BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

THỰC TIỄN GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG

THƯƠNG MẠI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG

VÀ XÂY DỰNG QUẢNG NINH

Ngành: Luật kinh tế

NGUYỄN ÁNH DƯƠNG

Hà Nội-2019

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Thực tiễn giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại

Tại Công ty cổ phần Xi măng và xây dựng Quảng Ninh

Ngành: Luật kinh tế

Mã số: 8380107

Họ và tên học viên: Nguyễn Ánh Dương

Người hướng dẫn: PGS, TS. Nguyễn Minh Hằng

Hà Nội-2019

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi, Nguyễn Ánh Dương - Học viên Cao học khóa 2017-2019, Chuyên ngành

Luật Kinh tế, Trường Đại học Ngoại thương

Tác giả luận văn: Thực tiễn giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại tại

Công ty cổ phần Xi măng và xây dựng Quảng Ninh.

Xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu

trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.

Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về lời cam đoan của mình.

Hà Nội, tháng 12 năm 2018

TÁC GIẢ

Nguyễn Ánh Dương

ii

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành đề tài, tác giả xin được trân trọng cảm ơn PGS, TS. Nguyễn

Minh Hằng, Trưởng khoa Luật, Đại học Ngoại thương, Trọng tài viên VIAC

cùng các Thầy giáo, Cô giáo đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả hoàn thành

Luận văn này.

Xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo và các đồng nghiệp đang làm việc tại

Công ty cổ phần Xi măng và xây dựng Quảng Ninh đã tạo điều kiện cho tác giả

được học hỏi, trao đổi kiến thức, kinh nghiệm và số liệu trong suốt thời gian nghiên

cứu để hoàn thành đề tài.

Hà Nội, tháng 12 năm 2018

TÁC GIẢ

Nguyễn Ánh Dương

iii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN ...................................................................................................... i

LỜI CẢM ƠN ........................................................................................................... ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT..................................................................... vi

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU .......................................................................... vii

DANH MỤC SƠ ĐỒ - LƯU ĐỒ .......................................................................... viii

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN .................................. ix

MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP

ĐỒNG THƯƠNG MẠI ............................................................................................ 8

1.1 Khái niệm về hợp đồng thương mại ........................................................... 8

1.2 Đặc điểm của hợp đồng thương mại ........................................................... 9

1.2.1 Chủ thể của hợp đồng thương mại ................................................. 10

1.2.2 Đối tượng của hợp đồng thương mại.............................................. 10

1.2.3 Luật điều chỉnh hợp đồng thương mại ........................................... 11

1.3 Các vấn đề chung về giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại ........ 12

1.3.1 Điều kiện hiệu lực của hợp đồng thương mại ................................ 12

1.3.2 Trình tự giao kết hợp đồng thương mại ......................................... 18

1.3.3 Nguyên tắc giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại ............... 22

1.3.4 Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại ................ 25

1.4 Kỹ năng đàm phán hợp đồng thương mại nhằm giảm thiểu rủi ro ...... 29

1.5 Kỹ năng soạn thảo hợp đồng thương mại ................................................ 32

KẾT LUẬN CHƯƠNG I ........................................................................................ 38

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG

THƯƠNG MẠI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG VÀ XÂY DỰNG

QUẢNG NINH ........................................................................................................ 39

2.1 Giới thiệu chung về QNC ........................................................................... 39

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển .................................................... 39

2.1.2 Lĩnh vực hoạt động .......................................................................... 42

2.1.3 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của QNC .................... 44

iv

2.2 Trình tự giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại tại QNC ............. 46

2.3. Hợp đồng thương mại mua hàng hóa, dịch vụ ....................................... 48

2.3.1 Thực tiễn giao kết và thực hiện các hợp đồng thương mại mua

hàng hóa, dịch vụ ...................................................................................... 48

2.3.2 Các vấn đề pháp lý phát sinh trong quá trình giao kết và thực hiện

các hợp đồng thương mại mua hàng hóa, dịch vụ .................................. 50

2.4. Hợp đồng thương mại bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ ........................ 54

2.4.1 Thực tiễn giao kết và thực hiện các hợp đồng thương mại bán

hàng hóa, cung ứng dịch vụ ..................................................................... 54

2.4.2 Các vấn đề pháp lý phát sinh trong quá trình giao kết và thực hiện

các hợp đồng thương mại bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ .................. 55

2.5 Hợp đồng ủy thác xuất khẩu xi măng, clinke .......................................... 58

2.5.1 Thực tiễn giao kết và thực hiện các hợp đồng ủy thác xuất khẩu xi

măng, clinke .............................................................................................. 58

2.5.2 Các vấn đề pháp lý phát sinh trong quá trình giao kết và thực hiện

các hợp đồng ủy thác xuất khẩu xi măng, clinke .................................... 59

2.6 Đánh giá việc áp dụng các quy định pháp luật, quy định, quy trình nội

bộ liên quan đến giao kết và thực hiện các hợp đồng thương mại tại QNC

............................................................................................................................ 62

KẾT LUẬN CHƯƠNG II ....................................................................................... 64

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP THÚC NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC GIAO KẾT

VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XI

MĂNG VÀ XÂY DỰNG QUẢNG NINH ............................................................. 66

3.1. Định hướng phát triển của QNC và xu thế giao kết, thực hiện hợp đồng

thương mại tại QNC ......................................................................................... 66

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả giao kết và thực hiện hợp đồng thương

mại tại QNC ...................................................................................................... 68

3.2.1 Tổng hợp đề xuất sửa đổi, bổ sung các điều khoản của hợp đồng

thương mại ................................................................................................ 68

v

3.2.2 Giải pháp sửa đổi bổ sung các quy trình, quy định của QNC liên

quan đến việc giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại .................... 70

3.2.3 Khảo sát kỹ thị trường và chuẩn bị các điều kiện, kế hoạch trước

khi giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại ..................................... 73

3.2.4 Gải pháp đào tạo nguồn nhân lực .................................................. 74

3.2.5 Thành lập bộ phận hoặc phòng Pháp chế trong đó có nhân lực

chuyên môn hóa về Luật kinh tế .............................................................. 75

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 ........................................................................................ 76

KẾT LUẬN .............................................................................................................. 78

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................... 81

PHỤ LỤC ................................................................................................................. 85

vi

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1. BLDS : Bộ luật dân sự

2. LTM : Luật Thương mại

3. QNC : Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng ninh

4. UBND : Ủy ban nhân dân

5. HĐTM : Hợp đồng thương mại

6. TAND : Tòa án nhân dân

7. CISG : Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

vii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2015 ................................... 44

Bảng 2.2: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2016 ................................... 45

Bảng 2.3: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2017 ................................... 45

Bảng 2.4: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh hết quý 3 năm 2018 ................... 64

viii

DANH MỤC SƠ ĐỒ - LƯU ĐỒ

SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1- Tổ chức hoạt động của QNC ................................................................... 43

Sơ đồ 2.2: Sơ đồ quy trình bán hàng ......................................................................... 86

LƯU ĐỒ

Lưu đồ 2.1: Lưu đồ hướng dẫn lựa chọn Nhà phân phối và ký hợp đồng bán hang 87

Lưu đồ 2.2: Lưu đồ thực hiện quy trình mua hàng ................................................... 88

Lưu đồ 2.3: Lưu đồ thực hiện quy trình mua hàng phương thức chào hàng mức 2 . 89

Lưu đồ 2.4: Lưu đồ thực hiện quy trình mua hàng phương thức chào hàng mức 3,4

................................................................................................................................... 90

Lưu đồ 2.5: Lưu đồ quy trình quản lý thực hiện hợp đồng nguyên, nhiên liệu ........ 91

Lưu đồ 2.6: Lưu đồ quy trình quản lý thực hiện hợp đồng thiết bị, vật tư phụ ........ 92

Lưu đồ 2.7: Lưu đồ quy trình quản lý thực hiện hợp đồng dịch vụ công nghiệp ..... 93

Lưu đồ 2.8: Lưu đồ quy trình quản lý thực hiện hợp đồng ngoại thương ................ 94

ix

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN

Tên đề tài: “Thực tiễn giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại tại Công ty

cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh”

Kết quả nghiên cứu của luận văn:

1. Trình bày cụ thể các cơ sở lý luận về giao kết và thực hiện hợp đồng

thương mại, trong đó nêu rõ các khái niệm về hợp đồng thương mại, đặc điểm và

trình tự giao kết, nguyên tắc giao kết, trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng

thương mại.

2. Luận văn đã đưa ra các kỹ năng cần thiết trong quá trình đàm phám hợp

đồng thương mại nhằm giảm thiểu rủi ro, các kỹ năng soạn thảo hợp đồng thương

mại nhằm đảm bảo tính chặt chẽ, hợp pháp của hợp đồng.

3. Luận văn đã trình bày được thực tiễn việc giao kết và thực hiện hợp đồng

thương mại tại Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh, trong đó giới

thiệu khái quát được về Công ty; nêu bật trình tự giao kết và thực hiện hợp đồng

thương mại chung tại Công ty, các quy trình quy định liên quan đến việc giao kết và

thực hiện hợp đồng thương mại tại Công ty; trình bày cụ thể về thực tiễn giao kết và

thực hiện cũng các vấn đề pháp lý phát sinh trong quá trình giao kết và thực hiện

các loại hợp đồng thương mại tiêu biểu như hợp đồng nhập mua hàng hóa, dịch vụ,

bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, hợp đồng ủy thác xuất khẩu xi măng, clinke. Trên

cơ sở đó làm rõ các tồn tại hạn chế cần sửa đổi, bổ sung đối với từng loại hợp đồng,

đồng thời chỉ ra chi tiết cách thức sửa đổi, khắc phục kịp thời các tồn tại, hạn chế.

4. Từ thực tiễn đã nêu, Luận văn đưa ra các giải pháp hữu ích thúc đẩy hiệu

quả giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại tại Công ty cổ phần xi măng và xây

dựng Quảng Ninh trong thời điểm hiện nay và trong quá trình phát triển tiếp theo

trong đó có các giải pháp:

Khảo sát kỹ thị trường và chuẩn bị các điều kiện, kế hoạch trước khi giao kết

và thực hiện hợp đồng thương mại;

x

Các giải pháp cụ thể cho các loại hợp đồng tiêu biểu đã đề cập ở nội dung

chính của luận văn;

Đánh giá các quy trình, quy định và đề xuất giải pháp sửa đổi bổ sung các

quy trình, quy định liên quan đến việc giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại

tại Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh;

Đưa ra giải pháp trong việc đào tạo nguồn nhân lực đủ tâm, đủ tầm tham gia

vào công tác giao kết và thực hiện các hợp đồng thương mại;

Giải pháp thành lập bộ phận hoặc phòng Pháp chế trong đó có nhân lực

chuyên môn hóa về Luật kinh tế để tham mưu giúp việc cho lãnh đạo Công ty trong

quá trình giao kết và thực hiện các hợp đồng thương mại.

Tất cả các giải pháp đề tài nêu ra là các giải pháp căn bản nhất nhằm cải

thiện và đi đến hoàn thiện cách thức, quy trình đồng thời nâng cao hiệu quả của việc

giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại tại Công ty cổ phần xi măng và xây

dựng Quảng Ninh.

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình phát triển và hội nhập kinh tế thế giới, dưới sự lãnh đạo của

Đảng Cộng sản Việt Nam, nước ta đang tập trung phát triển nền kinh tế nhiều thành

phần theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta chủ trương tạo môi

trường thuận lợi cho các doanh nghiệp, đồng hành cùng các doanh nghiệp trong

nước bằng các biện pháp, các chính sách hiệu quả, bằng hành lang pháp lý ổn định

và phù hợp vì vậy các Doanh nghiệp Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội phát triển.

Kể từ khi gia nhập WTO thì hoạt động thương mại Việt Nam có nhiều thay

đổi đáng kể và theo chiều hướng tích cực, hoạt động mua bán hàng hóa diễn ra

thường xuyên hơn, chính vì vậy hợp đồng thương mại (HĐTM) cũng được xem

trọng hơn. Các doanh nghiệp Việt Nam mở rộng quan hệ hợp đồng với nhiều đối

tác khác nhau nhằm mục tiêu đẩy mạnh phát triển sản xuất kinh doanh.

Tuy nhiên trong bối cảnh hiện nay, sau cuộc khủng hoảng tài chính và suy

thoái kinh tế thế giới 2008, nền kinh tế Việt Nam ít nhiều bị ảnh hưởng, phần lớn

các doanh nghiệp “gạo cội” của Việt Nam bị trao đảo và rơi vào tình trạng hoạt

động kém hiệu quả, đứng trước những thách thức to lớn. Quảng Ninh, một tỉnh chủ

yếu phát triển ngành công nghiệp nặng (than, điện, xi măng, khai thác đá...) và du

lịch, đa phần các doanh nghiệp lớn của Quảng Ninh được coi là lực lượng chủ lực

của nền kinh tế tỉnh Quảng Ninh nói riêng và của ngành công nghiệp cả nước nói

chung cũng không nằm ngoài vòng xoáy của tình trạng hoạt động kém hiệu quả

hiện nay.

Công ty cổ phần Xi măng và xây dựng Quảng Ninh (Tên gọi tắt là QNC), một

doanh nghiệp đã từng là con chim đầu đàn của ngành xây dựng Quảng Ninh, của

khối doanh nghiệp địa phương tỉnh Quảng Ninh cũng đang trong giai đoạn khó

khăn nhất, sự khó khăn này đến từ nhiều phía song một trong những nguyên do cơ

bản khiến QNC gặp khó khăn chính là việc song hành với các hoạt động sản xuất

kinh doanh giảm sút hiệu quả, thói quen đơn giản hóa trong các hoạt động thương

mại trước đây khiến lãnh đạo QNC chưa thực sự có cái nhìn đúng đắn và sự lưu tâm

2

cần thiết đến các hoạt động thương mại của đơn vị vì thế việc ký kết và thực hiện

các HĐTM với các đối tác còn rất nhiều bất cập, còn có những lỗ hổng lớn mang lại

nhiều rủi do cho QNC. Trong hai năm trở lại đây, lãnh đạo QNC đã phần nào ý thức

được điều này song thực tế QNC còn thiếu một đội ngũ cán bộ có hiểu biết chuyên

sâu về các quy định của pháp luật liên quan đến HĐTM, và còn thiếu một cái nhìn

tổng quát liên quan đến các vấn đề còn tồn tại khi giao kết và thực hiện các loại

HĐTM hiện nay.

Phải khẳng định, hợp đồng chính là bằng chứng quan trọng nhất cho sự tồn tại

của một mối quan hệ mua bán khi phát sinh tranh chấp, là ràng buộc pháp lý về

nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại, là phương tiện không thể thiếu để

các chủ thể trong đó có các doanh nghiệp thực hiện mục tiêu kinh doanh của mình.

Tính chặt chẽ, phù hợp của hợp đồng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt

động thương mại. Thực tế cho thấy, nhiều tranh chấp thương mại xuất phát từ

những bất cập của hợp đồng, đã có nhiều trường hợp các bên giao kết hợp đồng với

nhau và tiến hành các hoạt động thương mại, nhưng rồi khi một tranh chấp nhỏ xảy

ra, một trong hai bên lại lợi dụng sự thiếu chặt chẽ trong hợp đồng để thu lợi riêng,

gây thiệt hại cho bên kia.

Nhiều chuyên gia kinh tế cũng đã từng tìm hiểu về yếu tố quan trọng nhất của

một thương vụ và kết quả tìm hiểu phần lớn kết luận là tính chặt chẽ và hình thức

của hợp đồng. HĐTM, dù được soạn thảo bằng văn bản hay chỉ là những thỏa thuận

bằng lời, đều đóng vai trò là “hòn đá tảng” cho các hoạt động sản xuất kinh doanh

khác của doanh nghiệp, đối với QNC, HĐTM cũng đóng vai trò quan trọng tương

tự. Mỗi hợp đồng sẽ là cơ sở tạo thành các yếu tố liên quan, từ đó thiết lập các quan

hệ kinh doanh giữa các đối tác như nhân lực, khách hàng, chi phí, quyền lợi và trách

nhiệm.

Trong quá trình đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng, các doanh nghiệp thể

hiện văn hoá và trình độ kinh doanh của mình. Cũng như nhiều doanh nghiệp, đối

tác ký kết HĐTM với QNC rất đa dạng, sự chặt chẽ và chi tiết của các bản hợp

đồng với đối tác thể hiện sự tôn trọng đối tác, thiết lập hình ảnh đẹp về QNC trong

con mắt đối tác, quyết định thành công của QNC trong các giao dịch thương mại.

3

Để góp phần đưa QNC thoát khỏi tình trạng khó khăn hiện nay thì việc xem

xét chặt chẽ các nội dung ký kết và thực hiện các HĐTM đối với việc mua các hàng

hóa, vật tư, nguyên nhiên vật liệu phục vụ sản xuất và bán xi măng, clinke, gia công

xi măng, ủy thác xuất khẩu xi măng, clinke, cung cấp các dịch vụ cho thuê đất, cơ

sở hạ tầng... được coi là một trong những giải pháp trọng tâm và căn bản nhất của

lãnh đạo QNC. Vì vậy, qua thời gian làm việc tại QNC, học tập và nghiên cứu tại

khóa đào tạo Thạc sĩ Luật kinh tế 2017 - 2019, Đại học Ngoại Thương, tôi quyết

định nghiên cứu và thực hiện đề tài “Thực tiễn giao kết và thực hiện Hợp đồng

thương mại tại Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh”.

2. Tình hình nghiên cứu

Như tác giả đã khẳng định ở phần trên, việc giao kết và thực hiện HĐTM đóng

vai trò rất quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp, là một trong những nguyên

nhân quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nên vấn đề giao kết và

thực hiện HĐTM đã được nghiên cứu, đề cập khá nhiều trong các chương trình

nghiên cứu, giảng dạy, xây dựng hệ thống pháp luật và cả trong thực tiễn kinh

doanh. Luật Thương mại (LTM) số 36/2005/QH11 được Quốc hội thông qua ngày

14/6/2005 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2006 ra đời và các nghị định, thông tư

hướng dẫn thi hành đánh dấu kết quả của việc nghiên cứu các quy định điều chỉnh

các quan hệ thương mại trong đó có quan hệ hợp đồng giữa các doanh nghiệp. Đặc

biệt Bộ luật Dân sự (BLDS) số 91/2015/QH13 được Quốc hội thông qua ngày

24/11/2015, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2017 đã có những quy định mới

liên quan đến việc điều chỉnh mối quan hệ HĐTM.

Trong những năm qua, giới nghiên cứu khoa học pháp lý đã có một số công

trình, bài nghiên cứu liên quan đến vấn đề này với những phạm vi và mức độ khác

nhau, ví dụ như các công trình “Cẩm nang hợp đồng thương mại” của VCCI năm

2010; “Cẩm nang văn bản pháp luật dành cho doanh nhiệp - phiên bản 3.0” của

VCCI năm 2015, Những điều cần biết về ký kết và thực hiện hợp đồng dân sự

(Theo Bộ luật Dân sự hiện hành năm 2015) của Bộ Tư pháp năm 2017 ...

4

Pháp luật hợp đồng nói chung và pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa nói

riêng là vấn đề thu hút được sự quan tâm của nhiều người. Xét trên phạm vi ngành,

nghiên cứu việc giao kết và thực hiện HĐTM đã được quan tâm tại một số doanh

nghiệp rong một số ngành, lĩnh vực có tầm cỡ, cụ thể đã có đề tài nghiên cứu “Hợp

đồng mua bán hàng hóa và thực trạng thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa của

công ty Cổ phần Thương Mại Viglacera trong bối cảnh hội nhập hiện nay”; đề tài

nghiên cứu “Hợp đồng mua bán hàng hóa từ lý thuyết đến thực tiễn áp dụng tại

Công ty TNHH IPC” của Phạm Thị Lan Phương, Khoa Luật, Trường Đại học kinh

tế quốc dân năm 2006; đề tài nghiên cứu “Hợp đồng mua bán hàng hóa và thực tiễn

áp dụng tại Công ty cổ phần hóa dầu Petrolimex” của tác giả Vũ Phương Huyền lớp

Luật kinh doanh K45 trường Đại học Kinh tế quốc dân ...

Những công trình và đề tài trên đều chứng tỏ được tầm quan trọng của hợp

đồng thương mại trong nền kinh tế cũng như đối với các doanh nghiệp. Tuy nhiên,

trong ngành xi măng nói chung, chưa có một nghiên cứu nào về giao kết và thực

hiện HĐTM để giúp các doanh nghiệp xi măng có sự tham chiếu hữu ích khi tham

gia ký kết và thực hiện các HĐTM nhằm giảm thiểu các rủi do trong kinh. Tại QNC

nói riêng, cho đến nay cũng chưa hề có một nghiên cứu nào về thực tiễn giao kết và

thực HĐTM của QNC, chính vì vậy trên thực tế có những nội dung kể từ quá trình

đàm phán, thương thảo, ký kết, thực hiện đến khi giải quyết tranh chấp phát sinh mà

từ cán bộ nghiệp vụ đến lãnh đạo cao nhất là người đại diện theo pháp luật của

QNC đang không nắm rõ.

Vì vậy cần thiết phải có một nghiên cứu về thực tiễn giao kết và thực hiện

HĐTM tại QNC để giúp những người làm công tác tham mưu giúp việc soạn thảo,

ký kết và thực hiện HĐTM cũng như các lãnh đạo QNC rút ra được các kinh

nghiệm quý giá trong quá trình đàm phán, ký kết và thực hiện; để hiểu và có cách

thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia quan hệ thương mại

với các đối tác trong và ngoài nước, giảm thiểu rủi do góp phần đưa QNC vượt qua

khó khăn, phát triển bền vững.

5

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của đề tài nhằm xác định cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc

về HĐTM, phát hiện ra những bất cập, tồn tại từ thực tiễn giao kết và thực

hiện HĐTM của QNC, đề xuất những giải pháp nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao

hiệu quả trong việc giao kết và thực hiện các HĐTM tại QNC, góp phần đưa QNC

vượt qua khó khăn, tìm lại sự tăng trưởng và phát triển.

Để thực hiện được mục tiêu trên, nhiệm vụ của đề tài là:

Khái quát những vấn đề cơ bản về hợp đồng, HĐTM nói chung, các quy định

pháp luật cơ bản về giao kết và thực hiện HĐTM;

Phân tích thực tiễn việc giao kết và thực hiện HĐTM tại QNC trong thời gian

trước đây, đặc biệt trong thời điểm hiện nay, từ đó phát hiện ra các điểm bất cập,

các nguy cơ rủi ro mà QNC đã, đang và sẽ gặp phải ở từng loại hợp đồng;

Đề xuất các giải pháp hữu ích nhằm giải quyết các bất cập, rủi ro của việc giao

kết và thực hiện HĐTM để nâng cao hiệu quả giao kết và thực hiện HĐTM với các

đối tác.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng của đề tài là những vấn đề pháp lý liên quan đến giao kết và thực

hiện HĐTM theo pháp luật Việt Nam. Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực tiễn

giao kết và thực hiện các HĐTM tại QNC.

Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

Về nội dung: Các loại hợp đồng hiện có tại QNC bao gồm các hợp đồng nhập

khẩu hoặc mua trong nước các máy móc, thiết bị; các hợp đồng mua vật tư, nguyên,

nhiên vật liệu đầu vào; các hợp đồng mua các hàng hóa khác; các hợp đồng bán xi

măng, clinke nội địa; các hợp đồng ủy thác xuất khẩu xi măng, clinke; các hợp đồng

cung ứng dịch vụ cho thuê đất và cơ sở hạ tầng Khu công nghiệp.

Về không gian: luận văn nghiên cứu các HĐTM trên quy mô của một doanh

nghiệp là QNC với các đối tác và đề xuất giải pháp cho QNC trong việc giao kết và

thực hiện HĐTM.

6

Về thời gian: tác giả thu thập và phân tích các HĐTM của QNC được ký kết từ

giai đoạn những năm đầu của thế kỷ XXI đến nay. Đồng thời tác giả đề xuất các

giải pháp cho QNC trong toàn bộ quá trình phát triển sau này.

5. Phương pháp nghiên cứu

Tác giả đã kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn trong việc nghiên cứu và

giải quyết những vấn đề mà đề tài đã đặt ra. Để thực hiện luận văn này, một số

phương pháp nghiên cứu khoa học chủ yếu được áp dụng như sau: phương pháp

thống kê, tổng hợp, phân tích, kết hợp nghiên cứu lý luận và thực tiễn, khảo sát thực

tế. Cụ thể, chương 1 sử dụng phương pháp phân tích làm rõ các khái niệm, đặc

điểm, điều kiện hiệu lực, trình tự giao kết, nguyên tắc giao kết và thực hiện HĐTM,

trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM, tổng hợp các vấn đề pháp lý cơ bản về giao

kết và thực hiện HĐTM để tạo ra một hệ thống lý luận mang tính đầy đủ và lô gích

hơn; tổng hợp các kỹ năng đàm phán, soạn thảo HĐTM. Tiếp theo, trong chương 2,

tác giả sử dụng phương pháp phân tích, đánh giá thực tiễn giao kết và thực hiện

từng loại HĐTM tại QNC nhằm làm rõ các vấn đề tồn tại trong việc giao kết và

thực hiện HĐTM tại QNC. Trong chương 3, tác giả sử dụng phương pháp đánh giá

việc áp dụng các quy định pháp luật hiện hành, các quy trình, quy định nội bộ của

QNC liên quan đến việc giao kết và thực hiện HĐTM, phân tích định hướng phát

triển của QNC từ đó đề xuất các giải pháp hữu ích thúc đẩy hiệu quả của việc giao

kết và thực hiện HĐTM trong thời gian sớm nhất.

6. Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu

Với mục tiêu trên đây, tác giả hy vọng đề tài sẽ có ý nghĩa thiết thực, mang

đến một cái nhìn tổng quát về các vấn đề còn tồn tại và cách thức khắc phục đối với

việc giao kết và thực hiện HĐTM tại QNC, giúp cho lãnh đạo QNC, các phòng ban

liên quan và cán bộ nghiệp có thêm cơ sở tham khảo cần thiết trong quá trình giao

kết và thực hiện HĐTM với các đối tác. Qua đó nâng cao năng lực quản trị và thực

hiện HĐTM, giảm thiểu rủi ro trong quá trình giao kết và thực hiện HĐTM của

QNC.

7

Tác giả cũng đồng thời kỳ vọng đề tài của mình sẽ trở thành một trong những

tham chiếu hữu ích cho các doanh nghiệp trong ngành Xi măng nói riêng trong quá

trình giao kết và thực hiện các HĐTM cũng như tạo một tham chiếu cho các tổ chức

và cá nhân nói chung quan tâm đến thực tế giao kết và thực hiện HĐTM trong các

ngành, lĩnh vực.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, bố cục của luận

văn này gồm 3 chương:

Chương I: Khái quát chung về giao kết và thực hiện Hợp đồng thương mại.

Chương II: Thực tiễn giao kết và thực hiện Hợp đồng thương mại tại Công ty

cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh.

Chương III: Giải pháp thúc đẩy hiệu quả giao kết và thực hiện Hợp đồng

thương mại tại Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh.

8

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP

ĐỒNG THƯƠNG MẠI

1.1 Khái niệm về hợp đồng thương mại

Hợp đồng là một hành vi pháp lý cơ bản và thông dụng nhất, là sự thể hiện ý

chí của các chủ thể để làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ. Theo Điều 385 BLDS

2015 “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm

dứt quyền và nghĩa vụ dân sự”. So với BLDS năm 2005 thì BLDS năm 2015 đã bỏ

cụm từ “dân sự” sau hai từ “hợp đồng”, điều này giúp cho cách hiểu về khái niệm

hợp đồng trong BLDS được rộng hơn, bao trùm cả hợp đồng dân sự, hợp đồng lao

động, hợp đồng kinh doanh hay HĐTM, hợp đồng đầu tư... Quy định mới về khái

niệm hợp đồng này là điểm mới đáng chú ý không những về mặt kỹ thuật lập pháp

và còn làm tăng tính khả thi, minh bạch trong thực tiễn áp dụng, mở rộng phạm vi

điều chỉnh của BLDS.

Trong hợp đồng, ý chí của các chủ thể đóng vai trò quan trọng, khi sự thống

nhất của các ý chí là thực chất và không trái pháp luật thì nó sẽ làm phát sinh các

nghĩa vụ, nghĩa vụ này ràng buộc các chủ thể, buộc các chủ thể hợp đồng phải thực

hiện. Như vậy, yếu tố thoả thuận, thống nhất ý chí đóng vai trò chủ đạo trong việc

thiết lập lên hợp đồng, tuy nhiên chỉ những thoả thuận làm phát sinh, thay đổi hoặc

chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các chủ thể mới tạo nên quan hệ hợp đồng.

Hiện nay trong tất cả các văn bản pháp luật đều không có khái niệm về

HĐTM, khái niệm đó chỉ tồn tại dưới dạng là một thuật ngữ pháp lý. Ngay trong

LTM 2005 cũng không có khái niệm cụ thể thế nào là HĐTM nhưng có thể hiểu

HĐTM là một dạng cụ thể của hợp đồng dân sự phục vụ cho mục đích kinh doanh.

Như vậy HĐTM cũng là những giao dịch có bản chất dân sự, được thiết lập trên cơ

sở thỏa thuận tự nguyện, bình đẳng của các bên, cùng hướng tới lợi ích của mỗi bên

và lợi ích chung khi tham gia giao kết hợp đồng và đều có những vấn đề cơ bản của

một hợp đồng dân sự, chỉ khác về mục đích là phục vụ cho mục đích kinh doanh

thương mại.

Tuy chỉ là một thuật ngữ pháp lý, nhưng xuất phát từ khái niệm hoạt động

thương mại được qui định trong Khoản 1 Điều 3 LTM 2005 “Hoạt động thương mại

9

là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch

vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” thì

chúng ta vẫn có thể hiểu HĐTM là hình thức pháp lý của hành vi thương mại, là sự

thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên mà ít nhất một trong các bên phải là thương nhân

hoặc các chủ thể có tư cách thương nhân nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và

nghĩa vụ của các bên trong việc thực hiện hoạt động thương mại. Nói cách khác,

HĐTM là sự thỏa thuận nhằm mục đích thương mại trong đó có ít nhất một bên

tham gia hợp đồng phải là thương nhân hoặc tổ chức cá nhân khác hoạt động có liên

quan đến thương mại.

Khái niệm trên giúp cho các bên tham gia HĐTM hiểu rõ bản chất của HĐTM

là một sự thỏa thuận, mục đích của HĐTM là nhằm mục đích thương mại và chủ thể

tham gia hợp đồng là thương nhân hoặc tổ chức cá nhân khác hoạt động có liên

quan đến thương mại.

Khái quát lại HĐTM là sự thỏa thuận giữa các chủ thể thương mại với nhau và

với các chủ thể có liên quan về việc xác lập, thay đổi, hoặc chấm dứt các quyền và

nghĩa vụ trong hoạt động thương mại. Hợp đồng là phương tiện không thể thiếu

trong hoạt động thương mại để các chủ thể thực hiện mục tiêu thương mại của

mình. Cùng với sự phát triển chung của xã hội, các thành phần kinh tế ngày một đa

dạng và phong phú làm cho các quan hệ kinh tế cũng thay đổi theo. HĐTM trở

thành phương tiện phục vụ cho mục đích kinh doanh trên nguyên tắc các chủ thể tự

nguyện, bình đẳng với nhau.

1.2 Đặc điểm của hợp đồng thương mại

Xuất phát từ khái niệm HĐTM đã được nêu ở phần trên thì HĐTM mang

những đặc điểm của hợp đồng dân sự nói chung, đồng thời mang những nét đặc

trưng nhất định, trong đó có nổi bật hai yếu tố cơ bản: Thứ nhất, nội dung là các

hoạt động thương mại; Thứ hai, được ký kết giữa các chủ thể là thương nhân hoặc ít

nhất một bên chủ thể là thương nhân.

10

1.2.1 Chủ thể của hợp đồng thương mại

Chủ thể đầu tiên của HĐTM mà tác giả muốn đề cập đến là thương nhân.

Thương nhân được xem là các chủ thể hoạt động một cách thường xuyên trong các

hoạt động có liên quan đến thương mại, các chủ thể khác được xem là các chủ thể

hoạt động không thường xuyên đó là tất cả các chủ thể của luật dân sự khi tham gia

các hoạt động thương mại.

Từ một đặc điểm của HĐTM là được ký kết giữa các chủ thể là thương nhân,

hoặc có ít nhất một chủ thể là thương nhân, có thể thấy hoạt động thương mại là

hoạt động của các thương nhân hoặc giữa thương nhân với các chủ thể khác. Khoản

1 Điều 6 LTM 2005 quy định “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành

lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có

đăng ký kinh doanh”.

Trong HĐTM, có thể có những hợp đồng đòi hỏi các bên đều phải là thương

nhân như: hợp đồng đại diện cho thương nhân, hợp đồng đại lý thương mại… hay

có những hợp đồng chỉ đòi hỏi có ít nhất một bên là thương nhân như: hợp đồng ủy

thác mua bán hàng hóa, hợp đồng dịch vụ bán đấu giá hàng hóa, hợp đồng môi giới

thương mại…).

Ngoài ra, các tổ chức, các nhân không phải là thương nhân cũng có thể trở

thành chủ thể của HĐTM khi họ có hoạt động liên quan đến thương mại. Họ tham

gia hợp đồng không nhằm mục đích sinh lợi nhưng có liên quan đến thương mại, có

nhu cầu giao dịch, mua bán hàng hóa và lựa chọn luật áp dụng là LTM.

Như vậy, chủ thể trong HĐTM gồm thương nhân, cá nhân, tổ chức khác có

hoạt động liên quan đến thương mại (Khoản 1,2 Điều 2 LTM 2005), với tư cách là

pháp nhân hay cá nhân nếu tuân thủ được các quy định của pháp luật thì đều có

quyền tiến hành các giao dịch thương mại.

1.2.2 Đối tượng của hợp đồng thương mại

HĐTM thể hiện sự liên hệ về quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Các bên khi

tham gia ký kết HĐTM thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ của mình trong hoạt động

thương mại ký kết.

11

Đối tượng của HĐTM có thể là hàng hóa, trong đó Khoản 2 Điều 3 LTM 2005

quy định hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản kể cả động sản hình thành trong

tương lai, những vật gắn liền với đất đai, dịch vụ,... nhưng phải không thuộc danh

mục hàng hóa bị cấm. Chính vì hoạt động thương mại bao gồm mua bán hàng hóa,

cung ứng dịch vụ, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi,

nên đối tượng của HĐTM không chỉ dừng lại ở hàng hóa hữu hình mà bao gồm cả

các loại hình dịch vụ và các hoạt động sinh lợi khác.

1.2.3 Luật điều chỉnh hợp đồng thương mại

Nguồn của pháp luật hợp đồng là các căn cứ được sử dụng làm cơ sở để xây

dựng, ban hành, giải thích pháp luật cũng như để áp dụng vào việc giải quyết các

tranh chấp pháp lý xảy ra trong thực tế, cụ thể nguồn luật điều chỉnh hợp đồng trong

hoạt động thương mại ở Việt Nam gồm:

Các văn bản pháp luật liên quan đến HĐTM. Hai văn bản pháp luật quan trọng

nhất hiện nay là LTM 2005 và BLDS 2015, bên cạnh đó còn có luật chuyên ngành.

Những vấn đề nào LTM 2005 và luật chuyên ngành không quy định thì áp dụng

BLDS 2015. Trong mối quan hệ giữa LTM và luật chuyên ngành thì luật chuyên

ngành được ưu tiên điều chỉnh trước. Đối với HĐTM quốc tế thì ngoài các quy định

trên còn ưu tiên áp dụng các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết hoặc

luật của nước mà các bên thỏa thuận áp dụng. Đối với các hợp đồng mua bán hàng

hóa quốc tế (hợp đồng xuất khẩu, hợp đồng nhập khẩu) thì có thể áp dụng Công ước

của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) nếu hợp đồng

thuộc phạm vi áp dụng của Công ước này.

Các nghị quyết, hướng dẫn, tổng kết của tòa án nhân dân tối cao và nghị quyết

của Hội đồng thẩm phán liên quan đến các vụ án thương mại, các nghị định của

chính phủ, các thông tư của các bộ ban ngành là nguồn của pháp luật HĐTM.

Thói quen và tập quán thương mại: Theo điều 12 LTM 2005 thì các bên được

coi là mặc nhiên áp dụng những thói quen trong hoạt động thương mại đã được thiết

lập giữa các bên đó mà họ đã biết hoặc buộc phải biết. Trường hợp các bên không

có thỏa thuận, pháp luật không quy định thì áp dụng tập quán thương mại, tức là

12

thói quen được thừa nhận rộng rãi trong hoạt động thương mại trên một vùng, miền

hoặc một lĩnh vực thương mại, có nội dung rõ ràng được các bên thừa nhận để xác

định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại. Đối với các

HĐTM quốc tế thì tập quán thương mại quốc tế như Incoterms, UCP là một trong

các nguồn chủ yếu.

1.3 Các vấn đề chung về giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại

1.3.1 Điều kiện hiệu lực của hợp đồng thương mại

LTM 2005 không quy định điều kiện có hiệu lực cụ thể của HĐTM, vì thế khi

xem xét điều kiện hiệu lực của HĐTM phải căn cứ vào BLDS 2015.

Theo Điều 117 BLDS 2015, có thể thấy 4 điều kiện hiệu lực cơ bản của giao

dịch dân sự, cũng chính là 4 điều kiện hiệu lực cơ bản của giao dịch thương mại.

* Điều kiện về chủ thể của hợp đồng

Trên cơ sở quy định tại Điểm a, b Khoản 1 Điều 117 BLDS 2015 về điều kiện

có hiệu lực của hợp đồng, thì một trong các yếu tố cơ bản để giao dịch thương mại

có hiệu lực là điều kiện về chủ thể theo đó chủ thể giao dịch phải hợp pháp thể hiện

ở việc chủ thể phải đảm bảo các điều kiện có năng lực pháp luật dân sự, năng lực

hành vi dân sự phù hợp với giao dịch được xác lập.

Thực tế xem xét tính hiệu lực của hợp đồng về điều kiện chủ thể còn phải xem

xét tư cách của chủ thể, cụ thể là thẩm quyền của người đại diện của các bên giao

kết hợp đồng, người đại diện giao kết hợp đồng có phải là người đại diện pháp luật

hay người được ủy quyền, nếu là người được ủy quyền thì phải đảm bảo các quy

định trong chế định ủy quyền về hình thức, phạm vi, thời hạn ủy quyền và phải tiên

lượng trước được những hậu quả pháp lý của việc ủy quyền đối với việc xác lập và

thực hiện giao dịch thương mại đó.

Các công ty, doanh nghiệp là các chủ thể chính của HĐTM, theo đó, để trở

thành chủ thể hợp pháp, công ty, doanh nghiệp phải tiến hành đăng ký kinh doanh

hay đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật. Người đại diện theo pháp luật

của công ty, doanh nghiệp được quy định trong Điều lệ của công ty, doanh nghiệp

13

và/hoặc trong Giấy chứng nhận thành lập doanh nghiệp, phù hợp với quy định của

pháp luật doanh nghiệp.

Căn cứ Khoản 1 Điều 139 BLDS 2015 thì giao dịch dân sự do người đại diện

xác lập, thực hiện với người thứ ba phù hợp với phạm vi đại diện làm phát sinh

quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện. Tương tự như vậy với giao dịch

thương mại, nếu người đại diện xác lập, thực hiện với chủ thể khác mà phù hợp với

phạm vi đại diện mới làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với chủ thể khác trong giao

dịch thương mại đó.

* Điều kiện về mục đích, nội dung hợp đồng

Nội dung của HĐTM là tổng hợp các điều khoản mà các bên tham gia giao kết

HĐTM đã thỏa thuận, thống nhất, các điều khoản này xác định những quyền và

nghĩa vụ cụ thể của các bên. Mục đích của hợp đồng là những lợi ích hợp pháp mà

các bên mong muốn đạt được khi giao kết hợp đồng.

Để HĐTM có hiệu lực thì một trong những điều kiện cơ bản là mục đích và

nội dung của giao dịch thương mại không vi phạm điều cấm của pháp luật, không

trái đạo đức xã hội, điều này được quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 117 BLDS

2015.

Ví dụ: các bên có thể thỏa thuận trong hợp đồng mua bán bất kỳ đối tượng

hàng hóa nào nhưng không được thỏa thuận những đối tượng mà pháp luật cấm

mua bán như ma túy, vũ khí,... các hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu quy

định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị định 187/2013/NĐ-CP ngày 20/11/2013

của Chính Phủ, các bên không được thỏa thuận ký kết các hợp đồng có nội dung vi

phạm điều cấm của pháp luật, trái với đạo đức xã hội như hợp đồng mua bán phụ

nữ, hợp đồng mua bán trẻ em, hợp đồng mua bán nội tạng người ...

Pháp luật khác nhau có những quy định khác nhau về những điều khoản chủ

yếu bắt buộc phải có trong nội dung hợp đồng, các nước theo hệ thống luật

Common Law quy định điều khoản chủ yếu bắt buộc là điều khoản về đối tượng

trong khi các nước theo hệ thống luật Civil Law quy định điều khoản chủ yếu bắt

14

buộc là đối tượng, chất lượng, giá cả; còn CISG lại không quy định về những điều

khoản chủ yếu bắt buộc phải có trong hợp đồng.

Pháp luật Việt Nam cũng có những văn bản luật không quy định điều khoản

bắt buộc phải có trong HĐTM như LTM 2005. Pháp luật đề cao sự thỏa thuận giữa

các bên giao kết, tuy nhiên vẫn quy định nội dung của hợp đồng phải tuân theo

những quy định của pháp luật hợp đồng nói chung tại Khoản 1 Điều 398 BLDS

2015.

Luật Việt Nam đưa ra các khuyến nghị, theo quy định tại Khoản 2 Điều 398

BLDS 2015 thì hợp đồng có thể bao gồm các nội dung: Đối tượng của hợp đồng; số

lượng, chất lượng; giá, phương thức thanh toán; thời hạn, địa điểm, phương thức

thực hiện hợp đồng; quyền, nghĩa vụ của các bên; trách nhiệm do vi phạm hợp

đồng; phương thức giải quyết tranh chấp. Tùy theo tính chất của từng loại hợp đồng

các bên có thể thỏa thuận hay không thỏa thuận tất cả các nội dung trên. Các bên

cũng có thể bổ sung thêm vào hợp đồng những điều khoản không có quy định

nhưng thấy cần thiết.

Ngoài ra, để làm rõ nội dung của hợp đồng, các bên có thể bổ sung bằng phụ

lục hợp đồng. Phụ lục hợp đồng có hiệu lực như hợp đồng, nhưng nội dung của phụ

lục hợp đồng không được trái với hợp đồng. Trường hợp phụ lục có điều khoản trái

với nội dung của điều khoản trong hợp đồng thì điều khoản này không có hiệu lực,

trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Nếu các bên chấp nhận phụ lục của hợp đồng có

điều khoản trái với điều khoản trong hợp đồng thì coi như điều khoản đó trong hợp

đồng đã được sửa đổi.

BLDS 2015 đã bổ sung thêm một điểm mới so với BLDS 2005 đó là quy định

quyền thỏa thuận của các bên về nội dung hợp đồng, theo đó Điều 398 quy định:

“Các bên trong hợp đồng có quyền thỏa thuận về nội dung trong hợp đồng”. Đây

được xem là bổ sung thêm phương thức giải quyết khi xảy ra tranh chấp. Cũng theo

quy định tại Điều 123 BLDS 2015, trường hợp các bên thỏa thuận các nội dung vi

phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì HĐTM đó sẽ vô hiệu. Trường

hợp một phần nội dung của giao dịch thương mại đó vô hiệu mà không ảnh hưởng

15

đến hiệu lực của phần còn lại của giao dịch thì HĐTM sẽ vô hiệu từng phần (Điều

130 BLDS 2015).

* Điều kiện về hình thức hợp đồng

Hình thức của hợp đồng là cách thức thể hiện ý chí ra bên ngoài dưới hình

thức nhất định của các chủ thể hợp đồng, là phương tiện để ghi nhận, lưu trữ, truyền

tải nội dung của hợp đồng. Hợp đồng để ghi nhận lại các điều khoản mà các bên đã

cùng nhau thống nhất cam kết. Thông qua cách thức biểu hiện này, người ta có thể

biết được nội dung của giao dịch đã xác lập. Hình thức của hợp đồng có ý nghĩa đặc

biệt quan trọng trong tố tụng, bởi đó là chứng cứ xác nhận các quan hệ hợp đồng đã

và đang tồn tại giữa các bên, từ đó xác định trách nhiệm khi có vi phạm xảy ra.

Tùy thuộc vào nội dung, tính chất của từng hợp đồng cũng như tùy thuộc vào

độ tin tưởng lẫn nhau mà các bên có thể lựa chọn một hình thức nhất định trong

việc giao kết hợp đồng cho phù hợp với từng trường hợp cụ thể để đảm bảo được

tính thống nhất và mối quan hệ liên thông, bổ trợ lẫn nhau trong hệ thống các quy

định pháp luật về hợp đồng.

Theo quy định tại BLDS 2015, hợp đồng có thể xác lập bằng văn bản, bằng lời

nói hoặc hành vi cụ thể. Tuy nhiên đối với một số hợp đồng mà pháp luật qui định

phải bắt buộc bằng văn bản như hợp đồng cung ứng dịch vụ (Điều 74 LTM 2005),

hợp đồng nhượng quyền thương mại (Điều 285 LTM 2005)… hoặc quy định phải

được công chứng, chứng thực, đăng ký hay xin phép thì các bên phải tuân thủ quy

định về hình thức khi ký kết hợp đồng. Trong trường hợp này, hình thức của hợp

đồng là điều kiện có hiệu lực, khi giao kết các bên phải tuân theo hình thức được

pháp luật quy định thì HĐTM mới có hiệu lực. Thông thường các HĐTM được xác

lập bằng văn bản để đảm bảo sự an toàn và dễ giải quyết khi xảy ra tranh chấp,

nhưng đối với những hợp đồng đơn giản, việc mua bán cần diễn ra nhanh chóng thì

các bên có thể xác lập hợp đồng bằng lời nói hoặc bằng một hành vi cụ thể.

Như vậy việc xác định hình thức của HĐTM như thế nào là tùy thuộc vào sự

thỏa thuận của các bên. Việc đưa ra hình thức bắt buộc đối với một số loại giao dịch

là nhằm mục đích lưu ý các bên cần thận trọng hơn khi giao kết thương mại và

16

nhằm đảm bảo tính rõ ràng của việc tồn tại các giao dịch thương mại, quyền và

nghĩa vụ cũng như đặc điểm của quan hệ pháp luật thương mại.

Một trong các vấn đề mà các chuyên gia về pháp luật kinh doanh quan tâm là

hình thức hợp đồng có ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng như thế nào. Về vấn

đề này, pháp luật của các nước có những quan điểm và cách tiếp cận khác nhau.

Ở nhiều nước trên thế giới, pháp luật có những điều khoản cụ thể đối với một

số hợp đồng, bắt buộc từng loại phải được thể hiện bằng hình thức nhất định, nếu vi

phạm quy định này, hợp đồng đã ký kết sẽ không có giá trị pháp lý. Vi phạm các

quy định bắt buộc về hình thức sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến pháp luật và trật tự công.

Vì vậy, chừng nào sự thống nhất của các bên chưa được thể hiện bằng những hình

thức nhất định theo quy định của pháp luật thì chừng đó chưa có hợp đồng.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam tại BLDS 2015, Khoản 2 Điều 117 quy

định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự liên quan đến hình thức của giao

dịch dân sự đó là trong trường hợp luật có quy định về hình thức.

Điều 119 BLDS 2015 quy định về hình thức giao dịch dân sự theo đó giao

dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, giao

dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo

quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.

Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công

chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó.

Điều 129 BLDS 2015 quy định giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ

quy định về hình thức theo đó giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu

lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp giao dịch dân sự đã được xác lập theo

quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một

bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo

yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của

giao dịch đó; hoặc giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm

quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực

hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc

17

các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường

hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực. Hiệu lực của

hợp đồng liên quan đến điều kiện về hình thức còn được quy định rõ ngay cả khi

sửa đổi hợp đồng theo đó hợp đồng sửa đổi phải tuân theo hình thức của hợp đồng

ban đầu (Khoản 3 Điều 421 BLDS 2015).

* Điều kiện về tính tự nguyện khi giao kết hợp đồng

Khi nhắc đến hợp đồng, tức là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên nhằm mục

đích xác lập, thay đổi, chấm dứt nghĩa vụ của các bên (Điều 385 BLDS 2015).

Đồng thời, hợp đồng là một hành vi pháp lý, là sự thể hiện ý chí của các bên để làm

phát sinh các quyền và nghĩa vụ. Hợp đồng là loại hành vi pháp lý cơ bản và thông

dụng nhất. Ý chí của cá nhân đóng vai trò quan trọng trong hợp đồng, khi sự thống

nhất của các ý chí là thực chất và không trái pháp luật thì nó sẽ làm phát sinh các

nghĩa vụ, nghĩa vụ này ràng buộc các bên như luật pháp.

HĐTM được giao kết phải đảm bảo các nguyên tắc của hợp đồng nói chung

theo quy định của pháp luật. Việc quy định nguyên tắc giao kết hợp đồng nhằm đảm

bảo sự thỏa thuận của các bên phù hợp với ý chí thực của họ, hướng đến những lợi

ích chính đáng của các bên, đồng thời không xâm hại đến những lợi ích mà pháp

luật cần bảo vệ. Theo quy định của BLDS 2015 việc giao kết hợp đồng phải tuân

theo các nguyên tắc trong đó có nguyên tắc tự do giao kết những không trái pháp

luật và đạo đức xã hội. LTM là luật riêng trong luật chung là BLDS nên chịu sự

điều chỉnh của những nguyên tắc chung nói trên trong BLDS 2015.

Một trong những điều kiện cơ bản để HĐTM có hiệu lực là tính tự nguyện khi

giao kết hợp đồng, theo đó người tham gia giao dịch phải hoàn toàn tự nguyện,

không bị ép buộc, điêu này được quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 117 BLDS

2015.

Việc quy định nguyên tắc giao kết hợp đồng nhằm đảm bảo sự thỏa thuận của

các bên phù hợp với ý chí thực của họ, hướng đến những lợi ích chính đáng của các

bên, đồng thời không xâm hại đến những lợi ích mà pháp luật cần bảo vệ. Việc giao

kết hợp đồng nói chung và hợp đồng kinh doanh thương mại nói riêng phải tuân

18

theo các nguyên tắc: Tự do giao kết những không trái pháp luật và đạo đức xã hội,

đảm bảo các nguyên tắc tự do ý chí, tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung

thực và ngay thẳng. Những hành vi cưỡng ép, đe dọa, lừa dối để giao kết hợp

đồng... là lý do dẫn đến hợp đồng bị coi là vô hiệu.

1.3.2 Trình tự giao kết hợp đồng thương mại

Giao kết HĐTM là việc các bên bày tỏ ý chí với nhau theo những nguyên tắc

và trình tự nhất định để qua đó xác lập với nhau các quyền, nghĩa vụ trong quan hệ

thương mại. Trình tự giao kết HĐTM được căn cứ theo trình tự giao kết hợp đồng

dân sự tại BLDS 2015. Theo đó các bên thiết lập đề nghị giao kết hợp đồng và chấp

nhận đề nghị giao kết hợp đồng.

* Đề nghị giao kết HĐTM

Theo quy định tại khoản 1 Điều 386 BLDS 2015, đề nghị giao kết hợp đồng là

việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của

bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng, gọi chung là bên

được đề nghị. Có thể thấy, đề nghị giao kết hợp đồng là sự thể hiện ý chí của một

bên về ý định giao kết hợp đồng với bên đã được xác định cụ thể. So với quy định

trong BLDS 2005, điểm mới trong BLDS 2015 là mở rộng và rõ hơn về bên được

đề nghị giao kết hợp đồng, có thể có nhiều bên nhận được đề nghị trong giao kết

hợp đồng, điều này phù hợp với thực tiễn áp dụng ở nước ta hiện nay.

Về nội dung và phương thức đề nghị giao kết hợp đồng, bên đề nghị phải xác

định rõ những nội dung chủ yếu (điều, khoản cơ bản) của hợp đồng và chịu sự ràng

buộc về đề nghị đối với bên đã được đề nghị.

Khoản 2 Điều 386 BLDS 2015 quy định trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng

có nêu rõ thời hạn trả lời, nếu đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời

mà chưa hết thời hạn đó bên đề nghị lại giao kết hợp đồng với người thứ ba thì phải

bồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị khi bên này bị thiệt hại do không được

giao kết hợp đồng.

Đề nghị giao kết hợp đồng có thể được thực hiện theo một trong hai phương

thức là đề nghị trực tiếp và đề nghị gián tiếp. Theo phương thức đề nghị trực tiếp,

19

các bên trực tiếp gặp mặt, trao đổi, thống nhất để đề nghị và nghe đề nghị. Bên được

đề nghị có thể trả lời ngay về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận lời đề nghị của

bên đề nghị, trường hợp chưa trả lời ngay mà sẽ trả lời trong một thời gian nhất

định thì các bên ấn định thời hạn chờ trả lời, thời hạn chờ trả lời đề nghị xác định

theo phương thức này phải có sự đồng ý của các bên. Theo phương thức đề nghị

gián tiếp, bên đề nghị gửi đề nghị giao kết hợp đồng đến bên được đề nghị. Thời

hạn chờ trả lời đề nghị xác định theo phương thức này do bên đề nghị ấn định.

BLDS 2015 có quy định một điểm mới so với BLDS 2005 đó là việc bảo mật

thông tin giao kết hợp đồng, theo đó Điều 387 BLDS 2015 quy định trường hợp

một bên có thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia

thì phải thông báo cho bên kia biết. Trường hợp một bên nhận được thông tin bí mật

của bên kia trong quá trình giao kết hợp đồng thì có trách nhiệm bảo mật thông tin

và không được sử dụng thông tin đó cho mục đích riêng củ mình hoặc cho mục đích

trái pháp luật khác, nếu vi phạm thì sẽ phải bồi thường. Quy định này là cơ sở để

giải quyết tranh chấp phát sinh nếu có.

Điều 388 BLDS 2015 quy định thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu

lực, theo đó thời điểm có hiệu lực do bên đề nghị ấn định, nếu bên đề nghị không ấn

định thì đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực kể từ khi bên được đề nghị nhận

được đề nghị đó, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác. Điều này có thêm

ý được bổ sung so với BLDS 2005 đó là chế định loại trừ nếu luật có liên quan có

quy định khác, thể hiện sự ư tiên đối với luật chuyên ngành đồng thời tránh được sự

mâu thuẫn giữa các luật khác nhau và phù hợp với thực tiễn áp dụng ở nước ta

BLDS cũng quy định các trường hợp được coi là đã nhận được đề nghị giao

kết hợp đồng gồm: Đề nghị được chuyển đến nơi cư trú, nếu bên được đề nghị là cá

nhân; được chuyển đến trụ sở, nếu bên được đề nghị là pháp nhân; đề nghị được

đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên được đề nghị; khi bên được đề nghị

biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông qua các phương thức khác.

Điều 389 BLDS 2015 quy định việc thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp

đồng, theo đó bên đề nghị giao kết hợp đồng có thể thay đổi, rút lại đề nghị giao kết

20

hợp đồng nếu Bên được đề nghị nhận được thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại

đề nghị trước hoặc cùng với thời điểm nhận được đề nghị. Trường hợp bên đề nghị

thay đổi nội dung của đề nghị thì đó là đề nghị mới.

Khi bên được đề nghị đã chấp nhận giao kết hợp đồng nhưng có nêu điều kiện

hoặc sửa đổi đề nghị thì coi như người này đã đưa ra đề nghị mới, đay là quy định

tại Điều 392 BLDS 2015 về Sửa đổi đề nghị do bên được đề nghị đề xuất.

Quy định việc huỷ bỏ đề nghị giao kết hợp đồng được đề cập tại Điều 390

BLDS 2015 theo đó bên đề nghị giao kết hợp đồng có thể huỷ bỏ đề nghị nếu đã

nêu rõ quyền này trong đề nghị và bên được đề nghị nhận được thông báo về việc

hủy bỏ đề nghị trước khi người này gửi thông báo chấp nhận đề nghị giao kết hợp

đồng.

Quy định việc chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng tại Điều 391 BLDS 2015

theo đó đề nghị giao kết hợp đồng chấm dứt nếu bên được đề nghị chấp nhận giao

kết hợp đồng hoặc bên được đề nghị trả lời không chấp nhận hoặc hết thời hạn trả

lời chấp nhận hoặc khi thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị có hiệu lực

hoặc khi thông báo về việc huỷ bỏ đề nghị có hiệu lực hoặc theo thoả thuận của bên

đề nghị và bên được đề nghị trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời.

Khi nhận được đề nghị giao kết hợp đồng, việc bên được đề nghị trả lời đề

nghị giao kết hợp đồng là việc họ thể hiện ý chí của mình về việc đồng ý hay không

đối với nội dung mà bên đề nghị đã đưa ra trong đề nghị giao kết hợp đồng.

Việc trả lời đề nghị giao kết hợp đồng của bên được đề nghị có thể theo một

trong ba trường hợp, thứ nhất đó là không chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

bằng cách có thể không trả lời đề nghị và hết thời hạn chờ trả lời thì coi như bên

được đề nghị không chấp nhận đề nghị, trừ trường hợp các bên đã thỏa thuận nếu

bên nhận đề nghị giao kết hợp đồng im lặng thì coi như chấp nhận giao kết hợp

đồng hoặc bên được đề nghị có thể trả lời trực tiếp hoặc bằng công văn về việc

không chấp nhận giao kết hợp đồng với bên đã đề nghị; thứ hai là đồng ý giao kết

hợp đồng nhưng có nêu ý kiến của mình hoặc phải thay đổi một số nội dung nhất

định đối với đề nghị của phía bên kia, trong trường hợp này thì bên được đề nghị

21

nêu điều kiện và nội dung sửa đổi trong trả lời đề nghị và được coi là một đề nghị

mới của bên đã được đề nghị; thứ ba là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, tức là

trả lời chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị.

* Chấp nhận đề nghị giao kết HĐTM

Theo quy định tại Điều 393 BLDS 2015, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

là sự trả lời của bên được đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị

đó. Nếu bên được đề nghị im lặng thì không được coi là chấp nhận đề nghị trừ

trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên với

nhau.

Điều 394 Bộ luật dân sự 2015 quy định về thời hạn trả lời chấp nhận giao kết

hợp đồng, theo đó khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp

nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó; nếu bên đề nghị giao kết

hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là

đề nghị mới của bên chậm trả lời. Khi bên đề nghị không nêu rõ thời hạn trả lời thì

việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực nếu được thực hiện trong một thời hạn hợp lý.

Trường hợp thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng đến chậm vì lý do khách quan

mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do khách quan này thì thông báo chấp nhận

giao kết hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp bên đề nghị trả lời ngay không

đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị. Khi các bên trực tiếp giao tiếp với

nhau, kể cả trong trường hợp qua điện thoại hoặc qua phương tiện khác thì bên

được đề nghị phải trả lời ngay có chấp nhận hoặc không chấp nhận, trừ trường hợp

các bên có thoả thuận về thời hạn trả lời.

Điều 395, 396 BLDS 2015 quy định trường hợp bên đề nghị và bên được đề

nghị giao kết hợp đồng chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong

nhận thức, làm chủ hành vi sau khi chấp nhận giao kết hợp đồng thì đề nghị giao kết

hợp đồng vẫn có giá trị, trừ trường hợp nội dung giao kết gắn liền với nhân thân của

họ.

Việc rút lại thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng được quy định tại Điều

397 BLDS 2015 theo đó bên được đề nghị giao kết hợp đồng có thể rút lại thông

22

báo chấp nhận giao kết hợp đồng, nếu thông báo về việc rút lại này đến trước hoặc

cùng với thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng.

1.3.3 Nguyên tắc giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại

Nguyên tắc giao kết và thực hiện HĐTM là những yêu cầu mà các bên tham

gia giao kết phải tuân thủ nhằm đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.

Trong quá trình giao kết và thực hiện HĐTM, các bên tham gia hợp đồng phải

thực hiện đúng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật nói chung và pháp luật về hợp

đồng, trước hết phải kể đến là các nguyên tắc chung được quy định trong Điều 3

BLDS 2015, theo đó mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ

lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân

thân và tài sản; cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa

vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận; mọi cam kết,

thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực

thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng; cá nhân, pháp nhân

phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện

chí, trung thực; việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không

được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích

hợp pháp của người khác; cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc

không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự.

Từ những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự và các nguyên tắc cơ bản

của hợp đồng nói chung dẫn chiếu đến các nguyên tắc cơ bản mà các bên tham gia

HĐTM cần tuân thủ trong quá trình giao kết và thực hiện HĐTM.

* Nguyên tắc giao kết HĐTM

Khi giao kết HĐTM, các chủ thể cần chú ý đến các nguyên tắc giao kết, trong

đó có các nguyên tắc cơ bản sau:

Nguyên tắc đầu tiên phải kể đến đó là nguyên tắc tự do, tự nguyện giao kết

hợp đồng. Theo nguyên tắc này, HĐTM được hình thành hoàn toàn trên cơ sở tự

nguyện thỏa thuận giữa các bên, các bên có quyền tự do ý chí, tự do thỏa thuận giao

kết hay không giao kết HĐTM, tự do lựa chọn các bên đồng ký kết và tự do xác

23

định nội dung HĐTM nhưng không trái với thuần phong mỹ tục, đạo đức xã hội.

Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng nếu có ý chí thống nhất của các bên thì một sự

thỏa thuận, một hợp đồng được hình thành. Hợp đồng giữa các bên không thể do sự

áp đặt ý chí của bất cứ cá nhận tổ chức nào, quyền tự do giao kết hoặc không giao

kết hợp đồng có hệ quả đặc biệt, xác lập lên quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia

hợp đồng.

Nguyên tắc thứ hai là nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi, theo nguyên tắc

này khi ký kết HĐTM, các bên phải đảm bảo nội dung hợp đồng có sự tương xứng

nhau về quyền và nghĩa vụ nhằm đáp ứng lợi ích kinh tế của các bên. Xuất phát từ

nguyên tắc thứ nhất, các bên có quyền tự do thỏa thuận để đảm bảo thực hiện được

nguyên tắc thứ hai này, các bên tự do thỏa thuận đến độ nhận thấy quyền và lợi ích

hợp pháp của mình và của đối tác được đảm bảo chấp nhận ở nội dung hợp đồng,

thỏa thuận để đạt được mục đích của giao dịch thương mại. Không bên nào được ưu

tiên hơn, cũng không bên nào bị bắt buộc phải chịu thiệt thòi hơn vì bất cứ lý do gì,

các bên khi giao kết HĐTM đều bình đẳng trước pháp luật, giao kết với mục tiêu

cùng có lợi, cùng đạt đến mục đích giao kết.

Nguyên tắc thứ ba là nguyên tắc trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản. Theo

nguyên tắc này, các bên tham gia HĐTM phải dùng chính tài sản của mình để đảm

bảo việc ký kết và thực hiện hợp đồng, phải trực tiếp chịu trách nhiệm với tài sản

của mình khi tham gia HĐTM. Nguyên tắc này quy định trách nhiệm tài sản của các

bên đối với nội dung của việc ký kết và thực hiện hợp đồng.

Nguyên tắc thứ tư là nguyên tắc không trái pháp luật, theo nguyên tắc này, các

bên liên quan HĐTM không được lợi dụng việc ký kết hợp đồng để hoạt động trái

pháp luật, phải đảm bảo nội dung và hình thức của hợp đồng theo quy định của

pháp luật. Yêu cầu về Nội dung và hình thức hợp đồng đã được đề cập ở mục 1.3.2

và 1.3.3 trên đây.

Ngoài ra các bên tham gia giao kết HĐTM còn phải đảm bảo các nguyên tắc

khác như nguyên tắc thiện chí và trung thực, nguyên tắc tự do lựa chọn luật áp dụng

và cơ quan giải quyết tranh chấp đối với hợp đồng có yêu tố nước ngoài ...

24

* Nguyên tắc thực hiện HĐTM

Các bên cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau:

Thực hiện đúng các điều khoản về đối tượng của hợp đồng như hàng hóa, sản

phẩm, công việc, dịch vụ... mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Khi giao kết

HĐTM, các bên đã xác định rõ đối tượng của hợp đồng mình giao kết. Trong quá

trình thực hiện HĐTM các bên phải tuân thủ đầy đủ các thỏa thuận liên quan đến

đối tượng của hợp đồng đã giao kết.

Thực hiện đúng các điều khoản về số lượng như sản lượng về hàng hóa giao

dịch, khối lượng công việc thực hiện, đơn vị đo lường, phương thức đo lường...

Trên thực tế, hợp đồng thường quy định rất rõ ràng về điều khoản số lượng, điều

khoản này liên quan trực tiếp đến giá trị HĐTM, đến các yêu cầu chính về đối

tượng HĐTM, vì vậy các bên nhất thiết phải tuân thủ các điều khoản về số lượng đã

thỏa thuận.

Thực hiện đúng các điều khoản về chất lượng, các bên khi thực hiện HĐTM

đã ký kết phải thực hiện đúng các điều khoản đã thỏa thuận liên quan đến chất

lượng hàng hóa, dịch vụ, công việc đã thỏa thuận căn cứ trên các tiêu chuẩn kỹ

thuật của nhà nước hoặc tiêu chuẩn chất lượng mà các bên đã đăng ký với cơ quan

nhà nước có thẩm quyền. Điều khoản về chất lượng cũng là một trong những điều

khoản cơ sở để các bên thực hiện HĐTM đã ký kết và thường cũng hay xảy ra tranh

chấp khi các bên thỏa thuận không rõ ràng hoặc thực hiện không đúng thỏa thuận.

Thực hiện đúng các điều khoản về giá cả, phương thức thanh toán, trong quá

trình thực hiện HĐTM các bên cần tuân thủ các điều khoản về giá cả, phương thức

thanh toán, lưu ý đối với những sản phẩm, dịch vụ mà nhà nước đã định giá hoặc

quy định khung giá thì các bên chỉ được thỏa thuận theo khung giá quy định ví như

sản phẩm xăng, dầu, điện, dịch vụ y tế...

Các điều khoản về thời gian trong HĐTM ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và

lợi ích hợp pháp của các bên và là một trong những nguyên nhân thường gây nên

tranh chấp thương mại vì thế đồi hỏi các bên phải thực hiện đúng các điều khoản về

thời gian đã thỏa thuận trong HĐTM.

25

Địa điểm thực hiện hợp đồng là một trong những nội dung cơ bản của HĐTM,

góp phần phục vụ mục đích của giao dịch thương mại, vì vậy các bên cần tuân thủ

các thỏa thuận về địa điểm thực hiện hợp đồng.

Ngoài ra trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên còn phải thực hiện các

nguyên tắc khác như nguyên tắc thực hiện đúng các nội dung cam kết về bảo hiểm

vận chuyển, bảo hành...

1.3.4 Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại

Vi phạm hợp đồng là việc một bên không tuân theo hoặc làm trái lại những gì

mà các bên đã thỏa thận trong hợp đồng theo đó bên vi phạm phải chịu trách nhiệm

về vi phạm của mình. Có thể hiểu vi phạm HĐTM là việc chủ thể của HĐTM thực

hiện hành vi trái với cam kết, xâm phạm quyền lợi hợp pháp của chủ thể còn lại

theo đó chủ thể có hành vi vi phạm sẽ phải chịu trách nhiệm về hành vi đó của

mình.

Từ khái niệm cho thấy vi phạm HĐTM có những đặc điểm của vi phạm hợp

đồng nói chung như thực hiện những hành vi trái với cam kết trong hợp đồng, trong

pháp luật về hợp đồng có liên quan. Chủ thể vi phạm xâm phạm đến quyền và lợi

ích hợp pháp của chủ thể còn lại trong hợp đồng, xâm phạm đến đối tượng mà các

bên trong hợp đồng đã xác định rõ ràng.

Trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM là hệ thống các biện pháp có vai trò

đảm bảo cho những cam kết trong HĐTM được thực thi theo đúng quy định của

pháp luật, là một loại trách nhiệm trong trách nhiệm dân sự, mang nhiều đặc điểm

của trách nhiệm dân sự tuy nhiên lại vừa mang những đặc trưng riêng biệt. Trách

nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM là loại trách nhiệm áp dụng cho chủ thể của

HĐTM có hành vi vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại. Trách nhiệm này

nhằm bảo vệ chủ thể bị vi phạm và đảm bảo sự công bằng về trách nhiệm và quyền

lợi cho các bên trong HĐTM khi có hành vi vi phạm xảy ra. Đây là hậu quả mà chủ

thể vi phạm phải gánh chịu, hậu quả này như mối quan hệ nguyên nhân và kết quả

trong việc thực hiện HĐTM.

26

Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp HĐTM được thể hiện ở quy định pháp

luật về các cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng nó. Theo đó, bên bị vi phạm có

quyền yêu cầu tòa án, trọng tài cưỡng chế áp dụng các biện pháp trách nhiệm cho

bên vi phạm. Hoặc bên bị vi phạm có thể đề nghị tòa án, trọng tài thương mại áp

dụng trách nhiệm này cho bên vi phạm. Trọng tài thương mại là chủ thể rộng hơn so

với chủ thể có thẩm quyền áp dụng trách nhiệm do vi phạm hợp đồng nói chung.

Trong các loại Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp HĐTM có trách nhiệm

bồi thường thiệt hại, trách nhiệm này là một trong những nội dung được bổ sung

một cách cơ bản trong BLDS 2015 so với quy định tại BLDS 2005. Các quy định về

chế tài bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng tại BLDS 2015 đã có tiến bộ hơn

rất nhiều. Thay vì chỉ quy định chung trong Điều 307 BLDS 2005, BLDS 2015 quy

định về nội dung này trong 4 điều từ Điều 360 đến Điều 363, theo đó căn cứ phát

sinh trách nhiệm bồi thường được ghi nhận đầy đủ và rõ ràng hơn. Điều 360 BLDS

2015 chỉ rõ trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ phát sinh khi có các yếu tố có thiệt

hại, có hành vi vi phạm nghĩa vụ, có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi

vi phạm nghĩa vụ, có lỗi. Các loại thiệt hại được bồi thường do vi phạm nghĩa vụ

trong hợp đồng cũng được xác định cụ thể, đầy đủ và rõ ràng, hợp lý hơn so với

BLDS 2005, không chỉ là các thiệt hại thực tế, hiện hữu như BLDS 2005 trước đây

đã quy định mà còn cả các thu nhập bị bỏ lỡ. Điều 419 quy định thêm một loại thiệt

hại được bồi thường, đó là các chi phí mà bên bị vi phạm đã phải gánh chịu trong

quá trình thực hiện hợp đồng. BLDS 2015 còn quy định rõ ràng về việc người vi

phạm có thể phải bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người bị hại trong đó có các

pháp nhân thương mại (Khoản 3 Điều 419 BLDS 2015) thì. Đây cũng là một điểm

mới liên quan đến các loại thiệt hại được bồi thường mà BLDS 2005 còn quy định

mập mờ, không rõ ràng.

BLDS 2015 còn bổ sung Điều 363 quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại

trong trường hợp thiệt hại xảy ra do một phần lỗi của bên vi phạm theo đó bên vi

phạm chỉ phải bồi thường thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình, quy định

này phù hợp với thực tiễn và bảo đảm sự công bằng phù hợp của quy định pháp

luật và nguyên tắc tự chịu trách nhiệm

27

Trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM được thực thi thông qua một hệ thống

các biện pháp trách nhiệm pháp lý được quy định trong phần chế tài của bộ phận

quy phạm pháp luật trong LTM 2005 bao gồm những biện pháp như buộc thực hiện

đúng hợp đồng (Điều 297), phạt vi phạm (Điều 300), bồi thường thiệt hại (Điều

302), tạm ngừng hợp đồng (Điều 308), đình chỉ hợp đồng (Điều 310), hủy hợp đồng

(Điều 312) và một số biện pháp do các bên thỏa thuận khác.

Tuy nhiên, chủ thể vi phạm HĐTM sẽ không phải thực hiện trách nhiệm pháp

lý do vi phạm HĐTM nếu chủ thể bị vi phạm không yêu cầu hoặc trong những

trường hợp pháp luật quy định chủ thể vi phạm không phải chịu trách nhiệm do

không thể thực hiện HĐTM hoặc được miễn, giảm trách nhiệm.

Miễn, giảm trách nhiệm là việc người có quyền trong vụ việc vi phạm HĐTM

không áp dụng một phần trách nhiệm hoặc toàn bộ trách nhiệm cho bên có nghĩa vụ

khi bên này có hành vi vi phạm hợp đồng. Chủ thể được quyền quyết định là chủ

thể bị vi phạm vì trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM là loại trách nhiệm mà

bên bị vi phạm áp dụng cho bên vi phạm mà không phải bất kỳ một cơ quan nhà

nước nào có thể quyết định miễn trách nhiệm cho bên vi phạm.

Ngoài ra, có những trường hợp không do chủ thể có quyền quyết định, mà

trong quá trình thực hiện hợp đồng, một bên gặp phải các trường hợp mà bất kỳ một

người nào khi gặp hoàn cảnh, điều kiện tương tự cũng không thể nào thực hiện

được nghĩa vụ hợp đồng, thì đó là trường hợp không thực hiện được nghĩa vụ hợp

đồng mà không phải là vi phạm nghĩa vụ hợp đồng.

Trong quá trình giao kết và thực hiện HĐTM, chủ thể có thể gặp phải các sự

kiện bất khả kháng khiến họ không thể thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ đã

cam kết. Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể

lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp

cần thiết và khả năng cho phép (khoản 1 Điều 156 Bộ luật dân sự 2015). Trong

trường hợp này chủ thể vi phạm HĐTM được miễn trách nhiệm pháp lý.

Trường hợp chủ thể vi phạm HĐTM không chịu trách nhiệm do thi hành quyết

định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền một dạng của sự kiện bất khả kháng.

28

Trong trường hợp này, số phận của hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên được

quyết định dứt khoát, các bên không có sự lựa chọn, sự thỏa thuận mà hợp đồng bị

chấm dứt ngay.

Chủ thể vi phạm HĐTM sẽ không chịu trách nhiệm hợp đồng do hành vi có

lỗi của chủ thể còn lại. Tương ứng với trường hợp này, hợp đồng cũng sẽ bị chấm

dứt ngay mà không có sự thỏa thuận lại của các bên.

Chủ thể vi phạm HĐTM không chịu trách nhiệm do bên thứ ba không thể thực

hiện được nghĩa vụ hợp đồng bởi gặp phải sự kiện bất khả kháng hoặc bởi quyết

định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong trường hợp này, một bên trong

hợp đồng không phải chịu trách nhiệm trước bên kia và bên này cũng phải thông

báo cho bên còn lại trong hợp đồng biết về trường hợp không thể thực hiện được

nghĩa vụ hợp đồng đồng thời phải thu thập chứng cứ để chứng minh việc không

thực hiện được hợp đồng, ngoài ra cũng phải chứng minh việc không thực hiện

được nghĩa vụ hợp đồng do sự kiện bất khả kháng hoặc do quyết định của cơ quan

nhà nước có thẩm quyền khiến bên thứ ba có liên quan trực tiếp đến việc không

thực hiện nghĩa vụ hợp đồng của mình. Không những thế, còn phải chứng minh bên

này có mối quan hệ hợp đồng với bên thứ ba và chính hợp đồng này tác động trực

tiếp đến hành vi không thể thực hiện được hợp đồng của mình.

Chủ thể vi phạm HĐTM không chịu trách nhiệm do thời hạn khiếu nại đã hết

là trường hợp chủ thể bị vi phạm sẽ bị mất quyền áp dụng các biện pháp trách

nhiệm pháp lý khi đã hết thời hạn khiếu nại. Một bên có quyền khởi kiện bên kia kể

từ khi phát hiện có hành vi vi phạm cho đến hai năm, nếu trong thời hạn này mà

một bên không khởi kiện tại tòa án, trọng tài để áp dụng các biện pháp trách nhiệm

pháp lý, thì bên này mất quyền áp dụng các biện pháp trách nhiệm pháp lý đối với

bên kia, trong những trường hợp này bên không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng sẽ

không phải chịu trách nhiệm pháp lý. Căn cứ để áp dụng trường hợp không chịu

trách nhiệm này là phải có sự thỏa thuận giữa các bên.

Ngoài các trường hợp trên, chủ thể vi phạm HĐTM cũng không phải chịu

trách nhiệm pháp lý khi gặp phải trở ngại khách quan hoặc hoàn cảnh khó khăn.

29

Trường hợp chủ thể bị vi phạm miễn trách nhiệm cho chủ thể vi phạm là

trường hợp khi bên vi phạm có hành vi vi phạm nghiêm trọng hợp đồng, tức là vi

phạm toàn bộ hợp đồng nhưng bên bị vi phạm không áp dụng bất kỳ các biện pháp

trách nhiệm pháp lý nào cho bên vi phạm, bên bị vi phạm có thể miễn trách nhiệm

cho bên vi phạm trong bất kỳ thời điểm nào trong quá trình trên ngay cả khi đang

tiến hành phiên tòa xét xử, thẩm phán sẽ ghi nhận việc miễn trách nhiệm tại phiên

tòa, công nhận việc miễn trách nhiệm này là hợp pháp.

Khi bên vi phạm có hành vi vi phạm HĐTM nhưng bên bị vi phạm áp dụng

biện pháp trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn so với hành vi vi phạm mà bên vi phạm thực

hiện thì tất cả các trường hợp như vậy là những trường chủ thể bị vi phạm giảm

trách nhiệm cho chủ thể vi phạm hợp đồng do vi phạm hợp đồng. Giảm trách nhiệm

còn thể hiện ở việc luật pháp quy định chủ thể có quyền gia hạn việc thực hiện

nghĩa vụ hợp đồng cho chủ thể vi phạm.

1.4 Kỹ năng đàm phán hợp đồng thương mại nhằm giảm thiểu rủi ro

Như chúng ta đã biết tầm quan trong của hợp đồng trong hoạt động thương

mại, trong những năm trở lại đây nền kinh tế nước ta có những phát triển vượt bậc,

hoạt động kinh doanh diễn ra hết sức sôi động, số lượng các giao dịch thương mại

tăng liên tục thể hiện ở số lượng các loại HĐTM được ký kết. Để hợp đồng được ký

kết, các chủ thể thường phải trải qua quá trình đàm phán như một quá trình “cân

não” để đi đến thống nhất các vấn đề của hợp đồng.

Giai đoạn đàm phán thường diễn ra trước khi ký kết hợp đồng, tuy nhiên cũng

có những cuộc đàm phán diễn ra ngay trong quá trình thực hiện hợp đồng nhằm sửa

đổi, bổ sung hợp đồng đã ký.

Quá trình đàm phán hợp đồng có thể diễn ra dài hay ngắn, một hay nhiều đợt,

trực tiếp hoặc thông qua email, điện thoại, thư tín, các phương thức khác nhưng đều

cần được các bên quan tâm chú trọng. Để giảm thiểu rủi ro trong quá trình ký kết và

thực hiện HĐTM, một cuộc đàm phán hiệu quả là tiền đề cho một hợp đồng thành

công, ngược lại một cuộc đàm phán thất bại thì nguy cơ nhìn thấy ngay tức thì là

khó có thể đi đến ký kết được hợp đồng để đạt được mục đích thương mại đề ra. Kết

30

quả một cuộc đàm phán được coi là lý tưởng khi cả hai bên cảm thấy hài lòng với

thoả thuận đạt được. Tuy nhiên, trên thực tế không phải lúc nào cũng đạt được kết

quả này. Để một cuộc đàm phán thành công, các bên tham gia đàm phán cần chú

trọng một số nội dung cơ bản của đàm phán.

Trước tiên cần thực hiện tốt công tác chuẩn bị trước khi đàm phán, sự chuẩn bị

càng tốt thì chủ thể tham gia đàm phán càng thấy tự tin và giúp cho việc đàm phán

kết thúc sớm hơn, thành công hơn. Đối với công tác chuẩn bị, các bên cần thu thập

thông tin về thị trường, về đối tượng kinh doanh, về đối tác, về đối thủ cạnh tranh...

Công tác tìm hiểu về đối tác vô cùng quan trọng, việc xác định kỹ lưỡng các

thông tin đối tác góp phần chủ đạo trong thành công của cuộc đàm phán, cần thiết

phải tìm hiểu và đánh giá thật sát đối tác, tìm hiểu mục tiêu của đối tác, ngưỡng cao

nhất, thấp nhất của từng vấn đề đàm phán mà đối tác có thể thỏa thuận, xác định

chính xác người có quyền quyết định bên phía đối tác... (Đối với đối tác nước ngoài

còn cần tìm hiểu về văn hoá, truyền thống, tập quán, phong cách thương thuyết của

đối tác và đặc biệt phải có phương án để hóa giải sự bất đồng ngôn ngữ với đối tác

nhằm đạt được mục tiêu đàm phán cao nhất).

Chuẩn bị nhân sự cho đàm phán, giao trọng trách đàm phán cho người có khả

năng giao tiếp tốt, khả năng thuyết phục cao, biết lượng sức mình và sức đối tác để

đạt đến mục tiêu đề ra, trường hợp cần thiết có thể ủy quyền cho Luật sư tham gia

quá trình đàm phán. Chuẩn bị chiến lược, chiến thuật đàm phán, tự đặt ra những câu

hỏi cho chính mình, dự liệu các tính huống đồng thời đặt ra mục tiêu cao nhất, thấp

nhất cần đạt được trong đàm phán và các phương án nhượng bộ để đạt được mục

tiêu, tìm ra các điểm chung của các bên cho cuộc đàm phán thành công.

Để đàm phán đạt hiệu quả cao và việc đi đến ký kết hợp đồng được thuận lợi,

các bên nên chuẩn bị cho mình trước bản dự thảo hợp đồng hay còn gọi là bản kế

hoạch cho việc đàm phán, đó là việc văn bản hóa những ý muốn của các bên trong

quá trình đàm phán và dự liệu những gì đối tác mong muốn trước khi đàm phán,

đồng thời đó cũng chính là nội dung để thiết lập bản thương thảo hợp đồng làm cơ

sở ký kết hợp đồng khi kết thúc đàm phán.

31

Trong quá trình đàm phán, các bên cần tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản để

đạt được thành công đó là tạo ấn tượng tốt ban đầu bằng không khí tin cậy, dễ chịu

trước khi bắt đầu nói về chủ đề nội dung đàm phán, thương thảo với đối tác; sử

dụng tối đa ngôn ngữ cơ thể trong quá trình đàm phán, tạo sự lôi cuốn, hấp dẫn cho

đối tác với vấn đề trình bày; xác định rõ mục tiêu đàm phán và luôn luôn bám sát,

theo đuổi mục tiêu này trong suốt quá trình đàm phán, chia mục tiêu lớn thành các

mục tiêu nhỏ, cụ thể; phải biết lắng nghe đối tác nói vì có lắng nghe thì mới hiểu

được ý đối tác và có những phản ứng, lý lẽ phù hợp có lợi cho mình; phải biết cách

trình bày, sử dụng từ ngữ một cách khôn khéo, linh hoạt; nếu có tranh cãi, đàm phán

căng thẳng về yếu tố nào đó thì nên chuyển hướng để giảm bớt sự gay gắt khi quay

lại đàm phán tiếp; phải biết hỏi nhiều thay vì nói nhiều bởi hỏi nhiều sẽ có lợi thế

không chỉ về thông tin mà cả về tâm lý, về tính chủ động trong đàm phán, tuy nhiên

cũng cần cân nhắc trước khi đưa ra các câu hỏi cho đối tác; phải biết giới hạn có thể

được phép, tự do đàm phán có giới hạn, biết được giới hạn đàm phán tức là sẽ biết

được thời điểm phải ngừng hay chấm dứt đàm phán và chuyển hướng, tìm phương

án giải quyết khác.

Không phải cuộc đàm phán thương thuyết thương mại nào cũng dẫn đến thoả

thuận hay ký kết hợp đồng. Người có khả năng đàm phán tốt phải là người có đủ

dũng cảm và quyết đoán, không ký kết một hợp đồng kinh doanh nếu có thể gây bất

lợi cho mình ở mức không thể chấp nhận. Ngoài ra để thành công trong đàm phán

kinh doanh, cần có một ý thức, tư duy sẵng sàng thoả hiệp nếu cần thiết, phải cân

nhắc so sánh, phải tranh luận và chờ đợi. Kết quả đàm phán là cả hai bên đều có lợi,

là sự trao đổi tự nguyện giữa hai bên. Vì vậy, khi đàm phán không chỉ chú ý cứng

nhắc một chiều quyền lợi, mục đích riêng của một bên mà phải chú ý đến cả nhu

cầu của bên kia. Khi kết thúc mỗi vấn đề đàm phán, cần nhắc lại kết luận vấn đề đã

được thống nhất, đồng thời kết thúc cả cuộc đàm phán cần thiết lập biên bản thương

thảo để làm cơ sở ký kết hợp đồng và thực hiện các bước tiếp theo.

Trong quá trình đàm phán, để cuộc đàm phán không bị thất bại, các bên cần có

kỹ năng đàm phán cơ bản đó là nên nhìn vào mắt đối tác khi đàm phán để thể hiện

sự tự tin, quan tâm của mình và đem lại tin cậy cho đối tác; lập kế hoạch cụ thể định

32

trước cho cuộc đàm phán, nếu có nhiều nội dung, lĩnh vực đàm phán thì cần phải

phân loại, sắp xếp trước để tránh lẫn lộn khi đàm phán; phải thông báo trước nội

dung đàm phán khi thoả thuận lịch đàm phán với đối tác; không nên để cho đối tác

quá nhiều tự do, quyền chủ động khi đàm phán; không nên đưa hết tất cả thông tin,

lý lẽ trình bày thuyết phục ra ngay từ đầu buổi đàm phán, hãy sử dụng lần lượt các

thông tin, lý lẽ thuyết phục của mình cho từng nội dung hay từng thắc mắc tìm hiểu

của đối tác; không nên lảng tránh ý kiến phản đối hay nghi ngờ từ phía đối tác, cần

phải hỏi lại thắc mắc của đối tác và kiên nhẫn trả lời bằng tất cả các lý lẽ thông tin

của mình; phải chuẩn bị trước các giới hạn cần thiết khi đàm phán để có sự linh hoạt

nhân nhượng trong chừng mực có thể; không nên tìm cách áp đảo đối tác mà nên tự

đặt mình là người thể hiện tinh thần học hỏi khi đàm phán, tạo thiện cảm trong suốt

quá trình đàm phán, phải xác định mục tiêu của đàm phán là tiến tới hợp tác cùng có

lợi.

Khi đàm phán, các bên có thể thỏa thuận các nội dung theo hợp đồng mẫu, tuy

nhiên không thể có một mẫu hợp đồng nào là chuẩn mực, nội dung hợp đồng mẫu

không phải lúc nào cũng phù hợp và đầy đủ với tất cả các loại giao dịch, nó thường

thừa hoặc thiếu đối với một thương vụ cụ thể. Vì thế các bên chỉ nên dựa vào các

mẫu hợp đồng đó để xem như là những gợi ý cho việc soạn dự thảo hợp đồng phục

vụ đàm phán và làm cơ sở soạn thảo hợp đồng chính thức, ngoài ra các bên cần

chuẩn bị sẵn các mục cần đàm phán theo thứ tự để tránh bỏ sót, bỏ qua bất cứ nội

dung đàm phán cần thiết nào.

1.5 Kỹ năng soạn thảo hợp đồng thương mại

Ở các nước phát triển, hầu hết các doanh nghiệp luôn đề cao quy trình soạn

thảo và ký kết HĐTM, họ thường soạn thảo rất chi tiết, chặt chẽ và dự liệu cả những

tình huống hiếm khi xảy ra, trong khi đa số các doanh nghiệp của Việt Nam chưa

quan tâm nhiều đến quy trình soạn thảo và ký kết HĐTM, vẫn sử dụng những mẫu

hợp đồng có sẵn, đơn điệu, thiếu khuyết và thậm chí không cập nhật kịp thời thay

đổi của pháp luật hiện hành. Hậu quả là khi thực hiện hợp đồng rất khó khăn, dễ xảy

ra tranh chấp và thường bị thua khi kiện tụng. Tình trạng này do nhiều nguyên nhân,

có thể do văn hóa kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam là trọng tín hơn trọng

33

lý, quy mô kinh doanh của các doanh nghiệp còn nhỏ… đặc biệt là doanh nghiệp

Việt Nam còn thiếu hiểu biết pháp luật và kỹ năng soạn thảo HĐTM còn yếu, thiếu.

Ngày nay, các doanh nghiệp Việt Nam đang ngày càng lớn mạnh, quy mô

doanh nghiệp được mở rộng. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh

nghiệp trong quá trình giao kết và thực hiện HĐTM, các doanh nghiệp cần thiết

phải có kỹ năng tốt để soạn thảo hợp đồng.

HĐTM cũng giống như các loại hợp đồng nói chung được ký kết trên nguyên

tắc tự do, bình đẳng, do đó nội dung của mỗi hợp đồng cụ thể luôn có sự khác nhau

bởi nó phụ thuộc vào ý chí của các bên và đòi hỏi thực tiễn của việc mua bán mỗi

loại hàng hoá, dịch vụ là khác nhau, trong các điều kiện, hoàn cảnh, thời điểm khác

nhau. Tác giả xin đưa ra các điểm lưu ý cần thiết để soạn thảo HĐTM dưới đây.

Như trên đã đề cập, trước khi đàm phán HĐTM, các bên nên thiết lập cho

mình dự thảo hợp đồng, sắp xếp thứ tự những vấn đề ưu tiên, những vấn đề cần

thiết trong quá trình đàm phán và ký kết hợp đồng để tránh những thiếu sót, sơ hở

trong hợp đồng, đặc biệt đối với những thương vụ lớn. Các bên phải dự liệu được

những rủi ro có thể, để loại bỏ hay giảm thiểu những rủi ro đó bằng việc sử dụng

các điều khoản hợp đồng.

Để đảm bảo hợp đồng được ký kết có hiệu lực pháp luật, cần xác định chính

xác tư cách chủ thể của đối tác, muốn như vậy các bên thì cần phải có tối thiểu các

thông tin Tên, Trụ sở, Giấy phép thành lập và người đại diện đối với chủ thể là

doanh nghiệp (Phải ghi chính xác theo Quyết định thành lập hoặc Giấy chứng nhận

đăng ký kinh doanh hoặc Giấy phép đầu tư của doanh nghiệp). Các bên nên xuất

trình, kiểm tra các văn bản, thông tin trên trước khi đàm phán, ký kết để đảm bảo

hợp đồng ký kết đúng thẩm quyền; các bên cần phải kiểm tra các thông tin liên quan

đến tên, số chứng minh thư và địa chỉ thường trú đối với chủ thể là cá nhân (Phải

ghi chính xác theo chứng minh thư nhân dân hoặc hộ chiếu hoặc hộ khẩu).

Với tên gọi hợp đồng, thường được sử dụng theo tên loại hợp đồng kết hợp

với tên hàng hóa, dịch vụ. Ví dụ: tên loại là hợp đồng mua bán, còn tên của hàng

hoá là xi măng, ta có “Hợp đồng mua bán xi măng” hoặc “Hợp đồng dịch vụ

34

khuyến mại xi măng”... Hiện nay, nhiều doanh nghiệp vẫn còn thói quen sử dụng

tên gọi “Hợp đồng kinh tế” tuy nhiên hiện nay Pháp lệnh hợp đồng kinh tế đã hết

hiệu lực, nên việc đặt tên này không còn phù hợp. BLDS 2015 đã dành riêng

Chương XVI để quy định về 13 loại hợp đồng thông dụng, LTM năm 2005 cũng

quy định về một số loại hợp đồng, nên chúng ta cần kết hợp hai bộ luật này để đặt

tên HĐTM cho phù hợp với nội dung hoạt động thương mại.

Đối với phần căn cứ ký kết hợp đồng, các bên thường đưa ra các căn cứ có thể

là văn bản pháp luật điều chỉnh, văn bản uỷ quyền, nhu cầu và khả năng của các

bên. Tuy nhiên cần lưu ý, trong một số trường hợp, khi lựa chọn một văn bản pháp

luật cụ thể để làm căn cứ ký kết hợp đồng thì được xem như đó là sự lựa chọn luật

điều chỉnh để giải quyết khi phát sinh tranh chấp, vì vậy phải hết sức lưu ý, chỉ sử

dụng khi biết văn bản đó có điều chỉnh quan hệ trong hợp đồng và còn hiệu lực.

Liên quan đến hiệu lực hợp đồng, hợp đồng phải có hiệu lực mới phát sinh

trách nhiệm pháp lý, ràng buộc các bên phải thực hiện các nghĩa vụ theo hợp đồng.

Theo nguyên tắc, hợp đồng bằng văn bản mặc nhiên có hiệu lực kể từ thời điểm bên

sau cùng ký vào hợp đồng, nếu các bên không có thỏa thuận hiệu lực vào thời điểm

khác; ngoại trừ một số loại hợp đồng chỉ có hiệu lực khi được công chứng, chứng

thực theo quy định của pháp luật như hợp đồng mua bán nhà, hợp đồng chuyển

nhượng dự án bất động sản, hợp đồng chuyển giao công nghệ…

Với hiệu lực thi hành của HĐTM thì vấn đề người đại diện ký kết cần được

đặc biệt lưu ý bởi người đại diện ký kết phải có đủ thẩm quyền ký hoặc phải được

ủy quyền hợp pháp thì hợp đồng mới có hiệu lực thi hành. Thông thường đối với

doanh nghiệp thì người đại diện được xác định rõ trong giấy chứng nhận đăng ký

kinh doanh hoặc giấy phép đầu tư. Cùng với chữ ký của người đại diện còn phải có

đóng dấu của tổ chức, doanh nghiệp. Thẩm quyền của người đại diện còn cần được

xem xét kỹ lưỡng bởi ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực thi hành của hợp đồng.

Đối với một số điều khoản quan trọng của HĐTM, tương tự các điều khoản

chủ yếu trong nội dung hợp đồng nói chung được nêu tại điều 398 BLDS 2015 bao

gồm điều khoản về đối tượng của hợp đồng; số lượng, chất lượng; giá, phương thức

35

thanh toán; thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng; quyền, nghĩa vụ

của các bên; trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; phương thức giải quyết tranh chấp.

Khi soạn thảo, các bên chú ý càng chi tiết, càng chặt chẽ càng hạn chế phát sinh

tranh chấp.

Trong điều khoản đối tượng hợp đồng, nếu HĐTM là hợp đồng mua bán hàng

hóa thì điều khoản tên hàng là nội dung không thể thiếu. Để thuận lợi cho việc thực

hiện hợp đồng và hạn chế tranh chấp phát sinh, tên hàng cần được xác định một

cách rõ ràng, khi xác định tên hàng phải là tên riêng, đặc biệt với các hàng hoá là

sản phẩm máy móc thiết bị, tuỳ từng loại hàng hoá mà các bên có thể lựa chọn một

hoặc nhiều cách xác định tên hàng sao cho phù hợp, có thể xác định tên và xuất xứ

hoặc tên và nhà sản xuất hoặc tên thương mại, tên khoa học... tuy nhiên cần lưu ý

đối tượng hợp đồng là hàng hóa không trong danh mục bị cấm kinh doanh, hoặc nếu

là trong danh mục hàng hóa bị hạn chế kinh doanh thì hàng hóa đó và các bên tham

gia mua bán hàng hoá phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp

luật (Điều 25, Điều 26, Điều 32, Điều 33 LTM 2005). Nếu HĐTM là hợp đồng dịch

vụ thì điều khoản công việc mà bên làm dịch vụ phải thực hiện cần xác định một

cách rõ ràng, đồng thời xác định rõ cách thức thực hiện, trình độ chuyên môn, kinh

nghiệm của người trực tiếp thực hiện công việc, kết quả sau khi thực hiện dịch vụ.

Điều khoản về số lượng hàng hóa, khối lượng dịch vụ thể hiện mặt lượng của

hàng hoá, dịch vụ trong hợp đồng, nội dung cần làm rõ là đơn vị tính, tổng số

lượng, khối lượng hoặc phương pháp xác định số lượng, khối lượng. Đối với hợp

đồng mua bán hàng hoá quốc tế thì cần phải quy định cụ thể cách xác định số lượng

và đơn vị đo lường bởi hệ thống đo lường của các nước là có sự khác biệt. Đối với

những hàng hoá có số lượng lớn hoặc do đặc trưng của hàng hoá có thể tự thay đổi

tăng, giảm số lượng theo thời tiết thì cũng cần quy định một độ dung sai trong tổng

số lượng cho phù hợp. Đối với dịch vụ cũng cần quy định về khối lượng làm cơ sở

nghiệm thu thanh quyết toán.

Điều khoản về chất lượng hoàng hóa, chất lượng dịch vụ: Chất lượng hàng

hoá kết hợp cùng với tên hàng, khối lượng công việc kết hợp với chất lượng dịch vụ

sẽ giúp các bên xác định được hàng hoá, dịch vụ một cách rõ ràng, chi tiết. Nói

36

chung chất lượng sản phẩm, hàng hoá được thể hiện thông qua các chỉ tiêu kỹ thuật

và những đặc trưng của chúng. Muốn xác định được chất lượng hàng hoá thì tuỳ

theo từng loại hàng hoá cụ thể để xác định, dựa vào các chỉ tiêu về cơ lý, các chỉ

tiêu về hoá học hoặc các đặc tính khác của hàng hoá đó. Nếu các bên thoả thuận

chất lượng hàng hoá theo một tiêu chuẩn chung của một quốc gia hay quốc tế thì có

thể chỉ dẫn tới tiêu chuẩn đó mà không cần phải diễn giải cụ thể.

Điều khoản đơn giá là một trong những điều khoản quan trọng, quyết định gía

trị hợp đồng. Các bên khi thoả thuận về giá cả cần đề cập đơn giá cụ thể, tổng giá trị

và đồng tiền thanh toán, về đơn giá có thể xác định giá cố định, thường áp dụng với

hợp đồng dịch vụ hoặc mua bán loại hàng hoá có tính ổn định cao về giá và thời hạn

giao hàng ngắn hay đưa ra cách xác định giá, áp dụng với những hợp đồng dịch vụ

hoặc mua bán loại hàng dễ biến động và được thực hiện trong thời gian dài. Trong

trường hợp này người ta thường quy định giá sẽ được điều chỉnh theo giá thị trường

hoặc theo sự thay đổi của các yếu tố tác động đến giá sản phẩm, dịch vụ.

Điều khoản thanh toán cần quy định rõ phương thức thanh toán, có thể lựa

chọn Phương thức thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt, séc hoặc hối phiếu, theo đó

các bên có thể trực tiếp giao nhận hoặc thông qua dịch vụ chuyển tiền, phương thức

này thường được sử dụng khi các bên đã có quan hệ buôn bán lâu dài và tin tưởng

lẫn nhau, với những hợp đồng có giá trị không lớn. Cũng có thể lựa chọn

Phương thức nhờ thu hoặc phương thức tín dụng chứng từ (L/C) là hai phương

thức được áp dụng phổ biến đối với việc mua bán hàng hoá quốc tế, thực hiện hai

phương thức này rất thuận tiện cho cả bên mua và bên bán trong việc thanh toán,

đặc biệt là đảm bảo được cho bên mua lấy được tiền khi đã giao hàng.

Điều khoản phạt vi phạm là một loại chế tài do các bên tự lựa chọn, nhằm

trừng phạt, răn đe, phòng ngừa vi phạm hợp đồng, nâng cao ý thức tôn trọng hợp

đồng của các bên. Các bên cần dựa trên mối quan hệ, độ tin tưởng lẫn nhau mà quy

định hoặc không quy định về vấn đề phạt vi phạm, thông thường các bên không

thỏa thuận điều khoản phạt đối với những bạn hàng đã có chữ “tín” với nhau. Mức

phạt thì do các bên thoả thuận, có thể ấn định một số tiền phạt cụ thể hoặc đưa ra

37

cách thức tính tiền phạt linh động theo % giá trị phần hợp đồng vi phạm. Tuy nhiên

cần lưu ý, theo quy định tại Điều 301 LTM 2005 thì mức phạt do các bên thỏa thuận

không được vượt quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm.

Điều khoản bất khả kháng là sự kiện pháp lý nảy sinh ngoài ý muốn chủ quan

của các bên, ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện hợp đồng đã ký. Trên thực tế,

nếu không thoả thuận rõ về bất khả kháng thì rất dễ bị bên vi phạm lợi dụng bất khả

kháng để thoái thác trách nhiệm dẫn đến thiệt hại cho bên bị vi phạm. Vì vậy trong

điều khoản này các bên cần phải định nghĩa rõ về bất khả kháng và quy định nghĩa

vụ của bên gặp sự kiện bất khả kháng để giảm thiểu rủi ro cho các bên tham gia hợp

đồng.

Đối với điều khoản giải quyết tranh chấp, các bên thoả thuận phải phù hợp với

quy định của pháp luật. Với Hợp đồng mua bán hàng hoá giữa các thương nhân với

các tổ chức, cá nhân khác không phải là thương nhân, hợp đồng mua bán hàng hoá

giữa thương nhân với thương nhân khi có tranh chấp thì các bên có quyền lựa chọn

hình thức giải quyết tại trọng tài (Điều 2 Luật Trọng tài thương mại 2010) hoặc tại

toà án; nếu có sự tham gia của thương nhân nước ngoài thì các bên còn có thể lựa

chọn một tổ chức trọng tài của Việt Nam hoặc lựa chọn một tổ chức trọng tài của

nước ngoài để giải quyết. Để tránh thỏa thuận trọng tài vô hiệu, khi các bên lựa

chọn hình thức giải quyết tranh chấp tại trọng tài thì thoả thuận phải nêu đích danh

một tổ chức trọng tài cụ thể. Riêng đối với hợp đồng mua bán hàng hoá giữa thương

nhân Việt Nam với thương nhân nước ngoài thì các bên còn phải cụ thể hóa việc lựa

chọn luật áp dụng khi giải quyết tranh chấp là luật của bên mua hay luật của bên

bán hay luật của một nước thứ ba hay một công ước quốc tế, theo kinh nghiệm và

thực tế cho thấy, để tránh những thua thiệt do thiếu hiểu biết pháp luật của nước

ngoài hay pháp luật quốc tế thì thương nhân Việt Nam nên chọn luật Việt Nam hoặc

một điều ước quốc tế (ví dụ như CISG) để áp dụng cho HĐTM với thương nhân

nước ngoài.

38

KẾT LUẬN CHƯƠNG I

HĐTM là một trong những công cụ giúp các chủ thể đặc biệt là các doanh

nghiệp thực hiện mục tiêu thương mại của mình. Việc giao kết và thực hiện HĐTM

là một quá trình đòi hỏi các chủ thể tham gia hoạt động thương mại phải nắm chắc

trình tự, các quy định, các nguyên tắc và nắm chi tiết từng nội dung vấn đề, phải có

kỹ năng đàm phán, soạn thảo để đạt đến mục tiêu của giao dịch thương mại. Nội

dung của HĐTM hoàn toàn do các bên thoả thuận và quyết định cho phù hợp với

những điều kiện hoàn cảnh, loại hàng hoá, dịch vụ cụ thể, tuy nhiên những thoả

thuận đó phải không vi phạm các điều cấm của pháp luật.

Trong chương 1, Luận văn đã nghiên cứu khái quát các vấn đề chung về giao

kết và thực hiện HĐTM như khái niệm, đặc điểm, điều kiện hiệu lực, trình tự giao

kết, nguyên tắc thực hiện và các trách nhiệm pháp lý liên quan đến HĐTM, đồng

thời cũng đưa ra một số kỹ năng cần thiết trong quá trình đàm phán, soạn thảo

HĐTM với mong muốn các kỹ năng này trở thành một trong những tham chiếu hữu

ích cho QNC và cho những ai quan tâm đến việc giao kết và thực HĐTM.

39

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG

THƯƠNG MẠI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG VÀ XÂY DỰNG

QUẢNG NINH

2.1 Giới thiệu chung về QNC

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

QNC tiền thân là Xí nghiệp Than Uông Bí thành lập theo quyết định số 460

ngày 24 tháng 7 năm 1987 của Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Quảng Ninh; sau đó

được thành lập lại theo Nghị định 388/HĐBT của Hội đồng bộ trưởng kèm theo

Quyết định số 157/QĐ-UB của UBND tỉnh Quảng Ninh, ban hành ngày 20 tháng

01 năm 1993. Ngày đầu thành lập, xí nghiệp chỉ có gần 100 cán bộ công nhân. Từ

một xí nghiệp chỉ khai thác và sản xuất than với sản lượng khai thác và kinh doanh

thấp, ban giám đốc đã quyết định tập trung nội lực, mạnh dạn vay vốn ngân hàng,

đầu tư xây dựng Nhà máy Xi măng Uông Bí tại Xã Phương Nam, Thị Xã Uông Bí,

tỉnh Quảng Ninh.

Ngày 22 tháng 01 năm 1997 UBND tỉnh Quảng Ninh ra Quyết định số 262

QĐ/ UB về việc “Sáp nhập Xí nghiệp Xây dựng Uông Bí vào Xí nghiệp Than Uông

Bí thành Công ty xi măng và Xây dựng Uông Bí”, ngành nghề kinh doanh chủ yếu

là sản xuất xi măng, sản xuất chế biến than, sản xuất đá xây dựng và vật liệu xây

dựng, xây dựng các công trình dân dụng và công nghiệp, san lấp mặt bằng, làm

đường giao thông. Ngày đầu thành lập, Công ty có 03 đơn vị thành viên đó là Nhà

máy Xi măng Uông Bí; Xí nghiệp Xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng; Xí

nghiệp khai thác và chế biến than. Từ việc hình thành mô hình sản xuất kinh doanh

mới, câu hỏi được đặt ra cho ban lãnh đạo QNC là phải làm gì để ổn định sản xuất

kinh doanh và phát triển trong thời gian trước mắt cũng như những năm tiếp theo.

Bằng những nỗ lực vượt bậc của ban lãnh đạo cùng sự đoàn kết đồng thuận của tập

thể cán bộ công nhân viên, QNC không những đã đứng vững mà còn từng bước ổn

định được tình hình, sản xuất kinh doanh phát triển và đạt hiệu quả. Quy mô phát

triển của QNC ngày càng được mở rộng, đã thu hút và tạo được nhiều công ăn việc

làm cho con em cán bộ công nhân viên cũng như nguồn lực lao động trong và ngoài

tỉnh Quảng Ninh.

40

Gần một năm sau, trước kết quả sản xuất kinh doanh cùng với uy tín của

doanh nghiệp, UBND tỉnh Quảng Ninh thực hiện kế hoạch sáp nhập để nhằm dùng

QNC vực dậy những đơn vị gặp khó khăn do làm ăn thua lỗ trong ngành xây dựng,

ngày 11 tháng 4 năm 1998 UBND tỉnh Quảng Ninh đã ra quyết định số: 1125/QĐ -

UB, về việc sáp nhập các đơn vị và đổi tên Công ty xi măng và xây dựng Uông Bí,

thành Công ty xi măng và Xây dựng Quảng Ninh, gồm các đơn vị trực thuộc Công

ty gồm Nhà máy Xi măng Lam Thạch, Nhà máy Xi măng Hà Tu, Xí nghiệp khai

thác và chế biến Than Uông Bí, Xí nghiệp Xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng,

đây là thời điểm vô cùng khó hhăn của các doanh nghiệp nhỏ được sáp nhập vào

QNC bởi cung cách làm ăn manh mún như tình trạng chung của nhiều doanh nghiệp

Nhà nước ở vào thời điểm những năm cuối thập niên 90 của thế kỷ XX.

Việc tiếp tục phải tìm ra lời giải mới cho mục tiêu sản xuất kinh doanh theo

hướng đa ngành được đặt ra từ rất nhiều phương án, thuận lợi nhiều nhưng thử

thách cũng vô cùng cam go. Nhưng một lần nữa bằng sự tự tin, giám nghĩ, giám làm

của ban lãnh đạo QNC, qua những chuyến đi công tác học hỏi kinh nghiệm từ nhiều

mô hình, quy mô tổ chức sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp lớn, cộng với

khả năng nhạy bén, tiên lượng cung cầu của thị trường cũng như xu hướng phát

triển kinh tế của các doanh nghiệp thời mở cửa. Hướng phát triển và kinh doanh đa

ngành của QNC đã dần phát lộ, các mũi sản xuất như: xi măng, than, đá, xây lắp các

công trình … đã bổ trợ cho nhau một cách uyển chuyển và hiệu quả. Điểm nhấn tiếp

theo của chuỗi thành công này phải kể đến khi ban lãnh đạo QNC quyết tâm mở

rộng quy mô sản xuất kinh doanh, đầu tư dây truyền thiết bị hiện đại cho Nhà máy

sản xuất xi măng Lam Thạch, nâng cao năng lực cạnh tranh. Kết quả, chỉ sau một

thời gian mở rộng sản xuất, đặt tiêu chí và chất lượng sản phẩm lên hàng đầu, các

sản phẩm của QNC làm ra đã đạt được uy tín và thương hiệu, được thị trường trong

và ngoài tỉnh Quảng Ninh tin dùng.

Sau hơn 10 năm xây dựng và phát triển không ngừng QNC đã trở thành một

doanh nghiệp hàng đầu của tỉnh Quảng Ninh. Những năm đầu tiên của thế kỷ XXI,

QNC đã giành được sự tín nhiệm của khách hàng trong và ngoài tỉnh. Hoạt động

sản xuất kinh doanh không ngừng được mở rộng, đặc biệt QNC đã đầu tư chiều sâu

41

với trang thiết bị hiện đại, tiên tiến, đáp ứng mọi yêu cầu sản xuất kinh doanh trong

thời kỳ đổi mới. Do vậy mà tốc độ tăng trưởng hàng năm trung bình đạt từ 30 -

40%. QNC đã trở thành một doanh nghiệp lớn gồm 17 đơn vị thành viên với hơn

3.000 cán bộ công nhân viên, là con chim đầu đàn của ngành xây dựng tỉnh Quảng

Ninh, dẫn đầu khối doanh nghiệp địa phương toàn Tỉnh.

Đứng trước cơ hội Việt Nam ra nhập Tổ chức thương mại Thế giới WTO,

Tháng 02 năm 2005 UBND tỉnh Quảng Ninh ra quyết định số: 497/QĐ-UB về việc

“Phê duyệt Phương án Cổ phần hoá và chuyển Công ty Xi măng và Xây dựng

Quảng Ninh thành Công ty Cổ phần Xi măng và Xây dựng Quảng Ninh”. Bước

chuyển đổi mang tính bước ngoặt đối với lịch sử hình thành và phát triển của QNC

trong tư duy cũng như trong quan hệ sản xuất, đã quyết định tới việc tính toán lại

phương án sản xuất kinh doanh của QNC. Với phương trâm kinh doanh đa ngành

nghề, luôn đi trước đón đầu, áp dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất, luôn giữ chữ

tín với khách hàng và các đối tác, luôn lấy chất lượng sản phẩm làm mục tiêu phấn

đấu và xây dựng văn hoá doanh nghiệp lành mạnh nên QNC đã gặt hái được nhiều

thành công trong hoạt động sản xuất và kinh doanh.

Năm 2007 QNC đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất xi măng công nghệ lò

quay hiện đại mang thương hiệu “Xi măng Lam Thạch” với công suất 1.200.000

tấn/năm và chất lượng cao hơn nhằm đáp ứng được nhu cầu xi măng của thị trường.

Tiếp tục không ngừng đầu tư, đổi mới công nghệ, thay thế các máy móc thiết bị lạc

hậu bằng các thiết bị tiên tiến hiện đại, tiêu hao ít điện năng nhưng vẫn nâng cao

được công suất và chất lượng sản phẩm.

Tuy vậy, bước sang đầu thập niên 10 của thế kỷ XXI, trong vòng xoáy của

cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới 2008, QNC bị ảnh hưởng

nặng nề, rơi vào tình trạng hoạt động kém hiệu quả. Một trong những doanh nghiệp

hàng đầu của tỉnh Quảng Ninh với tổng tài sản lên tới hàng ngàn tỷ đồng mất dần vị

thế, hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng kém hiệu quả, giá trị cổ phiếu sụt

giảm rõ rệt từ mức cao nhất mà các nhà đầu tư săn đón là 52.000đồng/cổ phiếu, có

thời điểm giảm xuống còn 1.600đồng/cổ phiếu (giảm 32,5 lần, bằng 1/6 giá trị cổ

phiếu phát hành). Ba năm tiếp theo 2013, 2014, 2015 QNC dần rơi vào tình trạng

42

làm ăn thua lỗ, kém hiệu quả, phải giải thể, chuyển đổi mô hình hoạt động của gần

hết các đơn vị thành viên, dần thoái hết vốn sản xuất kinh doanh tại các đơn vị cổ

phần thành viên. Đến năm 2016, 2017 QNC liên tục thay đổi bộ máy lãnh đạo cấp

cao (4lần thay đổi/năm) và chính thức công bố số lỗ khủng 253 tỷ đồng/năm 2017.

Đến nay tháng 11/2018, QNC chỉ còn duy nhất một đơn vị sản xuất kinh

doanh chính là Nhà máy xi măng Lam Thạch công nghệ lò quay và một lĩnh vực

dịch vụ là đầu tư kinh doanh sơ sở hạ tầng Khu công nghiệp và khu dân cư với tổng

số cán bộ công nhân viên là 625 người. Tuy vậy, để vận hành Nhà máy xi măng,

Ban quản lý Khu công nghiệp và đầu tư hạ tầng hoạt động thông suốt, hiệu quả,

QNC cần rất nhiều bạn hàng và đối tác tin cậy, hợp tác ký kết và thực hiện nhiều

HĐTM để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn Công ty.

2.1.2 Lĩnh vực hoạt động

QNC là doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đa ngành. Các ngành nghề kinh

doanh chính là: sản xuất vật liệu xây dựng, clinker xi măng, xi măng các loại, đá

xây dựng, đá xẻ ốp lát, gạch ngói xây dựng các loại, tấm lợp xi măng, bê tông

thương phẩm, cấu kiện bê tông đúc sẵn; Khai thác, chế biến và kinh doanh than;

Khai thác, chế biến phụ gia cho sản xuất xi măng; Thi công xây lắp: Công trình

công nghiệp, dân dụng, đường giao thông, thuỷ lợi, san lấp mặt bằng, xây lắp đường

dây tải diện, trạm biến áp dưới 35KV; Dịch vụ: Vận tải đường thuỷ, vận tải đường

bộ, thương mại, du lịch, khách sạn, nhà hàng; Xuất nhập khẩu các loại vật tư, phụ

tùng, máy móc, thiết bị và vật liệu xây dựng; Sản xuất, kinh doanh bao bì đựng xi

măng; Đầu tư kinh doanh cơ sở hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp, khu dân cư, kinh

doanh cảng biển, kho vận, bất động sản; Tư vấn thiết kế các công trình xây dựng,

khai thác mỏ.

Nhưng, cho đến nay, QNC chỉ còn 2 lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính đang

hoạt động đó là sản xuất xi măng, clinke và đầu tư kinh doanh cơ sở hạ tầng khu

công nghiệp và khu dân cư.

43

Sơ đồ 2.1- Tổ chức hoạt động của QNC

ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG

HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ

BAN KIỂM SOÁT

CHỦ TỊCH HĐQT

TỔNG GIÁM ĐỐC

PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC (03)

TRỢ LÝ

TỔNG GIÁM ĐỐC

TRỢ LÝ TGĐ PHỤ TRÁCH SẢN XUẤT

KHỐI SẢN XUẤT

CÁC PHÒNG BAN NGHIỆP VỤ

XI MĂNG

PHÒNG

PHÒNG CNTT

PHÒNG KCS

TỔ CHỨC

PHÒNG KINH DOANH

HÀNH CHÍNH

PHÒNG TÀI CHÍNH KT

PHÂN XƯỞNG NGUYÊN LIỆU

PHÂN XƯỞNG LÒ NUNG

PHÒNG AN NINH KIẾM SOÁT

PHÒNG KINH TẾ VẬT TƯ

PHÂN XƯỞNG XI MĂNG

PHÂN XƯỞNG SC CƠ ĐIỆN

BAN QLKCN&ĐTHT

PHÒNG AN TOÀN

BAN ĐTCL&PTHT

MÔI TRƯỜNG

PHÒNG KỸ THUẬT CƠ ĐIỆN

44

2.1.3 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của QNC

Quá trình hình thành và phát triển của QNC đã có bề dày trên 20 năm, tuy

nhiên để đánh giá xác thực chất tình trạng sản xuất kinh doanh của QNC trong giai

đoạn hiện nay, tác giả chỉ nêu gắn gọn kết quả sản xuất kinh doanh, so sánh kết quả

thực hiện với kế hoạch QNC đề ra trong 3 năm gần nhất (2015 - 2017).

Bảng 2.1: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2015

So với kế Kết quả TT Chỉ tiêu ĐVT Kế hoạch hoạch thực hiện năm

1 Sản xuất Xi măng 806.000 349.833 43,4% Tấn

2 Sản xuất Clinke 800000 757.573 94,2% Tấn

3 Sản xuất than các loại 530.000 304.528 57,5% Tấn

4 Sản xuất đá các loại 950.000 748.951 78,8% M3

5 Doanh thu Triệu đồng 1.447.000 944.490 65,3%

6 Nộp Ngân sách Triệu đồng 112.866 53.850 47,7%

Lợi nhuận sau thuế Thu 7 Triệu đồng 636 nhập danh nghiệp

( Báo cáo thường niên QNC năm 2015)

45

Bảng 2.2: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2016

So với kế Kết quả TT Chỉ tiêu ĐVT Kế hoạch hoạch thực hiện năm

Tấn Sản xuất Xi măng 480.000 536.932 112% 1

Tấn Sản xuất Clinke 850.000 766.182 90% 2

Tấn Sản xuất than các loại 220.000 144.340 66% 3

M3 Sản xuất đá các loại 1.000.000 642.078 64,2% 4

5 Doanh thu Triệu đồng 1.100.000 1.013.000 92%

6 Nộp Ngân sách Triệu đồng 40.000 28.500 71%

Lợi nhuận sau thuế Thu Triệu đồng - 65.000 7 nhập danh nghiệp

( Báo cáo thường niên QNC năm 2016)

Bảng 2.3: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2017

So với kế Kết quả TT Chỉ tiêu ĐVT Kế hoạch hoạch thực hiện năm

Sản xuất Xi măng 980.000 855.561 87,3% Tấn 1

Sản xuất Clinke 805.000 734.288 91,22% Tấn 2

Sản xuất than các loại 60.000 47.725 79,54% Tấn 3

Sản xuất đá các loại 750.000 576.613 76,88% M3 4

5 Doanh thu Triệu đồng 1.350.000 972.942 72%

6 Nộp Ngân sách Triệu đồng 29.786

Lợi nhuận sau thuế Thu Triệu đồng - 253.000 7 nhập danh nghiệp

( Báo cáo thường niên QNC năm 2017)

46

Trong cả quá trình hình thành và phát triển, QNC trải qua những nốt thăng

trầm rõ rệt, nhưng có lẽ nốt trầm trong những năm gần đây, đặc biệt năm 2017 vừa

qua đã và đang tạo thành nỗi trăn trở rất lớn cho những cán bộ công nhân viên tâm

huyết, gắn bó nhiều năm với QNC, trong đó có tác giả.

Trên bảng chỉ tiêu kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của ba năm gần đây

cho thấy lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp của QNC ngày càng sụt giảm và

chạm tới con số âm. Năm 2015 lợi nhuận sau thuế đạt 636 triệu đồng, con số này

chuyển thành âm 65 tỷ đồng vào năm 2016, và trầm trọng hơn là con số lỗ 253 tỷ

đồng vào năm 2017. Như đã nói ở phần trên, có nhiều nguyên nhân dẫn đến số lỗ

“khủng” như vậy, song tác giả cho rằng một trong những nguyên nhân cơ bản, mấu

chốt là việc “hớ hênh” trong các hoạt động thương mại của QNC khiến giá thành

sản xuất bị đẩy lên cao, trong khi giá bán sản phẩm không thể tăng do tính cạnh

tranh cao của thị trường vì thế QNC phải chịu những thiệt thòi không đáng có. Với

nghiên cứu của mình, tác giả kỳ vọng thức tỉnh được sự quan tâm của lãnh đạo

QNC đối với vai trò “hòn đá tảng” của các HĐTM để việc ký kết và thực hiện các

HĐTM với các đối tác ngày càng chặt chẽ hơn, hiệu quả hơn, góp phần giúp QNC

hạn chế các rủi ro thương mại, giảm giá thành sản xuất kinh doanh, nâng cao tính

cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ, từng bước khôi phục lại sản xuất kinh doanh, đưa

QNC thoát khỏi khó khăn, vững vàng đi lên trên con đường phát triển.

2.2 Trình tự giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại tại QNC

Trong những năm trước đây, việc giao kết và thực hiện HĐTM của QNC diễn

ra theo quy trình ngầm định hết sức đơn giản: Chỉ cần có nhu cầu, Lãnh đạo giao

cho phòng Kế hoạch vật tư nay là phòng kinh tế vật tư (đối với việc mua hàng) hoặc

phòng Tiêu thụ nay là phòng Kinh doanh (đối với việc bán hàng) thực hiện tìm đối

tác và soạn thảo hợp đồng hoặc để đối tác soạn thảo rồi tự kiểm tra trên cơ sở hợp

đồng mẫu, sau đó trực tiếp trình Tổng giám đốc ký kết thực hiện, quá trình thực hiện

vướng đến đâu lại trực tiếp xin ý kiến lãnh đạo chỉ đạo giải quyết đến đó và thường

thì phải chấp nhận những bất lợi do sự thiếu chặt chẽ ngay từ khi soạn thảo hợp

đồng. Về nội dung hợp đồng cũng chỉ sử dụng lối tư duy kinh tế đơn thuần nên chỉ

theo mẫu chung gồm các điều khoản thông thường như thông tin cơ bản các bên

47

tham gia hợp đồng; đối tượng hợp đồng (không chi tiết); điều khoản giá cả; điều

khoản giao nhận hàng; điều khoản thanh toán; điều khoản quyền và nghĩa vụ các bên

và thường không có các điều khoản dự phòng.

Việc đơn giản hóa và chỉ giao nhiệm vụ tìm đối tác, đàm phán, soạn thảo, tham

mưu ký kết hợp đồng cho một phòng ban chức năng chỉ chuyên về thương mại,

không có đủ các chuyên môn sâu về kế toán, kỹ thuật, pháp lý cũng như việc sơ sài,

hời hợt trong cách thức soạn thảo hợp đồng (chỉ dùng các điều khoản chung chung

theo mẫu) đã khiến QNC gặp rủi ro lớn trong nhiều thương vụ, gây thất thoát, thua

thiệt nhiều tỷ đồng, đẩy QNC vào khó khăn đến mức có giai đoạn trên bờ vực phá

sản.

Những năm gần đây, QNC đã lưu tâm hơn đến quá trình đàm phán, soạn thảo,

ký kết HĐTM thể hiện ở việc xây dựng một số quy trình cơ bản liên quan đến công

tác ký kết và thực hiện HĐTM làm cơ sở để thực hiện, cụ thể:

Để quản lý các hợp đồng bán hàng, ngày 01/11/2016 QNC ban hành quy trình

Bán hàng, theo đó quy trình Bán hàng của QNC tuân thủ Sơ đồ quy trình bán hàng

và Lưu đồ hướng dẫn lựa chọn Nhà phân phối và ký hợp đồng bán hàng (sơ đồ 2.2,

Lưu đồ 2.1).

Gần đây nhất, ngày 1/6/2018, QNC ban hành quy trình mua hàng thực hiện

theo các lưu đồ quy trình mua hàng chung và các lưu đồ cụ thể (Lưu đồ 2.2).

Lưu đồ thực hiện quy trình mua hàng phương thức chào hàng mức 2: Được áp

dụng khi lựa chọn nhà cung cấp hàng hóa cho giá trị mỗi đơn hàng hoặc giá trị hợp

đồng kinh tế từ 20 triệu đồng và nhỏ hơn hoặc bằng 500 triệu đồng (Lưu đồ 2.3).

Lưu đồ thực hiện quy trình mua hàng phương thức chào hàng mức 3,4: Được áp

dụng khi lựa chọn nhà cung cấp hàng hóa cho giá trị mỗi đơn hàng hoặc giá trị hợp

đồng kinh tế lớn hơn 500 triệu đồng và nhỏ hơn, bằng, trên 2 tỷ đồng (Lưu đồ 2.4).

Việc thay đổi nhận thức và hành động để khắc phục những bất cập trong việc

giao kết và thực hiện HĐTM tại QNC đã phần nào hạn chế được các rủi ro trong

thời gian vừa qua, các HĐTM được ký kết cũng có phần chặt chẽ hơn, chi tiết hơn

tùy thuộc vào tính chất của từng loại và từng đối tượng hợp đồng. Tuy nhiên tác giả

48

vẫn nhìn thấy những lỗ hổng cần tiếp tục điều chỉnh trong công tác này, tác giả sẽ

đề cập chi tiết khi phân tích một số loại hợp đồng tiêu biểu ở các phần tiếp theo.

2.3. Hợp đồng thương mại mua hàng hóa, dịch vụ

2.3.1 Thực tiễn giao kết và thực hiện các hợp đồng thương mại mua hàng hóa,

dịch vụ

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, với quy mô sản xuất hiện nay và đặc thù

ngành xi măng, QNC có nhu cầu rất lớn về mua các loại hàng hóa, dịch vụ phục vụ

sản xuất vì vậy phải thường xuyên ký kết và thực hiện các HĐTM mua hàng hóa,

dịch vụ ở các lĩnh vực khác nhau, có thể là hợp đồng mua máy móc thiết bị, mua

nguyên vật liệu, mua công cụ dụng cụ, hợp đồng dịch vụ công nghiệp (thuê sửa

chữa, thuê phá dỡ, khám sức khỏe định kỳ, ...).

Như tác giả đã đề cập ở mục 2.2, trước đây các hợp đồng mua hàng hóa, dịch

vụ mà QNC giao kết vô cùng đơn giản, sơ sài và dễ gây ra rủi ro cho chính QNC,

tuy vậy trong quá trình thực hiện, vì là các hợp đồng giá trị nhỏ lại chủ yếu ký với

các đối tác truyền thống nên mọi vấn đề phát sinh đều được QNC giải quyết với đối

tác thông qua thương lượng và chưa để xảy ra tranh chấp thương mại nào phải giải

quyết bằng tòa án hay trọng tài.

Hiện nay đa phần các HĐTM mua hàng hóa, dịch vụ của QNC đang theo một

quy trình chung là quy trình mua hàng đã được đề cập ở Lưu đồ 2.2. Việc soạn thảo

các HĐTM mua hàng hóa, dịch vụ do phòng Kinh tế vật tư QNC chủ trì, bên cạnh

đó một số hợp đồng có sự tham gia ý kiến của các phòng ban liên quan về nội dung

thuộc các mảng kế toán, kỹ thuật, sự tham gia ý kiến này đã góp phần chi tiết hóa

thêm và làm chặt chẽ hơn nội dung hợp đồng, là bệ đỡ góp phần sàng lọc các thiếu

khuyết cho hợp đồng. Hiện đa phần các hợp đồng mua hàng hóa, dịch vụ của QNC

đã bao gồm đầy đủ các điều khoản thông thường và cả các điều khoản có tính dự

phòng (điều chỉnh giá, phạt, bảo hành, sửa đổi hợp đồng, hủy bỏ chấm dứt hợp

đồng, bất khả kháng, giải quyết tranh chấp, luật áp dụng với HĐTM quốc tế...). Tuy

vậy vẫn còn một số điểm cần lưu ý sửa đổi bổ sung và chi tiết hóa hơn cho phù hợp

hơn, chặt chẽ hơn.

49

Đối với việc thực hiện hợp đồng mua hàng hóa, dịch vụ tại QNC trong giai

đoạn hiện nay, đa phần các hợp đồng được các bên tuân thủ và thực hiện nghiêm

túc, trên thực tế cũng có nhiều hợp đồng phát sinh vướng mắc ở các điều khoản như

phương thức giao hàng nhưng thường được QNC thỏa thuận để giải quyết thỏa đáng

theo thông lệ giao hàng tại QNC. Vì vậy việc thực hiện công đoạn này của hợp

đồng cũng tương đối thuận lợi, trôi chảy.

Duy chỉ có một số tranh chấp phát sinh liên quan đến điều khoản thanh toán,

mà chủ yếu là về thời hạn thanh toán, theo đó QNC chưa thực hiện đúng cam kết

trong hợp đồng mua hàng hóa. Nguyên nhân chủ yếu là do lỗi từ phía QNC, do việc

QNC thay đổi liên tục lãnh đạo cấp cao nên không kịp cập nhật và giải quyết những

tồn đọng về tài chính của Lãnh đạo tiền nhiệm hoặc không chuẩn bị được nguồn tài

chính để thực hiện hợp đồng đã ký kết. Tác giả xin đề cập đến một số tranh chấp

liên quan đến hợp đồng mua hàng hóa của QNC đã được xử lý tại Toà án nhân dân

(TAND) Thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh:

Tranh chấp thứ nhất giữa nguyên đơn là công ty TNHH Chế tạo thiết bị CN,

pháp nhân được ủy quyền là công ty Luật TNHH Minh Tín và bị đơn là QNC về

việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ, theo đó QNC đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ

theo thỏa thuận trong hợp đồng đã ký kết giữa hai bên, vì vậy công ty TNHH chế

tạo thiết bị CN đã kiện QNC ra Tòa, ngày 16/8/2018 sau 07 ngày kể từ ngày lập

biên bản hòa giải thành, TAND Thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh đã ra Quyết

định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự yêu cầu QNC thanh toán cho công

ty TNHH chế tạo thiết bị CN số tiền nợ gốc theo Biên bản đối chiếu công nợ ngày

31/12/2017 là 381.804.500 đồng (Ba trăm tám mươi mốt triệu tám trăm linh tư

nghìn năm trăm đồng) và số tiền nợ lãi tính từ ngày khởi kiện (31/5/2018) đến ngày

31/7/2018 là 8.590.601 đồng (Tám triệu năm trăm chín mươi nghìn sáu trăm linh

một đồng), nếu QNC trả nợ đúng theo lộ trình cam kết thì công ty TNHH chế tạo

thiết bị CN sẽ miễn số tiền nợ lãi trên, nếu hết thời hạn thỏa thuận mà QNC không

trả đủ thì phải chịu tiền lãi chậm trả theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 BLDS

2015; đồng thời QNC phải chịu số tiền án phí sơ thẩm là 9.759.000 đồng (Chín triệu

bảy trăm năm mươi chín nghìn đồng).

50

Tranh chấp thứ hai giữa nguyên đơn là công ty TNHH Thương mại và sản

xuất ĐH và bị đơn là QNC về việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ, theo đó QNC đã

không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng đã ký kết giữa hai

bên, vì vậy công ty TNHH Thương mại và sản xuất ĐH đã kiện QNC ra Tòa, ngày

05/9/2018 sau 07 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành, TAND Thành phố

Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh đã ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương

sự yêu cầu QNC thanh toán cho công ty TNHH Thương mại và sản xuất ĐH số tiền

nợ gốc theo Biên bản đối chiếu công nợ ngày 05/1/2018 là 234.459.200 đồng (Hai

trăm ba mươi tư triệu bốn trăm năm mươi chín nghìn hai trăm đồng), nếu hết thời

hạn thỏa thuận mà QNC không trả đủ thì phải chịu tiền lãi chậm trả theo quy định

tại Khoản 2 Điều 468 BLDS 2015; công ty TNHH Thương mại và sản xuất ĐH phải

chịu số tiền án phí sơ thẩm là 5.862.000 đồng (Năm triệu tám trăm sáu mươi hai

nghìn đồng).

Nhìn chung các tranh chấp về hợp đồng mua hàng hóa, dịch vụ của QNC từ

trước tới nay đều được giải quyết bằng thương lượng, và ngay cả khi phải ra tòa,

cũng thường được giải quyết bằng hòa giải.

2.3.2 Các vấn đề pháp lý phát sinh trong quá trình giao kết và thực hiện các hợp

đồng thương mại mua hàng hóa, dịch vụ

Trong quá trình soạn thảo, giao kết và thực hiện các HĐTM mua hàng hóa,

dịch vụ của QNC phát sinh một số các vấn đề pháp lý cần giải quyết:

Trước tiên phải kể đến đó là Tên gọi của hợp đồng: Có những hợp đồng đến

nay QNC soạn thảo vẫn lấy tên là “Hợp đồng kinh tế”, như Hợp đồng kinh tế Số

85/HĐKT - QNC - LBC ngày 12/12/2017 giữa QNC và công ty TNHH thương mại

và vận tải LB (gọi tắt là công ty LB) về việc mua bán than cám, trong khi Pháp lệnh

Hợp đồng kinh tế năm 1989 đã không còn hiệu lực thi hành, nên tên gọi này hiện

nay đã không còn phù hợp, cần đặt tên gọi cho hợp đồng cụ thể, rõ ràng hơn, có thể

sửa đổi cụ thể thành “Hợp đồng mua bán than cám”.

Trong quá trình thực hiện nhu cầu mua hàng hóa, việc nghiên cứu thị trường

và tìm kiếm nguồn hàng là rất cần thiết. Kể từ khi thành lập, gần như các giao dịch

51

thương mại mua hàng hóa của QNC đều được thực hiện với các đối tác có mối quan

hệ quen biết và lâu dần trở thành khách hàng thân thiết, khách hàng truyền thống vì

vậy việc nghiên cứu mở rộng thị trường tìm kiếm nguồn hàng không được quan

tâm, quy trình mua hàng chỉ đơn thuần như mục 2.2 đã trình bày ở trên. Dần về sau

này, QNC đã tiến tới thực hiện các quy trình hệ thống hơn, chặt chẽ hơn, đã sử dụng

các biện pháp triển khai chào hàng cạnh tranh, đấu thầu hạn chế để mua hàng hóa.

Tuy nhiên để phát huy hơn nữa vai trò việc mua hàng hóa trong việc giảm giá thành

sản xuất, tăng tính cạnh tranh, QNC cần thiết phải tổ chức đấu thầu rộng rãi trên cả

mạng Internet để tìm kiếm những khách hàng mới, sản phẩm mới có tính cạnh tranh

cao hơn.

Một vấn đề pháp lý nữa được đặt ra đó là việc kiểm tra tư cách pháp lý của đối

tác. Từ thói quen tin tưởng bạn hàng, khi ký kết HĐTM, QNC thường không yêu

cầu xuất trình bản gốc hồ sơ pháp nhân và hồ sơ cá nhân của khách hàng và người

đại diện pháp luật của khách hàng. Có những hợp đồng, mà đại diện ký kết của đối

tác là Phó giám đốc ví dụ Hợp đồng mua bán máy phân tích số 139/HĐKT-QNC-

LEEON ngày 09/5/2018 nhưng khi đàm phán, phía QNC cũng chỉ hỏi đến hình thức

ủy quyền, số, ngày tháng năm cấp giấy ủy quyền để đưa vào hợp đồng cho đầy đủ

thông tin chứ cũng không yêu cầu đối tác phải trình nên không trực tiếp xem về nội

dung ủy quyền và không biết đến thời điểm ký kết giấy ủy quyền đó có còn giá trị?

Nhìn chung QNC chưa lường trước được hậu quả pháp lý của vấn đề ủy quyền

trong quá trình giao kết và thực hiện các HĐTM, điều này sẽ khiến QNC có nguy

cơ cao gặp phải rủi ro nếu các đối tác cố tình vi phạm.

Vấn đề pháp lý thường phát sinh nhất và hay khiến QNC phải thỏa thuận lại

với các bạn hàng đó là điều khoản giao hàng. Trong hầu hết các HĐTM tại QNC

việc thỏa thuận về phương thức, địa điểm giao hàng đang chưa rõ ràng nên thường

khiến đối tác hiểu sai ý thỏa thuận của phía QNC. Ví dụ cụ thể tại Khoản 2.1 Điều 2

Hợp đồng số 85/HĐKT - QNC - LBC ngày 12/12/2017 giữa QNC và công ty LB

“Địa điểm giao nhận: Bên bán giao than cho Bên mua tại cảng Lam Thạch”, theo

thực tế công việc thì công ty LB sẽ phải vận chuyển hàng đến cảng Lam Thạch của

QNC, đồng thời phải chịu trách nhiệm bốc dỡ hàng hóa khỏi tầu hoặc phương tiện

52

vận chuyển neo đậu ở cầu cảng để giao xuống kho của QNC tại cảng Lam Thạch

hoặc kho của QNC tại nhà máy, tuy nhiên thỏa thuận này đang chưa rõ ràng về

trách nhiệm, không cụ thể là giao trên tầu của công ty LB hay giao xuống kho của

QNC, vì thế không rõ bên nào chịu trách nhiệm bốc dỡ, xuống hàng, và vận chuyển

vào kho, chi phí bốc dỡ vận chuyển hàng do ai chịu nếu phải thuê xếp dỡ vận

chuyển (khối lượng hàng rất lớn nên chi phí xếp dỡ vận chuyển cũng tương đối

nhiều). Vì vậy để chặt chẽ hơn, QNC nên thỏa thuận sửa đổi thành “Bên bán giao

than xuống kho của bên mua tại cảng Lam Thạch”.

Hay tại Hợp đồng Mua bán Vỏ bao xi măng KPK 3 lớp Số78/HĐKT - QNC -

BBHT ký ngày 13/12/2017giữa QNC và một công ty bao bì (gọi tắt là công ty Bao

bì): Khoản 4.2 Điều 4 Địa điểm giao nhận “Bên bán giao hàng hóa cho bên mua tại

kho của Nhà máy xi măng Lam Thạch, khu Hợp Thành, phường Phương Nam,

thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh”, trách nhiệm giao hàng “tại” kho của công ty

Bao bì được nhắc lại tại điểm 3 khoản 5.2. Trách nhiệm và quyền hạn của Bên bán

“Tuân thủ mọi nội qui, qui định, chỉ dẫn của Bên mua khi vào giao hàng tại kho của

Bên mua và trong suốt thời gian giao hàng”. Theo thực tế công việc thì Công ty Bao

bì sẽ phải vận chuyển hàng đến kho của QNC, đồng thời phải chịu trách nhiệm bốc

dỡ hàng hóa khỏi phương tiện vận chuyển để giao xuống kho của QNC, tuy nhiên

thỏa thuận này đang chưa rõ ràng về trách nhiệm bốc dỡ hàng, không cụ thể là giao

trên phương tiện hay giao xuống kho. Nếu phát sinh tranh chấp thì đây chắc chắn sẽ

là một bất lợi cho phía QNC. Các hợp đồng mua hàng hóa do QNC soạn thảo hiện

nay đều đang khiếm khuyết ở thỏa thuận địa điểm giao hàng như trên.

Tiếp theo là việc soạn thảo các điều khoản có tính chất phòng ngừa trong hợp

đồng, trước đây QNC đa phần theo hợp đồng mẫu với những điều khoản đơn giản

vì vậy dễ tạo nên các bẫy pháp lý cho QNC. Ngày nay QNC đã cẩn trọng hơn, soạn

thảo các hợp đồng có tính đến một số phương án phòng ngừa, chính sự chặt chẽ đó

giúp cho quá trình thực hiện hợp đồng được trôi chảy, ít xảy ra tranh chấp hoặc có

thể chỉ là tranh chấp nhỏ, giải quyết được bằng thương lượng. Tuy vậy các HĐTM

của QNC cần kỹ càng hơn nữa, tính đến tối đa các phương án dự phòng.

53

Về điều khoản phạt, QNC cần thiết phải thỏa thuận về mức phạt phù hợp với

quy định của pháp luật. Nhiều HĐTM mua hàng hóa của QNC đã cụ thể hóa điều

khoản phạt theo đúng quy định của pháp luật, tuy nhiên vẫn còn một số ít hợp đồng

chưa quy định chặt chẽ, cụ thể tại Điều 7 Hợp đồng mua bán số 151/QNC-

PINGXIANG ký ngày 30/5/2018 giữa QNC và một công ty thương mại xuất nhập

khẩu của Trung Quốc về việc mua bán máy bắn nhiệt độ vỏ lò nung Clinke quy

định “In case late shipment indicated in the Term No.3 of this, except force majuer

indicated in the term No.8, the seller must compensate 0.1% of the value of the

delay items for each week - Nếu đến hạn giao hàng quy định tại điều 3 của hợp

đồng này mà bên bán vẫn chưa giao hàng cho bên mua thì bên bán sẽ chịu phạt

0,1% giá trị hàng hóa giao chậm tính trên một tuần chậm chễ trừ các trường hợp bất

khả kháng được nêu tại điều 8 của hợp đồng này”. Theo điều khoản này QNC có

quyền phạt đối tác nếu giao hàng chậm, tuy nhiên mới đưa ra mức phạt cho mỗi

tuần chậm giao hàng, chưa đưa ra giới hạn tối đa cho mức phạt (không quá 8% của

phần giá trị vi phạm theo quy định tại LTM 2005).

Các HĐTM mua bán hàng hóa của QNC cũng đã ưu tiên giải quyết tranh chấp

phát sinh (nếu có) bằng biện pháp thương lượng song cũng mới chỉ dừng lại ở thỏa

thuận mang tính chất chung chung như vậy, theo tác giả nên quy định một thời gian

nhất định cho thương lượng trước khi đưa tranh chấp ra Tòa án hoặc Trọng tài, bởi

vì khi muốn khởi kiện đối tác, QNC phải xem xét xem còn thời hiệu khởi kiện hay

không thì vấn đề khởi kiện mới được thụ lý giải quyết. Điều 319 LTM 2005 quy

định về Thời hiệu khởi kiện theo đó “Thời hiệu khởi kiện áp dụng đối với các tranh

chấp thương mại là hai năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm

phạm, trừ trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều 237 của Luật này”.

Nhìn chung, các HĐTM mua hàng hóa, dịch vụ mà QNC đã và đang ký kết,

thực hiện còn rất nhiều điểm chưa rõ ràng và chưa phù hợp, cần điều chỉnh kịp thời,

đồng thời cần rút kinh nghiệm sâu sắc để tránh các vấn đề pháp lý khi giao kết và

thực hiện các HĐTM mới trong tương lai.

54

2.4. Hợp đồng thương mại bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ

2.4.1 Thực tiễn giao kết và thực hiện các hợp đồng thương mại bán hàng hóa,

cung ứng dịch vụ

Hiện nay, sản phẩm chính của QNC là xi măng, clinke, dự án hạ tầng khu dân

cư, dịch vụ kỹ thuật cơ sở hạ tầng khu công nghiệp, đây là các nguồn thu chủ yếu

trên doanh thu của QNC.

Cũng giống như các HĐTM mua hàng hóa, dịch vụ, các HĐTM bán hàng hóa

trước đây của QNC cũng vô cùng sơ sài và dễ gây ra rủi ro cho QNC. Về hình thức,

nội dung: các HĐTM bán hàng hóa của QNC trước đây cũng chỉ được thiết lập đơn

giản theo mẫu chung với các điều khoản cơ bản, chưa có các điều khoản dự phòng.

Tuy nhiên đến nay, đã có những cải biến vượt bậc, đảm bảo tính chặt chẽ, cụ thể

hơn và có tính đến việc phòng ngừa các rủi ro pháp lý. Các HĐTM bán hàng hóa

của QNC đang tuân thủ theo một quy trình chung là Sơ đồ quy trình bán hàng và

theo Lưu đồ hướng dẫn lựa chọn Nhà phân phối và ký hợp đồng bán hàng đã được

đề cập ở phần 2.2 trên đây.

Hiện tại việc soạn thảo các HĐTM bán hàng hóa là sản phẩm xi măng , clinke

của QNC do phòng Kinh doanh chủ trì, còn việc soạn thảo các HĐTM cung ứng

dịch vụ cho thuê đất trong khu công nghiệp Cái Lân do Ban Quản lý Khu công

nghiệp và đầu tư hạ tầng QNC đảm nhiệm chính, bên cạnh đó có sự tham gia ý kiến

của các phòng ban liên quan về nội dung hợp đồng thuộc các mảng kế toán, kỹ

thuật, sự tham gia ý kiến này đã góp phần chi tiết hóa thêm và làm chặt chẽ hơn nội

dung hợp đồng bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.

Đối với việc thực hiện hợp đồng bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ của QNC,

trong giai đoạn hiện nay, đa phần được các bên tuân thủ và thực hiện nghiêm túc.

Trên thực tế có rất ít hợp đồng phát sinh vướng mắc và nếu có thì cũng chỉ dừng lại

ở các điều khoản về thời hạn giao hàng, hoặc điều khoản phạt hợp đồng nhưng

thường được QNC thỏa thuận để giải quyết thỏa đáng nên chưa có hợp đồng nào

xảy ra tranh chấp phải viện dẫn đến toà án hay trọng tài thương mại. Tuy nhiên, về

lâu dài, với xu thế coi trọng và cẩn trọng trong việc giao kết thực hiện HĐTM của

55

các doanh nghiệp hiện nay, QNC cần thiết phải đàm phán kế hoạch giao hàng của

mình sát với thực tế có thể thực hiện được để tránh tối đa việc vi phạm về thời hạn

giao hàng cho đối tác gây ảnh hưởng đến uy tín và thiệt hại về kinh tế của QNC,

đồng thời cũng cần thỏa thuận về điều khoản phạt vi phạm tiến độ giao hàng,

chuyển tiền, nhận hàng để tránh tối đa những thiệt hại cho QNC trong việc phải lưu

kho hàng hóa do việc thực hiện kế họach đặt hàng của đối tác.

Đối với các hợp đồng cho thuê đất trong khu công nghiệp: Giai đoạn một của

Khu công nghiệp Cái Lân đã được QNC thực hiện và hoàn thành việc cho thuê đất

từ những năm đầu tiên của thế kỷ XXI, đến nay chỉ còn công tác quản lý, duy tu,

bảo dưỡng và thu phí dịch vụ hàng kỳ. Việc thực hiện các hợp đồng thuê đất này

vẫn được các bên tuân thủ và chưa phát sinh tranh chấp, tuy nhiên vẫn còn một số

điểm lưu ý cho QNC mà tác giả sẽ đề cập ở phần 2.4.2 dưới đây để QNC rút kinh

nghiệm trong giai đoạn 2, giai đoạn mở rộng Khu công nghiệp Cái Lân mà QNC

mới được UBND tỉnh Quảng Ninh giao tại Quyết định số 1165/QĐ-UBND ngày

12/4/2018.

Đối với các sản phẩm là dự án hạ tầng khu dân cư, QNC đã bán hết, hiện nay

chỉ còn một số dự án còn dang dở không đáng kể, đang được tiếp tục hoàn thiện

(Dự án khu dân cư Đông Yên Thanh - Uông Bí, Dự án Trung tâm Thương mại Cầu

Sến - Uông Bí...). Với dự án khu dân cư Cẩm Bình, Cẩm Thủy thuộc Thành phố

Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, các hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất và tài sản gắn

liền với đất đa phần đã hoàn thiện, chỉ còn lại 08 hợp đồng của các hộ dân không

thể thực hiện được do QNC không giải phóng được mặt bằng, QNC đã thỏa thuận

trả lại tiền cho các hộ dân trong tháng 11/2018.

2.4.2 Các vấn đề pháp lý phát sinh trong quá trình giao kết và thực hiện các hợp

đồng thương mại bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ

Vấn đề đầu tiên phải kể đến trùng hợp với vấn đề đã đề cập đối với các hợp

đồng mua hàng hóa, dịch vụ đó là tên hợp đồng. Tất cả các hợp đồng bán xi măng,

clinke hiện nay của QNC đều mang một tên giống nhau đó là “Hợp đồng kinh tế”,

ví dụ Hợp đồng kinh tế Số: 00/HĐXM/QNC - CTTĐ được ký kết ngày 01/01/2018

56

giữa QNC và công ty TNHH TĐ về việc Mua bán xi măng Lam Thạch PCB30,

PCB40; Hợp đồng kinh tế Số: 01/HĐCLK/QNC - TT được ký kết ngày 01/01/2018

giữa QNC và công ty TNHH TM và vận tải TT về việc Mua bán Clinke Cpc50... Để

đúng quy định pháp luật khi Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 đã hết hiệu lực,

QNC cần sửa đổi cụ thể tên của các hợp đồng này thành “Hợp đồng mua bán xi

măng”, “Hợp đồng mua bán Clinke”.

Tiếp theo là việc soạn thảo các điều khoản trong hợp đồng, nhất là các điều

khoản về giá cả và điều chỉnh giá, điều khoản thanh toán, đặc biệt đối với các hợp

đồng có hiệu lực dài như các hợp đồng cho thuê đất cần thận trọng tính đến tối đa

các phương án dự phòng do tình hình thị trường thay đổi, do các yếu tố trượt giá

đồng tiền ....

Một bài học đắt giá cho QNC về điều khoản giá cả và điều chỉnh giá chính là

việc ký các hợp đồng cho thuê đất, mặt bằng và hạ tầng khu công nghiệp Cái Lân

trước đây của QNC. Tất cả các hợp đồng này đều là hợp đồng dài hạn, có hợp đồng

lên đến gần 50 năm, giá phí sử dụng hạ tầng trong hợp đồng là loại phí cao nhất

nhưng lại là giá cố định, không có điều chỉnh trong suốt thời gian thuê. Theo các

hợp đồng cho thuê đất và hạ tầng làm mặt bằng nhà xưởng trong Khu công nghiệp

Cái Lân QNC đã ký (giai đoạn từ 2003 đến 2015), QNC thỏa thuận với các đối tác

“Phí sử dụng hạ tầng được ổn định trong suốt thời gian thuê” (Điều 6 của các Hợp

đồng số 15/20007/HĐTLĐ-BQL ngày 08/6/2007 - Hợp đồng cho thuê lại đất tại

Khu công nghiệp Cái Lân - Hạ Long - Quảng Ninh ký với Chi nhánh công ty

TNHH TY tại Quảng Ninh; hợp đồng số 27/2010/HĐTLĐ-BQL ngày 27/01/2010 -

Hợp đồng cho thuê mặt bằng và hạ tầng tại Khu công nghiệp Cái Lân - Hạ Long -

Quảng Ninh ký với công ty cổ phần thương mại SMB; hợp đồng số 06/2015/TCHC-

QNCC ngày 01/4/2015 - Hợp đồng thuê đất, mặt bằng và hạ tầng tại Khu công

nghiệp Cái Lân - Hạ Long - Quảng Ninh ký với Công ty cổ phần pháp triển không

gian đô thị HL, ... ). Đến nay, năm2018, sau hơn 15 năm hoạt động, cùng với sự

trượt giá của đồng tiền, mặt bằng giá thuê của các khu công nghiệp khác cũng cao

hơn gấp ba lần giá QNC đã và đang cho thuê nhưng QNC không thể đàm phán để

điều chỉnh giá, một lý do đơn giản là điều khoản điều chỉnh giá tại các hợp đồng đã

57

ký kết không quy định được điều chỉnh theo thị trường nên các đơn vị thứ cấp

không chấp nhận cho QNC thỏa thuận sửa đổi, chính lý do này đã gây thiệt hại

không nhỏ cho QNC khi thực hiện hợp đồng. Một vấn đề bất lợi nữa cho QNC

trong các hợp đồng cho thuê đất này đó là mặc dù giá thuê cố định nhưng điều

khoản thanh toán không phải thanh toán một lần duy nhất khi giao nhận mặt bằng

mà lại quy định trả theo chu kỳ 01năm/lần hoặc 05 năm/lần tức là thanh toán thành

nhiều chu kỳ, có những hợp đồng còn không quy định về chu kỳ thanh toán mà phải

ngầm hiểu 01 năm, vì vậy phần thu mỗi chu kỳ là rất nhỏ so với tổng giá trị thuê và

không đáng kể để tái sử dụng nguồn vốn.

Một vấn đề pháp lý tiêu biểu tiếp theo trong các HĐTM bán hàng hóa, cung

ứng dịch vụ của QNC mà tác giả muốn đề cập ở đây là trong các HĐTM bán hàng

hóa, cung ứng dịch vụ của QNC hiện nay đó là điều khoản phạt hầu hết không được

đặt ra. QNC cần thiết phải dự tính đến khả năng đối tác có kế hoạch nhập hàng và

đã thông báo cho QNC tập trung tổng lực sản xuất phục vụ đơn hàng song vì lý do

nào đó đối tác chưa chuyển tiền để QNC có cơ sở giao hàng khiến hàng QNC tồn

kho lớn, ảnh hưởng sản xuất, không đảm bảo duy trì chất lượng (vì là sản phẩm đặc

thù). Từ dự tính này, QNC cần thỏa thuận về mức phạt hợp đồng phù hợp với quy

định của pháp luật để đảm bảo ràng buộc đối tác thực hiện đúng thỏa thuận, tránh

tối đa rủi ro cho QNC.

Tại một số hợp đồng bán hàng hóa, tác giả nhận thấy đang có xu hướng rủi ro

thiệt hại nghiêng nhiều về phía QNC, ví dụ như tại hợp đồng Số 05/HĐKT-QNC-

AĐ được ký kết giữa QNC (Bên A) và công ty TNHH TL (Bên B, gọi tắc là công ty

TL) ngày 01/01/2018 về việc mua bán xi măng, tại Điểm 3 Điều 3 về vùng phân

phối và sản lượng, hai bên thỏa thuận “Bên B đăng ký kế hoạch đặt hàng tháng tiếp

theo cho bên A vào ngày 14 hàng tháng để bên A chủ động trong việc xây dựng kế

hoạch sản xuất và bán hàng”, tuy nhiên không hề có thỏa thuận về điều khoản phạt,

kể cả phạt nếu không chuyển tiền để nhận hàng khiến bên A phải lưu kho... Xuất

phát từ điều khoản này, tác giả đặt ra tình huống nếu công ty TL đăng ký kế hoạch

đặt hàng cụ thể của tháng nào đó, sau khi nhận được kế hoạch đặt hàng, QNC tập

trung sản xuất để cung cấp đủ sản lượng cho công ty TL, sẵn sàng trong kho để chờ

58

giao theo thỏa thuận, mà đến hạn công ty TL vẫn chưa chuyển tiền để nhận hàng

khiến lượng hàng tồn kho của QNC lớn thì QNC sẽ gặp bất lợi mà không có cơ sở

để yêu cầu công ty TL chịu phạt hợp đồng do đã không chuyển tiền, nhận hàng theo

kế hoạch, gây thiệt hại cho QNC. Đặc biệt nếu đơn hàng của công ty TL lại vào

mùa mưa thì chắc chắn QNC sẽ gặp khó khăn cho việc bảo quản hàng hóa, trong

điều kiện đặc thù hàng hóa xi măng nếu để dí lâu sẽ ảnh hưởng đến chất lượng sản

phẩm, QNC thậm chí có thể phải đưa sản phẩm vào nghiền lại. Vì vậy cần thiết thỏa

thuận chi tiết điều khoản phạt liên quan đến vấn đề này trong các HĐTM bán hàng

hóa, cung ứng dịch vụ của mình để tránh các rủi ro trong quá trình thực hiện.

Bên cạnh xu hướng rủi ro cho QNC, do không thỏa thuận về điều khoản phạt

trong các HĐTM bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, cũng có khả năng rủi ro sẽ xảy ra

với các đối tác của QNC bởi trong hầu hết các HĐTM bán xi măng, clinke mặc dù

đối tác thỏa thuận thanh toán tiền hàng cho QNC trước khi nhận hàng nhưng lại

không thỏa thuận phạt QNC nếu nhận tiền hàng rồi mà không đảm bảo kế hoạch

giao hàng cho đối tác. Đứng trên góc độ của đối tác (người mua hàng của QNC) thì

điều khoản này rất quan trọng vì ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động mua hàng của

đối tác.

Đồng thời như các HĐTM mua hàng hóa, dịch vụ, các HĐTM bán hàng hóa,

cung ứng dịch vụ của QNC cũng nên quy định một thời gian nhất định cho thương

lượng trước khi đưa tranh chấp ra Tòa án hoặc Trọng tài do vấn đề thời hiệu khởi

kiện như đã đề cập ở mục 2.3.2 trên đây.

2.5 Hợp đồng ủy thác xuất khẩu xi măng, clinke

2.5.1 Thực tiễn giao kết và thực hiện các hợp đồng ủy thác xuất khẩu xi măng,

clinke

Đối với sản phẩm xi măng, clinke, để xây dựng được thương hiệu cho sản

phẩm xi măng của mình, những năm đầu thế kỷ XXI, QNC đã mở rộng được thị

trường xi măng tương đối mạnh khắp cả nước, hệ thống các đại lý bán sản phẩm xi

măng của QNC trải rộng khắp tỉnh Quảng Ninh, đặc biệt đông đảo đại lý tại các tỉnh

lân cận như Bắc Ninh, Bắc giang, Hải Dương, Hải Phòng.

59

Kể từ năm 2015, khi hoạt động sản xuất kinh doanh của QNC kém hiệu quả,

thị trường xi măng của QNC dần bị mất, số lượng các đại lý, đối tác bị thu hẹp chỉ

còn tiêu thụ chủ yếu ở thị trường Quảng Ninh. Lãnh đạo QNC đã tìm ra con đường

mới cho công tác tiêu thụ sản phẩm xi măng và Clinke của QNC, đó là ủy thác xuất

khẩu sản phẩm xi măng, clinke cho đơn vị khác.

QNC ký kết và thực hiện nhiều hợp đồng ủy thác xuất khẩu xi măng và clinke

sang thị trường Madalaska, Nam Phi, Philippine, Indonesia ... thúc đẩy sản lượng

tiêu thụ thông qua các hợp đồng ủy thác xuất khẩu và tạm thời triệt tiêu tồn kho.

Các hợp đồng ủy thác xuất khẩu do phòng Kinh doanh QNC soạn thảo có sự tham

vấn ý kiến của phòng Tài chính kế toán, phòng Công nghệ KCS, phòng kinh tế vật

tư và các phòng ban liên quan vì vậy các hợp đồng tương đối chặt chẽ và đầy đủ.

Hoạt động ủy thác xuất khẩu đã giúp QNC mang về nguồn doanh thu chủ yếu

cho QNC, năm 2017 doanh thu từ ủy thác xuất khẩu xi măng và clinke lên đến 750

tỷ đồng, dự báo trong năm 2018, con số này đạt 800 tỷ đồng.

2.5.2 Các vấn đề pháp lý phát sinh trong quá trình giao kết và thực hiện các hợp

đồng ủy thác xuất khẩu xi măng, clinke

Các hợp đồng ủy thác xuất khẩu của QNC tương đối tương đồng về nội dung

tất cả các thỏa thuận (trừ thỏa thuận về tên hàng, sản lượng, giá cả), vì thế trong quá

trình giao kết và thực hiện các hợp đồng này, phát sinh rất nhiều các vấn đề pháp lý

cần giải quyết.

Trước tiên phải kể đến đó là Điều khoản về tiến độ cấp hàng: Hợp đồng ủy

thác xuất khẩu số UTXK CLK 10: QNC-TTP 2018 được ký kết ngày 27/07/2018

giữa QNC và công ty TNHH Thương mại và vận tải TTP (gọi tắt là công ty TTP) về

việc xuất khẩu Clinke Lam Thạch, tại Điểm 2.1.2 Điều 2 quy định “Tốc độ xếp

hàng tại cảng giao hàng: Tối thiểu 3.000 tấn/ngày làm việc 24h liên tục với điều

kiện thời tiết thuận lợi, bao gồm cả thứ 7, chủ nhật và ngày lễ trừ các ngày lễ lớn”.

Với tình hình tài chính yếu, thực trạng nguồn nguyên liệu đầu vào (than, đá,

sét...) không ổn định, nhân lực và dây chuyền thiết bị cũ nát hiện nay, QNC đang rất

khó khăn để đảm bảo ổn định về công suất phục vụ các đơn hàng xuất khẩu lớn,

60

đảm bảo tiến độ xuất hàng, vì thế nếu các hợp đồng ủy thác xuất khẩu thỏa thuận

không phù hợp về điều khoản thời gian và tiến độ giao hàng thì sẽ dễ gây rủi ro cho

QNC trong quá trình thực hiện hợp đồng.

Tiếp theo là việc quy định mức phạt đối với QNC khi không đảm bảo tiến độ

giao hàng: Cũng tại Điểm 2.1.2 Điều 2 hợp đồng số UTXK CLK 10: QNC-TTP

2018 nêu trên quy định “Trường hợp bên ủy thác không đảm bảo tốc độ làm hàng

nêu trên, bên ủy thác sẽ phải chịu phạt giao hàng chậm theo mức phạt được thông

báo bởi bên nhận ủy thác tại thời điểm phương tiện có mặt và xếp hàng”. Với thỏa

thuận phạt chậm giao hàng như trên, QNC mới chỉ thỏa thuận được với công ty

TTP về điều khiện bất khả kháng do thời thiết nhưng chưa thỏa thuận được về các

trường hợp bất khả kháng khác có thể xảy ra khiến QNC không thể đảm bảo tốc độ

xếp hàng, đồng thời thỏa thuận về “phạt giao hàng chậm như trên” cũng gây bất lợi

cho QNC bởi mức phạt không phải là một tỷ lệ phần trăm hợp lý nào đó do hai bên

thỏa thuận theo quy định pháp luật mà lại do phía công ty TTP chủ động thông báo

yêu cầu mức phạt buộc QNC phải chấp nhận.

Vấn đề thỏa thuận về chuyển rủi ro trong các hợp đồng ủy thác xuất khẩu của

QNC cũng cần xem xét kỹ lưỡng, tránh mâu thuẫn trong các điều khoản của hợp

đồng. Thực tế hiện nay, trong thỏa thuận về quyền sở hữu, chuyển giao và rủi ro

đang có những thỏa thuận giường như mâu thuẫn nhau: Hợp đồng ủy thác xuất khẩu

số 01/2018/UTXK-CEM/QNC-TTP được ký kết ngày 02/05/2018 giữa QNC và

công ty TNHH Thương mại và vận tải TTP về việc xuất khẩu Xi măng CEM I

52.5N đóng bao Jumbo 1,5 tấn, tại Ý 2.3.1 Điểm 2.3 Điều 2 quy định “Bên ủy thác

phải chịu các chi phí, rủi ro mất hoặc hư hại (nếu có) cho đến khi Sản phẩm được

giao trên tàu biển của bên nhận ủy thác tại Địa điểm giao hàng (cảng NMXM Lam

Thạch, Quảng Ninh), khi đó quyền sở hữu Sản phẩm, rủi ro hoặc hư hại về hàng

hóa sẽ được chuyển giao cho Bên nhận ủy thác” có nghĩa là công ty TTP sẽ có

quyền sở hữu sản phẩm và chịu trách nhiệm về rủi ro cho sản phẩm kể từ khi QNC

giao hàng lên tầu tại cảng Lam Thạch, tuy vậy tại ý 2.3.4 của cùng Điều này lại quy

định “Bên A phải chịu thiệt hại về những rủi ro trong quá trình uỷ thác xuất khẩu

mỗi lô hàng nếu bên B chứng minh là họ không có lỗi và đã làm đầy đủ mọi trách

61

nhiệm đòi bồi thường ở người thứ ba (là người có lỗi gây rủi ro như làm đổ vỡ,

cháy…. sản phẩm). Trường hợp này người thứ ba thực hiện nghĩa vụ bồi thường

trực tiếp cho bên A” có nghĩa là nếu khi công ty TTP đã nhận hàng và làm thủ tục

xuất khẩu mà xảy ra rủi ro không phải do lỗi của công ty TTP thì QNC phải nhận

rủi ro thay cho công ty TTP và công ty TTP chỉ làm đầy đủ mọi trách nhiệm đòi bồi

thường ở người thứ ba gây rủi ro, QNC sẽ nhận bồi thường trực tiếp từ người thứ

ba. Hai điểm này đang có mâu thuẫn nhau, QNC đã chuyển rủi ro cho công ty TTP

kể từ thời điểm giao nhận hàng trên tầu cảng Lam Thạch thì công ty TTP phải trực

tiếp chịu rủi ro trừ khi chứng minh được rủi ro đó xảy ra là do nguyên nhân của sản

phẩm từ trước khi nhận hàng của QNC.

Đối với những hợp đồng ủy thác xuất khẩu mà QNC đang thực hiện như trên,

nên chỉnh sửa điều khoản về quyền sở hữu, chuyển giao và rủi ro như sau: “Bên ủy

thác phải chịu các chi phí, rủi ro mất hoặc hư hại (nếu có) cho đến khi Sản phẩm

được giao trên tàu biển của bên nhận ủy thác tại Địa điểm giao hàng (Cảng Lam

Thạch, Quảng Ninh), khi đó quyền sở hữu Sản phẩm, rủi ro hoặc hư hại về hàng

hóa sẽ được chuyển giao cho Bên nhận ủy thác. Bên nhận ủy thác phải hoàn toàn

chịu trách nhiệm về các rủi ro của hàng hóa kể từ khi nhận hàng trên tầu tại cảng

Lam Thạch, trừ trường hợp rủi ro xảy ra do lỗi của sản phẩm từ trước khi giao nhận

hàng và Bên nhận ủy thác phải chứng minh được lỗi đó”.

Một vấn đề pháp lý nữa được đặt ra cho các hợp đồng ủy thác xuất khẩu của

QNC đó là: Đối với các thỏa thuận về điều khoản phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại

cần phải chỉnh sửa cho phù hợp với quy định chung và thực tiễn pháp lý. Là HĐTM

chọn luật áp dụng là Luật Việt Nam thì phải tuân thủ các quy định của pháp luật

Việt Nam: Thiệt hại tới đâu, bồi thường tới đó; phạt vi phạm cũng theo quy định

không vượt quá 8% tổng giá trị vi phạm của hợp đồng (LTM2005).

Thế nhưng tại Điểm 5.1 Điều 5 của hợp đồng ủy thác xuất khẩu số

01/2018/UTXK-CEM/QNC-TTP được ký kết ngày 02/05/2018 giữa QNC và công

ty TNHH Thương mại và vận tải TTP lại quy định “Hai bên cam kết thực hiện theo

đúng các điều khoản của hợp đồng này. Nếu bên nào vi phạm thì phải bồi thường

cho Bên kia về các khoản thiệt hại trực tiếp và gián tiếp (bao gồm nhưng không giới

62

hạn, thiệt hại về gián đoạn kinh doanh, suy giảm về độ tín nhiệm với khách hàng và

các thiệt hại tương tự), mất mát, hư hại, tổn hại, phí và chi phí (bao gồm phí và chi

phí tư vấn pháp lý và chuyên môn khác, và các chi phí khác) mà Bên kia phải chịu

hoặc phải thanh toán. Tuy nhiên tổng giá trị bồi thường không vượt quá 8% tổng giá

trị hợp đồng”. Điều khoản này đang đi ngược với quy định và thực tiễn pháp lý bởi

đã là thiệt hại phải bồi thường thì phải theo nguyên tắc “thiệt hại đến đâu, bồi

thường đến đó”, nếu toàn bộ lô hàng bị thiệt hại mà chỉ bồi thường không quá 8%

giá trị hợp đồng thì phần giá trị hợp đồng còn lại 92% là quá lớn. Giường như đang

có sự nhầm lẫn giữa cách hiểu về việc bồi thường thiệt hại và việc phạt vi phạm

HĐTM của những người tham gia soạn thảo ký kết hợp đồng này.

Nói tóm lại, các hợp đồng ủy thác xuất khẩu sản phẩm của QNC đã vượt ra

khỏi khuân mẫu hợp đồng thông thường, đã có các điều khoản dự phòng về các rủi

ro cho các bên ký kết, tuy nhiên các điều khoản này vẫn còn rất nhiều lỗ hổng vì

vậy QNC cần phải thỏa thuận chi tiết hơn nữa đặc biệt đối với các điều khoản mà

tác giả đã phân tích ở trên để hoạt động tạo nguồn doanh thu chính của QNC thực

sự an toàn, hiệu quả, bền vững.

2.6 Đánh giá việc áp dụng các quy định pháp luật, quy định, quy trình nội bộ

liên quan đến giao kết và thực hiện các hợp đồng thương mại tại QNC

Nhìn chung trong suốt quá trình hình thành và phát triển, Lãnh đạo QNC luôn

hướng tới mục tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật. Đối

với việc áp dụng các quy định của pháp luật vào quá trình giao kết và thực hiện hợp

đồng của QNC về cơ bản được tuân thủ tương đối đầy đủ, tuy nhiên vẫn còn một số

lỗ hổng pháp lý mà tác giả đã phân tích từ mục 2.3 đến 2.5 Chương 2. Các lỗ hổng

này như tác giả đã nhận định có thể xuất phát từ tập quán kinh doanh thương mại

của QNC, từ thói quen tin tưởng đối tác kinh doanh, từ việc Lãnh đạo quản lý của

QNC chưa đánh giá hết tầm quan trọng của việc giao kết và thực hiện các HĐTM

đối với việc tồn tại và phát triển của QNC, cũng có thể một phần do QNC chưa có

được đội ngũ cán bộ có kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực HĐTM để tham mưu giúp

việc cho Ban lãnh đạo trong từng thương vụ.

63

Để thực hiện mục tiêu phát triển của mình, QNC vẫn tiếp tục soạn thảo, giao

kết và thực hiện các HĐTM trên cơ sở quy định của pháp luật, áp dụng các quy định

của BLDS, LTM và các Luật chuyên ngành, có tính đến các tình huống pháp lý

trong quá trình giao kết và thực hiện các hợp đồng. Nhìn chung các HĐTM của

QNC đã vượt ra khỏi khuân mẫu của tư duy kinh tế, thương mại đã bao gồm các

thỏa thuận chặt chẽ liên quan đến hiểu biết về kỹ thuật và có các điều khoản mang

tư duy pháp lý, có dự phòng rủi ro.

Tuy nhiên đến nay các HĐTM của QNC bao gồm cả các hợp đồng mua, bán

hàng hóa, cung ứng và nhận cung ứng dịch vụ, ủy thác xuất khẩu sản phẩm... vẫn

còn một số lỗ hổng, thiếu khuyết cần được chỉnh sửa như tác giả đã đề cập ở các

phần trên. Cũng trong các hợp đồng này, còn nhiều quy định của pháp luật chưa

được QNC áp dụng triệt để khi đàm phán, soạn thảo, giao kết và thực hiện để bảo

vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và còn nhiều vấn đề thỏa thuận đã, đang và có

thể sẽ mang lại rủi ro cho QNC trong quá trình thực hiện hợp đồng.

Về việc xây dựng và thực hiện các quy định, quy trình nội bộ của QNC liên

quan đến việc giao kết và thực hiện HĐTM:

Trước đây khi sản xuất kinh doanh chưa mở rộng, QNC còn là một doanh

nghiệp nhà nước, hoạt động sản xuất kinh doanh dưới sự quản lý của nhà nước trực

tiếp là của Sở Xây dựng - UBND tỉnh Quảng Ninh, thì đối tác của QNC mang tính

truyền thống, các HĐTM của QNC được soạn thảo có nội dung đơn giản theo mẫu

chung và hoạt động giao kết và thực hiện HĐTM của QNC cũng trôi chảy, không

phát sinh tranh chấp.

Ngày nay, kể từ sau khi cổ phần hóa, hội nhập với xu thế phát triển chung và

đa dạng của các mô hình sản xuất kinh doanh, QNC ngày càng có thêm nhiều đối

tác, bạn hàng mới, thêm nhiều hình thức hoạt động thương mại mới. QNC đã xây

dựng các quy định, quy trình nội bộ của mình nhằm đảm bảo sự phù hợp với từng

thời kỳ để từng bước đưa việc soạn thảo, đàm phán, giao kết và thực hiện HĐTM

với các đối tác vào khuôn khổ chung, có trình tự hợp lý hơn, đảm bảo thống nhất và

64

tối ưu hóa lợi ích của QNC đồng thời cũng trên tinh thần hợp tác bình đẳng, cùng có

lợi với các đối tác.

Thành quả của việc nỗ lực của cán bộ công nhân viên QNC, cụ thể là các lợi

nhuận mang về từ các HĐTM mà QNC ký kết và thực hiện đang được ghi nhận bởi

kết quả sản xuất kinh doanh của QNC 9 tháng đầu năm 2018 đã báo cắt được con số

lỗ và đang dần từng bước có lãi.

Bảng 2.4: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh hết quý 3 năm 2018

So với kế Kết quả TT Chỉ tiêu ĐVT Kế hoạch hoạch thực hiện năm

1 Sản xuất Xi măng 768.950 560.000 82,83% Tấn

2 Sản xuất Clinke 728.000 781.000 107,28% Tấn

3 Sản xuất than các loại 130.000 84.000 64,62% Tấn

4 Doanh thu Triệu đồng 950.000 990.000 104,2%

5 Nộp Ngân sách Triệu đồng 30.000 50.000 166,67%

Lợi nhuận sau thuế Thu 6 Triệu đồng 5.245 nhập danh nghiệp

(Báo cáo sản xuất và Báo cáo tài chính riêng và hợp nhất QNC quý 3 năm 2018)

KẾT LUẬN CHƯƠNG II

QNC là một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đa ngành, từ xuất phát điểm

chỉ là một đội thanh niên xung kích ở thập niên 90 của thế kỷ XX, QNC trở thành

một xí nghiệp chuyên sản xuất than, rồi phát triển thành Công ty xi măng Uông Bí

với quy mô huyện thị, sau đó vào những năm đầu của thế kỷ XXI phát triển thành

Công ty xi măng và xây dựng Quảng Ninh với quy mô tỉnh thành, trở thành doanh

nghiệp địa phương lớn nhất tỉnh Quảng Ninh, thu hút trên dưới 3.000 lao động với

hàng trăm hợp đồng mua bán, cung ứng dịch vụ mỗi năm. Sau khi cổ phần hóa và

đặc biệt chuyển sang những năm đầu thập niên mười của thế kỷ XXI, QNC gặp

65

không ít khó khăn, sản xuất kinh doanh thua lỗ, năm 2017 QNC đứng trên bờ vực

của sự phá sản, tuy vậy với sự cố gắng nỗ lực, đoàn kết của tập thể cán bộ công

nhân viên, chín tháng đầu năm 2018, QNC đã có bước hồi phục. Để duy trì và tiếp

tục phát huy những kết quả đạt được trong sản xuất kinh doanh chín tháng đầu năm

2018, phát huy truyền thống đoàn kết vượt qua thử thách, QNC đang không ngừng

hoàn thiện các quy định, quy trình nội bộ, bám sát vào các quy định của pháp luật

để ký kết và thực hiện các HĐTM phục vụ sản xuất kinh doanh, đưa QNC vượt qua

khó khăn, vững trãi đi lên trên con đường phát triển.

Trong chương 2, Luận văn đã giới thiệu khái quát về lịch sử hình thành và

phát triển của QNC, giới thiệu về quy mô, mô hình sản xuất kinh doanh của QNC

hiện nay, giới thiệu trình tự giao kết và thực hiện các HĐTM của QNC ở từng giai

đoạn phát triển, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay thông qua các lưu đồ, sơ đồ quy

trình cụ thể, từ đó đi sâu phân tích thực tiễn giao kết và thực hiện các loại HĐTM

tiêu biểu tại QNC đồng thời đề cập và phân tích các vấn đề pháp lý phát sinh trong

quá trình giao kết và thực hiện các HĐTM mua hàng hóa, dịch vụ, bán hàng hóa,

cung ứng dịch vụ, ủy thác xuất khẩu xi măng, clinke của QNC. Đồng thời có một sự

đánh giá tổng quan việc áp dụng các quy định pháp luật và các Quy định, quy trình

nội bộ của QNC trong việc giao kết và thực hiện các HĐTM với các đối tác.

66

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP THÚC NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC GIAO KẾT

VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XI

MĂNG VÀ XÂY DỰNG QUẢNG NINH

3.1. Định hướng phát triển của QNC và xu thế giao kết, thực hiện hợp đồng

thương mại tại QNC

QNC vừa kết thúc đợt phát hành thêm 12.000.000 cổ phiếu tăng vốn điều lệ từ

251.811.090.000 đồng lên 371.811.090.000 đồng. Với mục tiêu phát triển và mở

rộng sản xuất kinh doanh, trong mảng hoạt động sản xuất xi măng, QNC đang củng

cố cơ sở hạ tầng, đầu tư sửa chữa, nâng cấp thiết bị máy móc, dây chuyền sản xuất

để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm phục vụ ngày càng nhiều đơn hàng ủy

thác xuất khẩu lớn, tiến tới mở rộng thị trường xuất khẩu trực tiếp sản phẩm ra nước

ngoài đồng thời dần củng cố lại thị trường nội địa, mục tiêu là phân phối sản phẩm

của QNC rộng khắp các tỉnh thành và trực tiếp vươn ra khỏi biên giới quốc gia.

Trong lĩnh vực đầu tư cơ sở hạ tầng khu công nghiệp và khu dân cư, QNC vừa

nhận thực hiện giai đoạn hai của dự án mở rộng khu công nghiệp Cái Lân do UBND

tỉnh Quảng Ninh giao, QNC đang tập trung sửa chữa cải tạo đường giao thông,

mương thoát nước, vỉa hè giai đoạn 78 ha thuộc dự án đầu tư nâng cấp cải tạo hạ

tầng kỹ thuật và đổi mới quản lý, vận hành khu công nghiệp Cái Lân quy mô 245 ha

đồng thời đang chú trọng vào việc tham gia đầu tư các dự án chiến lược trên địa bàn

tỉnh Quảng Ninh.

Để thực hiện các định hướng sản xuất kinh doanh lớn này, dự báo QNC sẽ

phải tìm kiếm và mở rộng hơn nữa các quan hệ với các đối tác và thực hiện ngày

càng nhiều các hình thức đấu thầu, chào hàng, mời chào giá để ký kết các HĐTM

tốt nhất với mục tiêu mang lại tối đa lợi ích cho QNC. Mới đây, ngày 16/10/2018

QNC vừa phát hành thư mời chào giá cung cấp thạch cao nguyên liệu sản xuất xi

măng; ngày 19/10/2018 phát hành thư mời chào giá cung cấp dịch vụ vận chuyển xi

măng bao; ngày 05/11/2018 phát hành thư mời chào giá cung cấp vật tư, thiết bị,

phụ tùng và lắp đặt bơm cấp nước làm mát tại Nhà máy xi măng lam Thạch; ngày

05/11/2018 phát hành thư mời chào giá cung cấp các sản phẩm đúc hợp kim cho

Nhà máy xi măng lam Thạch... và chắc chắn còn tiếp tục nhiều thư mời chào giá,

67

thư chào hàng khác nữa. Kế tiếp những thư mời này sẽ là các HĐTM mua bán hàng

hóa, cung ứng và nhận cung ứng dịch vụ được hình thành. Có thể thấy, xu thế về

hình thức các HĐTM của QNC sẽ ngày càng đa dạng và số lượng các HĐTM của

QNC sẽ ngày càng lớn.

Ban lãnh đạo QNC đang tập trung toàn lực và chú trọng đến tất cả các hoạt

động phục vụ sản xuất kinh doanh, trong đó đặc biệt quan tâm đến một phần việc

quan trọng là giao kết và thực hiện các HĐTM để mua các hàng hóa máy móc thiết

bị, nguyên nhiên vật liệu phục vụ sản xuất, các hợp đồng nhận cung ứng các dịch vụ

để phục vụ sản xuất kinh doanh, cung ứng dịch vụ cho thuê đất, cơ sở hạ tầng kỹ

thuật khu công nghiệp; các hợp đồng bán xi măng, clinke phục vụ thị trường trong

nước và các hợp đồng ủy thác xuất khẩu, đồng thời tiến tới đăng ký và hoàn thiện

các thủ tục để thực hiện việc xuất khẩu trực tiếp sản phẩm xi măng và clinke Lam

Thạch. Trong tương lai không xa, các HĐTM nói chung trong đó có cả các hợp

đồng mua bán hàng hóa quốc tế sẽ được QNC ký kết và thực hiện ngày càng nhiều

hơn. Để bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình, QNC càng cần phải hoàn

thiện hơn nữa công tác giao kết và thực hiện HĐTM, thực hiện các giải pháp hữu

ích mà tác giải sẽ đề cập dưới đây để thúc đẩy hiệu quả của việc giao kết và thực

hiện các HĐTM.

Các quy trình, quy định nội bộ của QNC trong việc mua bán hàng hóa ngày

càng được hoàn thiện hơn vì thế các HĐTM mà QNC giao kết và thực hiện cũng

ngày càng chi tiết hơn, các quy định của pháp luật liên quan đến lĩnh vực HĐTM

được áp dụng triệt để hơn nhằm mang lại lợi ích cho QNC, giảm thiểu các rủi ro

phát sinh trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng. Tuy vậy, cho đến nay các

hợp đồng này vẫn còn khá nhiều điểm khuyết cần chỉnh sửa như tác giả đã phân tích

và cần thiết QNC phải rút ra bài học kinh nghiệm trong việc giao kết và thực hiện

các hợp đồng của mình, đảm bảo sự chặt chẽ và đồng bộ của tất cả các HĐTM.

68

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại tại

QNC

Để đưa QNC vượt qua khó khăn trong giai đoạn hiện nay, từng bước tìm lại đà

tăng trưởng và phát triển, một trong các nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là thúc đẩy

hiệu quả của việc giao kết và thực hiện HĐTM. Quan điểm định hướng của tác giả

đối với việc tìm ra các giải pháp thúc đẩy hiệu quả của việc giao kết và thực hiện

HĐTM tại QNC có một số điểm mấu chốt sau:

3.2.1 Tổng hợp đề xuất sửa đổi, bổ sung các điều khoản của hợp đồng thương

mại

Trong chương 2, tác giả đã đi sâu phân tích một số hợp đồng tiêu biểu thuộc

từng loại HĐTM cụ thể của QNC, đề xuất sửa đổi bổ sung các điều khoản chi tiết

nhằm giảm thiểu rủi ro cho QNC trong quá trình giao kết và thực hiện HĐTM, tại

mục này tác giả sẽ tóm tắt lại để làm nổi bật lên các ý kiến đề xuất hữu ích của

mình:

Đối với các hợp đồng mua hàng hóa, dịch vụ, QNC cần thiết đặt lại tên gọi

cho từng hợp đồng cụ thể hơn; để tìm kiếm nguồn hàng tốt nhất, cần thiết phải tổ

chức đấu thầu rộng rãi trên cả mạng Internet; khi ký kết hợp đồng, phải kiểm tra chi

tiết về tư cách pháp lý của đối tác, phải thỏa thuận rõ ràng về phương thức, địa điểm

giao hàng, phải tính đến tối đa các phương án dự phòng rủi ro; phải chú ý khi soạn

thảo các điều khoản có tính chất phòng ngừa. Về điều khoản phạt, cũng cần thiết

thỏa thuận về mức phạt phù hợp với quy định của pháp luật; đồng thời nên quy định

một thời gian nhất định cho thương lượng trước khi đưa tranh chấp ra Tòa án hoặc

Trọng tài để đảm bảo thời hiệu khởi kiện theo quy định.

Với các hợp đồng bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, QNC cần sửa đổi cụ thể

tên của các hợp đồng; đồng thời cần thận trọng tính đến tối đa các phương án dự

phòng rủi ro, lưu tâm đến các điều khoản về giá cả và điều chỉnh giá, điều khoản

thanh toán. Trong các hợp đồng bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, QNC cũng cần

thỏa thuận về mức phạt hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật để đảm bảo

ràng buộc đối tác thực hiện đúng thỏa thuận.

69

Tại các hợp đồng cho thuê đất Khu công nghiệp Cái Lân hiện nay, một vấn

đề nhức nhối, trăn trở của lãnh đạo QNC đó là điền khoản điều chỉnh giá, đặc biệt

đối với các hợp đồng có thời hạn nhiều năm. Để phù hợp và giảm thiểu rủi ro, QNC

nên viện dẫn Điều 420 BLDS 2015 về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh cơ bản

thay đổi để yêu cầu các đối tác thuê đất trong KCN Cái Lân đàm phán lại về giá cho

thuê của hợp đồng theo hướng có điều chỉnh hàng năm, tránh thiệt thòi cho QNC

như hiện nay. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 420 BLDS 2015 thì hoàn cảnh thay

đổi cơ bản khi có đủ các điều kiện sau: Sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân

khách quan xảy ra sau khi giao kết hợp đồng; Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các

bên không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh; Hoàn cảnh thay đổi lớn

đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được

giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác; Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà

không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên;

Bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho

phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức

độ ảnh hưởng đến lợi ích. Cũng tại Điều này, Khoản 2 quy định “Trong trường hợp

hoàn cảnh thay đổi cơ bản, bên có lợi ích bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu bên kia

đàm phán lại hợp đồng trong một thời hạn hợp lý”. Trường hợp các bên không thể

thỏa thuận được về việc sửa đổi hợp đồng trong một thời hạn hợp lý thì một trong

các bên có thể yêu cầu Tòa án giải quyết(Khoản 3 Điều 420 BLDS 2015). Như vậy,

QNC cần thiết phải viện dẫn điều này để điều chỉnh điều khoản về giá cả và điều

chỉnh giá trong tất cả các hợp đồng cho thuê đất trước đây của mình tại khu công

nghiệp Cái Lân.

Đối với các hợp đồng ủy thác xuất khẩu, nếu không thỏa thuận phù hợp về

điều khoản thời gian và tiến độ giao hàng thì sẽ dễ gây rủi ro cho QNC trong quá

trình thực hiện hợp đồng. Trên thực tế việc quy định mức phạt đối với QNC trong

các HĐTM bán hàng hóa, khi không đảm bảo tiến độ giao hàng, gây bất lợi cho

QNC bởi mức phạt không phải do hai bên thỏa thuận. Một vấn đề cần lưu ý nữa là

thỏa thuận về chuyển rủi ro trong các hợp đồng ủy thác xuất khẩu của QNC cũng

cần xem xét kỹ lưỡng, tránh mâu thuẫn. Đối với các thỏa thuận về điều khoản phạt

70

vi phạm, bồi thường thiệt hại trong các HĐTM bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ

của QNC cần được chỉnh sửa cho phù hợp với quy định chung và thực tiễn pháp lý

trong từng giai đoạn. LTM Việt Nam không cho phép đòi bồi thường thiệt hại mang

tính gián tiếp, vì thế trong các hợp đồng ủy thác xuất khẩu của QNC hiện nay, cần

phải sửa đổi lại cho phù hợp, bỏ quy định về thiệt hại gián tiếp để đảm bảo thực

hiện đúng quy định của pháp luật.

Về điều khoản giải quyết tranh chấp tại các HĐTM của QNC hiện nay cần

phải cụ thể hóa việc lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp, tác giả thiết nghĩ, QNC

nên chọn trọng tài để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ HĐTM và nếu lựa chọn

trọng tài thì nên sử dụng các điều khoản trọng tài mẫu của VIAC.

Đối với thỏa thuận về luật áp dụng, nếu HĐTM mà QNC ký kết là hợp đồng

ngoại thì QNC có thể thỏa thuận cụ thể ngay trong hợp đồng về việc áp dụng CISG

để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quá trình giao kết và thực hiện HĐTM

với đối tác.

3.2.2 Giải pháp sửa đổi bổ sung các quy trình, quy định của QNC liên quan đến

việc giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại

Các quy định, quy trình nội bộ của QNC hiện nay liên quan đến việc mua

hàng, bán hàng ... được tác giả cụ thể hóa bằng các sơ đồ, lưu đồ trình bày trong

phần 2.2 trên. Các quy trình này hiện đang tương đối phù hợp với thực tế mô hình

tổ chức sản xuất và yêu cầu sản xuất kinh doanh của QNC. Việc tuân thủ thực hiện

các quy trình, quy định này cũng đang được các phòng ban, cán bộ công nhân viên

QNC ưu tiên thực hiện, tuy nhiên cũng còn một số điểm trong quá trình áp dụng các

quy trình, tác giả cho rằng QNC cần chỉnh sửa bổ sung cho phù hợp hơn nữa để

đảm bảo ổn định sản xuất kinh doanh, từng bước đưa QNC vượt qua khó khăn, từng

bước phục hồi và phát triển.

Liên quan đến quy trình mua hàng hóa, dịch vụ: các lưu đồ hiện nay QNC

đang thực hiện bao gồm lưu đồ 2.2, 2.3, 2.4, 2.5, 2.6, 2.7, 2.8. Các lưu đồ này đã

phần lớn đáp ứng được yêu cầu thống nhất về cách thức cũng như trình tự mua hàng

hóa dịch vụ trong toàn QNC, tạo ra một hệ thống các hợp đồng được thiết lập theo

71

các bước quy chuẩn. Tuy nhiên tác giả cho rằng có một số điểm của quy trình cần

chỉnh sửa, bổ sung cho chặt chẽ hơn, phù hợp hơn, cụ thể:

Tại lưu đồ 2.2 (Lưu đồ thực hiện quy trình mua hàng), bước 7 giao cho phòng

Kinh tế vật tư đặt hàng/ký hợp đồng sau đó bước 8 là các phòng ban chuyên môn

làm thủ tục tạm ứng, thanh toán, giao nhận hàng, hoàn thiện hồ sơ. Có thể thấy

phòng Kinh tế vật tư QNC không thể trực tiếp ký hợp đồng mà phải trình người có

thẩm quyền ký kết, phòng Kinh tế vật tư chỉ có thể chủ trì việc soạn thảo hợp đồng,

tuy nhiên cũng cần có sự tham gia tích cực của các phòng ban, bộ phận liên quan

như kế toán, kỹ thuật, kinh doanh trong quá trình soạn thảo để tạo ra một bệ đỡ chắc

chắn cho hợp đồng. Vì vậy Lưu đồ này nên tách ra và bổ sung như sau: Tách bước 7

giao phòng Kinh tế vật tư chủ trì phối hợp với các phòng ban liên quan soạn thảo

hợp đồng; bước 8 trình Tổng giám đốc hoặc người được ủy quyền ký hợp đồng;

bước 9 các phòng ban chuyên môn làm thủ tục tạm ứng, thanh toán, giao nhận hàng,

hoàn thiện hồ sơ; bước 10 giao phòng Kinh tế vật tư chủ trì báo cáo Tổng giám đốc

tiến độ thực hiện hợp đồng.

Cũng như vậy, với bước 5 của lưu đồ 2.3 (Lưu đồ thực hiện quy trình mua hàng

phương thức chào hàng mức 2) và bước 7 của Lưu đồ 2.4 (Lưu đồ thực hiện quy trình

mua hàng phương thức chào hàng mức 3,4), QNC đang quy định phòng Kinh tế vật tư

và phòng liên quan phê duyệt và ký hợp đồng. Nên tách ra thành hai bước trong đó

giao cho phòng Kinh tế vật tư chủ trì phối hợp với các phòng ban liên quan soạn

thảo hợp đồng và sau đó mới trình Tổng giám đốc hoặc người được ủy quyền ký

hợp đồng, đồng thời giao phòng Kinh tế vật tư chủ trì báo cáo Tổng giám đốc tiến

độ thực hiện hợp đồng.

Các lưu đồ: Lưu đồ 2.5 (Lưu đồ quy trình quản lý thực hiện hợp đồng nguyên,

nhiên liệu); lưu đồ 2.6 (Lưu đồ quy trình quản lý thực hiện hợp đồng thiết bị, vật tư

phụ); lưu đồ 2.7 (Lưu đồ quy trình quản lý thực hiện hợp đồng dịch vụ công

nghiệp); lưu đồ 2.8 (Lưu đồ quy trình quản lý thực hiện hợp đồng ngoại thương),

đều có điểm chung đó là bước cuối cùng là bước thanh toán, tuy nhiên theo tác giả,

QNC cần thiết nghiên cứu và triển khai một bước quan trọng hơn đó là bước chủ trì

tham mưu giải quyết các tranh chấp phát sinh (nếu có) đối với từng loại hợp đồng.

72

Liên quan đến quy trình bán hàng hóa, hiện nay QNC đang thực hiện lưu đồ

2.1 (Lưu đồ hướng dẫn lựa chọn Nhà phân phối và ký hợp đồng bán hàng), trong lưu

đồ này, tại bước đề nghị ký hợp đồng, QNC giao cho phòng Kinh doanh soạn dự thảo

hợp đồng và trực tiếp trình Phó tổng giám đốc phụ trách kinh doanh hoặc Tổng giám

đốc ký. Nếu thực hiện theo quy trình này thì hợp đồng bán hàng hóa, cung ứng dịch

vụ của QNC có thể thiếu giá đỡ sàng lọc về các vấn đề liên quan đến kế toán, kỹ

thuật, pháp lý của hợp đồng. Vì vậy tác giả cho rằng cần thiết phải bổ sung vào

bước này trách nhiệm phối hợp của các phòng ban Tài chính kế toán, KCS, pháp

chế (nếu có) với phòng Kinh doanh trong việc soạn thảo hợp đồng bán hàng hóa.

Nhìn chung, hiện nay QNC đã xây dựng được các quy trình, quy định liên

quan đến việc giao kết và thực hiện HĐTM. Các quy trình, quy định này về cơ bản

đã đáp ứng được phần lớn các yêu cầu, đảm bảo sự chặt chẽ hơn của các HĐTM so

với trước đây, tuy nhiên cần thiết phải tập trung hơn nữa, chi tiết hơn nữa về bước

quy định việc tham gia soạn thảo, tham mưu ký kết thực hiện hợp đồng. Với các

HĐTM có giá trị cho mỗi đơn hàng hoặc giá trị hợp đồng lớn hơn 500 triệu đồng và

nhỏ hơn, bằng, trên 2 tỷ đồng, trong khi chờ đợi thực hiện được giải pháp thành lập

phòng pháp chế, QNC nên nhờ tư vấn pháp lý từ phía các chuyên gia, các Luật sư,

các công ty Luật... để đảm bảo sự chặt chẽ trong quá trình giao kết và thực hiện

HĐTM có giá trị lớn.

Trong các quy trình của QNC hiện nay, cần thiết phải bổ sung một bước quan

trọng đó là bước giải quyết các hậu quả pháp lý (nếu có) khi xảy ra tranh chấp trong

quá trình thực hiện các HĐTM trong đó quy định cụ thể, phân công trách nhiệm của

các cá nhân, phòng ban liên quan đến việc giải quyết tranh chấp trên tinh thần ưu

tiên tìm các biện pháp thương lượng, hòa giải.

Việc QNC có định hướng xuất khẩu trực tiếp sản phẩm xi măng và clinke ra

nước ngoài cũng cần phải có công tác chuẩn bị kỹ lưỡng các điều kiện về, thủ tục

pháp lý, nghiên cứu và tìm kiếm thị trường phù hợp, tuyển dụng và đào tạo nguồn

nhân lực ... và nhất là phải xây dựng một quy trình xuất khẩu trực tiếp trong đó đặc

biệt chú trọng đến bước soạn thảo hợp đồng xuất khẩu (cả bằng ngôn ngữ Việt Nam

và ngôn ngữ quốc tế), bước đàm phán, ký kết và bước thực hiện hợp đồng, giải

73

quyết các vấn đề pháp lý phát sinh trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng

xuất khẩu. Trường hợp cần thiết, QNC nên có tư vấn pháp luật từ các chuyên gia

như Luật sư, các công ty Luật... có uy tín trước khi ký kết và thực hiện hợp đồng

xuất khẩu sản phẩm.

3.2.3 Khảo sát kỹ thị trường và chuẩn bị các điều kiện, kế hoạch trước khi giao

kết và thực hiện hợp đồng thương mại

Như tác giả đã đề cập, trước những năm đầu thập niên 10 của thế kỷ XXI,

QNC đa phần ký HĐTM với các bạn hàng truyền thống, đối tác thường là những

đối tác tin cậy, thông tin về đối tác được QNC nắm chắc, tập quán và thói quen

thương mại được các bên hiểu rõ, mặt khác số lượng các giao dịch thương mại chưa

nhiều, vì thế công tác khảo sát thị trường trước khi giao kết và thực hiện các HĐTM

cũng chưa được chú trọng.

Ngày nay với nhu cầu mở rộng sản xuất, thị trường hàng hóa dịch vụ có tính

cạnh tranh cao vì vậy trước khi giao kết và thực hiện HĐTM, QNC cần tập trung

khảo sát kỹ lưỡng về thị trường để tìm những nguồn hàng chất lượng tốt nhất, phù

hợp nhất, giá thành hợp lý nhất. Việc chào giá, mời chào giá nhằm mục tiêu tìm

kiếm nguồn hàng và khách hàng đảm bảo tối ưu về chất lượng, giá thành, dịch vụ...

cho QNC.

Mặt khác, số lượng đối tác đang ngày càng nhiều và đa dạng hơn, trên thị

trường, bên cạnh những đối tác đáng tin cậy còn có rất nhiều các doanh nghiệp

“ma” (pháp nhân không hợp pháp, không có tư cách pháp nhân; địa chỉ “ma”, chủ

thể ký kết không đủ thẩm quyền...), họ có thể khiến QNC gặp phải những rủi ro

không đáng có khi giao kết và thực hiện HĐTM. Vì thế việc tìm kiếm thông tin về

các đối tác thực sự rất cần thiết, giúp QNC phòng ngừa các rủi ro liên quan đến tư

cách pháp lý của đối tác và người đại diện ký kết.

Một sự chuẩn bị cần thiết nữa đó là: Khi giao dịch HĐTM, QNC phải chuẩn bị

đầy đủ hơn nữa các điều kiện về nhân lực, vật lực (người giao nhận hàng hóa, kho

chứa hàng hóa, các phương tiện thử nghiệm hàng hóa, nguồn tài chính để chi trả với

các hợp đồng mua hàng hóa, nhận cung ứng dịch vụ...), lập kế hoạch chi tiết để thực

74

hiện hợp đồng như kế hoạch giao nhận hàng hóa, vận chuyển xếp dỡ, đặc biệt là kế

hoạch thanh toán... để tránh tối đa các phát sinh tranh chấp phải viện dẫn đến Toà

án hoặc Trọng tài như hai vụ việc tác giả đã nêu lên ở phần 2.4 trên, làm ảnh hưởng

đến uy tín của QNC, đồng thời QNC cần chuẩn bị sẵn sàng tất cả các phương án

ứng phó đối với các rủi ro thể xảy ra từ việc giao kết và thực hiện từng HĐTM.

3.2.4 Gải pháp đào tạo nguồn nhân lực

Công tác đào tạo nguồn nhân lực là một yêu cầu cấp thiết để phục vụ tốt các

hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung. Riêng với công tác soạn thảo, ký kết,

thực hiện các HĐTM, rất cần thiết phải có một đội ngũ cán bộ vững vàng về kiến

thức chuyên môn, am hiểu sâu và cập nhật kịp thời các quy định của pháp luật trong

lĩnh vực thương mại và các lĩnh vực liên quan, có kỹ năng soạn thảo tốt, khả năng

đàm phán tốt và đặc biệt tham mưu tốt cho lãnh đạo trong suốt quá trình giao kết và

thực hiện từng HĐTM của QNC.

Hiện nay, QNC không thiếu các cán bộ quản lý kỹ thuật lành nghề, các công

nhân viên vận hành bảo dưỡng tốt dây chuyền sản xuất để sản xuất ra sản phẩm,

nhưng các cán bộ quản lý giỏi, am hiểu về pháp luật hợp đồng và thị trường hàng

hóa dịch vụ để mua, bán sản phẩm hàng hóa thì không nhiều, thậm chí còn rất thiếu.

QNC cần khẩn trương tuyển chọn và có kế hoạch đào tạo các cán bộ trẻ, có

tiềm năng, có trình độ hiểu biết về luật pháp, ngoại ngữ… có các kiến thức cần thiết

về thị trường hàng hóa dịch vụ để tham mưu, giúp việc trong lĩnh vực HĐTM.

Để thực hiện phương án đào tạo nguồn nhân lực đủ tâm, đủ tầm phục vụ hoạt

động sản xuất kinh doanh của QNC, đảm bảo có được đội ngũ cán bộ được đào tạo

bài bản phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh đặc biệt trong lĩnh vực giao dịch

thương mại thì Lãnh đạo QNC cần xem xét cử một số cán bộ của mình tham gia các

kháo đào tào chuyên sâu như khóa đào tạo Thạc sỹ luật kinh tế của Trường Đại học

Ngoại thương hay các khóa đào tạo của các trường kinh tế, các trường luật hiện nay.

Về phía cá nhân từng cán bộ nhân viên QNC cũng cần thiết không ngừng học

hỏi, tự trau dồi nâng cao kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm làm việc, tự học tập,

nghiên cứu để tự tin, chắc chắn các vấn đề khi tham gia vào qua trình giao kết và

75

thực hiện HĐTM, cùng chung tay đoàn kết đưa QNC vượt qua khó khăn, phục hồi

trở lại và vững bước phát triển.

3.2.5 Thành lập bộ phận hoặc phòng Pháp chế trong đó có nhân lực chuyên môn

hóa về Luật kinh tế

Để tham mưu, giúp việc cho lãnh đạo QNC trong việc giao kết và thực hiện

các HĐTM, rất cần thiết thành lập một bộ phận, hoặc phòng pháp chế chuyên

nghiên cứu sâu các quy định của pháp luật nói chung, trong đó có các quy định liên

quan pháp luật thương mại Việt Nam, quy định của pháp của các nước đối tác, các

Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên để từ đó tham mưu cho lãnh đạo QNC

trong việc ký kết và thực hiện các HĐTM.

Bộ phận hoặc phòng pháp chế của QNC sẽ là cơ quan thường trực cùng với

các phòng ban chuyên môn giải quyết các tranh chấp thương mại phát sinh (nếu có)

thông quan thương lượng, hòa giải.

Trường hợp có phát sinh các tranh chấp phải giải quyết trước tòa án hoặc

trọng tài thì bộ phận hoặc phòng pháp chế của QNC sẽ là đơn vị chuyên môn tập

trung thu thập, phân tích các chứng cứ, tham mưu giúp QNC thắng kiện, bảo vệ

quyền và lợi ích hợp pháp cho QNC.

Bộ phận pháp chế của QNC phải bao gồm những nhân lực được đào tạo bài

bản theo ngành Luật, có chuyên môn sâu về các chuyên ngành Luật, có hiểu biết

rộng về các lĩnh vực, có trình độ ngoại ngữ giỏi, chịu khó trau dồi kiến thức và kỹ

năng làm việc theo ngành ... có như vậy mới tham mưu giúp việc tốt cho lãnh đạo

QNC trong quá trình tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh trong đó có các hoạt

động thương mại.

Trong mỗi doanh nghiệp, việc hiểu biết pháp luật đóng vai trò rất quan trọng

trong các hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và các hoạt động thương mại nói

riêng. Những doanh nghiệp có riêng một bộ phận pháp chế tốt, chuyên đi sâu

nghiên cứu luật pháp và tư vấn tham mưu kịp thời cho lãnh đạo doanh nghiệp sẽ tự

tin và an tâm hơn khi tham gia ký kết và thực hiện các HĐTM và tổ chức hoạt động

sản xuất kinh doanh, từ đó doanh nghiệp cũng phát triển bền vững hơn. Vì thế ngày

76

nay, ngày càng nhiều doanh nghiệp, tập đoàn lớn thành lập riêng một bộ phận pháp

chế (Ban pháp chế, phòng pháp chế).

Với xu thế này, QNC nên sớm quan tâm thành lập bộ phận pháp chế riêng cho

mình để xem xét, đánh giá và tư vấn các vấn đề về pháp lý trong hoạt động sản xuất

kinh doanh, đặc biệt các vấn đề pháp lý trước khi giao kết và thực hiện các loại

HĐTM.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

Chủ chương của lãnh đạo QNC hiện nay là tập trung tối đa các nguồn lực cho

sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu ổn định và phát triển sản xuất kinh doanh, củng

cố uy tín và thương hiệu QNC trên thị trường. Từ mục tiêu đó, QNC ngày càng thu

hút được nhiều bạn hàng lớn, đáng tin cậy, số lượng các giao dịch thương mại của

QNC không ngừng tăng. Năm 2018, QNC đã ký tổng cộng 115 hợp đồng mua hàng

hóa, trang thiết bị, nguyên nhiên vật liệu đầu vào, dịch vụ đồng thời ký kết 25 hợp

đồng cung ứng dịch vụ, bán hàng hóa, ủy thác xuất khẩu trong đó các các hợp đồng

mang tính nguyên tắc cho cả năm sản xuất kinh doanh. Số lượng HĐTM của QNC

tiếp tục có xu thế tăng lên vào năm 2019.

Để thực hiện thành công các HĐTM đã và sẽ ký kết, QNC cần có các giải

pháp cụ thể. Trong chương 3, Luận văn đã giới thiệu khái quát về QNC. Cuối cùng

đưa ra và phân tích các giải pháp QNC cần thực hiện để thúc đẩy hiệu quả của việc

giao kết và thực hiện các HĐTM.

Trong các nhóm giải pháp này, trước hết phải kể đến là việc khảo sát kỹ thị

trường và chuẩn bị các điều kiện, kế hoạch trước khi giao kết và thực hiện HĐTM;

tiếp theo QNC cần hoàn thiện các quy định, quy trình liên quan đến việc giao kết và

thực hiện các HĐTM. Bên cạnh đó. QNC cần đào tạo được nguồn nhân lực đủ vững

vàng về kiến thức, đặc biệt các kiến thức pháp luật, đủ trình độ về mọi mặt để đáp

ứng yêu cầu ngày càng cao trong việc ký kết và thực hiện các HĐTM. Một giải

pháp quan trọng và căn bản nhất mà tác giả muốn đề cập ở chương 3 này là giải

pháp thành lập một bộ phận hoặc phòng ban pháp chế, chuyên nghiên cứu và tham

mưu giúp việc cho lãnh đạo QNC về các vấn đề pháp lý trong đó đặc biệt là các vấn

77

đề pháp lý liên quan đến việc giao kết và thực hiện các HĐTM. Đây là những giải

pháp tác giả cho rằng thực sự căn bản và cần thiết để QNC có thể vươn lên khẳng

định uy tín và thương hiệu trên thị trường, từng bước củng cố và phát triển sản xuất

kinh doanh.

78

KẾT LUẬN

Cùng với sự phát triển theo xu hướng ổn định của hệ thống pháp luật, các

doanh nghiệp ngày càng chú trọng đến các vấn đề pháp lý trong quá trình giao kết

và thực hiện HĐTM, việc giao kết và thực hiện các HĐTM của QNC cũng vì thế

mà cần phải tiệm cận tới sự hoàn thiện và chặt chẽ hơn.

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, Luận văn đã khái quát các vấn đề chung

về giao kết và thực hiện HĐTM, phân tích khái niệm, đặc điểm, các điều kiện và

trình tự giao kết các HĐTM; trình bày các nguyên tắc giao kết và thực hiện các

HĐTM; phân tích các hậu quả pháp lý của việc vi phạm HĐTM từ đó nêu rõ trách

nhiệm pháp lý của các chủ thể tham gia. Bằng quan điểm tích cực và tư duy biện

chứng, dựa vào những kiến thức đã học và kinh nghiệm thực tiễn, tác giả tư vấn một

số kỹ năng đàm phán, soạn thảo, ký kết và thực hiện HĐTM giúp giảm thiểu rủi ro

cho các doanh nghiệp.

Từ thực tiễn giao kết và thực hiện HĐTM tại QNC, tác giả rút ra được các vấn

đề pháp lý phát sinh trong quá trình giao kết và thực hiện các HĐTM trong từng

lĩnh vực mua hàng hóa, dịch vụ, bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, ủy thác xuất khẩu

hàng hóa của QNC, nêu bật các tồn tại mà hiện nay QNC đang mắc phải và chưa

nhìn nhận ra trong quá trình giao kết và thực hiện HĐTM, đồng thời cũng tham vấn

cho QNC những ý kiến xác đáng nhằm mục tiêu giúp lãnh đạo QNC kịp thời điều

chỉnh để tránh các rủi ro trong quá trình giao kết và thực hiện các HĐTM với các

đối tác.

Tổng kết, đánh giá việc áp dụng các quy định pháp luật, các quy định, quy

trình nội bộ liên quan đến giao kết và thực hiện HĐTM tại QNC một lần nữa giúp

QNC rà lại các HĐTM của mình, đối chiếu với các quy định pháp luật đồng thời rà

lại sự hợp lý giữa các quy định, quy trình nội bộ với các HĐTM mà QNC đã, đang

và sẽ ký kết, kịp thời chỉnh sửa lại cho phù hợp với thực tiễn giao kết và thực hiện

HĐTM nói chung.

Trên cơ sở những vấn đề đã nêu, tác giả đề xuất, kiến nghị thực hiện các giải

pháp thúc đẩy hiệu quả của việc giao kết và thực hiện HĐTM của QNC trong đó

79

định hướng giải quyết các vấn đề pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

của QNC trong từng thương vụ.

Một trong những bài học sương máu cho QNC trên chặng đường phát triển

trước đây là chưa xem trọng giá trị của việc soạn thảo, giao kết và thực hiện

HĐTM, điều này góp phần tăng nguy cơ đẩy QNC đến bên bờ vực phá sản. Tác giả

cho rằng, với tốc độ phát triển của các doanh nghiệp và của nền kinh tế thị trường

hiện nay, nếu QNC không kịp thời điều chỉnh những bất cập của mình trong lĩnh

vực giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại, QNC có nguy cơ sẽ tiếp tục gặp

phải những rủi ro ngày càng lớn trong hoạt động thương mại, ảnh hưởng nghiêm

trọng đến khả năng tồn vong và phát triển trong tương lai.

Đối với một doanh nghiệp địa phương như QNC thì vấn đề nghiên cứu này

đặc biệt hữu ích khi tổng thể các HĐTM được soạn thảo, ký kết và thực hiện chặt

chẽ hơn, QNC sẽ tránh được nhiều rủi ro trong quá trình ký kết và thực hiện các

HĐTM (đa phần các HĐTM của QNC ở mỗi lĩnh vực như tác giả phân tích ở

chương 2 đều có các điều khoản giống nhau, cùng một quy trình ký kết và thực

hiện).

Đã đến lúc, các chủ nhân của QNC là các cổ đông, ban lãnh đạo, cán bộ công

nhân viên QNC cần nhìn nhận lại vấn đề, tham khảo ý kiến tư vấn của các chuyên

gia và ý kiến đề xuất trên đề tài của tác giả để định hướng đi mới, chắc chắn hơn, an

toàn hơn, hiệu quả hơn cho các HĐTM trong quá trình hoạt động sản xuất kinh

doanh.

Phạm vi về nội dung nghiên cứu của đề tài là tất cả các loại HĐTM nên được

coi là rộng đối với một đơn vị nhưng về phạm vi không gian mới chỉ trên quy mô

một doanh nghiệp nên chưa thực sự rộng như quy mô một ngành sản xuất kinh

doanh. Đề tài là một vấn đề khá hấp dẫn nếu tiếp tục được phát triển nghiên cứu

trên quy mô ngành xi măng hoặc rộng hơn nữa là quy mô các ngành công nghiệp

khác. Tác giả tin chắc rằng nếu được nghiên cứu ở phạm vi không gian rộng hơn

như vậy thì sẽ còn nhiều bài học kinh nghiệm quý báu được rút ra, giúp các doanh

80

nghiệp lớn như các Tập đoàn, các Tổng công ty tránh được các tranh chấp phát sinh

trong quá trình giao kết và thực hiện các HĐTM.

Nhiệm vụ của đề tài là nghiên cứu thực tiễn giao kết và thực hiện các HĐTM

mua, bán hàng hóa, dịch vụ của QNC. Tuy nhiên còn có rất nhiều vấn đề quan trọng

trong các HĐTM của QNC cần được đề cập và nghiên cứu sâu hơn nữa như việc

nghiên cứu các quy định liên quan đến bảo hành, bảo hiểm hàng hóa trong HĐTM;

các điều khoản liên quan đến cơ chế giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình

thực hiện HĐTM; các điều khoản thanh toán, các điều khoản vận tải hàng hóa quốc

tế... Đặc biệt khi tương lai không xa QNC trực tiếp xuất khẩu sản phẩm không qua

ủy thác thì còn cần nghiên cứu rất nhiều quy định của pháp luật việt Nam và Luật

quốc tế về các vấn đề liên quan đến xuất khẩu hàng hóa.

Với quy mô của bản Luận văn này, tác giả mới chỉ đề cập được những lý luận

cơ bản về giao kết và thực hiện HĐTM đồng thời mới chỉ đề cập được một số vấn

đề tiêu biểu trong giao kết và thực hiện HĐTM tại QNC, chưa thể đề cập hết được

tất cả các khía cạnh lý luận của HĐTM nói chung và tất cả các khía cạnh thực tế

giao kết và thực hiện HĐTM của QNC nói riêng. Tác giả rất mong nhận được sự

tham gia góp ý, bổ sung của các thầy cô giảng viên, các học viên, đồng nghiệp và

các cán bộ nhân viên của QNC để Đề tài này hoàn thiện hơn.

Xin trân trọng cám ơn ./.

81

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

TIẾNG VIỆT

1. Bộ Tư pháp, Những điều cần biết về ký kết và thực hiện hợp đồng dân sự

(Theo Bộ luật Dân sự hiện hành năm 2015), NXB Chính trị Quốc gia – Sự

thật, 2017

2. Bộ Tư pháp, 9 biện pháp bảo đảm nghĩa vụ hợp đồng (quy định thực tế và

thiết kế giao dịch theo Bộ luật Dân sự năm 2015), NXB Chính trị Quốc gia –

Sự thật, 2017

3. Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh, Quy định chức năng

nhiệm vụ các phòng ban đơn vị trực thuộc Công ty, Quảng Ninh 2018

4. Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh, Quy trình mua hàng -

QT24, Quảng Ninh 2018

5. Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh, Quy trình bán hàng - QT

7.2.01, Quảng Ninh 2016

6. Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh, Quy trình quản lý kho vật

tư – QT 7.4.03A, Quảng Ninh 2016

7. Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh, Quy trình quản lý kho

nguyên nhiên liệu – QT 7.4.03B, Quảng Ninh 2016

8. Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh, Báo cáo thường niên năm

2015, Quảng Ninh 2015

9. Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh, Báo cáo thường niên năm

2016, Quảng Ninh 2016

10. Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh, Báo cáo thường niên năm

2017, Quảng Ninh 2017

11. Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh, Báo cáo tài chính riêng và

hợp nhất quý 3 năm 2018, Quảng Ninh 2018

82

12. Nguyễn Như Chính, Pháp luật về dịch vụ thương mại pháp lý - những vấn đề

lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ Luật học, trường Đại học Luật Hà Nội,

Hà Nội năm 2011

13. Phạm Hoàng Giang, Quyền tự do hợp đồng trong hoạt động thương mại ở Việt

Nam - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án Tiến sĩ Luật học, trường Đại

học Luật Hà Nội, Hà Nội năm 2007

14. Nguyễn Minh Hằng, Pháp luật kinh doanh quốc tế, NXB Đại học Quốc gia Hà

Nội, 2010

15. Nguyễn Minh Hằng và cộng sự, Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương

mại quốc tế, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014

16. Nguyễn Minh Hằng, Slide bài giảng Hợp đồng thương mại, Hợp đồng thương

mại Quốc tế - Kỹ năng đàm phán, phòng ngừa rủi ro, Tài liệu giảng dạy lớp

bổ sung kiến thức cao học Luật Kinh tế, 2018

17. Nguyễn Minh Hằng, 101 câu hỏi - đáp về CISG, NXB Thanh niên, 2016

18. Vũ Phương Huyền, Hợp đồng mua bán hàng hóa và thực tiễn áp dụng tại

Công ty cổ phần hóa dầu Petrolimex, Khóa luận Luật học, trường Đại học

Kinh tế quốc dân, K45

19. Phạm Duy Nghĩa, Giáo trình Luật Kinh tế, NXB Công an Nhân dân, Hà Nội,

2010

20. Nguyễn Thị Mơ, Giáo trình pháp luật trong hoạt động kinh tế đối ngoại, tái

bản lần 5, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012

21. Hoàng Thế Liên, Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự 2005 (tập II) Phần thứ

ba: Nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự, Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư

pháp, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2013

22. Phạm Thị Lan Phương, Hợp đồng mua bán hàng hóa từ lý thuyết đến thực tiễn

áp dụng tại Công ty TNHH IPC, Khóa luận Luật học, trường Đại học kinh tế

quốc dân năm, Hà Nội năm 2006

83

23. Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13

ngày 24 tháng 11 năm 2015, 2015

24. Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Luật Thương mại số

36/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005, 2005

25. Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Luật Trọng tài thương mại số

54/2010/QH12 ngày 17 tháng 06 năm 2010, 2010

26. Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Luật quản lý ngoại thương số

05/2017/QH14 ngày 12 tháng 6 năm 2017, 2017

27. Nguyễn Quang Tuyến, Tìm hiểu về Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa,

XNB Chính trị quốc gia - sự thật, 20183

28. Nguyễn Hợp Toàn, Giáo trình Pháp luật kinh tế, NXB Đại học Kinh tế quốc

dân, Hà Nội 2016

29. Nguyễn Văn Thoan, Ký kết và thực hiện Hợp đồng điện tử trong điều kiện Việt

Nam hội nhập kinh tế quốc tế, Luận án Tiến sĩ Luật học, trường Đại học Ngoại

thương, Hà Nội năm 2010

30. Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh, Quyết định công nhận

sự thỏa thuận của các đương sự số 10/2018/QĐST-DS, Quảng Ninh năm 2018

31. Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh, Quyết định công nhận

sự thỏa thuận của các đương sự số 11/2018/QĐST-DS, Quảng Ninh năm 2018

32. Vũ Tươi, Luật doanh nghiệp – Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa – Luật

Thương mại và chính sách ưu đãi hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, XNB Lao

động, 2018

33. VCCI & DANIDA, Cẩm nang Hợp đồng thương mại, 2010

34. VCCI, Cẩm nang văn bản pháp luật dành cho doanh nhiệp - phiên bản 3.0,

2015

84

1.

International Chamber of Commerce - ICC, Incorterm 2010

TIẾNG ANH

International Chamber of Commerce - ICC, Incorterm 2000

2.

3. West Group (2009), Black's Law Dictionary, 9th Edition, West Publishing Co.

1991

4. William J.Robert, N.Cerley, Essel R.Dullavou, Chartles G.Hawrd - Principles

of Business Law, 8th Edition - Prentice Hall, pp.109.

WEBSITE

1. VietAnLaw, Soạn thảo hợp đồng thương mại, tại địa chỉ

https://luatvietan.vn/soan-thao-hop-dong-thuong-mai.html, truy cập 2018.

2. Lê Minh Tường, Mẫu hợp đồng dịch vụ tư vấn pháp lý thường xuyên, tại địa

chỉ: https://luatminhkhue.vn/bieu-mau-luat-doanh-nghiep/mau-hop-dong-dich-

vu-tu-van-phap-ly-thuong-xuyen.aspx, truy cập ngày 28/07/2017

3. Luật Trí Nam, Hợp đồng kinh doanh thương mại, tại địa chỉ:

http://luat247.vn/Hop-dong-kinh-doanh-thuong-mai-3A922FBA.html, Truy

cập 02/2/2018

4. Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh, Lịch sử công ty, tại địa chỉ

http://www.qncc.vn/Desktop.aspx/GioiThieu/Lich-su/Lich_su_Cong_ty/v,

truy cập ngày 11/01/2018.

5. Doanh nhân Sài gòn online, Hình thức của hợp đồng kinh doanh - yếu tố

không nên xem nhẹ, tại địa chỉ http://www.doanhnhansaigon.vn/chuyen-lam-

an/hinh-thuc-cua-hop-dong-kinh-doanh-yeu-to-khong-nen-xem-nhe-

1005537.html, truy cập ngày 30/7/2009

85

PHỤ LỤC

1. Hợp đồng kinh tế Số 85/HĐKT - QNC – LBC, Quảng Ninh 2017 - Công ty cổ

phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh

2. Hợp đồng mua bán máy phân tích số 139/HĐKT-QNC-LEEON, Quảng Ninh

2018 - Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh

3. Hợp đồng Mua bán Vỏ bao xi măng KPK 3 lớp Số78/HĐKT - QNC – BBHT,

Quảng Ninh 2017 - Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh

4. Hợp đồng mua bán số 151/QNC-PINGXIANG, Quảng Ninh 2018 - Công ty cổ

phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh

5. Hợp đồng kinh tế Số: 00/HĐXM/QNC – CTTĐ, Quảng Ninh 2018 - Công ty

cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh

6. Hợp đồng kinh tế Số: 01/HĐCLK/QNC – TT, Quảng Ninh 2018 - Công ty cổ

phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh

7. Hợp đồng số 15/20007/HĐTLĐ-BQL, Quảng Ninh 2007 - Công ty cổ phần xi

măng và xây dựng Quảng Ninh

8. Hợp đồng cho thuê lại đất tại Khu công nghiệp Cái Lân - Hạ Long - Quảng

Ninh số 27/2010/HĐTLĐ-BQL, Quảng Ninh 2010 - Công ty cổ phần xi măng

và xây dựng Quảng Ninh

9. Hợp đồng số 06/2015/TCHC-QNCC, Quảng Ninh 2015 - Công ty cổ phần xi

măng và xây dựng Quảng Ninh

10. Hợp đồng số 05/HĐKT-QNC-AĐ, Quảng Ninh 2018 - Công ty cổ phần xi

măng và xây dựng Quảng Ninh

11. Hợp đồng ủy thác xuất khẩu số UTXK CLK 10: QNC-TTP, 2018 - Công ty cổ

phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh

12. Hợp đồng ủy thác xuất khẩu số 01/2018/UTXK-CEM/QNC-TTP, Quảng Ninh

2018 - Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh

86

Sơ đồ 2.2: Sơ đồ quy trình bán hàng

Tiếp nhận và xử lý đơn hàng Phòng Kinh doanh Bước 1

Phòng Kinh doanh Bước 2

Duyệt lệnh giao hàng

Lập phiếu yêu cầu giao hàng Phòng Kinh doanh Bước 3

Xác báo vận tải Phòng Kinh doanh Bước 4

Phòng Kinh doanh

Bước 5 Phòng An ninh Lập phiếu xuất hàng, Thông tin phương tiện vận tải nhận hàng

kiểm soát

Phòng Kinh doanh

Bước 6 Phòng Kinh tế vật Đo mớn tàu, cân xe trước xuất hàng, xuất hàng theo phiếu tư

Phòng Kinh doanh

Bước 7 Phòng Kinh tế vật Đo mớn tàu, cân xe trước và sau xuất hàng, lập phiếu báo cấp bù vỏ bao tư

Phòng Tài chính kế

toán, Phòng Kinh In hóa đơn, phiếu xuất, kiểm tra theo hóa đơn hoặc phiếu xuất Bước 8 doanh

Kiểm soát vùng phân phối, xử lý khiếu nại của khách hàng Bước 9

Phòng Kinh doanh

87

Lưu đồ 2.1: Lưu đồ hướng dẫn lựa chọn Nhà phân phối và ký hợp đồng bán

hang

Khách hàng, Phòng

Kinh doanh Đề nghị phân phối theo địa bàn

Không đạt

Phòng Kinh doanh

Đánh giá, đề xuất, lựa chọn nhà phân phối

Phó tổng giám đốc Không đạt

Phê duyệt phụ trách bán hàng,

Tổng giám đốc

Phòng Kinh doanh Đề nghị ký hợp đồng

dự thảo hợp đồng

Không đạt Phó tổng giám đốc

phụ trách bán hàng, Phê duyệt/Ký hợp đồng Tổng giám đốc

Phòng Kinh doanh

Khách hàng

Phòng Tài chính kế Thực hiện hợp đồng

Không đạt

toán

88

Lưu đồ 2.2: Lưu đồ thực hiện quy trình mua hàng

Các Phòng ban có

đề xuất mua hàng Bước 1 Phòng ban phát sinh nhu cầu mua hàng lập đề nghị mua hàng

Phó tổng giám đốc

hoặc Trợ lý tổng Phê duyệt giám đốc phụ trách Bước 2

khối sản xuất

Phòng Kinh tế vật Phát hành thư mời chào hàng

tư Bước 3

Phòng Kinh tế vật Tiếp nhận Hồ sơ chào hàng tư Bước 4

Ban quản lý giá,

Bước 5 Các Phòng ban Mở thầu, lập đề xuất chọn thầu, đàm phán với nhà cung cấp

chuyên môn

Ban quản lý giá;

Tổng giám đốc hoặc

Bước 6 Trợ lý tổng giám Phê duyệt lựa chọn Nhà cung cấp

đốc phụ trách khối

sản xuất

Phòng Kinh tế vật Đặt hàng/ Ký Hợp đồng tư Bước 7

Các Phòng ban

chuyên môn Bước 8 Tạm ứng, thanh toán/Giao hàng/Hoàn thiện hồ sơ quyết toán

89

Lưu đồ 2.3: Lưu đồ thực hiện quy trình mua hàng phương thức chào hàng

mức 2

Kế hoạch mua hàng Phòng Kinh tế vật Bước 1 tư, Khối sản xuất Đề nghị mua hàng

Phòng Kinh tế vật Đề nghị chào giá

tư Bước 2

Phòng Kinh tế vật Tiếp nhận báo giá Bước 3 tư

Phòng Kinh tế vật Bước 4 Mở hồ sơ chào giá, Đánh giá, lập đề nghị phê duyệt nhà cung cấp tư, Phòng liên quan

Bước 5 Phòng Kinh tế vật

tư, Phòng liên quan Phê duyệt, ký hợp đồng

Phòng Kinh tế vật Bước 6 tư, Phòng liên quan Thực hiện hợp đồng/tiếp nhận hàng hóa/nghiệm thu/thanh toán

90

Lưu đồ 2.4: Lưu đồ thực hiện quy trình mua hàng phương thức chào hàng

mức 3,4

Phòng Kinh tế vật Kế hoạch mua hàng

tư, Khối Sản xuất Bước 1 Đề nghị mua hàng

Tổng giám đốc,

Phê duyệt Bước 2 Trợ lý Tổng giám

đốc phê duyệt

Phòng Kinh tế vật

Bước 3 tư và các phòng

Lập hồ sơ yêu cầu, hồ sơ mời chào giá; Đề xuất danh sách nhf cung cấp liên quan

Tổng giám đốc,

Phê duyệt Trợ lý Tổng giám Bước 4 đốc phê duyệt

Phòng Kinh tế vật

tư Phát hành thư chào giá và Hồ sơ yêu cầu Bước 5

Phòng Kinh tế vật

Bước 6 tư và các phòng

Tiếp nhận, mở, đánh giá hồ sơ đề xuất, thống nhất nội dung hợp đồng liên quan

Phòng Kinh tế vật

Bước 7 tư và các phòng

Phê duyệt và ký hợp đồng liên quan

Phòng Kinh tế vật

tư, Phòng liên Thực hiện hợp đồng/tiếp nhận hàng hóa/nghiệm thu/thanh toán Bước 8 quan, P.TCKT

91

Lưu đồ 2.5: Lưu đồ quy trình quản lý thực hiện hợp đồng nguyên, nhiên liệu

Phòng Kinh tế vật tư Hợp đồng Bước 1

Các phòng ban Bước 2 Đề nghị mua hàng chuyên môn

Phòng Kinh tế vật tư Lập Đơn đặt hàng Bước 3

Bước 4 Phòng Kinh tế vật tư Điều phối tiến độ giao hàng

Phòng Kinh tế vật tư Giao hàng Bước 5

Các phòng chuyên Bước 6 Lấy mẫu và phân tích môn

Phòng Kinh tế vật tư Nhập hàng Bước 7

Các phòng chuyên Bước 8 môn Lập biên bản giao nhận, nghiệm thu

Phòng Tài chính kế

toán, Phòng Kinh tế Thanh toán Bước 9 vật tư

92

Lưu đồ 2.6: Lưu đồ quy trình quản lý thực hiện hợp đồng thiết bị, vật tư phụ

Phòng Kinh tế vật

tư Hợp đồng Bước 1 Phòng Tài chính kế

toán

Phòng Kinh tế vật Bước 2 Đưa hợp đồng vào hiệu lực

Phòng Kinh tế vật Bước 3 Giao hàng theo hợp đồng

Phòng Kinh tế vật

tư Phê duyệt Bước 4 và các phòng

chuyên môn

Phòng Phòng Kinh

Bước 5 tế vật tư và các Lập hồ sơ nghiệm thu và BB giao nhận phòng chuyên môn

Phòng Kinh tế vật Bước 6 Hoàn tất thủ tục nhập kho hàng hóa tư

Phòng Tài chính kế Bước 7 Thanh toán toán

93

Lưu đồ 2.7: Lưu đồ quy trình quản lý thực hiện hợp đồng dịch vụ công nghiệp

Bước 1 Phòng Kinh tế vật tư Hợp đồng

Phòng Kinh tế vật tư Bước 2 Đưa hợp đồng vào hiệu lực Phòng Tài chính kế toán

Nhà cung cấp triển khai Bước 3 Thực hiện hợp đồng thực hiện hợp đồng

Phòng Kỹ thuật cơ điện,

Giám sát triển khai Bước 4 Phòng Công nghệ Trung

tâm, Phòng Kinh tế vật tư

Phòng Kỹ thuật cơ điện,

Bước 5 Phòng Công nghệ Trung Lập hồ sơ nghiệm thu

tâm, Phòng Kinh tế vật tư

Bước 6 Phòng Kinh tế vật tư Tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ nghiệm thu

Bước 7 Phòng Tài chính kế toán Thanh toán

94

Lưu đồ 2.8: Lưu đồ quy trình quản lý thực hiện hợp đồng ngoại thương

Hợp đồng Bước 1 Phòng Kinh tế vật tư

Phòng Kinh tế vật tư Bước 2 Mở L/C Phòng Tài chính kế toán

Khách hàng Giao hàng Bước 3 Phòng Kinh tế vật tư

Bước 4 Phòng Kinh tế vật tư Thông quan hàng hóa và vận chuyển về Kho QNC

Phòng Kinh tế vật tư , Nghiệm thu Bước 5 Phòng liên quan

Bước 6 Phòng Tài chính kế toán Thanh toán