BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
THỰC TIỄN GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG
THƯƠNG MẠI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG
VÀ XÂY DỰNG QUẢNG NINH
Ngành: Luật kinh tế
NGUYỄN ÁNH DƯƠNG
Hà Nội-2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Thực tiễn giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại
Tại Công ty cổ phần Xi măng và xây dựng Quảng Ninh
Ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8380107
Họ và tên học viên: Nguyễn Ánh Dương
Người hướng dẫn: PGS, TS. Nguyễn Minh Hằng
Hà Nội-2019
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi, Nguyễn Ánh Dương - Học viên Cao học khóa 2017-2019, Chuyên ngành
Luật Kinh tế, Trường Đại học Ngoại thương
Tác giả luận văn: Thực tiễn giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại tại
Công ty cổ phần Xi măng và xây dựng Quảng Ninh.
Xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về lời cam đoan của mình.
Hà Nội, tháng 12 năm 2018
TÁC GIẢ
Nguyễn Ánh Dương
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài, tác giả xin được trân trọng cảm ơn PGS, TS. Nguyễn
Minh Hằng, Trưởng khoa Luật, Đại học Ngoại thương, Trọng tài viên VIAC
cùng các Thầy giáo, Cô giáo đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả hoàn thành
Luận văn này.
Xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo và các đồng nghiệp đang làm việc tại
Công ty cổ phần Xi măng và xây dựng Quảng Ninh đã tạo điều kiện cho tác giả
được học hỏi, trao đổi kiến thức, kinh nghiệm và số liệu trong suốt thời gian nghiên
cứu để hoàn thành đề tài.
Hà Nội, tháng 12 năm 2018
TÁC GIẢ
Nguyễn Ánh Dương
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ...................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ........................................................................................................... ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT..................................................................... vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU .......................................................................... vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ - LƯU ĐỒ .......................................................................... viii
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN .................................. ix
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP
ĐỒNG THƯƠNG MẠI ............................................................................................ 8
1.1 Khái niệm về hợp đồng thương mại ........................................................... 8
1.2 Đặc điểm của hợp đồng thương mại ........................................................... 9
1.2.1 Chủ thể của hợp đồng thương mại ................................................. 10
1.2.2 Đối tượng của hợp đồng thương mại.............................................. 10
1.2.3 Luật điều chỉnh hợp đồng thương mại ........................................... 11
1.3 Các vấn đề chung về giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại ........ 12
1.3.1 Điều kiện hiệu lực của hợp đồng thương mại ................................ 12
1.3.2 Trình tự giao kết hợp đồng thương mại ......................................... 18
1.3.3 Nguyên tắc giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại ............... 22
1.3.4 Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại ................ 25
1.4 Kỹ năng đàm phán hợp đồng thương mại nhằm giảm thiểu rủi ro ...... 29
1.5 Kỹ năng soạn thảo hợp đồng thương mại ................................................ 32
KẾT LUẬN CHƯƠNG I ........................................................................................ 38
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG
THƯƠNG MẠI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG VÀ XÂY DỰNG
QUẢNG NINH ........................................................................................................ 39
2.1 Giới thiệu chung về QNC ........................................................................... 39
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển .................................................... 39
2.1.2 Lĩnh vực hoạt động .......................................................................... 42
2.1.3 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của QNC .................... 44
iv
2.2 Trình tự giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại tại QNC ............. 46
2.3. Hợp đồng thương mại mua hàng hóa, dịch vụ ....................................... 48
2.3.1 Thực tiễn giao kết và thực hiện các hợp đồng thương mại mua
hàng hóa, dịch vụ ...................................................................................... 48
2.3.2 Các vấn đề pháp lý phát sinh trong quá trình giao kết và thực hiện
các hợp đồng thương mại mua hàng hóa, dịch vụ .................................. 50
2.4. Hợp đồng thương mại bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ ........................ 54
2.4.1 Thực tiễn giao kết và thực hiện các hợp đồng thương mại bán
hàng hóa, cung ứng dịch vụ ..................................................................... 54
2.4.2 Các vấn đề pháp lý phát sinh trong quá trình giao kết và thực hiện
các hợp đồng thương mại bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ .................. 55
2.5 Hợp đồng ủy thác xuất khẩu xi măng, clinke .......................................... 58
2.5.1 Thực tiễn giao kết và thực hiện các hợp đồng ủy thác xuất khẩu xi
măng, clinke .............................................................................................. 58
2.5.2 Các vấn đề pháp lý phát sinh trong quá trình giao kết và thực hiện
các hợp đồng ủy thác xuất khẩu xi măng, clinke .................................... 59
2.6 Đánh giá việc áp dụng các quy định pháp luật, quy định, quy trình nội
bộ liên quan đến giao kết và thực hiện các hợp đồng thương mại tại QNC
............................................................................................................................ 62
KẾT LUẬN CHƯƠNG II ....................................................................................... 64
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP THÚC NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC GIAO KẾT
VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XI
MĂNG VÀ XÂY DỰNG QUẢNG NINH ............................................................. 66
3.1. Định hướng phát triển của QNC và xu thế giao kết, thực hiện hợp đồng
thương mại tại QNC ......................................................................................... 66
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả giao kết và thực hiện hợp đồng thương
mại tại QNC ...................................................................................................... 68
3.2.1 Tổng hợp đề xuất sửa đổi, bổ sung các điều khoản của hợp đồng
thương mại ................................................................................................ 68
v
3.2.2 Giải pháp sửa đổi bổ sung các quy trình, quy định của QNC liên
quan đến việc giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại .................... 70
3.2.3 Khảo sát kỹ thị trường và chuẩn bị các điều kiện, kế hoạch trước
khi giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại ..................................... 73
3.2.4 Gải pháp đào tạo nguồn nhân lực .................................................. 74
3.2.5 Thành lập bộ phận hoặc phòng Pháp chế trong đó có nhân lực
chuyên môn hóa về Luật kinh tế .............................................................. 75
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 ........................................................................................ 76
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................... 81
PHỤ LỤC ................................................................................................................. 85
vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1. BLDS : Bộ luật dân sự
2. LTM : Luật Thương mại
3. QNC : Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng ninh
4. UBND : Ủy ban nhân dân
5. HĐTM : Hợp đồng thương mại
6. TAND : Tòa án nhân dân
7. CISG : Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2015 ................................... 44
Bảng 2.2: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2016 ................................... 45
Bảng 2.3: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2017 ................................... 45
Bảng 2.4: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh hết quý 3 năm 2018 ................... 64
viii
DANH MỤC SƠ ĐỒ - LƯU ĐỒ
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1- Tổ chức hoạt động của QNC ................................................................... 43
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ quy trình bán hàng ......................................................................... 86
LƯU ĐỒ
Lưu đồ 2.1: Lưu đồ hướng dẫn lựa chọn Nhà phân phối và ký hợp đồng bán hang 87
Lưu đồ 2.2: Lưu đồ thực hiện quy trình mua hàng ................................................... 88
Lưu đồ 2.3: Lưu đồ thực hiện quy trình mua hàng phương thức chào hàng mức 2 . 89
Lưu đồ 2.4: Lưu đồ thực hiện quy trình mua hàng phương thức chào hàng mức 3,4
................................................................................................................................... 90
Lưu đồ 2.5: Lưu đồ quy trình quản lý thực hiện hợp đồng nguyên, nhiên liệu ........ 91
Lưu đồ 2.6: Lưu đồ quy trình quản lý thực hiện hợp đồng thiết bị, vật tư phụ ........ 92
Lưu đồ 2.7: Lưu đồ quy trình quản lý thực hiện hợp đồng dịch vụ công nghiệp ..... 93
Lưu đồ 2.8: Lưu đồ quy trình quản lý thực hiện hợp đồng ngoại thương ................ 94
ix
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
Tên đề tài: “Thực tiễn giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại tại Công ty
cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh”
Kết quả nghiên cứu của luận văn:
1. Trình bày cụ thể các cơ sở lý luận về giao kết và thực hiện hợp đồng
thương mại, trong đó nêu rõ các khái niệm về hợp đồng thương mại, đặc điểm và
trình tự giao kết, nguyên tắc giao kết, trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng
thương mại.
2. Luận văn đã đưa ra các kỹ năng cần thiết trong quá trình đàm phám hợp
đồng thương mại nhằm giảm thiểu rủi ro, các kỹ năng soạn thảo hợp đồng thương
mại nhằm đảm bảo tính chặt chẽ, hợp pháp của hợp đồng.
3. Luận văn đã trình bày được thực tiễn việc giao kết và thực hiện hợp đồng
thương mại tại Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh, trong đó giới
thiệu khái quát được về Công ty; nêu bật trình tự giao kết và thực hiện hợp đồng
thương mại chung tại Công ty, các quy trình quy định liên quan đến việc giao kết và
thực hiện hợp đồng thương mại tại Công ty; trình bày cụ thể về thực tiễn giao kết và
thực hiện cũng các vấn đề pháp lý phát sinh trong quá trình giao kết và thực hiện
các loại hợp đồng thương mại tiêu biểu như hợp đồng nhập mua hàng hóa, dịch vụ,
bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, hợp đồng ủy thác xuất khẩu xi măng, clinke. Trên
cơ sở đó làm rõ các tồn tại hạn chế cần sửa đổi, bổ sung đối với từng loại hợp đồng,
đồng thời chỉ ra chi tiết cách thức sửa đổi, khắc phục kịp thời các tồn tại, hạn chế.
4. Từ thực tiễn đã nêu, Luận văn đưa ra các giải pháp hữu ích thúc đẩy hiệu
quả giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại tại Công ty cổ phần xi măng và xây
dựng Quảng Ninh trong thời điểm hiện nay và trong quá trình phát triển tiếp theo
trong đó có các giải pháp:
Khảo sát kỹ thị trường và chuẩn bị các điều kiện, kế hoạch trước khi giao kết
và thực hiện hợp đồng thương mại;
x
Các giải pháp cụ thể cho các loại hợp đồng tiêu biểu đã đề cập ở nội dung
chính của luận văn;
Đánh giá các quy trình, quy định và đề xuất giải pháp sửa đổi bổ sung các
quy trình, quy định liên quan đến việc giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại
tại Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh;
Đưa ra giải pháp trong việc đào tạo nguồn nhân lực đủ tâm, đủ tầm tham gia
vào công tác giao kết và thực hiện các hợp đồng thương mại;
Giải pháp thành lập bộ phận hoặc phòng Pháp chế trong đó có nhân lực
chuyên môn hóa về Luật kinh tế để tham mưu giúp việc cho lãnh đạo Công ty trong
quá trình giao kết và thực hiện các hợp đồng thương mại.
Tất cả các giải pháp đề tài nêu ra là các giải pháp căn bản nhất nhằm cải
thiện và đi đến hoàn thiện cách thức, quy trình đồng thời nâng cao hiệu quả của việc
giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại tại Công ty cổ phần xi măng và xây
dựng Quảng Ninh.
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình phát triển và hội nhập kinh tế thế giới, dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam, nước ta đang tập trung phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta chủ trương tạo môi
trường thuận lợi cho các doanh nghiệp, đồng hành cùng các doanh nghiệp trong
nước bằng các biện pháp, các chính sách hiệu quả, bằng hành lang pháp lý ổn định
và phù hợp vì vậy các Doanh nghiệp Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội phát triển.
Kể từ khi gia nhập WTO thì hoạt động thương mại Việt Nam có nhiều thay
đổi đáng kể và theo chiều hướng tích cực, hoạt động mua bán hàng hóa diễn ra
thường xuyên hơn, chính vì vậy hợp đồng thương mại (HĐTM) cũng được xem
trọng hơn. Các doanh nghiệp Việt Nam mở rộng quan hệ hợp đồng với nhiều đối
tác khác nhau nhằm mục tiêu đẩy mạnh phát triển sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên trong bối cảnh hiện nay, sau cuộc khủng hoảng tài chính và suy
thoái kinh tế thế giới 2008, nền kinh tế Việt Nam ít nhiều bị ảnh hưởng, phần lớn
các doanh nghiệp “gạo cội” của Việt Nam bị trao đảo và rơi vào tình trạng hoạt
động kém hiệu quả, đứng trước những thách thức to lớn. Quảng Ninh, một tỉnh chủ
yếu phát triển ngành công nghiệp nặng (than, điện, xi măng, khai thác đá...) và du
lịch, đa phần các doanh nghiệp lớn của Quảng Ninh được coi là lực lượng chủ lực
của nền kinh tế tỉnh Quảng Ninh nói riêng và của ngành công nghiệp cả nước nói
chung cũng không nằm ngoài vòng xoáy của tình trạng hoạt động kém hiệu quả
hiện nay.
Công ty cổ phần Xi măng và xây dựng Quảng Ninh (Tên gọi tắt là QNC), một
doanh nghiệp đã từng là con chim đầu đàn của ngành xây dựng Quảng Ninh, của
khối doanh nghiệp địa phương tỉnh Quảng Ninh cũng đang trong giai đoạn khó
khăn nhất, sự khó khăn này đến từ nhiều phía song một trong những nguyên do cơ
bản khiến QNC gặp khó khăn chính là việc song hành với các hoạt động sản xuất
kinh doanh giảm sút hiệu quả, thói quen đơn giản hóa trong các hoạt động thương
mại trước đây khiến lãnh đạo QNC chưa thực sự có cái nhìn đúng đắn và sự lưu tâm
2
cần thiết đến các hoạt động thương mại của đơn vị vì thế việc ký kết và thực hiện
các HĐTM với các đối tác còn rất nhiều bất cập, còn có những lỗ hổng lớn mang lại
nhiều rủi do cho QNC. Trong hai năm trở lại đây, lãnh đạo QNC đã phần nào ý thức
được điều này song thực tế QNC còn thiếu một đội ngũ cán bộ có hiểu biết chuyên
sâu về các quy định của pháp luật liên quan đến HĐTM, và còn thiếu một cái nhìn
tổng quát liên quan đến các vấn đề còn tồn tại khi giao kết và thực hiện các loại
HĐTM hiện nay.
Phải khẳng định, hợp đồng chính là bằng chứng quan trọng nhất cho sự tồn tại
của một mối quan hệ mua bán khi phát sinh tranh chấp, là ràng buộc pháp lý về
nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại, là phương tiện không thể thiếu để
các chủ thể trong đó có các doanh nghiệp thực hiện mục tiêu kinh doanh của mình.
Tính chặt chẽ, phù hợp của hợp đồng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt
động thương mại. Thực tế cho thấy, nhiều tranh chấp thương mại xuất phát từ
những bất cập của hợp đồng, đã có nhiều trường hợp các bên giao kết hợp đồng với
nhau và tiến hành các hoạt động thương mại, nhưng rồi khi một tranh chấp nhỏ xảy
ra, một trong hai bên lại lợi dụng sự thiếu chặt chẽ trong hợp đồng để thu lợi riêng,
gây thiệt hại cho bên kia.
Nhiều chuyên gia kinh tế cũng đã từng tìm hiểu về yếu tố quan trọng nhất của
một thương vụ và kết quả tìm hiểu phần lớn kết luận là tính chặt chẽ và hình thức
của hợp đồng. HĐTM, dù được soạn thảo bằng văn bản hay chỉ là những thỏa thuận
bằng lời, đều đóng vai trò là “hòn đá tảng” cho các hoạt động sản xuất kinh doanh
khác của doanh nghiệp, đối với QNC, HĐTM cũng đóng vai trò quan trọng tương
tự. Mỗi hợp đồng sẽ là cơ sở tạo thành các yếu tố liên quan, từ đó thiết lập các quan
hệ kinh doanh giữa các đối tác như nhân lực, khách hàng, chi phí, quyền lợi và trách
nhiệm.
Trong quá trình đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng, các doanh nghiệp thể
hiện văn hoá và trình độ kinh doanh của mình. Cũng như nhiều doanh nghiệp, đối
tác ký kết HĐTM với QNC rất đa dạng, sự chặt chẽ và chi tiết của các bản hợp
đồng với đối tác thể hiện sự tôn trọng đối tác, thiết lập hình ảnh đẹp về QNC trong
con mắt đối tác, quyết định thành công của QNC trong các giao dịch thương mại.
3
Để góp phần đưa QNC thoát khỏi tình trạng khó khăn hiện nay thì việc xem
xét chặt chẽ các nội dung ký kết và thực hiện các HĐTM đối với việc mua các hàng
hóa, vật tư, nguyên nhiên vật liệu phục vụ sản xuất và bán xi măng, clinke, gia công
xi măng, ủy thác xuất khẩu xi măng, clinke, cung cấp các dịch vụ cho thuê đất, cơ
sở hạ tầng... được coi là một trong những giải pháp trọng tâm và căn bản nhất của
lãnh đạo QNC. Vì vậy, qua thời gian làm việc tại QNC, học tập và nghiên cứu tại
khóa đào tạo Thạc sĩ Luật kinh tế 2017 - 2019, Đại học Ngoại Thương, tôi quyết
định nghiên cứu và thực hiện đề tài “Thực tiễn giao kết và thực hiện Hợp đồng
thương mại tại Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh”.
2. Tình hình nghiên cứu
Như tác giả đã khẳng định ở phần trên, việc giao kết và thực hiện HĐTM đóng
vai trò rất quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp, là một trong những nguyên
nhân quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nên vấn đề giao kết và
thực hiện HĐTM đã được nghiên cứu, đề cập khá nhiều trong các chương trình
nghiên cứu, giảng dạy, xây dựng hệ thống pháp luật và cả trong thực tiễn kinh
doanh. Luật Thương mại (LTM) số 36/2005/QH11 được Quốc hội thông qua ngày
14/6/2005 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2006 ra đời và các nghị định, thông tư
hướng dẫn thi hành đánh dấu kết quả của việc nghiên cứu các quy định điều chỉnh
các quan hệ thương mại trong đó có quan hệ hợp đồng giữa các doanh nghiệp. Đặc
biệt Bộ luật Dân sự (BLDS) số 91/2015/QH13 được Quốc hội thông qua ngày
24/11/2015, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2017 đã có những quy định mới
liên quan đến việc điều chỉnh mối quan hệ HĐTM.
Trong những năm qua, giới nghiên cứu khoa học pháp lý đã có một số công
trình, bài nghiên cứu liên quan đến vấn đề này với những phạm vi và mức độ khác
nhau, ví dụ như các công trình “Cẩm nang hợp đồng thương mại” của VCCI năm
2010; “Cẩm nang văn bản pháp luật dành cho doanh nhiệp - phiên bản 3.0” của
VCCI năm 2015, Những điều cần biết về ký kết và thực hiện hợp đồng dân sự
(Theo Bộ luật Dân sự hiện hành năm 2015) của Bộ Tư pháp năm 2017 ...
4
Pháp luật hợp đồng nói chung và pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa nói
riêng là vấn đề thu hút được sự quan tâm của nhiều người. Xét trên phạm vi ngành,
nghiên cứu việc giao kết và thực hiện HĐTM đã được quan tâm tại một số doanh
nghiệp rong một số ngành, lĩnh vực có tầm cỡ, cụ thể đã có đề tài nghiên cứu “Hợp
đồng mua bán hàng hóa và thực trạng thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa của
công ty Cổ phần Thương Mại Viglacera trong bối cảnh hội nhập hiện nay”; đề tài
nghiên cứu “Hợp đồng mua bán hàng hóa từ lý thuyết đến thực tiễn áp dụng tại
Công ty TNHH IPC” của Phạm Thị Lan Phương, Khoa Luật, Trường Đại học kinh
tế quốc dân năm 2006; đề tài nghiên cứu “Hợp đồng mua bán hàng hóa và thực tiễn
áp dụng tại Công ty cổ phần hóa dầu Petrolimex” của tác giả Vũ Phương Huyền lớp
Luật kinh doanh K45 trường Đại học Kinh tế quốc dân ...
Những công trình và đề tài trên đều chứng tỏ được tầm quan trọng của hợp
đồng thương mại trong nền kinh tế cũng như đối với các doanh nghiệp. Tuy nhiên,
trong ngành xi măng nói chung, chưa có một nghiên cứu nào về giao kết và thực
hiện HĐTM để giúp các doanh nghiệp xi măng có sự tham chiếu hữu ích khi tham
gia ký kết và thực hiện các HĐTM nhằm giảm thiểu các rủi do trong kinh. Tại QNC
nói riêng, cho đến nay cũng chưa hề có một nghiên cứu nào về thực tiễn giao kết và
thực HĐTM của QNC, chính vì vậy trên thực tế có những nội dung kể từ quá trình
đàm phán, thương thảo, ký kết, thực hiện đến khi giải quyết tranh chấp phát sinh mà
từ cán bộ nghiệp vụ đến lãnh đạo cao nhất là người đại diện theo pháp luật của
QNC đang không nắm rõ.
Vì vậy cần thiết phải có một nghiên cứu về thực tiễn giao kết và thực hiện
HĐTM tại QNC để giúp những người làm công tác tham mưu giúp việc soạn thảo,
ký kết và thực hiện HĐTM cũng như các lãnh đạo QNC rút ra được các kinh
nghiệm quý giá trong quá trình đàm phán, ký kết và thực hiện; để hiểu và có cách
thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia quan hệ thương mại
với các đối tác trong và ngoài nước, giảm thiểu rủi do góp phần đưa QNC vượt qua
khó khăn, phát triển bền vững.
5
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của đề tài nhằm xác định cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc
về HĐTM, phát hiện ra những bất cập, tồn tại từ thực tiễn giao kết và thực
hiện HĐTM của QNC, đề xuất những giải pháp nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao
hiệu quả trong việc giao kết và thực hiện các HĐTM tại QNC, góp phần đưa QNC
vượt qua khó khăn, tìm lại sự tăng trưởng và phát triển.
Để thực hiện được mục tiêu trên, nhiệm vụ của đề tài là:
Khái quát những vấn đề cơ bản về hợp đồng, HĐTM nói chung, các quy định
pháp luật cơ bản về giao kết và thực hiện HĐTM;
Phân tích thực tiễn việc giao kết và thực hiện HĐTM tại QNC trong thời gian
trước đây, đặc biệt trong thời điểm hiện nay, từ đó phát hiện ra các điểm bất cập,
các nguy cơ rủi ro mà QNC đã, đang và sẽ gặp phải ở từng loại hợp đồng;
Đề xuất các giải pháp hữu ích nhằm giải quyết các bất cập, rủi ro của việc giao
kết và thực hiện HĐTM để nâng cao hiệu quả giao kết và thực hiện HĐTM với các
đối tác.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng của đề tài là những vấn đề pháp lý liên quan đến giao kết và thực
hiện HĐTM theo pháp luật Việt Nam. Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực tiễn
giao kết và thực hiện các HĐTM tại QNC.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Về nội dung: Các loại hợp đồng hiện có tại QNC bao gồm các hợp đồng nhập
khẩu hoặc mua trong nước các máy móc, thiết bị; các hợp đồng mua vật tư, nguyên,
nhiên vật liệu đầu vào; các hợp đồng mua các hàng hóa khác; các hợp đồng bán xi
măng, clinke nội địa; các hợp đồng ủy thác xuất khẩu xi măng, clinke; các hợp đồng
cung ứng dịch vụ cho thuê đất và cơ sở hạ tầng Khu công nghiệp.
Về không gian: luận văn nghiên cứu các HĐTM trên quy mô của một doanh
nghiệp là QNC với các đối tác và đề xuất giải pháp cho QNC trong việc giao kết và
thực hiện HĐTM.
6
Về thời gian: tác giả thu thập và phân tích các HĐTM của QNC được ký kết từ
giai đoạn những năm đầu của thế kỷ XXI đến nay. Đồng thời tác giả đề xuất các
giải pháp cho QNC trong toàn bộ quá trình phát triển sau này.
5. Phương pháp nghiên cứu
Tác giả đã kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn trong việc nghiên cứu và
giải quyết những vấn đề mà đề tài đã đặt ra. Để thực hiện luận văn này, một số
phương pháp nghiên cứu khoa học chủ yếu được áp dụng như sau: phương pháp
thống kê, tổng hợp, phân tích, kết hợp nghiên cứu lý luận và thực tiễn, khảo sát thực
tế. Cụ thể, chương 1 sử dụng phương pháp phân tích làm rõ các khái niệm, đặc
điểm, điều kiện hiệu lực, trình tự giao kết, nguyên tắc giao kết và thực hiện HĐTM,
trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM, tổng hợp các vấn đề pháp lý cơ bản về giao
kết và thực hiện HĐTM để tạo ra một hệ thống lý luận mang tính đầy đủ và lô gích
hơn; tổng hợp các kỹ năng đàm phán, soạn thảo HĐTM. Tiếp theo, trong chương 2,
tác giả sử dụng phương pháp phân tích, đánh giá thực tiễn giao kết và thực hiện
từng loại HĐTM tại QNC nhằm làm rõ các vấn đề tồn tại trong việc giao kết và
thực hiện HĐTM tại QNC. Trong chương 3, tác giả sử dụng phương pháp đánh giá
việc áp dụng các quy định pháp luật hiện hành, các quy trình, quy định nội bộ của
QNC liên quan đến việc giao kết và thực hiện HĐTM, phân tích định hướng phát
triển của QNC từ đó đề xuất các giải pháp hữu ích thúc đẩy hiệu quả của việc giao
kết và thực hiện HĐTM trong thời gian sớm nhất.
6. Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu
Với mục tiêu trên đây, tác giả hy vọng đề tài sẽ có ý nghĩa thiết thực, mang
đến một cái nhìn tổng quát về các vấn đề còn tồn tại và cách thức khắc phục đối với
việc giao kết và thực hiện HĐTM tại QNC, giúp cho lãnh đạo QNC, các phòng ban
liên quan và cán bộ nghiệp có thêm cơ sở tham khảo cần thiết trong quá trình giao
kết và thực hiện HĐTM với các đối tác. Qua đó nâng cao năng lực quản trị và thực
hiện HĐTM, giảm thiểu rủi ro trong quá trình giao kết và thực hiện HĐTM của
QNC.
7
Tác giả cũng đồng thời kỳ vọng đề tài của mình sẽ trở thành một trong những
tham chiếu hữu ích cho các doanh nghiệp trong ngành Xi măng nói riêng trong quá
trình giao kết và thực hiện các HĐTM cũng như tạo một tham chiếu cho các tổ chức
và cá nhân nói chung quan tâm đến thực tế giao kết và thực hiện HĐTM trong các
ngành, lĩnh vực.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, bố cục của luận
văn này gồm 3 chương:
Chương I: Khái quát chung về giao kết và thực hiện Hợp đồng thương mại.
Chương II: Thực tiễn giao kết và thực hiện Hợp đồng thương mại tại Công ty
cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh.
Chương III: Giải pháp thúc đẩy hiệu quả giao kết và thực hiện Hợp đồng
thương mại tại Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh.
8
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP
ĐỒNG THƯƠNG MẠI
1.1 Khái niệm về hợp đồng thương mại
Hợp đồng là một hành vi pháp lý cơ bản và thông dụng nhất, là sự thể hiện ý
chí của các chủ thể để làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ. Theo Điều 385 BLDS
2015 “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm
dứt quyền và nghĩa vụ dân sự”. So với BLDS năm 2005 thì BLDS năm 2015 đã bỏ
cụm từ “dân sự” sau hai từ “hợp đồng”, điều này giúp cho cách hiểu về khái niệm
hợp đồng trong BLDS được rộng hơn, bao trùm cả hợp đồng dân sự, hợp đồng lao
động, hợp đồng kinh doanh hay HĐTM, hợp đồng đầu tư... Quy định mới về khái
niệm hợp đồng này là điểm mới đáng chú ý không những về mặt kỹ thuật lập pháp
và còn làm tăng tính khả thi, minh bạch trong thực tiễn áp dụng, mở rộng phạm vi
điều chỉnh của BLDS.
Trong hợp đồng, ý chí của các chủ thể đóng vai trò quan trọng, khi sự thống
nhất của các ý chí là thực chất và không trái pháp luật thì nó sẽ làm phát sinh các
nghĩa vụ, nghĩa vụ này ràng buộc các chủ thể, buộc các chủ thể hợp đồng phải thực
hiện. Như vậy, yếu tố thoả thuận, thống nhất ý chí đóng vai trò chủ đạo trong việc
thiết lập lên hợp đồng, tuy nhiên chỉ những thoả thuận làm phát sinh, thay đổi hoặc
chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các chủ thể mới tạo nên quan hệ hợp đồng.
Hiện nay trong tất cả các văn bản pháp luật đều không có khái niệm về
HĐTM, khái niệm đó chỉ tồn tại dưới dạng là một thuật ngữ pháp lý. Ngay trong
LTM 2005 cũng không có khái niệm cụ thể thế nào là HĐTM nhưng có thể hiểu
HĐTM là một dạng cụ thể của hợp đồng dân sự phục vụ cho mục đích kinh doanh.
Như vậy HĐTM cũng là những giao dịch có bản chất dân sự, được thiết lập trên cơ
sở thỏa thuận tự nguyện, bình đẳng của các bên, cùng hướng tới lợi ích của mỗi bên
và lợi ích chung khi tham gia giao kết hợp đồng và đều có những vấn đề cơ bản của
một hợp đồng dân sự, chỉ khác về mục đích là phục vụ cho mục đích kinh doanh
thương mại.
Tuy chỉ là một thuật ngữ pháp lý, nhưng xuất phát từ khái niệm hoạt động
thương mại được qui định trong Khoản 1 Điều 3 LTM 2005 “Hoạt động thương mại
9
là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch
vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” thì
chúng ta vẫn có thể hiểu HĐTM là hình thức pháp lý của hành vi thương mại, là sự
thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên mà ít nhất một trong các bên phải là thương nhân
hoặc các chủ thể có tư cách thương nhân nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và
nghĩa vụ của các bên trong việc thực hiện hoạt động thương mại. Nói cách khác,
HĐTM là sự thỏa thuận nhằm mục đích thương mại trong đó có ít nhất một bên
tham gia hợp đồng phải là thương nhân hoặc tổ chức cá nhân khác hoạt động có liên
quan đến thương mại.
Khái niệm trên giúp cho các bên tham gia HĐTM hiểu rõ bản chất của HĐTM
là một sự thỏa thuận, mục đích của HĐTM là nhằm mục đích thương mại và chủ thể
tham gia hợp đồng là thương nhân hoặc tổ chức cá nhân khác hoạt động có liên
quan đến thương mại.
Khái quát lại HĐTM là sự thỏa thuận giữa các chủ thể thương mại với nhau và
với các chủ thể có liên quan về việc xác lập, thay đổi, hoặc chấm dứt các quyền và
nghĩa vụ trong hoạt động thương mại. Hợp đồng là phương tiện không thể thiếu
trong hoạt động thương mại để các chủ thể thực hiện mục tiêu thương mại của
mình. Cùng với sự phát triển chung của xã hội, các thành phần kinh tế ngày một đa
dạng và phong phú làm cho các quan hệ kinh tế cũng thay đổi theo. HĐTM trở
thành phương tiện phục vụ cho mục đích kinh doanh trên nguyên tắc các chủ thể tự
nguyện, bình đẳng với nhau.
1.2 Đặc điểm của hợp đồng thương mại
Xuất phát từ khái niệm HĐTM đã được nêu ở phần trên thì HĐTM mang
những đặc điểm của hợp đồng dân sự nói chung, đồng thời mang những nét đặc
trưng nhất định, trong đó có nổi bật hai yếu tố cơ bản: Thứ nhất, nội dung là các
hoạt động thương mại; Thứ hai, được ký kết giữa các chủ thể là thương nhân hoặc ít
nhất một bên chủ thể là thương nhân.
10
1.2.1 Chủ thể của hợp đồng thương mại
Chủ thể đầu tiên của HĐTM mà tác giả muốn đề cập đến là thương nhân.
Thương nhân được xem là các chủ thể hoạt động một cách thường xuyên trong các
hoạt động có liên quan đến thương mại, các chủ thể khác được xem là các chủ thể
hoạt động không thường xuyên đó là tất cả các chủ thể của luật dân sự khi tham gia
các hoạt động thương mại.
Từ một đặc điểm của HĐTM là được ký kết giữa các chủ thể là thương nhân,
hoặc có ít nhất một chủ thể là thương nhân, có thể thấy hoạt động thương mại là
hoạt động của các thương nhân hoặc giữa thương nhân với các chủ thể khác. Khoản
1 Điều 6 LTM 2005 quy định “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành
lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có
đăng ký kinh doanh”.
Trong HĐTM, có thể có những hợp đồng đòi hỏi các bên đều phải là thương
nhân như: hợp đồng đại diện cho thương nhân, hợp đồng đại lý thương mại… hay
có những hợp đồng chỉ đòi hỏi có ít nhất một bên là thương nhân như: hợp đồng ủy
thác mua bán hàng hóa, hợp đồng dịch vụ bán đấu giá hàng hóa, hợp đồng môi giới
thương mại…).
Ngoài ra, các tổ chức, các nhân không phải là thương nhân cũng có thể trở
thành chủ thể của HĐTM khi họ có hoạt động liên quan đến thương mại. Họ tham
gia hợp đồng không nhằm mục đích sinh lợi nhưng có liên quan đến thương mại, có
nhu cầu giao dịch, mua bán hàng hóa và lựa chọn luật áp dụng là LTM.
Như vậy, chủ thể trong HĐTM gồm thương nhân, cá nhân, tổ chức khác có
hoạt động liên quan đến thương mại (Khoản 1,2 Điều 2 LTM 2005), với tư cách là
pháp nhân hay cá nhân nếu tuân thủ được các quy định của pháp luật thì đều có
quyền tiến hành các giao dịch thương mại.
1.2.2 Đối tượng của hợp đồng thương mại
HĐTM thể hiện sự liên hệ về quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Các bên khi
tham gia ký kết HĐTM thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ của mình trong hoạt động
thương mại ký kết.
11
Đối tượng của HĐTM có thể là hàng hóa, trong đó Khoản 2 Điều 3 LTM 2005
quy định hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản kể cả động sản hình thành trong
tương lai, những vật gắn liền với đất đai, dịch vụ,... nhưng phải không thuộc danh
mục hàng hóa bị cấm. Chính vì hoạt động thương mại bao gồm mua bán hàng hóa,
cung ứng dịch vụ, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi,
nên đối tượng của HĐTM không chỉ dừng lại ở hàng hóa hữu hình mà bao gồm cả
các loại hình dịch vụ và các hoạt động sinh lợi khác.
1.2.3 Luật điều chỉnh hợp đồng thương mại
Nguồn của pháp luật hợp đồng là các căn cứ được sử dụng làm cơ sở để xây
dựng, ban hành, giải thích pháp luật cũng như để áp dụng vào việc giải quyết các
tranh chấp pháp lý xảy ra trong thực tế, cụ thể nguồn luật điều chỉnh hợp đồng trong
hoạt động thương mại ở Việt Nam gồm:
Các văn bản pháp luật liên quan đến HĐTM. Hai văn bản pháp luật quan trọng
nhất hiện nay là LTM 2005 và BLDS 2015, bên cạnh đó còn có luật chuyên ngành.
Những vấn đề nào LTM 2005 và luật chuyên ngành không quy định thì áp dụng
BLDS 2015. Trong mối quan hệ giữa LTM và luật chuyên ngành thì luật chuyên
ngành được ưu tiên điều chỉnh trước. Đối với HĐTM quốc tế thì ngoài các quy định
trên còn ưu tiên áp dụng các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết hoặc
luật của nước mà các bên thỏa thuận áp dụng. Đối với các hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế (hợp đồng xuất khẩu, hợp đồng nhập khẩu) thì có thể áp dụng Công ước
của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) nếu hợp đồng
thuộc phạm vi áp dụng của Công ước này.
Các nghị quyết, hướng dẫn, tổng kết của tòa án nhân dân tối cao và nghị quyết
của Hội đồng thẩm phán liên quan đến các vụ án thương mại, các nghị định của
chính phủ, các thông tư của các bộ ban ngành là nguồn của pháp luật HĐTM.
Thói quen và tập quán thương mại: Theo điều 12 LTM 2005 thì các bên được
coi là mặc nhiên áp dụng những thói quen trong hoạt động thương mại đã được thiết
lập giữa các bên đó mà họ đã biết hoặc buộc phải biết. Trường hợp các bên không
có thỏa thuận, pháp luật không quy định thì áp dụng tập quán thương mại, tức là
12
thói quen được thừa nhận rộng rãi trong hoạt động thương mại trên một vùng, miền
hoặc một lĩnh vực thương mại, có nội dung rõ ràng được các bên thừa nhận để xác
định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại. Đối với các
HĐTM quốc tế thì tập quán thương mại quốc tế như Incoterms, UCP là một trong
các nguồn chủ yếu.
1.3 Các vấn đề chung về giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại
1.3.1 Điều kiện hiệu lực của hợp đồng thương mại
LTM 2005 không quy định điều kiện có hiệu lực cụ thể của HĐTM, vì thế khi
xem xét điều kiện hiệu lực của HĐTM phải căn cứ vào BLDS 2015.
Theo Điều 117 BLDS 2015, có thể thấy 4 điều kiện hiệu lực cơ bản của giao
dịch dân sự, cũng chính là 4 điều kiện hiệu lực cơ bản của giao dịch thương mại.
* Điều kiện về chủ thể của hợp đồng
Trên cơ sở quy định tại Điểm a, b Khoản 1 Điều 117 BLDS 2015 về điều kiện
có hiệu lực của hợp đồng, thì một trong các yếu tố cơ bản để giao dịch thương mại
có hiệu lực là điều kiện về chủ thể theo đó chủ thể giao dịch phải hợp pháp thể hiện
ở việc chủ thể phải đảm bảo các điều kiện có năng lực pháp luật dân sự, năng lực
hành vi dân sự phù hợp với giao dịch được xác lập.
Thực tế xem xét tính hiệu lực của hợp đồng về điều kiện chủ thể còn phải xem
xét tư cách của chủ thể, cụ thể là thẩm quyền của người đại diện của các bên giao
kết hợp đồng, người đại diện giao kết hợp đồng có phải là người đại diện pháp luật
hay người được ủy quyền, nếu là người được ủy quyền thì phải đảm bảo các quy
định trong chế định ủy quyền về hình thức, phạm vi, thời hạn ủy quyền và phải tiên
lượng trước được những hậu quả pháp lý của việc ủy quyền đối với việc xác lập và
thực hiện giao dịch thương mại đó.
Các công ty, doanh nghiệp là các chủ thể chính của HĐTM, theo đó, để trở
thành chủ thể hợp pháp, công ty, doanh nghiệp phải tiến hành đăng ký kinh doanh
hay đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật. Người đại diện theo pháp luật
của công ty, doanh nghiệp được quy định trong Điều lệ của công ty, doanh nghiệp
13
và/hoặc trong Giấy chứng nhận thành lập doanh nghiệp, phù hợp với quy định của
pháp luật doanh nghiệp.
Căn cứ Khoản 1 Điều 139 BLDS 2015 thì giao dịch dân sự do người đại diện
xác lập, thực hiện với người thứ ba phù hợp với phạm vi đại diện làm phát sinh
quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện. Tương tự như vậy với giao dịch
thương mại, nếu người đại diện xác lập, thực hiện với chủ thể khác mà phù hợp với
phạm vi đại diện mới làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với chủ thể khác trong giao
dịch thương mại đó.
* Điều kiện về mục đích, nội dung hợp đồng
Nội dung của HĐTM là tổng hợp các điều khoản mà các bên tham gia giao kết
HĐTM đã thỏa thuận, thống nhất, các điều khoản này xác định những quyền và
nghĩa vụ cụ thể của các bên. Mục đích của hợp đồng là những lợi ích hợp pháp mà
các bên mong muốn đạt được khi giao kết hợp đồng.
Để HĐTM có hiệu lực thì một trong những điều kiện cơ bản là mục đích và
nội dung của giao dịch thương mại không vi phạm điều cấm của pháp luật, không
trái đạo đức xã hội, điều này được quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 117 BLDS
2015.
Ví dụ: các bên có thể thỏa thuận trong hợp đồng mua bán bất kỳ đối tượng
hàng hóa nào nhưng không được thỏa thuận những đối tượng mà pháp luật cấm
mua bán như ma túy, vũ khí,... các hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu quy
định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị định 187/2013/NĐ-CP ngày 20/11/2013
của Chính Phủ, các bên không được thỏa thuận ký kết các hợp đồng có nội dung vi
phạm điều cấm của pháp luật, trái với đạo đức xã hội như hợp đồng mua bán phụ
nữ, hợp đồng mua bán trẻ em, hợp đồng mua bán nội tạng người ...
Pháp luật khác nhau có những quy định khác nhau về những điều khoản chủ
yếu bắt buộc phải có trong nội dung hợp đồng, các nước theo hệ thống luật
Common Law quy định điều khoản chủ yếu bắt buộc là điều khoản về đối tượng
trong khi các nước theo hệ thống luật Civil Law quy định điều khoản chủ yếu bắt
14
buộc là đối tượng, chất lượng, giá cả; còn CISG lại không quy định về những điều
khoản chủ yếu bắt buộc phải có trong hợp đồng.
Pháp luật Việt Nam cũng có những văn bản luật không quy định điều khoản
bắt buộc phải có trong HĐTM như LTM 2005. Pháp luật đề cao sự thỏa thuận giữa
các bên giao kết, tuy nhiên vẫn quy định nội dung của hợp đồng phải tuân theo
những quy định của pháp luật hợp đồng nói chung tại Khoản 1 Điều 398 BLDS
2015.
Luật Việt Nam đưa ra các khuyến nghị, theo quy định tại Khoản 2 Điều 398
BLDS 2015 thì hợp đồng có thể bao gồm các nội dung: Đối tượng của hợp đồng; số
lượng, chất lượng; giá, phương thức thanh toán; thời hạn, địa điểm, phương thức
thực hiện hợp đồng; quyền, nghĩa vụ của các bên; trách nhiệm do vi phạm hợp
đồng; phương thức giải quyết tranh chấp. Tùy theo tính chất của từng loại hợp đồng
các bên có thể thỏa thuận hay không thỏa thuận tất cả các nội dung trên. Các bên
cũng có thể bổ sung thêm vào hợp đồng những điều khoản không có quy định
nhưng thấy cần thiết.
Ngoài ra, để làm rõ nội dung của hợp đồng, các bên có thể bổ sung bằng phụ
lục hợp đồng. Phụ lục hợp đồng có hiệu lực như hợp đồng, nhưng nội dung của phụ
lục hợp đồng không được trái với hợp đồng. Trường hợp phụ lục có điều khoản trái
với nội dung của điều khoản trong hợp đồng thì điều khoản này không có hiệu lực,
trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Nếu các bên chấp nhận phụ lục của hợp đồng có
điều khoản trái với điều khoản trong hợp đồng thì coi như điều khoản đó trong hợp
đồng đã được sửa đổi.
BLDS 2015 đã bổ sung thêm một điểm mới so với BLDS 2005 đó là quy định
quyền thỏa thuận của các bên về nội dung hợp đồng, theo đó Điều 398 quy định:
“Các bên trong hợp đồng có quyền thỏa thuận về nội dung trong hợp đồng”. Đây
được xem là bổ sung thêm phương thức giải quyết khi xảy ra tranh chấp. Cũng theo
quy định tại Điều 123 BLDS 2015, trường hợp các bên thỏa thuận các nội dung vi
phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì HĐTM đó sẽ vô hiệu. Trường
hợp một phần nội dung của giao dịch thương mại đó vô hiệu mà không ảnh hưởng
15
đến hiệu lực của phần còn lại của giao dịch thì HĐTM sẽ vô hiệu từng phần (Điều
130 BLDS 2015).
* Điều kiện về hình thức hợp đồng
Hình thức của hợp đồng là cách thức thể hiện ý chí ra bên ngoài dưới hình
thức nhất định của các chủ thể hợp đồng, là phương tiện để ghi nhận, lưu trữ, truyền
tải nội dung của hợp đồng. Hợp đồng để ghi nhận lại các điều khoản mà các bên đã
cùng nhau thống nhất cam kết. Thông qua cách thức biểu hiện này, người ta có thể
biết được nội dung của giao dịch đã xác lập. Hình thức của hợp đồng có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng trong tố tụng, bởi đó là chứng cứ xác nhận các quan hệ hợp đồng đã
và đang tồn tại giữa các bên, từ đó xác định trách nhiệm khi có vi phạm xảy ra.
Tùy thuộc vào nội dung, tính chất của từng hợp đồng cũng như tùy thuộc vào
độ tin tưởng lẫn nhau mà các bên có thể lựa chọn một hình thức nhất định trong
việc giao kết hợp đồng cho phù hợp với từng trường hợp cụ thể để đảm bảo được
tính thống nhất và mối quan hệ liên thông, bổ trợ lẫn nhau trong hệ thống các quy
định pháp luật về hợp đồng.
Theo quy định tại BLDS 2015, hợp đồng có thể xác lập bằng văn bản, bằng lời
nói hoặc hành vi cụ thể. Tuy nhiên đối với một số hợp đồng mà pháp luật qui định
phải bắt buộc bằng văn bản như hợp đồng cung ứng dịch vụ (Điều 74 LTM 2005),
hợp đồng nhượng quyền thương mại (Điều 285 LTM 2005)… hoặc quy định phải
được công chứng, chứng thực, đăng ký hay xin phép thì các bên phải tuân thủ quy
định về hình thức khi ký kết hợp đồng. Trong trường hợp này, hình thức của hợp
đồng là điều kiện có hiệu lực, khi giao kết các bên phải tuân theo hình thức được
pháp luật quy định thì HĐTM mới có hiệu lực. Thông thường các HĐTM được xác
lập bằng văn bản để đảm bảo sự an toàn và dễ giải quyết khi xảy ra tranh chấp,
nhưng đối với những hợp đồng đơn giản, việc mua bán cần diễn ra nhanh chóng thì
các bên có thể xác lập hợp đồng bằng lời nói hoặc bằng một hành vi cụ thể.
Như vậy việc xác định hình thức của HĐTM như thế nào là tùy thuộc vào sự
thỏa thuận của các bên. Việc đưa ra hình thức bắt buộc đối với một số loại giao dịch
là nhằm mục đích lưu ý các bên cần thận trọng hơn khi giao kết thương mại và
16
nhằm đảm bảo tính rõ ràng của việc tồn tại các giao dịch thương mại, quyền và
nghĩa vụ cũng như đặc điểm của quan hệ pháp luật thương mại.
Một trong các vấn đề mà các chuyên gia về pháp luật kinh doanh quan tâm là
hình thức hợp đồng có ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng như thế nào. Về vấn
đề này, pháp luật của các nước có những quan điểm và cách tiếp cận khác nhau.
Ở nhiều nước trên thế giới, pháp luật có những điều khoản cụ thể đối với một
số hợp đồng, bắt buộc từng loại phải được thể hiện bằng hình thức nhất định, nếu vi
phạm quy định này, hợp đồng đã ký kết sẽ không có giá trị pháp lý. Vi phạm các
quy định bắt buộc về hình thức sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến pháp luật và trật tự công.
Vì vậy, chừng nào sự thống nhất của các bên chưa được thể hiện bằng những hình
thức nhất định theo quy định của pháp luật thì chừng đó chưa có hợp đồng.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam tại BLDS 2015, Khoản 2 Điều 117 quy
định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự liên quan đến hình thức của giao
dịch dân sự đó là trong trường hợp luật có quy định về hình thức.
Điều 119 BLDS 2015 quy định về hình thức giao dịch dân sự theo đó giao
dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, giao
dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo
quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.
Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công
chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó.
Điều 129 BLDS 2015 quy định giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ
quy định về hình thức theo đó giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu
lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp giao dịch dân sự đã được xác lập theo
quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một
bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo
yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của
giao dịch đó; hoặc giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm
quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực
hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc
17
các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường
hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực. Hiệu lực của
hợp đồng liên quan đến điều kiện về hình thức còn được quy định rõ ngay cả khi
sửa đổi hợp đồng theo đó hợp đồng sửa đổi phải tuân theo hình thức của hợp đồng
ban đầu (Khoản 3 Điều 421 BLDS 2015).
* Điều kiện về tính tự nguyện khi giao kết hợp đồng
Khi nhắc đến hợp đồng, tức là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên nhằm mục
đích xác lập, thay đổi, chấm dứt nghĩa vụ của các bên (Điều 385 BLDS 2015).
Đồng thời, hợp đồng là một hành vi pháp lý, là sự thể hiện ý chí của các bên để làm
phát sinh các quyền và nghĩa vụ. Hợp đồng là loại hành vi pháp lý cơ bản và thông
dụng nhất. Ý chí của cá nhân đóng vai trò quan trọng trong hợp đồng, khi sự thống
nhất của các ý chí là thực chất và không trái pháp luật thì nó sẽ làm phát sinh các
nghĩa vụ, nghĩa vụ này ràng buộc các bên như luật pháp.
HĐTM được giao kết phải đảm bảo các nguyên tắc của hợp đồng nói chung
theo quy định của pháp luật. Việc quy định nguyên tắc giao kết hợp đồng nhằm đảm
bảo sự thỏa thuận của các bên phù hợp với ý chí thực của họ, hướng đến những lợi
ích chính đáng của các bên, đồng thời không xâm hại đến những lợi ích mà pháp
luật cần bảo vệ. Theo quy định của BLDS 2015 việc giao kết hợp đồng phải tuân
theo các nguyên tắc trong đó có nguyên tắc tự do giao kết những không trái pháp
luật và đạo đức xã hội. LTM là luật riêng trong luật chung là BLDS nên chịu sự
điều chỉnh của những nguyên tắc chung nói trên trong BLDS 2015.
Một trong những điều kiện cơ bản để HĐTM có hiệu lực là tính tự nguyện khi
giao kết hợp đồng, theo đó người tham gia giao dịch phải hoàn toàn tự nguyện,
không bị ép buộc, điêu này được quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 117 BLDS
2015.
Việc quy định nguyên tắc giao kết hợp đồng nhằm đảm bảo sự thỏa thuận của
các bên phù hợp với ý chí thực của họ, hướng đến những lợi ích chính đáng của các
bên, đồng thời không xâm hại đến những lợi ích mà pháp luật cần bảo vệ. Việc giao
kết hợp đồng nói chung và hợp đồng kinh doanh thương mại nói riêng phải tuân
18
theo các nguyên tắc: Tự do giao kết những không trái pháp luật và đạo đức xã hội,
đảm bảo các nguyên tắc tự do ý chí, tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung
thực và ngay thẳng. Những hành vi cưỡng ép, đe dọa, lừa dối để giao kết hợp
đồng... là lý do dẫn đến hợp đồng bị coi là vô hiệu.
1.3.2 Trình tự giao kết hợp đồng thương mại
Giao kết HĐTM là việc các bên bày tỏ ý chí với nhau theo những nguyên tắc
và trình tự nhất định để qua đó xác lập với nhau các quyền, nghĩa vụ trong quan hệ
thương mại. Trình tự giao kết HĐTM được căn cứ theo trình tự giao kết hợp đồng
dân sự tại BLDS 2015. Theo đó các bên thiết lập đề nghị giao kết hợp đồng và chấp
nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
* Đề nghị giao kết HĐTM
Theo quy định tại khoản 1 Điều 386 BLDS 2015, đề nghị giao kết hợp đồng là
việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của
bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng, gọi chung là bên
được đề nghị. Có thể thấy, đề nghị giao kết hợp đồng là sự thể hiện ý chí của một
bên về ý định giao kết hợp đồng với bên đã được xác định cụ thể. So với quy định
trong BLDS 2005, điểm mới trong BLDS 2015 là mở rộng và rõ hơn về bên được
đề nghị giao kết hợp đồng, có thể có nhiều bên nhận được đề nghị trong giao kết
hợp đồng, điều này phù hợp với thực tiễn áp dụng ở nước ta hiện nay.
Về nội dung và phương thức đề nghị giao kết hợp đồng, bên đề nghị phải xác
định rõ những nội dung chủ yếu (điều, khoản cơ bản) của hợp đồng và chịu sự ràng
buộc về đề nghị đối với bên đã được đề nghị.
Khoản 2 Điều 386 BLDS 2015 quy định trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng
có nêu rõ thời hạn trả lời, nếu đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời
mà chưa hết thời hạn đó bên đề nghị lại giao kết hợp đồng với người thứ ba thì phải
bồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị khi bên này bị thiệt hại do không được
giao kết hợp đồng.
Đề nghị giao kết hợp đồng có thể được thực hiện theo một trong hai phương
thức là đề nghị trực tiếp và đề nghị gián tiếp. Theo phương thức đề nghị trực tiếp,
19
các bên trực tiếp gặp mặt, trao đổi, thống nhất để đề nghị và nghe đề nghị. Bên được
đề nghị có thể trả lời ngay về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận lời đề nghị của
bên đề nghị, trường hợp chưa trả lời ngay mà sẽ trả lời trong một thời gian nhất
định thì các bên ấn định thời hạn chờ trả lời, thời hạn chờ trả lời đề nghị xác định
theo phương thức này phải có sự đồng ý của các bên. Theo phương thức đề nghị
gián tiếp, bên đề nghị gửi đề nghị giao kết hợp đồng đến bên được đề nghị. Thời
hạn chờ trả lời đề nghị xác định theo phương thức này do bên đề nghị ấn định.
BLDS 2015 có quy định một điểm mới so với BLDS 2005 đó là việc bảo mật
thông tin giao kết hợp đồng, theo đó Điều 387 BLDS 2015 quy định trường hợp
một bên có thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia
thì phải thông báo cho bên kia biết. Trường hợp một bên nhận được thông tin bí mật
của bên kia trong quá trình giao kết hợp đồng thì có trách nhiệm bảo mật thông tin
và không được sử dụng thông tin đó cho mục đích riêng củ mình hoặc cho mục đích
trái pháp luật khác, nếu vi phạm thì sẽ phải bồi thường. Quy định này là cơ sở để
giải quyết tranh chấp phát sinh nếu có.
Điều 388 BLDS 2015 quy định thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu
lực, theo đó thời điểm có hiệu lực do bên đề nghị ấn định, nếu bên đề nghị không ấn
định thì đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực kể từ khi bên được đề nghị nhận
được đề nghị đó, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác. Điều này có thêm
ý được bổ sung so với BLDS 2005 đó là chế định loại trừ nếu luật có liên quan có
quy định khác, thể hiện sự ư tiên đối với luật chuyên ngành đồng thời tránh được sự
mâu thuẫn giữa các luật khác nhau và phù hợp với thực tiễn áp dụng ở nước ta
BLDS cũng quy định các trường hợp được coi là đã nhận được đề nghị giao
kết hợp đồng gồm: Đề nghị được chuyển đến nơi cư trú, nếu bên được đề nghị là cá
nhân; được chuyển đến trụ sở, nếu bên được đề nghị là pháp nhân; đề nghị được
đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên được đề nghị; khi bên được đề nghị
biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông qua các phương thức khác.
Điều 389 BLDS 2015 quy định việc thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp
đồng, theo đó bên đề nghị giao kết hợp đồng có thể thay đổi, rút lại đề nghị giao kết
20
hợp đồng nếu Bên được đề nghị nhận được thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại
đề nghị trước hoặc cùng với thời điểm nhận được đề nghị. Trường hợp bên đề nghị
thay đổi nội dung của đề nghị thì đó là đề nghị mới.
Khi bên được đề nghị đã chấp nhận giao kết hợp đồng nhưng có nêu điều kiện
hoặc sửa đổi đề nghị thì coi như người này đã đưa ra đề nghị mới, đay là quy định
tại Điều 392 BLDS 2015 về Sửa đổi đề nghị do bên được đề nghị đề xuất.
Quy định việc huỷ bỏ đề nghị giao kết hợp đồng được đề cập tại Điều 390
BLDS 2015 theo đó bên đề nghị giao kết hợp đồng có thể huỷ bỏ đề nghị nếu đã
nêu rõ quyền này trong đề nghị và bên được đề nghị nhận được thông báo về việc
hủy bỏ đề nghị trước khi người này gửi thông báo chấp nhận đề nghị giao kết hợp
đồng.
Quy định việc chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng tại Điều 391 BLDS 2015
theo đó đề nghị giao kết hợp đồng chấm dứt nếu bên được đề nghị chấp nhận giao
kết hợp đồng hoặc bên được đề nghị trả lời không chấp nhận hoặc hết thời hạn trả
lời chấp nhận hoặc khi thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị có hiệu lực
hoặc khi thông báo về việc huỷ bỏ đề nghị có hiệu lực hoặc theo thoả thuận của bên
đề nghị và bên được đề nghị trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời.
Khi nhận được đề nghị giao kết hợp đồng, việc bên được đề nghị trả lời đề
nghị giao kết hợp đồng là việc họ thể hiện ý chí của mình về việc đồng ý hay không
đối với nội dung mà bên đề nghị đã đưa ra trong đề nghị giao kết hợp đồng.
Việc trả lời đề nghị giao kết hợp đồng của bên được đề nghị có thể theo một
trong ba trường hợp, thứ nhất đó là không chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
bằng cách có thể không trả lời đề nghị và hết thời hạn chờ trả lời thì coi như bên
được đề nghị không chấp nhận đề nghị, trừ trường hợp các bên đã thỏa thuận nếu
bên nhận đề nghị giao kết hợp đồng im lặng thì coi như chấp nhận giao kết hợp
đồng hoặc bên được đề nghị có thể trả lời trực tiếp hoặc bằng công văn về việc
không chấp nhận giao kết hợp đồng với bên đã đề nghị; thứ hai là đồng ý giao kết
hợp đồng nhưng có nêu ý kiến của mình hoặc phải thay đổi một số nội dung nhất
định đối với đề nghị của phía bên kia, trong trường hợp này thì bên được đề nghị
21
nêu điều kiện và nội dung sửa đổi trong trả lời đề nghị và được coi là một đề nghị
mới của bên đã được đề nghị; thứ ba là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, tức là
trả lời chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị.
* Chấp nhận đề nghị giao kết HĐTM
Theo quy định tại Điều 393 BLDS 2015, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
là sự trả lời của bên được đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị
đó. Nếu bên được đề nghị im lặng thì không được coi là chấp nhận đề nghị trừ
trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên với
nhau.
Điều 394 Bộ luật dân sự 2015 quy định về thời hạn trả lời chấp nhận giao kết
hợp đồng, theo đó khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp
nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó; nếu bên đề nghị giao kết
hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là
đề nghị mới của bên chậm trả lời. Khi bên đề nghị không nêu rõ thời hạn trả lời thì
việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực nếu được thực hiện trong một thời hạn hợp lý.
Trường hợp thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng đến chậm vì lý do khách quan
mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do khách quan này thì thông báo chấp nhận
giao kết hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp bên đề nghị trả lời ngay không
đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị. Khi các bên trực tiếp giao tiếp với
nhau, kể cả trong trường hợp qua điện thoại hoặc qua phương tiện khác thì bên
được đề nghị phải trả lời ngay có chấp nhận hoặc không chấp nhận, trừ trường hợp
các bên có thoả thuận về thời hạn trả lời.
Điều 395, 396 BLDS 2015 quy định trường hợp bên đề nghị và bên được đề
nghị giao kết hợp đồng chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong
nhận thức, làm chủ hành vi sau khi chấp nhận giao kết hợp đồng thì đề nghị giao kết
hợp đồng vẫn có giá trị, trừ trường hợp nội dung giao kết gắn liền với nhân thân của
họ.
Việc rút lại thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng được quy định tại Điều
397 BLDS 2015 theo đó bên được đề nghị giao kết hợp đồng có thể rút lại thông
22
báo chấp nhận giao kết hợp đồng, nếu thông báo về việc rút lại này đến trước hoặc
cùng với thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng.
1.3.3 Nguyên tắc giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại
Nguyên tắc giao kết và thực hiện HĐTM là những yêu cầu mà các bên tham
gia giao kết phải tuân thủ nhằm đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.
Trong quá trình giao kết và thực hiện HĐTM, các bên tham gia hợp đồng phải
thực hiện đúng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật nói chung và pháp luật về hợp
đồng, trước hết phải kể đến là các nguyên tắc chung được quy định trong Điều 3
BLDS 2015, theo đó mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ
lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân
thân và tài sản; cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa
vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận; mọi cam kết,
thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực
thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng; cá nhân, pháp nhân
phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện
chí, trung thực; việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không
được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích
hợp pháp của người khác; cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự.
Từ những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự và các nguyên tắc cơ bản
của hợp đồng nói chung dẫn chiếu đến các nguyên tắc cơ bản mà các bên tham gia
HĐTM cần tuân thủ trong quá trình giao kết và thực hiện HĐTM.
* Nguyên tắc giao kết HĐTM
Khi giao kết HĐTM, các chủ thể cần chú ý đến các nguyên tắc giao kết, trong
đó có các nguyên tắc cơ bản sau:
Nguyên tắc đầu tiên phải kể đến đó là nguyên tắc tự do, tự nguyện giao kết
hợp đồng. Theo nguyên tắc này, HĐTM được hình thành hoàn toàn trên cơ sở tự
nguyện thỏa thuận giữa các bên, các bên có quyền tự do ý chí, tự do thỏa thuận giao
kết hay không giao kết HĐTM, tự do lựa chọn các bên đồng ký kết và tự do xác
23
định nội dung HĐTM nhưng không trái với thuần phong mỹ tục, đạo đức xã hội.
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng nếu có ý chí thống nhất của các bên thì một sự
thỏa thuận, một hợp đồng được hình thành. Hợp đồng giữa các bên không thể do sự
áp đặt ý chí của bất cứ cá nhận tổ chức nào, quyền tự do giao kết hoặc không giao
kết hợp đồng có hệ quả đặc biệt, xác lập lên quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia
hợp đồng.
Nguyên tắc thứ hai là nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi, theo nguyên tắc
này khi ký kết HĐTM, các bên phải đảm bảo nội dung hợp đồng có sự tương xứng
nhau về quyền và nghĩa vụ nhằm đáp ứng lợi ích kinh tế của các bên. Xuất phát từ
nguyên tắc thứ nhất, các bên có quyền tự do thỏa thuận để đảm bảo thực hiện được
nguyên tắc thứ hai này, các bên tự do thỏa thuận đến độ nhận thấy quyền và lợi ích
hợp pháp của mình và của đối tác được đảm bảo chấp nhận ở nội dung hợp đồng,
thỏa thuận để đạt được mục đích của giao dịch thương mại. Không bên nào được ưu
tiên hơn, cũng không bên nào bị bắt buộc phải chịu thiệt thòi hơn vì bất cứ lý do gì,
các bên khi giao kết HĐTM đều bình đẳng trước pháp luật, giao kết với mục tiêu
cùng có lợi, cùng đạt đến mục đích giao kết.
Nguyên tắc thứ ba là nguyên tắc trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản. Theo
nguyên tắc này, các bên tham gia HĐTM phải dùng chính tài sản của mình để đảm
bảo việc ký kết và thực hiện hợp đồng, phải trực tiếp chịu trách nhiệm với tài sản
của mình khi tham gia HĐTM. Nguyên tắc này quy định trách nhiệm tài sản của các
bên đối với nội dung của việc ký kết và thực hiện hợp đồng.
Nguyên tắc thứ tư là nguyên tắc không trái pháp luật, theo nguyên tắc này, các
bên liên quan HĐTM không được lợi dụng việc ký kết hợp đồng để hoạt động trái
pháp luật, phải đảm bảo nội dung và hình thức của hợp đồng theo quy định của
pháp luật. Yêu cầu về Nội dung và hình thức hợp đồng đã được đề cập ở mục 1.3.2
và 1.3.3 trên đây.
Ngoài ra các bên tham gia giao kết HĐTM còn phải đảm bảo các nguyên tắc
khác như nguyên tắc thiện chí và trung thực, nguyên tắc tự do lựa chọn luật áp dụng
và cơ quan giải quyết tranh chấp đối với hợp đồng có yêu tố nước ngoài ...
24
* Nguyên tắc thực hiện HĐTM
Các bên cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau:
Thực hiện đúng các điều khoản về đối tượng của hợp đồng như hàng hóa, sản
phẩm, công việc, dịch vụ... mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Khi giao kết
HĐTM, các bên đã xác định rõ đối tượng của hợp đồng mình giao kết. Trong quá
trình thực hiện HĐTM các bên phải tuân thủ đầy đủ các thỏa thuận liên quan đến
đối tượng của hợp đồng đã giao kết.
Thực hiện đúng các điều khoản về số lượng như sản lượng về hàng hóa giao
dịch, khối lượng công việc thực hiện, đơn vị đo lường, phương thức đo lường...
Trên thực tế, hợp đồng thường quy định rất rõ ràng về điều khoản số lượng, điều
khoản này liên quan trực tiếp đến giá trị HĐTM, đến các yêu cầu chính về đối
tượng HĐTM, vì vậy các bên nhất thiết phải tuân thủ các điều khoản về số lượng đã
thỏa thuận.
Thực hiện đúng các điều khoản về chất lượng, các bên khi thực hiện HĐTM
đã ký kết phải thực hiện đúng các điều khoản đã thỏa thuận liên quan đến chất
lượng hàng hóa, dịch vụ, công việc đã thỏa thuận căn cứ trên các tiêu chuẩn kỹ
thuật của nhà nước hoặc tiêu chuẩn chất lượng mà các bên đã đăng ký với cơ quan
nhà nước có thẩm quyền. Điều khoản về chất lượng cũng là một trong những điều
khoản cơ sở để các bên thực hiện HĐTM đã ký kết và thường cũng hay xảy ra tranh
chấp khi các bên thỏa thuận không rõ ràng hoặc thực hiện không đúng thỏa thuận.
Thực hiện đúng các điều khoản về giá cả, phương thức thanh toán, trong quá
trình thực hiện HĐTM các bên cần tuân thủ các điều khoản về giá cả, phương thức
thanh toán, lưu ý đối với những sản phẩm, dịch vụ mà nhà nước đã định giá hoặc
quy định khung giá thì các bên chỉ được thỏa thuận theo khung giá quy định ví như
sản phẩm xăng, dầu, điện, dịch vụ y tế...
Các điều khoản về thời gian trong HĐTM ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và
lợi ích hợp pháp của các bên và là một trong những nguyên nhân thường gây nên
tranh chấp thương mại vì thế đồi hỏi các bên phải thực hiện đúng các điều khoản về
thời gian đã thỏa thuận trong HĐTM.
25
Địa điểm thực hiện hợp đồng là một trong những nội dung cơ bản của HĐTM,
góp phần phục vụ mục đích của giao dịch thương mại, vì vậy các bên cần tuân thủ
các thỏa thuận về địa điểm thực hiện hợp đồng.
Ngoài ra trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên còn phải thực hiện các
nguyên tắc khác như nguyên tắc thực hiện đúng các nội dung cam kết về bảo hiểm
vận chuyển, bảo hành...
1.3.4 Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại
Vi phạm hợp đồng là việc một bên không tuân theo hoặc làm trái lại những gì
mà các bên đã thỏa thận trong hợp đồng theo đó bên vi phạm phải chịu trách nhiệm
về vi phạm của mình. Có thể hiểu vi phạm HĐTM là việc chủ thể của HĐTM thực
hiện hành vi trái với cam kết, xâm phạm quyền lợi hợp pháp của chủ thể còn lại
theo đó chủ thể có hành vi vi phạm sẽ phải chịu trách nhiệm về hành vi đó của
mình.
Từ khái niệm cho thấy vi phạm HĐTM có những đặc điểm của vi phạm hợp
đồng nói chung như thực hiện những hành vi trái với cam kết trong hợp đồng, trong
pháp luật về hợp đồng có liên quan. Chủ thể vi phạm xâm phạm đến quyền và lợi
ích hợp pháp của chủ thể còn lại trong hợp đồng, xâm phạm đến đối tượng mà các
bên trong hợp đồng đã xác định rõ ràng.
Trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM là hệ thống các biện pháp có vai trò
đảm bảo cho những cam kết trong HĐTM được thực thi theo đúng quy định của
pháp luật, là một loại trách nhiệm trong trách nhiệm dân sự, mang nhiều đặc điểm
của trách nhiệm dân sự tuy nhiên lại vừa mang những đặc trưng riêng biệt. Trách
nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM là loại trách nhiệm áp dụng cho chủ thể của
HĐTM có hành vi vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại. Trách nhiệm này
nhằm bảo vệ chủ thể bị vi phạm và đảm bảo sự công bằng về trách nhiệm và quyền
lợi cho các bên trong HĐTM khi có hành vi vi phạm xảy ra. Đây là hậu quả mà chủ
thể vi phạm phải gánh chịu, hậu quả này như mối quan hệ nguyên nhân và kết quả
trong việc thực hiện HĐTM.
26
Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp HĐTM được thể hiện ở quy định pháp
luật về các cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng nó. Theo đó, bên bị vi phạm có
quyền yêu cầu tòa án, trọng tài cưỡng chế áp dụng các biện pháp trách nhiệm cho
bên vi phạm. Hoặc bên bị vi phạm có thể đề nghị tòa án, trọng tài thương mại áp
dụng trách nhiệm này cho bên vi phạm. Trọng tài thương mại là chủ thể rộng hơn so
với chủ thể có thẩm quyền áp dụng trách nhiệm do vi phạm hợp đồng nói chung.
Trong các loại Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp HĐTM có trách nhiệm
bồi thường thiệt hại, trách nhiệm này là một trong những nội dung được bổ sung
một cách cơ bản trong BLDS 2015 so với quy định tại BLDS 2005. Các quy định về
chế tài bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng tại BLDS 2015 đã có tiến bộ hơn
rất nhiều. Thay vì chỉ quy định chung trong Điều 307 BLDS 2005, BLDS 2015 quy
định về nội dung này trong 4 điều từ Điều 360 đến Điều 363, theo đó căn cứ phát
sinh trách nhiệm bồi thường được ghi nhận đầy đủ và rõ ràng hơn. Điều 360 BLDS
2015 chỉ rõ trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ phát sinh khi có các yếu tố có thiệt
hại, có hành vi vi phạm nghĩa vụ, có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi
vi phạm nghĩa vụ, có lỗi. Các loại thiệt hại được bồi thường do vi phạm nghĩa vụ
trong hợp đồng cũng được xác định cụ thể, đầy đủ và rõ ràng, hợp lý hơn so với
BLDS 2005, không chỉ là các thiệt hại thực tế, hiện hữu như BLDS 2005 trước đây
đã quy định mà còn cả các thu nhập bị bỏ lỡ. Điều 419 quy định thêm một loại thiệt
hại được bồi thường, đó là các chi phí mà bên bị vi phạm đã phải gánh chịu trong
quá trình thực hiện hợp đồng. BLDS 2015 còn quy định rõ ràng về việc người vi
phạm có thể phải bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người bị hại trong đó có các
pháp nhân thương mại (Khoản 3 Điều 419 BLDS 2015) thì. Đây cũng là một điểm
mới liên quan đến các loại thiệt hại được bồi thường mà BLDS 2005 còn quy định
mập mờ, không rõ ràng.
BLDS 2015 còn bổ sung Điều 363 quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại
trong trường hợp thiệt hại xảy ra do một phần lỗi của bên vi phạm theo đó bên vi
phạm chỉ phải bồi thường thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình, quy định
này phù hợp với thực tiễn và bảo đảm sự công bằng phù hợp của quy định pháp
luật và nguyên tắc tự chịu trách nhiệm
27
Trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM được thực thi thông qua một hệ thống
các biện pháp trách nhiệm pháp lý được quy định trong phần chế tài của bộ phận
quy phạm pháp luật trong LTM 2005 bao gồm những biện pháp như buộc thực hiện
đúng hợp đồng (Điều 297), phạt vi phạm (Điều 300), bồi thường thiệt hại (Điều
302), tạm ngừng hợp đồng (Điều 308), đình chỉ hợp đồng (Điều 310), hủy hợp đồng
(Điều 312) và một số biện pháp do các bên thỏa thuận khác.
Tuy nhiên, chủ thể vi phạm HĐTM sẽ không phải thực hiện trách nhiệm pháp
lý do vi phạm HĐTM nếu chủ thể bị vi phạm không yêu cầu hoặc trong những
trường hợp pháp luật quy định chủ thể vi phạm không phải chịu trách nhiệm do
không thể thực hiện HĐTM hoặc được miễn, giảm trách nhiệm.
Miễn, giảm trách nhiệm là việc người có quyền trong vụ việc vi phạm HĐTM
không áp dụng một phần trách nhiệm hoặc toàn bộ trách nhiệm cho bên có nghĩa vụ
khi bên này có hành vi vi phạm hợp đồng. Chủ thể được quyền quyết định là chủ
thể bị vi phạm vì trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM là loại trách nhiệm mà
bên bị vi phạm áp dụng cho bên vi phạm mà không phải bất kỳ một cơ quan nhà
nước nào có thể quyết định miễn trách nhiệm cho bên vi phạm.
Ngoài ra, có những trường hợp không do chủ thể có quyền quyết định, mà
trong quá trình thực hiện hợp đồng, một bên gặp phải các trường hợp mà bất kỳ một
người nào khi gặp hoàn cảnh, điều kiện tương tự cũng không thể nào thực hiện
được nghĩa vụ hợp đồng, thì đó là trường hợp không thực hiện được nghĩa vụ hợp
đồng mà không phải là vi phạm nghĩa vụ hợp đồng.
Trong quá trình giao kết và thực hiện HĐTM, chủ thể có thể gặp phải các sự
kiện bất khả kháng khiến họ không thể thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ đã
cam kết. Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể
lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp
cần thiết và khả năng cho phép (khoản 1 Điều 156 Bộ luật dân sự 2015). Trong
trường hợp này chủ thể vi phạm HĐTM được miễn trách nhiệm pháp lý.
Trường hợp chủ thể vi phạm HĐTM không chịu trách nhiệm do thi hành quyết
định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền một dạng của sự kiện bất khả kháng.
28
Trong trường hợp này, số phận của hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên được
quyết định dứt khoát, các bên không có sự lựa chọn, sự thỏa thuận mà hợp đồng bị
chấm dứt ngay.
Chủ thể vi phạm HĐTM sẽ không chịu trách nhiệm hợp đồng do hành vi có
lỗi của chủ thể còn lại. Tương ứng với trường hợp này, hợp đồng cũng sẽ bị chấm
dứt ngay mà không có sự thỏa thuận lại của các bên.
Chủ thể vi phạm HĐTM không chịu trách nhiệm do bên thứ ba không thể thực
hiện được nghĩa vụ hợp đồng bởi gặp phải sự kiện bất khả kháng hoặc bởi quyết
định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong trường hợp này, một bên trong
hợp đồng không phải chịu trách nhiệm trước bên kia và bên này cũng phải thông
báo cho bên còn lại trong hợp đồng biết về trường hợp không thể thực hiện được
nghĩa vụ hợp đồng đồng thời phải thu thập chứng cứ để chứng minh việc không
thực hiện được hợp đồng, ngoài ra cũng phải chứng minh việc không thực hiện
được nghĩa vụ hợp đồng do sự kiện bất khả kháng hoặc do quyết định của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền khiến bên thứ ba có liên quan trực tiếp đến việc không
thực hiện nghĩa vụ hợp đồng của mình. Không những thế, còn phải chứng minh bên
này có mối quan hệ hợp đồng với bên thứ ba và chính hợp đồng này tác động trực
tiếp đến hành vi không thể thực hiện được hợp đồng của mình.
Chủ thể vi phạm HĐTM không chịu trách nhiệm do thời hạn khiếu nại đã hết
là trường hợp chủ thể bị vi phạm sẽ bị mất quyền áp dụng các biện pháp trách
nhiệm pháp lý khi đã hết thời hạn khiếu nại. Một bên có quyền khởi kiện bên kia kể
từ khi phát hiện có hành vi vi phạm cho đến hai năm, nếu trong thời hạn này mà
một bên không khởi kiện tại tòa án, trọng tài để áp dụng các biện pháp trách nhiệm
pháp lý, thì bên này mất quyền áp dụng các biện pháp trách nhiệm pháp lý đối với
bên kia, trong những trường hợp này bên không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng sẽ
không phải chịu trách nhiệm pháp lý. Căn cứ để áp dụng trường hợp không chịu
trách nhiệm này là phải có sự thỏa thuận giữa các bên.
Ngoài các trường hợp trên, chủ thể vi phạm HĐTM cũng không phải chịu
trách nhiệm pháp lý khi gặp phải trở ngại khách quan hoặc hoàn cảnh khó khăn.
29
Trường hợp chủ thể bị vi phạm miễn trách nhiệm cho chủ thể vi phạm là
trường hợp khi bên vi phạm có hành vi vi phạm nghiêm trọng hợp đồng, tức là vi
phạm toàn bộ hợp đồng nhưng bên bị vi phạm không áp dụng bất kỳ các biện pháp
trách nhiệm pháp lý nào cho bên vi phạm, bên bị vi phạm có thể miễn trách nhiệm
cho bên vi phạm trong bất kỳ thời điểm nào trong quá trình trên ngay cả khi đang
tiến hành phiên tòa xét xử, thẩm phán sẽ ghi nhận việc miễn trách nhiệm tại phiên
tòa, công nhận việc miễn trách nhiệm này là hợp pháp.
Khi bên vi phạm có hành vi vi phạm HĐTM nhưng bên bị vi phạm áp dụng
biện pháp trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn so với hành vi vi phạm mà bên vi phạm thực
hiện thì tất cả các trường hợp như vậy là những trường chủ thể bị vi phạm giảm
trách nhiệm cho chủ thể vi phạm hợp đồng do vi phạm hợp đồng. Giảm trách nhiệm
còn thể hiện ở việc luật pháp quy định chủ thể có quyền gia hạn việc thực hiện
nghĩa vụ hợp đồng cho chủ thể vi phạm.
1.4 Kỹ năng đàm phán hợp đồng thương mại nhằm giảm thiểu rủi ro
Như chúng ta đã biết tầm quan trong của hợp đồng trong hoạt động thương
mại, trong những năm trở lại đây nền kinh tế nước ta có những phát triển vượt bậc,
hoạt động kinh doanh diễn ra hết sức sôi động, số lượng các giao dịch thương mại
tăng liên tục thể hiện ở số lượng các loại HĐTM được ký kết. Để hợp đồng được ký
kết, các chủ thể thường phải trải qua quá trình đàm phán như một quá trình “cân
não” để đi đến thống nhất các vấn đề của hợp đồng.
Giai đoạn đàm phán thường diễn ra trước khi ký kết hợp đồng, tuy nhiên cũng
có những cuộc đàm phán diễn ra ngay trong quá trình thực hiện hợp đồng nhằm sửa
đổi, bổ sung hợp đồng đã ký.
Quá trình đàm phán hợp đồng có thể diễn ra dài hay ngắn, một hay nhiều đợt,
trực tiếp hoặc thông qua email, điện thoại, thư tín, các phương thức khác nhưng đều
cần được các bên quan tâm chú trọng. Để giảm thiểu rủi ro trong quá trình ký kết và
thực hiện HĐTM, một cuộc đàm phán hiệu quả là tiền đề cho một hợp đồng thành
công, ngược lại một cuộc đàm phán thất bại thì nguy cơ nhìn thấy ngay tức thì là
khó có thể đi đến ký kết được hợp đồng để đạt được mục đích thương mại đề ra. Kết
30
quả một cuộc đàm phán được coi là lý tưởng khi cả hai bên cảm thấy hài lòng với
thoả thuận đạt được. Tuy nhiên, trên thực tế không phải lúc nào cũng đạt được kết
quả này. Để một cuộc đàm phán thành công, các bên tham gia đàm phán cần chú
trọng một số nội dung cơ bản của đàm phán.
Trước tiên cần thực hiện tốt công tác chuẩn bị trước khi đàm phán, sự chuẩn bị
càng tốt thì chủ thể tham gia đàm phán càng thấy tự tin và giúp cho việc đàm phán
kết thúc sớm hơn, thành công hơn. Đối với công tác chuẩn bị, các bên cần thu thập
thông tin về thị trường, về đối tượng kinh doanh, về đối tác, về đối thủ cạnh tranh...
Công tác tìm hiểu về đối tác vô cùng quan trọng, việc xác định kỹ lưỡng các
thông tin đối tác góp phần chủ đạo trong thành công của cuộc đàm phán, cần thiết
phải tìm hiểu và đánh giá thật sát đối tác, tìm hiểu mục tiêu của đối tác, ngưỡng cao
nhất, thấp nhất của từng vấn đề đàm phán mà đối tác có thể thỏa thuận, xác định
chính xác người có quyền quyết định bên phía đối tác... (Đối với đối tác nước ngoài
còn cần tìm hiểu về văn hoá, truyền thống, tập quán, phong cách thương thuyết của
đối tác và đặc biệt phải có phương án để hóa giải sự bất đồng ngôn ngữ với đối tác
nhằm đạt được mục tiêu đàm phán cao nhất).
Chuẩn bị nhân sự cho đàm phán, giao trọng trách đàm phán cho người có khả
năng giao tiếp tốt, khả năng thuyết phục cao, biết lượng sức mình và sức đối tác để
đạt đến mục tiêu đề ra, trường hợp cần thiết có thể ủy quyền cho Luật sư tham gia
quá trình đàm phán. Chuẩn bị chiến lược, chiến thuật đàm phán, tự đặt ra những câu
hỏi cho chính mình, dự liệu các tính huống đồng thời đặt ra mục tiêu cao nhất, thấp
nhất cần đạt được trong đàm phán và các phương án nhượng bộ để đạt được mục
tiêu, tìm ra các điểm chung của các bên cho cuộc đàm phán thành công.
Để đàm phán đạt hiệu quả cao và việc đi đến ký kết hợp đồng được thuận lợi,
các bên nên chuẩn bị cho mình trước bản dự thảo hợp đồng hay còn gọi là bản kế
hoạch cho việc đàm phán, đó là việc văn bản hóa những ý muốn của các bên trong
quá trình đàm phán và dự liệu những gì đối tác mong muốn trước khi đàm phán,
đồng thời đó cũng chính là nội dung để thiết lập bản thương thảo hợp đồng làm cơ
sở ký kết hợp đồng khi kết thúc đàm phán.
31
Trong quá trình đàm phán, các bên cần tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản để
đạt được thành công đó là tạo ấn tượng tốt ban đầu bằng không khí tin cậy, dễ chịu
trước khi bắt đầu nói về chủ đề nội dung đàm phán, thương thảo với đối tác; sử
dụng tối đa ngôn ngữ cơ thể trong quá trình đàm phán, tạo sự lôi cuốn, hấp dẫn cho
đối tác với vấn đề trình bày; xác định rõ mục tiêu đàm phán và luôn luôn bám sát,
theo đuổi mục tiêu này trong suốt quá trình đàm phán, chia mục tiêu lớn thành các
mục tiêu nhỏ, cụ thể; phải biết lắng nghe đối tác nói vì có lắng nghe thì mới hiểu
được ý đối tác và có những phản ứng, lý lẽ phù hợp có lợi cho mình; phải biết cách
trình bày, sử dụng từ ngữ một cách khôn khéo, linh hoạt; nếu có tranh cãi, đàm phán
căng thẳng về yếu tố nào đó thì nên chuyển hướng để giảm bớt sự gay gắt khi quay
lại đàm phán tiếp; phải biết hỏi nhiều thay vì nói nhiều bởi hỏi nhiều sẽ có lợi thế
không chỉ về thông tin mà cả về tâm lý, về tính chủ động trong đàm phán, tuy nhiên
cũng cần cân nhắc trước khi đưa ra các câu hỏi cho đối tác; phải biết giới hạn có thể
được phép, tự do đàm phán có giới hạn, biết được giới hạn đàm phán tức là sẽ biết
được thời điểm phải ngừng hay chấm dứt đàm phán và chuyển hướng, tìm phương
án giải quyết khác.
Không phải cuộc đàm phán thương thuyết thương mại nào cũng dẫn đến thoả
thuận hay ký kết hợp đồng. Người có khả năng đàm phán tốt phải là người có đủ
dũng cảm và quyết đoán, không ký kết một hợp đồng kinh doanh nếu có thể gây bất
lợi cho mình ở mức không thể chấp nhận. Ngoài ra để thành công trong đàm phán
kinh doanh, cần có một ý thức, tư duy sẵng sàng thoả hiệp nếu cần thiết, phải cân
nhắc so sánh, phải tranh luận và chờ đợi. Kết quả đàm phán là cả hai bên đều có lợi,
là sự trao đổi tự nguyện giữa hai bên. Vì vậy, khi đàm phán không chỉ chú ý cứng
nhắc một chiều quyền lợi, mục đích riêng của một bên mà phải chú ý đến cả nhu
cầu của bên kia. Khi kết thúc mỗi vấn đề đàm phán, cần nhắc lại kết luận vấn đề đã
được thống nhất, đồng thời kết thúc cả cuộc đàm phán cần thiết lập biên bản thương
thảo để làm cơ sở ký kết hợp đồng và thực hiện các bước tiếp theo.
Trong quá trình đàm phán, để cuộc đàm phán không bị thất bại, các bên cần có
kỹ năng đàm phán cơ bản đó là nên nhìn vào mắt đối tác khi đàm phán để thể hiện
sự tự tin, quan tâm của mình và đem lại tin cậy cho đối tác; lập kế hoạch cụ thể định
32
trước cho cuộc đàm phán, nếu có nhiều nội dung, lĩnh vực đàm phán thì cần phải
phân loại, sắp xếp trước để tránh lẫn lộn khi đàm phán; phải thông báo trước nội
dung đàm phán khi thoả thuận lịch đàm phán với đối tác; không nên để cho đối tác
quá nhiều tự do, quyền chủ động khi đàm phán; không nên đưa hết tất cả thông tin,
lý lẽ trình bày thuyết phục ra ngay từ đầu buổi đàm phán, hãy sử dụng lần lượt các
thông tin, lý lẽ thuyết phục của mình cho từng nội dung hay từng thắc mắc tìm hiểu
của đối tác; không nên lảng tránh ý kiến phản đối hay nghi ngờ từ phía đối tác, cần
phải hỏi lại thắc mắc của đối tác và kiên nhẫn trả lời bằng tất cả các lý lẽ thông tin
của mình; phải chuẩn bị trước các giới hạn cần thiết khi đàm phán để có sự linh hoạt
nhân nhượng trong chừng mực có thể; không nên tìm cách áp đảo đối tác mà nên tự
đặt mình là người thể hiện tinh thần học hỏi khi đàm phán, tạo thiện cảm trong suốt
quá trình đàm phán, phải xác định mục tiêu của đàm phán là tiến tới hợp tác cùng có
lợi.
Khi đàm phán, các bên có thể thỏa thuận các nội dung theo hợp đồng mẫu, tuy
nhiên không thể có một mẫu hợp đồng nào là chuẩn mực, nội dung hợp đồng mẫu
không phải lúc nào cũng phù hợp và đầy đủ với tất cả các loại giao dịch, nó thường
thừa hoặc thiếu đối với một thương vụ cụ thể. Vì thế các bên chỉ nên dựa vào các
mẫu hợp đồng đó để xem như là những gợi ý cho việc soạn dự thảo hợp đồng phục
vụ đàm phán và làm cơ sở soạn thảo hợp đồng chính thức, ngoài ra các bên cần
chuẩn bị sẵn các mục cần đàm phán theo thứ tự để tránh bỏ sót, bỏ qua bất cứ nội
dung đàm phán cần thiết nào.
1.5 Kỹ năng soạn thảo hợp đồng thương mại
Ở các nước phát triển, hầu hết các doanh nghiệp luôn đề cao quy trình soạn
thảo và ký kết HĐTM, họ thường soạn thảo rất chi tiết, chặt chẽ và dự liệu cả những
tình huống hiếm khi xảy ra, trong khi đa số các doanh nghiệp của Việt Nam chưa
quan tâm nhiều đến quy trình soạn thảo và ký kết HĐTM, vẫn sử dụng những mẫu
hợp đồng có sẵn, đơn điệu, thiếu khuyết và thậm chí không cập nhật kịp thời thay
đổi của pháp luật hiện hành. Hậu quả là khi thực hiện hợp đồng rất khó khăn, dễ xảy
ra tranh chấp và thường bị thua khi kiện tụng. Tình trạng này do nhiều nguyên nhân,
có thể do văn hóa kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam là trọng tín hơn trọng
33
lý, quy mô kinh doanh của các doanh nghiệp còn nhỏ… đặc biệt là doanh nghiệp
Việt Nam còn thiếu hiểu biết pháp luật và kỹ năng soạn thảo HĐTM còn yếu, thiếu.
Ngày nay, các doanh nghiệp Việt Nam đang ngày càng lớn mạnh, quy mô
doanh nghiệp được mở rộng. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh
nghiệp trong quá trình giao kết và thực hiện HĐTM, các doanh nghiệp cần thiết
phải có kỹ năng tốt để soạn thảo hợp đồng.
HĐTM cũng giống như các loại hợp đồng nói chung được ký kết trên nguyên
tắc tự do, bình đẳng, do đó nội dung của mỗi hợp đồng cụ thể luôn có sự khác nhau
bởi nó phụ thuộc vào ý chí của các bên và đòi hỏi thực tiễn của việc mua bán mỗi
loại hàng hoá, dịch vụ là khác nhau, trong các điều kiện, hoàn cảnh, thời điểm khác
nhau. Tác giả xin đưa ra các điểm lưu ý cần thiết để soạn thảo HĐTM dưới đây.
Như trên đã đề cập, trước khi đàm phán HĐTM, các bên nên thiết lập cho
mình dự thảo hợp đồng, sắp xếp thứ tự những vấn đề ưu tiên, những vấn đề cần
thiết trong quá trình đàm phán và ký kết hợp đồng để tránh những thiếu sót, sơ hở
trong hợp đồng, đặc biệt đối với những thương vụ lớn. Các bên phải dự liệu được
những rủi ro có thể, để loại bỏ hay giảm thiểu những rủi ro đó bằng việc sử dụng
các điều khoản hợp đồng.
Để đảm bảo hợp đồng được ký kết có hiệu lực pháp luật, cần xác định chính
xác tư cách chủ thể của đối tác, muốn như vậy các bên thì cần phải có tối thiểu các
thông tin Tên, Trụ sở, Giấy phép thành lập và người đại diện đối với chủ thể là
doanh nghiệp (Phải ghi chính xác theo Quyết định thành lập hoặc Giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh hoặc Giấy phép đầu tư của doanh nghiệp). Các bên nên xuất
trình, kiểm tra các văn bản, thông tin trên trước khi đàm phán, ký kết để đảm bảo
hợp đồng ký kết đúng thẩm quyền; các bên cần phải kiểm tra các thông tin liên quan
đến tên, số chứng minh thư và địa chỉ thường trú đối với chủ thể là cá nhân (Phải
ghi chính xác theo chứng minh thư nhân dân hoặc hộ chiếu hoặc hộ khẩu).
Với tên gọi hợp đồng, thường được sử dụng theo tên loại hợp đồng kết hợp
với tên hàng hóa, dịch vụ. Ví dụ: tên loại là hợp đồng mua bán, còn tên của hàng
hoá là xi măng, ta có “Hợp đồng mua bán xi măng” hoặc “Hợp đồng dịch vụ
34
khuyến mại xi măng”... Hiện nay, nhiều doanh nghiệp vẫn còn thói quen sử dụng
tên gọi “Hợp đồng kinh tế” tuy nhiên hiện nay Pháp lệnh hợp đồng kinh tế đã hết
hiệu lực, nên việc đặt tên này không còn phù hợp. BLDS 2015 đã dành riêng
Chương XVI để quy định về 13 loại hợp đồng thông dụng, LTM năm 2005 cũng
quy định về một số loại hợp đồng, nên chúng ta cần kết hợp hai bộ luật này để đặt
tên HĐTM cho phù hợp với nội dung hoạt động thương mại.
Đối với phần căn cứ ký kết hợp đồng, các bên thường đưa ra các căn cứ có thể
là văn bản pháp luật điều chỉnh, văn bản uỷ quyền, nhu cầu và khả năng của các
bên. Tuy nhiên cần lưu ý, trong một số trường hợp, khi lựa chọn một văn bản pháp
luật cụ thể để làm căn cứ ký kết hợp đồng thì được xem như đó là sự lựa chọn luật
điều chỉnh để giải quyết khi phát sinh tranh chấp, vì vậy phải hết sức lưu ý, chỉ sử
dụng khi biết văn bản đó có điều chỉnh quan hệ trong hợp đồng và còn hiệu lực.
Liên quan đến hiệu lực hợp đồng, hợp đồng phải có hiệu lực mới phát sinh
trách nhiệm pháp lý, ràng buộc các bên phải thực hiện các nghĩa vụ theo hợp đồng.
Theo nguyên tắc, hợp đồng bằng văn bản mặc nhiên có hiệu lực kể từ thời điểm bên
sau cùng ký vào hợp đồng, nếu các bên không có thỏa thuận hiệu lực vào thời điểm
khác; ngoại trừ một số loại hợp đồng chỉ có hiệu lực khi được công chứng, chứng
thực theo quy định của pháp luật như hợp đồng mua bán nhà, hợp đồng chuyển
nhượng dự án bất động sản, hợp đồng chuyển giao công nghệ…
Với hiệu lực thi hành của HĐTM thì vấn đề người đại diện ký kết cần được
đặc biệt lưu ý bởi người đại diện ký kết phải có đủ thẩm quyền ký hoặc phải được
ủy quyền hợp pháp thì hợp đồng mới có hiệu lực thi hành. Thông thường đối với
doanh nghiệp thì người đại diện được xác định rõ trong giấy chứng nhận đăng ký
kinh doanh hoặc giấy phép đầu tư. Cùng với chữ ký của người đại diện còn phải có
đóng dấu của tổ chức, doanh nghiệp. Thẩm quyền của người đại diện còn cần được
xem xét kỹ lưỡng bởi ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực thi hành của hợp đồng.
Đối với một số điều khoản quan trọng của HĐTM, tương tự các điều khoản
chủ yếu trong nội dung hợp đồng nói chung được nêu tại điều 398 BLDS 2015 bao
gồm điều khoản về đối tượng của hợp đồng; số lượng, chất lượng; giá, phương thức
35
thanh toán; thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng; quyền, nghĩa vụ
của các bên; trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; phương thức giải quyết tranh chấp.
Khi soạn thảo, các bên chú ý càng chi tiết, càng chặt chẽ càng hạn chế phát sinh
tranh chấp.
Trong điều khoản đối tượng hợp đồng, nếu HĐTM là hợp đồng mua bán hàng
hóa thì điều khoản tên hàng là nội dung không thể thiếu. Để thuận lợi cho việc thực
hiện hợp đồng và hạn chế tranh chấp phát sinh, tên hàng cần được xác định một
cách rõ ràng, khi xác định tên hàng phải là tên riêng, đặc biệt với các hàng hoá là
sản phẩm máy móc thiết bị, tuỳ từng loại hàng hoá mà các bên có thể lựa chọn một
hoặc nhiều cách xác định tên hàng sao cho phù hợp, có thể xác định tên và xuất xứ
hoặc tên và nhà sản xuất hoặc tên thương mại, tên khoa học... tuy nhiên cần lưu ý
đối tượng hợp đồng là hàng hóa không trong danh mục bị cấm kinh doanh, hoặc nếu
là trong danh mục hàng hóa bị hạn chế kinh doanh thì hàng hóa đó và các bên tham
gia mua bán hàng hoá phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp
luật (Điều 25, Điều 26, Điều 32, Điều 33 LTM 2005). Nếu HĐTM là hợp đồng dịch
vụ thì điều khoản công việc mà bên làm dịch vụ phải thực hiện cần xác định một
cách rõ ràng, đồng thời xác định rõ cách thức thực hiện, trình độ chuyên môn, kinh
nghiệm của người trực tiếp thực hiện công việc, kết quả sau khi thực hiện dịch vụ.
Điều khoản về số lượng hàng hóa, khối lượng dịch vụ thể hiện mặt lượng của
hàng hoá, dịch vụ trong hợp đồng, nội dung cần làm rõ là đơn vị tính, tổng số
lượng, khối lượng hoặc phương pháp xác định số lượng, khối lượng. Đối với hợp
đồng mua bán hàng hoá quốc tế thì cần phải quy định cụ thể cách xác định số lượng
và đơn vị đo lường bởi hệ thống đo lường của các nước là có sự khác biệt. Đối với
những hàng hoá có số lượng lớn hoặc do đặc trưng của hàng hoá có thể tự thay đổi
tăng, giảm số lượng theo thời tiết thì cũng cần quy định một độ dung sai trong tổng
số lượng cho phù hợp. Đối với dịch vụ cũng cần quy định về khối lượng làm cơ sở
nghiệm thu thanh quyết toán.
Điều khoản về chất lượng hoàng hóa, chất lượng dịch vụ: Chất lượng hàng
hoá kết hợp cùng với tên hàng, khối lượng công việc kết hợp với chất lượng dịch vụ
sẽ giúp các bên xác định được hàng hoá, dịch vụ một cách rõ ràng, chi tiết. Nói
36
chung chất lượng sản phẩm, hàng hoá được thể hiện thông qua các chỉ tiêu kỹ thuật
và những đặc trưng của chúng. Muốn xác định được chất lượng hàng hoá thì tuỳ
theo từng loại hàng hoá cụ thể để xác định, dựa vào các chỉ tiêu về cơ lý, các chỉ
tiêu về hoá học hoặc các đặc tính khác của hàng hoá đó. Nếu các bên thoả thuận
chất lượng hàng hoá theo một tiêu chuẩn chung của một quốc gia hay quốc tế thì có
thể chỉ dẫn tới tiêu chuẩn đó mà không cần phải diễn giải cụ thể.
Điều khoản đơn giá là một trong những điều khoản quan trọng, quyết định gía
trị hợp đồng. Các bên khi thoả thuận về giá cả cần đề cập đơn giá cụ thể, tổng giá trị
và đồng tiền thanh toán, về đơn giá có thể xác định giá cố định, thường áp dụng với
hợp đồng dịch vụ hoặc mua bán loại hàng hoá có tính ổn định cao về giá và thời hạn
giao hàng ngắn hay đưa ra cách xác định giá, áp dụng với những hợp đồng dịch vụ
hoặc mua bán loại hàng dễ biến động và được thực hiện trong thời gian dài. Trong
trường hợp này người ta thường quy định giá sẽ được điều chỉnh theo giá thị trường
hoặc theo sự thay đổi của các yếu tố tác động đến giá sản phẩm, dịch vụ.
Điều khoản thanh toán cần quy định rõ phương thức thanh toán, có thể lựa
chọn Phương thức thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt, séc hoặc hối phiếu, theo đó
các bên có thể trực tiếp giao nhận hoặc thông qua dịch vụ chuyển tiền, phương thức
này thường được sử dụng khi các bên đã có quan hệ buôn bán lâu dài và tin tưởng
lẫn nhau, với những hợp đồng có giá trị không lớn. Cũng có thể lựa chọn
Phương thức nhờ thu hoặc phương thức tín dụng chứng từ (L/C) là hai phương
thức được áp dụng phổ biến đối với việc mua bán hàng hoá quốc tế, thực hiện hai
phương thức này rất thuận tiện cho cả bên mua và bên bán trong việc thanh toán,
đặc biệt là đảm bảo được cho bên mua lấy được tiền khi đã giao hàng.
Điều khoản phạt vi phạm là một loại chế tài do các bên tự lựa chọn, nhằm
trừng phạt, răn đe, phòng ngừa vi phạm hợp đồng, nâng cao ý thức tôn trọng hợp
đồng của các bên. Các bên cần dựa trên mối quan hệ, độ tin tưởng lẫn nhau mà quy
định hoặc không quy định về vấn đề phạt vi phạm, thông thường các bên không
thỏa thuận điều khoản phạt đối với những bạn hàng đã có chữ “tín” với nhau. Mức
phạt thì do các bên thoả thuận, có thể ấn định một số tiền phạt cụ thể hoặc đưa ra
37
cách thức tính tiền phạt linh động theo % giá trị phần hợp đồng vi phạm. Tuy nhiên
cần lưu ý, theo quy định tại Điều 301 LTM 2005 thì mức phạt do các bên thỏa thuận
không được vượt quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm.
Điều khoản bất khả kháng là sự kiện pháp lý nảy sinh ngoài ý muốn chủ quan
của các bên, ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện hợp đồng đã ký. Trên thực tế,
nếu không thoả thuận rõ về bất khả kháng thì rất dễ bị bên vi phạm lợi dụng bất khả
kháng để thoái thác trách nhiệm dẫn đến thiệt hại cho bên bị vi phạm. Vì vậy trong
điều khoản này các bên cần phải định nghĩa rõ về bất khả kháng và quy định nghĩa
vụ của bên gặp sự kiện bất khả kháng để giảm thiểu rủi ro cho các bên tham gia hợp
đồng.
Đối với điều khoản giải quyết tranh chấp, các bên thoả thuận phải phù hợp với
quy định của pháp luật. Với Hợp đồng mua bán hàng hoá giữa các thương nhân với
các tổ chức, cá nhân khác không phải là thương nhân, hợp đồng mua bán hàng hoá
giữa thương nhân với thương nhân khi có tranh chấp thì các bên có quyền lựa chọn
hình thức giải quyết tại trọng tài (Điều 2 Luật Trọng tài thương mại 2010) hoặc tại
toà án; nếu có sự tham gia của thương nhân nước ngoài thì các bên còn có thể lựa
chọn một tổ chức trọng tài của Việt Nam hoặc lựa chọn một tổ chức trọng tài của
nước ngoài để giải quyết. Để tránh thỏa thuận trọng tài vô hiệu, khi các bên lựa
chọn hình thức giải quyết tranh chấp tại trọng tài thì thoả thuận phải nêu đích danh
một tổ chức trọng tài cụ thể. Riêng đối với hợp đồng mua bán hàng hoá giữa thương
nhân Việt Nam với thương nhân nước ngoài thì các bên còn phải cụ thể hóa việc lựa
chọn luật áp dụng khi giải quyết tranh chấp là luật của bên mua hay luật của bên
bán hay luật của một nước thứ ba hay một công ước quốc tế, theo kinh nghiệm và
thực tế cho thấy, để tránh những thua thiệt do thiếu hiểu biết pháp luật của nước
ngoài hay pháp luật quốc tế thì thương nhân Việt Nam nên chọn luật Việt Nam hoặc
một điều ước quốc tế (ví dụ như CISG) để áp dụng cho HĐTM với thương nhân
nước ngoài.
38
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
HĐTM là một trong những công cụ giúp các chủ thể đặc biệt là các doanh
nghiệp thực hiện mục tiêu thương mại của mình. Việc giao kết và thực hiện HĐTM
là một quá trình đòi hỏi các chủ thể tham gia hoạt động thương mại phải nắm chắc
trình tự, các quy định, các nguyên tắc và nắm chi tiết từng nội dung vấn đề, phải có
kỹ năng đàm phán, soạn thảo để đạt đến mục tiêu của giao dịch thương mại. Nội
dung của HĐTM hoàn toàn do các bên thoả thuận và quyết định cho phù hợp với
những điều kiện hoàn cảnh, loại hàng hoá, dịch vụ cụ thể, tuy nhiên những thoả
thuận đó phải không vi phạm các điều cấm của pháp luật.
Trong chương 1, Luận văn đã nghiên cứu khái quát các vấn đề chung về giao
kết và thực hiện HĐTM như khái niệm, đặc điểm, điều kiện hiệu lực, trình tự giao
kết, nguyên tắc thực hiện và các trách nhiệm pháp lý liên quan đến HĐTM, đồng
thời cũng đưa ra một số kỹ năng cần thiết trong quá trình đàm phán, soạn thảo
HĐTM với mong muốn các kỹ năng này trở thành một trong những tham chiếu hữu
ích cho QNC và cho những ai quan tâm đến việc giao kết và thực HĐTM.
39
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG
THƯƠNG MẠI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG VÀ XÂY DỰNG
QUẢNG NINH
2.1 Giới thiệu chung về QNC
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
QNC tiền thân là Xí nghiệp Than Uông Bí thành lập theo quyết định số 460
ngày 24 tháng 7 năm 1987 của Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Quảng Ninh; sau đó
được thành lập lại theo Nghị định 388/HĐBT của Hội đồng bộ trưởng kèm theo
Quyết định số 157/QĐ-UB của UBND tỉnh Quảng Ninh, ban hành ngày 20 tháng
01 năm 1993. Ngày đầu thành lập, xí nghiệp chỉ có gần 100 cán bộ công nhân. Từ
một xí nghiệp chỉ khai thác và sản xuất than với sản lượng khai thác và kinh doanh
thấp, ban giám đốc đã quyết định tập trung nội lực, mạnh dạn vay vốn ngân hàng,
đầu tư xây dựng Nhà máy Xi măng Uông Bí tại Xã Phương Nam, Thị Xã Uông Bí,
tỉnh Quảng Ninh.
Ngày 22 tháng 01 năm 1997 UBND tỉnh Quảng Ninh ra Quyết định số 262
QĐ/ UB về việc “Sáp nhập Xí nghiệp Xây dựng Uông Bí vào Xí nghiệp Than Uông
Bí thành Công ty xi măng và Xây dựng Uông Bí”, ngành nghề kinh doanh chủ yếu
là sản xuất xi măng, sản xuất chế biến than, sản xuất đá xây dựng và vật liệu xây
dựng, xây dựng các công trình dân dụng và công nghiệp, san lấp mặt bằng, làm
đường giao thông. Ngày đầu thành lập, Công ty có 03 đơn vị thành viên đó là Nhà
máy Xi măng Uông Bí; Xí nghiệp Xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng; Xí
nghiệp khai thác và chế biến than. Từ việc hình thành mô hình sản xuất kinh doanh
mới, câu hỏi được đặt ra cho ban lãnh đạo QNC là phải làm gì để ổn định sản xuất
kinh doanh và phát triển trong thời gian trước mắt cũng như những năm tiếp theo.
Bằng những nỗ lực vượt bậc của ban lãnh đạo cùng sự đoàn kết đồng thuận của tập
thể cán bộ công nhân viên, QNC không những đã đứng vững mà còn từng bước ổn
định được tình hình, sản xuất kinh doanh phát triển và đạt hiệu quả. Quy mô phát
triển của QNC ngày càng được mở rộng, đã thu hút và tạo được nhiều công ăn việc
làm cho con em cán bộ công nhân viên cũng như nguồn lực lao động trong và ngoài
tỉnh Quảng Ninh.
40
Gần một năm sau, trước kết quả sản xuất kinh doanh cùng với uy tín của
doanh nghiệp, UBND tỉnh Quảng Ninh thực hiện kế hoạch sáp nhập để nhằm dùng
QNC vực dậy những đơn vị gặp khó khăn do làm ăn thua lỗ trong ngành xây dựng,
ngày 11 tháng 4 năm 1998 UBND tỉnh Quảng Ninh đã ra quyết định số: 1125/QĐ -
UB, về việc sáp nhập các đơn vị và đổi tên Công ty xi măng và xây dựng Uông Bí,
thành Công ty xi măng và Xây dựng Quảng Ninh, gồm các đơn vị trực thuộc Công
ty gồm Nhà máy Xi măng Lam Thạch, Nhà máy Xi măng Hà Tu, Xí nghiệp khai
thác và chế biến Than Uông Bí, Xí nghiệp Xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng,
đây là thời điểm vô cùng khó hhăn của các doanh nghiệp nhỏ được sáp nhập vào
QNC bởi cung cách làm ăn manh mún như tình trạng chung của nhiều doanh nghiệp
Nhà nước ở vào thời điểm những năm cuối thập niên 90 của thế kỷ XX.
Việc tiếp tục phải tìm ra lời giải mới cho mục tiêu sản xuất kinh doanh theo
hướng đa ngành được đặt ra từ rất nhiều phương án, thuận lợi nhiều nhưng thử
thách cũng vô cùng cam go. Nhưng một lần nữa bằng sự tự tin, giám nghĩ, giám làm
của ban lãnh đạo QNC, qua những chuyến đi công tác học hỏi kinh nghiệm từ nhiều
mô hình, quy mô tổ chức sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp lớn, cộng với
khả năng nhạy bén, tiên lượng cung cầu của thị trường cũng như xu hướng phát
triển kinh tế của các doanh nghiệp thời mở cửa. Hướng phát triển và kinh doanh đa
ngành của QNC đã dần phát lộ, các mũi sản xuất như: xi măng, than, đá, xây lắp các
công trình … đã bổ trợ cho nhau một cách uyển chuyển và hiệu quả. Điểm nhấn tiếp
theo của chuỗi thành công này phải kể đến khi ban lãnh đạo QNC quyết tâm mở
rộng quy mô sản xuất kinh doanh, đầu tư dây truyền thiết bị hiện đại cho Nhà máy
sản xuất xi măng Lam Thạch, nâng cao năng lực cạnh tranh. Kết quả, chỉ sau một
thời gian mở rộng sản xuất, đặt tiêu chí và chất lượng sản phẩm lên hàng đầu, các
sản phẩm của QNC làm ra đã đạt được uy tín và thương hiệu, được thị trường trong
và ngoài tỉnh Quảng Ninh tin dùng.
Sau hơn 10 năm xây dựng và phát triển không ngừng QNC đã trở thành một
doanh nghiệp hàng đầu của tỉnh Quảng Ninh. Những năm đầu tiên của thế kỷ XXI,
QNC đã giành được sự tín nhiệm của khách hàng trong và ngoài tỉnh. Hoạt động
sản xuất kinh doanh không ngừng được mở rộng, đặc biệt QNC đã đầu tư chiều sâu
41
với trang thiết bị hiện đại, tiên tiến, đáp ứng mọi yêu cầu sản xuất kinh doanh trong
thời kỳ đổi mới. Do vậy mà tốc độ tăng trưởng hàng năm trung bình đạt từ 30 -
40%. QNC đã trở thành một doanh nghiệp lớn gồm 17 đơn vị thành viên với hơn
3.000 cán bộ công nhân viên, là con chim đầu đàn của ngành xây dựng tỉnh Quảng
Ninh, dẫn đầu khối doanh nghiệp địa phương toàn Tỉnh.
Đứng trước cơ hội Việt Nam ra nhập Tổ chức thương mại Thế giới WTO,
Tháng 02 năm 2005 UBND tỉnh Quảng Ninh ra quyết định số: 497/QĐ-UB về việc
“Phê duyệt Phương án Cổ phần hoá và chuyển Công ty Xi măng và Xây dựng
Quảng Ninh thành Công ty Cổ phần Xi măng và Xây dựng Quảng Ninh”. Bước
chuyển đổi mang tính bước ngoặt đối với lịch sử hình thành và phát triển của QNC
trong tư duy cũng như trong quan hệ sản xuất, đã quyết định tới việc tính toán lại
phương án sản xuất kinh doanh của QNC. Với phương trâm kinh doanh đa ngành
nghề, luôn đi trước đón đầu, áp dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất, luôn giữ chữ
tín với khách hàng và các đối tác, luôn lấy chất lượng sản phẩm làm mục tiêu phấn
đấu và xây dựng văn hoá doanh nghiệp lành mạnh nên QNC đã gặt hái được nhiều
thành công trong hoạt động sản xuất và kinh doanh.
Năm 2007 QNC đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất xi măng công nghệ lò
quay hiện đại mang thương hiệu “Xi măng Lam Thạch” với công suất 1.200.000
tấn/năm và chất lượng cao hơn nhằm đáp ứng được nhu cầu xi măng của thị trường.
Tiếp tục không ngừng đầu tư, đổi mới công nghệ, thay thế các máy móc thiết bị lạc
hậu bằng các thiết bị tiên tiến hiện đại, tiêu hao ít điện năng nhưng vẫn nâng cao
được công suất và chất lượng sản phẩm.
Tuy vậy, bước sang đầu thập niên 10 của thế kỷ XXI, trong vòng xoáy của
cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới 2008, QNC bị ảnh hưởng
nặng nề, rơi vào tình trạng hoạt động kém hiệu quả. Một trong những doanh nghiệp
hàng đầu của tỉnh Quảng Ninh với tổng tài sản lên tới hàng ngàn tỷ đồng mất dần vị
thế, hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng kém hiệu quả, giá trị cổ phiếu sụt
giảm rõ rệt từ mức cao nhất mà các nhà đầu tư săn đón là 52.000đồng/cổ phiếu, có
thời điểm giảm xuống còn 1.600đồng/cổ phiếu (giảm 32,5 lần, bằng 1/6 giá trị cổ
phiếu phát hành). Ba năm tiếp theo 2013, 2014, 2015 QNC dần rơi vào tình trạng
42
làm ăn thua lỗ, kém hiệu quả, phải giải thể, chuyển đổi mô hình hoạt động của gần
hết các đơn vị thành viên, dần thoái hết vốn sản xuất kinh doanh tại các đơn vị cổ
phần thành viên. Đến năm 2016, 2017 QNC liên tục thay đổi bộ máy lãnh đạo cấp
cao (4lần thay đổi/năm) và chính thức công bố số lỗ khủng 253 tỷ đồng/năm 2017.
Đến nay tháng 11/2018, QNC chỉ còn duy nhất một đơn vị sản xuất kinh
doanh chính là Nhà máy xi măng Lam Thạch công nghệ lò quay và một lĩnh vực
dịch vụ là đầu tư kinh doanh sơ sở hạ tầng Khu công nghiệp và khu dân cư với tổng
số cán bộ công nhân viên là 625 người. Tuy vậy, để vận hành Nhà máy xi măng,
Ban quản lý Khu công nghiệp và đầu tư hạ tầng hoạt động thông suốt, hiệu quả,
QNC cần rất nhiều bạn hàng và đối tác tin cậy, hợp tác ký kết và thực hiện nhiều
HĐTM để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn Công ty.
2.1.2 Lĩnh vực hoạt động
QNC là doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đa ngành. Các ngành nghề kinh
doanh chính là: sản xuất vật liệu xây dựng, clinker xi măng, xi măng các loại, đá
xây dựng, đá xẻ ốp lát, gạch ngói xây dựng các loại, tấm lợp xi măng, bê tông
thương phẩm, cấu kiện bê tông đúc sẵn; Khai thác, chế biến và kinh doanh than;
Khai thác, chế biến phụ gia cho sản xuất xi măng; Thi công xây lắp: Công trình
công nghiệp, dân dụng, đường giao thông, thuỷ lợi, san lấp mặt bằng, xây lắp đường
dây tải diện, trạm biến áp dưới 35KV; Dịch vụ: Vận tải đường thuỷ, vận tải đường
bộ, thương mại, du lịch, khách sạn, nhà hàng; Xuất nhập khẩu các loại vật tư, phụ
tùng, máy móc, thiết bị và vật liệu xây dựng; Sản xuất, kinh doanh bao bì đựng xi
măng; Đầu tư kinh doanh cơ sở hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp, khu dân cư, kinh
doanh cảng biển, kho vận, bất động sản; Tư vấn thiết kế các công trình xây dựng,
khai thác mỏ.
Nhưng, cho đến nay, QNC chỉ còn 2 lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính đang
hoạt động đó là sản xuất xi măng, clinke và đầu tư kinh doanh cơ sở hạ tầng khu
công nghiệp và khu dân cư.
43
Sơ đồ 2.1- Tổ chức hoạt động của QNC
ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
BAN KIỂM SOÁT
CHỦ TỊCH HĐQT
TỔNG GIÁM ĐỐC
PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC (03)
TRỢ LÝ
TỔNG GIÁM ĐỐC
TRỢ LÝ TGĐ PHỤ TRÁCH SẢN XUẤT
KHỐI SẢN XUẤT
CÁC PHÒNG BAN NGHIỆP VỤ
XI MĂNG
PHÒNG
PHÒNG CNTT
PHÒNG KCS
TỔ CHỨC
PHÒNG KINH DOANH
HÀNH CHÍNH
PHÒNG TÀI CHÍNH KT
PHÂN XƯỞNG NGUYÊN LIỆU
PHÂN XƯỞNG LÒ NUNG
PHÒNG AN NINH KIẾM SOÁT
PHÒNG KINH TẾ VẬT TƯ
PHÂN XƯỞNG XI MĂNG
PHÂN XƯỞNG SC CƠ ĐIỆN
BAN QLKCN&ĐTHT
PHÒNG AN TOÀN
BAN ĐTCL&PTHT
MÔI TRƯỜNG
PHÒNG KỸ THUẬT CƠ ĐIỆN
44
2.1.3 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của QNC
Quá trình hình thành và phát triển của QNC đã có bề dày trên 20 năm, tuy
nhiên để đánh giá xác thực chất tình trạng sản xuất kinh doanh của QNC trong giai
đoạn hiện nay, tác giả chỉ nêu gắn gọn kết quả sản xuất kinh doanh, so sánh kết quả
thực hiện với kế hoạch QNC đề ra trong 3 năm gần nhất (2015 - 2017).
Bảng 2.1: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2015
So với kế Kết quả TT Chỉ tiêu ĐVT Kế hoạch hoạch thực hiện năm
1 Sản xuất Xi măng 806.000 349.833 43,4% Tấn
2 Sản xuất Clinke 800000 757.573 94,2% Tấn
3 Sản xuất than các loại 530.000 304.528 57,5% Tấn
4 Sản xuất đá các loại 950.000 748.951 78,8% M3
5 Doanh thu Triệu đồng 1.447.000 944.490 65,3%
6 Nộp Ngân sách Triệu đồng 112.866 53.850 47,7%
Lợi nhuận sau thuế Thu 7 Triệu đồng 636 nhập danh nghiệp
( Báo cáo thường niên QNC năm 2015)
45
Bảng 2.2: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2016
So với kế Kết quả TT Chỉ tiêu ĐVT Kế hoạch hoạch thực hiện năm
Tấn Sản xuất Xi măng 480.000 536.932 112% 1
Tấn Sản xuất Clinke 850.000 766.182 90% 2
Tấn Sản xuất than các loại 220.000 144.340 66% 3
M3 Sản xuất đá các loại 1.000.000 642.078 64,2% 4
5 Doanh thu Triệu đồng 1.100.000 1.013.000 92%
6 Nộp Ngân sách Triệu đồng 40.000 28.500 71%
Lợi nhuận sau thuế Thu Triệu đồng - 65.000 7 nhập danh nghiệp
( Báo cáo thường niên QNC năm 2016)
Bảng 2.3: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2017
So với kế Kết quả TT Chỉ tiêu ĐVT Kế hoạch hoạch thực hiện năm
Sản xuất Xi măng 980.000 855.561 87,3% Tấn 1
Sản xuất Clinke 805.000 734.288 91,22% Tấn 2
Sản xuất than các loại 60.000 47.725 79,54% Tấn 3
Sản xuất đá các loại 750.000 576.613 76,88% M3 4
5 Doanh thu Triệu đồng 1.350.000 972.942 72%
6 Nộp Ngân sách Triệu đồng 29.786
Lợi nhuận sau thuế Thu Triệu đồng - 253.000 7 nhập danh nghiệp
( Báo cáo thường niên QNC năm 2017)
46
Trong cả quá trình hình thành và phát triển, QNC trải qua những nốt thăng
trầm rõ rệt, nhưng có lẽ nốt trầm trong những năm gần đây, đặc biệt năm 2017 vừa
qua đã và đang tạo thành nỗi trăn trở rất lớn cho những cán bộ công nhân viên tâm
huyết, gắn bó nhiều năm với QNC, trong đó có tác giả.
Trên bảng chỉ tiêu kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của ba năm gần đây
cho thấy lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp của QNC ngày càng sụt giảm và
chạm tới con số âm. Năm 2015 lợi nhuận sau thuế đạt 636 triệu đồng, con số này
chuyển thành âm 65 tỷ đồng vào năm 2016, và trầm trọng hơn là con số lỗ 253 tỷ
đồng vào năm 2017. Như đã nói ở phần trên, có nhiều nguyên nhân dẫn đến số lỗ
“khủng” như vậy, song tác giả cho rằng một trong những nguyên nhân cơ bản, mấu
chốt là việc “hớ hênh” trong các hoạt động thương mại của QNC khiến giá thành
sản xuất bị đẩy lên cao, trong khi giá bán sản phẩm không thể tăng do tính cạnh
tranh cao của thị trường vì thế QNC phải chịu những thiệt thòi không đáng có. Với
nghiên cứu của mình, tác giả kỳ vọng thức tỉnh được sự quan tâm của lãnh đạo
QNC đối với vai trò “hòn đá tảng” của các HĐTM để việc ký kết và thực hiện các
HĐTM với các đối tác ngày càng chặt chẽ hơn, hiệu quả hơn, góp phần giúp QNC
hạn chế các rủi ro thương mại, giảm giá thành sản xuất kinh doanh, nâng cao tính
cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ, từng bước khôi phục lại sản xuất kinh doanh, đưa
QNC thoát khỏi khó khăn, vững vàng đi lên trên con đường phát triển.
2.2 Trình tự giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại tại QNC
Trong những năm trước đây, việc giao kết và thực hiện HĐTM của QNC diễn
ra theo quy trình ngầm định hết sức đơn giản: Chỉ cần có nhu cầu, Lãnh đạo giao
cho phòng Kế hoạch vật tư nay là phòng kinh tế vật tư (đối với việc mua hàng) hoặc
phòng Tiêu thụ nay là phòng Kinh doanh (đối với việc bán hàng) thực hiện tìm đối
tác và soạn thảo hợp đồng hoặc để đối tác soạn thảo rồi tự kiểm tra trên cơ sở hợp
đồng mẫu, sau đó trực tiếp trình Tổng giám đốc ký kết thực hiện, quá trình thực hiện
vướng đến đâu lại trực tiếp xin ý kiến lãnh đạo chỉ đạo giải quyết đến đó và thường
thì phải chấp nhận những bất lợi do sự thiếu chặt chẽ ngay từ khi soạn thảo hợp
đồng. Về nội dung hợp đồng cũng chỉ sử dụng lối tư duy kinh tế đơn thuần nên chỉ
theo mẫu chung gồm các điều khoản thông thường như thông tin cơ bản các bên
47
tham gia hợp đồng; đối tượng hợp đồng (không chi tiết); điều khoản giá cả; điều
khoản giao nhận hàng; điều khoản thanh toán; điều khoản quyền và nghĩa vụ các bên
và thường không có các điều khoản dự phòng.
Việc đơn giản hóa và chỉ giao nhiệm vụ tìm đối tác, đàm phán, soạn thảo, tham
mưu ký kết hợp đồng cho một phòng ban chức năng chỉ chuyên về thương mại,
không có đủ các chuyên môn sâu về kế toán, kỹ thuật, pháp lý cũng như việc sơ sài,
hời hợt trong cách thức soạn thảo hợp đồng (chỉ dùng các điều khoản chung chung
theo mẫu) đã khiến QNC gặp rủi ro lớn trong nhiều thương vụ, gây thất thoát, thua
thiệt nhiều tỷ đồng, đẩy QNC vào khó khăn đến mức có giai đoạn trên bờ vực phá
sản.
Những năm gần đây, QNC đã lưu tâm hơn đến quá trình đàm phán, soạn thảo,
ký kết HĐTM thể hiện ở việc xây dựng một số quy trình cơ bản liên quan đến công
tác ký kết và thực hiện HĐTM làm cơ sở để thực hiện, cụ thể:
Để quản lý các hợp đồng bán hàng, ngày 01/11/2016 QNC ban hành quy trình
Bán hàng, theo đó quy trình Bán hàng của QNC tuân thủ Sơ đồ quy trình bán hàng
và Lưu đồ hướng dẫn lựa chọn Nhà phân phối và ký hợp đồng bán hàng (sơ đồ 2.2,
Lưu đồ 2.1).
Gần đây nhất, ngày 1/6/2018, QNC ban hành quy trình mua hàng thực hiện
theo các lưu đồ quy trình mua hàng chung và các lưu đồ cụ thể (Lưu đồ 2.2).
Lưu đồ thực hiện quy trình mua hàng phương thức chào hàng mức 2: Được áp
dụng khi lựa chọn nhà cung cấp hàng hóa cho giá trị mỗi đơn hàng hoặc giá trị hợp
đồng kinh tế từ 20 triệu đồng và nhỏ hơn hoặc bằng 500 triệu đồng (Lưu đồ 2.3).
Lưu đồ thực hiện quy trình mua hàng phương thức chào hàng mức 3,4: Được áp
dụng khi lựa chọn nhà cung cấp hàng hóa cho giá trị mỗi đơn hàng hoặc giá trị hợp
đồng kinh tế lớn hơn 500 triệu đồng và nhỏ hơn, bằng, trên 2 tỷ đồng (Lưu đồ 2.4).
Việc thay đổi nhận thức và hành động để khắc phục những bất cập trong việc
giao kết và thực hiện HĐTM tại QNC đã phần nào hạn chế được các rủi ro trong
thời gian vừa qua, các HĐTM được ký kết cũng có phần chặt chẽ hơn, chi tiết hơn
tùy thuộc vào tính chất của từng loại và từng đối tượng hợp đồng. Tuy nhiên tác giả
48
vẫn nhìn thấy những lỗ hổng cần tiếp tục điều chỉnh trong công tác này, tác giả sẽ
đề cập chi tiết khi phân tích một số loại hợp đồng tiêu biểu ở các phần tiếp theo.
2.3. Hợp đồng thương mại mua hàng hóa, dịch vụ
2.3.1 Thực tiễn giao kết và thực hiện các hợp đồng thương mại mua hàng hóa,
dịch vụ
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, với quy mô sản xuất hiện nay và đặc thù
ngành xi măng, QNC có nhu cầu rất lớn về mua các loại hàng hóa, dịch vụ phục vụ
sản xuất vì vậy phải thường xuyên ký kết và thực hiện các HĐTM mua hàng hóa,
dịch vụ ở các lĩnh vực khác nhau, có thể là hợp đồng mua máy móc thiết bị, mua
nguyên vật liệu, mua công cụ dụng cụ, hợp đồng dịch vụ công nghiệp (thuê sửa
chữa, thuê phá dỡ, khám sức khỏe định kỳ, ...).
Như tác giả đã đề cập ở mục 2.2, trước đây các hợp đồng mua hàng hóa, dịch
vụ mà QNC giao kết vô cùng đơn giản, sơ sài và dễ gây ra rủi ro cho chính QNC,
tuy vậy trong quá trình thực hiện, vì là các hợp đồng giá trị nhỏ lại chủ yếu ký với
các đối tác truyền thống nên mọi vấn đề phát sinh đều được QNC giải quyết với đối
tác thông qua thương lượng và chưa để xảy ra tranh chấp thương mại nào phải giải
quyết bằng tòa án hay trọng tài.
Hiện nay đa phần các HĐTM mua hàng hóa, dịch vụ của QNC đang theo một
quy trình chung là quy trình mua hàng đã được đề cập ở Lưu đồ 2.2. Việc soạn thảo
các HĐTM mua hàng hóa, dịch vụ do phòng Kinh tế vật tư QNC chủ trì, bên cạnh
đó một số hợp đồng có sự tham gia ý kiến của các phòng ban liên quan về nội dung
thuộc các mảng kế toán, kỹ thuật, sự tham gia ý kiến này đã góp phần chi tiết hóa
thêm và làm chặt chẽ hơn nội dung hợp đồng, là bệ đỡ góp phần sàng lọc các thiếu
khuyết cho hợp đồng. Hiện đa phần các hợp đồng mua hàng hóa, dịch vụ của QNC
đã bao gồm đầy đủ các điều khoản thông thường và cả các điều khoản có tính dự
phòng (điều chỉnh giá, phạt, bảo hành, sửa đổi hợp đồng, hủy bỏ chấm dứt hợp
đồng, bất khả kháng, giải quyết tranh chấp, luật áp dụng với HĐTM quốc tế...). Tuy
vậy vẫn còn một số điểm cần lưu ý sửa đổi bổ sung và chi tiết hóa hơn cho phù hợp
hơn, chặt chẽ hơn.
49
Đối với việc thực hiện hợp đồng mua hàng hóa, dịch vụ tại QNC trong giai
đoạn hiện nay, đa phần các hợp đồng được các bên tuân thủ và thực hiện nghiêm
túc, trên thực tế cũng có nhiều hợp đồng phát sinh vướng mắc ở các điều khoản như
phương thức giao hàng nhưng thường được QNC thỏa thuận để giải quyết thỏa đáng
theo thông lệ giao hàng tại QNC. Vì vậy việc thực hiện công đoạn này của hợp
đồng cũng tương đối thuận lợi, trôi chảy.
Duy chỉ có một số tranh chấp phát sinh liên quan đến điều khoản thanh toán,
mà chủ yếu là về thời hạn thanh toán, theo đó QNC chưa thực hiện đúng cam kết
trong hợp đồng mua hàng hóa. Nguyên nhân chủ yếu là do lỗi từ phía QNC, do việc
QNC thay đổi liên tục lãnh đạo cấp cao nên không kịp cập nhật và giải quyết những
tồn đọng về tài chính của Lãnh đạo tiền nhiệm hoặc không chuẩn bị được nguồn tài
chính để thực hiện hợp đồng đã ký kết. Tác giả xin đề cập đến một số tranh chấp
liên quan đến hợp đồng mua hàng hóa của QNC đã được xử lý tại Toà án nhân dân
(TAND) Thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh:
Tranh chấp thứ nhất giữa nguyên đơn là công ty TNHH Chế tạo thiết bị CN,
pháp nhân được ủy quyền là công ty Luật TNHH Minh Tín và bị đơn là QNC về
việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ, theo đó QNC đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ
theo thỏa thuận trong hợp đồng đã ký kết giữa hai bên, vì vậy công ty TNHH chế
tạo thiết bị CN đã kiện QNC ra Tòa, ngày 16/8/2018 sau 07 ngày kể từ ngày lập
biên bản hòa giải thành, TAND Thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh đã ra Quyết
định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự yêu cầu QNC thanh toán cho công
ty TNHH chế tạo thiết bị CN số tiền nợ gốc theo Biên bản đối chiếu công nợ ngày
31/12/2017 là 381.804.500 đồng (Ba trăm tám mươi mốt triệu tám trăm linh tư
nghìn năm trăm đồng) và số tiền nợ lãi tính từ ngày khởi kiện (31/5/2018) đến ngày
31/7/2018 là 8.590.601 đồng (Tám triệu năm trăm chín mươi nghìn sáu trăm linh
một đồng), nếu QNC trả nợ đúng theo lộ trình cam kết thì công ty TNHH chế tạo
thiết bị CN sẽ miễn số tiền nợ lãi trên, nếu hết thời hạn thỏa thuận mà QNC không
trả đủ thì phải chịu tiền lãi chậm trả theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 BLDS
2015; đồng thời QNC phải chịu số tiền án phí sơ thẩm là 9.759.000 đồng (Chín triệu
bảy trăm năm mươi chín nghìn đồng).
50
Tranh chấp thứ hai giữa nguyên đơn là công ty TNHH Thương mại và sản
xuất ĐH và bị đơn là QNC về việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ, theo đó QNC đã
không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng đã ký kết giữa hai
bên, vì vậy công ty TNHH Thương mại và sản xuất ĐH đã kiện QNC ra Tòa, ngày
05/9/2018 sau 07 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành, TAND Thành phố
Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh đã ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương
sự yêu cầu QNC thanh toán cho công ty TNHH Thương mại và sản xuất ĐH số tiền
nợ gốc theo Biên bản đối chiếu công nợ ngày 05/1/2018 là 234.459.200 đồng (Hai
trăm ba mươi tư triệu bốn trăm năm mươi chín nghìn hai trăm đồng), nếu hết thời
hạn thỏa thuận mà QNC không trả đủ thì phải chịu tiền lãi chậm trả theo quy định
tại Khoản 2 Điều 468 BLDS 2015; công ty TNHH Thương mại và sản xuất ĐH phải
chịu số tiền án phí sơ thẩm là 5.862.000 đồng (Năm triệu tám trăm sáu mươi hai
nghìn đồng).
Nhìn chung các tranh chấp về hợp đồng mua hàng hóa, dịch vụ của QNC từ
trước tới nay đều được giải quyết bằng thương lượng, và ngay cả khi phải ra tòa,
cũng thường được giải quyết bằng hòa giải.
2.3.2 Các vấn đề pháp lý phát sinh trong quá trình giao kết và thực hiện các hợp
đồng thương mại mua hàng hóa, dịch vụ
Trong quá trình soạn thảo, giao kết và thực hiện các HĐTM mua hàng hóa,
dịch vụ của QNC phát sinh một số các vấn đề pháp lý cần giải quyết:
Trước tiên phải kể đến đó là Tên gọi của hợp đồng: Có những hợp đồng đến
nay QNC soạn thảo vẫn lấy tên là “Hợp đồng kinh tế”, như Hợp đồng kinh tế Số
85/HĐKT - QNC - LBC ngày 12/12/2017 giữa QNC và công ty TNHH thương mại
và vận tải LB (gọi tắt là công ty LB) về việc mua bán than cám, trong khi Pháp lệnh
Hợp đồng kinh tế năm 1989 đã không còn hiệu lực thi hành, nên tên gọi này hiện
nay đã không còn phù hợp, cần đặt tên gọi cho hợp đồng cụ thể, rõ ràng hơn, có thể
sửa đổi cụ thể thành “Hợp đồng mua bán than cám”.
Trong quá trình thực hiện nhu cầu mua hàng hóa, việc nghiên cứu thị trường
và tìm kiếm nguồn hàng là rất cần thiết. Kể từ khi thành lập, gần như các giao dịch
51
thương mại mua hàng hóa của QNC đều được thực hiện với các đối tác có mối quan
hệ quen biết và lâu dần trở thành khách hàng thân thiết, khách hàng truyền thống vì
vậy việc nghiên cứu mở rộng thị trường tìm kiếm nguồn hàng không được quan
tâm, quy trình mua hàng chỉ đơn thuần như mục 2.2 đã trình bày ở trên. Dần về sau
này, QNC đã tiến tới thực hiện các quy trình hệ thống hơn, chặt chẽ hơn, đã sử dụng
các biện pháp triển khai chào hàng cạnh tranh, đấu thầu hạn chế để mua hàng hóa.
Tuy nhiên để phát huy hơn nữa vai trò việc mua hàng hóa trong việc giảm giá thành
sản xuất, tăng tính cạnh tranh, QNC cần thiết phải tổ chức đấu thầu rộng rãi trên cả
mạng Internet để tìm kiếm những khách hàng mới, sản phẩm mới có tính cạnh tranh
cao hơn.
Một vấn đề pháp lý nữa được đặt ra đó là việc kiểm tra tư cách pháp lý của đối
tác. Từ thói quen tin tưởng bạn hàng, khi ký kết HĐTM, QNC thường không yêu
cầu xuất trình bản gốc hồ sơ pháp nhân và hồ sơ cá nhân của khách hàng và người
đại diện pháp luật của khách hàng. Có những hợp đồng, mà đại diện ký kết của đối
tác là Phó giám đốc ví dụ Hợp đồng mua bán máy phân tích số 139/HĐKT-QNC-
LEEON ngày 09/5/2018 nhưng khi đàm phán, phía QNC cũng chỉ hỏi đến hình thức
ủy quyền, số, ngày tháng năm cấp giấy ủy quyền để đưa vào hợp đồng cho đầy đủ
thông tin chứ cũng không yêu cầu đối tác phải trình nên không trực tiếp xem về nội
dung ủy quyền và không biết đến thời điểm ký kết giấy ủy quyền đó có còn giá trị?
Nhìn chung QNC chưa lường trước được hậu quả pháp lý của vấn đề ủy quyền
trong quá trình giao kết và thực hiện các HĐTM, điều này sẽ khiến QNC có nguy
cơ cao gặp phải rủi ro nếu các đối tác cố tình vi phạm.
Vấn đề pháp lý thường phát sinh nhất và hay khiến QNC phải thỏa thuận lại
với các bạn hàng đó là điều khoản giao hàng. Trong hầu hết các HĐTM tại QNC
việc thỏa thuận về phương thức, địa điểm giao hàng đang chưa rõ ràng nên thường
khiến đối tác hiểu sai ý thỏa thuận của phía QNC. Ví dụ cụ thể tại Khoản 2.1 Điều 2
Hợp đồng số 85/HĐKT - QNC - LBC ngày 12/12/2017 giữa QNC và công ty LB
“Địa điểm giao nhận: Bên bán giao than cho Bên mua tại cảng Lam Thạch”, theo
thực tế công việc thì công ty LB sẽ phải vận chuyển hàng đến cảng Lam Thạch của
QNC, đồng thời phải chịu trách nhiệm bốc dỡ hàng hóa khỏi tầu hoặc phương tiện
52
vận chuyển neo đậu ở cầu cảng để giao xuống kho của QNC tại cảng Lam Thạch
hoặc kho của QNC tại nhà máy, tuy nhiên thỏa thuận này đang chưa rõ ràng về
trách nhiệm, không cụ thể là giao trên tầu của công ty LB hay giao xuống kho của
QNC, vì thế không rõ bên nào chịu trách nhiệm bốc dỡ, xuống hàng, và vận chuyển
vào kho, chi phí bốc dỡ vận chuyển hàng do ai chịu nếu phải thuê xếp dỡ vận
chuyển (khối lượng hàng rất lớn nên chi phí xếp dỡ vận chuyển cũng tương đối
nhiều). Vì vậy để chặt chẽ hơn, QNC nên thỏa thuận sửa đổi thành “Bên bán giao
than xuống kho của bên mua tại cảng Lam Thạch”.
Hay tại Hợp đồng Mua bán Vỏ bao xi măng KPK 3 lớp Số78/HĐKT - QNC -
BBHT ký ngày 13/12/2017giữa QNC và một công ty bao bì (gọi tắt là công ty Bao
bì): Khoản 4.2 Điều 4 Địa điểm giao nhận “Bên bán giao hàng hóa cho bên mua tại
kho của Nhà máy xi măng Lam Thạch, khu Hợp Thành, phường Phương Nam,
thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh”, trách nhiệm giao hàng “tại” kho của công ty
Bao bì được nhắc lại tại điểm 3 khoản 5.2. Trách nhiệm và quyền hạn của Bên bán
“Tuân thủ mọi nội qui, qui định, chỉ dẫn của Bên mua khi vào giao hàng tại kho của
Bên mua và trong suốt thời gian giao hàng”. Theo thực tế công việc thì Công ty Bao
bì sẽ phải vận chuyển hàng đến kho của QNC, đồng thời phải chịu trách nhiệm bốc
dỡ hàng hóa khỏi phương tiện vận chuyển để giao xuống kho của QNC, tuy nhiên
thỏa thuận này đang chưa rõ ràng về trách nhiệm bốc dỡ hàng, không cụ thể là giao
trên phương tiện hay giao xuống kho. Nếu phát sinh tranh chấp thì đây chắc chắn sẽ
là một bất lợi cho phía QNC. Các hợp đồng mua hàng hóa do QNC soạn thảo hiện
nay đều đang khiếm khuyết ở thỏa thuận địa điểm giao hàng như trên.
Tiếp theo là việc soạn thảo các điều khoản có tính chất phòng ngừa trong hợp
đồng, trước đây QNC đa phần theo hợp đồng mẫu với những điều khoản đơn giản
vì vậy dễ tạo nên các bẫy pháp lý cho QNC. Ngày nay QNC đã cẩn trọng hơn, soạn
thảo các hợp đồng có tính đến một số phương án phòng ngừa, chính sự chặt chẽ đó
giúp cho quá trình thực hiện hợp đồng được trôi chảy, ít xảy ra tranh chấp hoặc có
thể chỉ là tranh chấp nhỏ, giải quyết được bằng thương lượng. Tuy vậy các HĐTM
của QNC cần kỹ càng hơn nữa, tính đến tối đa các phương án dự phòng.
53
Về điều khoản phạt, QNC cần thiết phải thỏa thuận về mức phạt phù hợp với
quy định của pháp luật. Nhiều HĐTM mua hàng hóa của QNC đã cụ thể hóa điều
khoản phạt theo đúng quy định của pháp luật, tuy nhiên vẫn còn một số ít hợp đồng
chưa quy định chặt chẽ, cụ thể tại Điều 7 Hợp đồng mua bán số 151/QNC-
PINGXIANG ký ngày 30/5/2018 giữa QNC và một công ty thương mại xuất nhập
khẩu của Trung Quốc về việc mua bán máy bắn nhiệt độ vỏ lò nung Clinke quy
định “In case late shipment indicated in the Term No.3 of this, except force majuer
indicated in the term No.8, the seller must compensate 0.1% of the value of the
delay items for each week - Nếu đến hạn giao hàng quy định tại điều 3 của hợp
đồng này mà bên bán vẫn chưa giao hàng cho bên mua thì bên bán sẽ chịu phạt
0,1% giá trị hàng hóa giao chậm tính trên một tuần chậm chễ trừ các trường hợp bất
khả kháng được nêu tại điều 8 của hợp đồng này”. Theo điều khoản này QNC có
quyền phạt đối tác nếu giao hàng chậm, tuy nhiên mới đưa ra mức phạt cho mỗi
tuần chậm giao hàng, chưa đưa ra giới hạn tối đa cho mức phạt (không quá 8% của
phần giá trị vi phạm theo quy định tại LTM 2005).
Các HĐTM mua bán hàng hóa của QNC cũng đã ưu tiên giải quyết tranh chấp
phát sinh (nếu có) bằng biện pháp thương lượng song cũng mới chỉ dừng lại ở thỏa
thuận mang tính chất chung chung như vậy, theo tác giả nên quy định một thời gian
nhất định cho thương lượng trước khi đưa tranh chấp ra Tòa án hoặc Trọng tài, bởi
vì khi muốn khởi kiện đối tác, QNC phải xem xét xem còn thời hiệu khởi kiện hay
không thì vấn đề khởi kiện mới được thụ lý giải quyết. Điều 319 LTM 2005 quy
định về Thời hiệu khởi kiện theo đó “Thời hiệu khởi kiện áp dụng đối với các tranh
chấp thương mại là hai năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm
phạm, trừ trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều 237 của Luật này”.
Nhìn chung, các HĐTM mua hàng hóa, dịch vụ mà QNC đã và đang ký kết,
thực hiện còn rất nhiều điểm chưa rõ ràng và chưa phù hợp, cần điều chỉnh kịp thời,
đồng thời cần rút kinh nghiệm sâu sắc để tránh các vấn đề pháp lý khi giao kết và
thực hiện các HĐTM mới trong tương lai.
54
2.4. Hợp đồng thương mại bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ
2.4.1 Thực tiễn giao kết và thực hiện các hợp đồng thương mại bán hàng hóa,
cung ứng dịch vụ
Hiện nay, sản phẩm chính của QNC là xi măng, clinke, dự án hạ tầng khu dân
cư, dịch vụ kỹ thuật cơ sở hạ tầng khu công nghiệp, đây là các nguồn thu chủ yếu
trên doanh thu của QNC.
Cũng giống như các HĐTM mua hàng hóa, dịch vụ, các HĐTM bán hàng hóa
trước đây của QNC cũng vô cùng sơ sài và dễ gây ra rủi ro cho QNC. Về hình thức,
nội dung: các HĐTM bán hàng hóa của QNC trước đây cũng chỉ được thiết lập đơn
giản theo mẫu chung với các điều khoản cơ bản, chưa có các điều khoản dự phòng.
Tuy nhiên đến nay, đã có những cải biến vượt bậc, đảm bảo tính chặt chẽ, cụ thể
hơn và có tính đến việc phòng ngừa các rủi ro pháp lý. Các HĐTM bán hàng hóa
của QNC đang tuân thủ theo một quy trình chung là Sơ đồ quy trình bán hàng và
theo Lưu đồ hướng dẫn lựa chọn Nhà phân phối và ký hợp đồng bán hàng đã được
đề cập ở phần 2.2 trên đây.
Hiện tại việc soạn thảo các HĐTM bán hàng hóa là sản phẩm xi măng , clinke
của QNC do phòng Kinh doanh chủ trì, còn việc soạn thảo các HĐTM cung ứng
dịch vụ cho thuê đất trong khu công nghiệp Cái Lân do Ban Quản lý Khu công
nghiệp và đầu tư hạ tầng QNC đảm nhiệm chính, bên cạnh đó có sự tham gia ý kiến
của các phòng ban liên quan về nội dung hợp đồng thuộc các mảng kế toán, kỹ
thuật, sự tham gia ý kiến này đã góp phần chi tiết hóa thêm và làm chặt chẽ hơn nội
dung hợp đồng bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.
Đối với việc thực hiện hợp đồng bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ của QNC,
trong giai đoạn hiện nay, đa phần được các bên tuân thủ và thực hiện nghiêm túc.
Trên thực tế có rất ít hợp đồng phát sinh vướng mắc và nếu có thì cũng chỉ dừng lại
ở các điều khoản về thời hạn giao hàng, hoặc điều khoản phạt hợp đồng nhưng
thường được QNC thỏa thuận để giải quyết thỏa đáng nên chưa có hợp đồng nào
xảy ra tranh chấp phải viện dẫn đến toà án hay trọng tài thương mại. Tuy nhiên, về
lâu dài, với xu thế coi trọng và cẩn trọng trong việc giao kết thực hiện HĐTM của
55
các doanh nghiệp hiện nay, QNC cần thiết phải đàm phán kế hoạch giao hàng của
mình sát với thực tế có thể thực hiện được để tránh tối đa việc vi phạm về thời hạn
giao hàng cho đối tác gây ảnh hưởng đến uy tín và thiệt hại về kinh tế của QNC,
đồng thời cũng cần thỏa thuận về điều khoản phạt vi phạm tiến độ giao hàng,
chuyển tiền, nhận hàng để tránh tối đa những thiệt hại cho QNC trong việc phải lưu
kho hàng hóa do việc thực hiện kế họach đặt hàng của đối tác.
Đối với các hợp đồng cho thuê đất trong khu công nghiệp: Giai đoạn một của
Khu công nghiệp Cái Lân đã được QNC thực hiện và hoàn thành việc cho thuê đất
từ những năm đầu tiên của thế kỷ XXI, đến nay chỉ còn công tác quản lý, duy tu,
bảo dưỡng và thu phí dịch vụ hàng kỳ. Việc thực hiện các hợp đồng thuê đất này
vẫn được các bên tuân thủ và chưa phát sinh tranh chấp, tuy nhiên vẫn còn một số
điểm lưu ý cho QNC mà tác giả sẽ đề cập ở phần 2.4.2 dưới đây để QNC rút kinh
nghiệm trong giai đoạn 2, giai đoạn mở rộng Khu công nghiệp Cái Lân mà QNC
mới được UBND tỉnh Quảng Ninh giao tại Quyết định số 1165/QĐ-UBND ngày
12/4/2018.
Đối với các sản phẩm là dự án hạ tầng khu dân cư, QNC đã bán hết, hiện nay
chỉ còn một số dự án còn dang dở không đáng kể, đang được tiếp tục hoàn thiện
(Dự án khu dân cư Đông Yên Thanh - Uông Bí, Dự án Trung tâm Thương mại Cầu
Sến - Uông Bí...). Với dự án khu dân cư Cẩm Bình, Cẩm Thủy thuộc Thành phố
Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, các hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất và tài sản gắn
liền với đất đa phần đã hoàn thiện, chỉ còn lại 08 hợp đồng của các hộ dân không
thể thực hiện được do QNC không giải phóng được mặt bằng, QNC đã thỏa thuận
trả lại tiền cho các hộ dân trong tháng 11/2018.
2.4.2 Các vấn đề pháp lý phát sinh trong quá trình giao kết và thực hiện các hợp
đồng thương mại bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ
Vấn đề đầu tiên phải kể đến trùng hợp với vấn đề đã đề cập đối với các hợp
đồng mua hàng hóa, dịch vụ đó là tên hợp đồng. Tất cả các hợp đồng bán xi măng,
clinke hiện nay của QNC đều mang một tên giống nhau đó là “Hợp đồng kinh tế”,
ví dụ Hợp đồng kinh tế Số: 00/HĐXM/QNC - CTTĐ được ký kết ngày 01/01/2018
56
giữa QNC và công ty TNHH TĐ về việc Mua bán xi măng Lam Thạch PCB30,
PCB40; Hợp đồng kinh tế Số: 01/HĐCLK/QNC - TT được ký kết ngày 01/01/2018
giữa QNC và công ty TNHH TM và vận tải TT về việc Mua bán Clinke Cpc50... Để
đúng quy định pháp luật khi Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 đã hết hiệu lực,
QNC cần sửa đổi cụ thể tên của các hợp đồng này thành “Hợp đồng mua bán xi
măng”, “Hợp đồng mua bán Clinke”.
Tiếp theo là việc soạn thảo các điều khoản trong hợp đồng, nhất là các điều
khoản về giá cả và điều chỉnh giá, điều khoản thanh toán, đặc biệt đối với các hợp
đồng có hiệu lực dài như các hợp đồng cho thuê đất cần thận trọng tính đến tối đa
các phương án dự phòng do tình hình thị trường thay đổi, do các yếu tố trượt giá
đồng tiền ....
Một bài học đắt giá cho QNC về điều khoản giá cả và điều chỉnh giá chính là
việc ký các hợp đồng cho thuê đất, mặt bằng và hạ tầng khu công nghiệp Cái Lân
trước đây của QNC. Tất cả các hợp đồng này đều là hợp đồng dài hạn, có hợp đồng
lên đến gần 50 năm, giá phí sử dụng hạ tầng trong hợp đồng là loại phí cao nhất
nhưng lại là giá cố định, không có điều chỉnh trong suốt thời gian thuê. Theo các
hợp đồng cho thuê đất và hạ tầng làm mặt bằng nhà xưởng trong Khu công nghiệp
Cái Lân QNC đã ký (giai đoạn từ 2003 đến 2015), QNC thỏa thuận với các đối tác
“Phí sử dụng hạ tầng được ổn định trong suốt thời gian thuê” (Điều 6 của các Hợp
đồng số 15/20007/HĐTLĐ-BQL ngày 08/6/2007 - Hợp đồng cho thuê lại đất tại
Khu công nghiệp Cái Lân - Hạ Long - Quảng Ninh ký với Chi nhánh công ty
TNHH TY tại Quảng Ninh; hợp đồng số 27/2010/HĐTLĐ-BQL ngày 27/01/2010 -
Hợp đồng cho thuê mặt bằng và hạ tầng tại Khu công nghiệp Cái Lân - Hạ Long -
Quảng Ninh ký với công ty cổ phần thương mại SMB; hợp đồng số 06/2015/TCHC-
QNCC ngày 01/4/2015 - Hợp đồng thuê đất, mặt bằng và hạ tầng tại Khu công
nghiệp Cái Lân - Hạ Long - Quảng Ninh ký với Công ty cổ phần pháp triển không
gian đô thị HL, ... ). Đến nay, năm2018, sau hơn 15 năm hoạt động, cùng với sự
trượt giá của đồng tiền, mặt bằng giá thuê của các khu công nghiệp khác cũng cao
hơn gấp ba lần giá QNC đã và đang cho thuê nhưng QNC không thể đàm phán để
điều chỉnh giá, một lý do đơn giản là điều khoản điều chỉnh giá tại các hợp đồng đã
57
ký kết không quy định được điều chỉnh theo thị trường nên các đơn vị thứ cấp
không chấp nhận cho QNC thỏa thuận sửa đổi, chính lý do này đã gây thiệt hại
không nhỏ cho QNC khi thực hiện hợp đồng. Một vấn đề bất lợi nữa cho QNC
trong các hợp đồng cho thuê đất này đó là mặc dù giá thuê cố định nhưng điều
khoản thanh toán không phải thanh toán một lần duy nhất khi giao nhận mặt bằng
mà lại quy định trả theo chu kỳ 01năm/lần hoặc 05 năm/lần tức là thanh toán thành
nhiều chu kỳ, có những hợp đồng còn không quy định về chu kỳ thanh toán mà phải
ngầm hiểu 01 năm, vì vậy phần thu mỗi chu kỳ là rất nhỏ so với tổng giá trị thuê và
không đáng kể để tái sử dụng nguồn vốn.
Một vấn đề pháp lý tiêu biểu tiếp theo trong các HĐTM bán hàng hóa, cung
ứng dịch vụ của QNC mà tác giả muốn đề cập ở đây là trong các HĐTM bán hàng
hóa, cung ứng dịch vụ của QNC hiện nay đó là điều khoản phạt hầu hết không được
đặt ra. QNC cần thiết phải dự tính đến khả năng đối tác có kế hoạch nhập hàng và
đã thông báo cho QNC tập trung tổng lực sản xuất phục vụ đơn hàng song vì lý do
nào đó đối tác chưa chuyển tiền để QNC có cơ sở giao hàng khiến hàng QNC tồn
kho lớn, ảnh hưởng sản xuất, không đảm bảo duy trì chất lượng (vì là sản phẩm đặc
thù). Từ dự tính này, QNC cần thỏa thuận về mức phạt hợp đồng phù hợp với quy
định của pháp luật để đảm bảo ràng buộc đối tác thực hiện đúng thỏa thuận, tránh
tối đa rủi ro cho QNC.
Tại một số hợp đồng bán hàng hóa, tác giả nhận thấy đang có xu hướng rủi ro
thiệt hại nghiêng nhiều về phía QNC, ví dụ như tại hợp đồng Số 05/HĐKT-QNC-
AĐ được ký kết giữa QNC (Bên A) và công ty TNHH TL (Bên B, gọi tắc là công ty
TL) ngày 01/01/2018 về việc mua bán xi măng, tại Điểm 3 Điều 3 về vùng phân
phối và sản lượng, hai bên thỏa thuận “Bên B đăng ký kế hoạch đặt hàng tháng tiếp
theo cho bên A vào ngày 14 hàng tháng để bên A chủ động trong việc xây dựng kế
hoạch sản xuất và bán hàng”, tuy nhiên không hề có thỏa thuận về điều khoản phạt,
kể cả phạt nếu không chuyển tiền để nhận hàng khiến bên A phải lưu kho... Xuất
phát từ điều khoản này, tác giả đặt ra tình huống nếu công ty TL đăng ký kế hoạch
đặt hàng cụ thể của tháng nào đó, sau khi nhận được kế hoạch đặt hàng, QNC tập
trung sản xuất để cung cấp đủ sản lượng cho công ty TL, sẵn sàng trong kho để chờ
58
giao theo thỏa thuận, mà đến hạn công ty TL vẫn chưa chuyển tiền để nhận hàng
khiến lượng hàng tồn kho của QNC lớn thì QNC sẽ gặp bất lợi mà không có cơ sở
để yêu cầu công ty TL chịu phạt hợp đồng do đã không chuyển tiền, nhận hàng theo
kế hoạch, gây thiệt hại cho QNC. Đặc biệt nếu đơn hàng của công ty TL lại vào
mùa mưa thì chắc chắn QNC sẽ gặp khó khăn cho việc bảo quản hàng hóa, trong
điều kiện đặc thù hàng hóa xi măng nếu để dí lâu sẽ ảnh hưởng đến chất lượng sản
phẩm, QNC thậm chí có thể phải đưa sản phẩm vào nghiền lại. Vì vậy cần thiết thỏa
thuận chi tiết điều khoản phạt liên quan đến vấn đề này trong các HĐTM bán hàng
hóa, cung ứng dịch vụ của mình để tránh các rủi ro trong quá trình thực hiện.
Bên cạnh xu hướng rủi ro cho QNC, do không thỏa thuận về điều khoản phạt
trong các HĐTM bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, cũng có khả năng rủi ro sẽ xảy ra
với các đối tác của QNC bởi trong hầu hết các HĐTM bán xi măng, clinke mặc dù
đối tác thỏa thuận thanh toán tiền hàng cho QNC trước khi nhận hàng nhưng lại
không thỏa thuận phạt QNC nếu nhận tiền hàng rồi mà không đảm bảo kế hoạch
giao hàng cho đối tác. Đứng trên góc độ của đối tác (người mua hàng của QNC) thì
điều khoản này rất quan trọng vì ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động mua hàng của
đối tác.
Đồng thời như các HĐTM mua hàng hóa, dịch vụ, các HĐTM bán hàng hóa,
cung ứng dịch vụ của QNC cũng nên quy định một thời gian nhất định cho thương
lượng trước khi đưa tranh chấp ra Tòa án hoặc Trọng tài do vấn đề thời hiệu khởi
kiện như đã đề cập ở mục 2.3.2 trên đây.
2.5 Hợp đồng ủy thác xuất khẩu xi măng, clinke
2.5.1 Thực tiễn giao kết và thực hiện các hợp đồng ủy thác xuất khẩu xi măng,
clinke
Đối với sản phẩm xi măng, clinke, để xây dựng được thương hiệu cho sản
phẩm xi măng của mình, những năm đầu thế kỷ XXI, QNC đã mở rộng được thị
trường xi măng tương đối mạnh khắp cả nước, hệ thống các đại lý bán sản phẩm xi
măng của QNC trải rộng khắp tỉnh Quảng Ninh, đặc biệt đông đảo đại lý tại các tỉnh
lân cận như Bắc Ninh, Bắc giang, Hải Dương, Hải Phòng.
59
Kể từ năm 2015, khi hoạt động sản xuất kinh doanh của QNC kém hiệu quả,
thị trường xi măng của QNC dần bị mất, số lượng các đại lý, đối tác bị thu hẹp chỉ
còn tiêu thụ chủ yếu ở thị trường Quảng Ninh. Lãnh đạo QNC đã tìm ra con đường
mới cho công tác tiêu thụ sản phẩm xi măng và Clinke của QNC, đó là ủy thác xuất
khẩu sản phẩm xi măng, clinke cho đơn vị khác.
QNC ký kết và thực hiện nhiều hợp đồng ủy thác xuất khẩu xi măng và clinke
sang thị trường Madalaska, Nam Phi, Philippine, Indonesia ... thúc đẩy sản lượng
tiêu thụ thông qua các hợp đồng ủy thác xuất khẩu và tạm thời triệt tiêu tồn kho.
Các hợp đồng ủy thác xuất khẩu do phòng Kinh doanh QNC soạn thảo có sự tham
vấn ý kiến của phòng Tài chính kế toán, phòng Công nghệ KCS, phòng kinh tế vật
tư và các phòng ban liên quan vì vậy các hợp đồng tương đối chặt chẽ và đầy đủ.
Hoạt động ủy thác xuất khẩu đã giúp QNC mang về nguồn doanh thu chủ yếu
cho QNC, năm 2017 doanh thu từ ủy thác xuất khẩu xi măng và clinke lên đến 750
tỷ đồng, dự báo trong năm 2018, con số này đạt 800 tỷ đồng.
2.5.2 Các vấn đề pháp lý phát sinh trong quá trình giao kết và thực hiện các hợp
đồng ủy thác xuất khẩu xi măng, clinke
Các hợp đồng ủy thác xuất khẩu của QNC tương đối tương đồng về nội dung
tất cả các thỏa thuận (trừ thỏa thuận về tên hàng, sản lượng, giá cả), vì thế trong quá
trình giao kết và thực hiện các hợp đồng này, phát sinh rất nhiều các vấn đề pháp lý
cần giải quyết.
Trước tiên phải kể đến đó là Điều khoản về tiến độ cấp hàng: Hợp đồng ủy
thác xuất khẩu số UTXK CLK 10: QNC-TTP 2018 được ký kết ngày 27/07/2018
giữa QNC và công ty TNHH Thương mại và vận tải TTP (gọi tắt là công ty TTP) về
việc xuất khẩu Clinke Lam Thạch, tại Điểm 2.1.2 Điều 2 quy định “Tốc độ xếp
hàng tại cảng giao hàng: Tối thiểu 3.000 tấn/ngày làm việc 24h liên tục với điều
kiện thời tiết thuận lợi, bao gồm cả thứ 7, chủ nhật và ngày lễ trừ các ngày lễ lớn”.
Với tình hình tài chính yếu, thực trạng nguồn nguyên liệu đầu vào (than, đá,
sét...) không ổn định, nhân lực và dây chuyền thiết bị cũ nát hiện nay, QNC đang rất
khó khăn để đảm bảo ổn định về công suất phục vụ các đơn hàng xuất khẩu lớn,
60
đảm bảo tiến độ xuất hàng, vì thế nếu các hợp đồng ủy thác xuất khẩu thỏa thuận
không phù hợp về điều khoản thời gian và tiến độ giao hàng thì sẽ dễ gây rủi ro cho
QNC trong quá trình thực hiện hợp đồng.
Tiếp theo là việc quy định mức phạt đối với QNC khi không đảm bảo tiến độ
giao hàng: Cũng tại Điểm 2.1.2 Điều 2 hợp đồng số UTXK CLK 10: QNC-TTP
2018 nêu trên quy định “Trường hợp bên ủy thác không đảm bảo tốc độ làm hàng
nêu trên, bên ủy thác sẽ phải chịu phạt giao hàng chậm theo mức phạt được thông
báo bởi bên nhận ủy thác tại thời điểm phương tiện có mặt và xếp hàng”. Với thỏa
thuận phạt chậm giao hàng như trên, QNC mới chỉ thỏa thuận được với công ty
TTP về điều khiện bất khả kháng do thời thiết nhưng chưa thỏa thuận được về các
trường hợp bất khả kháng khác có thể xảy ra khiến QNC không thể đảm bảo tốc độ
xếp hàng, đồng thời thỏa thuận về “phạt giao hàng chậm như trên” cũng gây bất lợi
cho QNC bởi mức phạt không phải là một tỷ lệ phần trăm hợp lý nào đó do hai bên
thỏa thuận theo quy định pháp luật mà lại do phía công ty TTP chủ động thông báo
yêu cầu mức phạt buộc QNC phải chấp nhận.
Vấn đề thỏa thuận về chuyển rủi ro trong các hợp đồng ủy thác xuất khẩu của
QNC cũng cần xem xét kỹ lưỡng, tránh mâu thuẫn trong các điều khoản của hợp
đồng. Thực tế hiện nay, trong thỏa thuận về quyền sở hữu, chuyển giao và rủi ro
đang có những thỏa thuận giường như mâu thuẫn nhau: Hợp đồng ủy thác xuất khẩu
số 01/2018/UTXK-CEM/QNC-TTP được ký kết ngày 02/05/2018 giữa QNC và
công ty TNHH Thương mại và vận tải TTP về việc xuất khẩu Xi măng CEM I
52.5N đóng bao Jumbo 1,5 tấn, tại Ý 2.3.1 Điểm 2.3 Điều 2 quy định “Bên ủy thác
phải chịu các chi phí, rủi ro mất hoặc hư hại (nếu có) cho đến khi Sản phẩm được
giao trên tàu biển của bên nhận ủy thác tại Địa điểm giao hàng (cảng NMXM Lam
Thạch, Quảng Ninh), khi đó quyền sở hữu Sản phẩm, rủi ro hoặc hư hại về hàng
hóa sẽ được chuyển giao cho Bên nhận ủy thác” có nghĩa là công ty TTP sẽ có
quyền sở hữu sản phẩm và chịu trách nhiệm về rủi ro cho sản phẩm kể từ khi QNC
giao hàng lên tầu tại cảng Lam Thạch, tuy vậy tại ý 2.3.4 của cùng Điều này lại quy
định “Bên A phải chịu thiệt hại về những rủi ro trong quá trình uỷ thác xuất khẩu
mỗi lô hàng nếu bên B chứng minh là họ không có lỗi và đã làm đầy đủ mọi trách
61
nhiệm đòi bồi thường ở người thứ ba (là người có lỗi gây rủi ro như làm đổ vỡ,
cháy…. sản phẩm). Trường hợp này người thứ ba thực hiện nghĩa vụ bồi thường
trực tiếp cho bên A” có nghĩa là nếu khi công ty TTP đã nhận hàng và làm thủ tục
xuất khẩu mà xảy ra rủi ro không phải do lỗi của công ty TTP thì QNC phải nhận
rủi ro thay cho công ty TTP và công ty TTP chỉ làm đầy đủ mọi trách nhiệm đòi bồi
thường ở người thứ ba gây rủi ro, QNC sẽ nhận bồi thường trực tiếp từ người thứ
ba. Hai điểm này đang có mâu thuẫn nhau, QNC đã chuyển rủi ro cho công ty TTP
kể từ thời điểm giao nhận hàng trên tầu cảng Lam Thạch thì công ty TTP phải trực
tiếp chịu rủi ro trừ khi chứng minh được rủi ro đó xảy ra là do nguyên nhân của sản
phẩm từ trước khi nhận hàng của QNC.
Đối với những hợp đồng ủy thác xuất khẩu mà QNC đang thực hiện như trên,
nên chỉnh sửa điều khoản về quyền sở hữu, chuyển giao và rủi ro như sau: “Bên ủy
thác phải chịu các chi phí, rủi ro mất hoặc hư hại (nếu có) cho đến khi Sản phẩm
được giao trên tàu biển của bên nhận ủy thác tại Địa điểm giao hàng (Cảng Lam
Thạch, Quảng Ninh), khi đó quyền sở hữu Sản phẩm, rủi ro hoặc hư hại về hàng
hóa sẽ được chuyển giao cho Bên nhận ủy thác. Bên nhận ủy thác phải hoàn toàn
chịu trách nhiệm về các rủi ro của hàng hóa kể từ khi nhận hàng trên tầu tại cảng
Lam Thạch, trừ trường hợp rủi ro xảy ra do lỗi của sản phẩm từ trước khi giao nhận
hàng và Bên nhận ủy thác phải chứng minh được lỗi đó”.
Một vấn đề pháp lý nữa được đặt ra cho các hợp đồng ủy thác xuất khẩu của
QNC đó là: Đối với các thỏa thuận về điều khoản phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại
cần phải chỉnh sửa cho phù hợp với quy định chung và thực tiễn pháp lý. Là HĐTM
chọn luật áp dụng là Luật Việt Nam thì phải tuân thủ các quy định của pháp luật
Việt Nam: Thiệt hại tới đâu, bồi thường tới đó; phạt vi phạm cũng theo quy định
không vượt quá 8% tổng giá trị vi phạm của hợp đồng (LTM2005).
Thế nhưng tại Điểm 5.1 Điều 5 của hợp đồng ủy thác xuất khẩu số
01/2018/UTXK-CEM/QNC-TTP được ký kết ngày 02/05/2018 giữa QNC và công
ty TNHH Thương mại và vận tải TTP lại quy định “Hai bên cam kết thực hiện theo
đúng các điều khoản của hợp đồng này. Nếu bên nào vi phạm thì phải bồi thường
cho Bên kia về các khoản thiệt hại trực tiếp và gián tiếp (bao gồm nhưng không giới
62
hạn, thiệt hại về gián đoạn kinh doanh, suy giảm về độ tín nhiệm với khách hàng và
các thiệt hại tương tự), mất mát, hư hại, tổn hại, phí và chi phí (bao gồm phí và chi
phí tư vấn pháp lý và chuyên môn khác, và các chi phí khác) mà Bên kia phải chịu
hoặc phải thanh toán. Tuy nhiên tổng giá trị bồi thường không vượt quá 8% tổng giá
trị hợp đồng”. Điều khoản này đang đi ngược với quy định và thực tiễn pháp lý bởi
đã là thiệt hại phải bồi thường thì phải theo nguyên tắc “thiệt hại đến đâu, bồi
thường đến đó”, nếu toàn bộ lô hàng bị thiệt hại mà chỉ bồi thường không quá 8%
giá trị hợp đồng thì phần giá trị hợp đồng còn lại 92% là quá lớn. Giường như đang
có sự nhầm lẫn giữa cách hiểu về việc bồi thường thiệt hại và việc phạt vi phạm
HĐTM của những người tham gia soạn thảo ký kết hợp đồng này.
Nói tóm lại, các hợp đồng ủy thác xuất khẩu sản phẩm của QNC đã vượt ra
khỏi khuân mẫu hợp đồng thông thường, đã có các điều khoản dự phòng về các rủi
ro cho các bên ký kết, tuy nhiên các điều khoản này vẫn còn rất nhiều lỗ hổng vì
vậy QNC cần phải thỏa thuận chi tiết hơn nữa đặc biệt đối với các điều khoản mà
tác giả đã phân tích ở trên để hoạt động tạo nguồn doanh thu chính của QNC thực
sự an toàn, hiệu quả, bền vững.
2.6 Đánh giá việc áp dụng các quy định pháp luật, quy định, quy trình nội bộ
liên quan đến giao kết và thực hiện các hợp đồng thương mại tại QNC
Nhìn chung trong suốt quá trình hình thành và phát triển, Lãnh đạo QNC luôn
hướng tới mục tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật. Đối
với việc áp dụng các quy định của pháp luật vào quá trình giao kết và thực hiện hợp
đồng của QNC về cơ bản được tuân thủ tương đối đầy đủ, tuy nhiên vẫn còn một số
lỗ hổng pháp lý mà tác giả đã phân tích từ mục 2.3 đến 2.5 Chương 2. Các lỗ hổng
này như tác giả đã nhận định có thể xuất phát từ tập quán kinh doanh thương mại
của QNC, từ thói quen tin tưởng đối tác kinh doanh, từ việc Lãnh đạo quản lý của
QNC chưa đánh giá hết tầm quan trọng của việc giao kết và thực hiện các HĐTM
đối với việc tồn tại và phát triển của QNC, cũng có thể một phần do QNC chưa có
được đội ngũ cán bộ có kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực HĐTM để tham mưu giúp
việc cho Ban lãnh đạo trong từng thương vụ.
63
Để thực hiện mục tiêu phát triển của mình, QNC vẫn tiếp tục soạn thảo, giao
kết và thực hiện các HĐTM trên cơ sở quy định của pháp luật, áp dụng các quy định
của BLDS, LTM và các Luật chuyên ngành, có tính đến các tình huống pháp lý
trong quá trình giao kết và thực hiện các hợp đồng. Nhìn chung các HĐTM của
QNC đã vượt ra khỏi khuân mẫu của tư duy kinh tế, thương mại đã bao gồm các
thỏa thuận chặt chẽ liên quan đến hiểu biết về kỹ thuật và có các điều khoản mang
tư duy pháp lý, có dự phòng rủi ro.
Tuy nhiên đến nay các HĐTM của QNC bao gồm cả các hợp đồng mua, bán
hàng hóa, cung ứng và nhận cung ứng dịch vụ, ủy thác xuất khẩu sản phẩm... vẫn
còn một số lỗ hổng, thiếu khuyết cần được chỉnh sửa như tác giả đã đề cập ở các
phần trên. Cũng trong các hợp đồng này, còn nhiều quy định của pháp luật chưa
được QNC áp dụng triệt để khi đàm phán, soạn thảo, giao kết và thực hiện để bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và còn nhiều vấn đề thỏa thuận đã, đang và có
thể sẽ mang lại rủi ro cho QNC trong quá trình thực hiện hợp đồng.
Về việc xây dựng và thực hiện các quy định, quy trình nội bộ của QNC liên
quan đến việc giao kết và thực hiện HĐTM:
Trước đây khi sản xuất kinh doanh chưa mở rộng, QNC còn là một doanh
nghiệp nhà nước, hoạt động sản xuất kinh doanh dưới sự quản lý của nhà nước trực
tiếp là của Sở Xây dựng - UBND tỉnh Quảng Ninh, thì đối tác của QNC mang tính
truyền thống, các HĐTM của QNC được soạn thảo có nội dung đơn giản theo mẫu
chung và hoạt động giao kết và thực hiện HĐTM của QNC cũng trôi chảy, không
phát sinh tranh chấp.
Ngày nay, kể từ sau khi cổ phần hóa, hội nhập với xu thế phát triển chung và
đa dạng của các mô hình sản xuất kinh doanh, QNC ngày càng có thêm nhiều đối
tác, bạn hàng mới, thêm nhiều hình thức hoạt động thương mại mới. QNC đã xây
dựng các quy định, quy trình nội bộ của mình nhằm đảm bảo sự phù hợp với từng
thời kỳ để từng bước đưa việc soạn thảo, đàm phán, giao kết và thực hiện HĐTM
với các đối tác vào khuôn khổ chung, có trình tự hợp lý hơn, đảm bảo thống nhất và
64
tối ưu hóa lợi ích của QNC đồng thời cũng trên tinh thần hợp tác bình đẳng, cùng có
lợi với các đối tác.
Thành quả của việc nỗ lực của cán bộ công nhân viên QNC, cụ thể là các lợi
nhuận mang về từ các HĐTM mà QNC ký kết và thực hiện đang được ghi nhận bởi
kết quả sản xuất kinh doanh của QNC 9 tháng đầu năm 2018 đã báo cắt được con số
lỗ và đang dần từng bước có lãi.
Bảng 2.4: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh hết quý 3 năm 2018
So với kế Kết quả TT Chỉ tiêu ĐVT Kế hoạch hoạch thực hiện năm
1 Sản xuất Xi măng 768.950 560.000 82,83% Tấn
2 Sản xuất Clinke 728.000 781.000 107,28% Tấn
3 Sản xuất than các loại 130.000 84.000 64,62% Tấn
4 Doanh thu Triệu đồng 950.000 990.000 104,2%
5 Nộp Ngân sách Triệu đồng 30.000 50.000 166,67%
Lợi nhuận sau thuế Thu 6 Triệu đồng 5.245 nhập danh nghiệp
(Báo cáo sản xuất và Báo cáo tài chính riêng và hợp nhất QNC quý 3 năm 2018)
KẾT LUẬN CHƯƠNG II
QNC là một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đa ngành, từ xuất phát điểm
chỉ là một đội thanh niên xung kích ở thập niên 90 của thế kỷ XX, QNC trở thành
một xí nghiệp chuyên sản xuất than, rồi phát triển thành Công ty xi măng Uông Bí
với quy mô huyện thị, sau đó vào những năm đầu của thế kỷ XXI phát triển thành
Công ty xi măng và xây dựng Quảng Ninh với quy mô tỉnh thành, trở thành doanh
nghiệp địa phương lớn nhất tỉnh Quảng Ninh, thu hút trên dưới 3.000 lao động với
hàng trăm hợp đồng mua bán, cung ứng dịch vụ mỗi năm. Sau khi cổ phần hóa và
đặc biệt chuyển sang những năm đầu thập niên mười của thế kỷ XXI, QNC gặp
65
không ít khó khăn, sản xuất kinh doanh thua lỗ, năm 2017 QNC đứng trên bờ vực
của sự phá sản, tuy vậy với sự cố gắng nỗ lực, đoàn kết của tập thể cán bộ công
nhân viên, chín tháng đầu năm 2018, QNC đã có bước hồi phục. Để duy trì và tiếp
tục phát huy những kết quả đạt được trong sản xuất kinh doanh chín tháng đầu năm
2018, phát huy truyền thống đoàn kết vượt qua thử thách, QNC đang không ngừng
hoàn thiện các quy định, quy trình nội bộ, bám sát vào các quy định của pháp luật
để ký kết và thực hiện các HĐTM phục vụ sản xuất kinh doanh, đưa QNC vượt qua
khó khăn, vững trãi đi lên trên con đường phát triển.
Trong chương 2, Luận văn đã giới thiệu khái quát về lịch sử hình thành và
phát triển của QNC, giới thiệu về quy mô, mô hình sản xuất kinh doanh của QNC
hiện nay, giới thiệu trình tự giao kết và thực hiện các HĐTM của QNC ở từng giai
đoạn phát triển, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay thông qua các lưu đồ, sơ đồ quy
trình cụ thể, từ đó đi sâu phân tích thực tiễn giao kết và thực hiện các loại HĐTM
tiêu biểu tại QNC đồng thời đề cập và phân tích các vấn đề pháp lý phát sinh trong
quá trình giao kết và thực hiện các HĐTM mua hàng hóa, dịch vụ, bán hàng hóa,
cung ứng dịch vụ, ủy thác xuất khẩu xi măng, clinke của QNC. Đồng thời có một sự
đánh giá tổng quan việc áp dụng các quy định pháp luật và các Quy định, quy trình
nội bộ của QNC trong việc giao kết và thực hiện các HĐTM với các đối tác.
66
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP THÚC NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC GIAO KẾT
VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XI
MĂNG VÀ XÂY DỰNG QUẢNG NINH
3.1. Định hướng phát triển của QNC và xu thế giao kết, thực hiện hợp đồng
thương mại tại QNC
QNC vừa kết thúc đợt phát hành thêm 12.000.000 cổ phiếu tăng vốn điều lệ từ
251.811.090.000 đồng lên 371.811.090.000 đồng. Với mục tiêu phát triển và mở
rộng sản xuất kinh doanh, trong mảng hoạt động sản xuất xi măng, QNC đang củng
cố cơ sở hạ tầng, đầu tư sửa chữa, nâng cấp thiết bị máy móc, dây chuyền sản xuất
để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm phục vụ ngày càng nhiều đơn hàng ủy
thác xuất khẩu lớn, tiến tới mở rộng thị trường xuất khẩu trực tiếp sản phẩm ra nước
ngoài đồng thời dần củng cố lại thị trường nội địa, mục tiêu là phân phối sản phẩm
của QNC rộng khắp các tỉnh thành và trực tiếp vươn ra khỏi biên giới quốc gia.
Trong lĩnh vực đầu tư cơ sở hạ tầng khu công nghiệp và khu dân cư, QNC vừa
nhận thực hiện giai đoạn hai của dự án mở rộng khu công nghiệp Cái Lân do UBND
tỉnh Quảng Ninh giao, QNC đang tập trung sửa chữa cải tạo đường giao thông,
mương thoát nước, vỉa hè giai đoạn 78 ha thuộc dự án đầu tư nâng cấp cải tạo hạ
tầng kỹ thuật và đổi mới quản lý, vận hành khu công nghiệp Cái Lân quy mô 245 ha
đồng thời đang chú trọng vào việc tham gia đầu tư các dự án chiến lược trên địa bàn
tỉnh Quảng Ninh.
Để thực hiện các định hướng sản xuất kinh doanh lớn này, dự báo QNC sẽ
phải tìm kiếm và mở rộng hơn nữa các quan hệ với các đối tác và thực hiện ngày
càng nhiều các hình thức đấu thầu, chào hàng, mời chào giá để ký kết các HĐTM
tốt nhất với mục tiêu mang lại tối đa lợi ích cho QNC. Mới đây, ngày 16/10/2018
QNC vừa phát hành thư mời chào giá cung cấp thạch cao nguyên liệu sản xuất xi
măng; ngày 19/10/2018 phát hành thư mời chào giá cung cấp dịch vụ vận chuyển xi
măng bao; ngày 05/11/2018 phát hành thư mời chào giá cung cấp vật tư, thiết bị,
phụ tùng và lắp đặt bơm cấp nước làm mát tại Nhà máy xi măng lam Thạch; ngày
05/11/2018 phát hành thư mời chào giá cung cấp các sản phẩm đúc hợp kim cho
Nhà máy xi măng lam Thạch... và chắc chắn còn tiếp tục nhiều thư mời chào giá,
67
thư chào hàng khác nữa. Kế tiếp những thư mời này sẽ là các HĐTM mua bán hàng
hóa, cung ứng và nhận cung ứng dịch vụ được hình thành. Có thể thấy, xu thế về
hình thức các HĐTM của QNC sẽ ngày càng đa dạng và số lượng các HĐTM của
QNC sẽ ngày càng lớn.
Ban lãnh đạo QNC đang tập trung toàn lực và chú trọng đến tất cả các hoạt
động phục vụ sản xuất kinh doanh, trong đó đặc biệt quan tâm đến một phần việc
quan trọng là giao kết và thực hiện các HĐTM để mua các hàng hóa máy móc thiết
bị, nguyên nhiên vật liệu phục vụ sản xuất, các hợp đồng nhận cung ứng các dịch vụ
để phục vụ sản xuất kinh doanh, cung ứng dịch vụ cho thuê đất, cơ sở hạ tầng kỹ
thuật khu công nghiệp; các hợp đồng bán xi măng, clinke phục vụ thị trường trong
nước và các hợp đồng ủy thác xuất khẩu, đồng thời tiến tới đăng ký và hoàn thiện
các thủ tục để thực hiện việc xuất khẩu trực tiếp sản phẩm xi măng và clinke Lam
Thạch. Trong tương lai không xa, các HĐTM nói chung trong đó có cả các hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế sẽ được QNC ký kết và thực hiện ngày càng nhiều
hơn. Để bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình, QNC càng cần phải hoàn
thiện hơn nữa công tác giao kết và thực hiện HĐTM, thực hiện các giải pháp hữu
ích mà tác giải sẽ đề cập dưới đây để thúc đẩy hiệu quả của việc giao kết và thực
hiện các HĐTM.
Các quy trình, quy định nội bộ của QNC trong việc mua bán hàng hóa ngày
càng được hoàn thiện hơn vì thế các HĐTM mà QNC giao kết và thực hiện cũng
ngày càng chi tiết hơn, các quy định của pháp luật liên quan đến lĩnh vực HĐTM
được áp dụng triệt để hơn nhằm mang lại lợi ích cho QNC, giảm thiểu các rủi ro
phát sinh trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng. Tuy vậy, cho đến nay các
hợp đồng này vẫn còn khá nhiều điểm khuyết cần chỉnh sửa như tác giả đã phân tích
và cần thiết QNC phải rút ra bài học kinh nghiệm trong việc giao kết và thực hiện
các hợp đồng của mình, đảm bảo sự chặt chẽ và đồng bộ của tất cả các HĐTM.
68
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại tại
QNC
Để đưa QNC vượt qua khó khăn trong giai đoạn hiện nay, từng bước tìm lại đà
tăng trưởng và phát triển, một trong các nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là thúc đẩy
hiệu quả của việc giao kết và thực hiện HĐTM. Quan điểm định hướng của tác giả
đối với việc tìm ra các giải pháp thúc đẩy hiệu quả của việc giao kết và thực hiện
HĐTM tại QNC có một số điểm mấu chốt sau:
3.2.1 Tổng hợp đề xuất sửa đổi, bổ sung các điều khoản của hợp đồng thương
mại
Trong chương 2, tác giả đã đi sâu phân tích một số hợp đồng tiêu biểu thuộc
từng loại HĐTM cụ thể của QNC, đề xuất sửa đổi bổ sung các điều khoản chi tiết
nhằm giảm thiểu rủi ro cho QNC trong quá trình giao kết và thực hiện HĐTM, tại
mục này tác giả sẽ tóm tắt lại để làm nổi bật lên các ý kiến đề xuất hữu ích của
mình:
Đối với các hợp đồng mua hàng hóa, dịch vụ, QNC cần thiết đặt lại tên gọi
cho từng hợp đồng cụ thể hơn; để tìm kiếm nguồn hàng tốt nhất, cần thiết phải tổ
chức đấu thầu rộng rãi trên cả mạng Internet; khi ký kết hợp đồng, phải kiểm tra chi
tiết về tư cách pháp lý của đối tác, phải thỏa thuận rõ ràng về phương thức, địa điểm
giao hàng, phải tính đến tối đa các phương án dự phòng rủi ro; phải chú ý khi soạn
thảo các điều khoản có tính chất phòng ngừa. Về điều khoản phạt, cũng cần thiết
thỏa thuận về mức phạt phù hợp với quy định của pháp luật; đồng thời nên quy định
một thời gian nhất định cho thương lượng trước khi đưa tranh chấp ra Tòa án hoặc
Trọng tài để đảm bảo thời hiệu khởi kiện theo quy định.
Với các hợp đồng bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, QNC cần sửa đổi cụ thể
tên của các hợp đồng; đồng thời cần thận trọng tính đến tối đa các phương án dự
phòng rủi ro, lưu tâm đến các điều khoản về giá cả và điều chỉnh giá, điều khoản
thanh toán. Trong các hợp đồng bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, QNC cũng cần
thỏa thuận về mức phạt hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật để đảm bảo
ràng buộc đối tác thực hiện đúng thỏa thuận.
69
Tại các hợp đồng cho thuê đất Khu công nghiệp Cái Lân hiện nay, một vấn
đề nhức nhối, trăn trở của lãnh đạo QNC đó là điền khoản điều chỉnh giá, đặc biệt
đối với các hợp đồng có thời hạn nhiều năm. Để phù hợp và giảm thiểu rủi ro, QNC
nên viện dẫn Điều 420 BLDS 2015 về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh cơ bản
thay đổi để yêu cầu các đối tác thuê đất trong KCN Cái Lân đàm phán lại về giá cho
thuê của hợp đồng theo hướng có điều chỉnh hàng năm, tránh thiệt thòi cho QNC
như hiện nay. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 420 BLDS 2015 thì hoàn cảnh thay
đổi cơ bản khi có đủ các điều kiện sau: Sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân
khách quan xảy ra sau khi giao kết hợp đồng; Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các
bên không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh; Hoàn cảnh thay đổi lớn
đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được
giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác; Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà
không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên;
Bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho
phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức
độ ảnh hưởng đến lợi ích. Cũng tại Điều này, Khoản 2 quy định “Trong trường hợp
hoàn cảnh thay đổi cơ bản, bên có lợi ích bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu bên kia
đàm phán lại hợp đồng trong một thời hạn hợp lý”. Trường hợp các bên không thể
thỏa thuận được về việc sửa đổi hợp đồng trong một thời hạn hợp lý thì một trong
các bên có thể yêu cầu Tòa án giải quyết(Khoản 3 Điều 420 BLDS 2015). Như vậy,
QNC cần thiết phải viện dẫn điều này để điều chỉnh điều khoản về giá cả và điều
chỉnh giá trong tất cả các hợp đồng cho thuê đất trước đây của mình tại khu công
nghiệp Cái Lân.
Đối với các hợp đồng ủy thác xuất khẩu, nếu không thỏa thuận phù hợp về
điều khoản thời gian và tiến độ giao hàng thì sẽ dễ gây rủi ro cho QNC trong quá
trình thực hiện hợp đồng. Trên thực tế việc quy định mức phạt đối với QNC trong
các HĐTM bán hàng hóa, khi không đảm bảo tiến độ giao hàng, gây bất lợi cho
QNC bởi mức phạt không phải do hai bên thỏa thuận. Một vấn đề cần lưu ý nữa là
thỏa thuận về chuyển rủi ro trong các hợp đồng ủy thác xuất khẩu của QNC cũng
cần xem xét kỹ lưỡng, tránh mâu thuẫn. Đối với các thỏa thuận về điều khoản phạt
70
vi phạm, bồi thường thiệt hại trong các HĐTM bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ
của QNC cần được chỉnh sửa cho phù hợp với quy định chung và thực tiễn pháp lý
trong từng giai đoạn. LTM Việt Nam không cho phép đòi bồi thường thiệt hại mang
tính gián tiếp, vì thế trong các hợp đồng ủy thác xuất khẩu của QNC hiện nay, cần
phải sửa đổi lại cho phù hợp, bỏ quy định về thiệt hại gián tiếp để đảm bảo thực
hiện đúng quy định của pháp luật.
Về điều khoản giải quyết tranh chấp tại các HĐTM của QNC hiện nay cần
phải cụ thể hóa việc lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp, tác giả thiết nghĩ, QNC
nên chọn trọng tài để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ HĐTM và nếu lựa chọn
trọng tài thì nên sử dụng các điều khoản trọng tài mẫu của VIAC.
Đối với thỏa thuận về luật áp dụng, nếu HĐTM mà QNC ký kết là hợp đồng
ngoại thì QNC có thể thỏa thuận cụ thể ngay trong hợp đồng về việc áp dụng CISG
để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quá trình giao kết và thực hiện HĐTM
với đối tác.
3.2.2 Giải pháp sửa đổi bổ sung các quy trình, quy định của QNC liên quan đến
việc giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại
Các quy định, quy trình nội bộ của QNC hiện nay liên quan đến việc mua
hàng, bán hàng ... được tác giả cụ thể hóa bằng các sơ đồ, lưu đồ trình bày trong
phần 2.2 trên. Các quy trình này hiện đang tương đối phù hợp với thực tế mô hình
tổ chức sản xuất và yêu cầu sản xuất kinh doanh của QNC. Việc tuân thủ thực hiện
các quy trình, quy định này cũng đang được các phòng ban, cán bộ công nhân viên
QNC ưu tiên thực hiện, tuy nhiên cũng còn một số điểm trong quá trình áp dụng các
quy trình, tác giả cho rằng QNC cần chỉnh sửa bổ sung cho phù hợp hơn nữa để
đảm bảo ổn định sản xuất kinh doanh, từng bước đưa QNC vượt qua khó khăn, từng
bước phục hồi và phát triển.
Liên quan đến quy trình mua hàng hóa, dịch vụ: các lưu đồ hiện nay QNC
đang thực hiện bao gồm lưu đồ 2.2, 2.3, 2.4, 2.5, 2.6, 2.7, 2.8. Các lưu đồ này đã
phần lớn đáp ứng được yêu cầu thống nhất về cách thức cũng như trình tự mua hàng
hóa dịch vụ trong toàn QNC, tạo ra một hệ thống các hợp đồng được thiết lập theo
71
các bước quy chuẩn. Tuy nhiên tác giả cho rằng có một số điểm của quy trình cần
chỉnh sửa, bổ sung cho chặt chẽ hơn, phù hợp hơn, cụ thể:
Tại lưu đồ 2.2 (Lưu đồ thực hiện quy trình mua hàng), bước 7 giao cho phòng
Kinh tế vật tư đặt hàng/ký hợp đồng sau đó bước 8 là các phòng ban chuyên môn
làm thủ tục tạm ứng, thanh toán, giao nhận hàng, hoàn thiện hồ sơ. Có thể thấy
phòng Kinh tế vật tư QNC không thể trực tiếp ký hợp đồng mà phải trình người có
thẩm quyền ký kết, phòng Kinh tế vật tư chỉ có thể chủ trì việc soạn thảo hợp đồng,
tuy nhiên cũng cần có sự tham gia tích cực của các phòng ban, bộ phận liên quan
như kế toán, kỹ thuật, kinh doanh trong quá trình soạn thảo để tạo ra một bệ đỡ chắc
chắn cho hợp đồng. Vì vậy Lưu đồ này nên tách ra và bổ sung như sau: Tách bước 7
giao phòng Kinh tế vật tư chủ trì phối hợp với các phòng ban liên quan soạn thảo
hợp đồng; bước 8 trình Tổng giám đốc hoặc người được ủy quyền ký hợp đồng;
bước 9 các phòng ban chuyên môn làm thủ tục tạm ứng, thanh toán, giao nhận hàng,
hoàn thiện hồ sơ; bước 10 giao phòng Kinh tế vật tư chủ trì báo cáo Tổng giám đốc
tiến độ thực hiện hợp đồng.
Cũng như vậy, với bước 5 của lưu đồ 2.3 (Lưu đồ thực hiện quy trình mua hàng
phương thức chào hàng mức 2) và bước 7 của Lưu đồ 2.4 (Lưu đồ thực hiện quy trình
mua hàng phương thức chào hàng mức 3,4), QNC đang quy định phòng Kinh tế vật tư
và phòng liên quan phê duyệt và ký hợp đồng. Nên tách ra thành hai bước trong đó
giao cho phòng Kinh tế vật tư chủ trì phối hợp với các phòng ban liên quan soạn
thảo hợp đồng và sau đó mới trình Tổng giám đốc hoặc người được ủy quyền ký
hợp đồng, đồng thời giao phòng Kinh tế vật tư chủ trì báo cáo Tổng giám đốc tiến
độ thực hiện hợp đồng.
Các lưu đồ: Lưu đồ 2.5 (Lưu đồ quy trình quản lý thực hiện hợp đồng nguyên,
nhiên liệu); lưu đồ 2.6 (Lưu đồ quy trình quản lý thực hiện hợp đồng thiết bị, vật tư
phụ); lưu đồ 2.7 (Lưu đồ quy trình quản lý thực hiện hợp đồng dịch vụ công
nghiệp); lưu đồ 2.8 (Lưu đồ quy trình quản lý thực hiện hợp đồng ngoại thương),
đều có điểm chung đó là bước cuối cùng là bước thanh toán, tuy nhiên theo tác giả,
QNC cần thiết nghiên cứu và triển khai một bước quan trọng hơn đó là bước chủ trì
tham mưu giải quyết các tranh chấp phát sinh (nếu có) đối với từng loại hợp đồng.
72
Liên quan đến quy trình bán hàng hóa, hiện nay QNC đang thực hiện lưu đồ
2.1 (Lưu đồ hướng dẫn lựa chọn Nhà phân phối và ký hợp đồng bán hàng), trong lưu
đồ này, tại bước đề nghị ký hợp đồng, QNC giao cho phòng Kinh doanh soạn dự thảo
hợp đồng và trực tiếp trình Phó tổng giám đốc phụ trách kinh doanh hoặc Tổng giám
đốc ký. Nếu thực hiện theo quy trình này thì hợp đồng bán hàng hóa, cung ứng dịch
vụ của QNC có thể thiếu giá đỡ sàng lọc về các vấn đề liên quan đến kế toán, kỹ
thuật, pháp lý của hợp đồng. Vì vậy tác giả cho rằng cần thiết phải bổ sung vào
bước này trách nhiệm phối hợp của các phòng ban Tài chính kế toán, KCS, pháp
chế (nếu có) với phòng Kinh doanh trong việc soạn thảo hợp đồng bán hàng hóa.
Nhìn chung, hiện nay QNC đã xây dựng được các quy trình, quy định liên
quan đến việc giao kết và thực hiện HĐTM. Các quy trình, quy định này về cơ bản
đã đáp ứng được phần lớn các yêu cầu, đảm bảo sự chặt chẽ hơn của các HĐTM so
với trước đây, tuy nhiên cần thiết phải tập trung hơn nữa, chi tiết hơn nữa về bước
quy định việc tham gia soạn thảo, tham mưu ký kết thực hiện hợp đồng. Với các
HĐTM có giá trị cho mỗi đơn hàng hoặc giá trị hợp đồng lớn hơn 500 triệu đồng và
nhỏ hơn, bằng, trên 2 tỷ đồng, trong khi chờ đợi thực hiện được giải pháp thành lập
phòng pháp chế, QNC nên nhờ tư vấn pháp lý từ phía các chuyên gia, các Luật sư,
các công ty Luật... để đảm bảo sự chặt chẽ trong quá trình giao kết và thực hiện
HĐTM có giá trị lớn.
Trong các quy trình của QNC hiện nay, cần thiết phải bổ sung một bước quan
trọng đó là bước giải quyết các hậu quả pháp lý (nếu có) khi xảy ra tranh chấp trong
quá trình thực hiện các HĐTM trong đó quy định cụ thể, phân công trách nhiệm của
các cá nhân, phòng ban liên quan đến việc giải quyết tranh chấp trên tinh thần ưu
tiên tìm các biện pháp thương lượng, hòa giải.
Việc QNC có định hướng xuất khẩu trực tiếp sản phẩm xi măng và clinke ra
nước ngoài cũng cần phải có công tác chuẩn bị kỹ lưỡng các điều kiện về, thủ tục
pháp lý, nghiên cứu và tìm kiếm thị trường phù hợp, tuyển dụng và đào tạo nguồn
nhân lực ... và nhất là phải xây dựng một quy trình xuất khẩu trực tiếp trong đó đặc
biệt chú trọng đến bước soạn thảo hợp đồng xuất khẩu (cả bằng ngôn ngữ Việt Nam
và ngôn ngữ quốc tế), bước đàm phán, ký kết và bước thực hiện hợp đồng, giải
73
quyết các vấn đề pháp lý phát sinh trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng
xuất khẩu. Trường hợp cần thiết, QNC nên có tư vấn pháp luật từ các chuyên gia
như Luật sư, các công ty Luật... có uy tín trước khi ký kết và thực hiện hợp đồng
xuất khẩu sản phẩm.
3.2.3 Khảo sát kỹ thị trường và chuẩn bị các điều kiện, kế hoạch trước khi giao
kết và thực hiện hợp đồng thương mại
Như tác giả đã đề cập, trước những năm đầu thập niên 10 của thế kỷ XXI,
QNC đa phần ký HĐTM với các bạn hàng truyền thống, đối tác thường là những
đối tác tin cậy, thông tin về đối tác được QNC nắm chắc, tập quán và thói quen
thương mại được các bên hiểu rõ, mặt khác số lượng các giao dịch thương mại chưa
nhiều, vì thế công tác khảo sát thị trường trước khi giao kết và thực hiện các HĐTM
cũng chưa được chú trọng.
Ngày nay với nhu cầu mở rộng sản xuất, thị trường hàng hóa dịch vụ có tính
cạnh tranh cao vì vậy trước khi giao kết và thực hiện HĐTM, QNC cần tập trung
khảo sát kỹ lưỡng về thị trường để tìm những nguồn hàng chất lượng tốt nhất, phù
hợp nhất, giá thành hợp lý nhất. Việc chào giá, mời chào giá nhằm mục tiêu tìm
kiếm nguồn hàng và khách hàng đảm bảo tối ưu về chất lượng, giá thành, dịch vụ...
cho QNC.
Mặt khác, số lượng đối tác đang ngày càng nhiều và đa dạng hơn, trên thị
trường, bên cạnh những đối tác đáng tin cậy còn có rất nhiều các doanh nghiệp
“ma” (pháp nhân không hợp pháp, không có tư cách pháp nhân; địa chỉ “ma”, chủ
thể ký kết không đủ thẩm quyền...), họ có thể khiến QNC gặp phải những rủi ro
không đáng có khi giao kết và thực hiện HĐTM. Vì thế việc tìm kiếm thông tin về
các đối tác thực sự rất cần thiết, giúp QNC phòng ngừa các rủi ro liên quan đến tư
cách pháp lý của đối tác và người đại diện ký kết.
Một sự chuẩn bị cần thiết nữa đó là: Khi giao dịch HĐTM, QNC phải chuẩn bị
đầy đủ hơn nữa các điều kiện về nhân lực, vật lực (người giao nhận hàng hóa, kho
chứa hàng hóa, các phương tiện thử nghiệm hàng hóa, nguồn tài chính để chi trả với
các hợp đồng mua hàng hóa, nhận cung ứng dịch vụ...), lập kế hoạch chi tiết để thực
74
hiện hợp đồng như kế hoạch giao nhận hàng hóa, vận chuyển xếp dỡ, đặc biệt là kế
hoạch thanh toán... để tránh tối đa các phát sinh tranh chấp phải viện dẫn đến Toà
án hoặc Trọng tài như hai vụ việc tác giả đã nêu lên ở phần 2.4 trên, làm ảnh hưởng
đến uy tín của QNC, đồng thời QNC cần chuẩn bị sẵn sàng tất cả các phương án
ứng phó đối với các rủi ro thể xảy ra từ việc giao kết và thực hiện từng HĐTM.
3.2.4 Gải pháp đào tạo nguồn nhân lực
Công tác đào tạo nguồn nhân lực là một yêu cầu cấp thiết để phục vụ tốt các
hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung. Riêng với công tác soạn thảo, ký kết,
thực hiện các HĐTM, rất cần thiết phải có một đội ngũ cán bộ vững vàng về kiến
thức chuyên môn, am hiểu sâu và cập nhật kịp thời các quy định của pháp luật trong
lĩnh vực thương mại và các lĩnh vực liên quan, có kỹ năng soạn thảo tốt, khả năng
đàm phán tốt và đặc biệt tham mưu tốt cho lãnh đạo trong suốt quá trình giao kết và
thực hiện từng HĐTM của QNC.
Hiện nay, QNC không thiếu các cán bộ quản lý kỹ thuật lành nghề, các công
nhân viên vận hành bảo dưỡng tốt dây chuyền sản xuất để sản xuất ra sản phẩm,
nhưng các cán bộ quản lý giỏi, am hiểu về pháp luật hợp đồng và thị trường hàng
hóa dịch vụ để mua, bán sản phẩm hàng hóa thì không nhiều, thậm chí còn rất thiếu.
QNC cần khẩn trương tuyển chọn và có kế hoạch đào tạo các cán bộ trẻ, có
tiềm năng, có trình độ hiểu biết về luật pháp, ngoại ngữ… có các kiến thức cần thiết
về thị trường hàng hóa dịch vụ để tham mưu, giúp việc trong lĩnh vực HĐTM.
Để thực hiện phương án đào tạo nguồn nhân lực đủ tâm, đủ tầm phục vụ hoạt
động sản xuất kinh doanh của QNC, đảm bảo có được đội ngũ cán bộ được đào tạo
bài bản phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh đặc biệt trong lĩnh vực giao dịch
thương mại thì Lãnh đạo QNC cần xem xét cử một số cán bộ của mình tham gia các
kháo đào tào chuyên sâu như khóa đào tạo Thạc sỹ luật kinh tế của Trường Đại học
Ngoại thương hay các khóa đào tạo của các trường kinh tế, các trường luật hiện nay.
Về phía cá nhân từng cán bộ nhân viên QNC cũng cần thiết không ngừng học
hỏi, tự trau dồi nâng cao kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm làm việc, tự học tập,
nghiên cứu để tự tin, chắc chắn các vấn đề khi tham gia vào qua trình giao kết và
75
thực hiện HĐTM, cùng chung tay đoàn kết đưa QNC vượt qua khó khăn, phục hồi
trở lại và vững bước phát triển.
3.2.5 Thành lập bộ phận hoặc phòng Pháp chế trong đó có nhân lực chuyên môn
hóa về Luật kinh tế
Để tham mưu, giúp việc cho lãnh đạo QNC trong việc giao kết và thực hiện
các HĐTM, rất cần thiết thành lập một bộ phận, hoặc phòng pháp chế chuyên
nghiên cứu sâu các quy định của pháp luật nói chung, trong đó có các quy định liên
quan pháp luật thương mại Việt Nam, quy định của pháp của các nước đối tác, các
Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên để từ đó tham mưu cho lãnh đạo QNC
trong việc ký kết và thực hiện các HĐTM.
Bộ phận hoặc phòng pháp chế của QNC sẽ là cơ quan thường trực cùng với
các phòng ban chuyên môn giải quyết các tranh chấp thương mại phát sinh (nếu có)
thông quan thương lượng, hòa giải.
Trường hợp có phát sinh các tranh chấp phải giải quyết trước tòa án hoặc
trọng tài thì bộ phận hoặc phòng pháp chế của QNC sẽ là đơn vị chuyên môn tập
trung thu thập, phân tích các chứng cứ, tham mưu giúp QNC thắng kiện, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp cho QNC.
Bộ phận pháp chế của QNC phải bao gồm những nhân lực được đào tạo bài
bản theo ngành Luật, có chuyên môn sâu về các chuyên ngành Luật, có hiểu biết
rộng về các lĩnh vực, có trình độ ngoại ngữ giỏi, chịu khó trau dồi kiến thức và kỹ
năng làm việc theo ngành ... có như vậy mới tham mưu giúp việc tốt cho lãnh đạo
QNC trong quá trình tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh trong đó có các hoạt
động thương mại.
Trong mỗi doanh nghiệp, việc hiểu biết pháp luật đóng vai trò rất quan trọng
trong các hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và các hoạt động thương mại nói
riêng. Những doanh nghiệp có riêng một bộ phận pháp chế tốt, chuyên đi sâu
nghiên cứu luật pháp và tư vấn tham mưu kịp thời cho lãnh đạo doanh nghiệp sẽ tự
tin và an tâm hơn khi tham gia ký kết và thực hiện các HĐTM và tổ chức hoạt động
sản xuất kinh doanh, từ đó doanh nghiệp cũng phát triển bền vững hơn. Vì thế ngày
76
nay, ngày càng nhiều doanh nghiệp, tập đoàn lớn thành lập riêng một bộ phận pháp
chế (Ban pháp chế, phòng pháp chế).
Với xu thế này, QNC nên sớm quan tâm thành lập bộ phận pháp chế riêng cho
mình để xem xét, đánh giá và tư vấn các vấn đề về pháp lý trong hoạt động sản xuất
kinh doanh, đặc biệt các vấn đề pháp lý trước khi giao kết và thực hiện các loại
HĐTM.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
Chủ chương của lãnh đạo QNC hiện nay là tập trung tối đa các nguồn lực cho
sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu ổn định và phát triển sản xuất kinh doanh, củng
cố uy tín và thương hiệu QNC trên thị trường. Từ mục tiêu đó, QNC ngày càng thu
hút được nhiều bạn hàng lớn, đáng tin cậy, số lượng các giao dịch thương mại của
QNC không ngừng tăng. Năm 2018, QNC đã ký tổng cộng 115 hợp đồng mua hàng
hóa, trang thiết bị, nguyên nhiên vật liệu đầu vào, dịch vụ đồng thời ký kết 25 hợp
đồng cung ứng dịch vụ, bán hàng hóa, ủy thác xuất khẩu trong đó các các hợp đồng
mang tính nguyên tắc cho cả năm sản xuất kinh doanh. Số lượng HĐTM của QNC
tiếp tục có xu thế tăng lên vào năm 2019.
Để thực hiện thành công các HĐTM đã và sẽ ký kết, QNC cần có các giải
pháp cụ thể. Trong chương 3, Luận văn đã giới thiệu khái quát về QNC. Cuối cùng
đưa ra và phân tích các giải pháp QNC cần thực hiện để thúc đẩy hiệu quả của việc
giao kết và thực hiện các HĐTM.
Trong các nhóm giải pháp này, trước hết phải kể đến là việc khảo sát kỹ thị
trường và chuẩn bị các điều kiện, kế hoạch trước khi giao kết và thực hiện HĐTM;
tiếp theo QNC cần hoàn thiện các quy định, quy trình liên quan đến việc giao kết và
thực hiện các HĐTM. Bên cạnh đó. QNC cần đào tạo được nguồn nhân lực đủ vững
vàng về kiến thức, đặc biệt các kiến thức pháp luật, đủ trình độ về mọi mặt để đáp
ứng yêu cầu ngày càng cao trong việc ký kết và thực hiện các HĐTM. Một giải
pháp quan trọng và căn bản nhất mà tác giả muốn đề cập ở chương 3 này là giải
pháp thành lập một bộ phận hoặc phòng ban pháp chế, chuyên nghiên cứu và tham
mưu giúp việc cho lãnh đạo QNC về các vấn đề pháp lý trong đó đặc biệt là các vấn
77
đề pháp lý liên quan đến việc giao kết và thực hiện các HĐTM. Đây là những giải
pháp tác giả cho rằng thực sự căn bản và cần thiết để QNC có thể vươn lên khẳng
định uy tín và thương hiệu trên thị trường, từng bước củng cố và phát triển sản xuất
kinh doanh.
78
KẾT LUẬN
Cùng với sự phát triển theo xu hướng ổn định của hệ thống pháp luật, các
doanh nghiệp ngày càng chú trọng đến các vấn đề pháp lý trong quá trình giao kết
và thực hiện HĐTM, việc giao kết và thực hiện các HĐTM của QNC cũng vì thế
mà cần phải tiệm cận tới sự hoàn thiện và chặt chẽ hơn.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, Luận văn đã khái quát các vấn đề chung
về giao kết và thực hiện HĐTM, phân tích khái niệm, đặc điểm, các điều kiện và
trình tự giao kết các HĐTM; trình bày các nguyên tắc giao kết và thực hiện các
HĐTM; phân tích các hậu quả pháp lý của việc vi phạm HĐTM từ đó nêu rõ trách
nhiệm pháp lý của các chủ thể tham gia. Bằng quan điểm tích cực và tư duy biện
chứng, dựa vào những kiến thức đã học và kinh nghiệm thực tiễn, tác giả tư vấn một
số kỹ năng đàm phán, soạn thảo, ký kết và thực hiện HĐTM giúp giảm thiểu rủi ro
cho các doanh nghiệp.
Từ thực tiễn giao kết và thực hiện HĐTM tại QNC, tác giả rút ra được các vấn
đề pháp lý phát sinh trong quá trình giao kết và thực hiện các HĐTM trong từng
lĩnh vực mua hàng hóa, dịch vụ, bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, ủy thác xuất khẩu
hàng hóa của QNC, nêu bật các tồn tại mà hiện nay QNC đang mắc phải và chưa
nhìn nhận ra trong quá trình giao kết và thực hiện HĐTM, đồng thời cũng tham vấn
cho QNC những ý kiến xác đáng nhằm mục tiêu giúp lãnh đạo QNC kịp thời điều
chỉnh để tránh các rủi ro trong quá trình giao kết và thực hiện các HĐTM với các
đối tác.
Tổng kết, đánh giá việc áp dụng các quy định pháp luật, các quy định, quy
trình nội bộ liên quan đến giao kết và thực hiện HĐTM tại QNC một lần nữa giúp
QNC rà lại các HĐTM của mình, đối chiếu với các quy định pháp luật đồng thời rà
lại sự hợp lý giữa các quy định, quy trình nội bộ với các HĐTM mà QNC đã, đang
và sẽ ký kết, kịp thời chỉnh sửa lại cho phù hợp với thực tiễn giao kết và thực hiện
HĐTM nói chung.
Trên cơ sở những vấn đề đã nêu, tác giả đề xuất, kiến nghị thực hiện các giải
pháp thúc đẩy hiệu quả của việc giao kết và thực hiện HĐTM của QNC trong đó
79
định hướng giải quyết các vấn đề pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của QNC trong từng thương vụ.
Một trong những bài học sương máu cho QNC trên chặng đường phát triển
trước đây là chưa xem trọng giá trị của việc soạn thảo, giao kết và thực hiện
HĐTM, điều này góp phần tăng nguy cơ đẩy QNC đến bên bờ vực phá sản. Tác giả
cho rằng, với tốc độ phát triển của các doanh nghiệp và của nền kinh tế thị trường
hiện nay, nếu QNC không kịp thời điều chỉnh những bất cập của mình trong lĩnh
vực giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại, QNC có nguy cơ sẽ tiếp tục gặp
phải những rủi ro ngày càng lớn trong hoạt động thương mại, ảnh hưởng nghiêm
trọng đến khả năng tồn vong và phát triển trong tương lai.
Đối với một doanh nghiệp địa phương như QNC thì vấn đề nghiên cứu này
đặc biệt hữu ích khi tổng thể các HĐTM được soạn thảo, ký kết và thực hiện chặt
chẽ hơn, QNC sẽ tránh được nhiều rủi ro trong quá trình ký kết và thực hiện các
HĐTM (đa phần các HĐTM của QNC ở mỗi lĩnh vực như tác giả phân tích ở
chương 2 đều có các điều khoản giống nhau, cùng một quy trình ký kết và thực
hiện).
Đã đến lúc, các chủ nhân của QNC là các cổ đông, ban lãnh đạo, cán bộ công
nhân viên QNC cần nhìn nhận lại vấn đề, tham khảo ý kiến tư vấn của các chuyên
gia và ý kiến đề xuất trên đề tài của tác giả để định hướng đi mới, chắc chắn hơn, an
toàn hơn, hiệu quả hơn cho các HĐTM trong quá trình hoạt động sản xuất kinh
doanh.
Phạm vi về nội dung nghiên cứu của đề tài là tất cả các loại HĐTM nên được
coi là rộng đối với một đơn vị nhưng về phạm vi không gian mới chỉ trên quy mô
một doanh nghiệp nên chưa thực sự rộng như quy mô một ngành sản xuất kinh
doanh. Đề tài là một vấn đề khá hấp dẫn nếu tiếp tục được phát triển nghiên cứu
trên quy mô ngành xi măng hoặc rộng hơn nữa là quy mô các ngành công nghiệp
khác. Tác giả tin chắc rằng nếu được nghiên cứu ở phạm vi không gian rộng hơn
như vậy thì sẽ còn nhiều bài học kinh nghiệm quý báu được rút ra, giúp các doanh
80
nghiệp lớn như các Tập đoàn, các Tổng công ty tránh được các tranh chấp phát sinh
trong quá trình giao kết và thực hiện các HĐTM.
Nhiệm vụ của đề tài là nghiên cứu thực tiễn giao kết và thực hiện các HĐTM
mua, bán hàng hóa, dịch vụ của QNC. Tuy nhiên còn có rất nhiều vấn đề quan trọng
trong các HĐTM của QNC cần được đề cập và nghiên cứu sâu hơn nữa như việc
nghiên cứu các quy định liên quan đến bảo hành, bảo hiểm hàng hóa trong HĐTM;
các điều khoản liên quan đến cơ chế giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình
thực hiện HĐTM; các điều khoản thanh toán, các điều khoản vận tải hàng hóa quốc
tế... Đặc biệt khi tương lai không xa QNC trực tiếp xuất khẩu sản phẩm không qua
ủy thác thì còn cần nghiên cứu rất nhiều quy định của pháp luật việt Nam và Luật
quốc tế về các vấn đề liên quan đến xuất khẩu hàng hóa.
Với quy mô của bản Luận văn này, tác giả mới chỉ đề cập được những lý luận
cơ bản về giao kết và thực hiện HĐTM đồng thời mới chỉ đề cập được một số vấn
đề tiêu biểu trong giao kết và thực hiện HĐTM tại QNC, chưa thể đề cập hết được
tất cả các khía cạnh lý luận của HĐTM nói chung và tất cả các khía cạnh thực tế
giao kết và thực hiện HĐTM của QNC nói riêng. Tác giả rất mong nhận được sự
tham gia góp ý, bổ sung của các thầy cô giảng viên, các học viên, đồng nghiệp và
các cán bộ nhân viên của QNC để Đề tài này hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cám ơn ./.
81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
TIẾNG VIỆT
1. Bộ Tư pháp, Những điều cần biết về ký kết và thực hiện hợp đồng dân sự
(Theo Bộ luật Dân sự hiện hành năm 2015), NXB Chính trị Quốc gia – Sự
thật, 2017
2. Bộ Tư pháp, 9 biện pháp bảo đảm nghĩa vụ hợp đồng (quy định thực tế và
thiết kế giao dịch theo Bộ luật Dân sự năm 2015), NXB Chính trị Quốc gia –
Sự thật, 2017
3. Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh, Quy định chức năng
nhiệm vụ các phòng ban đơn vị trực thuộc Công ty, Quảng Ninh 2018
4. Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh, Quy trình mua hàng -
QT24, Quảng Ninh 2018
5. Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh, Quy trình bán hàng - QT
7.2.01, Quảng Ninh 2016
6. Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh, Quy trình quản lý kho vật
tư – QT 7.4.03A, Quảng Ninh 2016
7. Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh, Quy trình quản lý kho
nguyên nhiên liệu – QT 7.4.03B, Quảng Ninh 2016
8. Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh, Báo cáo thường niên năm
2015, Quảng Ninh 2015
9. Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh, Báo cáo thường niên năm
2016, Quảng Ninh 2016
10. Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh, Báo cáo thường niên năm
2017, Quảng Ninh 2017
11. Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh, Báo cáo tài chính riêng và
hợp nhất quý 3 năm 2018, Quảng Ninh 2018
82
12. Nguyễn Như Chính, Pháp luật về dịch vụ thương mại pháp lý - những vấn đề
lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ Luật học, trường Đại học Luật Hà Nội,
Hà Nội năm 2011
13. Phạm Hoàng Giang, Quyền tự do hợp đồng trong hoạt động thương mại ở Việt
Nam - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án Tiến sĩ Luật học, trường Đại
học Luật Hà Nội, Hà Nội năm 2007
14. Nguyễn Minh Hằng, Pháp luật kinh doanh quốc tế, NXB Đại học Quốc gia Hà
Nội, 2010
15. Nguyễn Minh Hằng và cộng sự, Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương
mại quốc tế, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014
16. Nguyễn Minh Hằng, Slide bài giảng Hợp đồng thương mại, Hợp đồng thương
mại Quốc tế - Kỹ năng đàm phán, phòng ngừa rủi ro, Tài liệu giảng dạy lớp
bổ sung kiến thức cao học Luật Kinh tế, 2018
17. Nguyễn Minh Hằng, 101 câu hỏi - đáp về CISG, NXB Thanh niên, 2016
18. Vũ Phương Huyền, Hợp đồng mua bán hàng hóa và thực tiễn áp dụng tại
Công ty cổ phần hóa dầu Petrolimex, Khóa luận Luật học, trường Đại học
Kinh tế quốc dân, K45
19. Phạm Duy Nghĩa, Giáo trình Luật Kinh tế, NXB Công an Nhân dân, Hà Nội,
2010
20. Nguyễn Thị Mơ, Giáo trình pháp luật trong hoạt động kinh tế đối ngoại, tái
bản lần 5, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012
21. Hoàng Thế Liên, Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự 2005 (tập II) Phần thứ
ba: Nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự, Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư
pháp, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2013
22. Phạm Thị Lan Phương, Hợp đồng mua bán hàng hóa từ lý thuyết đến thực tiễn
áp dụng tại Công ty TNHH IPC, Khóa luận Luật học, trường Đại học kinh tế
quốc dân năm, Hà Nội năm 2006
83
23. Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13
ngày 24 tháng 11 năm 2015, 2015
24. Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Luật Thương mại số
36/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005, 2005
25. Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Luật Trọng tài thương mại số
54/2010/QH12 ngày 17 tháng 06 năm 2010, 2010
26. Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Luật quản lý ngoại thương số
05/2017/QH14 ngày 12 tháng 6 năm 2017, 2017
27. Nguyễn Quang Tuyến, Tìm hiểu về Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa,
XNB Chính trị quốc gia - sự thật, 20183
28. Nguyễn Hợp Toàn, Giáo trình Pháp luật kinh tế, NXB Đại học Kinh tế quốc
dân, Hà Nội 2016
29. Nguyễn Văn Thoan, Ký kết và thực hiện Hợp đồng điện tử trong điều kiện Việt
Nam hội nhập kinh tế quốc tế, Luận án Tiến sĩ Luật học, trường Đại học Ngoại
thương, Hà Nội năm 2010
30. Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh, Quyết định công nhận
sự thỏa thuận của các đương sự số 10/2018/QĐST-DS, Quảng Ninh năm 2018
31. Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh, Quyết định công nhận
sự thỏa thuận của các đương sự số 11/2018/QĐST-DS, Quảng Ninh năm 2018
32. Vũ Tươi, Luật doanh nghiệp – Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa – Luật
Thương mại và chính sách ưu đãi hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, XNB Lao
động, 2018
33. VCCI & DANIDA, Cẩm nang Hợp đồng thương mại, 2010
34. VCCI, Cẩm nang văn bản pháp luật dành cho doanh nhiệp - phiên bản 3.0,
2015
84
1.
International Chamber of Commerce - ICC, Incorterm 2010
TIẾNG ANH
International Chamber of Commerce - ICC, Incorterm 2000
2.
3. West Group (2009), Black's Law Dictionary, 9th Edition, West Publishing Co.
1991
4. William J.Robert, N.Cerley, Essel R.Dullavou, Chartles G.Hawrd - Principles
of Business Law, 8th Edition - Prentice Hall, pp.109.
WEBSITE
1. VietAnLaw, Soạn thảo hợp đồng thương mại, tại địa chỉ
https://luatvietan.vn/soan-thao-hop-dong-thuong-mai.html, truy cập 2018.
2. Lê Minh Tường, Mẫu hợp đồng dịch vụ tư vấn pháp lý thường xuyên, tại địa
chỉ: https://luatminhkhue.vn/bieu-mau-luat-doanh-nghiep/mau-hop-dong-dich-
vu-tu-van-phap-ly-thuong-xuyen.aspx, truy cập ngày 28/07/2017
3. Luật Trí Nam, Hợp đồng kinh doanh thương mại, tại địa chỉ:
http://luat247.vn/Hop-dong-kinh-doanh-thuong-mai-3A922FBA.html, Truy
cập 02/2/2018
4. Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh, Lịch sử công ty, tại địa chỉ
http://www.qncc.vn/Desktop.aspx/GioiThieu/Lich-su/Lich_su_Cong_ty/v,
truy cập ngày 11/01/2018.
5. Doanh nhân Sài gòn online, Hình thức của hợp đồng kinh doanh - yếu tố
không nên xem nhẹ, tại địa chỉ http://www.doanhnhansaigon.vn/chuyen-lam-
an/hinh-thuc-cua-hop-dong-kinh-doanh-yeu-to-khong-nen-xem-nhe-
1005537.html, truy cập ngày 30/7/2009
85
PHỤ LỤC
1. Hợp đồng kinh tế Số 85/HĐKT - QNC – LBC, Quảng Ninh 2017 - Công ty cổ
phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh
2. Hợp đồng mua bán máy phân tích số 139/HĐKT-QNC-LEEON, Quảng Ninh
2018 - Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh
3. Hợp đồng Mua bán Vỏ bao xi măng KPK 3 lớp Số78/HĐKT - QNC – BBHT,
Quảng Ninh 2017 - Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh
4. Hợp đồng mua bán số 151/QNC-PINGXIANG, Quảng Ninh 2018 - Công ty cổ
phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh
5. Hợp đồng kinh tế Số: 00/HĐXM/QNC – CTTĐ, Quảng Ninh 2018 - Công ty
cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh
6. Hợp đồng kinh tế Số: 01/HĐCLK/QNC – TT, Quảng Ninh 2018 - Công ty cổ
phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh
7. Hợp đồng số 15/20007/HĐTLĐ-BQL, Quảng Ninh 2007 - Công ty cổ phần xi
măng và xây dựng Quảng Ninh
8. Hợp đồng cho thuê lại đất tại Khu công nghiệp Cái Lân - Hạ Long - Quảng
Ninh số 27/2010/HĐTLĐ-BQL, Quảng Ninh 2010 - Công ty cổ phần xi măng
và xây dựng Quảng Ninh
9. Hợp đồng số 06/2015/TCHC-QNCC, Quảng Ninh 2015 - Công ty cổ phần xi
măng và xây dựng Quảng Ninh
10. Hợp đồng số 05/HĐKT-QNC-AĐ, Quảng Ninh 2018 - Công ty cổ phần xi
măng và xây dựng Quảng Ninh
11. Hợp đồng ủy thác xuất khẩu số UTXK CLK 10: QNC-TTP, 2018 - Công ty cổ
phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh
12. Hợp đồng ủy thác xuất khẩu số 01/2018/UTXK-CEM/QNC-TTP, Quảng Ninh
2018 - Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh
86
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ quy trình bán hàng
Tiếp nhận và xử lý đơn hàng Phòng Kinh doanh Bước 1
Phòng Kinh doanh Bước 2
Duyệt lệnh giao hàng
Lập phiếu yêu cầu giao hàng Phòng Kinh doanh Bước 3
Xác báo vận tải Phòng Kinh doanh Bước 4
Phòng Kinh doanh
Bước 5 Phòng An ninh Lập phiếu xuất hàng, Thông tin phương tiện vận tải nhận hàng
kiểm soát
Phòng Kinh doanh
Bước 6 Phòng Kinh tế vật Đo mớn tàu, cân xe trước xuất hàng, xuất hàng theo phiếu tư
Phòng Kinh doanh
Bước 7 Phòng Kinh tế vật Đo mớn tàu, cân xe trước và sau xuất hàng, lập phiếu báo cấp bù vỏ bao tư
Phòng Tài chính kế
toán, Phòng Kinh In hóa đơn, phiếu xuất, kiểm tra theo hóa đơn hoặc phiếu xuất Bước 8 doanh
Kiểm soát vùng phân phối, xử lý khiếu nại của khách hàng Bước 9
Phòng Kinh doanh
87
Lưu đồ 2.1: Lưu đồ hướng dẫn lựa chọn Nhà phân phối và ký hợp đồng bán
hang
Khách hàng, Phòng
Kinh doanh Đề nghị phân phối theo địa bàn
Không đạt
Phòng Kinh doanh
Đánh giá, đề xuất, lựa chọn nhà phân phối
Phó tổng giám đốc Không đạt
Phê duyệt phụ trách bán hàng,
Tổng giám đốc
Phòng Kinh doanh Đề nghị ký hợp đồng
dự thảo hợp đồng
Không đạt Phó tổng giám đốc
phụ trách bán hàng, Phê duyệt/Ký hợp đồng Tổng giám đốc
Phòng Kinh doanh
Khách hàng
Phòng Tài chính kế Thực hiện hợp đồng
Không đạt
toán
88
Lưu đồ 2.2: Lưu đồ thực hiện quy trình mua hàng
Các Phòng ban có
đề xuất mua hàng Bước 1 Phòng ban phát sinh nhu cầu mua hàng lập đề nghị mua hàng
Phó tổng giám đốc
hoặc Trợ lý tổng Phê duyệt giám đốc phụ trách Bước 2
khối sản xuất
Phòng Kinh tế vật Phát hành thư mời chào hàng
tư Bước 3
Phòng Kinh tế vật Tiếp nhận Hồ sơ chào hàng tư Bước 4
Ban quản lý giá,
Bước 5 Các Phòng ban Mở thầu, lập đề xuất chọn thầu, đàm phán với nhà cung cấp
chuyên môn
Ban quản lý giá;
Tổng giám đốc hoặc
Bước 6 Trợ lý tổng giám Phê duyệt lựa chọn Nhà cung cấp
đốc phụ trách khối
sản xuất
Phòng Kinh tế vật Đặt hàng/ Ký Hợp đồng tư Bước 7
Các Phòng ban
chuyên môn Bước 8 Tạm ứng, thanh toán/Giao hàng/Hoàn thiện hồ sơ quyết toán
89
Lưu đồ 2.3: Lưu đồ thực hiện quy trình mua hàng phương thức chào hàng
mức 2
Kế hoạch mua hàng Phòng Kinh tế vật Bước 1 tư, Khối sản xuất Đề nghị mua hàng
Phòng Kinh tế vật Đề nghị chào giá
tư Bước 2
Phòng Kinh tế vật Tiếp nhận báo giá Bước 3 tư
Phòng Kinh tế vật Bước 4 Mở hồ sơ chào giá, Đánh giá, lập đề nghị phê duyệt nhà cung cấp tư, Phòng liên quan
Bước 5 Phòng Kinh tế vật
tư, Phòng liên quan Phê duyệt, ký hợp đồng
Phòng Kinh tế vật Bước 6 tư, Phòng liên quan Thực hiện hợp đồng/tiếp nhận hàng hóa/nghiệm thu/thanh toán
90
Lưu đồ 2.4: Lưu đồ thực hiện quy trình mua hàng phương thức chào hàng
mức 3,4
Phòng Kinh tế vật Kế hoạch mua hàng
tư, Khối Sản xuất Bước 1 Đề nghị mua hàng
Tổng giám đốc,
Phê duyệt Bước 2 Trợ lý Tổng giám
đốc phê duyệt
Phòng Kinh tế vật
Bước 3 tư và các phòng
Lập hồ sơ yêu cầu, hồ sơ mời chào giá; Đề xuất danh sách nhf cung cấp liên quan
Tổng giám đốc,
Phê duyệt Trợ lý Tổng giám Bước 4 đốc phê duyệt
Phòng Kinh tế vật
tư Phát hành thư chào giá và Hồ sơ yêu cầu Bước 5
Phòng Kinh tế vật
Bước 6 tư và các phòng
Tiếp nhận, mở, đánh giá hồ sơ đề xuất, thống nhất nội dung hợp đồng liên quan
Phòng Kinh tế vật
Bước 7 tư và các phòng
Phê duyệt và ký hợp đồng liên quan
Phòng Kinh tế vật
tư, Phòng liên Thực hiện hợp đồng/tiếp nhận hàng hóa/nghiệm thu/thanh toán Bước 8 quan, P.TCKT
91
Lưu đồ 2.5: Lưu đồ quy trình quản lý thực hiện hợp đồng nguyên, nhiên liệu
Phòng Kinh tế vật tư Hợp đồng Bước 1
Các phòng ban Bước 2 Đề nghị mua hàng chuyên môn
Phòng Kinh tế vật tư Lập Đơn đặt hàng Bước 3
Bước 4 Phòng Kinh tế vật tư Điều phối tiến độ giao hàng
Phòng Kinh tế vật tư Giao hàng Bước 5
Các phòng chuyên Bước 6 Lấy mẫu và phân tích môn
Phòng Kinh tế vật tư Nhập hàng Bước 7
Các phòng chuyên Bước 8 môn Lập biên bản giao nhận, nghiệm thu
Phòng Tài chính kế
toán, Phòng Kinh tế Thanh toán Bước 9 vật tư
92
Lưu đồ 2.6: Lưu đồ quy trình quản lý thực hiện hợp đồng thiết bị, vật tư phụ
Phòng Kinh tế vật
tư Hợp đồng Bước 1 Phòng Tài chính kế
toán
Phòng Kinh tế vật Bước 2 Đưa hợp đồng vào hiệu lực
tư
Phòng Kinh tế vật Bước 3 Giao hàng theo hợp đồng
tư
Phòng Kinh tế vật
tư Phê duyệt Bước 4 và các phòng
chuyên môn
Phòng Phòng Kinh
Bước 5 tế vật tư và các Lập hồ sơ nghiệm thu và BB giao nhận phòng chuyên môn
Phòng Kinh tế vật Bước 6 Hoàn tất thủ tục nhập kho hàng hóa tư
Phòng Tài chính kế Bước 7 Thanh toán toán
93
Lưu đồ 2.7: Lưu đồ quy trình quản lý thực hiện hợp đồng dịch vụ công nghiệp
Bước 1 Phòng Kinh tế vật tư Hợp đồng
Phòng Kinh tế vật tư Bước 2 Đưa hợp đồng vào hiệu lực Phòng Tài chính kế toán
Nhà cung cấp triển khai Bước 3 Thực hiện hợp đồng thực hiện hợp đồng
Phòng Kỹ thuật cơ điện,
Giám sát triển khai Bước 4 Phòng Công nghệ Trung
tâm, Phòng Kinh tế vật tư
Phòng Kỹ thuật cơ điện,
Bước 5 Phòng Công nghệ Trung Lập hồ sơ nghiệm thu
tâm, Phòng Kinh tế vật tư
Bước 6 Phòng Kinh tế vật tư Tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ nghiệm thu
Bước 7 Phòng Tài chính kế toán Thanh toán
94
Lưu đồ 2.8: Lưu đồ quy trình quản lý thực hiện hợp đồng ngoại thương
Hợp đồng Bước 1 Phòng Kinh tế vật tư
Phòng Kinh tế vật tư Bước 2 Mở L/C Phòng Tài chính kế toán
Khách hàng Giao hàng Bước 3 Phòng Kinh tế vật tư
Bước 4 Phòng Kinh tế vật tư Thông quan hàng hóa và vận chuyển về Kho QNC
Phòng Kinh tế vật tư , Nghiệm thu Bước 5 Phòng liên quan
Bước 6 Phòng Tài chính kế toán Thanh toán