BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

................/...............

.............../.............

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

TRẦN VÕ MỸ HIỀN

QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ PHÁT THANH, TRUYỀN HÌNH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ CÔNG

THỪA THIÊN HUẾ, NĂM 2024

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

................/...............

.............../.............

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

TRẦN VÕ MỸ HIỀN

QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ PHÁT THANH, TRUYỀN HÌNH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Chuyên ngành: Quản lý công Mã số: 8 34 04 03

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRẦN TIẾN HẢI THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2024

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài Quản lý nhà nước Phát thanh, truyền hình tỉnh

Quảng Bình là kết quả nghiên cứu độc lập của bản thân. Các thông tin trích dẫn

trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc và mọi số liệu nghiên cứu trong luận văn

này là trung thực và chưa hề được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Thừa Thiên Huế, ngày …… tháng …… năm 2023

Học viên

TRẦN VÕ MỸ HIỀN

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Học viện Hành chính Quốc gia, Lãnh

đạo Ban Quản lý đào tạo; viên chức, giảng viên Học viện Hành chính Quốc gia;

Lãnh đạo, viên chức, giảng viên Phân viện Học viện Hành chính Quốc gia khu vực

Miền Trung đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

thạc sĩ.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Trần Tiến Hải đã tận tình hướng

dẫn khoa học, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn thạc sĩ quản lý công đúng thời gian

quy định.

Xin cảm ơn Lãnh đạo Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Quảng Bình; Lãnh

đạo Đài Phát thanh Truyền hình Quảng Bình, lãnh đạo các sở, ngành; cán bộ, công

chức, viên chức các cơ quan/đơn vị trên địa bàn tỉnh Quảng Bình đã hỗ trợ, giúp đỡ

tôi trong thu thập thông tin, tài liệu để hoàn thiện luận văn;

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn

bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu

của mình.

HỌC VIÊN

TRẦN VÕ MỸ HIỀN

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ PHÁT THANH,

TRUYỀN HÌNH ...................................................................................................... 11

1.1. Khái niệm, vai trò của quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình ............ 11

1.1.1. Khái niệm về phát thanh, truyền hình .................................................... 11

1.1.2. Khái niệm, vai trò quản lý nhà nước đối với phát thanh, truyền hình.... 16

1.2. Nội dung quản lý nhà nước đối với phát thanh, truyền hình ......................... 20

1.3. Nguyên tắc và cách thức quản lý Nhà nước đối với phát thanh, truyền hình 25

1.3.1. Nguyên tắc quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình ...................... 25

1.3.2. Cách thức quản lý Nhà nước về phát thanh, truyền hình ....................... 26

1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình ...... 28

1.4.1. Hệ thống thể chế về phát thanh, truyền hình .......................................... 28

1.4.2. Năng lực thực hiện pháp luật của bộ máy quản lý nhà nước về phát

thanh, truyền hình ............................................................................................. 29

1.4.3. Phẩm chất, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý

phát thanh, truyền hình ..................................................................................... 30

1.4.4. Sự tham gia của nhân dân vào hoạt động quản lý nhà nước về phát thanh

truyền hình ........................................................................................................ 30

1.5. Quản lý phát thanh, truyền hình ở một số địa phương và bài học inh nghiệm

cho quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình ở Quảng Bình ......................... 31

1.5.1. Quản lý phát thanh, truyền hình ở một số địa phương ........................... 31

1.5.2. Kinh nghiệm cho tỉnh Quảng Bình ........................................................ 32

Tiểu ết chương 1 ................................................................................................. 34

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ PHÁT THANH,

TRUYỀN HÌNH TẠI TỈNH QUẢNG BÌNH ........................................................ 35

2.1. Khái quát về điều iện tự nhiên, inh tế - xã hội c tác động đến Quản lý nhà

nước về PTTH của tỉnh Quảng Bình .................................................................... 35

2.2. Khái quát về phát thanh, truyền hình tại tỉnh Quảng Bình ............................ 37

2.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển ............................................................. 37

2.2.2. Hiện trạng đài truyền thanh cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Bình ........... 37

2.3. Thực trạng quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình tại tỉnh Quảng Bình ..... 38

2.3.1.Công tác xây dựng ế hoạch về phát thanh, truyền hình ........................ 38

2.3.2. Công tác thể chế hoá các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước về

phát thanh, truyền hình ..................................................................................... 38

2.3.3. T chức bộ máy và đội ngũ công chức quản lý Nhà nước về phát thanh,

truyền hình ........................................................................................................ 41

2.3.4. T chức quản lý nhà nước và phối hợp quản lý nhà nước về phát thanh,

truyền hình ........................................................................................................ 42

2.3.5. Công tác thanh tra, iểm tra, xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực

phát thanh, truyền hình ..................................................................................... 45

2.4. Đánh giá chung về công tác quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình tại

tỉnh Quảng Bình .................................................................................................... 50

2.4.1. Kết quả đạt được..................................................................................... 50

2.4.2. Những hạn chế ........................................................................................ 54

2.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế ........................................................... 58

Tiểu ết chương 2 ................................................................................................. 60

Chương 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ

PHÁT THANH, TRUYỀN HÌNH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG BÌNH .... 61

3.1. Phương hướng quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình tại tỉnh Quảng

Bình ....................................................................................................................... 61

3.1.1. Phương hướng quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình cần quán

triệt đường lối, chủ trương của Đảng về công tác phát thanh, truyền hình ...... 61

3.1.2. Quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình phải hướng đến phục vụ và

đáp ứng tốt nhất nhu cầu thông tin của người dân ........................................... 61

3.1.3. Quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình phải hướng đến hắc phục

những hạn chế, yếu ém trong quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình.. 62

3.1.4. Quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình phải nhằm nâng cao hiệu

lực, hiệu quả hoạt động của các cấp chính quyền, đồng thời phải đảm bảo pháp

chế xã hội chủ nghĩa ......................................................................................... 63

3.1.5. Quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình phải gắn liền với xây dựng,

phát triển inh tế thị trường và hội nhập quốc tế ............................................. 64

3.2. Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình trên địa

bàn tỉnh Quảng Bình ............................................................................................. 65

3.2.1. Hoàn thiện văn bản quản lý nhà nước, hệ thống pháp luật về phát thanh,

truyền hình trên địa bàn tỉnh Quảng Bình ........................................................ 65

3.2.2. Hoàn thiện công tác t chức thực hiện quản lý nhà nước về phát thanh,

truyền hình trên địa bàn tỉnh Quảng Bình ........................................................ 67

3.2.3. T chức hoạt động thanh tra, iểm tra và xử lý vi phạm trong hoạt động

phát thanh, truyền hình trên địa bàn tỉnh Quảng Bình ..................................... 75

Tiểu ết chương 3 ................................................................................................. 79

KẾT LUẬN .............................................................................................................. 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BTV Biên tập viên

NĐ - CP Nghị định – Chính phủ

HĐND Hội đồng nhân dân

KT - XH Kinh tế - xã hội

QLNN Quản lý nhà nước

PV Phóng viên

PTTH Phát thanh truyền hình

TT -TT Thông tin truyền thông

TTXVN Thông tấn xã Việt Nam

THVN Truyền hình Việt Nam

UBND Uỷ ban nhân dân

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Trong những năm gần đây, hệ thống phát thanh, truyền hình (PT-TH) ở Việt

Nam phát triển nhanh cả về nội dung, chất lượng chương trình, hạ tầng ỹ thuật và

phương thức truyền dẫn, phát s ng, g p phần tích cực vào sự phát triển inh tế - xã

hội của đất nước. Phát thanh, truyền hình với tư cách là một phương tiện truyền

thông đại chúng hiện đại c hả năng thông tin nhanh ch ng, ịp thời hơn so với

các phương tiện hác; PT-TH phản ánh ngay lập tức các sự iện hi vừa mới diễn

ra, thậm chí đang diễn ra, hán thính giả c thể nghe, quan sát một cách chi tiết,

tường tận, trực tiếp và liên tục 24/24h trong ngày; mang đến cho hán, thính giả

những thông tin nóng h i nhất về các sự iện diễn ra, cập nhật những tin tức

mới nhất. Đây là ưu thế đặc biệt của PT-TH so với các loại hình phát thanh, truyền

hình khác, là phương tiện cung cấp thông tin rất lớn, c độ tin cậy cao, c hả năng

làm thay đ i nhận thức của con người trước sự iện.

C thể n i hệ thống PT-TH trong cả nước hiện nay đang phát triển nhanh cả

về nội dung, chất lượng chương trình, hạ tầng ỹ thuật và phương thức truyền dẫn,

phát s ng, g p phần tích cực vào sự phát triển KT-XH của đất nước. Tuy nhiên, sự

phát triển nhanh, mạnh của hệ thống PT-TH đang đặt ra những thách thức trong

công tác quản lý nhà nước, nhất là đối với các cơ quan quản lý nhà nước ở địa

phương. PT-TH là loại hình báo chí mang tính đặc thù, đòi hỏi sự gắn ết giữa nội

dung, ỹ thuật và hạ tầng. Vì vậy, quản lý nhà nước về PT-TH đòi hỏi sự thống

nhất, mang tính đồng bộ cao cả về nội dung và ỹ thuật, trong hi đ ở nhiều địa

phương điều này vẫn chưa đáp ứng được. Để PT-TH phát triển, phát huy tối đa vai

trò là cầu nối giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, cần tăng cường vai trò của quản

lý nhà nước, nhất là tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với lĩnh vực

này. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn trong công tác quản lý nhà nước về PT-TH,

chúng ta cần c các đề xuất, các giải pháp giúp cho các Đài PT-TH tỉnh, Đài Truyền

thanh- truyền hình (TT-TH) cấp huyện, thị xã, thành phố hoạt động đúng tôn chỉ,

mục đích; bám sát thực tiễn đời sống xã hội, định hướng tư tưởng và nhiệm vụ

1

chính trị của tỉnh, của cơ sở; tích cực tuyên truyền, phản ánh nhiều chiều, phong

phú, đa dạng mọi mặt đời sống inh tế, chính trị, văn hoá-xã hội, an ninh quốc

phòng, xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.

Do đ , quản lý nhà nước về PT-TH đòi hỏi tất yếu hách quan, là nguyên tắc

và phương thức bắt buộc để huy động tối đa năng lực tác động của báo chí, truyền

thông vào mục đích phát triển đất nước, hạn chế đến mức thấp nhất những hiệu ứng

ngoài mong đợi. Quản lý nhà nước về PT-TH làm cho sức mạnh của ênh thông tin

này được phát huy cao nhất, để từ đ tập trung nguồn lực và mọi cố gắng vào phục

vụ mục đích phát triển đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng; tạo mọi điều iện cho

PT-TH phát triển và phục vụ sự phát triển KT-XH của đất nước. Đồng thời nhằm

bảo đảm tự do ênh s ng này được thực hiện trong huôn h pháp luật, vì mục

tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Bên cạnh đ cần

phải xây dựng ế hoạch thanh tra, iểm tra những đơn vị để xảy ra sai phạm éo dài

nhưng hông c biện pháp chấn chỉnh; thanh, iểm tra đột xuất những đơn vị c

dấu hiệu vi phạm. Tăng cường áp dụng hình thức xử phạt vi phạm hành chính bằng

tiền ở mức cao nhất của hung hình phạt và hình thức xử phạt b sung như đình

bản, thu hồi giấy phép hoạt động theo đúng thẩm quyền.

Hoàn thiện phương thức và cơ chế phối hợp để xử lý c hiệu quả thông tin

phản hồi, hiếu nại, tố cáo của cá nhân, t chức đối với thông tin trên hệ thống PT-

TH. Quản lý nhà nước về báo chí n i chung và PT-TH n i riêng là nhằm bảo đảm

cho báo chí phát huy vai trò định hướng dư luận xã hội hông chỉ trong nước, trong

hu vực mà còn trên phạm vi toàn thế giới. Thực hiện chủ trương, đường lối, sự chỉ

đạo của Đảng, Nhà nước, UBND tỉnh Quảng Bình phối hợp với Sở thông tin và

truyền thông đã dành nhiều sự quan tâm đến lĩnh vực PT-TH; tạo điều kiện cho hệ

thống PT-TH phát triển, góp phần tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách,

pháp luật của Nhà nước; phản ánh kịp thời những chỉ đạo của các cấp và chính

quyền địa phương; góp phần xây dựng KT-XH trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, hoạt

động của hệ thống PT-TH và công tác QLNN về PT-TH trên địa bàn tỉnh Quảng

Bình còn bộc lộ nhiều hạn chế, đ là: chưa ban hành văn bản quy phạm pháp luật

2

về các quy định về PT-TH (trong đ c Truyền thanh xã); nội dung chương trình

PT-TH chưa phong phú; hình thức thể hiện còn đơn điệu; chuyên môn nghiệp vụ

của đội ngũ cán bộ chưa xứng tầm, nhất là cán bộ Truyền thanh xã còn bất cập; hệ

thống trang thiết bị nhiều nơi ỹ thuật lạc hậu và xuống cấp nghiêm trọng; kinh phí

duy trì hoạt động thấp; chính quyền một số địa phương chưa nhận thức rõ tầm quan

trọng, nhất là hệ thống Truyền thanh xã nên thiếu sự quan tâm cả về nhân lực và

công tác quản lý.

Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài Quản lý nhà nước về phát

thanh truyền hình trên địa bàn tỉnh Quảng Bình làm đề tài luận văn thạc sĩ

chuyên ngành Quản lý công.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Quản lý nhà nước về PT-TH đã và đang được các nhà hoa học, các nhà

quản lý quan tâm, nghiên cứu ở những hía cạnh hác nhau. C thể nêu lên một số

công trình đã nghiên cứu c liên quan trực tiếp đến vấn đề này như:

Hồng Chương, Lịch sử phát thanh, truyền hình Việt Nam (1985), Nxb. Sự

thật, tác giả hái quát lịch sử phát thanh, truyền hình từ hi xuất hiện ấn phẩm phát

thanh, truyền hình đầu tiên ở Việt Nam năm 1865, dưới sự quản lý của chính quyền

thực dân Pháp, phát thanh, truyền hình chủ yếu là công cụ tuyên truyền của chế độ

thực dân. Nhiều đạo luật, sắc lệnh về phát thanh, truyền hình cho Đông Dương đã

được thực dân Pháp ban hành. Sắc lệnh ngày 30- 12-1898 đã đình chỉ việc thi

hành luật tự do phát thanh, truyền hình, ngày 29-7-1881, của Chính phủ Pháp ở

Đông Dương. Theo Sắc lệnh này, việc thành lập một tờ báo hay xuất bản ấn phẩm

định ì bằng bất cứ thứ tiếng nào đều c thể bị đình chỉ bởi nghị định của quan

Toàn quyền và hông một tờ báo tiếng Việt nào c thể xuất bản nếu hông được

phép của quan Toàn quyền. Phát thanh, truyền hình từ sau Cách mạng tháng Tám

được hoạt động tự do để bảo vệ chính quyền Cách mạng non trẻ, phục vụ hai cuộc

háng chiến chống Pháp và chống Mỹ; phát thanh, truyền hình từ sau năm 1975

nặng về thông tin một chiều.

3

- Hồng Chương, 124 năm phát thanh, truyền hình Việt Nam (1985), Nxb. Bộ

Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh, tác phẩm giới thiệu t m tắt lịch sử phát thanh,

truyền hình Việt Nam, nhất là phát thanh, truyền hình cách mạng qua các thời ỳ.

Qua đ , nói lên chức năng và vai trò của phát thanh, truyền hình, hình thức và mức

độ quản lý của Nhà nước đối với phát thanh, truyền hình qua từng thời ỳ.

- Đinh Văn Hường, Phát thanh, truyền hình truyền thông Việt Nam trong tiến

trình phát triển và hội nhập, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia

Hà Nội (http://www.hids.hochiminhcity. gov.vn/c/document library) điểm lại tiến

trình lịch sử phát thanh, truyền hình Việt Nam từ hi c tờ Gia Định báo (năm 1865).

Trong đ , đề cập đến dấu mốc ra đời nền phát thanh, truyền hình cách mạng Việt

Nam, hi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thành lập báo Thanh niên. Cuốn sách cũng hẳng

định phát thanh, truyền hình truyền thông đã c những đ ng g p lớn cho sự nghiệp

đấu tranh thống nhất đất nước và công cuộc xây dựng, phát triển đất nước.

- Đào Duy Quát, Vũ Duy Thông, Đỗ Quang Hưng, Tổng quan lịch sử phát

thanh, truyền hình Cách mạng Việt Nam (1925 - 2010) (2010), Nxb. Chính trị Quốc

gia, Hà Nội, tác phẩm hái lược lại hoạt động phát thanh, truyền hình cách mạng từ

hi ra đời. Trong số 6 chương, cuốn sách đã dành 2 chương cuối hái lược về Phát

thanh, truyền hình Cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp đ i mới đất nước (1986 -

2010) và Phát thanh, truyền hình Cách mạng Việt Nam trong thời ỳ tiếp tục đ i mới,

đẩy mạnh công nghiệp h a, hiện đại h a đất nước (2011 - 2010). Đây cũng là thời ỳ

hoạt động quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình được tăng cường một bước.

Bộ VHTT (nay là Bộ TT-TT) được xác định là cơ quan chịu trách nhiệm quản lý nhà

nước về phát thanh, truyền hình. Trong huôn h gần 500 trang, cuốn sách đã hái

lược được những điểm mốc quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của

phát thanh, truyền hình cách mạng Việt Nam, tuy nhiên chưa đề cập một cách ỹ

lưỡng và sâu sắc đến phát thanh, truyền hình từ thời ỳ đ i mới năm 1986.

- Cuốn Phát thanh, truyền hình trong đấu tranh chống diễn biến hòa bình

(2010), của Vũ Hiền, Nxb. Chính trị Quốc gia cũng hẳng định vai trò của phát

thanh, truyền hình trước âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch. Năm

4

2015, Việt Nam chính thức gia nhập T chức Thương mại thế giới - WTO, bước

những bước đầu tiên trên con đường hội nhập và phát triển, đây cũng là thời

điểm âm mưu, thủ đoạn diễn biến hòa bình gây tác động, ảnh hưởng đến đời sống xã

hội, tâm lý nhân dân. Trong bối cảnh đ , phát thanh, truyền hình dưới sự lãnh đạo

của Đảng, quản lý của Nhà nước đã thực sự trở thành một vũ khí sắc bén, hiệu

quả trên mặt trận chống diễn biến hòa bình.

- Luận án tiến sĩ Sự lãnh đạo của Đảng đối với phát thanh, truyền hình trong

thời kỳ đổi mới của Nguyễn Vũ Tiến (2013) đã nghiên cứu những tư duy mới, quan

điểm mới của Đảng về phát thanh, truyền hình và công tác quản lý phát thanh,

truyền hình trong tình hình đất nước đang tiến hành công cuộc đ i mới.

- Luận án tiến sĩ Hoàn thiện pháp luật về phát thanh, truyền hình ở Việt Nam

hiện nay (2016) của Phí Thị Thanh Tâm đã hái quát ết quả các công trình nghiên

cứu về phát thanh, truyền hình và pháp luật phát thanh, truyền hình trên thế giới

cũng như ở Việt Nam. Phân tích làm rõ những vấn đề lý luận như hái niệm, nội

dung, những tiêu chí xác định vai trò của pháp luật phát thanh, truyền hình. Đồng

thời phân tích thực trạng pháp luật phát thanh, truyền hình ở Việt Nam từ năm

1945 đến nay theo từng giai đoạn lịch sử. Những lập luận và phân tích của tác giả

về những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong pháp luật

phát thanh, truyền hình. Từ đ , đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về phát

thanh, truyền hình ở Việt Nam hiện nay…

Vũ Châu Giang (2018), đề tài “Quản lý Nhà nước về Phát thanh truyền hình

trên địa bàn thành phố Hà Nội”, Trường Học viện chính trị Quốc gia. Luận văn đã

làm rõ công tác quản lý phát thanh, truyền hình tại thành phố Hà Nội, luận văn ế

thừa và hiểu rõ hơn về các cơ quan quản lý nhà nước trong hoạt động PTTH, đề

xuất các nh m giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về quản lý phát thanh,

truyền hình, làm cơ sở thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: phát thanh truyền

hình theo quy định của pháp luật. giải đáp về các vấn đề liên quan đến định mức

inh tế - ỹ thuật, đơn giá, cơ chế đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công sử

dụng ngân sách nhà nước, từ đ tìm giải pháp tháo gỡ h hăn cho các đài PTTH

5

để tiếp tục phát triển bền vững, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ tuyên truyền

chính trị, truyền thông chính sách, phục vụ tốt hơn nhu cầu thông tin giải trí lành

mạnh của người dân Việt Nam..

Nguyễn Di Khang (2019), đề tài “Quản lý Nhà nước về Phát thanh truyền

hình trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”, Trường Học viện chính trị Quốc gia

thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đã làm rõ công tác quản lý phát thanh, truyền hình

tại thành phố Hồ Chí Minh, đ là cơ sở để hiểu rõ hơn các vấn đề về quy chế phối

hợp, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước trong công tác quản lý

phát thanh truyền hình đề ra các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý phát thanh

truyền hình tại địa phương. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, ph biến, giáo dục

pháp luật sâu rộng đến các cơ quan, đơn vị, hu dân cư nhằm nâng cao nhận thức, ý

thức trách nhiệm trong việc tuân thủ pháp luật, xem đây là nghĩa vụ, trách nhiệm

của các cơ quan, đơn vị nhất là tuyên truyền các quy định về thực hiện nếp sống văn

minh đô thị, ban hành các chính sách mới, từ đ đ i mới tích cực hoạt động quản lý

Nhà nước về PTTH, tạo sức bật cho các đài PTTH phát triển.

Nguyễn Thị Thùy Linh (2020), đề tài “Phát thanh, truyền hình - những vấn đề

lý luận và thực tiễn”, Trường Học viện Chính trị, tác giả dựa trên các văn bản pháp

luật hiện hành và cách thực thi luận văn này sẽ giúp làm rõ được công tác xử lý vi

phạm hành chính trong hoạt động phát thanh truyền hình. Từ thực tiễn làm cơ sở để

làm rõ các vướng mắc, bật cập trong chính sách, pháp luật để iến nghị cấp c thẩm

quyền sửa đ i, b sung phù hợp; phát hiện những tồn tại hạn chế trong quản lý để c

biện pháp hắc phục; đồng thời iến nghị cấp c thẩm quyền xem xét trách nhiệm

của các t chức, cá nhân được giao nhiệm vụ nhưng buông lỏng quản lý, thiếu tinh

thần trách nhiệm trong thực thi công vụ. Đây được xem là bước đột phá, then chốt để

g p phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả về quản lý phát thanh truyền hình.

Trần Minh Thuận (2020), đề tài “Các quan điểm của Đảng về phát thanh,

truyền hình trong thời kỳ đổi mới”, Học viện hành chính Quốc gia, luận văn này sẽ

tiếp thu được những inh nghiệm, những iến nghị hợp lý để nâng cao hiệu quả

công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động phát thanh truyền hình đồng thời luận

6

văn tìm ra được những yếu ém còn tồn tại trong công tác quản lý nhà nước về phát

thanh truyền hình, những bất cập của chính sách, pháp luật của hệ thống cơ quan

hành chính nhà nước trong lĩnh vực này, từ đ đề xuất những giải pháp phù hợp

nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nước. Từ đ nâng cao sự cần thiết phải tăng cường

hoạt động quản lý nhà nước về quản lý PTTH (chỉ ra những huyết điểm, nguyên

nhân hạn chế của quản lý nhà nước về phát thanh truyền hình, chống thất thoát lãng

phí trong hoạt động phát thanh truyền hình).

- Bài báo Phát thanh-Truyền hình trong ỷ nguyên số, ngày 16/6/2023

Liệu truyền thông số phát triển đến mức thay thế hoàn toàn các hình thức

truyền thông truyền thống hay hông, đ là câu hỏi mà chưa ai c thể trả lời thỏa

đáng. Tuy nhiên, điều hông thể phủ nhận là chuyển đ i số trong truyền thông là

xu thế tất yếu. Và tất nhiên, việc chuyển đ i số sẽ giúp định vị lại vai trò của

phát thanh, truyền hình, n hông chỉ tạo ra h hăn, thách thức mà còn mang

lại rất nhiều cơ hội mới. Theo thống ê, năm 2022, cứ 10 người dân trên thế giới

thì c 7 người sử dụng điện thoại di động, 62% số dân tiếp cận internet và 60%

số dân c tài hoản mạng xã hội. Tại Việt Nam, hiện c hoảng 70 triệu người

dùng internet và c hơn 50 triệu người tham gia các mạng xã hội. Những con số

biết n i này là minh chứng cho sự bùng n hông thể chối từ của thế hệ công dân

số toàn cầu, và tất nhiên cũng là nhữ ng hán, thính giả số, mục tiêu của các đài

phát thanh, truyền hình.

Báo inh tế Giải pháp phát triển bền vững quản lý hoạt động phát thanh,

truyền hình, ngày 18/06/2023. Hội thảo với sự tham dự của hơn 190 đại biểu đến từ

các Đài phát thanh truyền hình (PTTH) trên cả nước, đại diện lãnh đạo một số đơn

vị chức năng của Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Tài chính, Bộ Văn h a thể thao

và Du lịch. Đây là một trong những hoạt động nằm trong chương trình công tác

năm 2023 của Bộ Thông tin và Truyền thông; đồng thời cũng là sự iện nằm trong

Dự án "Phát triển báo chí Việt Nam giai đoạn 2020-2024" năm thứ 4 với sự đồng

hành của Công ty C phần Sữa Việt Nam (Vinamil ). Hội thảo được t chức nhằm

mục đích để giám đốc, t ng giám đốc các Đài PTTH c dịp trao đ i trực tiếp với

7

lãnh đạo Bộ Thông tin Truyền thông về các h hăn, vướng mắc trong hoạt động

phát thanh, truyền hình thời gian vừa qua; là dịp để các đơn vị chức năng của Bộ

Thông tin và Truyền thông, của các bộ ngành c liên quan trao đ i, thảo luận, giải

đáp trực tiếp các iến nghị của các đài PTTH.

Hầu hết các công trình nghiên cứu trong thời gian qua đã hái quát quá trình

hình thành và phát triển của phát thanh, truyền hình Việt Nam, hẳng định vị trí, vai

trò quan trọng của phát thanh, truyền hình và sự cần thiết phải quản lý nhà nước về

phát thanh, truyền hình, trong đ c PT-TH. Tuy nhiên, trong nhóm các công trình

khoa học đã công bố, hầu hết chỉ tập trung nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng,

hoạt động quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình còn há thiếu hụt, hơn nữa

các công trình nghiên cứu đều đã được nghiên cứu từ 5 đến 10 năm trước, do vậy,

nhiều vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn chưa được đề cập ịp thời. Chưa c nhiều

công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý nhà nước về PT-TH. Riêng đối với tỉnh

Quảng Bình thì chưa có công trình nghiên cứu nào. Với mục đích nâng cao vai

trò của quản lý nhà nước đối với PT-TH để PT-TH phát triển và c nhiều đ ng góp

cho sự phát triển của đất nước, việc lựa chọn đề tài của luận văn là phù hợp và đảm

bảo không có sự trùng lặp.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là phân tích thực trạng quản lý Nhà nước

về phát thanh, truyền hình của tỉnh Quảng Bình, đánh giá những điểm mạnh, điểm

yếu trong công tác QLNN về phát thanh, truyền hình, từ đ đề xuất những giải pháp

nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN về phát thanh, truyền hình trên địa bàn

tỉnh Quảng Bình.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Với mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:

- T ng quan cơ sở lý luận và thực tiễn QLNN về PT-TH

- Phân tích thực trạng QLNN về PT-TH tỉnh Quảng Bình.

8

- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN về PT-TH trên địa

bàn tỉnh Quảng Bình.

4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là hoạt động quản lý nhà nước về PT-TH tại tỉnh

Quảng Bình; những quy định pháp luật về quản lý nhà nước đối với hoạt động PT -

TH. Đề tài sẽ không đề cập các nội dung liên quan đến vấn đề nghiệp vụ.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Nghiên cứu QLNN về PT-TH tỉnh Quảng Bình.

- Về thời gian: nghiên cứu trong giai đoạn 2019 - 2022

- Về hông gian: trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.

5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận

Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư

tưởng Hồ Chí Minh, ết hợp với các quan điểm, đường lối chính sách của Đảng về

công tác PT-TH và QLNN về PT-TH. Ngoài ra, luận văn sử dụng cách tiếp cận theo

hệ thống, đa ngành, liên ngành về hoa học xã hội, tiếp cận dựa trên phương pháp

nghiên cứu quy phạm để thực hiện các mục tiêu đề ra.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, luận văn sử dụng t ng hợp nhiều phương

pháp nghiên cứu, trong đ chú trọng các phương pháp dưới đây:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Tác giả sử dụng phương này để

nghiên cứu các tài liệu sẵn c (sách, báo hoa học, luận văn, luận án, văn bản quản

lý của nhà nước, các báo cáo...) liên quan đến QLNN về PT-TH và thực trạng

QLNN về PT-TH trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.

- Phương pháp thống kê mô tả: Tác giả sử dụng phương pháp này để xử lý

và trình bày ết quả nghiên cứu; ết hợp cùng các phương pháp thống ê, hái quát

thực tiễn, phân tích định tính, suy luận logic, diễn giải trong quá trình phân tích,

đánh giá chính sách.

9

- Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp: Tác giả sử dụng các phương

pháp này để phân tích cơ sở lý luận, phân tích thực trạng, đối chiếu giữa thực tế và

lý luận, từ đ t ng hợp lại thành những quan điểm, luận điểm, những ết luận.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ g p phần làm rõ một số vấn đề lý luận

cơ bản liên quan đến QLNN về PT-TH ở Việt Nam n i chung và ở đơn vị hành

chính cấp tỉnh n i riêng. Qua đ , cung cấp cơ sở phương pháp luận giúp cán bộ,

công chức trong các cơ quan, t chức nhìn nhận đúng đắn tầm quan trọng, vai trò vị

trí của QLNN đối với PT-TH đối với việc phát triển KT - XH địa phương, nâng cao

đời sống nhân dân.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Thông qua việc thực hiện các giải pháp mà luận văn đề xuất, đề tài g p phần

nâng cao hiệu quả thực hiện QLNN về PT-TH trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, g p

phần thúc đẩy phát triển KT - XH địa phương;

Ngoài ra, luận văn c giá trị làm tài liệu tham hảo, vận dụng vào hoạt động

thực tiễn của các cơ quan t chức trong HTCT ở địa phương, g p phần nâng cao

trình độ chuyên môn, ỹ năng, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức

tham gia QLNN đối với PT-TH.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham hảo, luận văn được

ết cấu gồm 3 chương:

Chương 1. Cơ sở lý luận Quản lý nhà nước về Phát thanh truyền hình.

Chương 2. Thực trạng Quản lý nhà nước về Phát thanh truyền hình trên địa

bàn tỉnh Quảng Bình.

Chương 3. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện Quản lý nhà nước về Phát

thanh truyền hình trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.

10

Chương 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC

VỀ PHÁT THANH, TRUYỀN HÌNH

1.1. Khái niệm, vai trò của quản lý nhà nƣớc về phát thanh, truyền hình

1.1.1. Khái niệm về phát thanh, truyền hình

1.1.1.1. Khái niệm về phát thanh

Phát thanh là loại hình báo chí sử dụng ngôn ngữ âm thanh t ng hợp, bao gồm

lời n i, tiếng động, âm nhạc, tác động trực tiếp vào thính giác của đối tượng tiếp nhận.

Trong ba thành tố của ngôn ngữ phát thanh, lời n i đ ng vai trò then chốt. Lời n i cung

cấp thông tin, chuyên chở tư tưởng, hơi dậy cảm xúc, là cầu nối hữu hiệu giữa đài

phát thanh và công chúng thính giả. [Theo Nguyễn Đức Bình, 2015]

Cũng như lời n i tự nhiên của con người, lời n i báo phát thanh được tạo

thành từ ba yếu tố: từ vựng, ngữ pháp, ngữ âm (mà đứng ở bình diện báo phát

thanh, c thể gọi đại ý là ngôn từ và cách đọc, nói trên sóng). Ba yếu tố này c mối

quan hệ chặt chẽ, bình đẳng trong việc giúp lời n i thực hiện chức năng thông tin,

tuyên truyền. Chúng đồng thời cũng là phương tiện cơ bản nhất để nhà báo sáng tạo

tác phẩm. Bằng cách đan dệt ngôn từ thành câu, thành bài, bằng hả năng sử dụng

giọng đọc, giọng n i truyền cảm, nhà báo phát thanh c thể vẽ lên trong tâm trí

thính giả một thế giới hiện thực vô cùng sống động, phong phú, c thể đưa người

nghe đến bất cứ nơi đâu, gặp gỡ bất ỳ ai... Sự hác biệt giữa cây bút phát thanh tài

năng và cây bút bình thường c thể nằm ở cách dùng từ, đặt câu. Sự hác biệt giữa

một giọng đọc tài năng và giọng đọc trung bình c thể nằm ở hả năng vận dụng

các yếu tố tốc độ, cao độ, cường độ, trường độ, nhịp độ, âm sắc...

Chính thế, mỗi nhà báo phát thanh cần nắm vững cách thức sử dụng từ vựng,

ngữ pháp, nắm vững các thủ pháp đọc, n i trên s ng. Để giúp nhà báo thực hiện

được điều đ , cần c những hảo sát, đánh giá thực tiễn một cách cụ thể, chính xác,

từ đ , c những luận giải mang tính hoa học về cách thức nhà báo sử dụng lời n i

phát thanh của những người làm công tác nghiên cứu.

11

Trên phương diện lý thuyết, từ trước tới nay, ở Việt Nam, hầu như chưa c

công trình nghiên cứu nào thật sự hoàn chỉnh về lời nói báo phát thanh. Vì vậy,

những câu hỏi tưởng hông mới, như: Nhà báo phát thanh Việt Nam hiện nay đang

sử dụng lời nói như thế nào? Có vấn đề gì đang đặt ra từ thực trạng đó? Nhà

báo nên sử dụng từ vựng phát thanh ra sao? Nên đặt câu như thế nào? Nên vận dụng

các yếu tố tốc độ, cao độ, cường độ, trường độ... theo cách thức gì để có thể đọc, nói

một cách truyền cảm, hấp dẫn trên sóng? đến nay vẫn chưa c lời giải đáp thỏa đáng.

1.1.1.2. Khái niệm về truyền hình

Truyền hình là một loại hình truyền thông đại chúng chuyển tải thông tin

bằng hình ảnh và âm thanh về một vật thể hoặc một cảnh đi xa bằng s ng vô tuyến

điện. [Theo Lê Thanh Bình, 2022]

Truyền hình xuất hiện vào đầu thế ỷ thứ XX và phát triển với tốc độ như vũ

bão nhờ sự tiến bộ của hoa học ỹ thuật và công nghệ, tạo ra một ênh thông tin

quan trọng trong đời sống xã hội. Ngày nay, truyền hình là phương tiện thiết yếu

cho mỗi gia đình, mỗi quốc gia, dân tộc. Truyền hình trở thành vũ hí, công cụ sắc

bén trên mặt trận tư tưởng văn h a cũng như lĩnh vực inh tế xã hội. Ở thập ỷ 50

của thế ỷ XX, truyền hình chỉ được sử dụng như là công cụ giải trí, rồi thêm chức

năng thông tin. Dần dần truyền hình đã trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý và

giám sát xã hội, tạo lập và định hướng dư luận, giáo dục và ph biến iến thức, phát

triển văn h a, quảng cáo và các dịch vụ hác. Sự ra đời của truyền hình đã g p phần

làm cho hệ thống truyền thông đại chúng càng thêm hùng mạnh, hông chỉ tăng về

số lượng mà còn tăng về chất lượng. Công chúng của truyền hình ngày càng đông

đảo trên hắp hành tinh. Với những ưu thế về ỹ thuật và công nghệ, truyền hình đã

làm cho cuộc sống như được cô đọng lại, làm giàu thêm ý nghĩa, sáng tỏ hơn về

hình thức và phong phú hơn về nội dung.

1.1.1.3 Khái niệm đặc điểm của phát thanh, truyền hình

Dịch vụ phát thanh, truyền hình được định nghĩa tại khoản 1 Điều 3 Nghị

định 06/2016/NĐ-CP quy định quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ phát thanh,

truyền hình như sau:

12

Phát thanh, truyền hình là dịch vụ ứng dụng viễn thông để cung cấp nguyên

vẹn các ênh chương trình trong nước, ênh chương trình nước ngoài và dịch vụ giá

trị gia tăng trên hạ tầng kỹ thuật truyền dẫn phát sóng phát thanh, truyền hình đến

người sử dụng. Dịch vụ phát thanh, truyền hình có thể được cung cấp trực tiếp đến

người sử dụng dịch vụ không qua thiết bị lưu trữ, làm chậm (dịch vụ truyền hình

trực tuyến) hoặc theo yêu cầu riêng biệt của thuê bao sử dụng dịch vụ (dịch vụ theo

yêu cầu).

Đặc điểm của phát thanh truyền hình:

Theo Nghị định số 08/2017/NĐ-CP quy định, Phát thanh truyền hình mặc dù

là một loại hình báo chí nhưng bên cạnh những đặc điểm chung của báo chí nó còn

có những đặc điểm riêng biệt mang đặc trưng của phát thanh, truyền hình như sau:

Thứ nhất, Tính thời sự

Tính thời sự là đặc điểm chung của báo chí. Nhưng phát thanh, truyền hình

với tư cách là một phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại có khả năng thông

tin nhanh chóng, kịp thời hơn so với các loại phương tiện khác. Với phát thanh,

truyền hình, sự kiện được phản ánh ngay lập tức khi nó vừa mới diễn ra thậm chí

hi n đang diễn ra, người xem có thể quan sát một cách chi tiết, tường tận qua

truyền hình trực tiếp và cầu truyền hình. Phát thanh, truyền hình có khả năng phát

sóng liên tục 24/24h trong ngày, luôn mang đến cho người xem những thông tin

nóng h i nhất về các sự kiện diễn ra, cập nhật những tin tức mới nhất. Đây là ưu thế

đặc biệt của phát thanh, truyền hình so với các loại hình báo chí khác.

Nhờ các thiết bị kỹ thuật hiện đại phát thanh, truyền hình c đặc trưng cơ bản

là truyền trực tiếp cả hình ảnh và âm thanh trong cùng một thời gian về cùng một sự

kiện, sự việc khi sự kiện diễn ra phát thanh báo tin, phát thanh, truyền hình trình

bày và báo in giảng giải nó.

Thứ hai, Ngôn ngữ phát thanh, truyền hình là ngôn ngữ hình ảnh và âm

thanh

Một ưu thế của phát thanh, truyền hình chính là đã truyền tải cả hình ảnh và

âm thanh cùng một lúc. Khác với báo in, người đọc chỉ tiếp nhận bằng con đường

13

thị giác, phát thanh bằng con đường thính giác, khán giả tiếp cận sự kiện bằng cả thị

giác và thính giác. Qua các cuộc nghiên cứu người ta thấy 70% lượng thông tin con

người thu được là qua thị giác và 20% qua thính giác. Do vậy phát thanh, truyền

hình trở thành một phương tiện cung cấp thông tin rất lớn, c độ tin cậy cao, có khả

năng làm thay đ i nhận thức của con người trước sự kiện.

Thứ ba, Tính phổ cập và quảng bá

Do những ưư thế về hình ảnh và âm thanh, phát thanh, truyền hình có khả

năng thu hút hàng tỉ người xem cùng một lúc. Cùng với sự phát triển của khoa học

và công nghệ phát thanh, truyền hình ngày càng mở rộng phạm vi phủ sóng phục vụ

được nhiều đối tượng người xem ở vùng sâu, vùng xa. Tính quảng bá của phát

thanh, truyền hình còn thể hiện ở chỗ một sự kiện xảy ra ở bất ì đâu được đưa lên

vệ tinh sẽ truyền đi hắp cả thế giới, được hàng tỉ người biết đến. Ngày nay ngồi tại

phòng nhưng người ta vẫn có thể nắm bắt được sự kiện diễn ra trên thế giới.

Thứ tư, Khả năng thuyết phục công chúng

Phát thanh, truyền hình đem đến cho khán giả cùng lúc hai tín hiệu cơ bản là

hình ảnh và âm thanh đem lại độ tin cậy, thông tin cao cho công chúng, có khả năng

tác động mạnh mẽ vào nhận thức của con người. Phát thanh, truyền hình có khả

năng truyền tải một cách chân thực hình ảnh của sự kiện đi xa nên đáp ứng yêu cầu

chứng kiến tận mắt của công chúng. Trăm nghe hông bằng mắt thấy, chính phát

thanh, truyền hình đã cung cấp những hình ảnh về sự kiện thỏa mãn nhu cầu thấy

của người xem.

Thứ năm, Khả năng tác động dư luận xã hội mạnh mẽ và trở thành diễn

đàn của nhân dân

Các chương trình phát thanh, truyền hình mang tính thời sự, cập nhật, nóng

h i, hấp dẫn người xem bằng cả hình ảnh, âm thanh và lời bình, vừa cho người xem

thấy được thực tế của vấn đề vừa tác động vào nhận thức của công chúng. Vì vậy,

phát thanh, truyền hình có khả năng tác động vào dư luận mạnh mẽ. Các chương

trình của Đài truyền hình Việt Nam như các chuyên mục Sự kiện và bình luận, Đối

thoại trực tiếp, Chào bu i sáng của ban Thời sự VTV1 không chỉ tác động dư luận

14

mà còn định hướng dư luận, hướng dẫn dư luận phù hợp với sự phát triển của xã hội

và các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

1.1.1.4. Vai trò, chức năng của phát thanh, truyền hình trong đời sống xã hội.

Trong bối cảnh thế giới c nhiều biến động như hiện nay, phát thanh truyền

hình là một phương tiện giúp ết nối cộng đồng, là nguồn cung cấp thông tin quan

trọng. Chúng ta phải công nhận về sức mạnh của phát thanh là một phương tiện

truyền thông vô cùng hiệu quả, n giúp ết nối mọi người gần nhau hơn, thúc đẩy

các cuộc đối thoại tích cực hơn. Phát thanh truyền hình là một phương tiện truyền

thông giá rẻ, một công cụ truyền tải thông tin hiệu quả, nên phát thanh vẫn đến

được với nhiều người dân ở hắp nơi trên thế giới hơn cả điện thoại thông minh và

truyền hình. Đây cũng là phương tiện hàng đầu đến với người dân hi họ hông

được tiếp cận với internet và đặc biệt những người ở vùng sâu, vùng xa, biên giới và

hải đảo và cả những người dễ bị t n thương, những người huyết tật, hiếm thị,

thanh niên phụ nữ và người nghèo…

Phát thanh truyền hình là một phương tiện truyền thông đã c từ đầu thế ỷ

19 sau hi c sự ra đời của s ng vô tuyến. Trong bối cảnh thế giới đang bước vào

một ỉ nguyên bùng n thông tin với sự ph cập của điện thoại thông minh và nhiều

phương tiện truyền thông đa phương tiện hác nhưng phát thanh vẫn c những lợi

thế riêng của n mà các loại hình truyền thông hác hông c được đ là: những

người tham gia giao thông, người lao động chân tay, đồng bào ở vùng sâu, vùng xa

biên giới và hải đảo. Nếu trên đất liền hông c phát thanh thì c truyền hình,

hông c truyền hình thì c Internet để nghe, để xem nhưng hi ngư dân ra hơi,

cách đất liền hàng trăm hải lý, đằng đẵng hàng tháng trời thì hông c phương tiện

nào hác ngoài phát thanh. C ngư dân đã n i với tôi rằng: hi ra hơi chỉ toàn

s ng, gi và nước mà được nghe thấy tiếng người (tiếng đài) tôi cảm thấy gần đất

liền hơn, yên tâm hơn." Ngoài ra hi c thiên tai, địch họa xảy ra ở cả một vùng,

ngăn cách giữa các hu vực hàng nhiều chục m thì các phương tiện thông tin đến

với người dân lúc đ chỉ c thể là chiếc radio.

15

Chúng ta đang sống trong ỷ nguyên số (xã hội số, inh tế số, chính phủ số,

nền văn h a số…), ỷ nguyên của IoT, của Big Data và AI, …chính n đã tạo nên

một thế giới phẳng, chính n đã lập lại cả trật tự của thế giới, đã làm thay đ i cả tâm

lý, tập quán…của con người và đặc biệt gần đây do đại dịch Covid-19 mà tốc độ

chuyển đ i số ở các quốc gia đã diễn ra nhanh hơn chúng ta tưởng. Đầu tháng

5/2020, Bộ Thông tin &Truyền thông đã t chức một cuộc hội thảo với cái tên vừa

hài hước nhưng lại rất hấp dẫn và thực tế.

Như vậy c thể n i rằng trong ỷ nguyên số phát thanh truyền hình vẫn

hông hề bị các loại hình truyền thông hác lấn át, các phương thức truyền dẫn số

trên phát thanh mặt đất, trên các ứng dụng trên nền tảng Internet chỉ là phát triển

thêm phương thức truyền dẫn mới chứ chưa thể thay thế các phương thức truyền

dẫn trên nền tảng truyền thống hiện nay.

1.1.2. Khái niệm, vai trò quản lý nhà nước đối với phát thanh, truyền hình

1.1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước

Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước, được thực hiện

bởi cơ quan nhà nước để duy trì, xác lập trật tự xã hội n định từ đ phát triển xã

hội theo mục tiêu đã đề ra. Quản lý nhà nước là quản lý xã hội dựa trên quyền lực

nhà nước nhằm điều chỉnh quan hệ trong xã hội. Các cơ quan trong bộ máy nhà

nước thực hiện quản lý nhà nước nhằm thực hiện chức năng đối, đối ngoại và được

đảm bảo bằng quyền lực cưỡng chế của Nhà nước.[Theo Nguyễn Đức Bình, 2017]

Theo nghĩa hái quát, quản lý nhà nước là hoạt động duy trì sự vận hành

dưới một thực thể thống nhất cho tất cả các hoạt động của bộ máy nhà nước về toàn

bộ ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Theo nghĩa cụ thể, quản lý nhà nước

bao gồm việc hướng dẫn pháp lý, điều hành và quản lý hành chính được thực hiện

bởi các cơ quan hành pháp, bằng cách sử dụng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước.

Quá trình quản lý nhà nước bắt đầu bằng việc xác định mục tiêu cho đến hi nhận

lại ết quả thực tế, g i gọn thành một chu ỳ quản lý c tính liên tục và tiếp tuyến.

Quản lý nhà nước xuất hiện trong mọi t chức, tập thể của nhà nước.

16

Chủ thể quản lý nhà nước là cá nhân hoặc cơ quan c thẩm quyền trong bộ máy

của nhà nước. Cá nhân hoặc cơ quan này c quyền được nhân danh quyền lực nhà

nước để thực hiện quản lý và sử dụng pháp luật như một công cụ để quản lý nhà nước.

Đối tượng quản lý nhà nước bao gồm các cơ quan, t chức và cá nhân trong

một quốc gia, trong đ diễn ra các hoạt động sinh hoạt và đời sống xã hội trên từng

lĩnh vực hác nhau. Quản lý nhà nước c giới hạn trong phạm vi lãnh th quốc gia

và hác biệt với quản lý c tính chất nội bộ của một t chức xã hội, đoàn thể, đơn

vị, xí nghiệp hoặc một cộng đồng dân cư c tính tự quản. Tính điều chỉnh trong

trường hợp này c nghĩa là nhà nước sử dụng các công cụ pháp luật.

1.1.2.2. Khái niệm quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình

Quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình là quá trình tác động, điều

chỉnh của Nhà nước đối với hoạt động phát thanh, truyền hình, để hoạt động này

diễn ra theo đúng qui định của pháp luật. Hay nói cách khác, quản lý nhà nước về

phát thanh, truyền hình là thực hiện ý chí quyền lực của nhà nước trong hoạt động

phát thanh, truyền hình. Bằng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, Nhà nước

vừa thể hiện ý chí của mình đố i vớ i hoạt động phát thanh, truyền hình vừa tạo lập

một hành lang pháp lý để các chủ thể tham gia hoạt động phát thanh, truyền hình tự

do hoạt động trong khuôn kh pháp luật cho phép và phục vụ tốt những mục tiêu

của xã hội.[Lê Thanh Bình, 2022]

Nhà nước quản lý và sử dụng hoạt động phát thanh, truyền hình như một

công cụ phục vụ cho mục tiêu quản lý xã hội ở lĩnh vực văn h a tư tưởng. Hướng

hoạt động phát thanh, truyền hình thực hiện tốt chức năng thông tin tuyên truyền

đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; phục vụ sự

nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và xây dựng con người mới. Thông qua công

cụ quản lý, Nhà nước hỗ trợ cho hoạt động phát thanh, truyền hình như: giảm hoặc

miễn thuế, đặt hàng, trợ cước phát hành, trợ giá xuất bản để tạo điều kiện cho hoạt

động xuất bản phát triển toàn diện phục vụ có hiệu quả các chính sách xã hội, giảm

dần sự khác biệt về mức hưởng thụ văn hoá giữa các vùng miền.

17

Nhà nước kịp thời can thiệp vào những xu hướng tiêu cực của hoạt động phát

thanh, truyền hình, như: xu hướng thương mại hoá, chạy theo thị hiếu tầm thường;

xử lý các vi phạm nhằm làm cho hoạt động phát thanh, truyền hình đúng định

hướng chính trị, đúng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của

Nhà nước.

Tóm lại, Quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình là n i đến những hoạt

động của bộ máy nhà nước nhằm bảo đảm cho hoạt động phát thanh, truyền hình

được n định và phù hợp với xu thế phát triển chung của xã hội. Quản lý nhà nước

về phát thanh, truyền hình cũng như bất kỳ một dạng quản lý xã hội nào khác, là

dạng quản lý công vụ quốc gia của bộ máy nhà nước – là công việc của bộ máy

hành pháp. Nó là sự tác động có t chức và được điều chỉnh bằng pháp luật, trên

cư sở quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hoạt động báo chí do

các cơ quan có thẩm quyền trong hệ thống hành pháp từ trung ương đến cơ sở tiến

hành để thực hiện chức năng nhiệm vụ của nhà nước, phát triển các mối quan hệ xã

hội, thỏa mãn nhu cầu tự do phát thanh, truyền hình của công dân.

1.1.2.3. Vai trò của quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình

Thứ nhất, quản lý nhà nước về phát thanh truyền hình góp phần triển khai

đường lối, chủ trương của Đảng về công tác phát thanh, truyền hình:

Quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình có vai trò quan trọng trong

việc triển hai đường lối, chính sách của Đảng về công tác phát thanh, truyền hình.

Chủ trương của Đảng là cơ sở, nền tảng tư tưởng của hệ thống pháp luật Việt Nam

và pháp luật về phát thanh, truyền hình. Pháp luật với những thuộc tính về tính bắt

buộc chung và được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước là

phương tiện để thực hiện hiệu quả nhất chủ trương, đường lối của Đảng và pháp

luật của Nhà nước về phát thanh, truyền hình.

Thời gian qua, phát thanh, truyền hình cả nước đã thực hiện đúng sự chỉ

đạo, định hướng thông tin của Đảng, Nhà nước, thông tin nhanh nhạy, toàn diện

mọi diễn biến của đời sống chính trị, kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế và là

diễn đàn thực sự tin cậy của nhân dân. Đáng chú ý là phát thanh, truyền hình đã

18

tuyên truyền sâu rộng về những sự kiện n i bật, những nhiệm vụ quan trọng, cấp

bách của đất nước như Hội nghị lần thứ 4,5,6 của Ban chấp hành Trung ương Đảng

khoá XII; Kỳ họp thứ 3,4 Quốc hội khóa XIII, công tác xây dựng Hiến pháp và

pháp luật, nhất là việc lấy ý kiến của các tầng lớp nhân dân xây dựng Dự thảo Hiến

pháp năm 2013 và các văn bản pháp luật hác…

Phát thanh, truyền hình đã bám sát đời sống xã hội, cung cấp những thông tin đa

chiều, sâu sắc; tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước hiệu quả.

Vai trò của phát thanh, truyền hình ngày càng nâng cao trong đời sống xã hội, đặc

biệt là trong quá trình đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí.

Thứ hai, quản lý nhà nước về phát thanh truyền hình góp phần đấu tranh

bảo đảm công lý, công bằng và trật tự xã hội và bảo đảm quyền con người:

Quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình có vai trò quan trọng trong việc

góp phần bảo đảm công lý, công bằng và trật tự xã hội và bảo đảm quyền con người.

Xã hội thông tin ngày nay với sự tác động tiêu cực của các thế lực thù địch bên

ngoài, nếu không thông tin tốt thì những bức xúc của người dân cũng sẽ dễ dàng

bùng phát trở thành các vấn đề xã hội, đe dọa tình hình an ninh chính trị.

Thứ ba, quản lý Nhà nước về phát thanh, truyền hình góp phần thúc đẩy tiến

trình hội nhập quốc tế:

Quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình trong điều kiện phát triển mạnh

mẽ của truyền thông xã hội đòi hỏi phải c phương pháp tiếp cận mới. Trên bình

diện quốc tế, cuộc cách mạng công nghệ thông tin đã làm thay đ i cách thức

truyền tải và tiếp nhận thông tin trên toàn cầu. Toàn cầu hóa thông tin đang đặt ra

cho chúng ta nhiều vấn đề trong công tác chỉ đạo, quản lý thông tin. Quản lý nhà

nước về phát thanh, truyền hình trong bối cảnh truyền thông xã hội phát triển đòi

hỏi phải hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật để tạo điều kiện cho các cơ quan

phát thanh, truyền hình nhà nước tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trong việc chi phối,

định hướng dư luận xã hội; là việc làm chủ thông tin thông qua gia tăng cung cấp

thông tin chính thống cho phát thanh, truyền hình, là làm rõ cơ chế mở rộng tiếp cận

thông tin và phát huy dân chủ trong thông tin.

19

1.2. Nội dung quản lý nhà nƣớc đối với phát thanh, truyền hình

Quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình là hoạt động chấp hành và điều

hành của các cơ quan nhà nước, cá nhân c thẩm quyền được tiến hành trên cơ sở

pháp luật, nhằm iểm soát và bảo vệ hoạt động phát thanh, truyền hình. Để quản lý

nhà nước về phát thanh, truyền hình , các cơ quan nhà nước theo thẩm quyền phải

thực hiện các hoạt động xây dựng và ban hành các văn bản quản lý về phát thanh,

truyền hình; t chức thực hiện các văn bản quản lý về phát thanh, truyền hình; xử lý

vi phạm các quy định về phát thanh, truyền hình. Đây là ba khâu quan trọng của

quy trình quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình. Quản lý nhà nước về phát

thanh, truyền hình sẽ hông đạt được mục tiêu nếu thiếu đi một trong ba hâu đ .

Giữa ba hâu trong quy trình quản lý tồn tại mối quan hệ hăng hít hông thể tách

rời, n cấu thành nội dung của quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình .

Như vậy, c thể n i quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình là quá trình

các cơ quan, t chức và cá nhân c thẩm quyền được trao quyền lực nhà nước với

công cụ pháp luật để thực hiện các hoạt động cơ bản sau:

Thứ nhất, công tác xây dựng kế hoạch về phát thanh, truyền hình.

Để xây dựng một chương trình mục tiêu quốc gia, một chiến lược, các đề án,

dự án cần đảm bảo các điều iện sau đây:

Tập hợp cơ sở pháp lý, đánh giá thực trạng cơ sở của ngành, lĩnh vực, rút ra

những bài học inh nghiệm, những vấn đề cấp bách cần được giải quyết.

Căn cứ vào mục tiêu của chiến lược, ế hoạch phát triển KT-XH của đất

nước, của địa phương gắn với vấn đề bảo đảm quốc phòng, an ninh và hướng phát

triển của nghành, lĩnh vực, cam ết quốc tế để xây dựng mục tiêu chung, mục tiêu,

chỉ tiêu cụ thể cho từng giai đoạn.

Xác định thời hạn và tiến độ thực hiện, địa bàn và phạm vi tác động của của

chương trình mục tiêu đến từng ngành, từng lĩnh vực theo vùng và lãnh th .

Xác định các dự án cần thực hiện của chương trình, theo từng mục tiêu,

nhiệm vụ, thời gian và địa điểm thực hiện của từng dự án; cơ quan quản lý dự án,

sản phẩm đầu ra, đối tượng thụ hưởng của chương trình mục tiêu quốc gia.

20

Đề xuất inh phí cho từng dự án và t ng thể chương trình mục tiêu quốc gia

c phân chia theo từng năm phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ của chương trình mục

tiêu quốc gia; giải pháp về huy động vốn, inh phí, giải pháp về đầu tư nguồn lực.

Thứ hai, Công tác thể chế hoá các quy định của pháp luật về quản lý nhà

nước về Phát thanh, truyền hình

Hiến pháp năm 2013 ghi rõ Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến

pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật. Muốn quản lý bằng

pháp luật thì trước hết phải c luật pháp; luật pháp phải đúng, phải đủ. Để quản lý

nhà nước về phát thanh, truyền hình , đòi hỏi các cơ quan nhà nước phải ban hành

hệ thống văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh

trong các lĩnh vực c liên quan đến phát thanh, truyền hình. Xây dựng và ban hành

văn bản quy phạm pháp luật là ết quả của quá trình nhận thức về sự vận động, phát

triển của phát thanh, truyền hình. Trên cơ sở đ , xây dựng các thể chế quản lý phù

hợp, tạo lập hành lang pháp lý cho những quan hệ ấy phát triển theo đúng định

hướng của Nhà nước.

Nhà nước quy định thẩm quyền cho từng cơ quan trong việc xây dựng và ban

hành các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong

các lĩnh vực liên quan đến quản lý phát thanh, truyền hình. Căn cứ pháp lý cho hoạt

động này là Hiến pháp, Luật T chức Chính phủ, Luật T chức Chính quyền địa

phương, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật Xuất bản, Luật Báo chí...

Từ nguyên tắc Đảng lãnh đạo, quá trình xây dựng và ban hành các văn bản pháp

luật về phát thanh, truyền hình đã hiện thực h a các chủ trương, đường lối về phát

thanh, truyền hình của Đảng. Các chủ trương, đường lối về phát thanh, truyền hình

của Đảng tạo ra những cơ sở chính trị quan trọng cho quá trình ban hành các văn

bản pháp luật về phát thanh, truyền hình. Thực tiễn công tác lập pháp trong lĩnh vực

phát thanh, truyền hình trong thời gian qua đã cho thấy các chiến lược, chính sách

về phát thanh, truyền hình của Đảng. Tuy nhiên, hoạt động xây dựng và ban hành

văn bản pháp luật về phát thanh, truyền hình phải hẳng định được chức năng xã

hội của Nhà nước và pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội rất phức tạp

21

trong hoạt động phát thanh, truyền hình. Để quản lý nhà nước về phát thanh, truyền

hình , các cơ quan nhà nước c thẩm quyền phải ban hành được hệ thống văn bản

pháp luật về phát thanh, truyền hình phù hợp, tạo ra một công cụ pháp lý hữu hiệu

cho các cơ quan nhà nước c thẩm quyền thực hiện chức năng, nhiệm vụ của họ.

Thứ ba, tổ chức bộ máy và đội ng công chức quản lý Nhà nước về phát

thanh, truyền hình

Xác định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu t chức của t chức, đơn

vị. Trên cơ sở đ xác định vị trí việc làm cho từng cá nhân trong một t chức. Việc

xác định t chức bộ máy tùy vào cơ chế của nhà nước để xác định t chức bộ máy

đ hoạt động theo mô hình nào, theo cơ chế nào.

Thứ tư, tổ chức quản lý nhà nước và phối hợp quản lý nhà nước về phát

thanh, truyền hình.

T chức thực hiện pháp luật về phát thanh, truyền hình nhằm đưa các quy

phạm pháp luật về phát thanh, truyền hình vào điều chỉnh các quan hệ về lĩnh vực

phát thanh, truyền hình, được tiến hành trên hai bình diện chủ yếu là triển hai thực

hiện và áp dụng pháp luật về phát thanh, truyền hình.

- Về triển hai thực hiện pháp luật phát thanh, truyền hình: Trong phạm vi

thẩm quyền, các cơ quan quản lý nhà nước t chức triển hai các quy định trong các

văn bản pháp luật về phát thanh, truyền hình bằng việc tập huấn, hướng dẫn thực

hiện tại các cơ quan, đơn vị cơ sở, tuyên truyền ph biến giáo dục cho các đối tượng

quản lý bằng nhiều hình thức, biện pháp phù hợp.

- Về áp dụng pháp luật phát thanh, truyền hình: Đây là việc các cơ quan nhà

nước c thẩm quyền quản lý các lĩnh vực c liên quan về phát thanh, truyền hình

bằng các hoạt động nghiệp vụ, với trình độ chuyên môn cao của các cán bộ, công

chức c thẩm quyền, t chức cho các chủ thể tham gia hoạt động phát thanh, truyền

hình thực hiện những quy định của pháp luật về phát thanh, truyền hình để tạo ra

các quyết định làm phát sinh, thay đ i, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp

luật cụ thể trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình.

22

Với nội dung trên, hoạt động áp dụng pháp luật về phát thanh, truyền hình là

sự tác động quản lý bằng quyền lực nhà nước của các cơ quan c thẩm quyền và

một số cơ quan hác của Nhà nước được ủy quyền để thi hành pháp luật về phát

thanh, truyền hình. Đây là yếu tố quyết định sự tuân thủ nghiêm chỉnh các quy

phạm pháp luật về phát thanh, truyền hình.

T chức thực hiện pháp luật phát thanh, truyền hình là hoạt động quan trọng

của cơ quan hành chính nhà nước. Các bộ, ngành, địa phương hàng năm phải thực

hiện t ng ết hoạt động năm trước và đề ra nhiệm vụ năm sau. Đối với các văn bản

quy phạm pháp luật mới, còn phải lập chương trình hành động, xác định tiến độ

thực hiện, phân công cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp. Đây là cơ sở để tiến hành

giám sát, thanh tra, iểm tra, xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực phát thanh,

truyền hình.

Thứ năm, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật trong quản lý nhà

nước về phát thanh, truyền hình.

Thanh tra là một chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước, là hoạt động

iểm tra, xem xét việc làm của các cơ quan, t chức, cá nhân, thường được thực

hiện bởi một cơ quan chuyên trách, theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy

định, nhằm ết luận đúng, sai, đánh giá ưu, huyết điểm, phát huy nhân tố tích

cực, phòng ngừa xử lý các vi phạm, g p phần hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng

cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nước, các quyền, lợi ích

hợp pháp của cơ quan, t chức, cá nhân.

Từ cách hiểu đ , thanh tra quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình là

một chức năng thiết yếu của cơ quan chuyên trách thực hiện iểm tra các đối

tượng quản lý trên lĩnh vực liên quan đến phát thanh, truyền hình nhằm ịp thời

phát hiện, chấn chỉnh những sai lầm, xử lý vi phạm trong hoạt động chấp hành

các quy định pháp luật của nhà nước về phát thanh, truyền hình.

Kiểm tra là một hoạt động thường xuyên. Do tính chất này mà chúng ta

hông thể n i là đã c một hệ thống iểm tra hữu hiệu nếu chỉ c người lãnh

23

đạo t chức và những bộ phận t chức chuyên trách tham gia vào hoạt động

iểm tra công việc. Điều quan trọng là phải thành lập được hệ thống tự iểm tra

và một nề nếp iểm tra lẫn nhau trong nội bộ t chức và giữa hai nhân tố chủ

quan và hánh quan trong t chức hoặc hai nhân tố hác nhau trong cùng một

công việc.

Kiểm tra về phát thanh, truyền hình là việc xem xét các hành vi, hoạt động

chủ thể c chấp hành đúng các chủ trương, chính sách pháp luật nhà nước trên

các lĩnh vực phát thanh, truyền hình, từ đ xem xét các mức độ vi phạm để ịp

thời xử lý theo quy định.

Xử lý vi phạm pháp luật về phát thanh, truyền hình c thể được hiểu là

hoạt động của các chủ thể c thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật

hiện hành, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính hay hình sự đối

với các t chức, cá nhân vi phạm pháp luật trên các lĩnh vực về phát thanh,

truyền hình.

Vi phạm pháp luật về phát thanh, truyền hình c thể bao gồm: vi phạm

pháp luật dân sự; vi phạm pháp luật hành chính; vi phạm ỷ luật nhà nư ớc (chủ

yếu đối với cán bộ, công chức, viên chức hành chính trực tiếp hoạt động quản lý

nhà nước về phát thanh, truyền hình); vi phạm pháp luật hình sự.

Do vậy, xử lý vi phạm pháp luật về phát thanh, truyền hình c thể được

tiến hành ở hai mức độ: xử lý vi phạm hành chính và truy cứu trách nhiệm hình

sự đối với các hành vi vi pham pháp luật về phát thanh, truyền hình (tùy theo

từng trường hợp cụ thể)

Xử lý vi phạm hành chính về phát thanh, truyền hình chủ yếu là áp dụng

xử phạt vi phạm hành chính đối với cá nhân và t chức c hành vi cố ý hoặc vô ý

vi phạm quy định về phát thanh, truyền hình, các điều iện đảm bảo n định phát

thanh, truyền hình mà hông phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật

phải bị xử phạt hành chính.

24

1.3. Nguyên tắc và cách thức quản lý Nhà nƣớc đối với phát thanh, truyền hình

1.3.1. Nguyên t c quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình

Các hoạt động của phát thanh, truyền hình xét trên hình diện chung c ảnh

hưởng rất lớn đến đời sống xã hội. Vì vậy, muốn đảm bảo được các hoạt động này

đi vào huôn h đặt dưới sự điều chỉnh của pháp luật, chúng ta cần c những

nguyên tắc quản lý phù hợp. Đ là:

- Nguyên tắc tôn trọng quyền tự do phát thanh, truyền hình của công dân

Tôn trọng quyền tự do phát thanh, truyền hình là một nguyên tắc hiến định.

Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013. Thông qua phát

thanh, truyền hình, công dân c quyền nhận tin, đưa tin, quyền bày tỏ quan điểm

của mình về những vấn đề đã và đang xảy ra trong đời sống xã hội. Công dân cũng

c quyền tham gia ý iến với Đảng và Nhà nước về các chủ trương, chính sách lớn,

nhỏ. Tất cả điều này như là một biểu hiện huôn mẫu cho một xã hội dân chủ, xuất

phát từ lợi thế của phát thanh, truyền hình, vai trò của phát thanh, truyền hình trong

việc định hướng dư luận xã hội.

Để đảm bảo nguyên tắc này, Nhà nước cần phải luôn tạo ra những cơ chế

pháp lý phù hợp với các loại hình hoạt động phát thanh, truyền hình nhằm phục vụ

tốt nhất nhu cầu của đông đảo quần chúng nhân dân. Bên cạnh đ , Nhà nước cũng

cần đề ra một phương thức hướng các hoạt động phát thanh, truyền hình tuân thủ

pháp luật, nhằm tạo điều iện tốt để các cơ quan chức năng Nhà nước thuận lợi hơn

trong việc quản lý.

- Nguyên tắc đảm bảo quyền thụ hưởng thành quả hoạt động phát thanh,

truyền hình một cách bình đẳng của tất cả công dân

Bằng hoạt động của mình, phát thanh, truyền hình đã g p phần đáng ể vào

việc n định chính trị, phát triển inh tế và định hướng dư luận xã hội một cách tích

cực. Ở nước ta, pháp luật trong quản lý Nhà nước đối với phát thanh, truyền hình là

công cụ há quan trọng nhằm bảo tồn, phát triển nền văn h a dân tộc hiện đại, nhân

văn; tiếp thu tinh hoa văn h a và tiến bộ về hoa học, công nghệ của nhân loại, đảm

bảo cho quá trình hội nhập môi trường thông tin, phát thanh, truyền hình toàn cầu

25

được nhanh ch ng và thành công. Với điều iện đ , hoạt động phát thanh, truyền

hình ngày nay c những tiến bộ rõ rệt và đáp ứng há tốt nhu cầu thông tin của mọi

người dân quan tâm. Tất cả thành quả này của phát thanh, truyền hình cần được ph

cập đến toàn thể các đối tượng thụ hưởng hác nhau trong xã hội. Đây được xem

như một nguyên tắc biểu hiện tính nhân văn sâu sắc với mục tiêu nâng cao chất

lượng dân trí.

- Kiên quyết đấu tranh chống lợi dụng việc tôn trọng tự do phát thanh,

truyền hình làm trái pháp luật

Luật Báo chí 2016 một mặt hẳng định sự tôn trọng quyền tự do báo chí của

công dân, mặt hác đã tạo ra hành lang pháp lý ngăn chặn triệt để những âm mưu

này hi quy định: Ph ng viên, biên tập viên hoạt động trong huôn h pháp luật và

được Nhà nước bảo hộ; hông một t chức, cá nhân nào được hạn chế, cản trở

ph ng viên, biên tập viên hoạt động. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí,

quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tập thể và

công dân. Đây được xem như quan điểm chung nhất nhằm nghiêm cấm việc lợi

dụng quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên PTTH để phá hoại hoà bình, độc lập,

thống nhất đất nước, ích động bạo lực và tuyên truyền chiến tranh, tuyên truyền

trái với pháp luật, chính sách của Nhà nước; chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc;

gây rối trật tự công cộng, xâm phạm đến tính mạng, sức hỏe, danh dự, cản trở việc

thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân, hoạt động mê tín dị đoan và thực hiện các

hành vi vi phạm pháp luật. Mọi hành vi vi phạm đều được xử lý theo đúng quy định

của pháp luật.

1.3.2. Cách thức quản lý Nhà nước về phát thanh, truyền hình

Quản lý nhà nước về PT-TH đòi hỏi tất yếu khách quan, là nguyên tắc và

phương thức bắt buộc để huy động tối đa năng lực tác động của báo chí, truyền

thông vào mục đích phát triển đất nước, hạn chế đến mức thấp nhất những hiệu ứng

ngoài mong đợi. Quản lý nhà nước về PT-TH làm cho sức mạnh của kênh thông tin

này được phát huy cao nhất, để từ đ tập trung nguồn lực và mọi cố gắng vào phục

vụ mục đích phát triển đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng; tạo mọi điều kiện cho

26

PT-TH phát triển và phục vụ sự phát triển KT-XH của đất nước. Đồng thời nhằm

bảo đảm tự do ênh s ng này được thực hiện trong khuôn kh pháp luật, vì mục

tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nƣớc về dịch vụ phát thanh,

truyền hình

(1) Trách nhiệm của Bộ Thông tin và Truyền thông

- Chủ trì, phối hợp xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình Cơ

quan có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy

hoạch, ế hoạch, chính sách của Nhà nước đối với hoạt động dịch vụ phát thanh,

truyền hình;

- Chủ trì, phối hợp xây dựng, ban hành theo thẩm quyền các quy chuẩn ỹ

thuật đối với hạ tầng ỹ thuật cung cấp dịch vụ phát thanh, truyền hình;

- Quản lý nhà nước chuyên ngành về giá dịch vụ phát thanh, truyền hình;

d) Nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ hiện đại và xây dựng các quy

chuẩn ỹ thuật áp dụng trong hoạt động dịch vụ phát thanh, truyền hình; đào tạo,

bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụtrong hoạt động dịch vụ phát thanh, truyền hình;

- Quản lý và t chức thực hiện hợp tác quốc tế trong hoạt động dịch vụ phát

thanh, truyền hình;

- Cấp, cấp đ i, cấp lại, gia hạn, thu hồi các loại giấy phép, giấy chứng nhận

trong hoạt động dịch vụ phát thanh, truyền hình theo quy định của Luật Báo chí và

Nghị định này;

- Hướng dẫn thực hiện chế độ thông tin, báo cáo, thống kê và ban hành thống

nhất các biểu mẫu sử dụng trong hoạt động dịch vụ phát thanh, truyền hình;

h) Quản lý, thanh tra, iểm tra, giám sát, giải quyết hiếu nại, tố cáo, xử lý vi

phạm pháp luật trong hoạt động dịch vụ phát thanh, truyền hình theo thẩm quyền.

(2) Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc

Trung ương trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp

với Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động dịch vụ

phát thanh, truyền hình.

27

1.4. Các yếu tố ảnh hƣởng đến quản lý nhà nƣớc về phát thanh, truyền hình

1.4.1. Hệ thống thể chế về phát thanh, truyền hình

Theo giáo trình của Học viện Hành chính quốc gia, Thể chế bao gồm toàn bộ

các cơ quan nhà nước với hệ thống quy định do nhà nước xác lập trong hệ thống

văn bản pháp luật của nhà nước và được nhà nước sử dụng để điều chỉnh và tạo ra

các hành vi và mối quan hệ giữa nhà nước với công dân, các tổ chức nhằm thiết lập

trật tự kỷ cương xã hội.

Pháp luật - theo định nghĩa ph quát là "Toàn bộ các quy tắc xử sự do nhà

nước - đại diện cho xã hội đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của nhà nước,

được nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo một trật tự

có lợi cho nhà nước và xã hội". Vì xã hội là tổng hòa các mối quan hệ giữa người

và người" nên nội dung và phạm vi điều chỉnh của pháp luật cũng hết sức rộng rãi

và phức tạp, được phân chia thành các bộ phận pháp luật hác nhau, tương xứng với

các lĩnh vực hoạt động hác nhau của con người. Pháp luật về phát thanh, truyền

hình là một trong những bộ phận pháp luật đ .

Hệ thống thể chế về phát thanh truyền hình của các cơ quan hành chính nhà

nước về phát thanh truyền hình là sự tác động của quyền lực nhà nước đến các chủ

thể trong xã hội; công dân và t chức; thể nhân hay pháp nhân, công pháp hay tư

pháp (công quyền), mang đặc trưng cưỡng bức ết hợp với thuyết phục, giáo dục.

Thể chế hành chính nhà nước với một hệ thống pháp luật (bao gồm luật, các văn

bản pháp quy dưới luật) do cơ quan nhà nước c thẩm quyền ban hành là cơ sở pháp

lý cho các cơ quan hành chính nhà nước các cấp thực hiện quản lý, bảo đảm thống

nhất quản lý nhà nước trên phạm vi quốc gia.

Hệ thống pháp luật được đồng bộ, hoàn thiện sẽ là tiền đề, điều iện để các cá

nhân, t chức tham gia vào lính vực phát thanh, truyền hình thi hành. Vì vậy, pháp luật

càng rõ ràng, thống nhất là cở sở để cơ quan, t chức, cá nhân thực hiện đúng.

Trong thực tế hiện nay, các văn bản quy phạm pháp luật phát thanh, truyền

hình chưa được t ng hợp thành những bộ luật bao trùm nội dung của công tác này.

Vì vậy, các cơ quan phải sử dụng các cơ sở pháp lý nằm ở nhiều văn bản hác nhau.

28

Từ đ , cần gấp rút xây dựng hệ thống quy định quy chuẩn liên quan đến các hoạt

động phát thanh, truyền hình gắn liền với yêu cầu quản lý nhà nước.

1.4.2. Năng lực thực hiện pháp luật của bộ máy quản lý nhà nước về phát thanh,

truyền hình

Năng lực thực hiện pháp luật của bộ máy quản lý nhà nước về phát thanh,

truyền hình là yếu tố quyết định bảo đảm quản lý nhà nước về phát thanh, truyền

hình với những lý do sau:

Một là, Pháp luật là cơ sở của quản lý, nhưng nếu hông được thực hiện,

thực hiện hông đúng, hông ịp thời thì "pháp luật c cũng như hông". Vì lẽ đ ,

thực hiện pháp luật đầy đủ, chính xác, ịp thời là yếu tố quyết định hiệu lực, hiệu

quả quản lý, cho dù quản lý lĩnh vực nào, do cơ quan nhà nước nào tiến hành.

Nhưng điều đ , suy cho cùng là phụ thuộc vào năng lực thực hiện pháp luật của bộ

máy quản lý.

Hai là, Yếu tố c tính quyết định tạo thành năng lực thực hiện pháp luật của

bộ máy quản lý chính là tính hợp lý của bộ máy chính chính quyền các cấp. Một bộ

máy mạnh là bộ máy luôn thích ứng với mọi biến đ i xã hội, vì vậy nhận thức cần

hắc phục tư duy siêu hình trong t chức bộ máy, phải luôn tìm tòi sáng iến sao

cho bộ máy quản lý thường xuyên được đ i mới, cải cách, đáp ứng được tối đa nhu

cầu của quản lý xã hội, quản lý phát thanh, truyền hình, nhất là trong điều iện inh

tế thị trường, đô thị h a và hội nhập quốc tế.

Ba là, năng lực thực hiện pháp luật của bộ máy quản lý về phát thanh, truyền

hình ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý. Năng lực quản lý thể hiện ở việc

hoạch định, đưa ra các chính sách, quyết đoán phù hợp với thực tiễn địa phương.

Đồng thời, n i lên hả năng am hiểu các chủ trương, chính sách, c tài thuyết phục,

tuyên truyền nhân dân tự chấp hành các quy định pháp luật của nhà nước về phát

thanh, truyền hình. Mặt hác, c biện pháp và chủ động trong xây dựng ế hoạch

thanh tra, iểm tra, chấn chỉnh và xử lý ịp thời những sai phạm xảy ra, từ đ sẽ tạo

được uy tín, niềm tin trong nhân dân đối với cán bộ, công chức nhà nước.

29

1.4.3. Phẩm chất, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý

phát thanh, truyền hình

Với mặt trái của cơ chế thị trường đòi hỏi người cán bộ, công chức làm công

tác quản lý phát thanh, truyền hình phải c phẩm chất và trình độ nhất định. Như

chúng ta biết, trong các lĩnh vực quản lý nhà nước thì quản lý nhà nước về phát

thanh, truyền hình là lĩnh vực rất nhạy cảm, dễ sa vào tiêu cực trước những cò mồi,

chung chi của các đối tượng vi phạm nhằm giảm nhẹ hình thức vi phạm.

Vì vậy, đội ngũ làm công tác quản lý phát thanh, truyền hình, ngoài trình độ

chuyên môn, để c hả năng nhận định đúng tình hình, hệ quả các hành vi, hả

năng áp dụng các chế tài c liên quan đảm bảo thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy

định của pháp luật, còn đòi hỏi người cán bộ làm công tác này phải c phẩm chất

chính trị vững vàng, c đạo đức tốt, phân biệt đúng, sai, tránh sa vào những tiêu

cực, tệ nạn xã hội gây ảnh hưởng đến công tác quản lý và bất bình trong nhân dân.

1.4.4. Sự tham gia của nhân dân vào hoạt động quản lý nhà nước về phát thanh

truyền hình

Như chúng ta đã biết, nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì

nhân dân, vì vậy mọi chủ trương, chính sách và các hoạt động quản lý nhà nước đều

đảm bảo lợi ích của nhân dân. Bên cạnh đ , số lượng cán bộ phụ trách công tác

quản lý lĩnh vực phát thanh, truyền hình quá mỏng so với yêu cầu của nhiệm vụ trên

thực tế. Vì vậy, để hoàn thành nhiệm vụ, cần c sự tham gia tích cực của người dân,

nên cán bộ quản lý phát thanh, truyền hình phải biết phát huy lực lượng nồng cốt,

những người c uy tín và gắn b chặt chẽ với nhân dân, để nhân dân tin yêu mà làm

tai mắt, giúp đỡ cho lực lượng thực hiện nhiệm vụ. Trong thực tiễn cũng đã chứng

minh, ở nơi nào nhân dân tích cực, đồng tình với chủ trương, chính sách của Đảng,

pháp luật của nhà nước, đồng tình với cách làm việc của cán bộ, tận tình giúp đỡ

cán bộ thì ở nơi đ phát thanh, truyền hình được đảm bảo và an toàn. Thường xuyên

tham vấn ý iến người dân hi thực hiện quyền quản lý nhà nước về phát thanh,

truyền hình. C cơ chế chính sách bảo vệ và đãi ngộ đặc biệt với những người c

tinh thần trách nhiệm, mạnh dạn phản ảnh những hành vi sai phạm của cá nhân, t

30

chức vi phạm pháp luật về phát thanh, truyền hình, nhờ đ mà cơ quan quản lý nhà

nước đã ịp thời phát hiện và xử lý hiệu quả.

1.5. Quản lý phát thanh, truyền hình ở một số địa phƣơng và ài học kinh

nghiệm cho quản lý nhà nƣớc về phát thanh, truyền hình ở Quảng Bình

1.5.1. Quản lý phát thanh, truyền hình ở một số địa phương

- Kinh nghiệm của Hải Phòng

Hải Phòng rất coi trọng mối quan hệ với phát thanh, truyền hình, bao gồm từ

thể loại báo tuần, báo ngày cho tới truyền hình, phát thanh và báo mạng. Nhu cầu

chung của nh m này là tiếp cận thông tin, tiếp cận với các chính trị gia và chính

quyền. Đồng thời, họ cũng tham hảo những nguồn tài liệu đã được biên tập.

Đối với các nhà báo, Hải Phòng cung cấp dịch vụ báo chí công hai, sẵn

sàng đáp ứng nhu cầu hai thác thông tin của các ph ng viên về hoạt động của

PTTH. Một trong số những mục tiêu chiến lược báo chí của PTTH là để Văn phòng

đ ng vai trò chủ động trong các hoạt động c liên quan tới báo chí và từ đ gây

dựng được tiếng tăm tốt hơn đối với công chúng.

Hải Phòng c một sự tự do báo chí hông cần iểm duyệt. Tuy vậy, các

phương tiện truyền thông đại chúng bị cấm phát hành một số loại thông tin nhất

định. Theo đ , tiết lộ các bí mật quốc gia, phỉ báng hoặc bôi nhọ, và ph biến các

quan niệm hoặc ý tưởng đê hèn, chủ nghĩa chủng tộc hoặc phân biệt đối xử đều là

bất hợp pháp. Tuy nhiên, những vấn đề trên vẫn được phép thảo luận trên các

phương tiện truyền thông đại chúng, miễn là n được đề cập một cách công bằng và

hách quan hoặc để ích thích cuộc tranh luận.

Việc thu phí cấp phép phát thanh và truyền hình hai lần trên một năm đối với

độc giả hi mua tivi hoặc radio nhằm c nguồn inh phí tài trợ các chương trình

truyền thông và dịch vụ công cộng là một cách làm hay đáng để học hỏi trong lĩnh

vực phát thanh truyền hình của nước ta.

- Kinh nghiệm của Thanh Hoá

Truyền thống báo chí Thanh Hoá là dựa vào cộng đồng. Một ngành inh

doanh: ngành công nghiệp báo chí và phát thanh, truyền hình Thanh Hoá chủ yếu

31

gồm các doanh nghiệp tìm iếm lợi nhuận và phải c tình hình tài chính hoẻ mạnh

để c thể tồn tại. Chỉ một số lượng nhỏ trong số này là được trợ cấp (dưới 20%

ngành truyền thông và dưới 1% ngành báo chí). Hầu hết phụ thuộc vào quảng cáo

thương mại để tạo ra phần lớn thu nhập ( hoảng 75%).

Ngoài ra, ngành công nghiệp tin tức cũng như nghề làm báo tại Hoa Kì

hông tự điều tiết giống như nghề luật và nghề dược. Báo chí hông đòi hỏi một

chuẩn mực tối thiểu nào về tư cách thành viên, hông cấp hay hủy bỏ giấy phép

hoạt động và cũng hông quy định các tiêu chuẩn về nghề nghiệp. Mỗi hãng tin hay

hiệp hội nhà báo đều tự đề ra cho mình bộ quy tắc ứng xử và chuẩn mực riêng.

Báo chí Thanh Hoá được đánh giá là một trong những nền báo chí mạnh nhất

trên thế giới. Các tập đoàn truyền thông của Mĩ c phạm vi ảnh hưởng rộng lớn trên

toàn cầu. Kinh nghiệm t chức, quản lý, cũng như inh nghiệm làm inh tế Báo chí

của Thanh Hoá đã và đang được nhiều quốc gia trên thế giới học hỏi. Điều cần phải

cân nhắc trong quá trình tiếp thu inh nghiệm của báo chí Thanh Hoá chính là điều

iện inh tế - chính trị của Mĩ hác với Việt Nam.

1.5.2. Kinh nghiệm cho tỉnh Quảng Bình

Trong những năm qua, lĩnh vực phát thanh, truyền hình trên thế giới c nhiều

thay đ i về loại hình, mô hình t chức, hình thức thể hiện, công nghệ và cách thức

thụ hưởng thông tin. Ngoài các loại hình thông tin báo chí truyền thống, một số loại

hình thông tin c tính chất báo chí phát triển nhanh như thông tin trên các diễn đàn,

mạng xã hội; mô hình t chức của các cơ quan báo chí thay đ i theo xu hướng hội

tụ thông tin, một cơ quan báo chí thực hiện nhiều loại hình báo chí; hình thức thể

hiện các ấn phẩm, loại hình thông tin ngày càng phong phú, hấp dẫn hơn; người dân

thụ hưởng thông tin mọi lúc, mọi nơi, trên nhiều loại thiết bị thông minh. Về cơ

bản, nhu cầu thông tin của người dân được đáp ứng ngày càng cao.

Qua tìm hiểu, nghiên cứu một số mô hình phát triển phát thanh, truyền hình của

một số địa phương, xin rút ra được một số inh nghiệm như sau cho tỉnh Quảng Bình:

- Cần cách ứng xử và “chia sẻ inh nghiệm” với các đối tác truyền thông

lớn trên thế giới; tham vọng đưa truyền thông vươn ra ngoài lãnh th .

32

- Từ inh nghiệm quản lý phát thanh truyền hình qua nghiên cứu một số

nước trên thế giới nhận thức rõ hơn việc được tiếp cận đầy đủ với thông tin là điều

rất quan trọng đối với hiệu quả của phát thanh truyền hình, và mặc dù mọi người

đều chấp nhận rằng c một số thông tin thuộc phạm vi bí mật nhà nước nhưng n i

chung đa số thông tin nên được công hai; phát triển phát thanh, truyền hình theo

hướng bền vững với các tiêu chí: tự do ngôn luận; báo chí chuyên nghiệp; đa dạng

nguồn thông tin; quản lý inh doanh và phối hợp của các cơ quan hỗ trợ.

Phát thanh, truyền hình c mối quan hệ mật thiết với nhau. Thông tin báo chí

được trình bày trên báo phát thanh và báo truyền hình. Đối với báo in thì xuất bản

bằng giấy, đối với báo phát thành và báo truyền hình thì hoạt động trên s ng radio,

và s ng truyền hình. Các cơ quan phát thanh, truyền hình thực hiện công tác thông

tin, tuyên truyền các chủ trương, chính sách, sự iện chính trị lớn của đất nước;

thường xuyên cập nhật, đưa tin chính xác, phản ánh đầy đủ và ịp thời tình hình

chính trị, quốc phòng - an ninh, inh tế - xã hội; phản bác hiệu quả những luận điệu

sai trái của các thế lực thù địch trong và ngoài nước; g p phần định hướng dư luận

và tạo sự đồng thuận xã hội; củng cố và tăng thêm niềm tin của nhân dân. Xuất bản

thường tập trung, dễ iểm soát hơn. Báo chí thì c tính đặc thù, hàng ngày thông tin

cập nhật nhanh ch ng.

Về quản lý Nhà nước thì hông c chuyện với loại hình báo chí này thì dễ

dãi, loại hình hác thì chặt chẽ, vì tất cả đều phải quản lý theo Luật Báo chí và các

văn bản hướng dẫn Luật. Tuy nhiên, việc quản lý truyền hình thường h hăn,

phức tạp hơn. Về nguyên tắc, dù phát thanh hay truyền hình thì T ng biên tập vẫn

phải là người chịu trách nhiệm về nội dung của tất cả các tin, bài, ảnh… Một số

T ng biên tập của một số tờ báo đã coi nhẹ, thậm chí hoán trắng việc này cho

một bộ phận nào đ ở trong báo, thậm chí ngoài báo (liên ết với công ty truyền

thông). Cũng do nhận thức, một số T ng biên tập chỉ quan tâm đến các tin bài c

yếu tố chính trị, buông lỏng quản lý các tin, bài ở các chuyên mục giải trí, văn

h a, văn nghệ.

33

Tiểu kết chƣơng 1

Quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình là hoạt động quan trọng của nhà

nước, nhằm đáp ứng các nhu cầu xã hội dân sự đô thị, đặc biệt trong quá trình chỉnh

trang đô thị như hiện nay, đây là lĩnh vực cần được chú trọng, quan tâm chỉ đạo, t

chức thực hiện, để sớm điều chỉnh các mối quan hệ này đi vào nề nếp, tuân theo

một khuôn kh nhất định đúng với chương trình quy hoạch t ng thể đã đề ra.

Quản lý nhà nước n i chung, trong đ quản lý nhà nước về phát thanh,

truyền hình nói riêng phải gắn liền với pháp luật. Quản lý nhà nước về phát thanh,

truyền hình có rất nhiều lĩnh vực cần phải điều chỉnh. Công cụ quan trọng để thực

hiện việc quản lý là pháp luật, pháp luật tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động

phát thanh, truyền hình và là công cụ có tính bắt buộc thực hiện các quy định để

đảm bảo phát thanh, truyền hình. Đồng thời, cũng là cơ sở để xử lý các vi phạm xảy

ra trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình.

34

Chương 2:

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ PHÁT THANH, TRUYỀN HÌNH

TẠI TỈNH QUẢNG BÌNH

2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội c tác động đến Quản lý

nhà nƣớc về PTTH của tỉnh Quảng Bình

Quảng Bình là một tỉnh miền Trung Việt Nam, cách Hà Nội 500 m về phía

Bắc và cách thành phố Hồ Chí Minh 1.201 m về phía Nam, phía Tây giáp nước

Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào (với 201 m đường biên giới), phía Đông giáp

Biển Đông (với 116 m bờ biển); c Cửa hẩu Quốc tế Cha Lo thông thương với

Lào và Thái Lan. T ng diện tích tự nhiên của tỉnh là: 8.065 m²; Dân số hơn

860.000 người; lao động c trên 500.000 người. (Theo cục thống ê tỉnh Quảng

Bình, 2022).

Địa hình c đặc trưng chủ yếu là hẹp và dốc, nghiêng từ tây sang đông, đồi

núi chiếm 85% diện tích toàn tỉnh và bị chia cắt mạnh. Hầu như toàn bộ vùng phía

tây tỉnh là núi cao 1.000-1.500 m, trong đ cao nhất là đỉnh Phi Co Phi 2017 m, kế

tiếp là vùng đồi thấp, phân bố theo kiểu bát úp. Gần bờ biển có dải đồng bằng nhỏ

và hẹp. Sau cùng là những tràng cát ven biển có dạng lưỡi liềm hoặc dẻ quạt.

Quảng Bình nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa và luôn bị tác động bởi khí hậu

của phía Bắc và phía Nam và được chia làm hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng

9 đến tháng 3 năm sau. Lượng mưa trung bình hàng năm 2.000 - 2.300mm/năm.

Thời gian mưa tập trung vào các tháng 9, 10 và 11. Mùa khô từ tháng

4 đến tháng 8 với nhiệt độ trung bình 24 °C - 25 °C. Ba tháng có nhiệt độ cao

nhất là tháng 6, 7 và 8.

Quảng Bình nằm trên trục hành lang phát triển inh tế Đông Tây từ biển

Đông Việt Nam với Lào, Đông Bắc Thái Lan và các nước thuộc hu vực Trung -

Nam Châu Á, c lợi thế trong chiến lược phát triển trục hành lang inh tế Đông -

Tây. Với vị trí địa inh tế là cửa ngõ phía Đông của cả vùng Trung Lào, Đông Bắc

Thái Lan và Myanma, Quảng Bình rất c lợi thế trong xuất hẩu hàng h a với các

35

đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP); ết nối thị trường trong

nước với hu vực và thế giới.

Quảng Bình là nơi giao thoa giữa 2 miền Nam - Bắc Việt Nam với hệ thống

ết cấu hạ tầng giao thông há đồng bộ, c sân bay, cảng biển, đường bộ, đường

sắt, đường sông. Sân bay Đồng Hới c các chuyến bay đến Hà Nội (1 giờ bay) và

TP. HCM (1 giờ 20 phút bay). Năm 2022, sân bay Đồng Hới sẽ mở đường bay quốc

tế Đồng Hới - Đài Bắc (Đài Loan). Hệ thống giao thông đường bộ thuận tiện (Quốc

lộ 1A, đường Hồ Chí Minh, đường sắt Bắc - Nam) chạy dọc theo chiều dài của tỉnh.

C Cửa hẩu quốc tế Cha Lo, c Cảng biển nước sâu Hòn La c thể đ n tàu 3-5 vạn

tấn ra, vào.

Quảng Bình được thiên nhiên ưu đãi, c rừng, c biển, c sông và nhiều

cảnh quan rất đẹp, với chiều dài dọc bờ biển là 116 m c nhiều bãi tắm đẹp như:

Vũng Chùa - Đảo Yến (nơi yên nghỉ của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp), Đá Nhảy,

biển Nhật Lệ, biển Hải Nphát hànhh... c điều iện thuận lợi để xây dựng các t

hợp nghỉ dưỡng biển, vui chơi giải trí đẳng cấp quốc tế. Vùng ven biển c nhiều di

tích lịch sử văn h a như: Đèo Ngang, đèo Lý Hòa, cửa biển Nhật Lệ với quần thể

di tích và danh thắng của thành phố Đông Hới….. Đặc biệt, Quảng Bình c Di sản

thiên nhiên thế giới Vườn quốc gia Phong Nha- Kẻ Bàng, c giá trị n i bật nhất về

địa chất, địa mạo đá vôi phức tạp ở hu vực Đông Nam Á với những hang động

đẹp n i tiếng như: động Phong Nha, động Thiên Đường và động Sơn Đoòng –

hang động lớn nhất Thế giới (được tạp chí Busphát hànhess Phát hànhsider xếp

vào danh bản tin 12 hang động ỳ vĩ nhất thế giới); nơi chứa đựng các giá trị n i

bật toàn cầu về tính đa dạng sinh học, tính đa dạng của các hệ sinh thái tự nhiên.

Khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng c hệ thống hang động ỳ vĩ được mệnh danh là

"Vương quốc hang động" nơi tiềm ẩn nhiều điều mới lạ và hấp dẫn như động

Phong Nha, hang Tiên Sơn, Hang Tối, Hang E, Hang Vòm, hang Thung..., trong

đ c động Phong Nha thực sự n i bật với chiều dài hảo sát gần 8 m, chủ yếu là

sông ngầm và được đánh giá là một trong những cảnh quan đẹp nhất với các đặc

36

trưng: c sông ngầm đẹp nhất, c cửa hang cao và rộng nhất, c hồ nước ngầm

đẹp nhất, c hang hô rộng và đẹp nhất, c hệ thống thạch nhũ ỳ ảo và tráng lệ

nhất, là hang nước dài nhất. Đây là tiềm năng, lợi thế để phát triển du lịch của tỉnh

Quảng Bình. Ngoài ra, Quảng Bình còn c suối nước hoáng Bang c nhiệt độ sôi

tự nhiên lên đến 105°C, chất lượng hoáng tốt, c thể sản xuất nước giải hát cao

cấp và chữa bệnh; với địa thế đẹp c thể xây dựng vùng này trở thành hu du lịch

sinh thái nghỉ dưỡng và chữa bệnh rất tốt.

2.2. Khái quát về phát thanh, truyền hình tại tỉnh Quảng Bình

2.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển

Là tỉnh nằm trong vùng ven biển Đồng bằng Trung Bộ với gần 1 triệu dân

sinh sống tại 8 huyện, thành phố và 159 xã, phường, thị trấn. Hiện nay tỉnh Quảng

Bình c 1 Đài Phát thanh- truyền hình cấp tỉnh, 10 Đài phát thanh cấp huyện, thành

phố; 3 trạm phát lại chương trình truyền hình.

Từ 01/10/2022 Đài PT- TH thực hiện phát s ng chương trình truyền hình

24/24h ngày với tỷ lệ tự sản xuất >40%. Từ 01/10/2015 phát s ng các chương trình

phát thanh 24/24h ngày. Tháng 08/2011 Trang Thông tin điện tử của đài hoạt động

chính thức và đang thay đ i để đáp ứng nhu cầu khán thính giả theo dõi các chương

trình cũng như tìm iếm thông tin trên trang Thông tin điện tử của đài

(www.QuangBphát hànhhtv.vn).

2.2.2. Hiện trạng đài truyền thanh cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

Tính đến tháng 6/2022, trên địa bàn tỉnh c 145/151 xã, phường, thị trấn c

Đài Truyền thanh cơ sở, chiếm 96%. Trong đ : 48/151 xã, phường, thị trấn c Đài

truyền thanh ứng dụng CNTT-VT, chiếm 31.8%; 47/151 xã, phường, thị trấn c đài

truyền thanh hông dây, chiếm 31.1%; 01/151 xã, phường, thị trấn c đài truyền

thanh cả hông dây và c dây, chiếm 0.7%; 49/151 xã, phường, thị trấn c đài

truyền thanh c dây, chiếm 32.5%; 6/151 xã, phường, thị trấn chưa c đài truyền

thanh cơ sở, chiếm 4%.

37

2.3. Thực trạng quản lý nhà nƣớc về phát thanh, truyền hình tại tỉnh Quảng Bình

2.3.1.C ng tác y dựng ế hoạch về phát thanh, truyền hình

Kế hoạch về quản lý nhà nước về PTTH tỉnh Quảng Bình cụ thể như sau:

- Triển khai hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của Chiến lược phát

triển thông tin quốc gia đến năm 2025, tầm nhìn 2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.

- Hiện đại hóa hoạt động thông tin, truyền thông và nâng cao chất lượng

thông tin đến với người dân. Nâng cao hoạt động báo chí, tuyên truyền; hoạt động

thông tin cơ sở trong tình hình mới.

- Thực hiện tốt công tác tuyên truyền quảng bá hình ảnh, tiềm năng, lợi thế

của tỉnh Quảng Bình đến với bạn bè trong nước và quốc tế; đấu tranh, phản bác các

quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của thế lực thù địch, góp phần giữ vững n

định an ninh quốc gia, đảm bảo trật tự an toàn xã hội.

Yêu cầu

- Kết hợp, lồng ghép với các đề án, dự án khác trong phát triển hạ tầng cũng

như nâng cao chất lượng nội dung thông tin nhằm tránh chồng chéo, phát huy hiệu

quả cao nhất.

- Các sở, ban, ngành, địa phương xác định nhiệm vụ cụ thể trong từng giai

đoạn, tuyên truyền vận động sức mạnh t ng hợp để thực hiện tốt kế hoạch đề ra.

Cụ thể về ế hoạch quản lý nhà nước về PTTH tại tỉnh Quảng Bình (Xem

phụ lục 2)

2.3.2. Công tác thể chế hoá các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước về

phát thanh, truyền hình

Căn cứ pháp lý

Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 05/9/2016 của Ban Bí thư về đẩy mạnh công tác

thông tin cơ sở trong tình hình mới; Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 22/9/2010

của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh

về công nghệ thông tin và truyền thông; Quyết định số 52/2016/QĐ-TTg ngày

06/12/2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế hoạt động thông tin cơ sở;

Quyết định số 135/QĐ-TTg ngày 20/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

38

Đề án nâng cao hiệu quả hoạt động thông tin cơ sở dựa trên ứng dụng công nghệ

thông tin; Thông tư 37/2017/TT-BTTTT ngày 07/12/2017 của Bộ Thông tin và

Truyền thông quy hoạch sử dụng ênh tần số phát thanh FM; Thông tư số

39/2020/TT-BTTTT ngày 24/11/2020 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông

quy định về quản lý đài truyền thanh cấp xã ứng dụng Công nghệ thông tin - Viễn

thông; Quyết định số 238/QĐ-BTTTT ngày 21/02/2020 của Bộ Thông tin và

Truyền thông ban hành Kế hoạch triển hai các nhiệm vụ của Bộ Thông tin và

Truyền thông tại Quyết định số 135/QĐ-TTg ngày 20/01/2020 của Thủ tướng

Chính phủ phê duyệt Đề án nâng cao hiệu quả hoạt động thông tin cơ sở dựa trên

ứng dụng công nghệ thông tin; Quyết định số 1381/QĐ-BTTTT ngày 07/9/2021 của

Bộ Thông tin và Truyền thông về việc ban hành Chiến lược phát triển lĩnh vực

thông tin cơ sở giai đoạn 2023 - 2025;

Các văn bản này thể hiện các quan điểm hác nhau của Nhà nước ta đối với

báo chí trong từng giai đoạn lịch sử hác nhau nhưng phần nào đã đặt ra một cơ sở

pháp lý để các cơ quan c thẩm quyền của Nhà nước thực hiện tốt chức năng quản

lý Nhà nước đối với báo chí của mình.

Trên cơ sở các văn bản pháp luật của các cơ quan nhà nước Trung ương, Sở

TT&TT tham mưu với Tỉnh ủy, UBND tỉnh ban hành các văn bản chỉ đạo, quản lý,

hướng dẫn thực hiện các nội dung như: Quyết định số 35/2022/QĐ-UBND của

UBND tỉnh Quảng Bình về việc ban hành quy chế quản lý nhà nước về thông tin

đối ngoại trên địa bàn tỉnh Quảng Bình; Quyết định số 2822/QĐ-UBND ngày

13/9/2021 của UBND tỉnh Quảng Bình về việc ban hành quy chế người phát ngôn

và cung cấp thông tin cho báo chí trên địa bàn tỉnh Quảng Bình; Quyết quy định chế

độ chi trả nhuận bút, thù lao cho các cơ quan Báo chí của tỉnh; quy chế phát ngôn

và cung cấp thông tin cho báo chí.... Thường xuyên quản lý hoạt động văn phòng

đại diện, ph ng viên thường trú; theo dõi, t chức iểm tra lưu chiểu; ịp thời phối

hợp chấn chỉnh và xử lý các vi phạm, đảm bảo ỷ cương, pháp lý trong hoạt động

Báo chí. Hoạt động của cơ quan đại diện và ph ng viên thường trú của báo chí

Trung ương đặt tại Quảng Bình tiếp tục phát triển, thông tin nhanh ch ng, ịp thời

39

những vấn đề, sự iện diễn ra của tỉnh. Hình ảnh một tỉnh Quảng Bình đang trên đà

phát triển được quảng bá đến hắp nơi trong và ngoài nước thông qua báo chí, trong

đ các cơ quan đại diện c nhiều đ ng g p quan trọng.

Sở TT&TT đã tham mưu Bộ Thông tin và Truyền thông cấp 105 Thẻ Nhà

báo cho đội ngũ ph ng viên, biên tập viên các cơ quan báo chí, Hội Nhà báo tỉnh...

Đây chính là cơ sở để tỉnh Quảng Bình thực hiện quản lý nhà nước về phát thanh,

truyền hình trên địa bàn địa phương.

Theo quy định tại Thông tư 37/2017/TT-BTTTT ngày 07/12/2017 của Bộ

Thông tin và Truyền thông, các đài truyền thanh hông dây hông được cấp mới

trong băng tần 87-108Mhz, do đ các đài truyền thanh hông dây đang hoạt động

trong băng tần 87-108Mhz sẽ hông đủ điều iện để cấp mới giấy phép sử dụng tần

số và thiết bị vô tuyến điện và sẽ hông được tiếp tục hoạt động. Hiện tại c 12 đài

vô tuyến FM ở băng tần 87-108Mhz MHz hết giấy phép hoạt động tần số, hông

được cấp phép lại. Vì vậy cần c ế hoạch chuyển đ i các đài truyền thanh hông

dây này sang phương thức truyền thanh ứng dụng CNTT-VT phù hợp theo Quyết

định 135/QĐ-TTg ngày 20/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ.

Trong giai đoạn thực hiện chuyển đ i số hiện nay, triển hai hệ thống truyền

thanh ứng dụng CNTT-VT c thể tích hợp với các cơ quan, đơn vị cùng hai thác

hạ tầng như: cơ quan phòng, chống thiên tai và tìm iếm cứu nạn phát thông báo về

cảnh báo thiên tai; ngành văn hoá, du lịch hai thác để phát bản tin thông tin du lịch

ở các hu vực c nhiều du hách; cảnh sát phòng cháy, chữa cháy thông tin về tình

hình cháy, n và các biện pháp phòng ngừa được thông báo đến cụm thu truyền

thanh ở hu vực c cháy để sơ tán người, tài sản, tạo thuận lợi cho việc chữa cháy;

cảnh sát giao thông thông báo lỗi vi phạm của người tham gia giao thông tại các nút

giao thông…

Với các ưu điểm của hệ thống truyền thanh ứng dụng CNTT-VT, việc xây

dựng ế hoạch Phát triển hệ thống Đài truyền thanh ứng dụng Công nghệ thông tin

– Viễn thông trên địa bàn tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2022-2025 là thật sự cần thiết,

đặc biệt là trong giai đoạn chuyển đ i số hiện nay theo chỉ đạo của Chính phủ.

40

2.3.3. Tổ chức bộ máy và đội ngũ c ng chức quản lý Nhà nước về phát thanh,

truyền hình

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, hệ thống Đài truyền thanh cơ sở

được t chức và hoạt động theo Quyết định số 37/2015/QĐ-UBND ngày

02/11/2015 của UBND tỉnh. Theo đ , Đài Truyền thanh cơ sở do Ủy ban nhân

dân xã, phường, thị trấn trực tiếp quản lý; chịu sự quản lý nhà nước của Phòng Văn

hóa và Thông tin cấp huyện và sự hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ

thuật của Đài Truyền thanh - Truyền hình cấp huyện (nay là Trung tâm Văn hóa,

Thể thao và Truyền thông). Đài Truyền thanh cơ sở có Ban Biên tập số lượng từ ba

đến năm người, trong đ : Trưởng Ban Biên tập là Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy

ban nhân dân cấp xã; Ph Trưởng Ban Biên tập là công chức Văn h a - Xã hội;

thành viên Ban Biên tập là cán bộ phụ trách Đài Truyền thanh cấp xã và các thành

viên khác do Chủ tịch UBND cấp xã quyết định.

Đài Truyền thanh cơ sở có nhiệm vụ t chức phát các chương trình truyền

thanh tự sản xuất; các chương trình phát thanh do cấp trên cung cấp; T chức tiếp

âm, tiếp s ng các chương trình phát thanh của Đài Trung ương, Đài tỉnh, Đài cấp

huyện; Thông báo kịp thời các văn bản chỉ đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền

cấp xã trên hệ thống loa truyền thanh; Quản lý và vận hành Đài Truyền thanh cơ sở;

t chức lưu trữ các chương trình phát thanh đã được phát sóng; Thực hiện các

nhiệm vụ khác do UBND cấp xã giao theo quy định của pháp luật.

Trên địa bàn tỉnh hiện nay c 113/151 xã, phường, thị trấn đã thành lập Ban

Biên tập, chiếm 74.8%; c 68/151 xã, phường, thị trấn đã bố trí kinh phí cho hoạt

động duy tu sửa chữa Đài Truyền thanh cơ sở, chiếm 45%; 12/151 xã, phường, thị

trấn có cán bộ chuyên trách quản lý, vận hành hệ thống Đài truyền thanh cơ sở,

chiếm 7.9%; 132/151 xã, phường, thị trấn có cán bộ bán chuyên trách quản lý, vận

hành hệ thống Đài truyền thanh cơ sở, chiếm 87.4%.

41

Công tác quản lý đội ngũ biên tập viên, phóng viên, kỹ thuật viên nâng cao

nhận thức chính trị và trình độ chuyên môn nghiệp vụ

Trong giai đoạn 2019 - 2022, Đài PT&TH Quảng Bình đã triển hai công tác

rà soát, b sung và xây dựng quy hoạch cán bộ lãnh đạo cấp phòng thuộc Đài

PT&TH Quảng Bình và đề xuất b sung, xây dựng quy hoạch cán bộ diện Ban

Thường vụ Tỉnh ủy quản lý nhiệm ỳ 2021-2026 và 2026-2031.

Thực hiện quy trình b nhiệm mới 03 Trưởng phòng và 04 Ph Trưởng

phòng; thực hiện quy trình B nhiệm lại 01 Trưởng phòng.

Tham mưu, thực hiện quy trình tiếp nhận 01 viên chức, giải quyết chế độ

thôi việc cho 02 viên chức, thực hiện hợp đồng CTV cho 03 trường hợp.

Phối hợp với Sở Nội vụ hoàn thiện Đề án Vị trí việc làm của Đài.

Theo dõi, thực hiện các chế độ chính sách cho cán bộ, viên chức người lao

động theo đúng quy định của pháp luật.

Trong giai đoạn 2019 - 2022, đã c hơn 420 lượt cán bộ, viên chức cơ quan

được cử đi đào tạo các lớp về Lý luận chính trị, QPAN, Lãnh đạo cấp phòng, Lãnh

đạo cấp sở và các lớp bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về trao đ i nghiệp vụ MC,

tư vấn sản xuất các thể loại ph ng sự - ý sự - phim tài liệu, tương tác hiện trường,

sản xuất các chương trình Thời sự; nâng cao chất lượng chất lượng chương trình, ỹ

thuật trường quay, âm thanh, ánh sáng, ỹ xảo… trong đ 02 lớp tập huấn về nghiệp

vụ do Sở Nội vụ cấp inh phí và 02 lớp do Đài chủ trì t chức.

Được sự nhất trí của UBND tỉnh Quảng Bình về việc đ n tiếp và làm việc

với Đoàn công tác Sở Thông tin, Văn h a & Du lịch tỉnh Khăm Muồn tại Công văn

số 3106/VPUBND-NCVX ngày 11/8/2022 của UBND tỉnh Quảng Bình. Đài

PT&TH Quảng Bình đã đ n tiếp và làm việc với Sở Thông tin, Văn h a & Du lịch

tỉnh Khăm Muồn từ ngày 18/8/2022 đến ngày 20/8/2022.

2.3.4. ổ chức quản lý nhà nước và phối hợp quản lý nhà nước về phát thanh,

truyền hình

Tỉnh Quảng Bình đã thiết lập cơ sở dữ liệu, áp dụng quản lý chất lượng hành

chính công theo tiêu chuẩn ISO 9001:2018 để làm cơ sở trong việc thực hiện cải

42

cách thủ tục hành chính, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho cơ quan, đơn vị có nhu cầu

xuất bản; t chức thực hiện tốt Đề án 30 về cải cách thủ tục hành chính, đ i mới và

nâng cao năng lực chuyên môn đảm bảo tính pháp lý, hiệu quả và minh bạch trong

cấp phép; đẩy mạnh công tác tuyên truyền pháp luật chuyên ngành; t chức thanh

tra, kiểm tra những vấn đề n i cộm, dễ vi phạm; xác lập và đưa vào nền nếp chế độ

báo cáo của mạng lưới báo chí; t chức lưu chiểu và thường xuyên theo dõi phát

hiện và chấn chỉnh các hoạt động vi phạm, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; thanh

tra, kiểm tra vi phạm trong hoạt động phát thanh và truyền hình. Tạo điều kiện cho

hoạt động Phát thanh, truyền hình phát triển lành mạnh, đúng hướng. Trong đ , đã

được cấp giấy chứng nhận Phù hợp tiêu chuẩn TCVN ISO 9001: 2018 đối với hệ

thống quản lý chất lượng về phát thanh, truyền hình gồm: Cấp giấy phép xuất bản

bản tin (trong nước); Cấp giấy phép xuất bản tài liệu hông inh doanh cho cơ quan,

t chức thuộc địa phương, chi nhánh, văn phòng đại diện, đơn vị trực thuộc cơ quan,

t chức; Cho phép họp báo; Cấp giấy phép trang thông tin điện tử t ng hợp trên địa

bàn tỉnh cho các cơ quan, t chức; Thẩm định hồ sơ đề nghị Bộ Thông tin và

Truyền thông trang thông tin điện tử t ng hợp cho cơ quan báo chí, cấp thẻ, đ i thẻ

nhà báo; Cấp phép hoạt động phát thanh truyền hình; Xác nhận đăng ý hoạt động

phát hành bản tin.

Chính sách chất lượng của Sở TT&TT với phương châm: công khai, minh

bạch, đúng luật, thuận lợi, hiệu lực và hiệu quả. Trong đ , lãnh đạo và tập thể cán

bộ, công chức, viên chức và người lao động của Sở cam kết: Đảm bảo các Thủ tục

hành chính được xử lý theo đúng các yêu cầu văn bản pháp quy liên quan. Không

ngừng hướng tới sự hài lòng của t chức, cá nhân thực hiện Thủ tục hành chính tại

cơ quan thông qua việc thực hiện và cải tiến liên tục hệ thống quản lý chất lượng

theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001:2018.

Hàng quý, Sở Thông tin và Truyền thông phối hợp với Ban Tuyên giáo Tỉnh

ủy, Hội Nhà báo tỉnh t chức giao ban báo chí định kỳ. Thông qua đ đánh giá ết

quả hoạt động Báo chí của Quảng Bình; chỉ đạo kịp thời công tác tuyên truyền đối

43

với các sự kiện đột xuất, những sự kiện điển hình của tỉnh nhằm định hướng dư luận

xã hội...

ổ chức quản lý dịch vụ phát thanh, truyền hình cơ sở tại tỉnh Quảng Bình

Một là, Phát triển dịch vụ phát thanh, truyền hình quảng bá trên toàn tỉnh

theo công nghệ hiện đại để mọi người dân tiếp cận dễ dàng các ênh chương trình

phát thanh, truyền hình phục vụ nhiệm vụ chính trị, thông tin tuyên truyền thiết yếu

của quốc gia và của địa phương.

Hai là, Phát triển thị trường dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền bền

vững, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng nhằm huy động nguồn lực xã hội góp

phần phục vụ nhiệm vụ chính trị, thông tin tuyên truyền và đáp ứng nhu cầu giải trí

lành mạnh, đa dạng của người dân.

Ba là, Tạo điều iện thuận lợi để huy động, sử dụng các nguồn lực xã hội

tham gia sản xuất các chương trình, ênh chương trình trong nước theo hình thức

liên ết nhằm nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn h a tinh thần của

người dân; bảo vệ và phát huy truyền thống lịch sử, văn h a tốt đẹp của dân tộc,

g p phần xây dựng và bảo vệ T quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Bốn là, Quản lý việc cung cấp nội dung thông tin trên dịch vụ phát thanh,

truyền hình theo quy định của pháp luật về báo chí; quản lý hạ tầng ỹ thuật truyền

dẫn phát s ng phát thanh, truyền hình theo quy định của pháp luật về viễn thông;

quản lý hoạt động dịch vụ phát thanh, truyền hình theo quy định tại Nghị định này.

Năm là, Tăng cường công tác iểm tra, đánh giá hiệu quả nội dung thông tin,

chất lượng dịch vụ phát thanh, truyền hình bằng các biện pháp ỹ thuật và các

phương pháp thống ê, điều tra xã hội học hiện đại.

Sáu là, Tạo điều iện thuận lợi cho Hiệp hội truyền hình trả tiền và các

doanh nghiệp cung cấp dịch vụ phát thanh, truyền hình hoạt động hiệu quả để g p

phần thúc đẩy phát triển thị trường dịch vụ phát thanh, truyền hình phù hợp với chủ

trương, đường lối của Đảng, Chính sách, pháp luật của Nhà nước.

44

ổ chức quản lý đầu tư tại Đài Phát thanh truyền hình tỉnh Quảng Bình

Năm 2022, Đài tiếp tục nâng cao chất lượng chương trình trên 03 loại hình

báo chí (báo n i, báo hình, nền tảng số). Đầu tư hệ thống trang thiết bị phục vụ đầy

đủ các chương trình được phát trên s ng phát thanh, truyền hình và các nền tảng số.

- Chương trình Phát thanh: phát trên s ng FM tần số 96,1MKH với t ng thời

lượng 1.140 phút/ngày (trong đ , chương trình tự sản xuất có thời lượng 270

phút/ngày)

- Chương trình Truyền hình: kênh QBTV có t ng thời lượng 1080 phút/ngày,

trong đ , chương trình tự sản xuất 360p/ngày ( ênh QBTV được phát trên các hạ

tầng: vệ tinh Vinasat 1, SCTV, My TV, FPT play ).

- Nền tảng số: Trang thông tin điện tử qbtv.vn; Fanpage; kênh QBTV trên

Youtube,…

- Đề án chuyển đ i công nghệ SD sang HD Đài đã thực hiện hoàn tất dự án

Giai đoạn I "Đầu tư, mua sắm hệ thống sever phát s ng và camera trường quay HD

- Đài Phát thanh và Truyền hình Quảng Bình" và đã phát s ng HD trên Vệ tinh

Vinasat1; VTVCab. Mua sắm thêm các trang thiết bị cần thiết phục vụ cho công tác

chuyên môn.

- Đài đã đảm bảo an ninh s ng các chương trình Phát thanh, Truyền hình

hằng ngày. T chức tiếp, phát s ng 9 ênh (VTV1 đến VTV9) của Đài THVN trên

hạ tầng truyền hình số mặt đất. Tiếp phát s ng các Chương trình Thời sự VOV1

hàng ngày.

- Giai đoạn 2019 - 2022, Đài PT&TH Quảng Bình đưa trường quay ảo vào

hoạt động; cải tạo nâng cấp trường quay, xây dựng đồ họa, tích hợp hệ thống để

phục vụ Bản tin dự báo thời tiết; Đấu nối, tích hợp hệ thống trang thiết bị phương

tiện ỹ thuật phục vụ các cầu truyền hình trực tiếp.

2.3.5. Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực

phát thanh, truyền hình

Đi đôi với các hình thức hác trong công tác quản lý Nhà nước trên lĩnh

vực phát thanh, truyền hình, Sở Thông tin và Truyền thông đã đặc biệt quan tâm

45

đến công tác thanh, iểm tra, coi đây là nội dung quan trọng trong công tác quản

lý Nhà nước.

Cùng với công tác chỉ đạo, hướng dẫn nêu trên, đã t chức thanh, iểm tra giấy

phép và hoạt động đối với các cơ quan báo chí địa phương, cơ quan, văn phòng đại diện

các cơ quan báo chí Trung ương đ ng tại địa phương, các trang thông tin điện tử.

Sở Thông tin và Truyền thông cũng đã tăng cường công tác iểm tra, rà

soát, phát hiện, chấn chỉnh và xử lý ịp thời, nghiêm minh các trường hợp đưa tin,

bài sai sự thật, xa rời tôn chỉ, mục đích, vi phạm các quy định của pháp luật về báo

chí, gây bức xúc trong dư luận. Từ năm 2020 - 2022 Sở Thông tin và Truyền

thông tỉnh Quảng Bình đã xử phạt vi phạm hành chính 05 vụ, trong đ lĩnh vực

báo chí 04 vụ (Quyết định 06/QĐ-XPHC ngày 04/6/2020 đối với ông Bùi Hữu

Cường thông tin sai sự thật hi đưa tin Phát hiện xác nạn nhân dưới hố cát trên

VOVNews- Bản tin Đài phát thanh huyện Quảng Trạch; Quyết định 07/QĐ-

XPHC ngày 16/8/2020 đối với ông Dương Văn Út thông tin sai sự thật hi đưa tin

Uống chai nước tăng lực lăn đùng ra chết trên Bản tin iến thức; Quyết định số

56/QĐ-XPHC ngày 22/10/2021 đối với ông Võ văn Tuấn thông tin sai sự thật hi

đưa tin Quảng Bình: Dân gồng mình chống bão, Bí thư thành phố Đồng Hới vô tư

ngồi nhậu trên bản tin truyền hình huyện; Quyết định số 55/QĐ-XPHC ngày

02/10/2021 đối với ông Bùi Hữu Cường đưa tin sai sự thật Sau tai nạn, CSGT bỏ

mặc nạn nhân chết để tiếp tục chặn xe trên bản tin phát thanh) và 01 vụ trên trang

thông tin điện tử (Quyết định số 62/XPVPHC ngày 28/12/2015 đối với ông Phạm

Đắc Hậu hi đư tin Quảng Bình dân chài lưới bắt được nàng tiên cá trên trang tin

điện tử Đài truyền hình địa phương). Đồng thời Sở Thông tin và Truyền thông đã

đề nghị Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử, Bộ Thông tin và Truyền

thông chỉ đạo cơ quan Báo trên đính chính thông tin trên để đăng tin đúng sự thật

theo quy định của Luật Báo chí.

Sở TT&TT thường xuyên phối hợp với PA83 - Công an tỉnh giải quyết các vấn

đề báo chí nêu về tỉnh Quảng Bình. Quán triệt sự chỉ đạo của Thanh tra tỉnh, Thanh tra

Sở Thông tin và Truyền thông và được sự chỉ đạo trực tiếp của Lãnh đạo Sở, hoạt động

46

của Thanh tra Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Quảng Bình thời gian qua đã g p

phần tích cực trong việc tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước của Sở, đưa hoạt động

Thông tin và Truyền thông trên địa bàn tỉnh đi vào nề nếp, n định.

Bám sát nhiệm vụ chính trị của Sở, Thanh tra Sở đã xây dựng chương trình ế

hoạch c trọng tâm, trọng điểm, đặc biệt chú trọng đối với những lĩnh vực đang được

dư luận quan tâm. Công tác thanh tra đã giúp cho cơ quan quản lý nhà nước nắm

được tình hình chấp hành Chính sách, pháp luật chuyên ngành. Qua đ phát hiện,

ngăn chặn và xử lý ịp thời hoặc iến nghị cấp c thẩm quyền xử lý vi phạm pháp

luật trong lĩnh vực thông tin và truyền thông phát hiện những cơ chế, Chính sách,

pháp luật hông còn phù hợp. Trên cơ sở đ , iến nghị cấp c thẩm quyền b sung,

sửa đ i một số văn bản hông còn phù hợp trong tình hình mới, nhằm tạo điều iện

cho sản xuất, inh doanh, cung cấp dịch vụ thông tin và truyền thông phát triển.

Mặc dù nhân lực còn thiếu, hối lượng công việc nhiều, địa bàn tỉnh rộng

lại hạn chế về phương tiện làm việc nhưng thời gian qua, với sự nỗ lực cố gắng,

Thanh tra sở TT-TT đã tích cực đẩy mạnh công tác thanh tra, iểm tra xử lý vi

phạm trong hoạt động thông tin – truyền thông để các hoạt động trong lĩnh vực

này hoạt động đúng định hướng. Năm 2021, Thanh tra Sở đã phối hợp với các

ngành liên quan t chức 6 cuộc thanh iểm tra chuyên ngành: iểm tra việc chấp

hành pháp luật trong hoạt động phát thanh, truyền hình tại 15 cơ sở phát thanh và

truyền hình; iểm tra việc chấp hành quy định pháp luật về quản lý, cung cấp và

sử dụng dịch vụ Truyền hình tại 03 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ đường truyền

Truyền hình (gồm: Viễn thông Quảng Bình, Viettel Quảng Bình, FPT – Chi nhánh

Quảng Bình) và tại 30 cơ sở inh doanh dịch vụ truyền hình, cung cấp dịch vụ trò

chơi điện tử công cộng trên địa bàn tỉnh; iểm tra việc chấp hành quy định pháp

luật về báo chí đối với cuốn Tạp chí Người Kinh Bắc của Hội Văn học nghệ thuật;

iểm tra việc chấp hành quy định pháp luật về bưu chính đối với 03 đơn vị là Bưu

điện tỉnh, Chi nhánh Bưu chính Viettel, Công ty c phần chuyển phát nhanh Hợp

Nhất - Chi nhánh Quảng Bình; iểm tra việc chấp hành quy định pháp luật trong

hoạt động cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền tại 04 đơn vị (Công ty Truyền hình

47

cáp quang Việt Nam và truyền hình SCTV - Chi nhánh QB, truyền hình My TV và

truyền hình Next TV; Thanh tra việc chấp hành quy định của pháp luật về quản lý,

đăng ý, lưu giữ và sử dụng thông tin thuê bao di động trả trước đối với Viettel

Quảng Bình. Qua công tác thanh iểm tra chuyên ngành đã ịp thời chấn chỉnh và

xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, đã ban hành 34 Quyết định xử lý vi phạm hành chính với t ng số tiền nộp vào ngân bản tin nhà nước là 65.450.000đ, thu hồi

03 cuốn bản tin vi phạm Luật Dân số; cảnh cáo, nhắc nhở 20 cơ sở inh doanh;

yêu cầu Viettel thực hiện quy trình thay đ i thông tin đối với 3.262 thuê bao đã

đăng ý thông tin hông chính xác.

Bên cạnh đ , công tác tiếp công dân và xử lý đơn, thư hiếu nại, tố cáo được

thực hiện nghiêm túc và đảm bảo đúng quy trình. Trong năm 2015, Sở đã tiếp nhận

và giải quyết dứt điểm 02 đơn iến nghị của nhân dân về việc xây dựng trạm thu

phát s ng di động (trạm BTS) của Chi nhánh Viettel QB.

Công tác phòng chống tham nhũng tiếp tục được duy trì thông qua các giải

pháp như: quán triệt các văn bản quy định về PCTN tới cán bộ, công chức, viên

chức và người lao động thuộc Sở; công hai, minh bạch các hoạt động của Sở; xây

dựng và giám sát việc thực hiện các chế độ, định mức, tiêu chuẩn, quy chế chi tiêu

nội bộ và quy định về mua sắm, quản lý tài sản công; thực hiện chế độ công hai tài

chính; rà soát các bộ thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở; triển

hai thực hiện việc ê hai minh bạch tài sản thu nhập;….

Trong thời gian tới, nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành Thông tin và Truyền

thông rất nặng nề, trong điều iện nhân lực còn thiếu. Để đáp ứng được yêu cầu của

công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực TT-TT, Thanh tra Sở tiếp tục đ i mới về

nhiều mặt, trong đ tập trung xây dựng và nâng cao trình độ chuyên môn cán bộ

làm công tác thanh tra; đ i mới về phương pháp thanh tra, iểm tra để hoạt động

thanh tra, iểm tra hông chỉ hướng vào việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật,

mà còn c tác dụng hắc phục các ẽ hở của Chính sách, pháp luật, ngăn ngừa tận

gốc mầm mống phát sinh những vi phạm pháp luật. Qua đ tạo sự chuyển biến tích

cực trong công tác thanh tra, g p phần tăng cường công tác quản lý nhà nước; ngăn

48

chặn ịp thời các hành vi vi phạm pháp luật chuyên ngành; từng bước đưa hoạt

động trong lĩnh vực TT-TT đi vào nề nếp, tuân thủ các quy định của pháp luật.

Bám sát nhiệm vụ chính trị của Sở, ngày từ cuối năm 2021, Thanh tra Sở

TT&TT đã xây dựng và tham mưu Giám đốc Sở ban hành Kế hoạch thanh tra, iểm

tra năm 2022. Theo đ , năm 2022, Thanh tra Sở đã tiến hành 07 cuộc thanh, iểm

tra việc chấp hành các quy định của pháp luật trong lĩnh vực phát thanh, truyền

hình, thông tin điện tử, quảng cáo, xuất bản, bưu chính, Truyền hình. Đồng thời,

phối hợp xử lý 07 t chức, 17 cá nhân vi phạm với t ng số tiền xử phạt vi phạm

hành chính là 163.000.000 đồng, cụ thể:

Thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật trong lĩnh vực phát

thanh, truyền hình, thông tin điện tử, quảng cáo tại Đài Phát thanh và Truyền hình

Quảng Bình. Trong quá trình thanh tra, hông phát hiện sai phạm phải xử lý, một số

tồn tại, hạn chế được Sở Thông tin và Truyền thông nhắc nhở, chấn chỉnh hắc phục.

Ngoài ra, về công tác tiếp công dân, giải quyết hiếu nại, tố cáo, iến nghị,

phản ánh, năm 2022, Sở TT&TT đã tiếp nhận và xử lý 13 đơn iến nghị, phản ánh

của công dân. Trên cơ sở giải quyết iến nghị, phản ánh của công dân, Sở TT&TT

xử phạt 01 t chức hoạt động trong lĩnh vực Báo chí với số tiền 7.500.000 đồng đối

với hành vi đăng, phát thông tin sai sự thật về hu lăng mộ dòng họ Đào tại xã An

Thuỷ, Lệ Thuỷ, Quảng Bình.

Mặc dù với lực lượng mỏng, tình trạng phương tiện, trang thiết bị hỗ trợ còn

hạn chế trong hi hối lượng công việc nhiều, song, năm 2022, hoạt động thanh tra

của Sở TT&TT vẫn thực hiện và hoàn thành tốt các nhiệm vụ ế hoạch thanh tra đã

đề ra cũng như nhiệm vụ công tác do Thanh tra Bộ giao. Công tác t chức các cuộc

thanh tra, iểm tra đảm đúng thủ tục, trình tự, hông c hiếu nại, tố cáo trong quá

trình thanh tra, iểm tra. Qua tăng cường công tác thanh tra, iểm tra đã phát hiện,

ngăn chặn và xử lý, chấn chỉnh ịp thời các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt

động thông tin và truyền thông. Đồng thời, phát hiện những bất cập, vướng mắc về

cơ chế, Chính sách, pháp luật, đề xuất cơ quan nhà nước c thẩm quyền xem xét,

sửa đ i, b sung quy định cho phù hợp với tình hình và yêu cầu thực tiễn...

49

2.4. Đánh giá chung về công tác quản lý nhà nƣớc về phát thanh, truyền hình

tại tỉnh Quảng Bình

2.4.1. Kết quả đạt được

Thứ nhất, quản lý nhà nƣớc về thông tin tuyên truyền về đƣờng lối, chủ

trƣơng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc, các sự kiện chính trị

lớn và công tác chỉ đạo, điều hành của cấp uỷ, chính quyền địa phƣơng

- Trên s ng phát thanh, truyền hình, Trang Thông tin điện tử qbtv.vn,

Fanpage, Youtube và các nền tảng số đã tập trung tuyên truyền đậm nét các sự iện

chính trị, ỷ niệm các ngày lễ lớn diễn ra trong nước và trên địa bàn tỉnh.

- Tập trung tuyên truyền nhanh, ịp thời, đậm nét các chủ trương, Chỉ thị,

Nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Trong đ tập trung tuyên

truyền đưa Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp vào cuộc sống; việc triển hai thực

hiện Nghị quyết Trung ương 4 (Kh a XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn

Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống,

những biểu hiện tự diễn biến tự chuyển h a, gắn với thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW,

ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo

đức, phong cách Hồ Chí Minh; triển hai thực Nghị quyết trung ương 6, Nghị quyết

trung ương 7, nghị quyết trung ương 8 và nghị quyết trung ương 10 h a XII; tuyên

truyền các ỳ họp của Quốc hội h a XV, các Kỳ họp của HĐND tỉnh; Hoạt động

thu hút đầu tư, phát triển KTXH của tỉnh năm 2022; Tập trung tuyên truyền hoạt

động của Lãnh đạo Đảng Nhà nước, lãnh đạo tỉnh thăm, làm việc và chỉ đạo các

hoạt động trên địa bàn tỉnh; Tiếp tục tuyên truyền Kế hoạch phát triển inh tế - xã

hội của địa phương giai đoạn 2023- 2025.

Thứ hai, quản lý nhà nƣớc về việc cải tiến, nâng cao chất lƣợng và thời

lƣợng chƣơng trình phát thanh, truyền hình; việc hợp tác sản xuất chƣơng

trình; hợp tác quốc tế

- Thường xuyên quan tâm đẩy mạnh hoạt động nâng cao chất lượng các

chương trình phát thanh, truyền hình, Trang Thông tin điện tử và các nền tảng số.

Rà soát hung chương trình để duy trì các chương trình phù hợp, cắt bỏ những

50

chương trình hông phù hợp, lượng hán, thính giả theo dõi ít, b sung những

chương trình phù hợp với đời sống inh tế, xã hội, văn hoá của các tỉnh. Tiếp tục

tăng cường tuyên truyền chương trình chuyển đ i số quốc gia, duy trì chuyên mục

về chuyển đ i số nhằm tuyên truyền, ph biến iến thức, các inh nghiệm, bài học

thành công, nêu bật được ý nghĩa, sự cần thiết và mục tiêu của chuyển đ i số và vai

trò, trách nhiệm của các cấp, các ngành, g p phần xây dựng hình ảnh thương hiệu

quốc gia về chuyển đ i số, công nghệ số....

- Tăng cường sản xuất các Chương trình Toạ đàm, bình luận để c dấu ấn

hơn đối với các vấn đề c tính chuyên sâu. Khai thác và ứng dụng hiệu quả công

nghệ ỹ thuật trong tham vấn, mời các chuyên gia tham gia các chương trình. Tập

trung sản xuất các chương trình trực tiếp. Giai đoạn 2019 - 2022, Đài Quảng Bình

mở thêm nhiều chuyên đề, chuyên mục và chương trình mới như: Chuyển đ i số,

Điện và đời sống, Khám phá Quảng Bình…

- Đài PT&TH Quảng Bình tiếp tục nâng cao chất lượng các chương trình,

thực hiện chương trình hợp tác với các sở, ban, ngành cấp tỉnh như: UBND Thị xã

Ba Đồn, Sở Du lịch, Sở Công thương, UBND huyện Quảng Ninh, UBND huyện Lệ

Thủy,... Tăng cường hợp tác với THVN, TNVN và Đài PT-TH các tỉnh để làm tốt

công tác xã hội hoá trong sản xuất và phát s ng các chương trình PT-TH vừa nâng

cao chất lượng, tăng thời lượng tự sản xuất các chương trình phục vụ nhiệm vụ

chính trị, vừa làm phong phú nội dung và quảng bá chương trình PT&TH Quảng

Bình. Tiếp tục đ i mới và tăng cường trao đ i, hợp tác sản xuất chương trình với

các Đài trong cụm và các Đài PT&TH trong nước. Giai đoạn 2019 - 2022, tiếp tục

thực hiện trao đ i chương trình qua sever chung, đã gửi và phát s ng nhiều chương

trình của các Đài trong cụm.

- Trang Thông tin điện tử qbtv.vn, Fanpage, Youtube và các nền tảng số của

Đài đã cập nhật ịp thời các hoạt động, sự iện, vấn đề diễn ra trên địa bàn tỉnh với

lượng người xem và chia sẻ ngày càng nhiều trên các hạ tầng số.

Thứ ba, Việc xây dựng tổ chức Đảng, các đoàn thể, chăm lo đời sống vật

chất, tinh thần cho ngƣời lao động, tham gia các hoạt động xã hội từ thiện

51

- Công tác xây dựng Đảng, các đoàn thể được BCH Đảng ủy, Ban Giám đốc

quan tâm chỉ đạo, thực hiện c hiệu quả. BTV Đảng uỷ đã thực hiện nghiêm Quy

định của Điều lệ Đảng; Các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của

Nhà nước, các văn bản qui phạm pháp luật đều được triển hai đến đảng viên,

CBVC, LĐ ịp thời, từ đ đã nâng cao được nhận thức, tính tiên phong gương mẫu

của đội ngũ cán bộ, đảng viên, viên chức, người lao động.

- Ngay từ đầu năm Đài đã xây dựng chương trình, ế hoạch thực hiện Quy

chế dân chủ tại cơ quan, đơn vị; Thực hiện tốt Quy chế dân chủ trong cơ quan hành

chính, đơn vị sự nghiệp theo Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày 09/01/2015 của

Chính phủ nhằm phát huy quyền làm chủ của cán bộ, công chức, viên chức và nâng

cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị, g p phần xây dựng đội ngũ

cán bộ, viên chức c đủ phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, năng lực

và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, làm việc c năng suất, chất lượng, hiệu quả, đáp

ứng yêu cầu phát triển và đ i mới của cơ quan, đồng thời phòng ngừa, ngăn chặn và

chống các hành vi tham nhũng, lãng phí,...

- Chủ động nghiên cứu các chủ trương, chính sách, pháp luật trong lĩnh vực

báo chí PTTH, Đài đã tiến hành sửa đ i, b sung và ban hành:

+ Quy định Chức năng, nhiệm vụ các phòng chuyên môn, nghiệp vụ của Đài

Phát thanh và Truyền hình Quảng Bình;

+ Quy chế Về kỷ luật, kỷ cương, văn h a công sở và Quy tắc ứng xử của

công chức, viên chức, người lao động Đài Phát thanh và Truyền hình Quảng Bình;

+ Quy chế làm việc của Đài Phát thanh và Truyền hình Quảng Bình;

+ Quy chế Thực hiện dân chủ trong hoạt động của Đài Phát thanh và Truyền

hình Quảng Bình;

+ Nội quy Bảo vệ BMNN Đài PT-TH Quảng Bình.

- Hoạt động phát triển nguồn thu dịch vụ, quảng cáo luôn được chú trọng,

đảm bảo chi lương và các hoản chi theo lương của 50% viên chức tự trang trải.

- Hoạt động xã hội, từ thiện, nhân đạo được quan tâm. Năm 2022, Đài

PT&TH Quảng Bình đã phối hợp với Bộ đội Biên phòng t chức chương trình

52

Phiên chợ 0 đồng đã vận động quyên g p, tặng quà tết cho các hộ nghèo, c hoàn

cảnh h hăn trên địa bàn tỉnh; các hoạt động đền ơn đáp nghĩa được đẩy mạnh:

Chăm s c thờ phụng Mẹ VNAH, trao quà cho các cựu chiến binh nhân ngày 27/7,

bữa cơm tình thân, cắm biển phòng chống đuối nước cho trẻ em ở những nơi nước

sâu, nguy hiểm... Chi đoàn Đài thực hiện chương trình Em nuôi Chi đoàn nhằm êu

gọi và hỗ trợ học phí cho các em c hoàn cảnh h hăn (chương trình được trích từ

quỹ làm xanh môi rường tại ngôi nhà tái chế Chi đoàn).

Thứ tƣ, Việc tham gia phong trào thi đua Xây dựng môi trƣờng văn hoá

trong cơ quan áo chí theo Kế hoạch số 154-KH/BTGTW ngày 10/6/2022 của

Ban Tuyên giáo Trung ƣơng

- Thực hiện Kế hoạch số 154-KH/BTGTW ngày 10/6/2022 của Ban Tuyên

giáo Trung ương, Đảng uỷ, Ban giám đốc Đài PT&TH Quảng Bình đã tập trung

quán triệt, nâng cao nhận thức cho toàn thể đảng viên, viên chức, lao động về vị trí,

vai trò, trách nhiệm của báo chí cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và

bảo vệ T quốc; vị trí, vai trò của văn h a trong sự nghiệp xây dựng và phát triển

đất nước, để mỗi đảng viên, ph ng viên, biên tập viên và người làm báo trong cơ

quan nhận thức sâu sắc về phong trào thi đua "Xây dựng môi trường văn h a trong

các cơ quan báo chí", thúc đẩy và lan tỏa sự hưởng ứng và tham gia tích cực, hiệu

quả việc xây dựng môi trường văn h a trong cơ quan báo chí; triển hai thực hiện

Bộ Tiêu chí văn h a trong cơ quan báo chí và văn h a người làm báo. Đồng thời,

thực hiện tốt quy trình tác nghiệp, bảo đảm các chuẩn mực cao nhất về tính chính

xác, sự tin cậy và tính nhân văn trong từng chương trình phát thanh, truyền hình.

- Chú trọng chăm lo xây dựng văn h a trong cơ quan báo chí và người làm

báo, trong đ , tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, ph ng viên, biên tập viên c

phẩm chất đạo đức, lối sống trong sáng, tinh thần tận tụy, c ý thức thượng tôn pháp

luật; dân chủ đi đôi với ỷ luật, ỷ cương; C biện pháp ngăn chặn, đẩy lùi tình

trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ,

ph ng viên, người lao động...

53

- Đài PT&TH Quảng Bình đã tập trung chỉ đạo, thực hiện tốt quy định về

chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, xây dựng nếp sống văn hoá, văn minh công sở,

nâng cao trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân của những người làm báo, hạn chế

và từng bước loại trừ hiện tượng nhũng nhiễu hi tiếp xúc với nhân dân, với cở sở.

Hoạt động báo chí đã thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích của Luật Báo chí, thực hiện

tốt công tác tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ chính trị, inh tế, văn h a - xã hội, quốc

phòng - an ninh của địa phương

Thứ năm, Công tác lãnh đạo chỉ đạo sinh hoạt Đảng, giáo dục chính trị

tƣ tƣởng đối với Đảng viên, viên chức, ngƣời lao động

- BCH Đảng ủy Đài, các chi bộ duy trì tốt chế độ sinh hoạt định ỳ, đảm bảo

đúng quy định. Thực hiện tốt Quy định số 24-QĐ/TW ngày 30/7/2021 của Bộ

Chính trị về thi hành Điều lệ Đảng và Hướng dẫn số 01-HD/TW của Ban Bí thư về

một số vấn đề thi hành Điều lệ Đảng.

- BCH Đảng uỷ Đài thực hiện nghiêm túc Kết luận số 69-KL/TW ngày

14/4/2010 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Quy định số 54-QĐ/TW ngày

12/5/1999 của Bộ Chính trị h a VIII về chế độ học tập lý luận chính trị trong

Đảng; Nghị quyết số 32-NQ/TW ngày 26/5/2014 của Bộ Chính trị về tiếp tục đ i

mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ

lãnh đạo, quản lý... Thường xuyên nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, t

chức Đảng và đội ngũ ph ng viên, biên tập viên về vai trò quan trọng của việc học

tập lý luận chính trị, thực hiện nghiêm túc quy định, chế độ học lý luận chính trị gắn

với cung cấp thông tin, cập nhật kiến thức cho cán bộ quản lý, phóng viên, biên tập

viên; phát huy tính chủ động, tích cực của phóng viên, biên tập viên.

2.4.2. Những hạn chế

Bên cạnh những ết quả đạt được như đã nêu phần trên, công tác quản lý nhà

nước về phát thanh, truyền hình ở địa phương còn những mặt hạn chế như:

Một là, công tác lãnh đạo, chỉ đạo:

Chính sách, pháp luật về lĩnh vực này chậm được sửa đ i, b sung cụ thể

hoá. Đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình còn thiếu và yếu

54

về năng lực tham mưu, t ng hợp, t chức thực hiện. Hiện nay, hàng loạt các nội

dung về quản lý nhà nước chưa được quy định rõ ràng như mô hình t chức và hoạt

động của hệ thống đài huyện; hệ thống truyền thanh cơ sở; quy định, quy chế về chi

trả inh phí viết tin bài cho hệ thống các bản tin thông tin hông phải của cơ quan

báo chí; chưa ịp thời giải quyết các h hăn cho với các cơ quan báo chí như

chưa xây dựng hung quỹ nhuận bút hoặc hỗ trợ các nguồn lực cần thiết về tài

chính, cơ chế Chính sách nhất là đối với các cơ quan báo chí chủ lực của tỉnh.

Hệ thống văn bản qui phạm pháp luật, các văn bản dưới luật, văn bản hướng

dẫn của các cơ quan chuyên môn, đặc biệt là của ngành chưa ịp thời, đồng bộ. Các

cấp chính quyền, sở, ngành, đoàn thể còn thiếu sự phối hợp chặt chẽ với các cơ

quan quản lý báo chí trong cung cấp các thông tin và xử lý các thông tin.

Hai là, công tác quản lý phát thanh, truyền hình trên địa bàn chưa được

quan tâm đầu tư đúng mức.

Công tác thanh tra, iểm tra chưa được thực hiện thường xuyên, toàn diện, ở

cả cấp tỉnh, cấp huyện đặc biệt là việc thanh tra, iểm tra hoạt động phát hành ấn,

phát hành. Công tác quản lý nhà nước tại cấp huyện còn rất hạn chế do nhân lực

thực hiện nội dung này chỉ c 01 người, hơn nữa lại iêm nhiệm nhiều nội dung

khác nhau.

Quản lý về phát thanh, truyền hình còn nhiều bất cập, chưa theo ịp sự phát

triển; gặp nhiều h hăn do hành lang pháp lý còn thiếu, phần lớn chưa xử lý được

tận gốc; sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan chưa đồng bộ, ịp thời.

Đội ngũ cán bộ để tham mưu UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà

nước về báo chí còn thiếu về số lượng, hạn chế về trình độ quản lý, chuyên môn;

công tác t ng ết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về báo chí chưa được triển hai ịp

thời nên chưa đáp ứng tốt yêu cầu phát triển của ngành. Nhiều phòng VHTT cấp

huyện chưa c bộ phận, thậm chí chưa c cán bộ chuyên trách quản lý công tác phát

thanh. Trong công tác quản lý hoạt động phát thanh, truyền hình, - lĩnh vực c tính

đặc thù, đòi hỏi phải c iến thức về công nghệ, ỹ thuật - trình độ... tuy nhiên năng

lực của cán bộ quản lý ở một số địa phương còn chưa đáp ứng được yêu cầu; đa số

55

địa phương chưa c inh phí đầu tư trang thiết bị đáp ứng yêu cầu ngày càng đa

dạng và phức tạp của công tác quản lý.

Cơ chế phát ngôn cung cấp thông tin c triển hai, nhưng nhiều cơ quan

chưa thực hiện; sở, ban, ngành, huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh thường

thiếu chủ động cung cấp thông tin hoặc né tránh báo chí, nên dẫn đến hiện tượng c

một vài báo thông tin một chiều về một số sự việc nên chưa chính xác, gây bức xúc

trong dư luận. Các cấp chính quyền, sở, ngành, đoàn thể còn thiếu sự phối hợp chặt

chẽ với các cơ quan quản lý báo chí trong cung cấp các thông tin và xử lý các thông

tin, quản lý ph ng viên thường trú chưa sâu sát vì hách quan.

Tỉnh Quảng Bình chưa c Nhà Đài tại địa phương, do vậy chưa đáp ứng ịp

thời được nhu cầu xuất bản của các t chức, cá nhân tại địa phương. Nhu cầu phát

thanh tại địa phương há nhiều nhưng hoạt động tái đầu tư cho các nhà phát thanh

rất hạn chế, các thiết bị phụ trợ hông đồng bộ, ảnh hưởng nhiều đến chất lượng

bản tin.

Mặc dù mạng lưới phát hành đã phát triển mạnh trong giai đoạn vừa qua, tuy

nhiên mạng lưới phát hành đến hu vực vùng sâu vùng xa còn rất hạn chế, người

dân vẫn chưa được tiếp xúc nhiều với các bản tin theo nhu cầu.

Ba là, cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ cho công tác chuyên môn còn bất

cập với yêu cầu, ảnh hưởng không ít đến chất lượng, hình thức thông tin báo chí.

Hạ tầng công nghệ - kỹ thuật còn thiếu, chưa đồng bộ, tương thích với yêu cầu

nhiệm vụ và nhu cầu của độc giả, khán thính giả.

Nhiều xã trên địa bàn, đặc biệt là các xã h hăn chưa c hệ thống Đài

truyền thanh cơ sở, hoặc hệ thống Đài truyền thanh cơ sở đã xuống cấp, hư hỏng.

Chi phí duy trì hoạt động và thay thế sửa chữa còn hạn chế, nhiều nơi đã xuống cấp,

không sử dụng được. Nguồn lực ưu tiên cho hệ thống Đài truyền thanh cấp xã chưa

đáp ứng được yêu cầu. Mạng lưới các đài truyền thành cấp xã chưa hoàn thiện.

- Hầu hết các Đài truyền thanh cấp xã mới dừng lại ở việc tiếp sóng và thông

báo các văn bản liên quan đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành việc thực hiện

nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế xã hội của địa phương; việc sản xuất chương

56

trình, công tác biên tập, phát s ng các chương trình còn nhiều hạn chế, chất lượng

không cao. Kinh phí hằng năm để đảm bảo cho hoạt động thường xuyên của hệ

thống Đài chưa đảm bảo.

- Hoạt động thường xuyên của các Đài truyền thanh cấp xã hông đồng đều

phụ thuộc vào tình hình và khả năng của từng địa phương, một số các Đài truyền

thanh hoạt động hông đủ công suất, chất lượng thông tin, chất lượng âm thanh

thấp, ảnh hưởng lớn đến hiệu quả tuyên truyền.

- Đội ngũ cán bộ phụ trách vận hành, khai thác hệ thống Đài truyền thanh cơ

sở chủ yếu hoạt động kiêm nhiệm, làm ngoài giờ, thường xuyên thay đ i. Tại nhiều

xã nhiệm vụ vận hành, khai thác hệ thống Đài truyền thanh cơ sở được giao cho cán

bộ văn h a và phải làm việc chủ yếu ngoài giờ hành chính nên ảnh hưởng đến việc

thực hiện nhiệm vụ thông tin tuyên truyền ở cơ sở.

Chế độ nhuận bút ở Đài Phát thanh – Truyền hình cấp huyện còn thấp, chưa

huyến hích, động viên tác giả hăng say sáng tạo, đầu tư chiều sâu cho tác phẩm

báo chí. Chế độ Chính sách về biên chế, lao động, tài chính cho các cơ quan báo chí

chưa thoả đáng với đặc thù, yêu cầu của nghề nghiệp.

Đa số Đài Truyền thanh nghiệp vụ còn thấp. Máy m c, trang thiết bị làm

chương trình, thiết bị phát s ng, lạc hậu, xuống cấp, cơ sở vật chất nghèo nàn, kinh

phí bất cập so với cường độ hoạt động và yêu cầu nhiệm vụ. Đa số cán bộ là iêm

nhiệm nên nội dung, ỹ thuật, chuyên môn còn hạn chế, ít được đào tạo. Phần lớn

bản tin phát s ng còn nghèo, hạn chế về chất lượng nội dung, hiệu quả tuyên truyền.

Thông tin đơn điệu, trùng lặp, diện phát hành hẹp. Một số trang PTTH chưa đăng

đủ các thông tin chủ yếu theo quy định của pháp luật hoặc trích dẫn thông tin mà

hông được sự đồng ý của chủ sở hữu hoặc hông ghi rõ nguồn gốc xuất xứ.

Quy mô, năng lực hoạt động phát thanh, truyền hình chưa đáp ứng nhu cầu

ngày càng lớn và đa dạng của xã hội, hiệu quả chưa cao. Tuy đã c những tác phẩm

giới thiệu, quảng bá về Đất và Người Quảng Bình được nghiên cứu, biên soạn công

phu, c giá trị hoa học song chưa nhiều. Bản tin phục vụ quảng bá Du lịch, thu hút

đầu tư còn ít.

57

Công nghệ phát thanh truyền hình mặc dù đã c sự đầu tư, nhưng vẫn còn

nhiều thiết bị, công nghệ lạc hậu, chưa đáp ứng được tất cả nhu cầu tại chỗ về

truyền hình ỹ thuật số công nghệ cao, chất lượng tốt. Công nghiệp ỹ thuật số

Quảng Bình chưa c hả năng đáp ứng nhu cầu về phát thanh truyền hình của các

hu công nghiệp, cụm công nghiệp trong tỉnh.

Mạng lưới phát thanh còn thưa mỏng, phân bố hông đều, chủ yếu tập trung

ở Thành phố Đồng Hới, còn trống huyết ở một số vùng nông thôn, miền núi.

Nhiều chủ cơ sở phát hành nhỏ lẻ chưa nắm được qui định của pháp luật về phát

hành bản tin, chỉ quan tâm thỏa mãn thị hiếu của một bộ phận người đọc nhằm thu

lợi, hông cần biết những tác hại do các bản tin c nội dung hông lành mạnh mang

lại. Các dịch vụ phát thanh truyền hình còn nghèo, đơn lẻ.

Bốn là, công tác thanh tra, kiểm tra các sai phạm trong thông tin còn chưa

kiên quyết, triệt để, nhất là trên các trang thông tin điện tử, báo chí trên địa bàn;

Chính sách đầu tư công nghệ, tài chính cho báo chí Quảng Bình còn chậm.

Trong thời ỳ bùng n thông tin với sự giúp sức của công nghệ thông tin,

truyền hình, việc bảo đảm an ninh văn h a – từ tưởng trong bối cảnh toàn cầu h a

mang tính bức thiết. Làm thế nào để vừa phát triển thị trường phát thanh, truyền

hình theo định hướng, phục vụ phát triển inh tế, văn h a, xã hội...của đất nước,

vừa ịp thời phát hiện uốn nắn, hắc phục những lệch lạc, sai phạm, trọng trách này

đặt nặng lên vai các cơ quan quản lý nhà nước từ cấp trung ương đến địa phương.

2.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế

Nguyên nhân khách quan (Bối cảnh chung trên thế giới, khu vực):

Trong những năm qua, lĩnh vực phát thanh, truyền hình trên thế giới c nhiều

thay đ i về loại hình, mô hình t chức, hình thức thể hiện, công nghệ và cách thức

thụ hưởng thông tin. Ngoài các loại hình thông tin báo chí truyền thống, một số loại

hình thông tin c tính chất báo chí phát triển nhanh như thông tin trên các diễn đàn,

mạng xã hội; mô hình t chức của các cơ quan báo chí thay đ i theo xu hướng hội

tụ thông tin, một cơ quan báo chí thực hiện nhiều loại hình báo chí; hình thức thể

hiện các bản tin, loại hình thông tin ngày càng phong phú, hấp dẫn hơn; người dân

58

thụ hưởng thông tin mọi lúc, mọi nơi, trên nhiều loại thiết bị thông minh. Về cơ

bản, nhu cầu thông tin của người dân được đáp ứng ngày càng cao.

Một số doanh nghiệp phát thanh truyền hình giảm sút số lượng phát hành,

một số cơ quan báo c số lượng phát hành hàng đầu tỉnh cũng bị ảnh hưởng theo

chiều hướng xấu. Trong bối cảnh đ , một số báo nghiên cứu và áp dụng hình thức

báo phát hành trên vật liệu điện tử (Epaper), một số hác dừng hẳn việc phát hành

bản tin, chuyển sang loại hình thông tin hác.

PTTH phát triển mạnh theo xu thế hội tụ. Số lượng trang PTTH phát triển

nhanh ch ng, thông tin điện tử là một loại hình hông thể thiếu của các tập đoàn

truyền thông trên thế giới. PTTH phát triển gắn liền với hình thức báo chí công dân

(người dân tham gia viết báo), làm tăng tính đa chiều và tính thời sự của báo chí.

Những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và trong nước, mặt trái của

cơ chế thị trường, sự phát triển của thông tin điện tử đã tác động đến nhận thức, tư

tưởng của cán bộ, Đảng viên, nhân dân, trong đ c lực lượng làm công tác báo chí

của địa phương.

- Nguyên nhân chủ quan

- Một số Đài truyền thanh cấp xã trên địa bàn tỉnh bị xuống cấp và lạc hậu là

do được đầu tư đã lâu, nhưng lại chưa đầu tư như duy tu, bảo dưỡng, thay thế, nâng

cấp trang thiết bị.

- Nguồn kinh duy trì hệ thống Đài truyền thanh cấp xã còn hạn chế, chưa

được quan tâm và chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước, các nguồn hợp pháp khác

còn chưa được khai thác và phát huy.

- Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác truyền thông chưa được quan

tâm đúng mức. Phụ cấp cho cán bộ quản lý, vận hành hệ thống Đài truyền thanh cấp

xã còn thấp hông thu hút người c năng lực tích cực tham gia. Nhiều cán bộ Đài

truyền thanh cấp xã chưa được đào tạo về kỹ thuật nên chưa sửa chữa được những

hư hỏng cơ bản.

59

Tiểu kết chƣơng 2

Quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình trong thời gian qua trên địa bàn

tỉnh Quảng Bình luôn được sự quan tâm lãnh, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ của các

cấp ủy Đảng và chính quyền trong tỉnh. Trong giai đoạn 2018 đến 2023, lĩnh vực

này c nhiều văn bản được xây dựng, ban hành làm nền tảng cho công tác t chức

thực hiện, thanh tra, iểm tra và xử lý các vi phạm. Nhờ đ , qua từng năm hoạt

động phát thanh, truyền hình c những đ i thay rõ nét, công tác quản lý nhà nước

về phát thanh, truyền hình ngày càng đi vào nề nếp, đạt được nhiều ết quả nhất

định. Nhận thức của cơ quan quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình ngày càng

rõ nét, c quan tâm chú trọng hơn; cơ quan chuyên môn, tham mưu giúp việc cho

UBND tỉnh c tinh thần trách nhiệm,chủ động cao, tính phối hợp ngày càng chặt

chẽ; công tác thanh tra, iểm tra và xử lý vi phạm ngày được quan tâm và thực hiện

thường xuyên hơn.

Bên cạnh đ , cũng còn một số hạn chế nhất định như: Công tác t chức thực

hiện quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình đôi lúc chưa được quan tâm đúng

mức, c hi còn buôn lỏng; công tác thanh tra, iểm tra và xử lý vi phạm pháp luật

về phát thanh, truyền hình c hi chưa được ịp thời và thiếu triệt để. Đồng thời, bộ

phận cán bộ, công chức, viên chức làm công tác phát thanh, truyền hình và quản lý

nhà nước về phát thanh, truyền hình chưa xây dựng được tính chủ động, thiếu iên

quyết, đôi lúc còn thiếu trách nhiệm trong công việc...

Vì vậy, để quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình đạt hiệu quả cao hơn,

cần phải nghiêm túc nhìn nhận những hạn chế, tồn đọng, hắc phục những nguyên

nhân hạn chế, yếu ém, ế thừa tiếp thu những thành tựu, phát huy nội lực để xây

dựng tỉnh Quảng Bình ngày càng phát triển.

60

Chương 3:

PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP

QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ PHÁT THANH, TRUYỀN HÌNH

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG BÌNH

3.1. Phƣơng hƣớng quản lý nhà nƣớc về phát thanh, truyền hình tại tỉnh

Quảng Bình

3.1.1. Phương hướng quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình cần quán triệt

đường lối, chủ trương của Đảng về công tác phát thanh, truyền hình

Chiến lược phát triển thông tin Việt Nam đã chỉ rõ những quan điểm chỉ đạo

của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển thông tin ở nước ta n i chung và báo chí

- xuất bản n i riêng như sau:

- Hoạt động thông tin và các loại hình thông tin ở nước ta đặt dưới sự lãnh

đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và tuân thủ các quy định của pháp luật; vừa

g p phần mở rộng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, vừa đề cao ỷ cương, ỷ

luật và pháp luật. Phát triển nhanh, mạnh, vững chắc hệ thống thông tin, đảm bảo

phát triển đi đôi với quản lý tốt.

- Bảo đảm tính chân thật, tính giáo dục, tính chiến đấu của thông tin, phù

hợp với lợi ích của đất nước và nhân dân. Thông tin phải thực sự đi trước một bước,

vừa làm tốt việc dự báo, định hướng phát triển xã hội, đồng thời phải là nguồn lực

thúc đẩy sự phát triển xã hội. Thông tin phục vụ sự nghiệp đ i mới, đ i mới tư duy

phát triển lý luận; mở rộng và phát huy dân chủ trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội;

nâng cao ý thức làm chủ đất nước của nhân dân. Phát triển thông tin phải bảo đảm

an ninh thông tin trong bối cảnh tình hình quốc tế c những diễn biến phức tạp.

Việc bảo đảm an ninh thông tin phải bảo đảm phục vụ tốt cho việc nâng cao chất

lượng, hiệu quả của thông tin, đồng thời hông cản trở sự phát triển thông tin.

3.1.2. Quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình phải hướng đến phục vụ và

đáp ứng tốt nhất nhu cầu thông tin của người dân

Cùng với sự phát triển inh tế - xã hội, nhu cầu về thông tin ngày càng tăng,

do đ , nhà nước hông thể hông tăng cường quản lý nhà nước về báo chí - xuất

61

bản. Phát thanh, truyền hình là cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước là diễn đàn

của nhân dân, do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và hoạt động trong huôn h

pháp luật. Phát triển phải đi đôi với quản lý tốt, đặc biệt là chất lượng nội dung

thông tin.

Hoạt động phát thanh, truyền hình trong điều iện hiện nay chịu các tác

động: nhu cầu thông tin và được thông tin; sự phát triển nhanh về ỹ thuật và công

nghệ truyền thông; nền inh tế theo cơ chế thị trường...

Quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình nhằm hướng tới mục tiêu xây

dựng và phát triển nền văn h a tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; giảm thiểu vi

phạm pháp luật về phát thanh, truyền hình; tạo lập môi trường n định, bảo đảm

quyền con người, quyền công dân về tự do ngôn luận, tự do báo chí; xây dựng môi

trường văn h a văn minhvà giàu tính nhân văn. Quản lý nhà nước về phát thanh,

truyền hình phải bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, c quyền được

thông tin của công dân theo quy định tại Hiến pháp năm 2021 và các văn bản luật

có liên quan, nâng cao trách nhiệm xã hội của báo chí, đáp ứng nhu cầu thông tin

của xã hội tốt hơn.

3.1.3. Quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình phải hướng đến kh c phục

những hạn chế, yếu kém trong quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình

Phát thanh, truyền hình với tư cách là công cụ quan trọng về công tác tư

tưởng, chính trị của Đảng, với sự đa dạng của các loại hình báo chí và những lợi thế

riêng c , báo chí hoàn toàn c hả năng đ ng g p rất tích cực, c hiệu quả vào sự

nghiệp giữ vững và tăng cường sự n định chính trị - xã hội của đất nước. Trong

những năm qua, hoạt động của báo chí nước ta đã và đ ng g p rất lớn cho sự phát

triển và hội nhập thế giới trên mọi lĩnh vực. Song song đ vẫn còn tồn đọng nhiều

vấn đề phát sinh cần sự điều chỉnh sâu sắc của các cơ quan chuyên trách.

Quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình là một chức năng thật sự cần

thiết của cơ quan nhà nước c thẩm quyền, n đáp ứng nguyện vọng của đông đảo

quần chúng nhân dân trong xã hội. Bới lẽ vấn đề tự do báo chí và tự do ngôn luận

trên báo chí là một nhu cầu c thực của xã hội, n đánh giá tiêu chuẩn phát triển về

62

các quyền tự nhiên mang tính nhân bản trong toàn xã hội. Nhu cầu về tự do báo chí,

ngôn luận sẽ vẫn còn tiếp tục tiếp diễn và c ảnh hưởng rất lớn đến tình hình trị an,

trật tự xã hội của đất nước. Bên cạnh d , trên bình diện quốc tế, các thông tin mà

báo chí cung cấp cũng như các hoạt động liên quan đến báo chí cũng c những ảnh

hưởng nhất định đến vấn đề an ninh chính trị của toàn cầu.

Phát triển phát thanh, truyền hình phải đi đôi với quản lý chặt chẽ, c hiệu

quả toàn bộ hệ thống phát thanh, truyền hình cũng như từng cơ quan báo chí, đơn vị

xuất bản. Thời ỳ mới đặt ra những yêu cầu mới của hoạt động phát thanh, truyền

hình. Tuy nhiên, trước tác động của cơ chế thị trường, mọi hoạt động của phát

thanh, truyền hình luôn đối mặt với nguy cơ tự phát. Do vậy, lãnh đạo, quản lý phát

thanh, truyền hình phải đặc biệt quan tâm đến những đặc điểm của tình hình mới,

phòng ngừa và hạn chế tiêu cực. Bên cạnh đ , cũng cần đề phòng huynh hướng

nhân danh sự lãnh đạo, quản lý để b p nghẹt sức năng động, sáng tạo của các cơ

quan phát thanh, truyền hình cũng như cá nhân nhà báo. Quản lý chặt chẽ chính là

điều iện bảo đảm cho phát thanh, truyền hình phát triển đúng quy hoạch, phù hợp

quy mô, số lượng, tránh lãng phí. Nhưng báo chí là một bộ phận thuộc lĩnh vực

sáng tạo văn hoá, tinh thần, rất cần những hoảng trống riêng như V.I.Lê Nin đã

từng nhấn mạnh. Do vậy, quản lý phát thanh, truyền hình đòi hỏi phải vừa mềm

dẻo, vừa nguyên tắc mới c thể đạt hiệu quả mong muốn.

3.1.4. Quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình phải nhằm nâng cao hiệu lực,

hiệu quả hoạt động của các cấp chính quyền, đồng thời phải đảm bảo pháp chế

xã hội chủ nghĩa

Tăng cường quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình là nhằm xây dựng

bộ máy chính quyền các cấp mạnh mẽ và trong sạch, thật sự của dân, do dân và vì

dân; đủ hả năng và điều iện thực hiện c hiệu quả các nhiệm vụ quản lý inh tế -

xã hội n i chung, phát thanh, truyền hình trên địa bàn n i riêng, quản lý và t chức

tốt việc cung ứng dịch vụ phát thanh, truyền hình cho cá nhân và t chức nước

ngoài, tạo mọi điều iện phát triển inh tế địa phương, g p phần nâng cao đời sống

nhân dân; phát huy hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân trong việc xây dựng và

63

iểm tra, giám sát bộ máy chính quyền và đội ngũ cán bộ, công chức.

Tăng cường quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình cần trên cơ sở phân

biệt lợi ích quốc gia và lợi ích của cộng đồng lãnh th nhưng phải bảo đảm chủ quyền

quốc gia và lợi ích quốc gia; bảo đảm sự liên ết và phối hợp giữa Trung ương và địa

phương; sự tham gia của địa phương vào việc quyết định các vấn đề c liên quan đến

phát thanh, truyền hình của địa phương; sự hỗ trợ từ phía Trung ương đối với phát

thanh, truyền hình của địa phương; sự phối hợp trong việc thực hiện những thẩm

quyền chung của cả trung ương và địa phương về phát thanh, truyền hình…

Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa đòi hỏi hoạt động phát thanh, truyền

hình phải trong huôn h Hiến pháp và pháp luật. Pháp chế xã hội chủ nghĩa là

thống nhất, thể hiện quyền lực nhà nước thống nhất, hông phân biệt theo vùng,

theo đơn vị hành chính lãnh th hoặc pháp chế trung ương, pháp chế địa phương.

Tăng cường quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình phải bảo đảm sự

lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành tập trung thống nhất và thông suốt từ Trung ương đến

địa phương; đồng thời phát huy quyền tự chủ, tính năng động, sáng tạo của các cấp

chính quyền.

3.1.5. Quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình phải g n liền với xây dựng,

phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế

Trong điều iện phát triển nền inh tế thị trường định hướng xã hội chủ

nghĩa và hội nhập quốc tế, quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình phải bắt ịp

trình độ phát triển cao của phương tiện ỹ thuật, công nghệ truyền thông hiện đại.

Quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình phải phù hợp với cơ chế vận

hành trong điều iện inh tế thị trường. Pháp luật phải điều chỉnh ịp thời những tác

động của thị trường, quy luật cung cầu. Báo chí đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu của

quần chúng nhưng điều đ hông được dẫn đến huynh hướng thương mại h a một

cách tràn lan và sự lũng đoạn của đồng tiền đối với báo chí. Nhu cầu thông tin và

được thông tin cần c sự giao lưu quốc tế. Sự giao lưu này ngày càng mở rộng, nhất

là hi Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên WTO. Pháp luật về báo chí phải

phù hợp với các chuẩn mực và cam ết mà Việt Nam ý ết hoặc tham gia.

64

3.2. Giải pháp tăng cƣờng quản lý nhà nƣớc về phát thanh, truyền hình trên

địa àn tỉnh Quảng Bình

3.2.1. Hoàn thiện văn bản quản lý nhà nước, hệ thống pháp luật về phát thanh,

truyền hình trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

Chất lượng, hiệu quả quản lý xã hội của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ

nghĩa phụ thuộc rất nhiều vào mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật. Vì vậy,

yêu cầu về một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đồng bộ trong lĩnh vực phát

thanh, truyền hình là hết sức cần thiết. Điều chỉnh hoạt động báo chí thông qua định

hướng của Đảng và hệ thống pháp luật của Nhà nước, vừa bảo đảm sự chặt chẽ

trong quy định, chế tài, vừa bảo đảm sự thông thoáng cho nhà báo và các cơ quan

báo chí phát huy tính năng động, sáng tạo.

Tiếp tục nghiên cứu, xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật

chuyên ngành tạo hành lang pháp lý cho việc quản lý và triển hai các hoạt động

đầu tư phát triển phát thanh, truyền hình. Một số văn bản cần ban hành như sau:

- Cơ chế đặt hàng thông tin báo chí (Sở Thông tin và Truyền thông, Ban

Tuyên giáo Tỉnh ủy, Sở Tài chính);[10]

- Cơ chế hỗ trợ cho cán bộ làm công tác truyền thanh cơ sở (Sở Thông tin

và Truyền thông);

- Thực hiện cơ chế hợp đồng đọc lưu chiểu tác phẩm báo chí.

Rà soát, b sung, hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp quy liên quan đến

phát thanh, truyền hình như quản lý tần số, quản lý tài chính, an ninh mạng và các

chế tài, văn bản hướng dẫn hác về phát thanh, truyền hình. Hoàn thiện, thực hiện

nghiêm túc Quy chế người phát ngôn và chế độ cung cấp thông tin cho báo chí.

Đảm bảo các cơ quan thông tấn báo chí được cung cấp thông tin chính thống, đầy

đủ và ịp thời phục vụ cho công tác thông tin tuyên truyền. Các quy định về lĩnh

vực duyệt bản tin và sản phẩm hông phải là bản tin chính thống: b sung quy định

về phát hành các sản phẩm hông phải là bản tin chính thống và xử lý vi phạm về

phát hành các sản phẩm hông phải là bản tin chính thống.

Luật Phát thanh truyền hình, Luật Báo chí và các văn bản quy định chi tiết đã

65

tạo điều iện thuận lợi cho hoạt động phát thanh, truyền hình phát triển, g p phần

nâng cao dân trí và đáp ứng nhu cầu đọc ngày một cao của nhân dân.

Trong quá trình thực thi, bên cạnh những mặt ưu điểm, tích cực cũng đã nảy

sinh nhiều vấn đề mới trong thực tiễn đòi hỏi Luật Phát thanh truyền hình, Luật Báo

chí phải được điều chỉnh để đáp ứng yêu cầu thực tế. Một số quy định trong Luật

Phát thanh truyền hình, Luật Báo chí và các văn bản dưới luật còn thiếu cụ thể,

thiếu đồng bộ với một số luật c liên quan. Một số quy định hông còn phù hợp với

thực tiễn hoạt động phát thanh, truyền hình bản tin chính thống gây ra những h

hăn, vướng mắc trong công tác quản lý nhà nước cũng như việc chấp hành, thực

thi pháp luật. Chính vì vậy, năm 2020, Luật Phát thanh truyền hình sửa đ i đã được

Quốc hội thông qua và năm 2016 Luật Báo chí cũng đã được sửa đ i.

C thể hái quát chung từng lĩnh vực như sau: Đối với lĩnh vực truyền hình,

vẫn xác định rõ nhà truyền hình thuộc Nhà nước quản lý, hông c yếu tố tư nhân.

Đối với lĩnh vực phát thanh và truyền hình bản tin chính thống được nghiên cứu, b

sung những quy định mới điều chỉnh toàn diện hai lĩnh vực này. Đồng thời, luật h a

các vấn đề phát sinh từ thực tiễn để Nhà nước thực hiện quyền quản lý, tạo điều

iện thuận lợi hỗ trợ các chủ thể tham gia hoạt động truyền hình phát triển, các quy

trình được quy định theo hướng cải cách đơn giản hoá các thủ tục hành chính.

Như vậy, để tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động phát thanh,

truyền hình cần kịp thời xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Truyền

hình; Luật Báo chí cho phù hợp với tình hình mới.

Ngoài ra, Nhà nước cần tiếp tục ban hành và hoàn thiện hệ thống pháp luật,

các cơ quan đơn vị thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông trong phạm vi chức năng

nhiệm vụ, quyền hạn của mình cần rà soát, iểm tra các văn bản pháp luật về hoạt

động truyền hình đã ban hành, phát hiện những sơ hở, thiếu s t để ịp thời sửa đ i,

b sung hoặc iến nghị cấp c thẩm quyền sửa đ i, b sung, xây dựng các văn bản

quy phạm pháp luật điều chỉnh trong những quan hệ xã hội mới phát sinh để tạo ra hệ

thống pháp luật hoàn chỉnh, chặt chẽ, đồng bộ và luôn theo ịp với sự phát triển của

xã hội. Xây dựng, sửa đ i cơ chế, Chính sách phù hợp tạo hành lang pháp lý chặt chẽ,

66

định hướng sự phát triển và hỗ trợ tối đa, huyến hích sự phát triển của tất cả các

doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp mới. Xây dựng cơ chế, Chính sách để điều

chỉnh sự cạnh tranh giữa các Nhà truyền hình, các doanh nghiệp phát hành, hông để

sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trở nên thiếu bình đẳng, thiếu lành mạnh, tạo ra

he hở để các đối tượng lợi dụng thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

Công tác ban hành, sửa đ i b sung các quy phạm pháp luật đòi hỏi phải

thường xuyên, ịp thời đáp ứng sự đ i mới của cơ chế Chính sách. Nếu pháp luật bỏ

những hoảng trống, tạo ra ẽ hở sẽ nảy sinh những hành vi tuỳ tiện, tiêu cực và sẽ

là nguyên nhân của tình trạng vi phạm pháp luật. Vì vậy, muốn phòng chống vi

phạm hông thể hông hoàn thiện hệ thống pháp luật của nhà nước.

Bên cạnh đ , hành lang pháp lý về sở hữu trí tuệ cũng cần được xem xét để

c sự điều chỉnh cho phù hợp, điều này phát sinh từ thực tế đ là: Khi các tác phẩm

văn học nghệ thuật, phần mềm máy tính được hoàn thành, quyền tác giả và các

quyền liên quan mới được xác định hi tác giả đăng ý với cơ quan quản lý nhà

nước về sở hữu trí tuệ. Các tranh chấp về quyền tác giả và quyền liên quan chỉ thực

sự phát sinh chủ yếu thông qua hoạt động truyền hình ( hi các bản tin chính thống

được phát hành rộng rãi). Hiện nay, Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện quản

lý nhà nước về công nghệ thông tin, phát thanh, truyền hình; Bộ Văn h a, Thể thao

và Du lịch thực hiện quản lý nhà nước về quyền tác giả và quyền liên quan đối với

các tác phẩm văn học, nghệ thuật, trong đ c bản tin chính thống. Với hành lang

pháp lý quy định như vậy, để thực hiện iểm tra về quyền tác giả và các quyền liên

quan tại các cơ sở phát hành, Bộ Thông tin và Truyền thông phải t chức các đoàn

thanh tra, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực truyền hình c sự tham gia của

nhiều Bộ, ngành liên quan. Qua thực tiễn hoạt động, công tác phối hợp giữa các Bộ,

ngành trong việc thanh tra, iểm tra các cơ sở phát hành chưa thực sự chặt chẽ.

3.2.2. Hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện quản lý nhà nước về phát thanh,

truyền hình trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

Hiệu quả quản lý trật tự đô thị đòi hỏi phải bảo đảm sự thống nhất, phù hợp

nhất quán trong công tác t chức thực hiện các văn bản quản lý nhà nước về quản lý

67

trật tự đô thị được quy định trong thể chế với việc triển hai các quy định trong thực

tế. Đồng thời, phải quan tâm trang bị đầy đủ các phương tiện, công cụ để các cơ

quan thi hành pháp luật được đảm bảo. Vì vậy cần phải:

Thứ nhất, nâng cao năng lực của cơ quan quản lý nhà nước về phát thanh,

truyền hình Quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình là đảm bảo và duy trì sự n

định bền vững và phát triển c định hướng của phát thanh, truyền hình. Vì thế, các cư

quan chức năng cần phải tăng cường công tác quản lý nhà nước về phát thanh, truyền

hình và thường xuyên iểm tra, phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm về phát thanh,

truyền hình trên địa bàn. Các biện pháp t chức hành chính đ ng vai trò quan trọng

trong việc tạo ra sự tác động c chủ định, c mục đích, c ế hoạch với việc dùng dư

luận xã hội hoặc các biện pháp cưỡng chế hành chính để điều chỉnh các hành vi sai

phạm của người dân. Trong đ , đặc biệt chú trọng việc xây dựng, hoàn thiện và ban

hành các nội quy, quy định, quy ước phù hợp với mỗi hành vi, mỗi đơn vị cơ sở;

đồng thời, t chức triển hai tốt việc iểm tra, iểm soát, chấn chỉnh, xử lý các hành

vi vi phạm về phát thanh, truyền hình theo quy định của pháp luật.

Thứ hai, nâng cao năng lực của đội ng cán bộ, công chức làm công tác

quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình.

Làm tốt công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo các cơ quan phát thanh, truyền

hình. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trẻ c năng lực chuyên môn, phẩm chất

đạo đức và bản lĩnh chính trị. Tăng cường cán bộ c đủ phẩm chất, năng lực và đủ

về số lượng cho các cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh và cấp huyện.

Xây dựng đội ngũ những người làm báo c trình độ nghiệp vụ cao, c bản

lĩnh chính trị, c hả năng tác nghiệp năng động, sáng tạo. C chế độ ưu đãi,

huyến hích, động viên những nhà báo giỏi. Chú trọng công tác giáo dục chính trị

- tư tưởng, phát triển đảng viên trong đội ngũ những người làm báo.

Tăng cường cơ chế nguồn nhân lực cho các cơ quan báo chí, đảm bảo về số

lượng và chất lượng theo yêu cầu nghiệp vụ từng giai đoạn phát triển.

Cần xây dựng lộ trình chuẩn h a đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà

nước về phát thanh, truyền hình, phải đặc biệt chú ý đến bản lĩnh chính trị, đạo đức

68

công vụ và tạo môi trường thuận lợi cho cán bộ thực hiện nhiệm vụ. Cần phân định

rõ chức năng nhiệm vụ, trách nhiệm và thẩm quyền của cán bộ, công chức. Tăng

cường tính công hai minh bạch, trách nhiệm trong hoạt động công vụ.

Thường xuyên c ế hoạch bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao năng lực xây

dựng, t chức thực hiện và xử lý vi phạm pháp luật về phát thanh, truyền hình. C

Chính sách đãi ngộ, động viên huyến hích cán bộ công chức hoàn thành nhiệm vụ

và c biện pháp xử lý iên quyết những cán bộ vi phạm, hông hoàn thành nhiệm

vụ được giao.

Ngoài ra, về cán bộ quản lý phát thanh, truyền hình, pháp luật cần quy định

hệ thống tiêu chuẩn chức danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ phù hợp với thực tiễn, bảo

đảm công tác chuyên môn của từng đối tượng. Cán bộ quản lý phát thanh, truyền

hình phải c tri thức báo chí, tri thức về hoa học công nghệ thông tin và quản lý, tri

thức pháp luật. Cần c những quy định cụ thể về tuyển dụng cán bộ, sắp xếp và bố

trí cán bộ.

Cuối cùng, phải tiếp tục đ i mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, và

đào tạo lại những người quản lý phát thanh, truyền hình, bồi dưỡng, quy hoạch, bố

trí đội ngũ cán bộ để theo ịp tốc độ phát triển chung của xã hội và hông tụt hậu

quá xa so với các nước trong hu vực và trên thế giới. Hoàn thiện hệ thống đào tạo

cán bộ phát thanh, truyền hình đại học và trên đại học, tham gia xây dựng ngành

hoa học báo chí học, đào tạo đội ngũ nhà báo và những người hoạt động trong lĩnh

vực phát thanh, truyền hình c phẩm chất chính trị vững vàng, chuyên môn cao, đáp

ứng yêu cầu nhân lực của phát thanh, truyền hình nước nhà.

Thứ ba, kiện toàn tổ chức, bảo đảm nguồn nhân lực và các nguồn lực khác

thực hiện quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình.

Đảng và Nhà nước ta luôn xác định hoạt động phát thanh, truyền hình là hoạt

động thuộc lĩnh vực văn h a, tư tưởng. Ngoài các Chính sách hỗ trợ đầu tư của nhà

nước cũng như việc hoàn thiện đồng bộ hành lang pháp lý, đòi hỏi các nhà truyền

hình, cơ sở phát hành, cơ sở phát hành phải tự đ i mới, tìm iếm hướng đi, đầu tư,

xây dựng cho mình một chiến lược phát triển phù hợp.

69

Với chức năng quản lý nhà nước, trong thời gian qua, Bộ Thông tin và

Truyền thông đã phối hợp với các Bộ, ngành c liên quan xây dựng và hoàn thiện

văn bản trình Thủ tướng Chính phủ xem xét phê duyệt thành lập Quỹ Hỗ trợ phát

thanh, truyền hình Việt Nam và Quy hoạch phát triển sự nghiệp phát thanh, truyền

hình toàn quốc. Với việc Quốc hội thông qua Luật Phát thanh, truyền hình (sửa đ i)

trong năm 2020 và Luật Báo chí năm 2016 sẽ tạo một hành lang pháp lý, cơ chế

Chính sách đồng bộ thúc đẩy hoạt động phát thanh, truyền hình phát triển một cách

mạnh mẽ.

Bên cạnh đ , với trách nhiệm được giao, Cục Báo chí, Cục Phát thanh –

Truyền hình và PTTH và Cục PTTH&TTĐT – cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh

vực phát thanh, truyền hình, phát thanh và truyền hình bản tin cần phải phối hợp với

Sở Thông tin và Truyền thông các tỉnh, thành phố và các cơ quan chức năng c liên

quan tăng cường công tác thanh tra, iểm tra toàn diện hoạt động phát thanh, truyền

hình, phát thanh, truyền hình, phát hiện và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm.

Đối với những hành vi vi phạm nghiêm trọng sẽ iến nghị hởi tố theo quy định của

pháp luật.

Thực hiện công tác iện toàn t chức thanh tra chuyên ngành thông tin và

truyền thông; đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức thanh tra. Thanh tra

chuyên ngành thông tin và truyền thông là công cụ hông thể thiếu phục vụ công

tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực thông tin và truyền thông, là công cụ quản lý

nhà nước c vai trò quan trọng giúp cơ quan quản lý nhà nước quản lý chặt chẽ các

đối tượng bị quản lý; ịp thời phát hiện các sai phạm, c biện pháp xử lý, hắc phục

hữu hiệu, đảm bảo để các cơ quan, t chức và cá nhân tuân thủ và chấp hành đầy đủ

pháp luật của nhà nước. Với vai trò quan trọng như vậy nên việc củng cố, iện toàn

t chức thanh tra là một yêu cầu cấp thiết. Nhân tố con người luôn luôn là yếu tố

quyết định, vì vậy cần tiếp tục đẩy mạnh công tác bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán

bộ, công chức thanh tra. Cán bộ thanh tra phải là những người c phẩm chất đạo

đức tốt, iên quyết đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật và c trình độ

chuyên môn cao, c iến thức về những lĩnh vực thanh tra để c thể ết luận được

70

đúng hoặc ai, mức độ vi phạm của đối tượng bị thanh tra; chỉ rõ những sơ hở, bất

cập trong Chính sách, cơ chế quản lý, thấy được sự năng động, sáng tạo trong kinh

doanh. Từ đ c các quyết định, iến nghị, đề xuất đúng đắn, g p phần hoàn thiện

cơ chế quản lý, giữ vững trật tự, ỷ cương xã hội.

Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác quản lý nhà nước đối với

hoạt động phát thanh, truyền hình cũng là một vấn đề cần phải được chú trọng và

cải thiện nhằm nâng cao điều iện làm việc của công chức, tạo hiệu quả trong quá

trình thực hiện chức năng của mình. Một thực tiễn được đưa ra như là ví dụ điển

hình về vấn đề này: Thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về hoạt động phát

thanh, truyền hình trên 3 lĩnh vực phát thanh, truyền hình, bản tin, Cục

PTTH&TTĐT đang chịu trách nhiệm quản lý số lượng lớn đối tượng, gồm: 64 nhà

Đài, hoảng 1.500 cơ sở PTTH cấp cơ sở, gần 120 công ty truyền hình ỹ thuật số;

85 công ty TNHH và mạng lưới hơn 14.000 các cửa hàng, nhà Đài và đại lý ở hắp

cả nước..., thế nhưng hạ tầng công nghệ thông tin của Cục PTTH&TTĐT lại đang ở

dưới mức tối thiểu, h c thể đáp ứng được yêu cầu của công việc. Toàn Cục c 45

cán bộ, công chức, viên chức và nhân viên nhưng chỉ c 23 máy tính để bàn, trong

đ nhiều máy tính hỏng vì quá cũ. Do đ , vẫn còn tình trạng vài người sử dụng

chung 1 máy, thậm chí Cục trưởng và Chánh Văn phòng mới về nhận công tác còn

chưa c máy tính để sử dụng. Hệ thống máy chủ của Trung tâm Thông tin xuất bản

được đặt chung phòng với hệ thống T ng đài điện thoại và mạng LAN nội bộ,

phòng đặt máy hông đảm bảo an toàn và dễ bị nước mưa chảy vào. Phòng đặt máy

chủ chỉ c 1 chiếc điều hòa nên hông đảm bảo điều iện tốt cho máy chủ hoạt

động an toàn

Như vậy, việc cải thiện cơ sở vật chất, nâng cao điều iện và môi trường làm

việc cũng chính là một biện pháp g p phần hoàn thiện công tác xử lý vi phạm hành

chính trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình.

Nâng cao trình độ và tăng cường lực lượng phát hiện các hành vi vi phạm

trong hoạt động phát thanh, truyền hình. Ngoài lực lượng thanh tra chuyên ngành

thông tin và truyền thông, các lực lượng hách như: lực lượng trong các cơ quan

71

quản lý thị trường, công an, hải quan… cũng là những nguồn lực quan trọng trong

việc phát hiện các hành vi vi phạm. Vì vậy, lực lượng này cũng cần phải được

thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao trình độ, nghiệp vụ để phục vụ tốt cho việc điều

tra, phát hiện và xử lý các vụ vi phạm. Dựa trên cơ sở hối lượng công việc đang

thực hiện cần c sự phân b , điều động hoặc tuyển dụng nhân lực hợp lý nhằm

hông ngừng tăng cường cho lực lượng này.

Thứ tư, nâng cao ý thức trách nhiệm của các nhà Đài, doanh nghiệp, cơ sở

hoạt động trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình

Các nhà Đài, doanh nghiệp, cơ sở hoạt động trong lĩnh vực phát thanh,

truyền hình cần thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về hoạt động phát

thanh, truyền hình bản tin chính thống gồm: đăng ý ế hoạch xuất bản, làm thủ tục

xin phát hành giấy phép xuất bản tài liệu hông inh doanh, giấy phép hoạt động

phát hành bản tin; quản lý, theo dõi hoạt động phát hành; nộp lưu chiểu bản tin

chính thống. Để làm được điều này, cơ quan quản lý nhà nước ngoài những việc áp

dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động phát thanh, truyền

hình cần tiến hành nhiều hình thức tuyên truyền, giáo dục pháp luật (thông qua các

phương tiện thông tin đại chúng như: báo chí, các cơ quan, đơn vị phát thanh –

truyền hình; hoặc t chức các lớp bồi dưỡng, cập nhật iến thức pháp luật ngắn

hạn…) đối với các nhà Đài, doanh nghiệp, cơ sở hoạt động trong lĩnh vực phát

thanh, truyền hình nhằm nâng cao sự hiểu biết và áp dụng pháp luật, nhận thức rõ

hơn về những tác động xấu của hành vi vi phạm đến xã hội, từ đ c ý thức trách

nhiệm cao trong hành vi, hoạt động của mình. Các cơ quan nhà nước c thẩm quyền

xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình cần t chức các hội

nghị tập huấn chuyên sâu về nội dung sửa đ i của pháp luật và các văn bản hướng

dẫn chuyên ngành; tạo điều iện cho cán bộ, công chức thi hành nhiệm vụ và các

nhà Đài tiếp cận với những biểu mẫu mới đồng thời rà soát những biểu mẫu đã ban

hành để chỉnh lý những nội dung c sự thay đ i phục vụ cho công tác xử lý vi phạm

hành chính ở các cấp.

72

Thứ năm, triển khai quản lý bản tin chính thống theo ISBN (Hệ thống mã số

bản tin quốc tế ISBN - Phát hànhternational Standard Book Numbering)

Tháng 5 năm 2017, Việt Nam đã chính thức tham gia vào hệ thống ISBN

quốc tế và đã được cấp mã quốc gia là 978-604. Dùng hệ thống ISBN, bản tin Việt

Nam được nạp tên của mình vào mạng inh doanh PTTH quốc tế, đồng nghĩa với

bản tin Việt Nam đạt chuẩn quốc tế tạo điều iện cho các bản tin chính thống của

các nhà Đài hội nhập với Ngành Truyền hình thế giới.

Cơ quan ISBN Việt Nam đã được thành lập vào năm 2017. Để cung cấp đầy

đủ thông tin nhằm phân biệt một bản tin chính thống mang mã ISBN với một bản

tin chính thống hác, hi đăng ý mã ISBN, nhà Đài cần cung cấp cho cơ quan

ISBN những thông tin cần thiết của một bản tin chính thống. Cơ quan ISBN tập hợp

các thông tin này thành một hệ thống dữ liệu chung. Hệ thống dữ liệu này rất cần

thiết trong việc quản lý bản tin chính thống, quản lý hệ thống mã ISBN, đồng thời

cũng rất hữu ích với hệ thống thông tin thư viện và hệ thống phát hành hoặc thương

mại điện tử. Việc sử dụng ISBN quốc tế phải tuân thủ theo các điều iện như sau:

Đơn vị đăng ý phải là Nhà Đài, đơn vị đăng ý chỉ được cấp ISBN cho những bản

tin chính thống c bản quyền, mã số này hông được phép bán, cho phép, phân

phối, ph biến hoặc làm bất ỳ việc hác nếu hông c sự đồng ý của cơ quan

ISBN Việt Nam và phải tuân thủ các quy định, những tiêu chuẩn của ISBN quốc tế

đặt ra. Mã số ISBN c tích hợp mã vạch EAN-13 c một hình thức hiển thị bằng mã

vạch tho đúng tiêu chuẩn EAN-13, hệ thống mã vạch thông minh nhất trên thế giới,

thường thấy ở các loại hàng h a và c thể dễ dàng đọc bằng máy đọc tại các quầy

thu ngân của siêu thị. Việc quản lý bản tin chính thống theo ISBN sẽ tạo điều iện

thuận lợi cho các nhà Đài trong công tác giao dịch, mua bán, tra cứu và đặc biệt

tránh vi phạm bản quyền.

Vấn đề này thuận lợi hi Việt Nam chính thức tham gia Công ước Berne về

sở hữu trí tuệ đối với các tác phẩm văn học nghệ thuật. Tuy nhiên hiện nay rất ít nhà

Đài áp dụng. Nguyên ngân chủ yếu là do các nhà Đài chưa thật sự tìm hiểu các

nguyên tắc và hả năng áp dụng của n , một số nhà xuất còn rất bỡ ngỡ trong việc

73

quản lý theo hệ thống này.

Chính vì vậy, trong thời gian tới, cần tăng cường t chức các h a bồi dưỡng

ngắn hạn để ph biến rộng rãi các nguyên tắc, lợi thế và hả năng áp dụng hệ thống

ISBN cho các nhà Đài và đơn vị phát hành bản tin đăng ý áp dụng, từ đ làm giảm

nguy cơ vi phạm trong hoạt động phát thanh, truyền hình.

Thứ sáu, thực hiện đầy đủ, nghiêm túc Chính sách, pháp luật của Nhà nước

về báo chí, xuất bản

Hoạt động phát thanh, truyền hình là một trong những hoạt động quan

trọng của công tác tư tưởng của Đảng, là động lực thúc đẩy sự nghiệp cách mạng

của Đảng nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh,

đường lối, chủ trương, Chính sách của Đảng và Nhà nước tới cán bộ, đảng viên,

và quần chúng nhân dân, tạo nên sự thống nhất và hành động trong toàn Đảng,

sự đồng thuận trong xã hội, cỗ vũ quần chúng thực hiện thắng lợi mục tiêu inh

tế - xã hội của Đảng đã đề ra.

Với nguyên tắc: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là chủ đề trung tâm của

hoạt động phát thanh, truyền hình. Tích cực tuyên truyền, giải thích làm cho toàn Đảng,

toàn dân quán triệt sâu sắc và nhất trí cao với quan điểm, đường lối, chủ trương, Chính

sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực phát thanh, truyền hình.

Nghị quyết và các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về phát thanh, truyền

hình cần được đúc ết từ thực trạng phát triển của phát thanh, truyền hình và thực

tiễn công tác chỉ đạo, định hướng phát thanh, truyền hình tại địa phương, chỉ rõ

những vấn đề còn tồn tại trong công tác quản lý nhà nước về phát thanh, truyền

hình, đồng thời định hướng phát triển với tầm nhìn bao quát, g p phần nâng cao

nhận thức cho các cấp uỷ đảng, các cấp, các ngành về lĩnh vực tư tưởng quan trọng

này. Đồng thời, tuyên truyền sâu rộng trong toàn xã hội để mọi người dân hiểu và

c ý thức, trách nhiệm trong việc thực hiện đầy đủ, nghiêm túc Chính sách, pháp

luật của Nhà nước về phát thanh, truyền hình.

Các cơ quan báo chí, hệ thống phát thanh huyện, xã, phường, hoạt động phát

thanh, truyền hình, phát hành được tạo điều iện hoạt động và phát triển trong môi

74

trường pháp lý, phù hợp với pháp luật Việt Nam và Quy ước quốc tế.

Tất cả các loại hình phát thanh, truyền hình và đội ngũ những người trực tiếp

hoạt động trên lĩnh vực này phải coi việc thực hiện đầy đủ, nghiêm túc Chính sách,

pháp luật của Nhà nước về phát thanh, truyền hình là nhiệm vụ chủ yếu, thường

xuyên, quan trọng nhất và cũng là lý do tồn tại và phát triển của mình.

3.2.3. Tổ chức hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong hoạt động

phát thanh, truyền hình trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

Thứ nhất, Thanh tra, iểm tra được coi là một hâu trong chu trình quản lý nhà

nước. Do đ , việc thực hiện tốt hoạt động thanh tra, iểm tra giúp cho quản lý nhà

nước c hiệu quả, đồng thời g p phần to lớn vào việc ngăn chặn, phòng ngừa, xử lý

những vi phạm. Các cơ quan thanh tra chuyên ngành thông tin và truyền thông cần

tiếp tục tăng cường mạnh mẽ hơn nữa hoạt động thanh tra, iểm tra và xử lý vi phạm;

Tăng cường hoạt động thanh tra, iểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật.

Trên thực tế, lực lượng iểm tra thị trường ở các nhà Đài rất ít, hông thường xuyên,

cho nên hông nắm bắt ịp các thủ đoạn của bọn phát hành lậu. Nếu lực lượng này cứ

10 – 15 ngày đi iểm tra một lần và thường xuyên hơn thì chắc chắn các nhà Đài sẽ

hông dám bán bản tin lậu. Khi phát hiện ra vi phạm của các công ty, nhà Đài thì

phải tuyên truyền đến các đối tượng nghe xem bằng cách dán lên thông báo và đình

chỉ hoạt động tùy theo mức độ vi phạm. Thực tế c Sở TT&TT đã dự định xây dựng

ế hoạch thanh tra đối với một cơ quan báo chí Trung ương c trụ sở đ ng trên địa

bàn, mặc dù sau đ hông triển hai dự định này, nhưng rõ ràng quy định này cần

xem xét, điều chỉnh để đảm bảo chặt chẽ, áp dụng thống nhất. Mặt hác, hi thông tin

trên báo chí bị phản ánh cho rằng hông chính xác, hách quan thì Luật Báo chí quy

định c nhiều cơ quan c thẩm quyền xem xét, giải quyết: bản thân cơ quan báo chí,

cơ quan chủ quản của cơ quan báo chí, cơ quan quản lý nhà nước về báo chí, tòa án

(Điều 43) nhưng hông phân định rõ cấp độ, thứ tự giải quyết, dẫn đến tình trạng t

chức, cá nhân gửi đơn thư đến nhiều nơi, nhiều cơ quan cùng xem xét, thậm chí trong

cùng hệ thống nhiều cơ quan quản lý nhà nước cùng giải quyết một vụ việc, gây

chồng chéo, lãng phí thời gian, vật chất, nguồn lực.

75

Đề xuất sửa đ i: quy định rõ cơ quan quản lý nhà nước về báo chí tại địa phương

thực hiện thanh tra đối với cơ quan báo chí do cơ quan nhà nước tại địa phương c quyết

định thành lập; phân luồng giải quyết phản ánh liên quan đến nội dung thông tin trên báo

chí, theo hướng cơ quan báo chí là đơn vị xem xét, xử lý lần đầu.

Thứ hai, Trong hoạt động báo chí, nhiều cơ quan sử dụng cộng tác viên, cấp

giấy xác nhận cho họ, cấp giấy giới thiệu cho họ đi tác nghiệp, họ là một phần thực

tế, đang tồn tại của cơ quan báo chí nhưng Luật Báo chí chưa điều chỉnh đối tượng

này. Qua công tác thanh tra, iểm tra, giám sát cho thấy sự ràng buộc giữa họ và cơ

quan báo chí lỏng lẻo, đã c nhiều trường hợp cộng tác viên vi phạm đạo đức người

làm báo, vi phạm pháp luật bị xử lý hình sự, tác động xấu đến dư luận xã hội, ảnh

hưởng uy tín của cơ quan báo chí, người làm báo chân chính. Bởi thế, cần nghiên

cứu, b sung vào luật các quy định phân định loại hình tạp chí điện tử và báo điện

tử, lượng h a các quy định để ngăn chặn tình trạng báo h a, tư nhân h a; giới hạn

phạm vi yêu cầu cung cấp thông tin hi tác nghiệp; Nghiên cứu, xem xét để b sung

quy định cấm cộng tác viên tác nghiệp báo chí.

Thứ ba, một số quy định trong Luật Báo chí hông còn phù hợp với thực

tiễn, hông c tính hả thi Thông qua công tác thanh tra, iểm tra, Thanh tra Sở

TT&TT nhận thấy nhiều cơ quan báo chí vi phạm quy định về vị trí đặt thông tin

phải ghi, thể hiện trên báo chí đối với sản phẩm báo in. Tạp chí in (Điều 46), vi

phạm này đã trở nên ph biến, nhiều cơ quan báo chí sau hi bị xử phạt vi phạm

hành chính lại tiếp tục vi phạm, họ chấp nhận rủi ro nếu bị cơ quan chức năng iểm

tra, dành vị trí trang cuối để phục vụ cho mục tiêu hác. Để giải quyết tình trạng

này, luật chỉ quy định mẫu mã, cách thể hiện và các thông tin bắt buộc phải c , còn

vị trí đặt thông tin phải ghi, thể hiện trên báo chí dành quyền chủ động cho báo chí,

hoặc quy định một số vị trí để cơ quan báo chí lựa chọn.

Thứ tư, ngoài ra, đi èm với mức phạt tiền cao thì hình phạt b sung cũng

cần nghiêm hắc hơn như: tịch thu giấy phép hoạt động inh doanh, đình chỉ hoạt

động phát thanh, truyền hình trong thời gian dài,… để nâng cao tính răn đe, phòng

ngừa vi phạm xảy ra. Theo đ : Bộ Thông tin và Truyền thông quan tâm chỉ đạo sát

76

sao công tác xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho

công tác thanh tra, iểm tra và xử lý vi phạm trong hoạt động phát thanh, truyền

hình. Thanh tra Bộ phải xây dựng ế hoạch thanh tra hàng năm dựa trên tình hình

thực tế của đơn vị, ngành và của xã hội, trong đ cần ưu tiên công tác thanh tra đột

xuất. Quá trình triển hai các cuộc thanh tra cần c sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ

giữa các đơn vị chức năng, các cơ quan chuyên môn c liên quan nhằm đảm bảo ết

quả thanh tra đạt hiệu quả cao. Các Sở, Ban, Ngành, Hội đoàn thể tỉnh, UBND các

huyện, thị xã, thành phố c trách nhiệm thực hiện nghiêm các quy định của pháp

luật về hoạt động phát thanh, truyền hình. Rà soát, bố trí nhân sự c năng lực và

trách nhiệm phụ trách việc thực hiện biên tập, xuất bản các bản tin chính thống, tài

liệu của cơ quan, đơn vị và địa phương.

Thứ năm, Sở Thông tin và Truyền thông cần tăng cường các hoạt động: Chủ

trì, phối hợp với các ngành liên quan và Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành

phố tăng cường quản lý hoạt động phát thanh, truyền hình; tuyên truyền, ph biến

sâu rộng các chủ trương Chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về hoạt

động phát thanh, truyền hình và phát hành bản tin chính thống trong các cơ quan, t

chức, các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là các công ty truyền hình cáp, ỹ thuật số, cơ

sở; đài phát thanh chính thống. Chủ trì, phối hợp với Công an tỉnh triển hai thực

hiện Nghị định số 159/2021/NĐ-CP của Chính phủ: Quy định xử phạt vi phạm hành

chính trong hoạt động phát thanh, truyền hình; Thông tư liên tịch số 16/2019/TTLT-

BTTTT-BCA ngày 12/5/2019 của Bộ Thông tin và Truyền thông - Bộ Công an về

phòng, chống phát hành lậu; quản lý chặt chẽ việc đăng ý, sử dụng phương tiện

truyền thông; iện toàn bộ máy thanh tra của ngành và phối hợp với các cơ quan

liên quan tăng cường công tác thanh tra, iểm tra các cơ sở phát thanh, truyền hình

và những doanh nghiệp, cơ sở và các cá nhân inh doanh truyền hình chính thống

nhằm ịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật, nhất là

những đối tượng mua bán bản tin giả, bản tin lậu, bản tin phát hành nối bản, các bản

tin chính thống thuộc loại mê tín, dị đoan, inh dị, bạo lực, hông phù hợp với

thuần phong, mỹ tục và văn h a Việt Nam.

77

Chỉ đạo và hướng dẫn Phòng Văn h a và Thông tin các huyện, thị xã, thành

phố tiếp tục rà soát thống ê, quản lý chặt chẽ các cơ sở phát thanh, truyền hình tại

địa phương; tăng cường quản lý bản tin chính thống lưu hành trên thị trường, đặc

biệt lưu ý bản tin giả, bản tin lậu, bản tin phát hành nối bản; ịp thời thông báo cho

các cơ sở inh doanh PTTH chính thống về những bản tin hông được phép lưu

hành, để thực hiện quản lý theo quy định của pháp luật.

Hàng năm, t chức tập huấn nghiệp vụ cho đội ngũ chủ cơ sở và cán bộ lãnh

đạo, quản lý của các cơ sở phát thanh, truyền hình nhằm ịp thời hướng dẫn và ph

biến các văn bản mới được ban hành để triển hai thực hiện.

- Nâng cao trách nhiệm của Sở Công Thương trong việc: Chỉ đạo Chi cục

Quản lý thị trường phối hợp với các cơ quan chức năng tăng cường quản lý, iểm

tra hoạt động inh doanh của các cơ sở phát thanh, truyền hình.

- Công an tỉnh, thành phố cần chỉ đạo rà soát số cơ sở hoạt động phát thanh,

truyền hình màu trên địa bàn, hướng dẫn chủ cơ sở chấp hành nghiêm Nghị định số

72/2019/NĐ-CP ngày 03/9/2019 của Chính phủ và Thông tư 33/2010/TT-BCA

ngày 05/10/2020 của Bộ Công an quy định điều iện về an ninh trật tự đối với một

số ngành nghề inh doanh c điều iện. Thực hiện tốt các biện pháp quản lý, phòng

ngừa, đấu tranh phát hiện ịp thời những vi phạm trên lĩnh vực hoạt động phát

thanh, truyền hình màu. Phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông tăng cường

công tác thanh tra, iểm tra hoạt động phát thanh, truyền hình; điều tra xử lý

nghiêm các hành vi vi phạm Luật Phát thanh truyền hình.

- Các cơ quan báo chí của tỉnh, Đài TT-TH cấp huyện cần phối hợp trong việc

thường xuyên tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân về các quy định của pháp luật, nêu

gương điển hình của các đơn vị, cá nhân trong hoạt động phát thanh, truyền hình.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố: Chỉ đạo các ngành

chức năng tăng cường công tác tuyên truyền những quy định của Nhà nước về hoạt

động phát thanh, truyền hình; c ế hoạch thanh tra, iểm tra những cơ sở phát

thanh, truyền hình trên địa bàn quản lý; xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật

những cơ sở vi phạm.

78

Tiểu kết chƣơng 3

Từ lý luận và thực tiễn, chương 3 đã xác định quan điểm tăng cường quản lý

nhà nước về phát thanh, truyền hình là nhằm bảo đảm cho sự phát triển bền vững;

giảm thiểu vi phạm pháp luật về phát thanh, truyền hình, tạo lập môi trường n

định, bảo đảm quyền con người, quyền công dân; xây dựng môi trường phát thanh,

truyền hình văn minh và giàu tính nhân văn, văn h a cao.

Để hoạt động phát thanh, truyền hình đi vào nề nếp, luận văn đã đề xuất 04

giải pháp cơ bản nhằm tăng cường quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình,

gồm: giải pháp về nhận thưc; giải pháp về xây dưng, hoàn thiện pháp luật; giải pháp

về t chức thực hiện; giải pháp về thanh tra, iểm tra và xử lý vi phạm liên quan đến

hoạt động phát thanh, truyền hình. Trong thực hiện các giải pháp này hông nên

xem nhẹ hay coi trọng giải pháp nào mà cần thực hiện đồng bộ các giải pháp.

79

KẾT LUẬN

Việt Nam chúng ta đang trong tiến trình đ i mới mạnh mẽ hướng tới phát

triển bền vững; công nghiệp h a, hiện đại h a và hội nhập quốc tế định hướng xã

hội chủ nghĩa ngày càng đi vào chiều sâu. Cách mạng hoa học - công nghệ, đặc

biệt là công nghệ thông tin và xu hướng toàn cầu h a, nhất là trong lĩnh vực truyền

thông diễn ra vô cùng mạnh mẽ đã tác động sâu sắc đến lĩnh vực phát thanh, truyền

hình, đưa thế giới từ ỷ nguyên công nghiệp sang ỷ nguyên thông tin phát thanh,

truyền hình và phát triển inh tế tri thức. Sự hội tụ giữa thông tin, viễn thông, tin

học là một xu hướng quan trọng trong xu thế phát triển phát thanh, truyền hình trên

phạm vi toàn cầu. Đầu tư cho phát thanh, truyền hình từ chỗ được coi là đầu tư cho

phúc lợi xã hội chuyển thành đầu tư cho sự phát triển. Trong xu thế hách quan của

toàn cầu hoá, hội nhập inh tế, các hoạt động báo chí được mở rộng, tạo điều iện

cho giao lưu, hội nhập văn hoá, đồng thời cũng đang diễn ra cuộc đấu tranh tư

tưởng gay gắt để bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia và bảo vệ bản sắc văn hoá dân

tộc. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đã và đang sử dụng hệ thống báo chí

để chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ T quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

ngày càng tinh vi và quyết liệt hơn. Chính vì lẽ đ mà cần đến sự quản lý chặt chẽ

và c hiệu quả đối với báo chí trong giai đoạn hiện nay với mục tiêu vừa đảm bảo

quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân, vừa tạo nên trật tự quản lý g p

phần phát triển xã hội, n định an ninh trật tự trong nước và hội nhập quốc tế.

Trong xu thế hách quan của toàn cầu hoá, hội nhập inh tế, các hoạt động

phát thanh, truyền hình được mở rộng, tạo điều iện cho giao lưu, hội nhập văn hoá,

đồng thời cũng đang diễn ra cuộc đấu tranh tư tưởng gay gắt để bảo vệ độc lập, chủ

quyền quốc gia và bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực

thù địch đã và đang sử dụng hệ thống báo chí để chống phá sự nghiệp xây dựng và

bảo vệ T quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày càng tinh vi và quyết liệt hơn.

Chính vì lẽ đ mà cần đến sự quản lý chặt chẽ và c hiệu quả đối với phát thanh,

truyền hình trong giai đoạn hiện nay với mục tiêu vừa đảm bảo quyền tự do ngôn

luận, tự do báo chí của công dân, vừa tạo nên trật tự quản lý g p phần phát triển xã

80

hội, n định an ninh trật tự trong nước và hội nhập quốc tế.

Cách thức thu nhận, trao đ i, truyền bá thông tin, tư tưởng, văn hoá, cả mặt

tích cực và tiêu cực diễn ra sôi động, phức tạp, trong đ , phát thanh, truyền hình là

những lĩnh vực bị tác động nhiều và rõ nhất. Hoạt động phát thanh, truyền hình, với

đặc thù của mình, c vai trò quan trọng trong xây dựng nền tảng tinh thần và nền

tảng tri thức của xã hội, làm nên những giá trị lâu dài và bền vững. Chỉ thị 42-

CT/TW về nâng cao chất lượng toàn diện của hoạt động phát thanh, truyền hình đã

hẳng định rất rõ quan điểm này. Ngành Truyền hình Việt Nam hiện nay đã trở

thành thành viên của Hiệp hội Truyền hình Đông Nam Á (ABPA), triển hai các

hoạt động hợp tác, thông tin đối ngoại, đưa bản tin báo trong nước đến với thế giới.

Phát thanh, truyền hình phẩm - đ là tri thức, là một trong các yếu tố đào tạo

nên con người văn h a, là thành tố quan trọng trong việc tạo dựng trí tuệ, phẩm

cách của con người, tạo dựng nên động lực để đất nước c thể vững bước trên con

đường công nghiệp h a, hiện đại h a. Cơ chế thị trường bên cạnh những tác động

tích cực tạo nên một thị trường bản tin sôi động, phong phú đáp ứng thị hiếu đọc đa

tầng, đa dạng, đang đặt ra những thách thức rất lớn cho hoạt động phát thanh,

truyền hình. Các cơ quan phát thanh, truyền hình do phải lo đáp ứng nhu cầu, các

loại thị hiếu hác nhau của công chúng, phải coi độc giả là thượng đế nên đã c tình

trạng đưa những thông tin thất thiệt, xuất bản, phát hành cả các bản tin mang nội

dung phản văn hoá, độc hại, gây ảnh hưởng hông nhỏ đến đời sống tinh thần của

xã hội, truyền thống văn hoá của dân tộc. Vì lẽ đ , cần thiết phải tăng cường quản

lý nhà nước về phát thanh, truyền hình nhằm đảm bảo định hướng của Đảng và

pháp luật của Nhà nước ta về phát thanh, truyền hình, phù hợp công cuộc đ i mới

đất nước và hội nhập quốc tế.

81

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ban Bí thư Trung ương Đảng, Chỉ thị 08-CT/TW ngày 31/3/2020 của Ban bí

thư TW Đảng (khóa VII) về tăng cường sự lãnh đạo và quản lý nhằm nâng cao

chất lượng và hiệu quả công tác phát thanh, truyền hình.

2. Ban Bí thư Trung ương Đảng, Chỉ thị số 52/CT-TW ngày 22/7/2015 của BBT về

phát triển và quản lý Bản tin ở nước ta hiện nay;

3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng ( hoá X), Nghị quyết Hội nghị TW5 (Khoá

X) ngày 14/7/2017 về công tác tư tưởng, lý luận và phát thanh, truyền hình

trước yêu cầu mới;

4. Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quy định số 338-QĐ/TW ngày 26/11/2010

của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Quy định về chức năng, nhiệm vụ, tổ

chức bộ máy cơ quan báo của Đảng bộ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

5. Ban chấp hành Trung ương Đảng, Kết luận số 23- NQ/TW ngày 22/11/2017 về

Tăng cường chỉ đạo, quản lý, phát huy vai trò của phát thanh, truyền hình, xuất

bản trong việc ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, tự

diễn biến, tự chuyển h a trong nội bộ;

6. Bộ Thông tin và Truyền thông, Thông tư số 36/2016/TT-BTTTT ngày

26/12/2016 của Bộ TT-TT quy định chi tiết về việc cấp phép hoạt động và chế

độ báo cáo đối với loại hình báo nói, báo hình;

7. Bộ Thông tin và Truyền thông, Thông tư số 37/2016/TT-BTTTT ngày

26/12/2016 của Bộ TT-TT quy định về quy trình, thủ tục công bố số liệu đo

lường khán giả truyền hình phục vụ đánh giá hiệu quả nội dung truyền hình;

8. Bộ Văn h a - Thông tin (2017), Báo cáo sơ kết 2 năm thực hiện Thông báo Kết

luận 162- TB/TW của Bộ Chính trị về một số biện pháp tăng cường quản lý

phát thanh, truyền hình trong tình hình hiện nay, Hà Nội;

9. Nguyễn Đức Bình (2015), "Vai trò của phát thanh, truyền hình trong hệ thống

công tác tư tưởng", Tạp chí Phát thanh, truyền hình & Tuyên truyền;

10. Nguyễn Đức Bình (2017), "Những quan điểm hàng đầu đối với công tác phát

thanh, truyền hình, xuất bản", Tạp chí Phát thanh, truyền hình & Tuyên truyền;

11. Nguyễn Đức Bình (2018), Phấn đấu nâng cao chất lượng, phát huy vai trò to

lớn của phát thanh, truyền hình, xuất bản trong thời kỳ mới, Tài liệu môn Phát

thanh, truyền hình học, T.2, Khoa Phát thanh, truyền hình, Phân viện BCTT

xuất bản, Hà Nội;

12. Lê Thanh Bình (2022), Quản lý và phát triển phát thanh, truyền hình, Nhà Đài

Chính trị Quốc gia, Hà Nội;

13. Cục bảo vệ an ninh văn h a - tư tưởng, T ng cục an ninh (2018), Văn bản pháp

quy về phát thanh, truyền hình, Hà Nội;

14. Chính phủ, Nghị định số 67/CP ngày 31/10/2016 của Chính phủ ban hành Quy

chế hoạt động thông tin, phát thanh, truyền hình của phóng viên nước ngoài,

các cơ quan, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam;

15. Chính phủ, Nghị định số 98/CP ngày 13/9/2017 của Chính phủ ban hành Quy

chế hoạt động của phát thanh, truyền hình Việt Nam liên quan đến nước ngoài;

16. Chính phủ, Nghị định số 51/2020/NĐ-CP ngày 26/04/2020 của Chính phủ quy

định chi tiết thi hành Luật Phát thanh, truyền hình, Luật sửa đổi, bổ sung một

số điều của Luật Phát thanh, truyền hình;

17. Chính phủ, Nghị định số 92/2016/NĐ-CP ngày 07/9/2016 của Chính phủ về

lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội;

18. Chính phủ, Nghị định số 04/2018/NĐ-CP ngày 11/01/2018 của Chính phủ sửa

đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 92/2016/NĐ-CP ngày 07/9/2016 của

Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -

xã hội;

19. Chính phủ, Nghị định số 97/2018/NĐ-CP ngày 28/8/2018 của Chính phủ về

quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Truyền hình và thông tin điện tử trên Phát

hànhernet;

20. Chính phủ, Nghị định số 02/2011/NĐ-CP ngày 06/01/2011 của Chính phủ quy

định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động phát thanh, truyền hình, xuất

bản;

21. Chính phủ, Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13/6/2011 quy định về việc cung

cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổng

thông tin điện tử của cơ quan nhà nước;

22. Chính phủ, Nghị định số 88/2020/NĐ-CP ngày 23/10/2020 của Chính phủ quy

định về hoạt động thông tin, phát thanh, truyền hình của phát thanh, truyền hình

nước ngoài, cơ quan đại diện nước ngoài, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam;

23. Chính phủ, Nghị định số 72/2021/NĐ-CP ngày 15/7/2021 của Chính phủ về

quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Truyền hình và thông tin trên mạng;

24. Chính phủ, Nghị định số 159/2021/NĐ-CP ngày 12/11/2021 của Chính phủ quy

định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động phát thanh, truyền hình, xuất bản;

25. Chính phủ, Nghị định số 18/2022/NĐ-CP ngày 14/3/2022 của Chính phủ quy

định về chế độ nhuận bút trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình, xuất bản;

26. Chính phủ, Nghị định số 09/2017/NĐ-CP ngày 09/02/2017 của Chính phủ quy

định chi tiết việc phát ngôn và cung cấp thông tin cho phát thanh, truyền hình

của các cơ quan hành chính nhà nước;

27. Chính phủ, Nghị định số 08/2017/NĐ-CP ngày 08/02/2017 của Chính phủ quy

định về lưu chiểu điện tử đối với loại hình báo nói, báo hình và Bản tin độc lập

với cơ quan phát thanh, truyền hình;

28. Trần Bá Dung (2010), Các quan điểm của Đảng về phát thanh, truyền hình

trong thời kỳ đổi mới (từ 1986 đến 2019), Luận án Thạc sĩ hoa học xã hội và

nhân văn, Phân viện Phát thanh, truyền hình và Tuyên truyền, Hà Nội;

29. Nguyễn Văn Dững (2016), "Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về phát thanh,

truyền hình", Tạp chí Phát thanh, truyền hình và Tuyên truyền (số 3);

30. Nguyễn Văn Dững (2018), "Phạm vi bao quát và tăng cường hiệu lực QLNN

thi hành Luật Phát thanh, truyền hình", Tạp chí Phát thanh, truyền hình và

Tuyên truyền (4);

31. Nguyễn Văn Dững (2010), "Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về phê bình và tự

phê bình công hai trên phát thanh, truyền hình", Tạp chí Phát thanh, truyền

hình và Tuyên truyền;

32. Nguyễn Văn Dững (2011), Phát thanh, truyền hình truyền thông hiện đại, NXB

Đại học quốc gia, Hà Nội;

33. Nguyễn Văn Dững (2020), Cơ sở lí luận phát thanh, truyền hình; Nxb Lao

Động, Hà Nội;

34. Hồng Chương, Lịch sử phát thanh, truyền hình Việt Nam (1985), Nxb. Sự thật

35. Hồng Chương, 124 năm phát thanh, truyền hình Việt Nam (1985), Nxb. Bộ Tư

pháp Thành phố Hồ Chí Minh

36. Đinh Văn Hường, Phát thanh, truyền hình truyền thông Việt Nam trong tiến

trình phát triển và hội nhập, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học

Quốc gia Hà Nội

37. Đào Duy Quát, Vũ Duy Thông, Đỗ Quang Hưng, Tổng quan lịch sử phát thanh,

truyền hình Cách mạng Việt Nam (1925 - 2010) (2010), Nxb. Chính trị Quốc

gia, Hà Nội

38. Cuốn Phát thanh, truyền hình trong đấu tranh chống diễn biến hòa bình (2010),

của Vũ Hiền, Nxb. Chính trị Quốc gia

39. Luận án tiến sĩ Sự lãnh đạo của Đảng đối với phát thanh, truyền hình trong

thời kỳ đổi mới của Nguyễn Vũ Tiến (2013)

40. Luận án tiến sĩ Hoàn thiện pháp luật về phát thanh, truyền hình ở Việt Nam

hiện nay (2016) của Phí Thị Thanh Tâm, Học viện chính trị Quốc gia TP.HCM

41. Vũ Châu Giang (2018) đã làm rõ công tác quản lý phát thanh, truyền hình tại

thành phố Hà Nội

42. Nguyễn Di Khang (2019) đã làm rõ công tác quản lý phát thanh, truyền hình tại

thành phố Hồ Chí Minh, Học viện chính trị Quốc gia TP.HCM

43. Bài báo Phát thanh-Truyền hình trong ỷ nguyên số, ngày 16/6/2023

44. Báo inh tế Giải pháp phát triển bền vững quản lý hoạt động phát thanh, truyền

hình, ngày 18/06/2023

45. Nguyễn Văn Dững, Quan điểm của đảng và nhà nước về công tác tư tưởng, lý

luận và quản lý phát thanh, truyền hình; Tạp chí inh tế chính trị, 2021

46. Đỗ Quý Doãn, Hoạt động phát thanh, truyền hình, xuất bản và công tác quản

lý nhà nước về phát thanh, truyền hình, xuất bản hiện nay trên

http://www.tapchicongsan.org.vn;

47. Đỗ Quý Doãn, Hoạt động phát thanh, truyền hình, xuất bản và công tác quản

lý nhà nước về phát thanh, truyền hình, xuất bản hiện nay trên

http://www.tapchicongsan.org.vn;

48. Lương Khắc Hiếu (2019), Dư luận xã hội trong sự nghiệp đổi mới, Nhà Đài

Chính trị Quốc gia, Hà Nội;

49. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 22/2019/QĐ–TTg ngày 16/02/2019 của

Thủ tướng Chính phủ phê duyệt về Quy hoạch Truyền dẫn, Phát sóng phát

thanh, truyền hình đến năm 2020;

50. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ

tướng Chính phủ về Phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng

nông thôn mới giai đoạn 2010-2020;

PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1

Số lƣợng Giấy phép Sở Thông tin và Truyền thông đã cấp (Năm 2019 - 2022)

Nội dung Năm Năm Năm Năm T n

2019 2020 2021 2022 g

số

Giấy phép xuất bản tài liệu hông 258 130 133 182 703

kinh doanh

Giấy phép xuất bản Bản tin 05 04 06 02 17

Giấy phép họp báo 3 3 3 5 11

05 (cấp

Giấy phép hoạt động phát hành 02 02 01 mới, 05

cấp lại)

- - - Giấy xác nhận đăng ý hoạt động 01 01

photocopy màu

- 5 16 Trang PTTH t ng hợp - 21

Cơ quan, văn phòng đại diện các

cơ quan báo chí Trung ương 02 01 01 02 06

đ ng tạo địa phương

Phụ lục 2: ĐỀ XUẤT KẾ HOẠCH THỰC HIỆN

Thiết lập mới, nâng cấp đài truyền thanh xã ở các xã nông thôn mới và các xã c điều kiện kinh tế - xã hội

đặc iệt kh khăn, xã đảo

Kế hoạch thiết lập mới, nâng cấp đài truyền thanh giai đoạn 2021-2025

Hiện trạng đài truyền thanh xã đến nay

Kinh phí thực hiện

Kinh phí thực hiện

Đã đƣợc đầu tƣ

TT

Đơn vị hành chính (huyện/xã)

số lƣợng thôn thuộc xã

NSĐP Khác

NSĐP Khác

Tổng số NSTW

Tổng số NSTW

Công nghệ

Năm đầu tư

Đài TTCS xã (Có/ Không)

Số lƣợng đài cần nâng cấp

(2)

(3)

(4)

(5)

SL đài cần thiết lập mới

(1)

Huyện Minh H a

1

7

X

VT

2014

Xuân Hóa

X

350

1.1

8

X

IT

2021

X

100

Yên Hóa

1.2

8

X

VT

2013

H a Hợp

X

350

1.3

5

X

VT

2017

H a Sơn

X

1.4

6

X

IT

2021

X

100

Tân Hóa

1.5

8

X

IT

2020

X

200

Hồng H a

1.6

-

TT Quy Đạt

11

X

400

1.7

5

X

IT

2020

X

200

Minh Hóa

1.8

6

X

IT

2019

X

200

Trung Hóa

1.9

2

X

IT

2020

X

200

Hóa Phúc

1.10

6

X

VT

2020

H a Tiến

X

350

1.11

4

X

IT

2020

X

200

Hóa Thanh

1.12

Kế hoạch thiết lập mới, nâng cấp đài truyền thanh giai đoạn 2021-2025

Hiện trạng đài truyền thanh xã đến nay

Đã đƣợc đầu tƣ

Kinh phí thực hiện

Kinh phí thực hiện

TT

Đơn vị hành chính (huyện/xã)

số lƣợng thôn thuộc xã

NSĐP Khác

NSĐP Khác

Tổng số NSTW

Tổng số NSTW

Đài TTCS xã (Có/ Không)

Công nghệ

Năm đầu tư

Số lƣợng đài cần nâng cấp

VT

SL đài cần thiết lập mới X

400

1.13

Thượng H a

9

X

X

400

1.14

Trọng H a

17

-

X

400

1.15

Dân Hóa

11

-

7

1200

8

2650

Tổng

12

Huyện Tuyên H a

2

HT

2008

X

350

2.1

Lâm Hóa

4

X

VT

2007

X

350

2.2

Văn H a

6

X

VT

2013

X

350

2.3

Cao Quảng

8

X

VT

2013

X

350

2.4

Phong Hóa

7

X

HT

2017

X

350

2.5

Châu Hóa

5

X

VT

2016

X

350

2.6

Thuận H a

5

X

VT

2018

X

350

2.7

Hương H a

4

X

VT

2007

X

350

2.8

Đồng H a

4

X

IT

2019

X

200

2.9

Thanh Hóa

11

X

VT

2014

X

350

2.10

Thạch H a

11

X

VT

2016

X

350

2.11

Mai Hóa

10

X

X

350

2.12

TT Đồng Lê

9

-

VT

2019

X

400

2.13

Tiến Hoá

12

X

Kế hoạch thiết lập mới, nâng cấp đài truyền thanh giai đoạn 2021-2025

Hiện trạng đài truyền thanh xã đến nay

Đã đƣợc đầu tƣ

Kinh phí thực hiện

Kinh phí thực hiện

TT

Đơn vị hành chính (huyện/xã)

số lƣợng thôn thuộc xã

NSĐP Khác

NSĐP Khác

Tổng số NSTW

Tổng số NSTW

Đài TTCS xã (Có/ Không)

Công nghệ

Năm đầu tư

VT

2020

Số lƣợng đài cần nâng cấp

X

SL đài cần thiết lập mới X

350

2.14

Ngư H a

3

IT

2020

X

200

X

2.15

Đức H a

7

IT

2020

X

200

X

2.16

Sơn H a

7

IT

2021

X

200

X

2.17

Lê Hóa

5

IT

2020

X

200

X

2.18

Kim Hóa

8

IT

2020

X

200

X

2.19

Thanh Thạch

4

6

1200

18

13

4600

Tổng

3

Thị xã Ba Đồn

HT

2017

X

X

350

3.1

Quảng Sơn

8

HT

1995

X

X

350

3.2

P. Quảng Thuận

8

HT

2001

X

X

350

3.3

Quảng Trung

4

HT

2017

X

X

350

3.4

Quảng Hòa

5

VT

2015

X

X

350

3.5

Quảng Tiên

7

VT

2004

X

X

350

3.6

P. Quảng Thọ

5

VT

2014

X

X

350

3.7

Quảng Minh

9

VT

2006

X

X

350

3.8

P. Quảng Long

4

HT

2015

X

X

350

3.9

Quảng Hải

6

HT

2014

X

X

350

3.10

Quảng Văn

4

Kế hoạch thiết lập mới, nâng cấp đài truyền thanh giai đoạn 2021-2025

Hiện trạng đài truyền thanh xã đến nay

Đã đƣợc đầu tƣ

Kinh phí thực hiện

Kinh phí thực hiện

TT

Đơn vị hành chính (huyện/xã)

số lƣợng thôn thuộc xã

NSĐP Khác

NSĐP Khác

Tổng số NSTW

Tổng số NSTW

Đài TTCS xã (Có/ Không)

Công nghệ

Năm đầu tư

Số lƣợng đài cần nâng cấp

X

HT

2002

Quảng Thủy

5

3.11

SL đài cần thiết lập mới X

350

X

HT

1996

P. Quảng Phong

10

3.12

X

400

X

VT

2007

P. Ba Đồn

6

3.13

X

350

X

HT

2017

P. Quảng Phúc

5

3.14

X

350

X

HT

2018

Quảng lộc

4

3.15

X

350

X

HT

2017

Quảng Tân

5

3.16

X

350

16

Tổng

0

16

5650

Huyện Quảng Trạch

4

X

VT

2020

Quảng Hợp

6

4.1

X

350

X

VT

2015

Quảng Châu

9

4.2

X

350

X

VT

2016

Quảng Kim

6

4.3

X

350

X

VT

Quảng Phú

9

4.4

X

350

X

IT

2021

X

200

Quảng Đông

5

4.5

X

VT

Quảng Hưng

5

4.6

X

350

X

VT

Quảng Xuân

4

4.7

X

350

X

VT

2012

Quảng Tiến

4

4.8

X

350

X

VT

2008

Quảng Lưu

3

4.9

X

350

X

VT

2013

8

4.10

Quảng Thạch

X

350

Kế hoạch thiết lập mới, nâng cấp đài truyền thanh giai đoạn 2021-2025

Hiện trạng đài truyền thanh xã đến nay

Kinh phí thực hiện

Kinh phí thực hiện

Đã đƣợc đầu tƣ

TT

Đơn vị hành chính (huyện/xã)

số lƣợng thôn thuộc xã

NSĐP Khác

NSĐP Khác

Tổng số NSTW

Tổng số NSTW

Đài TTCS xã (Có/ Không)

Công nghệ

Năm đầu tư

Quảng Thanh

4.11

Số lƣợng đài cần nâng cấp

3

X

VT

2008

SL đài cần thiết lập mới X

350

Quảng Phương

4.12

4

X

VT

2008

X

350

Liên Trường

10

4.13

X

HT

2014

X

400

Quảng Tùng

4.14

4

X

VT

2007

X

350

Cảnh H a

4.15

6

X

VT

2008

X

350

Cảnh Dương

4.16

9

X

HT

2015

X

350

Phù Hóa

4.17

5

X

HT

2017

X

350

Tổng

17

1

200

16

5650

….

Tổng

141

30

5800

121

41850

cộng