BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
TRẦN VÕ MỸ HIỀN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ PHÁT THANH, TRUYỀN HÌNH
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG BÌNH
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 8 34 04 03
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
QUẢN LÝ CÔNG
THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2024
Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Người hướng dẫn khoa học: TS. TRẦN TIẾN HẢI
Phản biện 1: .....................................................................
Phản biện 2: .....................................................................
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ, Học
viện Hành chính Quốc gia
Địa điểm: Phòng họp …....., Nhà...... - Hội trường bảo vệ luận
văn thạc sĩ, Phân viện Học viện Hành chính Quốc gia tại ............
Số: ...............................................................................................
Thời gian: vào hồi …… giờ …… tháng …… năm 20...
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Thư viện Học viện Hành chính Quốc gia hoặc trên trang Web
Ban quản lý đào tạo sau đại học, Học viện Hành chính Quốc gia
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
“Hệ thống PT-TH trong cả nước hiện nay đang phát triển
nhanh cả về nội dung, chất lượng chương trình, hạ tầng kỹ thuật và
phương thức truyền dẫn, phát sóng, góp phần tích cực vào sự phát
triển KT-XH của đất nước. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh, mạnh của
hệ thống PT-TH đang đặt ra những thách thức trong công tác quản
lý nhà nước, nhất là đối với các cơ quan quản lý nhà nước ở địa
phương. PT-TH là loại hình phát thanh, truyền hình mang tính đặc
thù, đòi hỏi sự gắn kết giữa nội dung, kỹ thuật và hạ tầng. Vì vậy,
quản lý nhà nước về PT-TH đòi hỏi sự thống nhất, mang tính đồng bộ
cao cả về nội dung và kỹ thuật, trong khi đó ở nhiều địa phương điều
này vẫn chưa đáp ứng được. ”
“Thực hiện chủ trương, đường lối, sự chỉ đạo của Đảng, Nhà
nước, tỉnh Quảng Bình đã dành nhiều sự quan tâm đến lĩnh vực PT-
TH; tạo điều kiện cho hệ thống PT-TH phát triển, góp phần tuyên
truyền chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước;
phản ánh kịp thời những chỉ đạo của các cấp và chính quyền địa
phương; góp phần xây dựng KT-XH trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên,
hoạt động của hệ thống PT-TH và công tác QLNN về PT-TH trên địa
bàn tỉnh Quảng Bình còn bộc lộ nhiều hạn chế, đó là: chưa ban hành
văn bản quy phạm pháp luật về các quy định về PT-TH (trong đó có
Truyền thanh xã); nội dung chương trình PT-TH chưa phong phú;
hình thức thể hiện còn đơn điệu; chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ
cán bộ chưa xứng tầm, nhất là cán bộ Truyền thanh xã còn bất cập;
hệ thống trang thiết bị nhiều nơi kỹ thuật lạc hậu và xuống cấp
nghiêm trọng; kinh phí duy trì hoạt động thấp; chính quyền một số
địa phương chưa nhận thức rõ tầm quan trọng, nhất là hệ thống
1
Truyền thanh xã nên thiếu sự quan tâm cả về nhân lực và công tác
quản lý. ”
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “Quản lý nhà
nước về phát thanh truyền hình trên địa bàn tỉnh Quảng Bình”
làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý công.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hồng Chương, Lịch sử phát thanh, truyền hình Việt Nam (1985),
Nxb Sự thật
- Hồng Chương, 124 năm phát thanh, truyền hình Việt Nam
(1985), Nxb. Bộ Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh,
- Đinh Văn Hường, Phát thanh, truyền hình truyền thông Việt
Nam trong tiến trình phát triển và hội nhập, Đại học Khoa học xã hội
và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Đào Duy Quát, Vũ Duy Thông, Đỗ Quang Hưng, Tổng quan
lịch sử phát thanh, truyền hình Cách mạng Việt Nam (1925 - 2010)
(2010), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
- Cuốn Phát thanh, truyền hình trong đấu tranh chống diễn biến
hòa bình (2010), của Vũ Hiền, Nxb. Chính trị Quốc gia.
- Luận án tiến sĩ Sự lãnh đạo của Đảng đối với phát thanh,
truyền hình trong thời kỳ đổi mới của Nguyễn Vũ Tiến (2013) đã
nghiên cứu những tư duy mới, quan điểm mới của Đảng về phát
thanh, truyền hình và công tác quản lý phát thanh, truyền hình trong
tình hình đất nước đang tiến hành công cuộc đổi mới.
- Luận án tiến sĩ Hoàn thiện pháp luật về phát thanh, truyền
hình ở Việt Nam hiện nay (2016) của Phí Thị Thanh Tâm
Vũ Châu iang (2018), đề tài “Quản lý Nhà nước về Phát thanh
truyền hình trên địa bàn thành phố Hà Nội”, Trường Học viện chính
trị Quốc gia.
2
Nguyễn Di Khang (2019), đề tài “Quản lý Nhà nước về Phát
thanh truyền hình trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”, Trường Học
viện chính trị Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.
Nguyễn Thị Thùy Linh (2020), đề tài “Phát thanh, truyền hình -
những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Trường Học viện Chính trị.
Trần Minh Thuận (2020), đề tài “Các quan điểm của Đảng về
phát thanh, truyền hình trong thời kỳ đổi mới”, Học viện hành chính
Quốc gia.
- Bài báo Phát thanh-Truyền hình trong kỷ nguyên số, ngày
16/6/2023
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là phân tích thực trạng quản
lý Nhà nước về phát thanh, truyền hình của tỉnh Quảng Bình, đánh
giá những điểm mạnh, điểm yếu trong công tác QLNN về phát thanh,
truyền hình, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực,
hiệu quả QLNN về phát thanh, truyền hình trên địa bàn tỉnh Quảng
Bình. ”
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn QLNN về PT-TH
- Phân tích thực trạng QLNN về PT-TH tỉnh Quảng Bình.
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN về PT-
TH trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là hoạt động quản lý nhà nước về PT-TH
tại tỉnh Quảng Bình; những quy định pháp luật về quản lý nhà nước
3
đối với hoạt động PT - TH. Đề tài sẽ không đề cập các nội dung liên
quan đến vấn đề nghiệp vụ.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu QLNN về PT-TH tỉnh Quảng Bình.
- Về thời gian: nghiên cứu trong giai đoạn 2019 - 2022
- Về không gian: trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
“Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác
- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp với các quan điểm, đường
lối chính sách của Đảng về công tác PT-TH và QLNN về PT-TH.
Ngoài ra, luận văn sử dụng cách tiếp cận theo hệ thống, đa ngành,
liên ngành về khoa học xã hội, tiếp cận dựa trên phương pháp nghiên
cứu quy phạm để thực hiện các mục tiêu đề ra. ”
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- “Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Tác giả sử dụng
phương này để nghiên cứu các tài liệu sẵn có (sách, báo khoa học,
luận văn, luận án, văn bản quản lý của nhà nước, các báo cáo...) liên
quan đến QLNN về PT-TH và thực trạng QLNN về PT-TH trên địa
bàn tỉnh Quảng Bình. ”
- “Phương pháp thống kê mô tả: Tác giả sử dụng phương pháp
này để xử lý và trình bày kết quả nghiên cứu; kết hợp cùng các
phương pháp thống kê, khái quát thực tiễn, phân tích định tính, suy
luận logic, diễn giải trong quá trình phân tích, đánh giá chính sách. ”
- “Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp: Tác giả sử dụng
các phương pháp này để phân tích cơ sở lý luận, phân tích thực trạng,
đối chiếu giữa thực tế và lý luận, từ đó tổng hợp lại thành những
quan điểm, luận điểm, những kết luận. ”
4
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
“Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần làm rõ một số
vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến QLNN về PT-TH ở Việt Nam
nói chung và ở đơn vị hành chính cấp tỉnh nói riêng. Qua đó, cung
cấp cơ sở phương pháp luận giúp cán bộ, công chức trong các cơ
quan, tổ chức nhìn nhận đúng đắn tầm quan trọng, vai trò vị trí của
QLNN đối với PT-TH đối với việc phát triển KT - XH địa phương,
nâng cao đời sống nhân dân. ”
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
“Thông qua việc thực hiện các giải pháp mà luận văn đề xuất,
đề tài góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện QLNN về PT-TH trên
địa bàn tỉnh Quảng Bình, góp phần thúc đẩy phát triển KT - XH địa
phương; ”
“Ngoài ra, luận văn có giá trị làm tài liệu tham khảo, vận dụng
vào hoạt động thực tiễn của các cơ quan tổ chức trong HTCT ở địa
phương, góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng, nghiệp vụ
cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tham gia QLNN đối với
PT-TH.”
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo,
luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận Quản lý nhà nước về Phát thanh truyền
hình.
Chương 2. Thực trạng Quản lý nhà nước về Phát thanh truyền
hình trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
Chương 3. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện Quản lý nhà
nước về Phát thanh truyền hình trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
5
Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
VỀ PHÁT THANH, TRUYỀN HÌNH
1.1. Khái niệm, vai trò của quản lý nhà nƣớc về phát thanh,
truyền hình
1.1.1. Khái niệm về phát thanh, truyền hình
1.1.1.1. Khái niệm về phát thanh
“Phát thanh là loại hình báo chí sử dụng ngôn ngữ âm thanh
tổng hợp, bao gồm lời nói, tiếng động, âm nhạc, tác động trực tiếp
vào thính giác của đối tượng tiếp nhận. Trong ba thành tố của ngôn
ngữ phát thanh, lời nói đóng vai trò then chốt. Lời nói cung cấp thông
tin, chuyên chở tư tưởng, khơi dậy cảm xúc, là cầu nối hữu hiệu giữa
đài phát thanh và công chúng thính giả. [Theo Nguyễn Đức Bình,
2015] ”
1.1.1.2. Khái niệm về truyền hình
“Truyền hình là một loại hình truyền thông đại chúng chuyển tải
thông tin bằng hình ảnh và âm thanh về một vật thể hoặc một cảnh đi
xa bằng sóng vô tuyến điện. [Theo Lê Thanh Bình, 2022]
1.1.1.3 Khái niệm đặc điểm của phát thanh, truyền hình
““Phát thanh, truyền hình là dịch vụ ứng dụng viễn thông để
cung cấp nguyên vẹn các kênh chương trình trong nước, kênh
chương trình nước ngoài và dịch vụ giá trị gia tăng trên hạ tầng kỹ
thuật truyền dẫn phát sóng phát thanh, truyền hình đến người sử dụng.
Dịch vụ phát thanh, truyền hình có thể được cung cấp trực tiếp đến
người sử dụng dịch vụ không qua thiết bị lưu trữ, làm chậm (dịch vụ
truyền hình trực tuyến) hoặc theo yêu cầu riêng biệt của thuê bao sử
dụng dịch vụ (dịch vụ theo yêu cầu). ”
Đặc điểm của phát thanh truyền hình:
6
“Thứ nhất, Tính thời sự
“Thứ hai, Ngôn ngữ phát thanh, truyền hình là ngôn ngữ
hình ảnh và âm thanh
“Thứ ba, Tính phổ cập và quảng bá
Thứ tư, Khả năng thuyết phục công chúng
Thứ năm, Khả năng tác động dư luận xã hội mạnh mẽ và trở
thành diễn đàn của nhân dân
1.1.1.4. Vai trò, chức năng của phát thanh, truyền hình trong đời
sống xã hội.
1.1.2. Khái niệm, vai trò quản lý nhà nước đối với phát thanh,
truyền hình
1.1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước
“Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước,
được thực hiện bởi cơ quan nhà nước để duy trì, xác lập trật tự xã hội
ổn định từ đó phát triển xã hội theo mục tiêu đã đề ra. Quản lý nhà
nước là quản lý xã hội dựa trên quyền lực nhà nước nhằm điều chỉnh
quan hệ trong xã hội. Các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện
quản lý nhà nước nhằm thực hiện chức năng đối, đối ngoại và được
đảm bảo bằng quyền lực cưỡng chế của Nhà nước.[Theo Nguyễn
Đức Bình, 2017] ”
1.1.2.2. Khái niệm quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình
“Quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình là quá trình tác
động, điều chỉnh của Nhà nước đối với hoạt động phát thanh, truyền
hình, để hoạt động này diễn ra theo đúng qui định của pháp luật.
Hay nói cách khác, quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình là
thực hiện ý chí quyền lực của nhà nước trong hoạt động phát thanh,
truyền hình. Bằng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, Nhà nước
vừa thể hiện ý chí của mình đ ối với hoạt động phát thanh, truyền
7
hình vừa tạo lập một hành lang pháp lý để các chủ thể tham gia hoạt
động phát thanh, truyền hình tự do hoạt động trong khuôn khổ pháp
luật cho phép và phục vụ tốt những mục tiêu của xã hội.[Lê Thanh
Bình, 2022] ”
1.1.2.3. Vai trò của quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình
Thứ nhất, quản lý nhà nước về phát thanh truyền hình góp phần
triển khai đường lối, chủ trương của Đảng về công tác phát thanh,
truyền hình:
“Thứ hai, quản lý nhà nước về phát thanh truyền hình góp phần
đấu tranh bảo đảm công lý, công bằng và trật tự xã hội và bảo đảm
quyền con người:
“Thứ ba, quản lý Nhà nước về phát thanh, truyền hình góp phần
thúc đẩy tiến trình hội nhập quốc tế:
1.2. Nội dung quản lý nhà nƣớc đối với phát thanh, truyền hình
Thứ nhất, công tác xây dựng kế hoạch về phát thanh, truyền hình.
Thứ hai, Công tác thể chế hoá các quy định của pháp luật về
quản lý nhà nước về Phát thanh, truyền hình
Thứ ba, tổ chức bộ máy và đội ng công chức quản lý Nhà nước
về phát thanh, truyền hình
Thứ tư, tổ chức quản lý nhà nước và phối hợp quản lý nhà nước
về phát thanh, truyền hình.
Thứ năm, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật trong
quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình.
1.3. Nguyên tắc và cách thức quản lý Nhà nƣớc đối với phát
thanh, truyền hình
8
1.4. Các yếu tố ảnh hƣởng đến quản lý nhà nƣớc về phát thanh,
truyền hình
1.4.1.Hệ thống thể chế về phát thanh, truyền hình
1.4.2.Năng lực thực hiện pháp luật của bộ máy quản lý nhà nước
về phát thanh, truyền hình
1.4.3.Phẩm chất, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức làm công
tác quản lý phát thanh, truyền hình
1.4.4.Sự tham gia của nhân dân vào hoạt động quản lý nhà nước
về phát thanh truyền hình
Tiểu kết chƣơng 1
9
Chƣơng 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ PHÁT THANH,
TRUYỀN HÌNH TẠI TỈNH QUẢNG BÌNH
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội c tác động
đến uản lý nhà nƣớc về P H của tỉnh Quảng Bình
“Quảng Bình là một tỉnh miền Trung Việt Nam, cách Hà Nội
500 km về phía Bắc và cách thành phố Hồ Chí Minh 1.201 km về
phía Nam, phía Tây giáp nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào (với
201 km đường biên giới), phía Đông giáp Biển Đông (với 116 km bờ
biển); có Cửa khẩu Quốc tế Cha Lo thông thương với Lào và Thái
Lan. Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh là: 8.065 km²; Dân số hơn
860.000 người; lao động có trên 500.000 người. (Theo cục thống kê
tỉnh Quảng Bình, 2022). ”
“Quảng Bình nằm trên trục hành lang phát triển kinh tế Đông
Tây từ biển Đông Việt Nam với Lào, Đông Bắc Thái Lan và các
nước thuộc khu vực Trung -Nam Châu Á, có lợi thế trong chiến lược
phát triển trục hành lang kinh tế Đông - Tây. Với vị trí địa kinh tế là
cửa ngõ phía Đông của cả vùng Trung Lào, Đông Bắc Thái Lan và
Myanma, Quảng Bình rất có lợi thế trong xuất khẩu hàng hóa với các
đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP); kết nối thị
trường trong nước với khu vực và thế giới. ”
2.2. Khái quát về phát thanh, truyền hình tại tỉnh Quảng Bình
“Tính đến tháng 6/2022, trên địa bàn tỉnh có 145/151 xã,
phường, thị trấn có Đài Truyền thanh cơ sở, chiếm 96%. Trong đó:
48/151 xã, phường, thị trấn có Đài truyền thanh ứng dụng CNTT-VT,
chiếm 31.8%; 47/151 xã, phường, thị trấn có đài truyền thanh không
10
dây, chiếm 31.1%; 01/151 xã, phường, thị trấn có đài truyền thanh cả
không dây và có dây, chiếm 0.7%; 49/151 xã, phường, thị trấn có đài
truyền thanh có dây, chiếm 32.5%; 6/151 xã, phường, thị trấn chưa
có đài truyền thanh cơ sở, chiếm 4%.”
2.3. Thực trạng quản lý nhà nƣớc về phát thanh, truyền hình tại
tỉnh Quảng Bình
2.3.1. ng tác y dựng ế hoạch về phát thanh, truyền hình
Kế hoạch về quản lý nhà nước về PTTH tỉnh Quảng Bình cụ thể
như sau:
- Triển khai hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của
Chiến lược phát triển thông tin quốc gia đến năm 2025, tầm nhìn
2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
- Hiện đại hóa hoạt động thông tin, truyền thông và nâng cao
chất lượng thông tin đến với người dân. Nâng cao hoạt động báo chí,
tuyên truyền; hoạt động thông tin cơ sở trong tình hình mới.
- Thực hiện tốt công tác tuyên truyền quảng bá hình ảnh, tiềm
năng, lợi thế của tỉnh Quảng Bình đến với bạn bè trong nước và quốc
tế; đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc
của thế lực thù địch, góp phần giữ vững ổn định an ninh quốc gia,
đảm bảo trật tự an toàn xã hội.
2.3.2. ng tác thể chế hoá các quy định của pháp luật về quản lý
nhà nước về phát thanh, truyền hình
Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 05/9/2016 của Ban Bí thư về đẩy
mạnh công tác thông tin cơ sở trong tình hình mới; Quyết định số
1755/QĐ-TTg ngày 22/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Đề án Đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về công nghệ thông
tin và truyền thông; Quyết định số 52/2016/QĐ-TTg ngày
06/12/2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế hoạt động
11
thông tin cơ sở; Quyết định số 135/QĐ-TTg ngày 20/01/2020 của
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án nâng cao hiệu quả hoạt động
thông tin cơ sở dựa trên ứng dụng công nghệ thông tin; Thông tư
37/2017/TT-BTTTT ngày 07/12/2017 của Bộ Thông tin và Truyền
thông quy hoạch sử dụng kênh tần số phát thanh FM
2.3.3. Tổ chức bộ máy và đội ngũ c ng chức quản lý Nhà nước về
phát thanh, truyền hình
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, hệ thống Đài truyền
thanh cơ sở được tổ chức và hoạt động theo Quyết định số
37/2015/QĐ-UBND ngày 02/11/2015 của UBND tỉnh. Theo đó, Đài
Truyền thanh cơ sở do Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn trực tiếp
quản lý; chịu sự quản lý nhà nước của Phòng Văn hóa và Thông tin
cấp huyện và sự hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ thuật của
Đài Truyền thanh - Truyền hình cấp huyện (nay là Trung tâm Văn
hóa, Thể thao và Truyền thông). Đài Truyền thanh cơ sở có Ban Biên
tập số lượng từ ba đến năm người, trong đó: Trưởng Ban Biên tập là
Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã; Phó Trưởng
Ban Biên tập là công chức Văn hóa - Xã hội; thành viên Ban Biên tập
là cán bộ phụ trách Đài Truyền thanh cấp xã và các thành viên khác
do Chủ tịch UBND cấp xã quyết định.
2.3.4. ổ chức quản lý nhà nước và phối hợp quản lý nhà nước về
phát thanh, truyền hình
Tỉnh Quảng Bình đã thiết lập cơ sở dữ liệu, áp dụng quản lý
chất lượng hành chính công theo tiêu chuẩn ISO 9001:2018 để làm
cơ sở trong việc thực hiện cải cách thủ tục hành chính, tạo mọi điều
kiện thuận lợi cho cơ quan, đơn vị có nhu cầu xuất bản; tổ chức thực
hiện tốt Đề án 30 về cải cách thủ tục hành chính, đổi mới và nâng cao
năng lực chuyên môn đảm bảo tính pháp lý, hiệu quả và minh bạch
12
trong cấp phép; đẩy mạnh công tác tuyên truyền pháp luật chuyên
ngành; tổ chức thanh tra, kiểm tra những vấn đề nổi cộm, dễ vi phạm;
xác lập và đưa vào nền nếp chế độ báo cáo của mạng lưới báo chí; tổ
chức lưu chiểu và thường xuyên theo dõi phát hiện và chấn chỉnh các
hoạt động vi phạm, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; thanh tra, kiểm
tra vi phạm trong hoạt động phát thanh và truyền hình. “
2.3.5. Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm pháp
luật trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình
“Đi đôi với các hình thức khác trong công tác quản lý Nhà nước
trên lĩnh vực phát thanh, truyền hình, Sở Thông tin và Truyền thông
đã đặc biệt quan tâm đến công tác thanh, kiểm tra, coi đây là nội
dung quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước. ”
2.4. Đánh giá chung về công tác quản lý nhà nƣớc về phát thanh,
truyền hình tại tỉnh Quảng Bình
2.4.1. Kết quả đạt được
Thứ nhất, quản lý nhà nước về thông tin tuyên truyền về đường
lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các sự
kiện chính trị lớn và công tác chỉ đạo, điều hành của cấp uỷ, chính
quyền địa phương
Thứ hai, quản lý nhà nước về việc cải tiến, nâng cao chất lượng
và thời lượng chương trình phát thanh, truyền hình; việc hợp tác sản
xuất chương trình; hợp tác quốc tế
Thứ ba, Việc xây dựng tổ chức Đảng, các đoàn thể, chăm lo đời
sống vật chất, tinh thần cho người lao động, tham gia các hoạt động
xã hội từ thiện
Thứ tư, Việc tham gia phong trào thi đua “Xây dựng môi trường
văn hoá trong cơ quan báo chí” theo Kế hoạch số 154-KH/BTGTW
ngày 10/6/2022 của Ban Tuyên giáo Trung ương
13
Thứ năm, Công tác lãnh đạo chỉ đạo sinh hoạt Đảng, giáo dục
chính trị tư tưởng đối với Đảng viên, viên chức, người lao động
2.4.2. Những hạn chế
Một là, công tác lãnh đạo, chỉ đạo:
Chính sách, pháp luật về lĩnh vực này chậm được sửa đổi, bổ
sung cụ thể hoá.
Hai là, công tác quản lý phát thanh, truyền hình trên địa bàn
chưa được quan tâm đầu tư đúng mức.
Công tác thanh tra, kiểm tra chưa được thực hiện thường xuyên,
toàn diện, ở cả cấp tỉnh, cấp huyện đặc biệt là việc thanh tra, kiểm tra
hoạt động phát hành ấn, phát hành.
Ba là, cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ cho công tác chuyên
môn còn bất cập với yêu cầu, ảnh hưởng không ít đến chất lượng,
hình thức thông tin báo chí. Hạ tầng công nghệ - kỹ thuật còn thiếu,
chưa đồng bộ, tương thích với yêu cầu nhiệm vụ và nhu cầu của độc
giả, khán thính giả.
Bốn là, công tác thanh tra, kiểm tra các sai phạm trong thông
tin còn chưa kiên quyết, triệt để, nhất là trên các trang thông tin điện
tử, báo chí trên địa bàn; Chính sách đầu tư công nghệ, tài chính cho
báo chí Quảng Bình còn chậm.
2.4.3.Nguyên nhân của những hạn chế
Nguyên nhân khách quan (Bối cảnh chung trên thế giới, khu
vực):
- Nguyên nhân chủ quan
Kết luận Chƣơng 2
14
hương 3:
PHƢƠN HƢỚN VÀ GIẢI PHÁP
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ PHÁT THANH, TRUYỀN HÌNH
N ĐỊ ÀN TỈNH QUẢNG BÌNH
3.1. Phƣơng hƣớng quản lý nhà nƣớc về phát thanh, truyền hình
tại tỉnh Quảng Bình
3.1.1. Phương hướng quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình
cần quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng về công tác phát
thanh, truyền hình
3.1.2. Quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình phải hướng
đến phục vụ và đáp ứng tốt nhất nhu cầu thông tin của người dân
3.1.3. Quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình phải hướng
đến khắc phục những hạn chế, yếu kém trong quản lý nhà nước về
phát thanh, truyền hình
3.1.4. Quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình phải nhằm
nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cấp chính quyền,
đồng thời phải đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa
3.1.5. Quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình phải gắn liền
với xây dựng, phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế
3.2. Giải pháp tăng cƣờng quản lý nhà nƣớc về phát thanh,
truyền hình tr n địa àn tỉnh uảng nh
3.2.1. Hoàn thiện văn bản quản lý nhà nước, hệ thống pháp luật về
phát thanh, truyền hình trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
“Chất lượng, hiệu quả quản lý xã hội của Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa phụ thuộc rất nhiều vào mức độ hoàn thiện của hệ
thống pháp luật. Vì vậy, yêu cầu về một hệ thống văn bản quy phạm
15
pháp luật đồng bộ trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình là hết sức
cần thiết. Điều chỉnh hoạt động báo chí thông qua định hướng của
Đảng và hệ thống pháp luật của Nhà nước, vừa bảo đảm sự chặt chẽ
trong quy định, chế tài, vừa bảo đảm sự thông thoáng cho nhà báo và
các cơ quan báo chí phát huy tính năng động, sáng tạo. ”
3.2.2. Hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện quản lý nhà nước về
phát thanh, truyền hình trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
“Hiệu quả quản lý trật tự đô thị đòi hỏi phải bảo đảm sự thống
nhất, phù hợp nhất quán trong công tác tổ chức thực hiện các văn bản
quản lý nhà nước về quản lý trật tự đô thị được quy định trong thể
chế với việc triển khai các quy định trong thực tế. Đồng thời, phải
quan tâm trang bị đầy đủ các phương tiện, công cụ để các cơ quan thi
hành pháp luật được đảm bảo.
3.2.3. Tổ chức hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong
hoạt động phát thanh, truyền hình trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
“Thứ nhất, Thanh tra, kiểm tra được coi là một khâu trong chu
trình quản lý nhà nước. Do đó, việc thực hiện tốt hoạt động thanh tra,
kiểm tra giúp cho quản lý nhà nước có hiệu quả, đồng thời góp phần to
lớn vào việc ngăn chặn, phòng ngừa, xử lý những vi phạm. Các cơ quan
thanh tra chuyên ngành thông tin và truyền thông cần tiếp tục tăng
cường mạnh mẽ hơn nữa hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm
“Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố: Chỉ đạo
các ngành chức năng tăng cường công tác tuyên truyền những quy định
của Nhà nước về hoạt động phát thanh, truyền hình; có kế hoạch thanh
tra, kiểm tra những cơ sở phát thanh, truyền hình trên địa bàn quản lý;
xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật những cơ sở vi phạm. ”
Kết luận Chƣơng 3
16
KẾT LUẬN
“Việt Nam chúng ta đang trong tiến trình đổi mới mạnh mẽ
hướng tới phát triển bền vững; công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội
nhập quốc tế định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng đi vào chiều
sâu. Cách mạng khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông
tin và xu hướng toàn cầu hóa, nhất là trong lĩnh vực truyền thông
diễn ra vô cùng mạnh mẽ đã tác động sâu sắc đến lĩnh vực phát
thanh, truyền hình, đưa thế giới từ kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ
nguyên thông tin phát thanh, truyền hình và phát triển kinh tế tri thức.
Sự hội tụ giữa thông tin, viễn thông, tin học là một xu hướng quan
trọng trong xu thế phát triển phát thanh, truyền hình trên phạm vi
toàn cầu. Đầu tư cho phát thanh, truyền hình từ chỗ được coi là đầu
tư cho phúc lợi xã hội chuyển thành đầu tư cho sự phát triển. Trong
xu thế khách quan của toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế, các hoạt động
báo chí được mở rộng, tạo điều kiện cho giao lưu, hội nhập văn hoá,
đồng thời cũng đang diễn ra cuộc đấu tranh tư tưởng gay gắt để bảo
vệ độc lập, chủ quyền quốc gia và bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc.
Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đã và đang sử dụng hệ
thống báo chí để chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày càng tinh vi và quyết liệt hơn. Chính
vì lẽ đó mà cần đến sự quản lý chặt chẽ và có hiệu quả đối với báo
chí trong giai đoạn hiện nay với mục tiêu vừa đảm bảo quyền tự do
ngôn luận, tự do báo chí của công dân, vừa tạo nên trật tự quản lý
góp phần phát triển xã hội, ổn định an ninh trật tự trong nước và hội
nhập quốc tế. ”
““Phát thanh, truyền hình phẩm - đó là tri thức, là một trong các
yếu tố đào tạo nên con người văn hóa, là thành tố quan trọng trong
17
việc tạo dựng trí tuệ, phẩm cách của con người, tạo dựng nên động
lực để đất nước có thể vững bước trên con đường công nghiệp hóa,
hiện đại hóa. Cơ chế thị trường bên cạnh những tác động tích cực tạo
nên một thị trường bản tin sôi động, phong phú đáp ứng thị hiếu đọc
đa tầng, đa dạng, đang đặt ra những thách thức rất lớn cho hoạt động
phát thanh, truyền hình. Các cơ quan phát thanh, truyền hình do phải
lo đáp ứng nhu cầu, các loại thị hiếu khác nhau của công chúng,
phải” coi độc giả là “thượng đế” nên đã có tình trạng đưa những
thông tin thất thiệt, xuất bản, phát hành cả các bản tin mang nội dung
phản văn hoá, độc hại, gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống tinh
thần của xã hội, truyền thống văn hoá của dân tộc. Vì lẽ đó, cần thiết
phải tăng cường quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình nhằm
đảm bảo định hướng của Đảng và pháp luật của Nhà nước ta về phát
thanh, truyền hình, phù hợp công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập
quốc tế.
18

