hoặc là làm
trong nhiều ngôn ngữ.
nghĩa hướng được biểu hiện ở những vị từ như đạp, rắc, rơi, trút, nâng. Coøn ra, vào,lên,
xuống … được dùng như vị từ trung tâm hay như bổ tố chỉ hướng.
Về ý nghĩa đích(muïc tieâu) : Ở phần lớn các ngôn ngữ, ý nghĩa đích thường được biểu
thị bằng giới từ. Trong tiếng Việt, ý nghĩa này được đánh dấu bằng các từ : ra, vào, lên,
xuống… Xoay quanh nhóm từ này, như đã trình bày, có những cách nhìn nhận khác nhau :
Nguyễn Kim Thản (1963) coi chúng là các từ chỉ hướng. Tuy nhiên, tính phi lý trong cách
phân tích và lý giải của tác giả đã được Nguyễn Thị Quy (1995) và Cao Xuân Hạo (1998)
nêu rõ.
thành một nét nghĩa của vị từ hoặc được biểu thị bằng các từ chỉ hướng. Trong tiếng Việt, ý
Chúng tôi coi các từ đã nêu có chức năng giới từ chỉ đích theo cách xử lý như sau : các
từ ra, vào, lên, xuống … khi đi sau các vị từ chỉ sự di chuyển thì đóng vai trò, chức năng của
một phụ từ chỉ hướng (bay lên, chạy ra, nhảy vào, đi xuống); còn khi đi sau một vị từ trung
tâm có ý nghĩa hướng kiểu như : đạp, rắc, rơi, đổ, trút, nâng … chúng không chỉ cho biết
hướng của sự vật có liên quan mà còn đánh dấu danh ngữ theo sau chúng là bổ ngữ chỉ đích
của vị từ trung tâm.
2.6.3. Đánh dấu vai Nơi chốn
Trước hết cần nói rằng, vai nơi chốn có thể làm tham tố cho bất cứ loại sự tình nào,
hành động cũng như quá trình, trạng thái, tư thế. Tuy nhiên, nó không bao giờ là một diễn tố
của một sự tình - trừ một số trường hợp của câu tồn tại (Trong nhà có khách, Trên tường có
một bức tranh) và khi khung vị ngữ có hạt nhân là một vị từ có ý nghĩa “cư trú” như ở, ngụ,
đóng, trú, ...(Tôi ở Tiền Giang; Họ đóng quân trên đồi) mà bao giờ cũng là một chu tố.
Trên thực tế, trong tiếng Việt vai Nơi chốn có thể được biểu hiện bằng sự đòi hỏi phải
có mặt hay không có mặt của giới từ tùy theo mối quan hệ ngữ nghĩa giữa vị từ và danh từ
chỉ nơi chốn.
Những giới từ tiếng Việt đánh dấu vai nơi chốn gồm :
– 1 giới từ chính danh (tại) mượn của tiếng Hán.
– 6 giới từ có nguồn gốc từ danh từ (trên, dưới, trong, ngoài, trước, sau).
– 1 giới từ có nguồn gốc từ động từ (ở).
thường, tất cả các giới từ còn lại đều phát âm không có trọng âm khi được dùng làm chỉ tố
vai nghĩa nơi chốn (phát âm có trọng âm khi được dùng với tư cách một danh từ hay một vị
từ). Đặc biệt, các giới từ chỉ vai Nơi chốn có thể kết hợp với nhau thành một “giôùi töø gheùp”
nhất là khi dùng với “ở” (ở trong, ở ngoài, ở dưới, ở trên).
Về hiện tượng rút gọn kết cấu “ở + trong” thành “trong”:
Ngoài chức năng làm vị ngữ, từ “ở” còn là giới từ chỉ vị trí trong hệ thống tiếng
Việt. Ví dụ:
a. Tôi sống ở Đà Nẵng.
b. Anh ấy làm việc ở Hà Nội.
Trừ trường hợp “tại” vốn không bao giờ có trọng âm trong những ngữ cảnh bình
“Ở”, như Thompson (1965) nhận định, là một giới từ đặc biệt trong tiếng Việt có ý
nghĩa chung nhất dùng để chỉ vị trí, thông báo sự “choán” một khoảng không gian của một
thực thể đối với một thực thể khác như Lê Văn Lí (1986), Nguyễn Tài Cẩn (1975),
Nguyễn Lai (1990),…đồng tình . “Ở” có thể kết hợp với các giới từ chỉ vị trí khác như trên,
dưới, trong, ngoài, trước, sau, giữa… nhằm thông báo thêm một thông tin quy chiếu cụ thể
khác nữa. Ví dụ:
a. Tôi sống ở + trong Saøi Goøn.
b. Anh ấy làm việc ở + dưới Caàn Thô.
c. Nó ngồi ở trước + nhà.
d. Chị ấy sống ở + gần nhà tôi.
Do tất cả những giới từ neâu treân đều chứa trong nó hai nét nghĩa hay còn gọi là hai
thông tin về quan hệ không gian : 1) có độ “choán/ chồng lấp” về không gian của söï vật
được định vị đối với söï vật được dùng để quy chiếu; 2) thông báo quan hệ không gian (khác
nhau) của söï vaät ñöôïc ñònh vò vôùi söï vaät ñeå quy chieáu. Những giới từ này có chung nét
nghĩa (1) chỉ khác nhau ở nét nghĩa (2). Và, như chúng ta đã đề cập ở trên, nét nghĩa “choán/
chồng lấp” là thuộc tính duy nhất của giới từ “ở” trong các ví dụ đã cho. Như vậy, có thể nói
rằng “ở” là thuộc tính chung của các giới từ ñaõ neâu. Nói theo cách khác, về mặt nghĩa trên,
dưới, trong, ngoài, trước, sau, giữa… bao hàm cả “ở” trong chúng. Và do đó, khi cần thiết
keát caáu. Như vậy, những câu a, b, c, d trên có thể rút gọn thành:
e. Toâi soáng trong Saøi Goøn.
f. Anh aáy laøm vieäc döôùi Caàn Thô.
g. Noù ngoài tröôùc nhaø.
h. Chò aáy soáng gaàn nhaø toâi.
Giả thieát cho rằng kết cấu “ở + giôùi töø ñònh vò” ở các câu a, b, c, d được rút gọn
thành “giôùi töø ñònh vò” trong các câu e, f, g, h còn được hỗ trợ bởi nguyên tắc tiết kiệm trong
ngôn ngữ. Người nói luôn thực hiện nguyên tắc này một khi có thể. Vì vậy, nếu không làm
thay đổi nghĩa thông báo tại sao lại không rút gọn kết cấu “ở + trong” bằng “trong” trong
chúng có thể thay thế cho cả kết cấu “ở + giôùi töø ñònh vò” mà không làm thay đổi nghĩa cuûa
giao tiếp ngôn ngữ ? Nếu chấp nhận quan điểm này chúng ta sẽ có quá trình phát triển các
câu nói như sau:
(1) Tôi sống ở Saøi Goøn.
(2) Tôi sống ở + trong Saøi Goøn.
(3) Tôi sống trong Saøi Goøn.
Có thể giải thích rằng: câu (2) là phát sinh của câu (1) do nhu cầu tăng thông tin về vị
trí (thông báo cho biết Saøi Goøn là một nơi nằm ở phía Nam so với vị trí mà các người tham
gia hội thoại đang ở); câu (3) là caâu phát sinh töø câu (2) do quy luật tiết kiệm trong ngôn
ngữ.
Coù theå ñaët laïi vaán ñeà : cách nói “Tôi sống trong Saøi Goøn” coù trước rồi sau đó mở rộng
ra thành “Tôi sống ở + trong Saøi Goøn”. Không thể có con đường như vậy. Nếu đã có (3)
trước thì không cần thiết phải có thêm (2) nữa vì tạo thêm (2) không thỏa mãn một nhu cầu
giao tiếp nào ngoài việc tăng thêm phần phức tạp cho cấu trúc và đi ngược lại nguyên tắc tiết
kiệm trong ngôn ngữ.
Ñeán ñaây caàn noùi theâm là, trong khi dùng giới từ chỉ nơi chốn, tiếng Việt lại đưa vào
yếu tố “chỗ đứng của người nhìn” – theo cách nói của S.Kuno là chỗ đặt camera của người
nói – trong khi các thứ tiếng Châu Âu chỉ quan tâm đến vị trí của chủ thể so với nơi chốn. Ví
dụ:
b. Từ cửa sổ nhìn ra, tôi thấy con chó đang nằm ngoài sân.
c. Đi ngoài đường tôi thấy con chó đang nằm trong sân.
Tất nhiên, người nói có thể có cách nói mà không kể đến chỗ đặt camera. Chẳng hạn:
Đứng trên gác / Từ cửa sổ nhìn ra / Đi ngoài đường, tôi thấy con chó đang nằm trên sân.
Nhưng cách nói này hình như thiếu tự nhiên, không thông dụng bằng ba cách nói ở trên.
2.6.4. Đánh dấu vai Thời gian
Trong ngữ pháp truyền thống, vai Thời gian là một trong các vai thường được diễn đạt
bằng loại bổ ngữ được gọi là “bổ ngữ hoàn cảnh” cùng với các bổ ngữ chỉ mục tiêu, nơi
chốn, nguyên nhân ... Theo các nhà nghiên cứu, ở nhiều thứ tiếng Châu Âu bổ ngữ chỉ thời
a. Đứng trên gác, tôi thấy con chó đang nằm dưới sân.
gian thuộc loại bổ ngữ mà cách thể hiện chủ yếu là bằng những câu phụ hay những kết cấu vị
từ bên cạnh các bổ ngữ chỉ nguyên nhân, điều kiện, mục đích và khác với các bổ ngữ mà
cách thể hiện chủ yếu là bằng danh ngữ có giới từ dẫn nhập như bổ ngữ chỉ đối tượng, mục
tiêu, nơi chốn ..
Trong tiếng Việt, bổ ngữ chỉ thời gian lại thuộc bổ ngữ mà cách thể hiện chủ yếu là
bằng danh ngữ (có thể có hay không có giới từ dẫn nhập). Ví dụ:
Tiếng Anh : Don’t disturb me when I am working.
Tiếng Việt : Đừng quấy rầy tôi (trong) khi tôi đang làm việc.
Trong ví dụ này, ở tiếng Anh bổ ngữ chỉ thời gian là câu phụ được dẫn nhập bằng liên
từ phụ thuộc “When” còn ở tiếng Việt đó lại là danh ngữ hay giới ngữ (được dẫn nhập bởi
giới từ “trong”).
ÔÛ tieáng Vieät coù hieän töôïng phoå bieán laø dùng các giới từ vốn biểu thị ý nghĩa không
gian chuyển sang bieåu thò ý nghĩa thời gian. Cuï theå laø caùc tröôøng hôïp sau:
– Dùng giôùi ngữ biểu thị sự phân cực về hướng thời gian ở những vị trí đối lập nhau
để sắp xếp các thời đoạn, thời điểm theo một trật tự nhất định vôí söï ñaùnh daáu cuûa caùc caëp
giôùi töø coù nghóa ñoái laäp nhau. Ví dụ:
a. Trước kỳ thi / Sau kỳ thi
b. Trong Tết / Ngoài Tết
c. Trên 20 tuổi / Dưới 20 tuổi
xảy ra sự kiện với thời điểm nói. Khoảng cách này có thể được đo chính xác hoặc chỉ được
tính một cách tương đối, ước chừng. Trong cách đo này, bao giờ cũng có thời điểm gốc ñöôïc
ñaùnh daáu baèng giôùi töø “từ”, có thời điểm đích ñöôïc ñaùnh daáu baèng “đến”, “tới”, “cho đến”
…Ví dụ:
a.Từ bây giờ cho đến chiều
b.Từ hôm nay tới ngày mai
– Dùng giới ngữ để nêu rõ giới hạn, phạm vi về thời gian của một tình huống như :
trong giây lát, vào những ngày cuối đông …hoặc chỉ một sự tình vào lúc “bắt đầu”, lúc
“tiếp đến” một khoảng thời gian nào đó ở liền sau thời điểm hiện tại hoặc đã trải qua một
– Dùng giới ngữ có cấu tạo là một cặp giới từ để biểu thị khoảng cách giữa thời điểm
vaäy ñöôïc ñaùnh daáu baèng giôùi töø khaùc nhau. So saùnh :
thời gian nhất định như : tới nửa đêm, qua Tết, đến hôm sau. Nhöõng tröôøng hôïp cuï theå nhö
a. Tôùi nöûa ñeâm / Qua nöûa ñeâm
Về ý nghĩa thời gian, có thể phân biệt năm loại như sau:
b. Ñeán hoâm sau / Qua hoâm sau
“1. Thời điểm trùng với một sự việc có thể coi như không có chiều dài đáng kể trên trục
thời gian.
2. Phạm vi thời gian trong đó diễn ra một hay một số sự việc hoặc một sự thể kéo dài.
3. Thời điểm bắt đầu của một sự thể có chiều dài đáng kể trên trục thời gian.
4. Khoảng thời điểm kết thúc của một sự thể có có chiều dài đáng kể trên trục thời
gian.
5. Khoảng cách thời gian từ khi một sự thể bắt đầu cho đến khi nó kết thúc (chiều dài
hay trường độ trong thời gian)” [33,tr. 200].
Ứng với mỗi loại ý nghĩa thời gian như trên, chúng tôi nhận thấy có sự phân công
của các giới từ tiếng Việt như sau:
* Danh ngữ chỉ một thời điểm (một thời đoạn) trong đó diễn ra một sự thể có thể coi
như không có trường độ hoặc có một trường độ nhưng không được người nói quan tâm trên
trục thời gian thì có thể gọi là một bổ ngữ chỉ thời điểm. Như trên đã nói bổ ngữ chỉ thời
từ “vào”. Ví dụ:
a. Nó về vào hôm qua.
b. Sự việc xảy ra vào lúc thầy đến.
c. Mẹ tôi về đúng vào ngày tôi nhập viện.
Trường hợp sự thể diễn ra trong quá khứ mà người nói muốn nhấn mạnh là nó đã
diễn ra từ lâu (ít nhất là lâu hơn người ta tưởng) bổ ngữ chỉ thời điểm có thể được dẫn nhập
bằng giới từ “từ”. Ví dụ:
a. Chiếc xe này tôi mua từ năm ngoái.
b. Cha nó chết từ lâu rồi.
điểm có thể là trực tiếp hay gián tiếp. Trong trường hợp thứ hai nó được đánh dấu bằng giới
* Danh ngữ chỉ phạm vi thời gian trong đó diễn ra một sự thể (có thể lặp lại nhiều
lần), một số sự việc hoặc một sự thể kéo dài thường được dẫn nhập bằng giới từ “trong”
(“trong vòng” hay “nội”). Ví dụ :
a. Ngôi nhà sẽ được xây xong trong (vòng) một tháng.
b. Chị ấy đi siêu thị đến ba lần trong (vòng) một tuần.
c. Nội ngày nay con phải sơn xong hàng rào này.
* Danh ngữ chỉ thời điểm bắt đầu một sự thể có chiều dài trên trục thời gian được
đánh dấu bằng giới từ “từ” (“kể từ”, “bắt đầu từ”). Ví dụ:
a. Bắt đầu nhận hồ sơ từ ngày 26 tháng 3.
b. Khóa học kết thúc từ tháng trước rồi.
c. Vinaphone giảm cước kể từ hôm nay.
Giới từ “từ” thường sóng đôi cùng giới từ “đến” để xác định phạm vi một thời gian
có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc. Ví dụ:
a. Nó học Anh văn từ 8 giờ đến 11 giờ hàng ngày.
b. Học sinh nghỉ hè từ giữa tháng 5 đến đầu tháng 9.
* Danh ngữ chỉ thời điểm kết thúc một sự thể có chiều dài trên trục thời gian được
dẫn nhập bằng giới từ “đến” (“cho đến”), “tới” (“cho tới”).
Ví dụ:
a. Lớp học kéo dài (cho) đến 18 giờ.
b. Nó ngủ (cho) tới 9 giờ mới dậy.
* Danh ngữ chỉ độ dài thời gian của một sự thể thường là một danh từ được lượng
hóa được dẫn nhập bằng giới từ “trong”. Ví dụ:
a. Bài tập này phải làm trong hai giờ mới xong.
b. Nó đã ở Sài Gòn trong nhiều năm liền.
Điều cần lưu ý ở đây là nhiều bổ ngữ chỉ thời gian được dẫn nhập bằng giới từ nếu
được đặt ở đầu câu (ở vị trí của trạng ngữ hay khung đề) thì sẽ có nghĩa khác hẳn thậm chí
trái ngược. So sánh:
c. Ráng nhịn đói đến khi mẹ về.
a. Phải làm xong trong hai ngày nữa.
b. Trong hai ngày nữa (thì) phải làm xong
Trong câu (a), “hai ngày nữa” chỉ độ dài của việc phải làm tiếp; còn trong câu (b),
“hai ngày nữa” chỉ khoảng cách thời gian từ lúc nói cho đến khi làm xong.
Cách dùng của một số giới từ đánh dấu ý nghĩa thời gian trong khung đề cũng khác.
Chẳng hạn giới từ “đến” có thể dùng chỉ thời điểm trong khung đề. So sánh:
a. Đến 12 giờ nó phải có mặt tại trường.
b. Nó phải có mặt tại trường đến 12 giờ.
Trong câu (a), “12 giờ” là thời điểm bắt đầu của việc “nó phải có mặt tại trường”;
còn trong câu (b) “12 giờ” là thời điểm kết thúc của sự việc đó.
Cũng cần phân biệt giới từ dùng dể đánh dấu vai Thời gian với trợ từ tình thái vốn
cũng thường đặt trước danh ngữ làm bổ ngữ chỉ thời gian như “đến”, “tới” biểu hiện sự đánh
giá của người nói. Những câu như:
Nó học bài đến ba giờ mới xong.
Có thể mơ hồ về nghĩa nếu không được đặt trong một văn cảnh hay tình huống cụ
thể. Câu này vừa có nghĩa là “Nó học bài những ba giờ đồng hồ” (như thế là quá lâu đối với
người nói); vừa có nghĩa là “nó học bài cho đến 15 giờ”.
2.6.5.Đánh dấu vai Người nhận
Trong tiếng Việt, vai Người nhận, ngoài việc được biểu hiện bằng bổ ngữ trực tiếp với
được biểu hiện bằng bổ ngữ gián tiếp với sự dẫn nhập của giới từ “cho”.
Có thể phân biệt hai trường hợp dùng giới từ “cho”:
* Trường hợp vị từ trung tâm là các từ : trao, cấp, hiến, ban, bán, giao, chuyển, thí, bố
thí, nộp, nhường, nhượng, phát, phân, chia, ... thì vai Người nhận được biểu hiện bằng bổ
ngữ
gián
tiếp
với
sự
có
mặt
của
giới
từ
“cho”.
Ví dụ:
a. Trao cho nó Trao nó
b. Bán cho họ Bán họ
c. Phát cho sinh viên Phát sinh viên
các vị từ : cho, biếu, cống ... (“Mẹ cho con cả một đời mình”, “Cháu biếu ông hộp trà”) còn
d. Nộp cho thư viện Nộp thư viện
Ngoài ra còn có thể dùng “tới”, “đến” để thay cho “cho” trong một số văn cảnh. Ví
dụ:
a. Chuyển đến người nghèo
b. Chia đến từng nhà
* Trường hợp vị từ trung tâm là các từ gửi, tặng, dành, thưởng, trả ... thì vai Người
nhận có thể được biểu hiện bằng bổ ngữ trực tiếp hoặc bổ ngữ gián tiếp (sự có mặt hay
không của giới từ “cho”là không bắt buộc). Ví dụ:
a. Gửi (cho) nó hai cuốn sách
b. Tặng (cho) bạn một bó hoa
c. Thưởng (cho) con một chiếc đồng hồ
Trong cả hai trường hợp có dùng giới từ nêu trên, bổ ngữ gián tiếp chỉ người nhận có
thể đặt trước hoặc sau bổ ngữ chỉ đối tượng. Ví dụ:
a.Trao cho nó một lá thư / Trao một lá thư cho nó
b.Tặng (cho) bạn một bó hoa / Tặng một bó hoa cho bạn
Cùng một vai nghĩa, bổ ngữ chỉ người nhận có vị trí linh hoạt hơn bổ ngữ chỉ đối thể.
So sánh:
a.Gửi ông ấy tiền nhuận bút (+)
c.Gửi cho ông ấy tiền nhuận bút
(+)
d.Gửi tiền nhuận bút cho ông ấy
(+)
* Về sự hiện diện / không hiện diện của giới từ “cho” với tư cách là chỉ tố đánh dấu
vai Người nhận / Người hưởng lợi.
+ Trước hết, xét về cấu trúc cú pháp, khi danh ngữ thể hiện vai Người nhận / Người
hưởng lợi đứng sau danh ngữ thể hiện vai Đối thể thì sự hiện diện của giới từ “cho” là bắt
buoäc, trừ một số ít ngoại lệ. Ví dụ:
a. Vua ban áo mão cho các tân khoa.
b.Gửi tiền nhuận bút ông ấy (–)
b. Thầy hiệu trưởng trao học bổng cho sinh viên.
c. Xã tặng nhà tình nghĩa cho những gia đình nghèo.
+ Khi danh ngữ thể hiện vai Người nhận / Người hưởng lợi đi sau vị từ, trước danh
ngữ chỉ vai Đối thể, sự hiện diện / không hiện diện của giới từ “cho” nói chung là tùy nghi.
Ví dụ:
a. Cô ta đưa luôn cho hắn một triệu đồng.
b. Đó là chiếc khăn tay anh đem về tặng cô.
Nhưng cũng có thể nói :
a/. Cô ta đưa luôn hắn một triệu đồng.
b/. Đó là chiếc khăn tay anh đem về tặng cho cô.
+ Đối với một số vị từ như dâng, hiến, biếu, cúng, tiến …, “cho” hầu như không xuất
hiện trước vai Người nhận / Người hưởng lợi. Ví dụ, không thể nói :
a. Con biếu cho ông hộp trà.
b. Con ghi lòng dâng cho mẹ bài ca.
c. Bà ta cúng cho Phật một mâm chay.
Mà chỉ có thể nói :
a. Con biếu ông hộp trà.
b. Con ghi lòng dâng mẹ bài ca.
Tuy nhiên, có một vài trường hợp “cho” cũng xuất hiện trước danh ngữ thể hiện vai
Người nhận / Người hưởng lợi. Ví dụ:
a. Cả tuổi xanh dâng cho quê hương.
b. Từ đã hiến mình cho hắn, cả tâm hồn lẫn thể xác.
(Nam Cao – Đời thừa)
Trong một số trường hợp tương tự “cho” không xuất hiện mà thay vào đó là “lên”, “lên
tới”. Ví dụ:
a. Nở ngàn hoa chiến công ta dâng lên Người.
c.Bà ta cúng Phật một mâm chay.
b. Dâng lên tới Đảng cả niềm tin yêu sáng ngời.
Vấn đề đặt ra là : vẫn một sự tình là một người x trao / chuyển một vật z cho một người
y, song có trường hợp giới từ “cho” bắt buộc phải hiện diện hoặc có thể hiện diện và có
trường hợp thì “cho” không thể hiện diện.
Chúng tôi nghĩ rằng đặc điểm của các đối tượng tham gia sự tình và quan hệ giữa các
đối tượng có ảnh hưởng đáng kể đến nghĩa của vị từ. Nói đúng hơn là vị từ không chỉ mã hóa
các nội dung hành động xảy ra giữa các nhân vật trong sự tình mà còn mã hóa những đặc
điểm và quan hệ giữa các nhân vật nữa; đồng thời mức độ tham gia sự tình của các nhân vật
này cũng tác động tới cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với các vị từ này. Có thể lí giải như
sau:
Nhóm vị từ nói trên luôn đòi hỏi phải có ít nhất ba diễn tố tham gia sự tình. Đó là
người ban phát, người nhận, vật ban phát. Ba diễn tố này đảm nhiệm vai Tác thể, vai Tiếp
thể và vai Đối thể; trong đó vai Tác thể và Tiếp thể thường có nét nghĩa [+ Người]. Xét về
đối tượng tham gia sự tình, người ban phát và người nhận đều có những đặc điểm riêng như
tuổi tác, địa vị xã hội, vị thế trong gia đình … Quan hệ giữa hai đối tượng này phụ thuộc vào
những đặc điểm đó. Trong nghiên cứu ngữ dụng học, quan hệ giữa các đối tượng tham gia
hoạt động giao tiếp được xét trên hai trục : trục tôn ty (quyền uy) và trục thân sơ (khoảng
cách). Chính những đặc điểm nêu trên với tư cách là yếu tố dụng học được mã hóa ở mức độ
nhiều ít khác nhau trong ngữ nghĩa của vị từ và là những “hạn chế lựa chọn” (selection
restrietion) qui định sự xuất hiện của vị từ nhất định trong ngữ cảnh nhất định.
học vào trong ngữ nghĩa của chúng. Những nội dung được mã hóa có tính cố định rất cao
trong ngữ nghĩa của từng vị từ, giúp nó phân biệt với các vị từ khác cùng nhóm cũng như qui
định rất nghiêm ngặt việc sử dụng chúng trong bối cảnh cụ thể. Những vị từ như dâng, hiến,
cúng, biếu, cống … mã hóa quan hệ dưới – trên, thấp – cao, yếu – mạnh rất rõ giữa người
cho và người nhận trong ngữ nghĩa của mình. Do vậy những câu như Con biếu cho ông hộp
trà, Con ghi lòng dâng cho mẹ bài ca … không thể xuất hiện.
Trái lại, những vị từ như phát, ban, thí,… thể hiện quan hệ trên – dưới, cao – thấp,
mạnh – yếu, thậm chí là đòa vị độc tôn của người cho đối với người nhận. Ví dụ:
a. Trời phú cho hắn cái tính hiền lành.
Những ví dụ nêu trên cho thấy nhóm vị trí ban phát đã mã hóa những yếu tố dụng
b. Vua ban cho tân trạng ngự tửu.
c. Người ta thí cho hắn mấy đồng.
Việc giới từ “cho” khó xuất hiện với dâng, hiến, cúng, biếu … hoặc có thể được thay
thế bằng “lên” cũng là một bằng chứng cho thấy trục tôn ty (quan hệ dưới – trên, trẻ – già,
yếu – mạnh) giữa người cho và người nhận trong sự tình.
Một nhân tố nữa có liên quan đến sự hiện diện của giới từ “cho” là mức độ tham gia
sự tình của các nhân vật. Các nhân vật càng tham gia ít trực tiếp hơn vào sự tình thì khả năng
xuất hiện của “cho” càng lớn. So sánh:
a. Cháu biếu bà tấm lụa.
b. Nó sẵn sàng biếu cho bất kỳ ai muốn có taám luïa này.
Trong câu (a), người cho và người nhận trực tiếp đối diện với nhau (lại có quan hệ
dưới – trên, trẻ – già) nên vị từ “biếu” được sử dụng và “cho” không xuất hiện. Ngược lại,
trong câu (b), nhân vật “người nhận” là bất ñònh, chưa tham gia vào sự tình hay nói đúng hơn
người ấy mới chỉ là một cái đích trong dự định của người cho mà chưa phải là điểm đến của
vật cho / tặng; tức là sự tình cho / tặng chưa hoàn tất, chưa “chuyển động” mà vẫn còn nằm
trong phạm vi kiểm soát, sở hữu của người cho. Tương tự, trong câu “Cả tuổi xanh dâng cho
quê hương”, “queâ höông” cũng có đặc điểm giống như “bất kỳ ai” ở câu (b). Do tính bất
định, không trực tiếp tham gia sự tình cộng với đặc trưng [– người] của “quê hương” nên
giới từ “cho” có thể xuất hiện.
chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau kể cả ngữ pháp, ngữ nghĩa lẫn ngữ dụng.
2.6.6. Đánh dấu vai Người hưởng lợi
Người hưởng lợi là một vai nghĩa mà ngôn ngữ nào cũng có cách diễn đạt bằng ngữ
pháp nhiều khi trùng với cách diễn đạt vai Người nhận.
Theo tác giả công trình nghiên cứu “Ngữ pháp chức năng tiếng Việt - Vị từ hành
động”, ngữ pháp truyền thống ít khi phân biệt vai Người nhận với vai Người hưởng lợi bởi
lẽ trên bình diện cấu trúc hai vai này dường như không có gì khác nhau đáng kể. Tác giả nói
rõ “thật ra, sự khác nhau về nghĩa giữa hai vai này được phản ánh rất rõ trong ngữ pháp của
tất cả các ngôn ngữ đã được nghiên cứu” [33,tr.207].
Những phân tích bước đầu cho thấy sự hiện diện hay không hiện diện của giới từ cho
Sự phân biệt giữa vai Người nhận và vai Người hưởng lợi căn cứ vào những điểm như
sau:
- “Người nhận” chỉ có mặt trong những khung vị ngữ có hạt nhân là vị từ hành động
có ba diễn tố (Mẹ gửi cho nó một số tiền); còn “người hưởng lợi” có thể có mặt trong bất cứ
khung vị ngữ nào có hạt nhân là vị từ chủ ý, tức vị từ hành động và vị từ tư thế.
- “Người nhận” trong khung vị ngữ của nó bao giờ cũng là một tham tố tất yếu
(diễn tố); còn “người hưởng lợi” dù tham gia khung vị ngữ nào bao giờ cũng là một tham tố
không tất yếu (chu tố).
Trong tiếng Việt, vai Người hưởng lợi được đánh dấu bằng giới từ “cho” và giới từ
“vì”. Ví dụ:
a. Thầy sửa bài cho nó.
b. Chúng ta chiến đấu vì nhân dân.
c. Họ làm việc vì xí nghiệp.
d. Con đi chợ cho mẹ.
Giới từ “vì” vốn cũng được dùng để đánh dấu vai Nguyên nhân. Công dụng nước đôi
này có thể đưa đến tình trạng mơ hồ, lưỡng nghĩa trong một số trường hợp. Chẳng hạn:
a. Vì anh mà tôi phải lặn lội tới đây.
b. Nó chịu cực vì bạn.
hay trạng thái (không chủ ý), vai nghĩa duy nhất có thể có ở ngữ đoạn đi sau “vì” là vai
Nguyên nhân.Ví dụ:
a. Anh ấy bị thương vì bạn.
b. Nó nghèo vì bệnh.
Tuy nhiên, có một số ngữ đoạn mang tính công thức như : khỏe vì nước, hy sinh vì tổ
quốc … mặc dù dùng vị từ không chủ ý nhưng “vì” vẫn được xem là chỉ tố đánh dấu vai
Người hưởng lợi do ngữ đoạn mang tư cách những lời hô hào hay những công thức có tính
chất hùng biện.
Tình trạng này chỉ có thể có đối với những vị từ chủ ý. Đối với các vị từ chỉ quá trình
Trong khung vị ngữ, nếu bổ ngữ chỉ đối tượng có trường độ ngắn thì vị trí của bổ ngữ
chỉ người hưởng lợi được đánh dấu bằng giới từ cho (có thể thay thế bằng dùm, giúp) và bao
giờ cũng đặt sau bổ ngữ chỉ đối tượng. So sánh:
a. Thầy sửa bài cho nó. (+)
a’. Thầy sửa cho nó bài. (-)
b. Con đi chợ cho mẹ. (+)
b’. Con đi cho mẹ chợ. (-)
Nếu bổ ngữ chỉ đối tượng có trường độ dài thì bổ ngữ chỉ người hưởng lợi được đánh
dấu bằng cho có thể đặt trước hoặc đặt sau bổ ngữ chỉ đối tượng.Ví dụ:
a. Thầy sửa những bài tập khó cho nó. (+)
a’. Thầy sửa cho nó những bài tập khó. (+)
b. Con giặt những cái áo dính đầy bùn đất này cho mẹ! (+)
b’.Con giặt cho mẹ những cái áo dính đầy bùn đất này! (+)!
2.6.7. Đánh dấu vai Công cụ
Cùng với vai Người hưởng lợi, vai Công cụ làm thành một cặp vai loại biệt cho các
khung vị ngữ hành động: chỉ có một vị từ hành động mới có thể có bổ ngữ chỉ công cụ. Và
cũng như vai Người hưởng lợi, vai Công cụ là một tham tố không tất yếu (chu tố) trong
khung vị ngữ. Công cụ chỉ ra phương thức mà qua đó các hành động được thực hiện.
– Dụng cụ: Cô ấy đào cái hố bằng cái cuốc.
– Phương tiện: Nó làm việc với tất cả nhiệt tình.
– Chất liệu: Cái bàn này bằng gỗ.
Điều cần lưu ý là, do một vài công cụ được tiền giả định trong cấu trúc nghĩa, một danh
ngữ chỉ công cụ có thể được diễn đạt bằng cách trực tiếp hay gián tiếp với sự xuất hiện của
giới từ. Ví dụ: Lấy gậy đập con chuột ; hoặc : Đập con chuột bằng gậy.
Vai Công cụ thường được sử dụng để chỉ dụng cụ, phương tiện và chất liệu. Ví dụ:
Giới từ “bằng” thường được sử dụng với những vò từ di chuyển để đánh dấu phương
tiện di chuyển. Ví dụ:
a. Tôi đi làm bằng xe honda.
b. Nó đi xuống Cà Mau bằng xe đò.
Trong một số trường hợp “bằng” có thể được tænh lược. Ví dụ:
a. Tôi đi honda.
b. Tôi đi xe đò.
Có thể bắt gặp trường hợp vai Công cụ xuất hiện ở cấu trúc chìm nhưng không xuất
hiện trên bề mặt tương thích, tức là vai Công cụ được xóa bỏ trong những điều kiện nhất
định. Chẳng hạn, khi hành động của tác thể được xác định cụ thể:
a. Cảnh sát bắn tên trộm.
b. Bà mẹ xé quyển truyện của cô con gái.
Trong hai ví dụ trên, cảnh sát bắn tên trộm bằng cái gì đấy, bà mẹ xé quyển truyện với
một cái gì đấy nhưng “cái gì đấy” không được thể hiện vì đã có tiền giả định là “bắn bằng
súng”, “xé bằng tay”.
Trong những trường hợp như vậy, cần kết luận là trong cấu trúc nghĩa của câu có ba vai
hiện hữu : Tác thể, Đối thể, Công cụ nhưng xuất hiện trên bề mặt chỉ có hai vai (Tác thể và
Đối thể).
cụ làm bổ ngữ cho vị từ (“với” ít dùng hơn “bằng” vì chức năng chủ yếu của nó là đánh dấu
vai Liên đới). Ví dụ:
a. Moi đất bằng tay
b. Làm việc bằng / với tất cả nhiệt tình
c. Bằng / Với bàn tay tàn tật của mình, Tnú đã lập được nhiều chiến công.
d. Hàng này làm bằng tay chứ không phải làm bằng máy.
Giới từ dẫn nhập danh ngữ chỉ vai Công cụ có thể được tỉnh lược khi công cụ được
dùng để thực hiện hành động hữu quan là một vật chuyên được dùng vào hành động ấy. Lúc
Trong tiếng Việt, giới từ “bằng” và giới từ “với” dùng để đánh dấu danh ngữ chỉ công
này, bổ ngữ chỉ công cụ có dạng thức của một bổ ngữ trực tiếp (không có sự hiện diện của
giới từ). Ví dụ:
a. Ăn bằng đũa Ăn đũa
b. Viết bằng phấn Viết phấn.
c. Bắn bằng súng Bắn súng.
Trường hợp tỉnh lược giới từ, tổ hợp “vị từ hành động + bổ ngữ trực tiếp chỉ công cụ”
như trên ít nhiều mang tính thành ngữ. Còn trường hợp sau bổ ngữ trực tiếp chỉ công cụ có
thêm bổ ngữ chỉ đối tượng thì trong một số trường hợp bổ ngữ chỉ đối tượng biến thành một
bổ ngữ có ý nghĩa vai khác với sự dẫn nhập của một giới từ khác. So sánh:
a. Bắn quân địch bằng đại bác (đối tượng bị tác động)
b. Bắn đại bác vào quân địch (mục tiêu)
Trong một số trường hợp như ở ví dụ (b), sự vắng mặt của giới từ đánh dấu ý nghĩa
công cụ đã khiến cái công cụ dùng để thực hiện hành động dường như đã trở thành một đối
tượng tác động.
Cũng có những trường hợp danh ngữ được giới từ đánh dấu vai công cụ buộc phải có
thêm định ngữ, vì nếu không cả tổ hợp “giới từ + danh ngữ” không mang đến cho người tiếp
nhận một thông tin nào cả. So sánh:
a. Nó nhìn tôi bằng đôi mắt (-)
b. Hồng Sơn đá bóng bằng chân.
(-)
b’. Hồng Sơn đá bóng bằng chân trái. (+)
Theo Nguyễn Thị Quy [34,tr.212], có nhiều người cho rằng cách biểu hiện vai Công cụ
bằng bổ ngữ được dẫn nhập bằng giới từ “bằng” hay “với” là một hiện tượng ngữ pháp mới
có trong tiếng Việt từ ¼ đầu thế kỷ 20 (có lẽ do ảnh hưởng của ngữ pháp tiếng Pháp) chứ
trước kia vai Công cụ chỉ được biểu hiện bằng kết cấu [Dùng /Lấy + công cụ hành động]. So
sánh:
a. Dùng / Lấy búa đóng đinh
a’. Đóng đinh bằng búa
a’. Nó nhìn tôi bằng đôi mắt nghi ngờ (+)
b. Dùng/Lấy màu nước vẽ tranh
b’. Vẽ tranh bằng màu nước
Nếu khảo sát kỹ sẽ thấy hai cách dùng này có những điểm khác nhau.
Kết cấu [Dùng / Lấy + công cụ hành động] thường hay được sử dụng khi hành động tác
động đến đối tượng hay chính cái đối tượng ấy (chứ không phải cái công cụ của hành động)
là tiêu điểm của thông báo hay là một vế của thế tương phản. Ví dụ:
a. Bạn ấy dùng màu nước vẽ tranh chứ có trang điểm đâu mà lo.
b. Bạn ấy dùng màu nước chứ không dùng sơn để vẽ tranh.
Ở (a) : Tiêu điểm thông báo là “dùng màu nước vẽ tranh” ; ở (b) : “dùng màu nước”
là một vế tương phản với “dùng sơn”.
Ngược lại khi tiêu điểm của thông báo hay vế tương phản chính là công cụ thì kết
cấu [giới từ (bằng, với) + danh ngữ] có ưu thế hơn. Ví dụ :
a. Bạn ấy vẽ tranh bằng màu nước chứ không phải bằng bút chì.
b. Bạn ấy dùng màu nước để vẽ tranh chứ không dùng bút chì.
c. Bạn ấy dùng màu nước chứ không dùng bút chì để vẽ tranh.
d. Khi vẽ tranh, bạn ấy dùng màu nước chứ không dùng bút chì.
Ba câu (b), (c), (d) có một nội dung biểu hiện như câu (a) nhưng ở đây hành động “vẽ”
trở thành 1 chu tố chỉ mục đích (câu b) (câu c), hay chỉ thời gian (câu d) của hành động
Những điều chúng tôi vừa trình bày trên đây là những cố gắng bước đầu trong việc tìm
hiểu chöùc naêng đánh dấu các vai nghĩa (phổ biến) của các giới từ (tiêu biểu). Qua đó, có thể
thấy các giới từ trong tiếng Việt hoàn toàn có khả năng đảm nhận vai trò chỉ tố vai nghĩa của
các thành phần chức năng hữu quan.
“dùng” với “màu nước” làm đối tượng tác động cho nên khó có thể đồng nhất với câu (a).
KẾT LUẬN
Giới từ tiếng Việt thuộc vào loại đối tượng còn ít được giới Việt ngữ học chú ý, xem xét
một cách có hệ thống. Luận văn này cố gắng đưa ra bức tranh tương đối khái quát về đặc
điểm chức năng của lớp từ này. Kết quả nghiên cứu bước đầu cho thấy :
1. Thực tế hoạt động của các giới từ tiếng Việt đa dạng, phức tạp hơn nhiều so với lý
thuyết chung. Không phải baát cứ lúc nào, chỗ nào các giới từ cũng bộc lộ đầy đủ, rành mạch
các đặc trưng về ngữ pháp và ngữ nghĩa. Đường ranh giới từ loại giữa giới từ và một số từ
loại khác hầu như có chỗ nhập nhằng, thiếu dứt khoát.
2. Giới từ tiếng Việt là nhóm các từ không một mình đảm nhận các chức vụ cú pháp
trong câu, không độc lập tạo câu mà đóng vai trò là phương tiện tổ hợp cú pháp, chuyên
dùng để nối các thành tố trong một ngữ đoạn vaø daãn nhaäp moät ngöõ ñoaïn ñaûm nhaän moät
thaønh phaàn chöùc naêng trong caâu, thoâng thöôøng laø traïng ngöõ. Khi tổ hợp cú pháp, giới từ có
xu hướng gắn chặt với thành tố đứng sau nó. Điều đó cũng có nghĩa là, giới từ có tham gia
vào cấu tạo của kết cấu cú pháp chứ không phải là một thứ công cụ cú pháp thuần túy.
3. Giới từ có tác dụng xác lập quan hệ ngữ pháp mà cụ thể là quan hệ chính phụ giữa
các thành tố trong ngữ đoạn. Trong hệ thống từ loại tiếng Việt, giới từ cần được xử lý là một
từ loại độc lập và phân biệt với liên từ - cũng có tư cách là phương tiện tổ hợp cú pháp - ở
chỗ : Giới từ biểu thị quan hệ chính phụ còn liên từ biểu thị quan hệ đẳng laäp; chức năng cú
pháp, qui luật bộc lộ quan hệ ngữ pháp của hai lớp từ này rất khác nhau. Giới từ tham gia cấu
vừa thuộc ngữ trị của các động từ; trong khi đó, liên từ dùng để liên kết các thành tố trong
ngữ đoạn, các thành phần trong câu, các vế câu từ câu đơn giản đến câu phức hợp và diễn đạt
các ý nghĩa ngữ pháp hoàn toàn khác biệt với các giới từ.
4. Giới từ không có ý nghĩa từ vựng (nghĩa sở chỉ, nghĩa sở biểu) nhưng đóng vai trò
là chỉ tố quan hệ chuyển tải thông tin về nội dung quan hệ của câu. Trong nhiều trường hợp,
nếu không có mặt giới từ thì câu sẽ thiếu đi thông tin quan hệ. Ngoài vieäc tham gia vaøo
những quan hệ ngữ pháp thuần túy vốn có (quan hệ kết hợp, quan hệ cấu trúc), giới từ còn
hoạt động với tư cách là yếu tố của phát ngôn, nghĩa là tham gia vào chức năng thông báo,
nếu vắng mặt nó câu sẽ có thể rơi vào tình trạng mơ hồ về nghĩa hoặc vô nghĩa.
trúc ngữ pháp ở cấp độ ngữ đoạn, chúng hoạt động vừa như những thành tố của cụm từ tự do
5. Giới từ có khả năng dẫn nhập một ngữ đoạn (thông thường là danh ngữ, động ngữ)
để cùng ngữ đoạn đó tạo nên giới ngữ. Đây là một loại đơn vị chức năng có những đặc trưng
về cấu trúc - chức năng, về mối quan hệ giữa các thành tố rất khác so với các tổ hợp từ tự do
khác (cụm từ, từ tổ, đoản ngữ) hiện diện trong kết cấu cú pháp với tư cách là đơn vị cấu trúc.
Giới ngữ tuy không phải là phương tiện định danh như các ngữ đoạn thực từ nhưng vẫn hoàn
toàn có khả năng trực tiếp đảm nhiệm các chức vụ cú pháp trong câu, phổ biến nhất là chức
vụ bổ ngữ và trạng ngữ. Việc xác định giới ngữ trong cơ cấu ngữ pháp tiếng Việt là phù hợp
với thực tế tiếng Việt. Nếu so sánh với danh ngữ, động ngữ, tính ngữ là những loại đã được
xác định vị trí, chức năng trong cơ cấu ngữ pháp tiếng Việt thì giới ngữ cũng có đầy đủ tư
cách ngữ : có thể tham gia vào cấu trúc câu với những chức năng cú pháp khác nhau và các
chức năng này là phổ biến và ổn định. Cấu trúc của giới ngữ tiếng Việt rất đa dạng, có thể là
giới từ + danh ngữ, động ngữ, tiểu cú (cấu trúc C–V hay Ñeà – Thuyết). Trong cấu trúc của
giới ngữ, cương vị trung tâm của giới từ được xác lập bằng vai trò chi phối của giới từ về
mặt ngữ nghĩa, ngữ pháp đối với bổ ngữ đi kèm.
6. Giới từ tuy không có ý nghĩa từ vựng nhưng có khả năng biểu thị những ý nghĩa
quan hệ đa dạng, phong phú giữa các sự vật, hiện tượng. Ý nghĩa quan hệ do giới từ biểu thị
là loại ý nghĩa không phải được tạo nên từ hoạt động phản ánh vào ngôn ngữ các sự vật, hiện
tượng trong thực tế khách quan mà từ hoạt động cấu trúc hóa thực tại được tiến hành trong tư
duy của người bản ngữ, đặt các hiện tượng, sự vật được phản ánh hoặc các khái niệm trong
quan hệ cấu trúc. Những ý nghĩa quan hệ khác nhau mà giới từ biểu thị trong nhiều trường
hợp có thể quyết định đặc điểm ngữ nghĩa của câu hoặc các thành phần chức năng trong câu.
nghĩa được tạo nên từ mối quan hệ ngữ pháp - ngữ nghĩa giữa chúng với các đơn vị khác
trong kết cấu cú pháp. Trong nhiều trường hợp, giới từ có thể tham gia tạo nghĩa cho cả ngữ
đoạn, có tác dụng phân biệt nghĩa của ngữ đoạn và của cả các thành tố trong ngữ đoạn.
7. Đa số giới từ trong tiếng Việt là do các thực từ (danh từ, động từ) chuyển sang
thông qua con đường ngữ pháp hóa. Mối quan hệ về ngữ nghĩa giữa giới từ và các thực từ
tạo ra nó vẫn còn, nghĩa là các giới từ chưa hoàn toàn bị hư hóa. Do vậy, có nhiều trường
hợp cần phải xử lý đó là những từ đa chức năng. Khi hành chức trong hoạt động giao tiếp
những từ này đảm nhận nhiều chức năng khác nhau. Vì thế có đặt chúng trong các kết cấu cú
pháp cụ thể thì mới thấy rõ vai trò và chức năng cụ thể của chúng.
Đồng thời, khi tham gia tạo lập phát ngôn, giới từ còn mang thêm ý nghĩa chức năng, loại ý
8. Giới từ tiếng Việt dưới cái nhìn của Ngữ pháp cách hoàn toàn có khả năng đánh dấu
một cách tường minh các vai nghĩa trong cấu trúc tham tố của vị từ. Trên thực tế, giới từ chủ
yếu đánh dấu vai chu tố và có tác dụng xác lập ý nghĩa hoặc làm thay đổi ý nghĩa, thuộc tính
ngữ pháp của bổ ngữ đi kèm.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1. Diệp Quang Ban (1984), Cấu tạo của câu đơn tiếng Việt, NXB
Đại học Sư phạm Hà Nội 1, Hà Nội.
2. Diệp Quang Ban (1989), Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông, NXB ĐHTHCN, Hà Nội.
3. Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (tập 1 – 1991), (tập 2 – 1992), Ngữ pháp tiếng
Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội.
4. Diệp Quang Ban, Hoàng Dân (2000), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB
Giáo dục, Hà Nội.
5. Dương Hữu Biên (2001), “Ngữ đoạn giới từ trong tiếng Việt”, Ngữ học trẻ, tr.11-
20.
6. Lê Biên (1994), Từ loại tiếng Việt hiện đại, NXB ĐHQGHN, Hà Nội.
7. Nguyễn Tài Cẩn (1975), Ngữ pháp tiếng Việt (Tiếng - từ ghép –
đoản ngữ), NXB ĐHTHCN, Hà Nội.
8. Lê Cận, Phan Thiều, Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (1983), Giáo trình
Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội.
10. Đỗ Hữu Châu (1987), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, NXB ĐHTHCN, Hà Nội.
11. Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán (2001), Đại cương ngôn ngữ học,
tập 1, NXB Gáo dục, Hà Nội.
12. Trương Văn Chình - Nguyễn Hiến Lê (1963), Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam,
ĐH Huế.
13. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (1997), Cơ sở ngôn ngữ học
và tiếng Việt, NXB Giáo dục Hà Nội.
9. Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt,NXBGiáo dục, Hà Nội.
14. Nguyễn Đức Dân (1987), Logich - Ngữ nghĩa – Cú pháp, NXB ĐHTHCN,
Hà Nội.
15. Hữu Đạt, Trần Trí Dõi, Đào Thanh Lan (2000), Cơ sở tiếng Việt, NXB VH-TT,
Hà Nội.
16. Đinh Văn Đức (1986), Ngữ pháp tiếng Việt (Từ loại), NXB ĐHTHCN,
Hà Nội.
17. Nguyễn Thiện Giáp (1985), Từ vựng học tiếng Việt, NXB ĐHTHCN,
Hà Nội.
18. Nguyễn Thiện Giáp – Đoàn Thiện Thuật - Nguyễn Minh Thuyết (1985), Dẫn luận
ngôn ngữ học, NXB Giáo dục Hà Nội.
19. Cao Xuân Hạo (1991), Tiếng Việt : Sơ thảo ngữ pháp chức năng, quyển 1, NXB
KHXH, Hà Nội.
20. Cao Xuân Hạo (1998), Tiếng Việt : Mấy vấn đề ngữ âm - ngữ pháp - ngữ nghĩa,
NXB Giáo dục, Tp. HCM.
21. Cao Xuân Hạo (Chủ biên) - Nguyễn Văn Bằng – Hoàng Xuân Tâm – Bùi Tất
Tươm (2005), Ngữ pháp chức năng tiếng Việt quyển 2, Ngữ đoạn và Từ
loại, NXB KHXH, Hà Nội.
22. Đinh Thanh Huệ (1985), “Thử dùng một số tiêu chí để khu biệt hư từ cú pháp (giới
từ) và hư từ phi cú pháp (hư từ chỉ hướng đi sau động từ) trong cấu trúc AxB”,
23. Trần Trọng Kim - Bùi Kỷ - Phạm Duy Khiêm (1949), Việt Nam văn phạm, NXB
Tân Việt, Sài Gòn.
24. Nguyễn Lai (1990), Nhóm từ chỉ hướng vận động trong tiếng Việt, NXB ĐHTH,
Hà Nội.
25. Lưu Văn Lăng (1970) “Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt trên quan điểm ngữ đoạn
tầng bậc có hạt nhân”, Ngôn ngữ, số 3, tr. 49 – 62.
26. Hồ Lê (1992), Cú pháp tiếng Việt, quyển II, NXB KHXH, Hà Nội.
27. Lê Văn Lý (1972), Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam, Sài Gòn.
Ngôn ngữ, số 4, tr. 9-10.
28. Dư Ngọc Ngân (2001), “Về giới ngữ trong tiếng Việt”, Ngôn ngữ, số 1, tr.
29-35.
29. Đái Xuân Ninh (1978), Hoạt động của từ tiếng Việt, NXB KHXH,
Hà Nội.
30. Hoàng Phê (1989), Logic ngôn ngữ học, NXB KHXH, Hà Nội.
31. Hoàng Trọng Phiến (1980), Ngữ pháp tiếng Việt : Câu,
NXB ĐHTHCN, Hà Nội.
32. Hoàng Trọng Phiến (2003), Cách dùng hư từ tiếng Việt, NXB
Nghệ An.
33. Nguyễn Anh Quế (1988), Hư từ trong tiếng Việt hiện đại, NXB KHXH, Hà Nội.
34. Nguyễn Thị Quy (2002), Ngữ pháp chức năng tiếng Việt (Vị từ hành động), NXB
KHXH, Tp.HCM.
35. Hữu Quỳnh (1980), Ngữ pháp tiếng Việt hiện đại, NXB Giáo dục,
Hà Nội.
36. Hữu Quỳnh (2001), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Từ điển bách khoa
Hà Nội.
37. Saussure F. de (1973), Giáo trình ngôn ngữ học đại cương (Bản dịch của Cao
Xuân Hạo), NXB KHXH, Hà Nội.
Việt”, Ngôn ngữ, số 1, tr. 36-40.
39. Nguyễn Kim Thản (1963), Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, NXB KHXH, Hà
Nội.
40. Nguyễn Kim Thản (1977), Động từ tiếng Việt, NXB KHXH, Hà Nội.
41. Nguyễn Văn Thành (2003), Tiếng Việt hiện đại, NXB KHXH, Hà Nội.
42. Trần Ngọc Thêm (2001), “Từ Ngữ pháp chức năng, nghĩ về ngữ pháp của tương lai”,
Ngôn ngữ, số 14, tr.1-8.
38. Lê Xuân Thại (1988), “Mấy nhận xét về các phương tiện tổ hợp cú pháp tiếng
43. Bùi Đức Tịnh (1952), Văn phạm Việt Nam, NXB Phạm Văn Tươi,
Sài Gòn.
44. Bùi Tất Tươm - Nguyễn Văn Bằng – Hoàng Xuân Tâm (1997),
Giáo trình Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, NXB Giáo dục, Tp.HCM.
45. UBKHXHVN (1986), Ngôn ngữ học : Khuynh hướng – Lĩnh vực – Khái niệm tập
2, NXB KHXH, Hà Nội.
46. UBKHXHVN (1983), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB KHXH, Hà Nội.
47. Viện ngôn ngữ học (1994), Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), NXB Giáo
dục, Hà Nội.
48. Xtankevich NV (1985), “Về sự diễn biến của những hư từ chỉ nguyên nhân”,
Ngôn ngữ, số 4, tr. 58-59.
49. Nguyễn Như Ý (chủ biên) (1996), Từ điển giải thích thuật ngữ Ngôn ngữ học,
Tiếng Anh
NXB Giáo dục, Hà Nội.
50. Clark M.(1978), Coverbs and Case in Vietnamese, The Australian National
University.
51. Downing A. and Locke P.(1995), A university course in English Grammar,
Prentice Hall, London.
University of Chicago Press, Chicago and London.
53.
Lyons J.(1995), Linguistic Semantics – An introduction, Cambridge University
Press.
54. Thompson L.C(1965), A Vietnamese Grammar, Seattle.
52. Kuno S.(1987), Functional Syntax – Anaphora, Discourse and Empathy, The
PHUÏ LUÏC
PHUÏ LUÏC 1
CAÙCH DUØNG MOÄT SOÁ GIÔÙI TÖØ TIEÁNG VIEÄT
BẰNG
1. Biểu hiện ý nghĩa chất liệu trong danh ngữ.
Cái bàn bằng gỗ lim
2. Biểu hiện ý nghĩa phương tiện của hành động, sự di chuyển. Ý nghĩa này có liên quan
đến ngữ trị của động từ làm vị ngữ trong câu.
- Chúng tôi đến Hà Nội bằng máy bay JAL.
- Từ Hà Nội đi thành phố HCM bằng tàu Thống nhất.
3. Biểu hiện ý nghĩa cách thức. Từ “bằng” nối với một danh ngữ ở cuối câu. Danh ngữ
này có liên quan đến nghĩa của vị ngữ. Thông thường nghĩa của vị ngữ biểu hiện ở các giá trị
về tinh thần, trí tuệ, tình cảm.
– Chúng ta thống nhất nước nhà bằng phương pháp hòa bình.
– Bằng tấm lòng yêu nước Bác đã cống hiến cả cuộc đời mình cho độc lập, tự do của
dân tộc.
thường được chuyển lên đầu câu để nhấn mạnh tính tình thái.
– Tại sân bay, giáo sư Hoàng chia tay vợ con bằng cái nhìn âu yếm.
– Với cái nhìn âu yếm giáo sư Hoàng chia tay vợ con tại sân bay.
BỞI
1. Biểu hiện ý nghĩa nguyên nhân : do đâu, vì lẽ gì, tại làm sao.
– Bởi ai cho thiếp xa chàng.
Bởi ông nguyệt lão nhỡ nhàng xe dây. (ca dao)
+ Trong trường hợp này “bằng” có giá trị như “với”. Kết cấu danh ngữ có “bằng, với”
2. Có nghĩa nguyên nhân giống như nhờ, do.
Chương trình này do Clear tài trợ.
3. Thường có các kết hợp :
+ Bởi đâu.
Bởi đâu mà có chuyện này.
+ Bởi chưng.
Bởi chưng bố mẹ em nghèo.
Cho nên em phải vớt bèo hái rau. (ca dao)
+ Bởi sao. Từ này thường ở đầu câu hỏi. Tương đương với bởi tại sao, bởi tại làm sao.
Bởi tại làm sao mà xảy ra chuyện nghiêm trọng này ?
+ Bởi tại (bởi tự) Biểu hiện nguyên do tự bản thân mình.
Bởi tự tôi làm hỏng công việc này.
+ Bởi thế. Có nghĩa : vì cớ ấy, do lẽ ấy mà có hậu quả tương ứng.
Họ không hợp nhau, bởi thế họ phải bỏ nhau.
+ Bởi vì. Thường dùng để chỉ quan hệ quả – nhân
– Có lẽ tiếng Việt của chúng ta đẹp, bởi vì tâm hồn của người Việt Nam ta đẹp, bởi vì
đời sống, cuộc đấu tranh của nhân dân ta từ trước tới nay là cao quý, là vĩ đại, nghĩa là rất
CẠNH
1. Biểu hiện nghĩa khoảng cách của hai sự vật.
– Lan ngồi cạnh Minh cười khúc khích.
– Nhà tôi ở cạnh nhà nàng.
2. Bên cạnh : biểu hiện nghĩa “đồng thời”. Thường dùng đầu câu hoặc đầu đoạn văn.
Bên cạnh thành tích còn có thất bại.
đẹp (Phạm Văn Đồng).
CHÍ
1. Biểu thị sự đánh giá về mức độ giới hạn tột cùng của điều được nói đến, thường có kết
hợp kiểu : từ … chí (đến).
Từ già chí trẻ, ai ai cũng đều ra sức học tập.
Biểu thị hướng không gian Bắc – Nam.
Từ bắc chí nam … (không nói : từ đông chí tây mà nói từ đông sang tây).
CHO
1. Biểu thị nghĩa tiếp nhận của đối tượng, nghĩa mục đích của hành động thứ nhất. Thông
thường có vị ngữ thứ hai liên quan với mục đích. Trường hợp này “cho” tương đương với
“để” “để cho”.
– Tôi mua sách cho em tôi.
– Tôi tìm đường cho ông Hiếu đi.
– Sách này dành cho trẻ em.
– Cháu nào chưa biết thì phải học cho biết.
+ Kết cấu cú pháp có “cho”, “để cho” chỉ mục đích có thể đặt ở đầu câu.
– Để cho có lợi, chúng ta phải sử dụng các thứ này.
2. Có nghĩa kết quả mục đích.
– Đánh cho tan quân cướp nước.
– Học cho giỏi nhé !
CỦA
1. Biểu thị nghĩa quan hệ sở hữu, đặc trưng. Biểu thị nghĩa thuộc vào ai, cái gì, làm định tố
trong danh ngữ.
Bàn tay của em bé thật là xinh.
2. Biểu hiện thuộc tính.
Lòng dũng cảm của người chí sĩ.
– Hãy làm cho xong việc này rồi hãy đi.
3. Ý nghĩa quan hệ sở thuộc có thể thay thế bằng các giới từ có nghĩa tương đương : do,
mà.
– Bài thơ do tôi viết đã được đăng.
– Bài thơ mà tôi viết đã được đăng.
CÙNG : biểu thị nghĩa liên đới của đối tượng đối với chủ thể.
– Việc này biết nói cùng ai ?
– Mấy lời nói cùng bạn đọc.
DẦU (DÙ)
1. Biểu thị nghĩa hiện hữu trái ngược, giả thiết để khẳng định.
Dù gian khổ, chúng ta vẫn không sờn lòng, nản chí.
2. Biểu thị nghĩa giả định, chưa có.
– Dù ai nói ngả nói nghiêng.
Lòng ta vẫn vững như kiềng 3 chân. (ca dao)
3. Biểu thị ý “mặc kệ, không quản”.
DO
– Dù có biết hay không biết vẫn phải làm cho được.
– Lỗi này do tôi gây ra.
– Do không hiểu nên mới hỏi lại.
2. Biểu thị nguồn gốc tạo ra.
– Chương trình này do Thụy Điển tài trợ.
– Máy này do Nhật Bản sản xuất.
1. Biểu thị nguyên nhân, lí do.
1. Biểu thị nghĩa phương hướng, thường đứng sau động từ hoạt động, di chuyển.
DƯỚI
– Đi dưới mưa.
– Rơi xuống dưới biển.
2. Dưới kết hợp với danh từ làm thành kết cấu giới ngữ để làm chức năng trạng ngữ chỉ
trạng thái, điều kiện. Trong trường hợp này có thể thay : bằng, với.
Dưới sự lãnh đạo của cụ Hồ, toàn dân Việt Nam đã đứng lên làm cuộc khởi nghĩa
tháng 8 thắng lợi.
ĐẶNG
– Biểu hiện mục đích như “để”, nhưng mục đích xa hơn. Nếu trong câu có hai từ “để”
thì hai mục đích ngang nhau. Còn sau “để” có “đặng” thì chỉ mục đích xa hơn.
– Mở rộng mạng lưới trường tư lập để thu hút nhiều học sinh; đặng góp phần vào công
cuộc phổ cập cấp I, tiến đến phổ cập cấp II.
ĐỂ
– Thi đua sản xuất để (đặng) cho dân giàu nước mạnh.
1. Từ biểu hiện nghĩa mục đích của một nguyên nhân nào đó. “Để” có nghĩa tương đương
với : cho, hòng, đặng.
– Sách này để kỉ niệm.
– Phòng này để tiếp khách.
– Tiết kiệm tiền để đi du lịch một chuyến.
– Biết nhờ ai để chuyển bức thư này cho kịp.
– Chúng ta học ngoại ngữ để giao lưu với người nước ngoài.
2. Để cùng với một nhóm từ, đứng đầu câu làm tiêu đề cho toàn câu. Thỉnh thoảng nhấn
mạnh tính mục đích, có thể đặt ở giữa với tư cách nhóm từ đệm.
– Nuôi mèo để (cho) nó bắt chuột.
…
– Để trả lời câu hỏi đó, chúng ta phải tìm hiểu sự thật.
3. Sau “để” còn có “mà”.
– Để hoàn thành chương trình học tập, phòng hiệu trưởng cho rằng học sinh cần phải
Con hỏi việc này để mà làm gì ?
4. Có sự tương ứng với từ chỉ nguyên nhân.
(Vì) anh mách với mẹ, để nó phải chịu đòn.
5. Để có giá trị như : “còn, kẻo”.
– Mình về giã gạo ba giăng,
Để (còn) ta gánh nước Cao Bằng về ngâm. (cd).
– Chia cho con chó với để (kẻo) nó kiện.
6. Để cho. Trong những trường hợp nhất định có nghĩa như : khiến cho, nhằm cho, làm
ĐẾN
cho, để làm cho …
1. Biểu hiện nghĩa phương hướng của hành động hướng tới một địa điểm, một đối tượng,
một sự kiện, một thời điểm.
– Tôi đi đến trường.
– Con người đã bay đến các vì sao.
– Tôi luôn luôn nghĩ đến việc học hành của học sinh.
– Họ nói chuyện với nhau đến khuya.
– Cho đến bây giờ tôi mới hiểu rằng anh không tốt với hắn.
– Chúng ta phấn đấu đến cùng cho độc lập tự do của Tổ quốc.
– Giảng giải đến thế mà nó vẫn không hiểu.
– Niềm vui đến bất tuyệt.
– Đã bị đánh đập đến nước ấy, sao lại không kêu cứu.
– Bực tức đến phát điên lên được.
2. Biểu hiện nghĩa tột cùng : đến nơi, đến nước, đến cùng …
1. Biểu hiện nghĩa liên đới của danh từ tiếp theo sau.
– Quốc hội đã thông qua chính sách thuế nông nghiệp đối với nông dân.
ĐỐI VỚI
– Tình cảm của Bác hồ đối với quê hương thật sâu nặng.
2. Nhấn mạnh bổ ngữ với tư cách đối tượng liên đới. Trường hợp này bổ ngữ đưa lên
trước vị ngữ và thành trạng ngữ đầu câu.
– Tôi đối với truyền thuyết này, nói cho cùng đáng hoài nghi lắm.
– Điều kiện làm việc đối với công nhân liệu có đáp ứng được hay không ? (điều kiện
vốn là bổ ngữ của đáp ứng hay không đáp ứng).
+ Trường hợp bổ ngữ tương đối dài có thể đưa lên đầu câu, sau động từ vị ngữ có đại từ
chỉ định cho bổ ngữ ấy.
Đối với các hiện tượng mới manh nha, con người muốn nhận thức toàn diện về ý
nghĩa của nó không phải là dễ dàng.
3. Biểu hiện nghĩa : theo ý …
Đối với anh, vấn đề này không quan trọng mấy.
4. Đối tượng đề xuất ra là thuyết minh cho phạm vi của trạng thái, hành động ở phía sau
đó.
Cái chết của Quang Trung đối với lịch sử dân tộc, đối với khoa học là một tổn thất
GIỮA
1. Nghĩa như : ở giữa, trong. Nói về mối quan hệ của một thời, điểm cách đều hai mặt
hoặc xung quanh.
Họ tiến vào giữa hội trường.
2. Biểu hiện sự chọn lựa giữa hai đối tượng.
Giữa hai món quà này em chỉ có thể chọn một tùy em.
3. Biểu hiện khoảng cách trung gian.
– Thị xã Tam Kỳ của tỉnh Quảng Nam nằm giữa chiều dài đất nước.
– Vào thời điểm ấy, khoảng cách giữa cái sống và cái chết chỉ là trong gang tấc.
không nhỏ. (hai giới ngữ “đối với” để thuyết minh phạm vi tổn thất).
4. Biểu hiện nghĩa được sự bao bọc, vây quanh. Tương đương với : trong.
Các em sống giữa tình thương của các mẹ.
LÊN
“Lên” vốn và động từ chỉ hướng. Khi đứng sau động từ vận động khác, “lên” có chức
năng như giới từ chỉ hướng đạt đến một điểm mút của sự vận động tính từ vị trí người nói.
Nó thể hiện sự tri nhận không gian trong các trường hợp sau đây.
1. Hướng đến một vị trí cao hơn hay phía trước của người nói.
– Nhìn lên trời, thấy trời cao lồng lộng.
– Tuấn leo lên núi, rồi sau đó trèo lên cây.
2. Hướng vận động trên mặt phẳng của không gian, sự vật cao hơn điểm đứng hoặc cự li
của chủ thể vận động.
Hương nhè nhẹ đặt lọ hoa trên bàn. Sau đó, cô chạy ra vườn và giẫm lên những bụi cỏ
non xanh rờn.
3. Hướng phát triển theo chiều phía trước hoặc theo chiều cao của mặt bằng bình thường.
– Ngành ngoại thương của ta càng ngày càng phát triển lên theo kinh tế thị trường hiện
đại.
– Hãy bay lên sông núi của ta ơi !
NGOÀI
1. Biểu thị phương hướng của hành động lấy điểm gốc từ người nói đối với điểm mốc của
vị trí hướng đến.
– Ông lão nhìn ra ngoài sân.
– Đứng ngoài cửa sổ, cô ta gọi : mẹ ơi !
+ Trong ý nghĩa này “ngoài” đối lập với “trong”.
– Chạy ra ngoài / Bước vào trong.
– Đi ra ngoài biên ải / Bay vào trong không phận.
+ “Ngoài” còn có nghĩa bên ngoài một giới hạn có biên độ nào.
– Nước sông Hồng dâng lên cao đến 3 mét.
Nước tràn ra ngoài chậu.
+ “Ngoài” chỉ vị trí tồn tại.
Mẹ làm việc ở ngoài vườn.
+ “Ngoài” chỉ mức độ quá giới hạn về thời gian.
Bà tôi năm nay ngoài 80 tuổi, mà vẫn còn khỏe.
NHẰM
Biểu thị mục đích mà hành động hướng tới. Có nghĩa như : để.
Chúng ta góp ý cho nhau nhằm giúp nhau tiến bộ.
NHỜ
Biểu thị nghĩa nhân – quả. “Nhờ” đứng đầu phần câu chỉ nguyên nhân như một điều
kiện che chở thuận lợi đưa đến kết quả may mắn. Thường kết hợp kiểu : nhờ có, nhờ bởi,
nhờ do, nhờ tại, nhờ ở.
– Nhờ có sự giúp đỡ của anh mà tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ này.
NƠI
– Nhờ có chính sách ruộng đất đúng, nông dân hăng hái sản xuất.
Biểu hiện nghĩa nơi chốn, địa điểm trong không gian. Nó có nghĩa ngữ pháp như “ở”.
– Em luôn luôn tin tưởng nơi anh.
– Tấm lòng em son sắt mãi nơi anh.
Ở
1. Biểu thị địa điểm xảy ra hành động. Tương đương với : tại
– Mẹ trồng rau ở ngoài vườn.
– Dầu ngược xuôi nơi nào trên trái đất.
Thân này đã đến thế này thì thôi. (Kiều)
2. Biểu thị khoảng cách không, thời gian. Tương đương với : từ.
– Ngọc ở Hà Nội về.
– Bây giờ sống thác ở tay
– Công trình này đang tiến hành ở giai đoạn nước rút.
3. Biểu hiện hướng của hành động tâm lí, tình cảm, tư duy. Tương đương như vào. Các từ
này kết hợp với danh từ tạo thành một kết cấu giới ngữ làm chức năng bổ ngữ hoặc trạng
ngữ của câu.
– Chúng ta phải tin ở (vào) lớp trẻ ngày nay. Họ nhiều tài năng lắm.
– Nhờ (vào) ở sức mạnh của toàn dân, đảng ta mới làm nên sự nghiệp vĩ đại. Do đó,
chúng ta phải khai thác hết mọi tiềm năng ở nhân dân.
+ Có thể dùng ở trong.
– Ở trong nhân dân biết bao là tiềm năng.
– Ở trong vùng giải phóng nhân dân đã làm chủ.
4. Biểu thị nghĩa nguồn gốc, nguyên nhân xảy ra điều gì. Tương đương như : bởi, tại, do …
Hoặc tổ hợp : bởi ở, tại ở …
QUA
Mọi sự trên đời là ở con người mà ra.
1. Có nghĩa của động từ chuyển động. Nó có thể thay thế cho động từ đi trước nó.
– Tôi (đi) qua sông. – Tôi (đi) qua cầu.
– Tôi qua sông. – Tôi qua cầu.
2. Làm từ chỉ phương hướng được xác định bởi nơi xuất phát của hành động và điểm đến
của hành động. Trường hợp này “qua” làm chức năng giới từ. Trong chức năng này “qua”
+ Biểu hiện phương hướng của hành động di động theo chiều ngang.
Tôi chạy ngang qua sân trường.
+ Biểu hiện nghĩa phương tiện có giá trị như : bằng, nhờ, thông qua.
– Qua ngài chủ tịch, chúng tôi gửi đến nhân dân Việt Nam lời chúc mừng năm mới.
– Qua thử thách, tình bạn giữa chúng ta thêm gắn bó.
– Chúng ta có thể gặp nhau qua điện thoại cũng được.
TẠI
có nhiều cách dùng.
1. Biểu hiện nơi chốn diễn ra hành động hoặc tồn tại sự kiện. Trường hợp này tương
đương với “ở”.
– Ra đón đoàn tại sân bay Nội Bài có các nhà ngoại giao cả nước.
– Hôm qua tại hội trường Ba Đình, kì họp thứ hai của Quốc hội khóa XI đã khai mạc.
– Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha. (Kiều)
TẬN
Biểu hiện giới hạn không gian và thời gian mà hành động hướng tới.
– Ở tận sông Hồng em có biết
Quê hương anh cũng có dòng sông. (Hoài Vũ)
THEO
– Cuộc trò chuyện giữa Hương và Lan kéo dài đến tận 3 giờ sáng.
1. Đứng sau động từ, biểu thị hướng di chuyển hoặc hành động.
Họ đi dọc theo ven bờ sông Hương. Bỗng nhiên Khánh rẽ vào ngõ Thượng Tứ. Hoàng
chạy theo gọi lại cũng không được.
2. Làm yếu tố phụ của động từ biểu thị nghĩa hành động này chiếu theo y như hành động
khác hoặc do hành động khác ảnh hưởng, tác động đến.
– Thanh niên làm theo lời Bác.
– Chị đọc rồi, các em đọc theo cho đúng nhé !
3. Biểu thị ý dựa vào, căn cứ vào cái gì đó, vào người nào đó mà thực thi hành động hoặc
đánh giá.
– Theo tin từ Hà Nội, năm nay Việt Nam đã xuất khẩu một triệu rưỡi tấn gạo.
– Theo tôi, chúng ta phải có chính sách tối ưu để giải quyết công ăn việc làm cho
thanh niên.
– Theo điều 4 của bản hợp đồng này, hai bên phải thông báo cho nhau về những khó
khăn, trở ngại trong quá trình thực hiện công trình.
TỚI
– Các em hãy noi gương theo các bậc tiền bối.
Biểu hiện nghĩa đạt đến một hướng, một mức độ nào đó trong không gian, thời gian và
tính chất.
1. Biểu hiện hướng / đích của sự chuyển động.
– Các vận động viên đã về tới đích an toàn.
– Ta đi tới không thể gì ngăn lại. (Tố Hữu)
– Tôi xin gửi tới các bạn lời chúc mừng năm mới.
2. Biểu thị giới hạn thời gian.
– Làm việc cho tới khuya mới về nhà.
– Nghỉ cho đến (tới) tháng 10 mới đi làm lại.
– Tôi sẽ chờ anh tới (đến) 7 giờ thì thôi nhé!
3. Biểu thị độ sâu của hoạt động tư duy.
– Làm việc phải suy nghĩ cho tới nơi tới chốn.
– Ăn chưa no, lo chưa tới.
4. Biểu hiện nghĩa tác động, ảnh hưởng của một hành động, hiện tượng này đến một hiện
tượng khác.
– Áp dụng tốt hay không tốt kĩ thuật hiện đại sẽ có ảnh hưởng tới năng suất lao động.
TRÊN
1. Biểu thị hướng hành động từ thấp lên cao so với chỗ đứng.
– Leo lên trên nóc nhà nhìn xuống một toán địch bước xăm xăm vào cổng, ông già
nằm sát mái nhà quan sát chúng cho rõ.
– Phương ngước nhìn lên trên bầu trời, thấy trời cao lồng lộng, nhìn xuống biển thấy
biển vời vợi nghìn trùng.
2. Biểu thị địa điểm ở bậc cao hơn. Ngược với “dưới”.
Hiệu trưởng họp trên Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hiệu phó xuống dưới các khoa để
– Hễ đụng tới lòng tự trọng là nó phản ứng ngay.
kiểm tra sinh viên.
3. Biểu thị vị trí có mặt bằng hoặc sát mặt bằng nào đó mà người nói nhìn rõ theo tầm
đứng.
– Trên khuôn mặt khô xác, nụ cười không có gì là ấm áp, là thiết tha.
– Chị đặt lọ hoa trên bàn và treo tấm ảnh chồng trên tường của buồng riêng.
– Hôm nay trên các báo chí ở TOKYO đều đăng tin một công dân Nhật Bản cùng với
các nhà du hành vũ trụ Xô viết trở về mặt đất an toàn.
4. Biểu thị địa điểm cụ thể xảy ra hành động, hiện tượng.
Bác đứng trên khán đài vẫy tay chào các đoàn thể quần chúng đi ngang qua.
5. Biểu thị cơ sở, nền tảng làm phạm vi hoặc nguyên tắc cho hoạt động hành động.
Trên tinh thần đồng chí, đồng hương, đồng nghiệp, chúng tôi giúp đỡ lẫn nhau
TRONG
không chút tính toán nào cả.
1. Biểu thị hướng không gian của hoạt động. Ngược lại với “ngoài”.
– Mời các thầy vào trong nhà kẻo lạnh.
– Xin mời hành khách đi vào trong xe, không nên đứng ở thành xe.
2. Biểu thị phạm vi, giới hạn không gian làm thành môi trường cho hoạt động xảy ra, hoặc
tồn tại.
– Trong đấu tranh cách mạng, thế hệ thanh niên của đất nước ta đã trưởng thành và
– Tưởng như nghe được cả hơi thở của cây lá trong vườn.
– Ngọn lửa trong rừng bập bùng đỏ rực.
Chúng ta yêu nhau kiêu hãnh làm người.(Nguyễn Đình Thi)
– Trăng viên mãn cuối trời đêm đêm em có nhớ
Mặt trăng từng khuất nửa ở trong nhau. (Hoàng Hữu)
3. Biểu thị giới hạn thời gian cụ thể của hành động, sự tình tồn tại, làm chức năng trạng
ngữ thời gian.
– Anh ôm chặt thân em mềm mại.
Trong phút giây từ biệt chiều nay.
làm nên một phong cách sống mới.
– Trong khi tôi học bài thì nó xem ti vi.
4. “Trong” làm chức năng trạng ngữ địa điểm hoặc thời gian, luôn luôn kết hợp với danh
từ, nhóm danh từ hoặc kết hợp với tính từ, động từ tạo thành giới ngữ.
– Mùa thu đã đi qua còn gửi lại,
Một ít vàng trong nắng trong cây,
Một ít buồn trong gió trong mây,
Một ít vui trên môi người thiếu nữ. (Tế Hanh)
– Anh đã thầm yêu trong tuyệt vọng
Chịu dày dò trong hổ thẹn, ghen ganh. (Puskin)
TRƯỚC
1. Biểu thị vị trí không gian của hành động xảy ra.
Cảo thơm lần giở trước đèn. (Kiều)
2. Biểu hiện hoàn cảnh, điều kiện, tình trạng mà hành động tiến hành. Trường hợp này
“trước” kết hợp với danh từ hoặc nhóm danh từ làm trạng ngữ.
– Trước tình hình khó khăn về kinh tế, mỗi chúng ta phải tự cứu lấy mình.
– Đụng đầu trước những thử thách mới biết ai vững vàng, ai nhụt chí.
3. Bieåu thò khoaûng thôøi gian laøm moác cho haønh ñoäng.
TUY
1. Biểu hiện mối quan hệ liên đới giữa hai hành động. “Tuy” mở đầu phần phụ thuộc của
câu như cái căn cứ để triển khai hành động tiếp theo, tăng tiến hơn. “Tuy” cũng có thể đứng
trước một từ nào đó của câu nhằm nhấn mạnh ý nghĩa của thành phần đó. Thường có : “nhưng,
vẫn, cũng, song, mà …” đối ứng.
– Tuy già nhưng Bác vẫn tươi vui.
– Tuy nghèo mà vẫn tốt bụng.
– Em tuy mới 15,
Mà đã lắm người thăm,
Hoï ra ñi tröôùc luùc raïng ñoâng, tröôùc khi trôøi höøng saùng.
Nhờ mối mai đưa tiếng,
Khen tuổi như trăng rằm. (Nguyễn Nhược Pháp)
2. Khi đóng vai tác tử biểu hiện nghĩa hiện hữu, “tuy” có thể thay bằng “mặc dù”.
– Tuy nước ta là một nước nhỏ mà đã đánh thắng 2 đế quốc to là Pháp và Mĩ.
– Bác nay tuy đã già rồi, già rồi nhưng vẫn vui tươi. (Lời bài hát về Bác Hồ).
TỪ
1. Biểu thị điểm xuất phát của một đoạn không gian mà hành động diễn biến.
– Từ sân bay Vô Tích, máy bay đưa Bác đến cửa biển Đại Liên.
– Tàu lửa chạy từ Hà Nội đến Đà Nẵng nay chỉ còn 16 giờ.
2. Biểu thị điểm mốc thời gian và làm thành khoảng cách thời gian cho đến lúc đang nói.
– Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lí chói qua tim. (Tố Hữu)
– Rằng : Trăm năm cũng từ đây
Của tin gọi một chút này làm ghi. (Kiều)
3. Biểu hiện bao gồm, bao quát toàn bộ các cá thể, cụ thể thành một tổng thể. Có kết cấu :
Từ … đến … đều …
– Chúng ta, từ chính phủ đến nhân dân, Nam đến Bắc, già đến trẻ, giàu đến nghèo đều
– Từ hình dáng cho đến tâm hồn cô ta rất giống mẹ.
4. Biểu hiện một căn cứ xuất phát của hành vi hoặc sự kiện. Thông thường nói về nguồn
gốc xuất hiện một hiện tượng.
– Quân đội nhân dân Việt Nam từ nhân dân mà ra.
– Và, Bác vui sướng thật sự khi nhận bó hoa từ tay cháu Mên đến tặng Bác.
một lòng không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ, không chịu chia rẽ. (Báo)
1. Biểu thị hướng của hành động từ bên ngoài vào bên trong.
– Bộ đội tấn công vào căn cứ của quân địch.
VÀO
– Trước xe lơi lả han chào,
Vâng lời nàng mới bước vào tận nơi. (Kiều)
– Tường đông lay động bóng cành,
Đẩy song đã thấy sở khanh lẻn vào. (Kiều)
2. Biểu thị hành động thu nhận, can thiệp hoặc hòa vào trong một sự vật khác, hay một tổ
chức, một phong trào nào đó.
– Chúng tôi tham gia vào hội Nông dân cứu quốc.
– Năm nay số lượng sinh viên được trúng tuyển vào các trường rất đông.
– Hồn Trinh còn ở trần gian,
Nhập vào bướm trắng mà sang bên này. (Nguyễn Bính)
– Vào lúc khó khăn mới đánh giá hết phẩm chất của người Cộng sản.
– Đã mang lấy nghiệp vào thân.
VỀ
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. (Kiều)
1. Biểu thị hướng của hành động hoạt động.
– Các vận động viên đã chạy về tới đích an toàn.
– Bộ đội đã rút lui về phía sau để bảo toàn lực lượng.
– Chính quyền thuộc về tay nhân dân.
– Hội nghị thảo luận về công tác văn hóa tư tưởng.
– Tác phẩm này viết về công nhân mỏ.
3. Kết hợp với danh từ tạo thành giới ngữ làm tiêu đề báo chí, sách, truyện
– Về vấn đề nhà ở.
– Về những lời Bác Hồ dạy.
– Về tính nhân đạo trong “Nhật ký trong tù” của Hồ Chí Minh.
4. Biểu thị sự tồn tại trong khoảng thời gian nào đó.
2. Biểu thị phạm vi của đối tượng hoặc sự vật mà hành động đề cập.
– Về già, cụ tỏ ra nhân ái hơn.
– Bảy năm về trước em mười bảy
Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng. (Vũ Cao)
– Nuôi con những ước về sau
Trao tơ phải lứa gieo cầu đúng nơi. (Kiều)
5. Biểu hiện nguyên do thuộc tính.
– Cô ta khổ sở về chồng con.
– Bọn mật thám lo sợ về những hoạt động của chị.
VÌ : Biểu thị nghĩa nguyên nhân.
1. Nêu ra lí do hoặc nguyên nhân không thực hiện được hành động. Thường có từ “nên”
đối ứng.
– Vì gió mùa Đông – Bắc nên trời trở rét.
– Vì mây cho núi lên trời.
Vì chưng gió thổi hoa cười với trăng. (ca dao)
2. Dùng để hỏi về lí do, nguyên cớ không thực hiện hành động.
Vì lẽ gì mà em từ chối lời mời của tôi ?
3. Biểu thị mục đích của hành động.
– Chúng ta quyết tâm đổi mới là vì hạnh phúc của nhân dân ta.
VỚI
1. Biểu hiện nghĩa liên hợp giữa hai hiện tượng có quan hệ qua lại, cùng hành động chung.
Thường có “nhau” kèm theo.
– Người với người là bạn.
– Quân với dân như cá với nước.
– Anh với tôi đôi người xa lạ,
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau. (Chính Hữu)
– Vì nước quên thân, vì dân phục vụ.
– Họ nói với nhau bao lời hẹn ước.
2. Biểu thị nghĩa đối tượng có quan hệ tiếp nhận và sự tồn tại của hành động hướng tới.
– Em học với thầy Hoàng
– Hôm nay tôi xin báo cáo với các bạn về vấn đề thanh niên và việc làm.
3. Chỉ phương thức, mức độ của hành động. Tương đương với “bằng”.
– Với tấm lòng yêu nước, cụ Huỳnh đã nhận lời tham gia chính phủ.
– Cụ trúng với số phiếu cao nhất.
4. Biểu hiện nghĩa đối tượng liên đới với điều kiện nói đến trong câu.
– Với anh, em là tất cả.
– Đối với truyền thuyết đó, tôi vẫn còn hoài nghi, không tin lắm.
PHỤ LỤC 2
DANH SAÙCH CAÙC MOÁI QUAN HEÄ ROÄNG
(Broad Relationships) CUÛA GIÔÙI TÖØ
Sự quy chiếu không gian :
1. Bên trong (interiority)
2. Bên ngoài (exteriority)
3. Cao (superiority)
4. Thấp (inferiority)
5. Phía trước (anteriority).
6. Phía sau (posterority)
7. Ở gần (proximity)
8. Kề cận (contiguity)
9. Phương hướng (direction)
10. Chia cắt (separation)
11. Đối lập (oppositeness)
12. Ngang (transversality)
13. Dọc (verticality)
15. Vòng cung (circularity)
16. Bất định (indeterminacy)
17. Liên tục (continuity)
18. Khoảng rộng (extent)
19. Phụ thuộc (accompaniment)
20. Song song (parallelism)
21. Gốc (origin)
22. Ngăn cách (partition)
14. Nằm ngang (hirizontality)
Sự quy chiếu thời gian :
23. Điểm thời gian (point of time)
24. Quan hệ với một điểm (relative to a point)
25. Giai đoạn thời gian (period of time)
26. Quan hệ với một giai đoạn (relative to a period)
27. Trước (anteriority)
28. Sau (posteriority)
Sự quy chiếu trừu tượng :
29. Tần suất (frequency)
30. Nguyên cớ (cause)
31. Lí do (reason)
32. Mục đích (purpose)
33. Nguồn gốc (source)
34. Cách thưc (manner)
35. So sánh (comparison)
36. Vai trò (role)
37. Phương tiện (means)
38. Tác dụng (agency)
40. Thuộc tính (attribution)
41. Tồn tại (existence)
42. Ủng hộ (support)
43. Tương phản (opposition)
44. Loại trừ (exception)
45. Điều kiện (condittion)
46. Bổ sung (addition)
47. Trao đổi (exchange)
39. Phản ứng (reaction)
48. Thay thế (replacement)
49. Ứng chiếu (reference)
50. Ngẫu nhiên (contingency)
51. Nhượng bộ (concession)
52. Kết quả (result)
53. Quá trình (process)
54. Trạng thái (state)
55. Tương đương (appropximation)
PHỤ LỤC 3
DANH SÁCH CÁC VAI NGHĨA
1. Agent / Actor : chủ thể của hành động
2. Instrument : công cụ
3. Dative /Recipient : người tiếp nhận (tiếp thể)
4. Factative : vật sinh ra (tạo thể)
5. Locative / Location : địa điểm, nơi chốn.
6. Objective : đối tượng được chính cách thuyết minh nghĩa của động từ quy định (đối
thể)
7. Benefactive / Beneficiary : người hưởng lợi
8. Comitative : nhân / vật có liên đới
9. Time : thời gian
10. Source / Root : nguồn
11. Goal : đích
12. Direction : phương hướng
13. Extent : tầm xa của chuyển động hay thời gian kéo dài của hành động, trạng thái.
15. Undergoer : người / vật trải qua quá trình
16. Patient : kẻ bị động
17. Manner : phương thức
18. Purpose : mục ñích
19. Force : lực
20. Positioner : người hay động vật ở một tư thế.
21. Path : đường dẫn / lối đi
22. Terminus : điểm kết thúc
14. Experiencer : kẻ thể nghiệm.
23. Cause : nguyên nhân
24. Result : kết quả
25. Carrier : chủ thể của trạng thái, tính chất

