BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH

- - - oo0oo- - -

LÊ NGỌC BẢO TRÂM

TỰ NHẬN THỨC BẢN THÂN CỦA HỌC SINH LỚP 4, 5 TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN BỈNH KHIÊM, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2011

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH

- - - oo0oo- - -

Lê Ngọc Bảo Trâm

TỰ NHẬN THỨC BẢN THÂN CỦA HỌC SINH LỚP 4, 5 TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN BỈNH KHIÊM, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Tâm lý học

Mã số: 60 31 80

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TIẾN SĨ NGUYỄN THỊ TỨ

Thành phố Hồ Chí Minh – 2011

LỜI CẢM ƠN

Để có thể thực hiện và hoàn thành luận văn này, trước hết, xin chân

thành cảm ơn Quý Thầy Cô trường Đại Học Sư Phạm Tp.HCM đã hướng

dẫn, giảng dạy lớp Cao học Tâm lý học khóa 19, niên khóa 2008 – 2010.

Kính gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến Tiến sĩ Nguyễn

Thị Tứ đã tận tâm giúp đỡ, động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong

quá trình hướng dẫn thực hiện đề tài.

Xin chân thành cảm ơn cô Lê Thị Ngọc Điệp, hiệu trường trường Tiểu

học Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tạo điều kiện cho tôi được tiếp cận và thực hiện

các phương pháp nghiên cứu tại trường.

Xin chân thành cảm ơn các anh chị lớp Cao học Tâm lý học khóa 19 đã

động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện những bước đầu

của luận văn.

Và sau cùng, xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và các đồng

nghiệp đã luôn bên cạnh hỗ trợ để tôi có thể vượt qua những giai đoạn khó

khăn trong quá trình học tập và thực hiện đề tài.

Lê Ngọc Bảo Trâm

MỤC LỤC

0TPHẦN MỞ ĐẦU0T ............................................................................................... 1

0TCHƯƠNG 10T: 0TCƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỰ NHẬN THỨC BẢN THÂN CỦA

0T1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu0T ........................................................................ 8

0T1.1.1.Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài0T ............................................................ 8 0T1.1.2. Các công trình nghiên cứu ở trong nước0T..........................................................13 0T1.2.Các khái niệm cơ bản0T ............................................................................... 14

0T1.2.1.Khái niệm về ý thức0T .................................................................................................14 0T1.2.2.Khái niệm về tự ý thức0T ............................................................................................20 0T1.2.3.Khái niệm về tự nhận thức bản thân0T ...................................................................23 0T1.2.3.1.Khái niệm nhận thức0T..........................................................................................23 0T1.2.3.2.Khái niệm tự nhận thức bản thân0T ..................................................................28 0T1.2.4.Khái niệm tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 50T ...............................31 0T1.2.4.1.Đặc điểm tâm lý lứa tuổi của học sinh lớp 4, 50T ................................ 31 0T1.2.4.2.Đặc điểm tự ý thức của học sinh lớp 4, 50T ......................................... 37 0T1.2.4.3.Đặc điểm tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 50T .................... 39 0T1.2.4.4.Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển sự tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 50T .................................................................. 40 0TCHƯƠNG 20T: 0TĐÁNH GIÁ NGHIÊN CỨU TỰ NHẬN THỨC BẢN THÂN

HỌC SINH LỚP 4, 5 BẬC TIỂU HỌC0T .......................................................... 8

0T2.1. Tổ chức nghiên cứu0T ................................................................................. 44

0T2.2. Đánh giá nghiên cứu về sự tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 5

CỦA HỌC SINH LỚP 4, 5 TRƯỜNG TIỂU HỌC0T ...................................... 44

0T2.2.1. Đặc điểm tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 5 tại trường Tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm0T .......................................................................................................50 0T2.2.1.1. Về hình thức bên ngoài0T .................................................................. 50 0T2.2.1.2. Về phẩm chất, năng lực bản thân0T ................................................... 58 0T2.2.1.3. Về vị trí và các mối quan hệ xã hội0T ................................................ 65 0T2.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 50T ..71 0T2.2.2.1. Yếu tố sinh lý0T ................................................................................. 71 0T2.2.2.2. Yếu tố xã hội0T .................................................................................. 72 0T2.2.2.3. Yếu tố bản thân0T .............................................................................. 77

trường Tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm, Tp. HCM0T ......................................... 50

0T2.2.3. Một số biện pháp nâng cao chất lượng tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 50T ................................................................................................................................79 0T2.2.3.1. Cơ sở đề xuất các biện pháp0T .......................................................... 79 0T2.2.3.2. Các nhóm biện pháp tác động đến sự tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, lớp 50T................................................................................................ 80 0TKẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 0T ................................................................. 85

0TKết luận0T .......................................................................................................................................85 0TKhuyến nghị0T ..................................................................................................... 86

0TTÀI LIỆU THAM KHẢO0T .............................................................................. 88

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Ký hiệu Ý nghĩa

Chi-Square Kiểm định mối liên hệ

Dấu “.” ở các số liệu Dấu cách thập phân

ĐTB Điểm trung bình

ĐLC Độ lệch chuẩn

GS. Học hàm Giáo sư

Sig Mức ý nghĩa

SL Số lượng

STT Số thứ tự

TH Trường hợp

TL % Tỷ lệ %

TS Tần số

TS. Học vị Tiến sĩ

Th.S Học vị Thạc sĩ

DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU VÀ BIỂU ĐỒ

0TBảng 1: Thống kê chung về khách thể nghiên cứu phân bố theo giới tính và cấp

BẢNG SỐ LIỆU

0TBảng 2: Học lực của học sinh phân bố theo cấp lớp0T......................................... 49

0TBảng 3: Ba đặc điểm hình thức bên ngoài được học sinh quan tâm nhất0T........... 50

0TBảng 4: Hình thức được học sinh quan tâm nhất0T .............................................. 51

0TBảng 5: Mức độ tự nhận thức và mức độ hài lòng về hình thức bên ngoài của

lớp0T .................................................................................................................... 48

0TBảng 6: Số đo chiều cao và cân nặng của trẻ em Việt Nam từ 10 – 11 tuổi đã

học sinh0T ............................................................................................................ 53

0TBảng 7: Kết quả về nhóm cân nặng giữa nhận thức của phụ huynh và học sinh0T 54

0TBảng 8: Số đo cân nặng và chiều cao chuẩn theo thống kê của tổ chức WHO

được công bố theo “Hằng số sinh học của người Việt Nam” năm 2003.0T ........... 53

0TBảng 9: Thống kê mức độ nhận thức đặc điểm hình thức bên ngoài của học sinh

năm 20070T ......................................................................................................... 55

0TBảng 10: Tự nhận thức của học sinh về đặc điểm tính cách của bản thân0T ......... 58

0TBảng 11: Tự nhận thức của học sinh về các điểm tốt và chưa tốt của bản thân0T . 60

0TBảng 12: Tự nhận thức của học sinh về điểm tốt và điểm chưa tốt theo khối lớp0T

theo học lực0T ...................................................................................................... 56

0TBảng 13: Tự nhận thức của học sinh về các môn học tốt ở trường0T .................... 64

0TBảng 14: Sự tham khảo ý kiến của ba mẹ với học sinh trong gia đình0T .............. 65

0TBảng 15: Tự nhận thức của học sinh về vai trò trong gia đình0T .......................... 66

0TBảng 16: Tự nhận thức của học sinh về vai trò của mình trong lớp0T .................. 68

0TBảng 17: Mối quan hệ bạn bè0T ........................................................................... 70

0TBảng 18: Đối tượng học sinh thường tìm đến khi cần tâm sự0T ........................... 72

0TBảng 19: Mối liên hệ giữa mức độ tự nhận thức của học sinh về vai trò của mình

......................................................................................................................... 62

trong gia đình và đối tượng học sinh thường tâm sự0T ......................................... 73

0TBảng 20: Sự tham gia các hoạt động ngoại khóa của học sinh trường Tiểu học

0TBảng 21: Mối liên hệ giữa việc tham gia hoạt động ngoại khóa và sự tự nhận

Nguyễn Bỉnh Khiêm0T......................................................................................... 74

0TBảng 22: Mức độ tự nhận thức về điểm tốt và điểm chưa tốt của học sinh có đặc

thức bản thân0T .................................................................................................... 75

0T BIỂU ĐỒ

0TBiểu đồ 1: So sánh số lượng điểm tốt và điểm chưa tốt mà học sinh tự nhận thức

điểm tính cách khác nhau0T ................................................................................. 78

0TBiểu đồ 2: 0TMức độ nhận thức về vai trò quan trọng trong gia đình của học sinh

được ................................................................................................................. 61

lớp 4 và 5 ......................................................................................................... 67

DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Phiếu thăm dò ý kiến lần 1 ............................................................. 91

Phụ lục 2: Phiếu thăm dò ý kiến lần 2 ............................................................. 94

Phụ lục 3: Phiếu thăm dò ý kiến dành cho học sinh ....................................... 104

Phụ lục 4: Phiếu thăm dò ý kiến dành cho phụ huynh ................................... 112

Phụ lục 5: Phiếu thăm dò ý kiến dành cho giáo viên ...................................... 117

Phụ lục 6: Giáo án trò chơi ............................................................................ 121

Phụ lục 7: Mẫu biên bản quan sát biểu hiện tự nhận thức bản thân của học sinh

lớp 4, 5 trong buổi sinh hoạt tập thể ............................................................... 123

Phụ lục 8: Biên bản quan sát biểu hiện tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4

trong buổi sinh hoạt tập thể ............................................................................ 129

Phụ lục 9: Biên bản quan sát biểu hiện tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 5

trong buổi sinh hoạt tập thể ............................................................................ 135

Phụ lục 10: Một số hình ảnh trong buổi sinh hoạt tập thể .............................. 139

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Trong thời đại kinh tế thị trường, vấn đề hình thành ở thế hệ trẻ những

con người hiện đại nhưng vẫn trân trọng những giá trị truyền thống và bản sắc

dân tộc rất được Đảng và Nhà Nước ta quan tâm. Nghị quyết kỳ họp lần thứ IV

của BCHTƯ Đảng Khóa VII đã khẳng định rằng đó phải là con người “có kiến

thức văn hóa, khoa học, có kỹ năng nghề nghiệp, lao động tự chủ, sáng tạo và có

kỷ luật, giàu lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, sống lành mạnh, đáp ứng nhu

cầu phát triển của đất nước.” Điều đó thể hiện ở một trong những thuộc tính của

mô hình nhân cách con người Việt Nam trong thời kỳ này là: Khẳng định cái

“tôi”, phát huy tính tích cực cá nhân, dám đưa cái tôi ra để chịu trách nhiệm

trước bản thân, trước gia đình và trước xã hội về công việc và lối sống của mình.

Nhưng lại không rơi vào chủ nghĩa cá nhân cực đoan coi cái “tôi” là trên hết, lấy

cái “tôi” lấn át cái “ta”.

Để làm được điều đó thì tác động từ giáo dục giữ vai trò rất quan trọng.

Người lớn cần quan tâm đến việc hình thành nhân cách cho trẻ từ rất sớm, đầu

tiên là việc hình thành và phát triển ý thức về bản thân (ý thức bản ngã hay cái

“tôi”), hay nói cách khác là tự nhận thức bản thân. Nếu ở lứa tuổi mẫu giáo, trẻ

biết mình tên gì, bao nhiêu tuổi, vị trí của mình trong gia đình, nhà mình ở đâu,

tên trường Mầm non đang học là gì, … thì trẻ ở lứa tuổi tiểu học cũng có nhận

thức nhất định về bản thân? Làm thế nào để trẻ có thể tự nhận thức về bản thân

mình?

Mới vào lớp một trẻ thường gặp khó khăn khi chuyển trạng thái từ hoạt

động chơi sang hoạt động học, phải thích ứng với môi trường có nhiều điều mới

lạ. Trẻ thường tỏ ra không thích đi học, chỉ học môn mình thích, quên không

làm bài tập ở nhà … Nhiều trường hợp trẻ không dám nói với ba mẹ về điểm

kém và những vi phạm của mình ở trưởng. Đây là vấn đề được rất nhiều phụ

huynh, nhà giáo dục và xã hội quan tâm trên cách phương tiện truyền thông. Do

đó, trước mỗi bước ngoặc cuộc đời, trẻ cần phải tập thích ứng để có thể phát

triển đúng hướng. Tương tự như trường hợp của trẻ 6 tuổi, trẻ 10 tuổi, 11 tuổi

cũng sẽ gặp không ít khó khăn trước ngưỡng cửa của lứa tuổi vị thành niên. Bên

cạnh đó là sự thay đổi về tâm sinh lý lứa tuổi, chuẩn bị cho giai đọan tiếp theo

của cuộc đời. Do đó, trẻ cần được trang bị kỹ năng nhận thức về bản thân mình

để có thể thích ứng với những chuyển biến ấy.

Biết được sức mạnh của bản thân, trẻ sẽ đạt được thành công, có thể đánh

giá đúng khả năng của mình để hoàn thành một công việc nhất định dù có hay

không có sự giúp đỡ của người khác. Điều này sẽ tạo sự phấn khởi, sẵn sàng học

tập tiếp những kỹ năng mới và phát huy những gì đã đạt được, khiến trẻ tin

tưởng vào sức hấp dẫn của bản thân và thiết lập những mối quan hệ tốt đẹp với

những người xung quanh. Trên cơ sở hiểu rõ sức mạnh của bản thân, trẻ sẵn

sàng chấp nhận những thử thách khác, tạo điều kiện cho sự phát triển và hoàn

thiện nhân cách của trẻ. Học sinh các lớp cuối cấp tiểu học muốn nhận được

đánh giá không chỉ để tặng người thân, mà còn để tự mình biết được về sự thành

công và không thành công của mình trong nhận thức. Điều đó chứng tỏ học sinh

tiểu học đã có nhu cầu nhận thức về mình, có nhu cầu có biểu tượng đầy đủ về

bản thân. Sự tự nhận thức sẽ mở đường cho quá trình trưởng thành, trẻ sẽ biết

trân trọng mối quan hệ với những người xung quanh, hiểu rõ được khả năng và

hạn chế của bản thân, nhờ đó điều chỉnh việc học hành hiệu quả hơn trước.

Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về sự tự nhận thức bản thân

như: Công trình nghiên cứu về quá trình phát triển tâm lý của trẻ em của nhóm

tác giả JB Asendorpf, Jens B, Baudonniere, Pierre-Marrie năm 1993 có quan

tâm đến sự phát triển bản thân ở trẻ hai tuổi, kết quả nghiên cứu cho thấy nhiều

trẻ em bắt đầu có những dấu hiệu của sự tự nhận thức bản thân trước khi dùng

các biểu tượng lời nói. Theo một nghiên cứu khác của Kenneth B. Clark và

Mamie K. Clark thuộc Đại học York, Toronto, Ontario cho rằng trẻ em khám

phá chính mình thông qua việc so sánh sự phát triển của cơ thể mình với các cơ

quan trên cơ thể người khác. Điều đó có liên quan đến việc trẻ bắt chước hành vi

của người khác trong quá trình khám phá bản thân.

Ở Việt Nam có công trình nghiên cứu về sự tự ý thức của học sinh tiểu

học như đề tài TS. Vũ Thị Nho đã nghiên cứu đặc điểm về khả năng tự đánh giá

của học sinh cuối bậc tiểu học. Tác giả nhận định sự tự đánh giá của học sinh

tiểu học chưa cao và tính ổn định phụ thuộc vào trình độ học lực của các em.

Nghiên cứu trên cũng có đề cập đến việc tự nhận thức của học sinh về bản thân

mình và người khác để có thể đưa ra những đánh giá. Tuy nhiên, công trình

nghiên cứu chuyên sâu về sự tự nhận thức bản thân của học sinh cuối cấp tiểu

học còn bỏ ngỏ.

Từ thực trạng trên, chúng tôi mong muốn tìm hiểu về sự tự nhận thức bản

thân của lứa tuổi học sinh tiểu học nói chung, lứa tuổi học sinh tiểu học bậc 2,

lớp 4, 5, nói riêng đang theo học tại một trường tiểu học tiêu biểu của thành phố

Hồ Chí Minh là trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm. Từ đó, làm rõ các yếu tố

ảnh hưởng đến sự tự nhận thức bản thân ở học sinh lớp 4, 5, từ đó đề xuất một

số biện pháp hỗ trợ nhằm nâng cao chất lượng của sự tự nhận thức bản thân của

học sinh.

Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, chúng tôi chọn đề tài “Tự

nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 5 tại trường tiểu học Nguyễn Bỉnh

Khiêm, thành phố Hồ Chí Minh.”

2. Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng sự tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 5 tại

trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm, thành phố Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó đề

xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng tự nhận thức bản thân cho học

sinh tiểu học.

Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3.

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Sự tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 5.

3.2. Khách thể nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu chính: Học sinh lớp 4, 5, trường tiểu học •

Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Khách thể nghiên cứu hỗ trợ: •

- Giáo viên chủ nhiệm của học sinh trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm có

tham gia trong mẫu nghiên cứu.

- Phụ huynh của những học sinh có tham gia trong mẫu nghiên cứu.

Nhiệm vụ nghiên cứu 4.

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về sự tự nhận thức bản thân của học

sinh lớp 4, 5.

- Khảo sát đặc điểm tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 5 tại trường

tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm và các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng đó.

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tự nhận thức bản thân

cho học sinh tiểu học.

5. Giả thuyết khoa học

- Mức độ tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 5 ở mức trung bình.

- Có sự khác biệt về sự tự nhận thức bản thân giữa những học sinh chỉ học

chính khóa với những học sinh có học thêm các lớp học ngoại khóa.

- Có sự khác biệt về giới tính và trình độ học lực trong sự tự nhận thức bản

thân của học sinh.

6. Giới hạn nghiên cứu

Về đối tượng nghiên cứu 6.1.

Sự tự nhận thức bản thân ở mỗi lứa tuổi khác nhau thì khác nhau. Trong

giới hạn cho phép, chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu về sự tự nhận thức bản thân

của lứa tuổi học sinh tiểu học, bậc 2, cụ thể là học sinh lớp 4, 5 ở trường tiểu học

Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Về khách thể nghiên cứu 6.2.

- 50 học sinh lớp 4 ở trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm.

- 50 học sinh lớp 5 ở trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm.

- 9 giáo viên chủ nhiệm khối 4 trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm.

- 8 giáo viên chủ nhiệm khối 5 trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm.

- 14 phụ huynh học sinh lớp 4 trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm.

- 14 phụ huynh học sinh lớp 5 trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Phương pháp nghiên cứu 7.

Phương pháp nghiên cứu lý luận 7.1.

- Mục đích: Thu thập những tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm

làm rõ các vấn đề lý luận của đề tài cần nghiên cứu.

- Cách tiến hành: Đọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu liên quan đến vấn đề

nghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu thực tiễn.

Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 7.2.

7.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng thăm dò ý kiến

- Mục đích: Thu thập thông tin từ học sinh, phụ huynh và giáo viên chủ

nhiệm để tìm hiểu về đặc điểm sự tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 5.

Đây là phương pháp chủ đạo của quá trình nghiên cứu.

- Cách tiến hành: Cho học sinh lớp 4, 5, phụ huynh và giáo viên chủ nhiệm

trả lời những câu hỏi đóng và mở trên bảng thăm dò ý kiến.

7.2.2. Phương pháp phỏng vấn

- Mục đích: Thu thập thông tin cần thiết để xây dựng bảng thăm dò ý kiến.

- Cách tiến hành: Đặt các câu hỏi đóng và mở trực tiếp cho học sinh trường

tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm.

7.2.3. Phương pháp quan sát

- Mục đích: Quan sát những biểu hiện về sự tự nhận thức bản thân của học

sinh lớp 4, 5 trong lúc tham gia trò chơi tập thể có định hướng, thu thập những

trường hợp thực tiễn cho các vấn đề nghiên cứu.

- Cách tiến hành: Đi thực tế tại trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm, thành

phố Hồ Chí Minh, tổ chức trò chơi tập thể và quan sát những biểu hiện của học

sinh trong quá trình tham gia trò chơi.

Phương pháp thống kê toán học 7.3.

- Mục đích: Xử lý, phân tích, đánh giá kết quả nghiên cứu.

- Cách tiến hành: Sử dụng công cụ hỗ trợ là phần mềm SPSS 11.5.

Các phương pháp khác 7.4.

Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp hỗ trợ khác như:

- Khảo sát thông qua bài tập

- Phỏng vấn nhằm thu thập thêm thông tin cần thiết cho đề tài.

Đóng góp mới của đề tài 8.

Đây là một trong những đề tài nghiên cứu về sự tự nhận thức bản thân của

học sinh tiểu học nói chung, học sinh lớp 4, 5 nói riêng. Vì thế, theo chúng tôi,

kết quả nghiên cứu sẽ góp phần:

- Về mặt lý luận: Làm sáng tỏ vấn đề lý luận về tự nhận thức bản thân của

học sinh lớp 4, 5.

- Về mặt thực tiễn: Là nguồn tài liệu bổ sung giúp cho giáo viên, phụ huynh

có thêm những hiểu biết về sự tự nhận thức bản thân của học sinh và con em

mình, từ đó có biện pháp phối hợp với nhau và với học sinh tốt hơn nhằm hỗ trợ

nâng cao chất lượng tự nhận thức bản thân cho trẻ, nhằm giúp trẻ có môi trường

phát triển nhân cách của mình tốt hơn.

Cấu trúc luận văn 9.

Luận văn gồm có các nội dung sau:

Phần mở đầu

Chương 1: Cơ sở lý luận về tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 5 bậc tiểu

học

Chương 2: Đánh giá nghiên cứu tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 5

trường Tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm

Chương 3: Kết luận và khuyến nghị

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỰ NHẬN THỨC BẢN THÂN CỦA HỌC

SINH LỚP 4, 5 BẬC TIỂU HỌC

1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu

1.1.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

Các nhà khoa học quốc tế đã đề cập đến sự tự nhận thức bản thân trong

các công trình nghiên cứu về tự ý thức.

Do đó, để tìm hiểu những nghiên cứu về sự tự nhận thức bản thân, trước

hết cần tìm hiểu những công trình nghiên cứu về sự tự ý thức.

Nhà tâm lý học người Đức, A.Pfender, đầu thế kỷ XX đã xây dựng khái

niệm tự ý thức từ sự phân biệt “Cái tôi” và tự ý thức. Theo ông, tất cả các hiện

tượng tâm lý là cảm xúc trực tiếp đồng nhất với ý thức, nhưng ý thức không

được hiểu là sự phản ánh mà như cái bên trong có sẵn. Chủ thể tâm lý hình

thành khả năng tự nhận thức về bản thân mình, hình ảnh của chính mình, hình

ảnh này có hạt nhân và ngoại biên. Hạt nhân gồm có cuộc sống quá khứ của con

người, ý thức về những khả năng hành động khác nhau. Ngoại biên gồm những

gì nằm ngoài tâm lý như: quần áo, thân thể, tài sản. Khi chính hình ảnh đó của

chủ thể tâm lý trở thành đối tượng, nội dung của ý thức cụ thể, xuất hiện ý thức

tâm lý đặc biệt là tự ý thức [25]. Do đó, theo A.Pfenden, tự ý thức trong quan

niệm của A.Pfenden giống như là màn ảnh, trên đó phóng chiếu biểu tượng về

bản thân của chủ thể tâm lý.

Cùng nghiên cứu về tự ý thức, GS. Philippe Rochat, thuộc khoa Tâm lý

học, Đại học Emory, Mỹ, đã có công trình về“Năm mức độ tự ý thức mà trẻ bộc

lộc ở những năm đầu đời” [31]. Trong đó, ông đã phân tích năm mức độ tự ý

thức của trẻ gồm có:

- Mức 0: Sự hỗn loạn

- Mức 1: Sự khác biệt

- Mức 2: Sự định vị

- Mức 3: Sự nhận ra

- Mức 4: Sự bền vững

- Mức 5: Sự tự ý thức

Thông qua các bài tập thí nghiệm trên trẻ ở các độ tuổi từ 0 đến 5 tuổi với

gương soi, tác giả đã khẳng định mức độ của tự ý thức xuất hiện theo thứ tự thời

gian, tương ứng với độ tuổi của trẻ. Theo sự phát triển lứa tuổi, sự tự ý thức luôn

luôn biến đổi ở các đối tượng có sự trải nghiệm khác nhau cho đến khi chết đi.

Do đó, khi nghiên cứu về sự tự ý thức, tác giả đã rất xem trọng yếu tố trải

nghiệm mà bỏ qua các yếu tố liên quan đến đặc điểm phát triển tâm sinh lý của

trẻ, với vai trò là cơ sở.

Nhà tâm lý học Pháp, P. Janet, đã có bước tiến đáng kể trong sự hiểu biết

bản chất của tự ý thức. Quan niệm của Janet xuất phát từ việc tự thừa nhận tâm

lý con người bị chế ước bởi quá trình tác động qua lại của xã hội. Trong hoạt

động tập thể và giao tiếp con người nhập tâm những phương thức hành vi, quan

hệ, thái độ đối với thế giới bên ngoài của người khác. Những phương thức hành

vi được nhập tâm đó sẽ thể hiện thành phương thức hành vi của con người đó.

Quan điểm của P.Janet về tự ý thức, như thuộc tính cơ bản của nhân cách được

hình thành trong hệ thống các mối quan hệ xã hội phức tạp. Quan điểm đó đóng

vai trò quan trọng trong sự phát triển quan niệm duy vật về bản chất của tự ý

thức [25].

Bên cạnh đó cũng có những nghiên cứu nhằm phân biệt khái niệm “Tự

nhận thức” và “Tự ý thức” trong quá trình hình thành nhân cách.

Công trình nghiên cứu của S. Franz cho rằng tự nhận thức là một thành

phần của tự ý thức. Tự nhận thức là quá trình nhận thức hướng vào chính bản

thân mình cùng với kết quả của quá trình đó. S. Franz khẳng định rằng quá trình

tự nhận thức phong phú và phức tạp, nó được thực hiện trong những quá trình

thành phần. Các quá trình thành phần đó liên quan chặt chẽ với nhau, chỉ tách ra

một cách tương đối về mặt lý thuyết.

Trong công trình “Vấn đề tự ý thức trong tâm lý học”(1977),

I.I.Trexnôcôva đã đưa ra các nguyên tắc duy vật biện chứng của việc phân tích

tự ý thức nói chung và tự nhận thức nói riêng.Tự ý thức là quá trình tâm lý phức

tạp, bản chất của nó chứa đựng trong sự nhận thức của cá nhân các “hình ảnh”

của bản thân trong những điều kiện hoạt động, hành động khác nhau, trong mọi

mối quan hệ qua lại với người khác. Bản chất của quá trình tự ý thức thể hiện

trong sự liên kết những hình ảnh đó vào một cấu tạo thống nhất trọn vẹn - biểu

tượng, sau đó vào khái niệm “Cái tôi” của chính mình như một chủ thể khác với

những chủ thể khác. I.I.Trexnôcôva cho rằng tự nhận thức là một thành phần

trong cấu trúc của tự ý thức, trong cấu trúc đó gồm 3 mặt thống nhất: nhận thức

(tự nhận thức), cảm xúc-giá trị (thái độ đối với bản thân) và hành động-ý chí,

điều khiển (tự điều chỉnh, điều khiển). Trong tác phẩm này, I.I.Trexnôcôva đã

phân tích quá trình phát triển tự ý thức trong sự phát triển cá thể, phân tích bản

chất ba mặt của ý thức [25].

Trong tác phẩm “Hoạt động, ý thức, nhân cách” A.N.Lêônchiep đã đề cập

đến vấn đề tự ý thức của con người. Ông nói: “Cũng giống như bất cứ một sự

nhận thức nào sự tự nhận thức bản thân cũng bắt đầu từ việc tách bạch ra

những thuộc tính bên ngoài và là kết quả của sự so sánh và khái quát hóa, sự

tách bạch ra cái bản chất”. Theo ông cần phải phân biệt giữa hiểu biết về bản

thân và tự ý thức về mình. “Ngay từ hồi còn rất bé người ta cũng đã tích lũy

được nhiều hiểu biết, những biểu tượng về bản thân. Còn ý thức bản ngã, ý thức

về cái tôi, của mình, là kết quả, là sản phẩm sinh thành của một con người với tư

cách là một nhân cách” [9].

Khi nghiên cứu về tâm lý của trẻ em mẫu giáo, nhà tâm lý học V. X.

Mukhina cũng đã đề cập đến sự tự ý thức của trẻ ở lứa tuổi này. Theo ông, khi

bước vào tuổi mẫu giáo, đứa trẻ chỉ ý thức được chính sự kiện là nó đang tồn tại,

mà nó chưa thực sự hiểu biết gì về bản thân mình, về các phẩm chất của mình.

Cả trẻ mẫu giáo nhỏ tự gán cho mình tất cả những phẩm chất tốt được người lớn

khen ngợi, thậm chí thường không biết những phẩm chất đó như thế nào, cũng

chưa có một ý kiến đúng đắn và có cơ sở nào về bản thân mình. Trong khi đó trẻ

mẫu giáo lớn ý thức được khá đúng đắn những ưu điểm và những thiếu sót của

mình, tính tới thái độ của người xung quanh đối với chúng [27].

Ngoài ra, có một số công trình nghiên cứu về sự tự nhận thức bản thân

trong quá trình hình thành nhân cách như:

Nhà tâm lý học S.L. Rubinxtein cho rằng dấu hiệu đầu tiên của quá trình

hình thành nhân cách là sự xuất hiện sự tự nhận thức bản thân.

William Jame, nhà tâm lý học Mỹ, cũng đã nghiên cứu về sự tự nhận thức

bản thân thông qua tìm hiểu khái niệm về “Cái tôi”. Ông chia “Cái tôi” trong

quá trình phát triển của cá nhân thành ba loại là: “Cái tôi vật chất”, “Cái tôi xã

hội” và “Cái tôi tâm hồn”. Trong đó khái niệm về “Cái tôi xã hội”, ông chú ý

đến mối quan hệ giữa cá nhân với những người xung quanh qua việc đưa ra ví

dụ: Nếu khi ta đến nơi nào đó mà không không có ai xung quanh, không ai trả

lời khi ta nói, hoặc không ai quan tâm đến việc ta làm, và nếu mỗi người ta gặp

đều hành động như không có sự tổn tại của ta thì chúng ta sẽ cảm thấy không

thoải mái, dễ nổi nóng . Ông cho rằng “Cái tôi xã hội” của một người nằm ở

việc người khác nhận ra và có hình ảnh về anh ta như thế nào. [28, tr. 294]

James cũng nói đến “Cái tôi chủ thể” và “Cái tôi khách thể” như là hai mặt của

“Cái tôi” khách thể. Trong đó, “Cái tôi chủ thể” là “Cái tôi” mà bản thân cá nhân

nhận thức được chính mình [3].

Ngoài các nghiên cứu về sự tự nhận thức bản thân kể trên, chúng tôi cũng

tìm hiểu một số công trình khác nghiên cứu sâu hơn về sự tự nhận thức bản thân

ở trẻ em của một số tác giả sau:

Nhà tâm lý học người Mỹ, D.Mead, cho rằng: “Trong mối tương tác với

những người khác trong quá trình hoạt động, mỗi con người trở thành khách thể

nhận thức của chính mình”. Ông cho rằng tự nhận thức bản thân không thực

hiện trực tiếp mà gián tiếp, qua thái độ của cá nhân đó với những người khác

trong nhóm người mà người đó đang thuộc về hoặc với toàn bộ nhóm nói chung.

Khi nghiên cứu sâu hơn về sự tự nhận thức bản thân ở trẻ em, ông cho rằng

nguồn gốc hình thành tự nhận thức bản thân là trò chơi của trẻ. Đầu tiên đó là

những trò chơi lặp lại hành động của người lớn.Trong trò chơi này trẻ thực hiện

những vai xác định. Sau đó là trò chơi có luật với một hay nhiều người khác lập

lại quan hệ của những người xung quanh quen thuộc gần gũi với trẻ. Trong loại

trò chơi này trẻ nắm được hành vi của chính mình, ở trẻ hình thành biểu tượng

sơ đẳng về bản thân, về khả năng của mình và những phẩm chất nhân cách riêng

lẻ. Trẻ có được biểu tượng, rằng nó có thể phục tùng luật chơi hay không và có

thể giữ được trong bao lâu, có thể có hay không hành động phù hợp với hành

động của người khác. Như vậy, có thể nói trong những trò chơi đó bắt đầu hình

thành ở trẻ biểu tượng về bản thân và hình thành cơ sở của tự nhận thức [25].

Năm 1978, Lewis và Brooks đã có một nghiên cứu trên trẻ sơ sinh để

chứng minh rằng sự tự nhận thức bản thân không phải có sẵn khi trẻ vừa sinh ra.

Họ đánh phấn hồng lên mũi của những đứa trẻ và đặt chúng trước gương.

Những đứa trẻ từ 9 đến 12 tháng tuổi để ý và giao tiếp với người trong gương

mà không quan tâm gì đến vết phấn trên mũi của mình. Trong khi đó những trẻ

khoảng 18 tháng tuổi lại rất tò mò nhìn mình trong gương, rồi chạm vào vết

phấn hồng trên mũi mình. Chúng nhận ra được người trong gương chính là mình

và nhận ra đặc điểm khác thường của mình [34].

1.1.2. Các công trình nghiên cứu ở trong nước

Bên cạnh các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học quốc tế kể trên,

các nhà khoa học, nhà giáo dục Việt Nam cũng có một số công trình nghiên cứu

như sau:

Trước hết là các công trình nghiên cứu về sự tự ý thức:

Khi nghiên cứu về các đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ em, tác giả

Nguyễn Ánh Tuyết cho rằng tự ý thức của trẻ được hình thành từ cuối tuổi nhà

trẻ, phát triển trong suốt tuổi mẫu giáo. Tác giả cũng khẳng định vai trò to lớn

của khả năng tự ý thức đối với các hoạt động vui chơi học tập của trẻ ở lứa tuổi

mầm non [21].

Tác giả Ngô Công Hoàn nghiên cứu sự hình thành phát triển đặc điểm tự

ý thức của trẻ lứa tuổi mẫu giáo. Theo tác giả tự ý thức là hạt nhân quan trọng

trong nhân cách trẻ, đây là mầm mống, là tiền đề để gia đình, xã hội dựa vào đó

biến quá trình giáo dục thành tự giáo dục của trẻ và người lớn sau này [25].

Các tác giả không chỉ khẳng định vai trò của việc hình thành và phát triển

khả năng tự ý thức cho trẻ mà còn chỉ ra rằng: khả năng tự ý thức là một điều

kiện cần thiết cho trẻ phát triển hoàn thiện nhân cách ở lứa tuổi mầm non và

trường phổ thông sau này.

Bên cạnh đó là các công trình nghiên cứu về sự tự đánh giá như:

Tác giả Lê Ngọc Lan đã nghiên cứu về tự đánh giá trong mối liên hệ với

các yếu tố bên trong của nhân cách, sự khác nhau về giới tính, tính chất của môn

học ảnh hưởng tới sự đánh giá của cá nhân trong từng giai đoạn khác nhau [8].

Tác giả Bùi Hồng Quân đã nghiên cứu về “Kỹ năng tự đánh giá của thiếu

niên đang sống tại các trung tâm bảo trợ xã hội trên địa bàn thành phố Hồ Chí

Minh” trong luận văn Thạc sỹ Tâm lý học năm 2010. Vì tự đánh giá là mức độ

cao của tự ý thức. Để tự đánh giá, trước tiên trẻ phải tự nhận thức rõ các giá trị

về mình. Trong đề tài này, tác giả cũng rất chú ý phân tích các yếu tố ảnh hưởng

đến sự tự đánh giá của trẻ, đặc biệt là thầy cô và bạn bè ở trung tâm [1].

Nổi bật nhất là công trình nghiên cứu của tác giả Vũ Thị Nho về “Sự tự

đánh giá của học sinh cuối cấp tiểu học”. Tác giả có đề cập đến sự tự nhận thức

bản thân của học sinh lớp 4, lớp 5 với vai trò là cơ sở cho sự tự đánh giá của các

em. Tác giả có nhấn mạnh sự tự nhận thức bản thân của học sinh ở lứa tuổi này

chưa ổn định và chịu sự ảnh hưởng nhiều từ đánh giá của người khác, ở đây là

thầy cô, bạn bè. Kết quả nghiên cứu trên rất gần với đề tài nghiên cứu, song

chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về tự nhận thức bản thân của học

sinh tiểu học, đặc biệt là học sinh lớp 4, lớp 5 [20].

1.2. Các khái niệm cơ bản

1.2.1. Khái niệm về ý thức

Định nghĩa ý thức

1.2.1.1.

Có nhiều quan điểm về ý thức dưới các góc độ khác nhau:

Về mặt kinh nghiệm cá nhân thì ý thức xuất hiện như là tổng hòa các hình

ảnh cảm tính và trí tuệ. Tổng hòa này biến đổi không ngừng và xuất hiện trước

chủ thể dưới các hình thức kinh nghiệm “bên trong” và các dự định hoạt động

thực tiễn của chủ thể đó. Có nhiều ngành khoa học nghiên cứu ý thức như triết

học, logic học, ngôn ngữ học, sinh lý học thần kinh, nhân chủng học, xã hội học,

dân tộc học … Tâm lý học nghiên cứu quá trình nảy sinh, cấu trúc và chức năng

của ý thức cá nhân. Ý thức có tính tích cực, tính định hướng lên đối tượng, tính

suy xét những gì có trong ý thức, tính động cơ – giá trị. Có các mức độ ý thức

khác nhau. Ý thức bị quy định bởi những nhân tố bên ngoài và không phụ thuộc

vào bản thân nó. Tâm lý học Mác xít nghiên cứu quá trình hình thành ý thức

trong quá trình phát triển cá thể. Cấu trúc ý thức của cá nhân được hình thành từ

thời thơ ấu do đứa trẻ lĩnh hội cấu trúc giao tiếp với người lớn. Quá trình lĩnh

hội này được hình thành trên cơ sở phát triển loài.

Từ “ý thức” có thể được dùng với nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp. Theo nghĩa

rộng, ý thức thường được dùng đồng nghĩa với tinh thần, tư tưởng… (ý thức tổ

chức, ý thức kỷ luật…). Theo nghĩa hẹp, khái niệm ý thức được dùng để chỉ một

cấp độ đặc biệt trong tâm lý con người. [6, tr. 1031 – 1032]

Theo quan điểm của phân tâm học, ý thức là một trạng thái tỉnh thức với

chức năng quan sát, ghi nhận, cảm nhận, nhận định đối với các sự vật bên ngoài

cái tôi và đối với các suy tư, cảm xúc và hình ảnh bên trong cái tôi. Ý thức như

thế có thể gọi là một quang năng (faculté) nhận định và là một quang năng định

hướng với bốn chức năng. Đó là các chức năng cảm nhận, suy tư, đánh giá và

trực kiến. Thể hiện các chức năng nói trên, ý thức phải liên hệ với cái Tôi như

chủ thể, như động lực, như đầu não, như trung tâm. [11, tr. 24,25] Cũng theo

quan điểm này, S. Freud đã đề cập đến ý thức trong quan hệ giữa hệ thống vô

thức – ý thức trong đời sống tinh thần của con người. Ông đưa ra nhân tố “Cái

tôi” được ví như là cán cân giữa “cái ấy” và “cái siêu tôi”, nó luôn cố gắng xử lý

sự bướng bỉnh và nôn nóng của “cái ấy”, đối chiếu hành động của mình với hiện

thực, giảm căng thẳng tâm lý và đồng thời đáp ứng với khát vọng thường xuyên

vươn tới sự hoàn thiện của “cái siêu tôi”. Từ việc phân tích các nhân tố trong hệ

thống cấu trúc trong bộ máy tâm thần, Freud ví ý thức như một cái máy chiếu

quét sáng trên sân khấu, những gì nằm ngoài vùng sáng nhưng vẫn trong tầm

chiếu của nó sẽ trở thành tiền ý thức, và “cái tôi” có trách nhiệm điều khiển máy

chiếu này.[17, 246 – 257]

Tuy nhiên, dưới góc độ của tâm lý học hoạt động thì nhà tâm lý học A.N

Lêônchép cho rằng ý thức trực tiếp là bức tranh về thế giới bày ra trước chủ thể,

hành động và trạng thái của chủ thể. Đối với người không thông thạo thì sự tồn

tại của bức tranh chủ quan ấy ở chủ thể, dĩ nhiên, không đặt ra một vấn đề lý

luận nào cả: trước mắt chủ thể là thế giới, chứ không phải thế giới là bức tranh

về thế giới. [16, tr.201]

Cùng quan điểm trên, tác giả Nguyễn Văn Đồng, trong “Tâm lý học phát

triển”, đã đưa ra khái niệm về ý thức dưới dạng ý thức xã hội là: nhận thức của

cá nhân về suy nghĩ, động cơ, tình cảm và ứng xử của bản thân và của người

khác. [14, tr. 449]

Qua việc phân tích khái niệm về ý thức dưới các quan điểm khác nhau,

chúng tôi đồng ý với quan điểm của GS. TS. Vũ Dũng được trình bày trong từ

điển tâm lý học khi định nghĩa ý thức là hình ảnh phản ánh hiện thực cao nhất

của con người. Cũng như tâm lý, ý thức là sản phẩm của vật chất có tổ chức cao

(bộ não) của con người. [6, tr. 424]

Thuộc tính của ý thức: 1.2.1.2.

Ý thức có các thuộc tính cơ bản như sau:

Ý thức thể hiện năng lực nhận thức cao nhất của con người về thế

giới. Đó là nhận thức bản chất, khái quát bằng ngôn ngữ. Bên cạnh đó còn dự

kiến trước kế hoạch hành vi, kết quả của nó làm cho hành vi mang tính có chủ

định.

Ý thức thể hiện thái độ của con người đối với thế giới. Ý thức

không chỉ nhận thức sâu sắc về thế giới mà còn thể hiện thái độ đối với nó. C.

Mác và F. Ăngghen đã viết: “ Ý thức tồn tại đối với tôi là tồn tại một thái độ nào

đó đối với sự vật này hay sự vật khác, động vật không biết “tỏ thái độ” đối với

sự vật nào cả …”

Ý thức thể hiện năng lực điều khiển, điều chỉnh hành vi của con

người. Trên cơ sở nhận thức bản chất khái quát và tỏ rõ thái độ với thế giới, ý

thức điều khiển, điều chỉnh hành vi của con người đạt tới mục đích đã đề ra. Vì

thế ý thức có khả năng sáng tạo. V.I Lênin nói: “Ý thức của con người không chỉ

phản ánh hiện thực khách quan mà còn sáng tạo nó”.

Khả năng tự ý thức: con người không chỉ ý thức về thế giới mà còn,

ở mức độ cao hơn, có khả năng tự ý thức, có nghĩa là khả năng tư nhận thức về

mình, tự xác định thái độ đối với bản thân, tự điều khiển, điều chỉnh, tự hoàn

thiện mình. [ 13, tr. 60]

Cấu trúc ba mặt của ý thức: 1.2.1.3.

Từ các thuộc tính trên, trong ý thức có ba mặt tương ứng thống nhất hữu

cơ với nhau, điều khiển hoạt động có ý thức của con người.

Mặt nhận thức:

Các quá trình nhận thức cảm tính mang lại những tài liệu đầu tiên cho ý

thức là tầng bậc thấp nhất của ý thức.

Quá trình nhận thức lý tính là bậc tiếp theo trong mặt nhận thức của ý

thức, đem lại cho con người những hiểu biết bản chất, khái quát về thực tại

khách quan. Đây là nội dung rất cơ bản của ý thức, là hạt nhân của ý thức, giúp

con người hình dung ra trước kết quả của hoạt động và hoạch định kế hoạch

hành vi.

Mặt thái độ: Nói lên thái độ lựa chọn, thái độ cảm xúc, thái độ đánh

giá của chủ thể đối với thế giới.

Mặt năng động: Ý thức điều khiển, điều chỉnh hoạt động của con

người làm cho hoạt động của con người có ý thức. Đó là quá trình con người

vận dụng những hiểu biết và tỏ thái độ của mình nhằm thích nghi, cải tạo thế

giới và cải biến cả bản thân. Mặt khác ý thức nảy sinh và phát triển trong hoạt

động. Cấu trúc của hoạt động quy định cấu trúc của ý thức. Vì thế nhu cầu, hứng

thú, động cơ, ý chí… đều có vị trí nhất định trong cấu trúc của ý thức. [13, tr.

61-62]

Các cấp độ ý thức: 1.2.1.4.

Căn cứ vào tính tự giác, mức độ sáng tỏ, phạm vi bao quát của tâm lý,

người ta phân chia các hiện tượng tâm lý của con người thành ba cấp độ:

- Cấp độ chưa ý thức.

- Cấp độ ý thức và tự ý thức.

- Cấp độ ý thức nhóm và ý thức tập thể.

Cấp độ chưa ý thức

Trong cuộc sống cùng với các hiện tượng tâm lý có ý thức, chúng ta

thường gặp những hiện tượng tâm lý chưa có ý thức diễn ra chi phối hoạt động

của con người. Ví dụ: người mắc chứng mộng du vừa ngủ vừa đi trên mái nhà,

người say rượu nói ra những điều không có ý thức, người bị thôi mien, người bị

động kinh… thường có những hành động không ý thức (chưa ý thức). Hiện

tượng tâm lý “không ý thức” này khác với từ “vô ý thức” (vô ý thức tổ chức, vô

ý thức tập thể) mà ta vẫn dùng hàng ngày. Ở đây người vô ý thức thể hiện sự

thiếu ý thức tôn trọng tổ chức, tôn trọng kỷ luật, quy định chung của tập thể, anh

ta rất có ý thức về việc làm sai trái của mình. Hiện tượng tâm lý không ý thức,

chưa nhận thức được, trong tâm lý học gọi là vô thức.

Vô thức là hiện tượng tâm lý ở tầng bậc chưa ý thức, nơi mà ý thức không

thực hiện chức năng của mình. Vô thức bao gồm nhiều hiện tượng tâm lý khác

nhau của tầng không (chưa) ý thức:

Vô thức ở tầng bản năng vô thức (bản năng dinh dưỡng, tự vệ, sinh -

dục) tiềm tàng ở tầng sâu, dưới ý thức, mang tính bẩm sinh, di truyền.

Vô thức còn bao gồm cả những hiện tượng tâm lý dưới ngưỡng ý -

thức (dưới ý thức hay tiền ý thức).

Ví dụ: có lúc ta cảm thấy thích một cái gì đó, nhưng không hiểu rõ vì sao.

Có lúc thích, có lúc không thích, khi gặp điều kiện thì bộc lộ ý thích, khi không

có điều kiện thì thôi.

Hiện tượng tâm thế: hiện tượng tâm lý dưới ý thức, hướng tâm lý sẵn sàng

chờ đón, tiếp nhận một điều gì đó ảnh hưởng đến tính linh hoạt và tính ổn định

của hoạt động. Cũng có lúc tâm thế phát triển xâm nhập cả vào tầng ý thức. Ví

dụ: Tâm thế yêu đương của đôi bạn trẻ đang say mê nhau, tâm thế nghỉ ngơi của

người cao tuổi.

Có những loại hiện tượng tâm lý vốn là có ý thức nhưng do lặp đi lặp lại

nhiều lần chuyển thành dưới ý thức. Chẳng hạn một số kỹ xảo, thói quen ở con

người do được luyện tập đã thành thục, trở thành “tiềm thức”, một dạng tiềm

thức sâu lắng của ý thức. Tiềm thức thường trực chỉ đạo hành động, lời nói, suy

nghĩ… của một người tới mức không cần ý thức tham gia.

Cấp độ ý thức và tự ý thức

Ở cấp độ ý thức, như đã nói ở trên, con người nhận thức, tỏ thái độ có chủ

tâm và dự kiến trước được hành vi của mình, làm cho hành vi trở nên có ý thức.

Ý thức thể hiện trong ý chí, trong sự chú ý.

Tự ý thức là mức độ phát triển cao hơn của ý thức.

Cấp độ ý thức nhóm và ý thức tập thể

Trong mối quan hệ giao tiếp và hoạt động ý thức của cá nhân sẽ phát triển

dần đến cấp độ ý thức xã hội, ý thức nhóm, ý thức tập thể (ví dụ: ý thức về gia

đình, ý thức về dòng họ, ý thức dân tộc, ý thức nghề nghiệp…). Trong cuộc sống

khi con người hành động, hoạt động với ý thức cộng đồng, ý thức tập thể, mỗi

con người có thêm sức mạnh tinh thần mới mà người đó chưa bao giờ có được

khi anh ta chỉ hoạt động với ý thức cá nhân riêng lẻ.

Tóm lại, các cấp độ khác nhau của ý thức luôn tác động lẫn nhau, chuyển

hoá và bổ sung cho nhau làm tăng tính đa dạng và sức mạnh của ý thức. Ý thức

thống nhất với hoạt động. Hình thành, phát triển và thể hiện trong hoạt động, ý

thức chỉ đạo, điều khiển, điều chỉnh hoạt động, làm cho hoạt động có ý thức.

[13, tr. 66 – 67]

Qua việc tìm hiểu các khái niệm về ý thức, chúng tôi đồng ý với quan

điểm cho rằng: Ý thức là hình thức phản ánh tâm lý cao nhất mà chỉ riêng con

người mới có; phản ánh bằng ngôn ngữ; là khả năng tri thức của con người (là

tri thức về tri thức, phản ánh của phản ánh) [13, tr. 60]. Ý thức có ba mặt là: mặt

nhận thức, mặt thái độ, mặt năng động, tương ứng thống nhất hữu cơ với nhau

và điều khiển hoạt động có ý thức của con người [13, tr. 62]. Trong ba cấp độ

của ý thức, tự ý thức là ý thức ở mức độ phát triển cao nhất.

1.2.2. Khái niệm về tự ý thức

Định nghĩa: 1.2.2.1.

Tự ý thức là việc con người nhận thức và đánh giá bản thân mình về hiểu

biết, phẩm giá, lợi ích, mục đích, lý tưởng… của mình với tư cách là một nhân

cách đang tư duy và hoạt động có ý thức [34].

Hai nhà xã hội học Cooley và Mead tin rằng, sự phát triển tự ý thức và ý

thức xã hội hoàn toàn đồng hành, cái này thúc đẩy sự tiến bộ của cái kia và

ngược lại. Nói chung, tự ý thức của cá nhân là hình ảnh phản xạ của tương quan

cá nhân và những người xung quanh, nó là hình ảnh của cá nhân được phản

chiếu trong cái gương của chung xã hội. [14, tr. 449]

Từ đó cho thấy tự ý thức là khả năng con người tự nhận thức về mình, tự

xác định thái độ đối với bản thân, từ đó tự điều khiển, tự điều chỉnh hành vi của

bản thân, từ đó tự hoàn thiện mình [13, tr.60]

Cấu trúc: 1.2.2.2.

● Tự nhận thức về bản thân:

Từ định nghĩa trên, cấu trúc của tự ý thức bao gồm:

Cá nhân tự nhận thức về bản thân mình ở các điểm như:

+ Hình thức bên ngoài: màu tóc, màu da, vóc dáng, chiều cao, cân nặng, …

+ Đặc điểm bên trong: năng lực, phẩm chất

+ Vị thế trong xã hội: trong gia đình, nhà trường, các tổ chức xã hội

● Tự đánh giá về bản thân:

+ Các quan hệ xã hội: ba mẹ, thầy cô, bạn bè, …

Trên cơ sở tự nhận thức được đặc điểm bản thân mình, nhận thức được

đặc điểm của người khác, cá nhân so sánh bản thân mình với người khác, tỏ thái

độ hài lòng/ không hài lòng với bản thân mình, …

● Tự điều chỉnh, tự điều khiển hành vi của bản thân theo mục đích tự giác:

Cá nhân tự giác điều chỉnh hành vi sao cho phù hợp với mục đích của bản thân.

Qua việc tự nhận thức về bản thân, tự đánh giá những đặc điểm của bản

thân mình, cá nhân có thể tự điều chỉnh, điều khiển hành vi bản thân, từ đó có

khả năng tự giáo dục, tự hoàn thiện mình [13, tr. 67].

Vai trò: 1.2.2.3.

Tự ý thức là mức độ phát triển cao của ý thức, với cấu trúc gồm có: tự

nhận thức bản thân; tự đánh giá; tự điều chỉnh, điều khiển hành vi của bản thân

để từ đó cá nhân có thể tự giáo dục và hoàn thiện mình. Chính thờ tự ý thức về

bản thân, con người tự tách mình khỏi thế giới xung quanh, xác định được vị trí

và vai trò của mình trong thế giới đó. Tự ý thức hình thành không những trong

từng cá nhân mà cả trong những cộng đồng, tập đoàn người lớn, nhỏ.

Mặt khác, kỹ năng tự ý thức ở mỗi người sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho

công tác giáo dục ở mỗi gia đình, nhà trường và các trung tâm giáo dục khác.

Tác giả đưa ra một trải nghiệm xã hội có vai trò quan trọng trong việc

hình thành tự ý thức là gắn bó an toàn với người chăm sóc đầu đời. Sandra Pipp

và đồng nghiệp đã làm một test phức tạp với những trẻ 2 và 3 tuổi. Test này

đánh giá hiểu biết của trẻ về tên, giới tính cùng với các tác vụ về tự ý thức của

chúng. Kết quả là những trẻ gắn bó an toàn trình diễn tốt hơn hẳn những bạn gắn

bó không an toàn. Sự khác biệt này gia tăng theo lứa tuổi từ 2 đến 3.

Mặc dù chúng ta tự hiểu mình hơn những người khác nhưng an toàn nhất

đối với một cá nhân là hãy tự tìm hiểu về bản thân thông qua tiếp xúc và trải

nghiệm với những người khác. Sự tăng trưởng của tự ý thức và những hiểu biết

nảy sinh về bản thân như một thành viên của các tương tác xã hội là tiền đề cho

rất nhiều hiểu biết và kỹ năng xã hội. Ví dụ: những trải nghiệm lương tâm như

xấu hổ phụ thuộc vào mức độ phát triển của tự ý thức. Hơn thế nữa, những trẻ đã

đạt được tự ý thức về cơ bản sẽ trở nên dễ hòa hợp và có kỹ năng hòa nhập xã

hội. Chúng sẽ thích thú bắt chước những hành động của bạn chơi. Thỉnh thoảng

chúng còn có thể cộng tác để đạt được mục tiêu chung.

Khi trẻ bắt đầu thể hiện tự ý thức, chúng trở nên nhạy cảm hơn với sự

khác biệt về tính cách của những người xung quanh và bắt đầu phân loại bản

thân theo những tiêu chí này. Đây là cái tôi được phân loại. Những tiêu chí xã

hội đầu tiên mà trẻ dùng là tuổi, giới tính và những giá trị xã hội. Ví dụ trẻ nói:

“Cháu là cậu bé lớn chứ không phải em bé”, “Mai là bạn gái tốt”.

Cho đến gần đây các nhà tâm lý học phát triển vẫn cho rằng tự ý thức của

trẻ tiền tiểu học có tính cụ thể, thể chất và không chứa những hiểu biết tâm lý về

bản thân. Khi được hỏi về bản thân (“cháu là người như thế nào?”), trẻ từ 3 đến

5 tuổi thường nói nhiều về những đặc trưng thể chất của bản thân (“Cháu cao

hơn bạn”), về những đồ vật mà chúng sở hữu (“Cháu có xe đạp ba bánh”) hoặc

về những hành động mà chúng đặc biệt tự hào (“Cháu tự mình đi đến trường

mẫu giáo”). Những mô tả tâm lý theo kiểu:”Cháu sung sướng lắm”, “Cháu thích

mọi người” rất hiếm khi xuất hiện trong câu chuyện của trẻ ở độ tuổi này.

Rebecca Eder thấy rằng khi hỏi trẻ từ ba tuổi rưỡi đến năm tuổi những câu hỏi

có đáp án cho phép lựa chọn theo kiểu “Cháu thích chơi một mình hay chơi với

bạn?” (yêu cầu ít kỹ năng nói hơn câu hỏi “Cháu là người như thế nào?”) thì câu

trả lời của trẻ sẽ có tính đặc trưng tâm lý xã hội. Và những đặc trưng này khá

bền vững theo thời gian. Những nghiên cứu của Eder cho thấy trẻ có khái niệm

về bản thân khá rõ rệt.

Ở độ tuổi thiếu niên, trẻ tự mô tả bản thân bằng một danh sách những đặc

tính thể chất, ứng xử và dáng vẻ bề ngòai khác nhằm nhấn mạnh những phẩm

chất bên trong của chúng – ví dụ như nét tính cách, hệ thống giá trị, niềm tin và

nhân sinh quan. Càng lớn thì mô tả của thiếu niên về bản thân càng trừu tượng

hơn, càng mang nét tâm lý rõ rệt hơn, càng ít tự tin và kém thành thật hơn. Tác

giả cũng đưa ra 3 ví dụ minh họa cho quan điểm này như sau:

Trẻ chín tuổi: “Tôi là Bruce C. (cả họ lẫn tên). Mắt và tóc tôi màu nâu.

Tôi yêu thể thao. Gia đình tôi có bảy người. Tôi có đôi mắt rất to! Tôi có rất

nhiều bạn bè! Tôi sống ở… Tôi có chú cao tới gần hai mét. Thầy giáo của tôi tên

là… Tôi chơi khúc côn cầu. Tôi là người khỏe nhất lớp. Tôi thích ăn. Tôi yêu

trường tôi.”

Mười một tuổi rưỡi: “Tôi tên là A. (chỉ có họ). Tôi là một người… một

cô gái… một con người thẳng thắn. Tôi không xinh. Tôi học cũng thường thôi.

Tôi đánh đàn viôlông rất hay. Tôi hơi cao so với bạn bè. Tôi thích một vài bạn

trai. Tôi thuộc kiểu người bảo thủ. Tôi bơi rất tốt. Tôi luôn cố giúp đỡ mọi

người. Tôi thường vui vẻ nhưng đôi khi tôi mất bình tĩnh. Tôi không được như

một vài bạn trai và gái khác. Tôi không biết các bạn trai có thích tôi không?”

Mười bảy tuổi: “Tôi là một con người… là một cô gái… là một cá nhân…

Tôi sinh dưới chòm sao song ngư. Tôi là một người ủ rũ, không dứt khoát, có

tham vọng. Tôi ham hiểu biết. Tôi rất cô đơn. Tôi là người Cộng hòa. Tôi là

người tự do. Tôi là người tiến bộ. Tôi là người bảo thủ. Tôi là người tự do giả

danh. Tôi là người vô thần. Tôi là người không thuộc loại nào cả” [14, tr. 450 –

455].

1.2.3. Khái niệm về tự nhận thức bản thân

Để tìm hiểu khái niệm về sự nhận thức bản thân, trước hết cần phân tích

khái niệm về nhận thức.

Khái niệm nhận thức 1.2.3.1.

Để hiểu khái niệm nhận thức, trước hết cần làm rõ khái niệm hoạt động.

Bản chất của hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế

giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới, cả về phía con người

(chủ thể).

Trong mối quan hệ trên có hai quá trình diễn ra đồng thời và bổ sung,

thống nhất với nhau. Đó là:

- Quá trình đối tượng hóa: Là quá trình trong đó chủ thể chuyển năng lực

của mình thành sản phẩm của hoạt động, hay nói khác đi tâm lý của con người

(của chủ thể) được bộc lộ, được khách quan hóa trong quá trình làm ra sản

phẩm. Quá trình đối tượng hóa khách thể còn được gọi là quá trình xuất tâm.

- Quá trình chủ thể hóa: Là khi hoạt động của con người chuyển từ phía

khách thể vào bản thân mình những quy luật, bản chất của thế giới để tạo nên

tâm lý, ý thức, nhân cách của bản thân, bằng cách chiếm lĩnh (lĩnh hội) thế giới.

Quá trình chủ thể hóa còn được gọi là quá trình nhập tâm [13, tr. 45 - 46]

Như vậy là trong hoạt động con người vừa tạo ra sản phẩm cho thế giới,

vừa tạo ra tâm lý của mình, hay nói khác đi tâm lý, ý thức, nhân cách được bộc

lộ và hình thành trong hoạt động.

Nhận thức là một dạng hoạt động cơ bản của con người. Đặc trưng nổi bật

nhất của hoạt động nhận thức là phản ánh hiện thực khách quan. Hoạt động này

bao gồm nhiều quá trình khác nhau, thể hiện những mức độ phản ánh hiện thực

khách quan khác nhau (cảm giác, tri giác, trí nhớ, tưởng tượng, …) và mang lại

những sản phẩm khác nhau về hiện thực khách quan (hình ảnh, hình tượng, biểu

tượng, khái niệm, …)

Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người:

nhận thức, tình cảm, hành động. Nó quan hệ chặt chẽ với các mặt kia và quan hệ

mật thiết với các hiện tượng tâm lý khác của con người [13, tr. 71]

Có nhiều quan điểm khoa học về nhận thức như sau:

Theo Từ điển tâm lý học, nhận thức là “hiểu được một điều gì đó, tiếp thu

được những kiến thức về điều nào đó, hiểu biết những quy luật về những hiện

tượng, quá trình nào đó…” [6]

Theo “Từ điển bách khoa Việt Nam” trên mạng Internet, nhận thức là:

“Quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con

người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể. Sự

nhận thức đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu

tượng đến thực tiễn. Con đường nhận thức đó được thực hiện qua cách giai

đoạn từ thấp đến cao như: nhận thức cảm tính, nhận thức lý tính và nhận thức

trở về thực tiễn. Do đó, thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lí, là cơ sở động lực,

mục đích của nhận thức. Mục đích cuối cùng của nhận thức không chỉ để giải

thích thế giới mà để cải tạo thế giới. Do đó, sự nhận thức ở giai đoạn này có

chức năng chỉ đạo đối với thực tiễn. Sự nhận thức là một quá trình vận động

không ngừng, vì nó gắn liền với hoạt động thực tiễn” [35].

Có nhiều quan niệm khác nhau khi xây dựng khái niệm “Nhận thức”,

nhưng đều cùng khẳng định rằng nhận thức là một quá trình.

Theo quan điểm của triết học Mác- Lênin, nhận thức được định nghĩa là

quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con

người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn [36].

Theo quan diểm của tâm lý học nhận thức, nhà tâm lý học và giáo dục

học Jean Piaget (1896 – 1986) cho rằng sự phát triển nhận thức của trẻ em bao

gồm sự thu thập các cấu trúc nhận thức, các nguyên tắc để hiểu và làm việc với

thế giới bên ngoài, để tư duy và giải quyết vấn đề. Hai dạng nguyên tắc của cấu

trúc nhận thức này là sơ đồ và hệ lý thuyết. Sơ đồ là hệ quy tắc xác định các

phạm trù cụ thể của ứng xử: ứng xử sẽ được thực hiện ra sao và ở điều kiện như

thế nào? Nói cách khác, sơ đồ là một chuỗi hành động cảm giác – vận động có

tổ chức. Chuỗi hành động của một sơ đồ là không đổi và không đảo ngược trật

tự. Ví dụ: cấu trúc nhận thức của trẻ sơ sinh bao gồm sơ đồ mút, sơ đồ với và sơ

đồ nhìn.

Piaget khẳng định rằng trẻ em thu nhận kiến thức về môi trường bằng

cách phát triển cấu trúc thần kinh gọi là hệ lý thuyết. Hệ lý thuyết là các quy tắc

mô tả thuộc tính của các sự kiện xung quanh và quan hệ của chúng với các hệ lý

thuyết khác. Ví dụ hệ lý thuyết về sự tồn tại của các vật thể khác nhau bao gồm

các vật thể đó làm gì, chúng liên hệ với các vật thể khác như thế nào, sẽ xảy ra

gì nếu sờ nó và chơi nó. Vì vậy, cấu trúc nhận thức của trẻ em bao gồm các hệ lý

thuyết về các sự vật như tiếng lách cách, quả bóng, thanh gỗ của cũi, bàn tay,

những người khác nhau, …

Theo quan điểm của Piaget (1896-1980), quá trình nhận thức được coi là

sự tổng hợp của hai quá trình trái ngược và bổ xung lẫn nhau: Quá trình đồng

hóa và quá trình điều ứng. Đứng trước một sự vật, hiện tượng, để tìm hiểu hay

tác động lên nó con người bước đầu vận dụng một “sơ cấu” hành động hoặc tư

duy đã có từ bẩm sinh hoặc trải nghiệm trước đó là quá trình đồng hóa. Tuy

nhiên, con người thường gặp những sự vật hiện tượng mang những đặc tính mới

khác với “ sơ cấu” vốn có khi ấy phải điều chỉnh tức là tạo ra mô hình sơ cấu

mới để song nạp được sự vật hiện tượng mới đó, quá trình này được gọi là điều

ứng. Cả đồng hoá và điều ứng đều nhằm giúp cá thể thích nghi với môi trường

và đạt đến sự cân bằng. Quan điểm này có tác dụng rất lớn trong việc giải thích

sự phát triển quá trình nhận thức và sự thích nghi của con người với môi trường.

Piaget đưa ra bốn giai đoạn phát triển nhận thức gồm có: giai đoạn cảm

giác vận động (từ 0 đến 2 tuổi); giai đoạn tiền thao tác (từ 2 đến 6, 7 tuổi); giai

đoạn thao tác cụ thể (từ 6, 7 đến 12 tuổi) và giai đoạn thao tác hình thức (từ 12

tuổi trở lên). Ông cho rằng các cá thể có thể khác nhau trong tốc độ phát triển ở

mỗi giai đoạn nhưng vẫn có thể chỉ ra các giới hạn tuổi tác gần đúng cho từng

giai đoạn. Mặc dù, sự phát triển là một quá trình liên tục, nhưng sự biến đổi cấu

trúc nhận thức của trẻ từ tuổi này sang tuổi khác cho phép suy luận về các

nguyên tắc mà trẻ ở lứa tuổi nhất định sử dụng để tìm hiểu môi trường xung

quanh và kiểm soát ứng xử của bản thân [14, tr. 176 - 178].

Dưới góc độ tâm lý học hoạt động, Vygotsky tuyên bố rằng nhận thức của

nhân loại – thậm chí được hình thành trong sự tách biệt vốn đã là văn hóa – xã

hội vì nó chịu ảnh hưởng của niềm tin, hệ thống giá trị và các công cụ thích nghi

trí tuệ được truyền cho cá nhân thông qua văn hóa [14, tr. 210]

Quan điểm theo lý thuyết thông tin của tác giả Nguyễn Thị Kim Hoa về

“Phương pháp dạy trẻ chậm phát triển trí tuệ”: quá trình nhận thức của con

người được xem như quá trình thu nạp và xử lý thông tin trong một hệ thống

máy tính trong đó các thông tin được các cơ quan cảm giác của con người ghi lại

và xử lý, quá trình này theo họ thực chất là quá trình chuyển hóa thông tin qua

lại giữa bộ nhớ động và bộ nhớ tĩnh. Bộ nhớ sử dụng như một màn hình máy

tính trong cùng một lúc nó có thể hiểu và biểu diễn ra thành phản ứng bên ngoài

và tối đa không tồn tại đối tượng khác nhau còn bộ nhớ tĩnh như cái thư viện

khổng lồ có sức chứa gần như vô hạn. Các thông tin từ bộ nhớ hoạt động có thể

được ghi lại trực tiếp vào bộ nhớ tĩnh hoặc ghi vào nhờ quá trình lặp lại, ngược

lại thông tin từ bộ nhớ tĩnh có thể được lấp trở lại bộ nhớ hoạt động nhờ quá

trình hồi tưởng, đôi khi thông tin có thể mất đi do không có ý nghĩa hoặc không

được sử dụng lại (Hiện tượng quên). Lý thuyết thông tin về quá trình nhận thức

cho phép hình dung một cách khá tường minh về quá trình nhận thức khách

quan nhưng không kể đến tác động qua lại với các quá trình tâm lý khác, những

đặc điểm mang tính chủ quan của chủ thể, cách tiếp cận này tỏ ra tương đối

thuận lợi cho viêc mô tả lại các đặc điểm hoạt động nhận thức của trẻ.

Trên cơ sở phân tích các quan niệm về khái niệm “nhận thức” chúng tôi

xác định khái niệm “nhận thức” như sau:

Nhận thức là một dạng hoạt động cơ bản của con người. Hoạt động nhận

thức là quá trình tâm lý phản ánh thế giới khách quan. Đặc trưng nổi bật nhất

của hoạt động nhận thức là phản ánh hiện thực khách quan (những đặc điểm,

thuộc tính, tính chất của sự vật, hiện tượng). Hay nói cách khác, nhận thức là

quá trình chủ thể tiếp nhận những thông tin và xử lý những thông tin thu được

làm cơ sở cho việc định hướng, điều khiển, điều chỉnh hành vi của mình nhằm

đảm bảo sự thích ứng và phát triển của cá nhân.

● Định nghĩa

Khái niệm tự nhận thức bản thân 1.2.3.2.

Để có cách hiểu về tự nhận thức bản thân làm cơ sở lý luận cho việc

nghiên cứu thực tiễn của đề tài, chúng tôi đã phân tích các khái niệm về tự nhận

thức dưới các góc độ khác nhau như sau:

Theo từ điển tâm lý học, khái niệm tự nhận thức thường được hiểu là nhận

thức về bản thân. Đây là một trong những vấn đề quan trọng nhất và phức tạp

nhất của chủ thể. Sự phức tạp này do các nguyên nhân sau:

Thứ nhất, con người cần phát triển khả năng nhận thức của mình, tìm

kiếm những phương thức, qua đó đi tới sự tự nhận thức.

Thứ hai, con người cần tích lũy những cơ sở cần thiết cho sự nhận thức

của bản thân, tức là sự tích lũy để mình trở thành ai. Trong quý trình đó cá nhân

không ngừng phát triển sự tự nhận thức.

Thứ ba, bất kỳ những kiến thức nào mà cá nhân nhận được cũng đều có

thể là nhân tố để thay đổi bản thân, nhận biết về bản thân mình và để trở thành

một người khác. Do vậy, nhiệm vụ của tự nhận thức luôn mang tính chủ quan.

Đó là con đường dẫn tới sự tự hoàn thiện, tự phát triển của cá nhân.

Tự nhận thức bắt đầu từ rất sớm của tuổi thơ và khi đó nó đã có những

hình thức và nội dung đặc trưng. Đầu tiên, đứa trẻ học cách phân biệt bản thân

nó với thế giới vật chất – hiện tại đứa trẻ chưa biết cái gì liên quan tới cơ thể của

nó. Sau đó, nó nhận thức bản thân với một tư duy khác – nó là thành viên của

môi trường xã hội vi mô. Trong giai đoạn này đứa trẻ đã bắt đầu quan sát các

hiện tượng giống nhau. Mặc dù vậy, đứa trẻ vẫn còn khó khăn trong việc phân

biệt nó với những người khác. Đến tuổi vị thành niên, cá nhân bắt đầu nhận

thức về “cái tôi lý tưởng” của mình qua hiểu biết về các đặc điểm tâm lý, tính

cách và các phẩm chất đạo đức của bản thân.

Quá trình tự nhận thức là quá trình kích thích mạnh mẽ sự lĩnh hội một

cách tích cực các kinh nghiệm văn hoá của cá nhân. Đối với lứa tuổi vị thành

niên, quá trình này bắt đầu với câu hỏi: “Tôi là ai?”, “Tại sao mình lại không

như vậy?”, “Tôi sẽ cần trở thành một người như thế nào?”. Đó là sự nhận thức

về cái tôi lý tưởng và đây chính là bắt đầu của sự tự hoàn thiện cá nhân [6, tr.

968 - 969]

Khi đề cập đến vấn đề “cái tôi” lý tưởng, Carl Rogers cũng đã nhấn mạnh

“cái tôi” lý tưởng được hiểu là tự nhận thức mà cá nhân muốn trải qua nhất [3,

● Vai trò

tr. 29].

Theo nhà tâm lý học người Nga N.N.Yechocoba “tự nhận thức như là mắt

xích đầu tiên và là cơ sở tồn tại thể hiện của tự ý thức. Qua nhận thức, con người

đi từ những hiểu biết xác định về bản thân. Những hiểu biết đó đi vào nội dung

của tự ý thức như là tâm điểm của nó”.

Nhà tâm lý học S.Pranz cho rằng, tự nhận thức là một thành phần của tự ý

thức. Tự nhận thức là quá trình nhận thức hướng vào chính bản thân mình cùng

với kết quả của quá trình đó.

Như đã trình bày ở trên, trong cấu trúc của ý thức gồm các thành tố có

liên quan mật thiết với nhau. Trong đó tự nhận thức là một thành phần của tự ý

thức. Tự nhận thức bắt đầu bằng sự hiểu biết bản thân làm cơ sở cho sự tự ý thức

về mình.

Theo nhà tâm lý học S. Yamuna, việc biết rõ sức mạnh của bản thân sẽ

giúp ta đạt được thành công cũng như giúp ta có thể đánh giá đúng khả năng của

mình để hoàn thành một công việc nhất định dù có hay không có sự giúp đỡ của

người khác. Điều này sẽ tạo sự phấn khởi, sẵn sàng học tập tiếp những kỹ năng

mới và phát huy những gì đã đạt được, khiến ta tin tưởng vào sức hấp dẫn của

bản thân và thiết lập những mối quan hệ tốt đẹp với những người xung quanh.

Nhờ đó, chúng ta sẵn sàng chấp nhận những thử thách khác trên cơ sở hiểu rõ

sức mạnh của bản thân mình. Ý thức được điểm yếu của bản thân giúp ta chấp

nhận những hạn chế của mình và sẵn lòng đón nhận sự giúp đỡ khi được đề nghị

và do đó, chúng ta có thể khắc phục được những khiếm khuyết của mình. Điều

này mở đường cho việc phát triển kỹ năng và phát huy năng lực của mỗi cá nhân

– những yếu tố vô cùng cần thiết cho cuộc sống. Sự tự nhận thức sẽ mở đường

cho quá trình trưởng thành: trẻ sẽ biết trân trọng mối quan hệ với những người

xung quanh, hiểu rõ được khả năng và hạn chế của bản thân, nhờ đó điều chỉnh

để việc học hành hiệu quả hơn trước [19, tr. 186 - 187].

Như vậy, nhờ tự nhận thức bản thân, con người có khả năng tự nhận thức

bản thân (đặc điểm hình thức, tính cách, năng lực, ưu điểm, nhược điểm, …), tự

đánh giá bản thân để có thể điều chỉnh hành vi, tu dưỡng, rèn luyện bản thân.

Đây là cơ sở để con người hình thành khát vọng tự giáo dục bản thân và hoàn

● Nội dung

thiện nhân cách của mình.

Cá nhân tự nhận thức về bản thân mình từ đặc điểm bên ngoài, năng lực,

phẩm chất đến vị thế xã hội. Cụ thể là:

- Hình thức bên ngoài: là những đặc điểm về mái tóc (màu gì? Dài hay

ngắn? mềm hay cứng?...), làn da (màu trắng hay ngăm đen? Da khô hay mềm

mại?) , vóc dáng (to hay nhỏ?), chiều cao (cao hay thấp?), cân nặng (ốm hay

mập?), …

- Nội dung bên trong: năng lực (kết quả học tập, năng lực làm việc, năng

khiếu,…), phẩm chất (tính cách, khí chất)

- Vị thế và các quan hệ xã hội: vị trí của cá nhân trong gia đình (quan hệ

với ba, mẹ, anh, chị, em, …), trong nhà trường (quan hệ với thầy, cô, bạn cùng

lớp, bạn cùng trường) và các tổ chức xã hội (Đoàn, Đội, câu lạc bộ, …).

Dựa trên cơ sở phân tích những khái niệm về nhận thức và tự ý thức,

chúng tôi xác định tự nhận thức là thành tố trong cấu trúc của tự ý thức. Đó là

quá trình tâm lý phản ánh những đặc điểm, phẩm chất, … của bản thân, làm cơ

sở cho việc định hướng, điều khiển, điều chỉnh hành vi của mình.

Như chúng ta đã biết, mỗi lứa tuổi có những đặc điểm tâm sinh lý khác

nhau, đặc biệt là đặc điểm về nhận thức. Do đó, lứa tuổi mầm non sẽ có các đặc

điểm tự nhận thức bản thân khác với lứa tuổi tiểu học, và khác với lứa tuổi thanh

niên. Vậy học sinh lớp 4, lớp 5 tự nhận thức về bản thân như thế nào?

1.2.4. Khái niệm tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, lớp 5

Đặc điểm tâm lý lứa tuổi của học sinh lớp 4, lớp 5 1.2.4.1.

Lứa tuổi sinh tiểu học, hay còn gọi là tuổi học sinh nhỏ, là giai đoạn từ 7

đến 12 tuổi. Những cấu tạo tâm lý mới trong lứa tuổi này chủ yếu do hoạt động

học tập mang lại. Tuy nhiên, tính chủ đạo của hoạt động học tập không phải

được hình thành ngay mà nó là một quá trình được diễn ra và phát triển trong

bốn, năm đầu cuộc đời học sinh. Do đó, đến trường thực hiện hoạt động học tập

là bước ngoặc quan trọng trong đời sống của trẻ ở lứa tuổi này. Giờ đây các em

đã trở thành một học sinh thực sự, học tập là nhiệm vụ quan trọng nhất giúp các

em tích lũy kiến thức. Khi đến trường, các em bước vào những mối quan hệ mới

và phức tạp hơn: quan hệ với thầy cô, với bạn bè. Trong môi trường hoạt động

mới sẽ tạo ra cho các em thế giới nội tâm phong phú. Những cấu tạo tâm lý mới

chủ yếu do hoạt động học tập mang lại và được hình thành dần dần với chính

quá trình hình thành của quá trình hoạt động học tập.

Nếu như điểm đặc trưng về tâm lý của học sinh lớp 1, 2 là những bước

chuyển từ hoạt động vui chơi của lứa tuổi mầm non sang hoạt động học tập của

học sinh, thì ở học sinh lớp 4, 5 có những đặc điểm tâm lý mới được hình thành

● Sự phát triển của quá trình nhận thức

và phát triển phù hợp với hoạt động học tập ở cuối bậc tiểu học này [25].

Ở trẻ lớp 4, 5, tính tổng thể của tri giác dần dần nhường chỗ cho tri giác

chính xác, biết phân phối chú ý với những dạng hoạt động khác nhau. Tính chủ

định của chú ý, tri giác là những nét tâm lý mới của trẻ lứa tuổi này.

Về sự phát triển của trí nhớ, ghi nhớ có chủ định được hình thành và phát

triển dần trong quá trình học tập và được hình thành rõ nét ở trẻ lớp 3. Hai hình

thức ghi nhớ chủ định và ghi nhớ không chủ định tồn tại song song, chuyển hóa,

bổ sung cho nhau. Ở những năm cuối của giai đoạn này, trí nhớ có sự tham gia

tích cực của ngôn ngữ.

Sự phát triển của tưởng tượng chủ yếu là phát triển tưởng tượng tái tạo cụ

thể. Tưởng tượng của trẻ ở giai đoạn này phát triển theo xu hướng rút gọn và

khái quát hơn. Đặc điểm này được phát triển song song với ghi nhớ có ý nghĩa.

Điểm khác nhau căn bản về tưởng tượng của trẻ mẫu giáo và trẻ nhi đồng là: trẻ

nhi đồng ý thức rõ rệt về tính thuần túy, quy ước về những điều tưởng tượng của

mình. Tưởng tượng sáng tạo bắt đầu hình thành ở thời gian cuối của giai đoạn.

Sự phát triển của tư duy ở trẻ tiểu học được chia làm hai giai đoạn. Giai

đoạn 1, trẻ 6 đến 7 tuổi, tư duy trực quan hành động chiếm ưu thế. Ở giai đoạn

2, trẻ từ 8 đến 12 tuổi, phát triển tư duy trực quan hình tượng. Trẻ nắm được các

mối quan hệ của khái niệm. Những thao tác về tư duy như phân loại, phân hạng

tính toán, không gian, thời gian, … được hình thành và phát triển mạnh. Đến

cuối giai đoạn 2, tư duy ngôn ngữ bắt đầu hình thành. Theo lý thuyết phát triển

trí tuệ của Piaget, thì đây được gọi là giai đoạn “vận dụng năng lực tư duy cụ thể

(concrete operation stage) với hai đặc điểm nổi bật là trẻ am hiểu nguyên lý bảo

tồn và khái niệm nghịch đảo. Tuy nhiên năng lực tư duy của trẻ còn bị hạn chế

bởi sự ràng buộc với những thật tại vật chất cụ thể. Trẻ gặp khó khăn trong tư

● Sự phát triển của cảm xúc, ý chí

duy trừu tượng.

Đời sống cảm xúc, tình cảm khá phong phú, đa dạng và cơ bản mang tính

tích cực. Tính kiềm chế và tự giác được tăng cường. Trạng thái cảm xúc ổn

● Sự phát triển nhân cách

định. Đặc biệt tâm trạng sảng khoái, vui tươi thường bền vững lâu dài.

Chủ yếu diễn ra và bị chi phối bởi hoạt động chủ đạo và hoạt động học

tập. Trẻ tự điều khiển mình tuân theo những điều “cần phải” chứ không phải

theo ý muốn chủ quan. Nhờ có tính chủ định đối với mọi hành vi, trẻ dần dần

nắm được những chuẩn mực đạo đức, những quy tắc hành vi. Nét đặc trưng của

những mối quan hệ qua lại giữa trẻ là chúng dựa vào sự giống nhau về hoàn

cảnh sống hay những hứng thú ngẫu nhiên. Cuối tuổi này, hành vi, lời đánh giá

của bạn bè có ý nghĩa rất lớn trong việc nhìn nhận và đánh giá bản thân của trẻ

làm cơ sở cho tính tự đánh giá ở trẻ. Hình ảnh của người lớn đặc biệt là của giáo

viên có ý nghĩa rất to lớn trong việc giáo dục cho trẻ.

Trẻ chịu ảnh hưởng của hoạt động lao động. Những công việc tự phục vụ

bản thân và giúp đỡ gia đình đã làm hình thành những kỹ năng lao động, kỹ

năng vạch kế hoạch, mục tiêu cho hành động và tạo điều kiện cho những rung

cảm, tình cảm tốt đẹp đối với lao động.

Trong hoạt động đội nhóm, dưới ảnh hưởng của tiêu chuẩn, nội quy,

quyền lợi chung của tập thể trẻ phát triển được: Tính tự lập, tình cảm trách

nhiệm, mối quan tâm, đồng cảm với người khác, rèn luyện kỹ năng giao tiếp.

Phát huy tính tích cực xã hội, điều kiện hình thành nhân cách mang đậm nét xã

hội nơi trẻ. Theo thuyết phát triển tâm lý xã hội của Erikson thì giai đoạn này

được gọi là giai đoạn “chuyên cần – ngược lại – tụt hậu”. Cụ thể là tình trạng

phát triển tâm lý xã hội thành công đặc trưng bởi ngày càng tăng thêm khả năng

vượt qua mọi yêu cầu, các yêu cầu có thể là các tương tác xã hội hay kỹ năng

học vấn. Ngược lại rắc rối trong giai đoạn này khiến trẻ có cảm giác thất bại và

thua sút.

Nhân cách của học sinh tiểu học nói chung, học sinh lớp 4, 5 nói riêng

● Về nhu cầu: Ở trẻ đã xuất hiện các nhu cầu mới liên quan đến cuộc sống

gồm có những đặc điểm như sau:

nhà trường và hoạt động học tập như: nhu cầu thực hiện chính xác các yêu cầu

của giáo viên, nhu cầu chiếm lĩnh những điều mới mẻ; nhu cầu đến trường với

sự hoàn thành các bài tập được giao; nhu cầu về điểm tốt; nhu cầu về sự hài lòng

của người lớn (nhất là của thầy cô giáo và bố mẹ); nhu cầu trở thành học sinh

giỏi, ngoan; nhu cầu được giao tiếp thường xuyên với giáo viên, với bạn; nhu

cầu đảm nhận một trọng trách của tập thể, xã hội; …

Nghiên cứu về nhu cầu của học sinh tiểu học, các nhà tâm lý học còn cho

thấy các nhu cầu tinh thần càng ngày càng chiếm ưu hơn so với các nhu cầu vật

chất, và các nhu cầu ngày càng mang tính xã hội cũng như được nhận thức.

Trong sự phát triển này, hoạt động của trẻ trong tập thể có một vai trò rất lớn.

Trong các nhu cầu của học sinh tiểu học, nhu cầu nhận thức giữ vai trò

chủ đạo. Đặc biệt ở học sinh lớp 3, lớp 4, lớp 5 có nhu cầu gắn liền với sự phát

hiện những nguyên nhân, quy luật, các mối liên hệ và quan hệ phụ thuộc giữa

các sự vật, hiện tượng. Vì thế, nếu trẻ các lớp đầu tiểu học có nhu cầu làm rõ

“cái gì đó” thì học sinh các lớp cuối tiểu học lại có nhu cầu giải quyết câu hỏi

● Về tính cách: Điều dễ nhận thấy trong tính cách của trẻ ở lứa tuổi này là

“tại sao?” và “như thế nào?”.

tính xung động trong hành vi, tức là khuynh hướng hành động ngay lập tức dưới

tác động của các kích thích bên trong và bên ngoài mà không kịp suy nghĩ, cân

nhắc. Tất cả những gì tác động đến trẻ đều có thể khơi dậy ở các em một phản

ứng nhanh chóng. Đặc điểm này đã khiến cho hành vi của các em dễ mang tính

tự phát. Một điều nữa cũng rất dễ nhìn thấy trong tính cách của trẻ ở lứa tuổi này

là sự cả tin. Trẻ tin tưởng tuyệt đối vào người lớn, sách vở và cả bản thân mình.

Với trẻ mọi điều ở người lớn (nhất là thầy cô giáo) nói ra đều đúng và chuẩn

mực. Trẻ tin rằng sẽ làm được mọi điều mình muốn. Vì vậy, khi được hỏi “lớn

lên cháu sẽ làm gì?”, trẻ đã trả lời một cách dứt khoát và nhanh chóng “cháu sẽ

là họa sĩ”, “cháu sẽ là phi công”, …Bên cạnh đó, trẻ cũng hay bắt chước người

lớn, bạn bè cũng như các nhân vật quan trọng trong phim, trong sách, …Ngoài

ra, phần lớn học sinh tiểu học có những nét tính cách tốt như: lòng vị tha, tính

ham hiểu biết, tính chân thật, … Tuy nhiên, trong tính cách của trẻ ở lứa tuổi

● Về tình cảm: Trước hết, tình cảm của các em mang tính cụ thể, trực tiếp.

này cũng thường gặp những thiếu sót như: bướng bỉnh và thất thường.

Đối tượng gây cảm xúc cho trẻ thường là những sự vật, hiện tượng, việc làm,

con người cụ thể, sinh động mà đã được nhìn thấy hoặc tiếp xúc. K.Đ.Usinxki

đã từng thừa nhận trẻ suy nghĩ bằng “hình thù, màu sắc, âm thanh và cảm xúc”.

Tính dễ cảm xúc của học sinh tiểu học còn thể hiện ở tính dễ xúc động. Các em

có thể vui sướng reo lên khi được điểm tốt, buồn bả khi bị điểm kém hay bị chê

trách, dễ khóc trước những tình tiết, hoàn cảnh thương tâm, …Trẻ thường bộc lộ

tình cảm của mình một cách hồn nhiên, chân thật, chưa biết ngụy trang. Vì vậy,

trẻ có thể khóc trước mặt bạn bè khi bị điểm kém, hoặc cười rất tươi khi được

khen. Tình cảm của học sinh tiểu học còn mong manh, chưa bền vững và chưa

sâu sắc. Điều này thể hiện rất rõ sự dễ dàng chuyển hóa cảm xúc như có thể

khóc đấy nhưng rồi cười ngay.

Học sinh tiểu học có tình cảm đặc biệt đối với những người thân trong gia

đình và thầy cô giáo. Những tình cảm đó chiếm vị trí đáng kể trong đời sống

tình cảm của trẻ, thậm chí chúng trở thành một trong những động cơ học tập.

Tình bạn trong nhóm, tổ, lớp cũng được hình thành ở trẻ. Học sinh các lớp cuối

tiểu học chọn bạn dựa vào các đức tính của bạn (dũng cảm, hay giúp đỡ bạn bè,

…) chứng tỏ rằng trẻ đã bắt đầu ý thức được tình cảm của mình. Đặc biệt là đã

xuất hiện sự đồng cảm. Ở các lớp cuối tiểu học, tình cảm trách nhiệm đã được

hình thành và cùng với nó là tình cảm tập thể. Vì vậy, trẻ mong muốn giúp đỡ

● Về ý chí và hành động ý chí: Ở lứa tuổi này, sự phát triển của ý chí và

bạn để khỏi ảnh hưởng đến thành tích của tập thể.

tình cảm diễn ra trong sự tác động lẫn nhau không ngừng. Trong những trường

hợp này tình cảm thúc đẩy sự phát triển của ý chí, nhưng trong những trường

hợp khác, ngược lại, tình cảm kìm hãm sự phát triển của ý chí. Sự phát triển

mạnh của tình cảm trách nhiệm đã trở thành động cơ các hành động ý chí của

học sinh các lớp cuối tiểu học. Cho nên, học sinh lớp 1, lớp 2 khi được hỏi “Tại

sao cháu không đi chơi?”, thường có câu trả lời “sợ mẹ mắng”, “phải học bài

kẻo mai bị điểm kém”, … Nhưng đến lớp 3, tình cảm thôi thúc hành động đã

mang tính xã hội hơn “phải học bài kẻo nhận điểm kém ảnh hưởng đến tổ”. Học

sinh tiểu học chưa có khả năng đặt ra mục đích và lập kế hoạch cho hành động

của mình nên dễ gặp thất bại, dễ mất lòng tin vào sức lực, khả năng của mình.

Tính độc lập, kiềm chế, tự chủ còn thấp nên học sinh tiểu học chưa thể độc lập

hoàn toàn mà còn trông chờ nhiều vào sự giúp đỡ của người khác. Trẻ dễ bắt

● Về tự đánh giá: Ở học sinh tiểu học, biểu tượng về mình và tự đánh giá

chước hành động của người khác do tính bột phát ngẫu nhiên.

được hình thành và cùng với chúng là các kỹ xảo tự kiểm tra, tự điều hành cũng

được xuất hiện. Học sinh các lớp cuối tiểu học muốn nhận được đánh giá tốt

không chỉ để “tặng” người thân, mà còn để tự mình biết được về sự thảnh công

và không thành công của mình trong nhận thức. Điều đó chứng tỏ trẻ đã có nhu

cầu nhận thức về mình, có nhu cầu có biểu tượng đầy đủ về bản thân. Học sinh

các lớp đầu tiểu học thường đánh giá các hành động, hành vi, việc làm cụ thể

của mình chứ chưa thể đánh giá nhân cách của mình. Học sinh các lớp cuối cấp

tiểu học đã có thể đánh giá khả năng và các phẩm chất tâm lý của mình một cách

độc lập hơn. Nghiên cứu của các nhà tâm lý học Việt Nam cho thấy rằng, tự

đánh giá của học sinh các lớp cuối tiểu học vẫn phụ thuộc khá nhiều vào nội

dung và chuẩn đánh giá. Những gì cụ thể, gần gũi mình thì trẻ thường tự đánh

giá một cách tự tin và mạnh dạn hơn. Ngược lại, những nội dung trừu tượng

(năng lực học tập, vị thế trong tập thể, khả năng nhận thức, …) thường được trẻ

tự đánh giá một cách dè dặt, thận trọng và khiêm tốn hơn. Tự đánh giá của trẻ

chưa thật khách quan và phù hợp: trẻ thường tự đánh giá bản thân cao hơn so

với hiện thực và tính ổn định trong tự đánh giá của trẻ cũng chưa cao và có mối

● Về phát triển năng khiếu: Năng khiếu được bộc lộ sớm và phát triển rất

liên hệ chặt chẽ với trình độ học lực.

nhanh ở các lĩnh vực nghệ thuật, văn thơ, khoa học tự nhiên và kỹ thuật [2, tr.

151 – 174].

Đặc điểm tự ý thức của học sinh lớp 4, 5 1.2.4.2.

Khi nghiên cứu về quá trình hình thành tự ý thức, tác giả Nguyễn Văn

Đồng đã nhấn mạnh đến vai trò của các trải nghiệm xã hội.

Tác giả đưa ra một trải nghiệm xã hội có vai trò quan trọng trong việc

hình thành tự ý thức là gắn bó an toàn với người chăm sóc đầu đời. Sandra Pipp

và đồng nghiệp đã làm một test phức tạp với những trẻ 2 và 3 tuổi. Test này

đánh giá hiểu biết của trẻ về tên, giới tính cùng với các tác vụ về tự ý thức của

chúng. Kết quả là những trẻ gắn bó an toàn trình diễn tốt hơn hẳn những bạn gắn

bó không an toàn. Sự khác biệt này gia tăng theo lứa tuổi từ 2 đến 3.

Ở tuổi thiếu niên nói chung, và lứa tuổi học sinh lớp 4, lớp 5 nói riêng, trẻ

đã phát triển và phân tách một cách rõ rệt cái tôi bên ngoài với cái tôi nội tâm,

trẻ tự mô tả bản thân bằng một danh sách những đặc tính thể chất, ứng xử và

dáng vẻ bề ngoài khác nhằm nhấn mạnh những phẩm chất bên trong của chúng –

ví dụ như nét tính cách, hệ thống giá trị, niềm tin và nhân sinh quan. Càng lớn

thì mô tả của thiếu niên càng trừu tượng hơn, càng mang nét tâm lý rõ rệt hơn,

càng ít tự tin và kém thành thật hơn.. Tác giả cũng đưa ra 3 ví dụ minh họa cho

quan điểm này như sau:

Trẻ chín tuổi: “Tôi là Bruce C. (cả họ lẫn tên). Mắt và tóc tôi màu nâu.

Tôi yêu thể thao. Gia đình tôi có bảy người. Tôi có đôi mắt rất to! Tôi có rất

nhiều bạn bè! Tôi sống ở… Tôi có chú cao tới gần hai mét. Thầy giáo của tôi tên

là… Tôi chơi khúc côn cầu. Tôi là người khỏe nhất lớp. Tôi thích ăn. Tôi yêu

trường tôi.”

Mười một tuổi rưỡi: “Tôi tên là A. (chỉ có họ). Tôi là một người… một

cô gái… một con người thẳng thắn. Tôi không xinh. Tôi học cũng thường thôi.

Tôi đánh đàn viôlông rất hay. Tôi hơi cao so với bạn bè. Tôi thích một vài bạn

trai. Tôi thuộc kiểu người bảo thủ. Tôi bơi rất tốt. Tôi luôn cố giúp đỡ mọi

người. Tôi thường vui vẻ nhưng đôi khi tôi mất bình tĩnh. Tôi không được như

một vài bạn trai và gái khác. Tôi không biết các bạn trai có thích tôi không?”

Mười bảy tuổi: “Tôi là một con người… là một cô gái… là một cá nhân…

Tôi sinh dưới chòm sao song ngư. Tôi là một người ủ rũ, không dứt khoát, có

tham vọng. Tôi ham hiểu biết. Tôi rất cô đơn. Tôi là người Cộng hòa. Tôi là

người tự do. Tôi là người tiến bộ. Tôi là người bảo thủ. Tôi là người tự do giả

danh. Tôi là người vô thần. Tôi là người không thuộc loại nào cả” [14, tr. 450 –

455].

Dựa vào những biểu hiện của tự ý thức và đặc điểm tâm lý lứa tuổi học

sinh lớp 4, lớp 5 như đã trình bày ở trên, chúng tôi đưa ra các biểu hiện về tự ý

thức của học sinh lớp 4, lớp 5 như sau:

- Trẻ tự nhận thức về bản thân mình từ những đặc điểm về hình thức bên

ngoài (có thể nhìn thấy, cân, đo được); năng lực học tập (kết quả học tập), nét

tính cách và vị thế của mình trong gia đình, trường lớp và bạn bè.

- Trẻ tự đánh giá về bản thân ở các mức độ khác nhau, thường thì có xu

hướng đánh giá cao hơn so với thực tại.

- Trẻ tự điều khiển, điều chỉnh hành vi của mình theo các chuẩn mực mà

gia đình, trường lớp đưa ra. Trẻ hiểu các nội quy, luật lệ, những giá trị đạo đức

và cố gắng tuân theo những giá trị đó.

Trên cơ sở của tự nhận thức, tự đánh giá, tự điều chỉnh hành vi, trẻ có khả

năng tự hoàn thiện mình.

Như vậy, tự nhận thức bản thân là cơ sở cho ý thức của trẻ.

Đặc điểm tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 5 1.2.4.3.

Tác giả Nguyễn Văn Đồng cũng khẳng định vai trò của nhận thức rất

quan trọng trong việc tự ý thức – phải đạt được đến một mức phát triển nhận

thức nhất định thì trẻ mới có thể tự ý thức được bản thân [14, tr. 450 – 455].

Như đã trình bày ở trên, tự nhận thức bản thân là một trong những biểu

hiện của tự ý thức, được bắt đầu bằng sự hiểu biết về bản thân làm cơ sở cho tự

ý thức về mình. Đó là quá trình cá nhân tự nhận thức về bản thân mình từ hình

thức bên ngoài đến nội dung tâm hồn, đến vị thế và các quan hệ xã hội.

Học sinh lớp 4, lớp 5 có thể tự nhận thức một cách độc lập về hình thức

bên ngoài, khả năng và phẩm chất tâm lý của mình. Từ đó làm cơ sở để trẻ có

● Về hình thức bên ngoài: Trẻ rất chú trọng đến vẻ bề ngoài của mình,

thể tự đánh giá các yếu tố trên.

muốn làm người mình sạch sẽ, ăn mặc đẹp, gọn gàng. Theo kết quả thăm dò ý

kiến ở phiếu mở của chúng tôi, khi hỏi về vẻ bề ngoài của mình, trẻ kể ra các

yếu tố như: chiều cao, cân nặng, khuôn mặt, dáng người, màu da, cách ăn mặc.

Mô tả của trẻ về các yếu tố bên ngoài đơn giản ở các mức độ: cao/ thấp, to/ nhỏ,

mập/ ốm, đẹp/ không đẹp… Trong đó, mỗi trẻ có cơ sở đo các mức độ khác

● Năng lực và phẩm chất bên trong: Ở trẻ lớp 4, lớp 5, hoạt động học tậo

nhau.

giữ vai trò chủ đạo nên nhận thức về năng lực thể hiện ở năng lực học tập. Một

trong những biểu hiện của năng lực học tập là kết quả học tập của trẻ ở trường.

Trẻ được xem là học giỏi môn nào khi có kết quả các bài kiểm tra học kỳ của

môn ấy cao so với những môn học khác.

Một trong những phẩm chất tâm lý mà trẻ dễ dàng nhận ra là tính cách, cụ

thể ở các biểu hiện của nét tính cách như: trầm lặng, ít nói, mạnh dạn, nhút nhát,

nóng nảy, chăm chỉ, cẩu thả, …Trẻ nhận thức về các nét tính cách thông qua

● Vị thế và quan hệ xã hội: Trẻ lớp 4, lớp 5 có ba mối quan hệ giao tiếp

những thói quen thể hiện trong ứng xử hàng ngày của bản thân và bạn bè.

chính là: trẻ - bạn bè, trẻ - gia đình, trẻ - thầy cô.

Trẻ thường tự nhận thức một cách tự tin và mạnh dạn những gì cụ thể, gần

gũi với mình; một cách dè dặt, thận trọng và khiêm tốm những nội dung trừu

tượng như năng lực học tập, vị thế trong tập thể, khả năng nhận thức. Trẻ tự

nhận thức về bản thân mình chưa cao và có mối liên hệ chặt chẽ với trình độ học lực.

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển sự 1.2.4.4.

● Sinh lý: Các nghiên cứu của Trung tâm tâm lý học – sinh lý học lứa tuổi

tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 5

thuộc viện khoa học Giáo dục Việt Nam vào những năm 1990 cho thấy gia tốc

phát triển ở học sinh Việt Nam không mạnh và không đều giữa các chỉ số phát

triển, chủ yếu tăng rõ rệt ở chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực tự nhiên.

Nguyên nhân của các hiện tượng trên là có sự cải thiện điều kiện sinh hoạt vật

chất, tinh thần, sự đô thị hóa, sự hôn phối các dân tộc, yếu tố di truyền [2, tr. 89]

● Xã hội:

Những thay đổi về sinh lý sẽ dẫn đến việc trẻ sớm nhận thức về bản thân mình hơn.

- Gia đình: Như đã trình bày ở trên, trẻ thường nghe theo lời người lớn, đặc

biệt là từ ba mẹ và thầy cô. Do đó, gia đình, đặc biệt là ba mẹ có ảnh hưởng rất

lớn đến việc tự nhận thức bản thân của trẻ qua việc đánh giá và phản ứng với

những ứng xử hàng ngày của trẻ, đặc biệt là việc nhận thức về năng lực và phẩm

chất bên trong. Nếu ba mẹ thường xuyên khen trẻ là cô bé/ cậu bé thông minh,

giỏi về các khám phá khoa học thì nhất định trẻ sẽ tự cho rằng đây là lĩnh vực

mình giỏi nhất. Nếu ba mẹ so sánh với các anh chị em trong gia đình và cho

rằng trẻ chậm chạp, hậu đậu thì nhất định trẻ cũng sẽ nhận thức về mình như thế.

- Hoạt động học tập và cuộc sống nhà trường: Đây là hoạt động chủ đạo ở

lứa tuổi học sinh tiểu học nói chung, lứa tuổi học sinh lớp 4, lớp 5 nói riêng.

Dưới ảnh hưởng trực tiếp của hoạt động học, các quá trình nhận thức lại được

phát triển mạnh [2, tr. 96]. Hoạt động học tập diễn ra trong nhà trường với

những yêu cầu chặt chẽ, nghiêm túc, có kỷ cương, đối tượng của hoạt động này

chính là các tri thức khoa học ngày một mới lạ với trẻ. Mặt khác, việc tố chức

hoạt động học tập bằng phương pháp nhà trường rèn luyện cho trẻ cách làm

việc trí óc. Từ đó hình thành nên ở trẻ thái độ mới, lối suy nghĩ mới khi nhìn cái

quen thuộc, tính chủ định và kỹ năng làm việc trí óc.

Đến trường, trở thành “học sinh”, trẻ có một loạt các quyền hạn và trách

nhiệm không chỉ trước bản thân, trước những người thân mà còn trước xã hội. Ở

trường, trẻ là “người công dân – học sinh”, gánh vác trách nhiệm của một người

học sinh trước xã hội – tiến hành hoạt động học tập đạt kết quả. Kết quả học tập

của trẻ sẽ quyết định vị thế xã hội của trẻ: nếu học tốt thì hoàn thành nhiệm vụ,

thì làm bố mẹ, thầy cô vui, thì có nhiều bạn, …; nếu học kém thì không những

không hoàn thành nhiệm vụ, mà còn không làm cho bố mẹ, thầy cô vui và không

có bạn chơi cùng.

Như vậy, để thích ứng với những yêu cầu của hoạt động học tập và cuộc

sống nhà trường, trẻ phải tạo ra những nét mới trong phẩm chất và năng lực của

mình. Đây chính là động lực để trẻ tự nhận thức về bản thân.

- Thầy cô: Thầy cô là người mà trẻ thần tượng, những đánh giá của thầy cô

có giá trị định vị trong nhận thức của trẻ về một vấn đề nào đó.

- Bạn bè: Bạn bè là đối tượng giao tiếp chủ đạo của trẻ ở lứa tuổi này. Do

đó quá trình giao tiếp, làm việc nhóm, chơi với bạn sẽ hình thành nên vị thế của

trẻ trong bạn bè. Trẻ có thể chia sẻ với bạn bè rất nhiều điều mà không thể chia

sẻ với người lớn được. Những đánh giá, lời khuyên của bạn có tác động rất lớn

đến nhận thức của trẻ về bản thân mình.

Trẻ thích thi đua với bạn, có nhu cầu được thể hiện mình trước tập thể.

Quá trình giao tiếp với bạn bè trong các hoạt động học tập và vui chơi sẽ hình

thành vị thế của trẻ trong bạn bè.

• Bản thân: Trình độ phát triển nhận thức, tình cảm và đặc điểm nhân cách

ở mỗi trẻ khác nhau thì mỗi trẻ sẽ nhận thức về bản thân mình khác nhau. Trẻ

mạnh dạn, sôi nổi sẽ tự nhận thức về bản thân theo chiều hướng tốt nhiều hơn ở

trẻ nhút nhát. Trẻ càng biết nhiều về các thông số đo, cách đánh giá, … thì tự

nhận thức về bản thân mình mang tính chính xác cao.

Kết luận chương 1

Tự nhận thức bản thân được nghiên cứu như một thành tố trong cấu trúc

của tự ý thức. Đây là quá trình tâm lý phản ánh những đặc điểm hình thức bên

ngoài; nội dung bên trong; vị thế và quan hệ xã hội. Trên cơ sở tự nhận thức

được đặc điểm bản thân mình và đặc điểm của người khác, cá nhân so sánh bản

thân mình với người khác và tỏ thái độ hài lòng hay không hài lòng với bản thân

mình. Từ đó, cá nhân có thể định hướng, điều chỉnh bản thân mình để hoàn thiện

hơn. Học sinh lớp 4, lớp 5 có thể tự nhận thức một cách độc lập về hình thức bên

ngoài, khả năng và phẩm chất tâm lý của mình. Sự tự nhận thức bản thân của trẻ

chịu ảnh hưởng của yếu tố sinh lý; các yếu tố xã hội như: gia đình, hoạt động

học tập và cuộc sống nhà trường, thầy cô, bạn bè; và bản thân của trẻ.

CHƯƠNG 2

ĐÁNH GIÁ NGHIÊN CỨU TỰ NHẬN THỨC BẢN THÂN CỦA

HỌC SINH LỚP 4, 5 TRƯỜNG TIỂU HỌC

NGUYỄN BỈNH KHIÊM

2.1. Tổ chức nghiên cứu

2.1.1. Điều kiện nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành trong điều kiện bình thường. Học sinh vừa thi

học kỳ nên không bị ảnh hưởng bởi lịch học trên trường. Không có sự đầu tư

kinh phí cho nhóm nghiên cứu.

Cô hiệu trưởng, cô hiệu phó và các thầy cô giáo phụ trách các lớp khối 4,

5 đều rất nhiệt tình tham gia hỗ trợ người nghiên cứu.

2.1.2. Quy trình nghiên cứu

Quá trình nghiên cứu được thực hiện qua ba giai đoạn, từ ngày 23/04 đến

ngày 30/06.

• Giai đoạn 1: Khảo sát thử và hoàn thiện bảng câu hỏi, từ ngày 23/04 đến

ngày 16/05.

- Từ ngày 23/04 – 24/04: Khảo sát thử lần một trên một nhóm học sinh lớp

4 và một nhóm học sinh lớp 5 trường Tiểu học Hiệp Bình, quận Thủ Đức, Thành

phố Hồ Chí Minh về vấn đề tự nhận thức bản thân với bảng câu hỏi mở và

phỏng vấn sâu.

- Sau buổi khảo sát thử, người nghiên cứu tổng hợp thông tin và thành lập

bảng câu hỏi dựa trên các ý kiến thực tế của trẻ. Gồm có ba bảng câu hỏi:

+ Bảng câu hỏi khảo sát dành cho học sinh.

+ Bảng câu hỏi khảo sát dành cho giáo viên chủ nhiệm.

+ Bảng câu hỏi khảo sát dành cho phụ huynh.

- Tham khảo ý kiến của giáo viên hướng dẫn về bảng câu hỏi và chỉnh sửa

lần một.

- Từ ngày 11/05 – 13/05: Khảo sát thử lần hai trên học sinh lớp 4, 5 trường

TH Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thành phố Hồ Chí Minh trong giờ sinh hoạt Kỹ năng

sống chính khóa tại trường, sử dụng bảng câu hỏi sau khi chỉnh sửa lần một.

- Tổ chức buổi sinh hoạt tại trường với các trò chơi nhằm phát triển kỹ

năng tự nhận thức bản thân cho học sinh tham gia nghiên cứu.

- Từ ngày 14/05 – 16/05: Điều chỉnh bảng câu hỏi lần hai dựa trên thông tin

tổng hợp và rút kinh nghiệm sau buổi khảo sát thử lần hai, tham khảo ý kiến của

giáo viên hướng dẫn.

• Giai đoạn 2: Khảo sát trên mẫu nghiên cứu học sinh từ ngày 19/05 –

27/05.

- Từ ngày 19/05 – 25/05: Khảo sát trên học sinh khối lớp 4 cùng với giáo

viên chủ nhiệm và phụ huynh học sinh. Tổ chức buổi sinh hoạt để trẻ tham gia

trò chơi thực hành kỹ năng tự nhận thức bản thân.

- Từ ngày 26/05 – 27/05: Khảo sát trên học sinh khối lớp 5 cùng với giáo

viên chủ nhiệm của các em. Tổ chức buổi sinh hoạt để trẻ tham gia trò chơi thực

hành kỹ năng tự nhận thức bản thân.

• Giai đoạn 3: 28/05 – 30/06: Tổng hợp các bảng câu hỏi, nhập liệu và xử

lý số liệu.

2.1.3. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp điều tra bằng bảng câu hỏi khảo sát 2.1.3.1.

• Mô tả phương pháp

Các thông tin về đặc điểm của sự tự nhận thức bản thân của học sinh được

cụ thể hóa thành dạng câu hỏi viết, học sinh có thể trả lời bằng cách đánh dấu

vào ô có đáp án tương ứng với suy nghĩ (đối với câu hỏi đóng) và viết vào bảng

câu hỏi (đối với câu hỏi mở). Thông qua các câu trả lời của học sinh, người

nghiên cứu tổng hợp, phân tích các dữ kiện và đưa ra kết luận.

• Mô tả công cụ nghiên cứu

Bảng câu hỏi khảo sát gồm có 15 câu, được chia làm hai phần:

- Phần 1: Thu thập thông tin cá nhân của học sinh như: Họ và tên, năm

sinh, giới tính, học vấn, học lực, số đo chiều cao, số cân nặng, hoàn cảnh gia

đình, việc tham gia các hoạt động ngoại khóa.

- Phần 2: Khảo sát về đặc điểm tự nhận thức bản thân của học sinh, trong đó:

+ Từ câu hỏi 1 đến câu hỏi 4: tìm hiểu về đặc điểm và mức độ tự nhận

thức của học sinh về các đặc điểm hình thức bên ngoài của mình.

+ Câu hỏi 5 và câu hỏi 6: tìm hiểu về đặc điểm tự nhận thức của học sinh

về năng lực học tập của mình.

+ Câu hỏi 7 và câu hỏi 8: tìm hiểu về đặc điểm và mức độ tự nhận thức

bản thân của học sinh về các nét tính cách của mình.

+ Từ câu hỏi 9 đến câu hỏi 12: tìm hiểu về đặc điểm tự nhận thức của học

sinh về mối quan hệ với bạn bè và gia đình mình.

+ Câu hỏi 13 và câu hỏi 14: tìm hiểu về đặc điểm tự nhận thức của học

sinh về vai trò của mình trong gia đình.

+ Câu hỏi 15: tìm hiểu về đặc điểm tự nhận thức của học sinh về vai trò

của mình trong lớp học.

• Thang điểm đánh giá

- Phần 1 – thông tin cá nhân: chỉ dùng biện pháp thống kê tần số nhằm mục

đích cung cấp những thông tin phục vụ cho việc so sánh các chỉ số liên quan.

- Phần 2 – đặc điểm tự nhận thức bản thân của học sinh:

+ Với những câu hỏi định danh, định tính, định lượng: dùng biện pháp

thống kê tần số và tìm mối liên hệ giữa các giá trị nghiên cứu.

+ Cho điểm theo từng câu hỏi: Mỗi câu hỏi có ba mức độ trả lời tương

ứng là cao, trung bình và thấp.

Ví dụ 1:

 Cao  Trung bình  Thấp

Em nhận thấy chiều cao của mình như thế nào?

Được quy định lần lượt là:

Cao: 1 điểm

Trung bình: 2 điểm

Thấp: 3 điểm

Ví dụ 2:

 Rất hài lòng  Hài lòng  Không hài lòng

Em hài lòng về chiều cao của mình như thế nào?

Được quy định là:

Rất hài lòng: 1

Hài lòng: 2

Không hài lòng: 3

Từ kết quả khảo sát, chúng tôi tính điểm trung bình của giá trị các mức độ

tương ứng.

Phương pháp quan sát 2.1.3.2.

• Lựa chọn mẫu để tổ chức bài tập thực hành

Vì tính chất của bài tập là trò chơi tập thể có định hướng nên cần sự tập

trung đến từng học sinh. Trong điều kiện thời gian và khả năng cho phép, chúng

tôi chỉ thực hiện ở 20/50 học sinh lớp 4 và 20/50 học sinh lớp 5 của trường Tiểu

học Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thành phố Hồ Chí Minh.

• Tổ chức trò chơi

Bên cạnh bảng câu hỏi khảo sát, chúng tôi còn tổ chức bài tập thực hành

dưới dạng trò chơi tập thể để quan sát biểu hiện sự tự nhận thức bản thân của

học sinh.

Bài tập thực hành được xây dựng dựa vào nội dung hai phần chính trong

bảng câu hỏi. Trong đó, tập trung vào ba đặc điểm:

- Hình thức bên ngoài: số đo chiều cao, cân nặng; khuôn mặt; dáng người;

màu da; cách ăn mặc

- Nội dung bên trong: tính tình; môn học yêu thích; môn học đạt điểm cao

nhất; ưu điểm; nhược điểm

- Mối quan hệ xã hội: số bạn thân

Phương pháp thống kê và phân tích kết quả bằng phần 2.1.3.3.

mềm SPSS

Tổng hợp kết quả nghiên cứu và phân tích bằng phương pháp thống kê

thông qua phần mềm SPSS.

2.1.4. Mẫu khách thể nghiên cứu

Bảng 1: Thống kê chung về khách thể nghiên cứu phân bố theo giới tính và

cấp lớp

Tổng cộng Lớp

4 5

SL % SL % SL %

Nam 25 50.0 25 50.0 50 50.0 Giới

tính Nữ 25 50.0 25 50.0 50 50.0

Tổng cộng 50 100.0 50 100.0 100 100.0

Để có kết quả nghiên cứu khách quan và thuận tiện trong quá trình so

sánh kết quả, chúng tôi chọn mẫu nghiên cứu có số lượng khách thể đồng đều về

lứa tuổi và giới tính. Mẫu nghiên cứu được chọn ngẫu nhiên ở học sinh khối lớp

4 và khối lớp 5 theo tiêu chí đồng đều về giới tính.

Để đảm bảo tính khách quan, chúng tôi chọn học sinh từ lớp 4A1 đến

4A9, mỗi lớp 6 học sinh và 5A1 đến 5A8, mỗi lớp 7 học sinh. Sau khi thu thập

và tổng hợp các bảng câu hỏi khảo sát, chúng tôi loại những bảng câu hỏi không

hợp lệ (trả lời không đúng yêu cầu, trả lời thiếu câu hỏi, …) và chọn ra 100 bảng

câu hỏi hợp lệ như trên.

Qua quá trình khảo sát thông tin chung của khách thể nghiên cứu, cụ thể

là thông tin về xếp loại về kết quả học tập thì chúng tôi thu được kết quả như sau:

Bảng 2: Học lực của học sinh phân bố theo cấp lớp

Tổng cộng Lớp

4 5

SL TL % SL TL % SL TL %

Giỏi 42 84.0 100.0 92.0 Kết quả 50 92

học tập Tiên tiến 8 16.0 8 8.0

Kết quả khảo sát cho thấy kết quả học tập của học sinh được xếp loại cao.

Khi được hỏi: “Kết quả học tập học kỳ I của em xếp loại gì?”, có 92% học sinh

trả lời xếp loại giỏi, trong đó có 50 học sinh lớp 5, chiếm tỷ lệ 100% trong số

học sinh lớp 5 tham gia khảo sát, có 42 học sinh lớp 4, chiếm tỷ lệ 84% trong số

học sinh lớp 4 tham gia khảo sát. Số lượng học sinh có kết quả học tập xếp loại

tiên tiến chiếm tỷ lệ rất thấp là 8%, trong đó chỉ có học sinh lớp 4, và không có

học sinh nào xếp loại trung bình, yếu và kém.

Kết quả học tập của học sinh lớp 5 cao hơn của học sinh lớp 4 chứng tỏ

các em đã có sự nỗ lực lớn trong học tập để chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp và

vào cấp II. Trong những năm gần đây, bên cạnh trường tiểu học Nguyễn Bỉnh

Khiêm, học sinh ở các trường tiểu học khác cũng có kết quả học tập cao hơn.

Kết quả này trước hết là học sinh có điều kiện học tập tốt hơn, bên cạnh học

chính khóa, các em còn tham gia lớp học thêm và ngoại khóa khác. Ngoài ra, cơ

hội tiếp xúc với nhiều mạng thông tin như báo chí, truyền hình, internet, giao

lưu với bạn bè và những người khác đã giúp các em hiểu biết nhiều hơn. Đây

cũng là yếu tố giúp trẻ có thể nhận thức tốt hơn về bản thân mình.

2.2. Đánh giá nghiên cứu về sự tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 5

trường Tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm, Tp. HCM

2.2.1. Đặc điểm tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 5 tại trường Tiểu

học Nguyễn Bỉnh Khiêm

Như đã trình bày ở trên, sự tự nhận thức bản thân của trẻ được thể hiện ở

ba nội dung cơ bản là: hình thức bên ngoài, nội dung bên trong, các vị thế và

quan hệ xã hội. Do đó, để nghiên cứu về sự tự nhận thức bản thân của học sinh,

chúng tôi tìm hiểu về sự tự nhận thức của các em về các đặc điểm hình thức bên

ngoài, đặc điểm về tính cách, năng lực cùng vị trí của mình trong mối quan hệ

với gia đình, trường lớp và bạn bè.

2.2.1.1. Về hình thức bên ngoài

Để tìm hiểu về đặc điểm tự nhận thức bản thân của học sinh về hình thức

bên ngoài, chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 100 học sinh lớp 4, lớp 5 và thu

được kết quả như sau:

Bảng 3: Ba đặc điểm hình thức bên ngoài được học sinh quan tâm nhất

STT TL % theo giới tính Tổng cộng

Nam Nữ Đặc điểm về

SL TL % SL TL % SL TL % hình thức

Chiều cao 46 1 59 32 41 78 100

Cân nặng 34 2 56.7 26 43.3 60 100

Khuôn mặt 21 3 43.7 27 56.3 48 100

Dáng người 26 4 41.3 37 58.7 63 100

Màu da 3 5 21.4 11 78.6 14 100

Cách ăn mặc 20 6 54.1 17 45.9 37 100

Kết quả khảo sát trên cho thấy ba đặc điểm về hình thức bên ngoài được

học sinh quan tâm nhất là chiều cao 78/100 học sinh, dáng người 63/100 và cân

nặng 60/100 học sinh. Đây cũng là ba yếu tố mà các em thường được người

khác đánh giá về mình: cao – thấp, to – nhỏ, mập - ốm. Nếu một em học sinh có

chiều cao tốt thì trông to hơn các bạn khác trong nhóm.

Bên cạnh đó, trong khi các em học sinh nam quan tâm nhiều hơn đến đặc

điểm về chiều cao và cân nặng thì còn các học sinh nữ quan tâm nhiều hơn đến

dáng người. Học sinh tiểu học phát triển về tư duy trực quan sinh động nên các

em rất coi trọng hình thức bên ngoài. Các em nam tham gia các hoạt động thể

thao, trò chơi vận động nên cho rằng cao và to là mạnh khỏe hơn, nhìn lớn hơn.

Các em nữ đã bắt đầu để ý đến vẻ đẹp của mình nên cho rằng dáng người đẹp sẽ

mặc quần áo đẹp.

Do đó, chiều cao là yếu tố được các em quan tâm nhiều nhất. Điều này thể

hiện rõ ở kết quả sau đây:

Bảng 4: Hình thức được học sinh quan tâm nhất

Tổng cộng STT Giới tính

Nam Nữ Đặc điểm về

TL % SL TL % SL TL % SL hình thức

Chiều cao 27 1 16 43 32.0 43.0 54.0

Cân nặng 6 2 10 20.0 16 16.0 12.0

Khuôn mặt 1 3 14 28.0 15 15.0 2.0

Dáng người 5 4 10 20.0 15 15.0 10.0

Cách ăn mặc 10 5 10 10.0 20.0

Màu da 1 6 1 1.0 2.0

Tổng cộng 50 100.0 50 100.0 100 100.0

Trong các đặc điểm về hình thức bên ngoài, có 43% học sinh quan tâm

nhiều nhất đến chiều cao của mình, chiếm tỷ lệ cao nhất so với các đặc điểm còn

lại. Trong đó, có 38% học sinh cho rằng: “Nếu cao có thể lấy đồ ở chỗ cao và

chơi các môn thể thao như cầu lông”, và 5% học sinh cho rằng: “Nếu thấp so

với các bạn khác thì nhìn rất xấu”. Kết quả trên cho thấy học sinh nhận thức

được những ưu điểm khi có được chiều cao tốt như nhìn cao lớn hơn các bạn

khác, dễ chơi các môn thể thao như bóng đá, cầu lông, bóng rổ, …

Bên cạnh yếu tố chiều cao, các em học sinh nữ quan tâm đến cân nặng và

dáng người nhiều hơn học sinh nam (20%). Kết quả này rất phù hợp với nhận

định của TS. Nguyễn Thị Bích Hạnh và TS. Trần Thị Thu Mai trong nghiên cứu

về “Tâm lý học tiểu học và tâm lý học sư phạm tiểu học” khi cho rằng học sinh

tiểu học có nguyện vọng giữ gìn về ngoài sạch, đẹp, muốn người mình sạch sẽ,

ăn mặc gọn gàng. Tuy nhiên, điều này thể hiện sự khác nhau trong quan niệm về

cái đẹp giữa học sinh nam và học sinh nữ. Nếu như đối với các học sinh nam vẻ

đẹp thể hiện ở việc ăn mặc như: quần áo sạch đẹp, gọn gàng vì “ăn mặc sạch sẽ,

gọn gàng sẽ được người khác đánh giá cao về mình” thì các bạn nữ cho rằng thể

hiện ở dáng người vì “dáng người là vẻ bề ngoài giúp mình có nét đẹp và xinh

xắn” hay “dáng người đẹp sẽ tự tin ra đường hơn”.

Bảng 2 và bảng 3 có kết quả tương đương nhau. Dù được lựa chọn ba hay

một yếu tố thì học sinh quan tâm nhiều nhất đến yếu tố “chiều cao”, sau đó là

“cân nặng” và “dáng người”, ở bảng 3 có thêm yếu tố “cách ăn mặc”. Như vậy,

kết quả trên có độ tin cậy cao.

Kết quả nghiên cứu trên cho thấy học sinh lớp 4, 5 nói riêng và học sinh

tiểu học nói chung rất quan tâm và tin vào sự đánh giá của người khác, cụ thể là

thầy cô, người lớn trong gia đình và bạn bè về mình. Từ đó, các em biết được

những đặc điểm nào thường được người khác khen tốt thì các em tin là tốt, và

ngược lại. Mặt khác, các em cũng thường so sánh đặc điểm của bản thân với

các bạn đồng trang lứa, các em sẽ tỏ ra mất tự tin trong tập thể nếu bản thân có

nhiều điểm thua kém hơn bạn như: quá gầy, quá mập, thấp, nhỏ, ăn mặc xuề xòa, …

Để làm rõ vấn đề trên, chúng tôi đã tìm hiểu về sự tự nhận thức và mức độ

hài lòng của các em về sáu đặc điểm hình thức của mình.

Bảng 5: Mức độ tự nhận thức và mức độ hài lòng về hình thức bên ngoài của

học sinh

STT Hình thức Mức độ tự nhận thức Mức độ hài lòng

ĐTB ĐLC ĐTB ĐLC

1 Chiều cao 1.66 0.54 1.80 0.71

2 Cân nặng 1.86 0.38 2.21 0.52

3 Khuôn mặt 1.79 0.41 1.75 0.46

4 Dáng người 1.90 0.41 1.93 0.41

5 Màu da 1.86 0.47 1.90 0.54

6 Cách ăn mặc 1.64 0.48 1.62 0.55

Điểm trung bình cho mức độ tự nhận thức của học sinh về các đặc điểm

hình thức bên ngoài từ 1.64 đến 1.90, tương ứng với mức độ trên trung bình.

Đây là những đặc điểm các em có thể nhìn thấy, so sánh được, thậm chí cân, đo

được nên có thể tự tin và mạnh dạn đánh giá. Điều này phù hợp với kết quả quan

sát đã thực hiện trong quá trình nghiên cứu. Hầu hết học sinh cho mình ở mức

trung bình, và số học sinh còn lại ở mức cao hơn, đẹp hơn. Điều này phù hợp

với đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học rằng các em có xu hướng đánh giá

mình cao hơn so với thực tế.

Bảng 6: Số đo chiều cao và cân nặng của trẻ em Việt Nam từ 10 – 11 tuổi đã

được công bố theo “Hằng số sinh học của người Việt Nam” năm 2003.

Cân nặng (kg) Chiều cao (m)

Nam Nữ Nam Nữ

Lớp 4 (10 tuổi) 23.22 ± 2.70 22.62 ± 2.72 126.02 ± 5.17 126.07 ± 5.35

Lớp 5 (11 tuổi) 25.14 ± 3.04 25.42 ± 3.55 130.41 ± 5.50 132.17 ± 6.12

Có 88.0% học sinh lớp 4, 5 có chiều cao từ 1.25m đến 1.50m, trong đó có

56.8% là học sinh nam và 43.2% là học sinh nữ. Có 12.0% học sinh cao từ

1.50m trở lên là học sinh lớp 5 và không có học sinh nào cao dưới 1.25m. Khi so

sánh với số liệu trên, chiều cao của các em ở mức trung bình trở lên, các em lớp

5 thì cao hơn. Trong 28 phụ huynh của học sinh tham gia khảo sát, có 100.0%

phụ huynh cho rằng chiều cao của con mình nằm ở mức từ 1.25m đến 1.50m.

Như vậy, đánh giá của học sinh về chiều cao của mình tương đối phù hợp với

nhận thức về chiều cao hiện tại.

Có 53.0% học sinh có cân nặng từ 21.0kg đến 40.0kg, trong đó có 58.5%

học sinh lớp 4 và 41.5% học sinh lớp 5. Có 60.7% phụ huynh nhận định tương

tự. Như vậy, 47.0% học sinh còn lại có cân nặng cao từ 40.0kg trở lên. So sánh

với số liệu trên thì cân nặng của học sinh ở mức độ từ trung bình trở lên.

Bảng 7: Kết quả về nhóm cân nặng giữa nhận thức của phụ huynh và học

sinh

STT Nhóm cân nặng TL %

(kg) Phụ huynh Học sinh

1 22 – 40.5 60.7 53.0

2 41 – 43 14.3 14.0

3 Lớn hơn 43 25.0 33.0

Tổng cộng 100.0 100.0

Khi so sánh giữa chiều cao và cân nặng do học sinh tự nhận thức về bản

thân mình với đánh giá của phụ huynh thì tương đối phù hợp (bảng 6). Có

53.0% học sinh cho rằng mình ở mức cân nặng từ 22 kg đến 40.5 kg, và có 60.7

phụ huynh cùng có ý kiến trên. Tuy nhiên, khi so sánh kết quả cân nặng trên với

số liệu chuẩn năm 2003 về hằng số sinh học của Người Việt Nam thì ở mức

trung bình trở lên. Điều đó cho thấy học sinh lớp 4, 5 có số đo về chiều cao và

cân nặng lớn hơn số đo chuẩn. Để giải thích cho điều này, chúng tôi đã tìm hiểu

thêm về biểu đồ phát triển chiều cao và cân nặng trẻ em của tổ chức WHO năm

2007 thì có kết quả như sau:

Bảng 8: Số đo cân nặng và chiều cao chuẩn theo thống kê của tổ chức WHO

năm 2007

Cân nặng (kg) Chiều cao (m)

Nam Nữ Nam Nữ

Lớp 4 (10 tuổi) 23 – 40.5 21 – 40 1.25 – 1.47 1.23 – 1.45

Lớp 5 (11 tuổi) 25 – 44 22 – 43 1.30 – 1.55 1.27 – 1.50

Số liệu trên cho thấy chỉ số chiều cao và cân nặng của học sinh lớp 4, 5

theo thống kê năm 2007 cao hơn so với năm 2003. Điều này chỉ mang tính chất

tương đối vì đây là số liệu thống kê quốc tế, không chỉ dành riêng cho người

Việt Nam. Nhưng cũng thể hiện sự thay đổi và phát triển sinh học của trẻ em

trong những năm gần đây theo chiều hướng tăng lên.

Từ kết quả phân tích trên cho thấy với các đặc điểm cụ thể, có thể cân, đo

được thì học sinh lớp 4, 5 trường Tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm tự nhận thức

tương đối hợp lý so với thực tế và có xu hướng cao hơn.

Để xác định sự khác biệt về mức độ tự nhận thức các đặc điểm hình thức

bên ngoài của bản thân với học lực, chúng tôi đã tiến hành kiểm định Chi-

Square với các mức ý nghĩa tương ứng là:

- Mức độ nhận thức về chiều cao và học lực: Sig = 0.5

- Mức độ nhận thức về cân nặng và học lực: Sig = 0.014

- Mức độ nhận thức về khuôn mặt và học lực: Sig = 0.785

- Mức độ nhận thức về dáng người và học lực: Sig = 0.05

- Mức độ nhận thức về màu da và học lực: Sig = 0.03

- Mức độ nhận thức về cách ăn mặc và học lực: Sig = 0.47

Từ kết quả kiểm định trên, với mức ý nghĩa Sig = < 0.05 cho thấy trình

độ học lực có liên quan đến mức độ tự nhận thức các đặc điểm về cân nặng,

dáng người và màu da.

Bảng 9: Thống kê mức độ nhận thức đặc điểm hình thức bên ngoài của học

sinh theo học lực

Kết quả học tập Tổng cộng

Giỏi Tiên tiến Mức độ nhận thức đặc

SL TL % SL TL % SL TL % điểm hình thức

Cao 35 25.0 37 37.0 2 38.0 Chiều cao

Trung bình 54 75.0 60 60.0 6 58.7

Thấp 3 3 3.0 3.3

Tổng cộng 100.0 8 100.0 100 100.0 92

Mập 15 15 15.0 16.3 Cân nặng

Vừa 76 84 84.0 82.6 8 100.0

Ốm 1 1 1.0 1.1

8 Tổng cộng 92 100.0 100.0 100 100.0

Đẹp 2 Khuôn 19 20.7 25.0 21 21.0

mặt Bình thường 73 79.3 6 75.0 79 79.0

Tổng cộng 92 100.0 8 100.0 100 100.0

To 14 15.2 14 14.0 Dáng

người Vừa 74 80.4 8 100.0 82 82.0

Nhỏ 4 4.3 4 4.0

Tổng cộng 100 100 100 92 100 8

Hợp thời Cách ăn 34 37.0 25.0 36 36.0 2 trang mặc

Bình thường 58 63.0 6 75.0 64 64.0

Tổng cộng 92 100.0 8 100.0 100 100.0

Trắng 19 20.7 19 19.0 Màu da

Ngăm 70 76.1 6 76 76.0 75.0

Đen 3 3.3 2 5 5.0 25.0

Tổng cộng 92 100 8 100 100 100

Kết quả cho thấy mức độ tự nhận thức về các đặc điểm hình thức của bản

thân mình của học sinh giỏi cao hơn học sinh tiên tiến. Học sinh tiên tiến có xu

hướng nhận thức các đặc điểm hình thức của mình ở mức “vừa”, tức trung bình.

Có 25% học sinh tiên tiến cho rằng màu da của mình đen, trong khi chỉ có 3.3%

học sinh giỏi có mức độ nhận thức tương tự. Ngoài ra, chỉ có 1.1% học sinh giỏi

cho rằng mình ốm và 4.5% cho rằng dáng người của mình nhỏ. Điều đó thể hiện

học lực càng cao thì các em càng tự tin hơn về bản thân mình. Điều này tương

đối phù hợp với kết quả nghiên cứu về đặc điểm tâm lý của lứa tuổi học sinh

cuối cấp tiểu học khi cho rằng sự tự đánh giá của trẻ giai đoạn này có mối liên

hệ chặt chẽ với trình độ học vấn.

Kết quả ở bảng 5 cũng cho thấy mức độ hài lòng của học sinh về đặc điểm

hình thức bên ngoài của mình từ 1.62 đến 2.21, tương ứng với mức hài lòng.

Trong đó, mức độ hài lòng về cân nặng của các em thấp hơn các đặc điểm còn

lại.

Cuối cấp tiểu học là giai đoạn hình thành và phát triển tư duy trực quan

hình tượng ở học sinh nên các em có thể phân loại được cân nặng của mình theo

dạng quá cân, vừa hay thiếu cân để có thể nhận thức được mình thuộc dạng mập,

vừa hay ốm. Ngoài việc học ở trường, các em học sinh thường xuyên tham gia

các lớp học ngoại khóa như: Tiếng Anh, thể thao, kỹ năng sống, học phụ đạo, …

nên cần cung cấp nhanh năng lượng để có thể tham gia vào các hoạt động trên.

Điều này cũng tạo điều kiện để các em thường xuyên tiếp xúc với các loại thức

ăn nhanh gây ra tình trạng thừa cân, dễ bị béo phì. Đây cũng là một trong những

vấn đề rất được các bậc phụ huynh quan tâm.

Tóm lại, học sinh lớp 4, 5 nhận thức các đặc điểm hình thức bên ngoài của

bản thân ở mức độ trên trung bình và tỏ ra hài lòng về những đặc điểm ấy của

bản thân. Nhìn chung, mức độ nhận thức giữ những học sinh giỏi và học sinh

tiên tiến nhìn chung không có sự khác biệt. Việc nhận thức và tỏ thái độ về các

đặc điểm hình thức bên ngoài của học sinh chịu ảnh hưởng từ đánh giá của

người lớn và bạn bè, đặc biệt, các em thường so sánh những đặc điểm của mình

với bạn để có thể nhận thức và tỏ thái độ về những đặc điểm đó.

2.2.1.2. Về phẩm chất, năng lực bản thân

Một trong những đặc điểm tâm lý đặc trưng của học sinh các lớp cuối cấp

tiểu học là các em có thể đánh giá khả năng và các phẩm chất tâm lý của mình

một cách độc lập hơn. Để làm rõ vấn đề này, chúng tôi tìm hiểu về sự tự nhận

thức của các em về tính cách và năng lực của mình.

Bảng 10: Tự nhận thức của học sinh về đặc điểm tính cách của bản thân

STT Tính cách TH TL %

1 Sôi nổi, hay cười nói 81 81.0

2 Mạnh dạn 63 63.0

Dễ dàng tha thứ cho người khác 3 58 58.0

Ham học, thích tìm hiểu 4 55 55.0

Nóng nảy, khó bình tĩnh 5 44 44.0

Thật thà 6 40 40.0

Chưa suy nghĩ kỹ trước khi làm 7 27 27.0 việc gì đó

8 Thích gì làm đó 25 25.0

9 Bướng bỉnh 23 23.0

10 Dễ tin người khác 20 20.0

11 Lười biếng 17 17.0

12 Cẩn thận 14 14.0

13 Nhút nhát 11 11.0

14 Hay bắt chước 9 9.0

15 Trầm lặng, ít nói 8 8.0

16 Khi có đồ chơi, đồ ăn… không 5 5.0 muốn chia sẻ cho người khác

Kết quả nghiên cứu cho thấy có ba nét tính cách được các em lựa chọn

nhiều nhất là: “sôi nổi, hay cười nói” chiếm tỷ lệ 81%, “mạnh dạn” chiếm tỷ lệ

63%, “dễ dàng tha thứ cho người khác” chiếm tỷ lệ 58%. Do đó, các em có xu

hướng nhận thức về các đặc điểm tính cách của bản thân một cách tích cực. Điều

này thể hiện rõ hơn khi các em tự liệt kê những điểm tốt và điểm chưa tốt của

bản thân ở bảng khảo sát dưới đây.

Bảng 11: Tự nhận thức của học sinh về các điểm tốt và chưa tốt của bản thân

Điểm tốt Điểm chưa tốt

TS TL % TS TL % Số lượng liệt kê

1 11 11.0 27 27.0

2 15 15.0 29 29.0

3 22 22.0 24 24.0

4 17 17.0 15 15.0

5 35 5 5.0 35.0

Tổng cộng 100 100.0 100 100.0

Khi được hỏi về các điểm tốt của bản thân, có 35% học sinh kể ra được

5/5 điểm, chiếm tỷ lệ nhiều nhất so với các số lượng liệt kê khác. Trong khi đó,

chỉ có 11% học sinh liệt kê được 1/5 điểm tốt. Các điểm tốt mà các em kể được

thường là: Biết giúp đỡ bạn bè, dễ tha thứ, học giỏi, thật thà, mạnh dạn. Một số

em kể được việc mình đã giúp đỡ bố mẹ công việc nhà, vâng lời người lớn.

Mặt khác, khi được hỏi về các điểm chưa tốt, chỉ có 5% học sinh kể được

5/5 điểm, chiếm tỷ lệ thấp nhất so với các số lượng liệt kê khác. Trong khi đó có

đến 27% học sinh kể được 1 điểm chưa tốt và 29% học sinh kể được 2 điểm.

Các điểm chưa tốt mà các em kể được thường là: chưa cẩn thận, nóng nảy, dễ

mất bình tĩnh, Các em nhận ra những đặc điểm này trong quá trình học tập và

vui chơi với bạn bè.

35

30

25

20

15

Điểm tốt Điểm chưa tốt

10

5

0

1 điểm

2 điểm

3 điểm

4 điểm

5 điểm

Biểu đồ 1: So sánh số lượng điểm tốt và điểm chưa tốt mà học sinh tự nhận

thức được

Kết quả trên cho thấy, các em học sinh có thể tự nhận thức được những

điểm tốt và chưa tốt của mình. Tuy nhiên, nhận thức của các em chưa thật khách

quan về những ưu và nhược điểm của bản thân, thể hiện ở con số chênh lệch giữ

số lượng điểm tốt và điểm chưa tốt mà các em kể được. Ở đây có thể nói đến hai

trường hợp: hoặc các em sợ người khác đánh giá không tốt về mình khi liệt kê ra

nhiều điểm chưa tốt, hoặc các em chưa nhận ra được những điểm đó. Tuy nhiên,

việc nhận thức của các em gắn với hoạt động chủ đạo là học tập và các hoạt

động khác trong quan hệ với gia đình và bạn bè. Dù chưa thật khách quan nhưng

điều đó cũng chứng tỏ rằng các em đã nhận thức về bản thân một cách có trách

nhiệm.

Chúng tôi thực hiện kiểm định Chi-Square để tìm hiểu mối liên hệ giữa

việc tự nhận thức các điểm tốt và chưa tốt của bản thân với lứa tuổi của học

sinh, ở đây thể hiện ở hai cấp lớp 4 và lớp 5. Kết quả kiểm định cho thấy có sự

khác biệt giữa việc tự nhận thức về ưu và nhược điểm của bản thân của học sinh

lớp 4 và lớp 5, với mức ý nghĩa là 0.01 (Sig < 0.05).

Bảng 12: Tự nhận thức của học sinh về điểm tốt và điểm chưa tốt theo khối

lớp

Điểm tốt Điểm chưa tốt

1 2 3 4 5 1 2 3 4 5

TL % TL % TL % TL % TL % TL % TL % TL % TL % TL % Lớp

4.0 8.0 20.0 24.0 14.0 28.0 24.0 4.0 4 44.0 30.0

18.0 22.0 24.0 10.0 30.0 18.0 6.0 6.0 5 26.0 40.0

Khi yêu cầu các em kể ra 5 điểm tốt của mình, có 4.0% học sinh lớp 4 và

18.0% học sinh lớp 5 kể được 1/5 điểm tốt. Trong khi đó, có 44.0% học sinh lớp

4 kể được và 26.0% học sinh kể được 5/5 điểm tốt. Kết quả cho thấy học sinh

lớp 4 kể được nhiều điểm tốt hơn học sinh lớp 5. Học sinh tiểu học chịu ảnh

hưởng từ sự đánh giá của bạn bè và người khác khi nhận thức về điều gì đó. Với

các đặc điểm có thể quan sát, đo đếm được, các em có thể dễ dàng nhận thức

dựa vào chuẩn đánh giá từ bạn bè hay người lớn mang đến. Ở học sinh lớp 4, 5

bắt đầu có ý thức về những giá trị đạo đức, nội quy, …trong nhà trường, gia

đình và xã hội xung quanh. Do đó, để biết được ưu điểm của mình như thế nào,

các em phải so sánh với những chuẩn mực đạo đức ấy. Lúc này, học sinh lớp 5

thận trọng hơn khi so sánh bản thân với những chuẩn mực ấy để đưa ra những

ưu điểm của mình.

Bên cạnh các điểm tốt, các em còn kể ra được các điểm chưa tốt của mình

với yêu cầu tương tự. Kết quả thu được thể hiện sự trái ngược so với việc tự

nhận thức các điểm tốt. Có 14.0% học sinh lớp 4 kể được 1/5 điểm chưa tốt,

4.0% em kể được 5/5 điểm, chiếm tỷ lệ cao nhất là 3/5 điểm với 30.0%. Kết quả

cho thấy rất ít học sinh kể được 5/5 điểm chưa tốt, và phần lớn học sinh kể được

3/5 điểm. Như vậy, học sinh lớp 4 dễ kể các điểm tốt của mình hơn là điểm chưa

tốt. Tỷ lệ giữa các điểm khá đồng đều, độ chênh lệch giữa tỷ lệ kể được 1/5 và

5/5 điểm chỉ có 10.0%.

Tuy nhiên, có 40.0% học sinh lớp 5 kể được 1/5 điểm chưa tốt, và chỉ có

6.0% kể được 5/5 điểm. Kết quả cho thấy việc kể ra các điểm chưa tốt thấp hơn

các điểm tốt và mức độ chênh lệch khá, 34.0%. Như vậy, sự nhận thức về các

điểm chưa tốt của mình chưa ổn định.

Mức độ chênh lệch giữa các tỷ lệ trên khá cao: Ở học sinh học sinh lớp 4,

chênh lệch về tỷ lệ kể được 1/5 điểm tốt và 5/5 điểm tốt là 40.0%. Ở học sinh

lớp 5, chênh lệch về tỷ lệ kể được 1/5 điểm chưa tốt và 5/5 điểm tốt là 34.0%.

Điều đó thể hiện sự chưa ổn định trong khả năng tự nhận thức các phẩm chất

tâm lý của bản thân ở học sinh lớp 4 và lớp 5. Điều này cũng phù hợp với kết

quả quan sát của chúng tôi khi thực hiện trò chơi với các em, hỗ trợ trong quá

trình nghiên cứu. Học sinh lớp 5 tỏ ra do dư, suy nghĩ trước khi nói ra các điểm

tốt và chưa tốt của mình. Trong khi học sinh lớp 4 có thể nói nhanh những đặc

điểm tốt của bản thân.

Trong nghiên cứu của TS. Vũ Thị Nho về khả năng tự đánh giá của học

sinh cuối bậc tiểu học cũng có đề cập đến tính ổn định trong việc tự đánh giá của

học sinh ở lứa tuổi này. Tác giả cho rằng tính ổn định trong tự đánh giá biểu

hiện ở chỗ, khi tự đánh giá các năng lực phẩm chất của mình, người tự đánh giá

giữ vững mức độ đánh giá về bản thân trong một thời gian nhất định nào đó. Kết

quả nghiên cứu cho thấy tính ổn định và tính bền vững trong tự đánh giá của học

sinh thể hiện chưa cao (31.0%), không đồng đều ở các loại học sinh. [20, tr. 85].

Theo cấu trúc của tự ý thức, tự nhận thức là cơ sở để học sinh tự đánh giá bản

thân nên nhận thức về các phẩm chất của bản thân chưa ổn định thì sẽ dẫn đến

tính bền vững trong tự đánh giá chưa cao.

Từ việc phân tích kết quả trên cho thấy học sinh lứa cuối bậc tiểu học có

xu hướng tự nhận thức bản thân cao hơn hiện thực, thể hiện ở việc kê nhiều

điểm tốt hơn là điểm chưa tốt của mình. Trong đó, học sinh lớp 5 dè dặt và thận

trọng hơn khi kể ra các ưu điểm.

Bảng 13: Tự nhận thức của học sinh về các môn học tốt ở trường

STT Môn học SL ĐTB ĐLC

1 Toán 1.45 0.64 66

2 Âm nhạc 1.96 0.84 25

3 Tiếng Việt 2.02 0.82 53

4 Lịch sử 2.06 0.83 17

5 Mỹ thuật 2.06 0.90 33

6 Đạo đức 2.14 0.66 14

7 Thể dục 2.28 0.63 32

8 Khoa học 2.29 0.82 45

9 Địa lý 2.40 0.84 10

10 Kỹ thuật 8 2.50 0.76

Khi được cho điểm về ba môn học giỏi nhất ở trường theo thứ tự 1, 2, 3

tương ứng với môn học giỏi nhất, nhì và ba, có 66 học sinh cho rằng mình học

giỏi môn Toán ở trường với Điểm trung bình = 1.45. Có 53 học sinh cho rằng

mình học môn Tiếng Việt giỏi thứ nhì (Điểm trung bình = 2.02) và 45 học sinh

chọn môn học giỏi thứ ba là Khoa học (Điểm trung bình = 2.29). Toán, Tiếng

Việt là hai môn học chính ở trường với số tiết học nhiều hơn các môn học còn

lại. Vì là môn học chính nên học sinh có nhiều cách để chú trọng đến việc nâng

cao điểm của các môn này. Em Quỳnh Như, lớp 4, cho rằng “Em học giỏi môn

Toán vì đây là môn em được nhiều điểm 10 nhất”. Từ đó cho thấy học sinh xác

định môn học tốt ở trường dựa vào số điểm. Điều này phù hợp với việc đánh giá

năng lực thông thường, là dựa vào kết quả lao động.

Để tìm hiểu xem các em có thích những môn học tốt ở trường hay không,

chúng tôi tiến hành kiểm định Chi-square để xác định mối liên hệ giữa việc biết

được môn nào học tốt ở trường và môn học nào các em yêu thích. Kết quả kiểm

định với mức ý nghĩa từ Sig = 0 đến Sig = 0.017 cho thấy các em thích những

môn mình học tốt ở trường.

2.2.1.3. Về vị trí và các mối quan hệ xã hội

Theo tác giả Nguyễn Kế Hào trong nghiên cứu về “Học sinh tiểu học và

nghề dạy học”, một trong những chức năng giao tiếp của học sinh tiểu học là

nhận thức lẫn nhau và đánh giá lẫn nhau. Do đó, các em bắt đầu quan tâm đến

các mối quan hệ xung quanh mình. Đối với học sinh lớp 4, 5, bên cạnh gia đình,

trường lớp và bạn bè có vị trí quan trọng trong các hoạt động hàng ngày của các

em.

a. Gia đình

Bảng 14: Sự tham khảo ý kiến của ba mẹ với học sinh trong gia đình

STT Nội dung TH TL %

1 Mua sách vở, dụng cụ học tập cho em 64 64.0

2 Chọn địa điểm tổ chức sinh nhật cho em 53 53.0

3 Mua quần áo cho em 51 51.0

4 Chọn địa điểm để cả nhà đi chơi 44 44.0

5 Mua đồ chơi cho em 36 36.0

6 Trang trí nhà cửa 18 18.0

7 Mua đồ dùng trong nhà 13 13.0

8 Việc khác 5 5.0

Tổng cộng 100 284.0

Các em cho rằng ba mẹ thường hỏi ý kiến của mình trong những việc có

liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến các em như: mua sách vở, dụng cụ học tập,

quần áo, đồ chơi. Trong đó, có 64.0% học sinh cho rằng bố mẹ thường hỏi ý

2 rằng bố mẹ không bao giờ hỏi ý kiến của các em. Em Anh Kiệt, lớp 4P

P cho rằng:

kiến khi mua sách vở và dụng cụ học tập cho em. Không có học sinh nào cho

Bố mẹ thường hỏi ý kiến khi chọn chỗ học anh văn cho em. Đây cũng là ý kiến

của một số học sinh khác trong 5.0% lựa chọn còn lại. Nhìn chung, các em đã

biết được những việc nào bố mẹ thường hay hỏi ý kiến mình. Qua đó, chúng tôi

tìm hiểu thêm về mức độ nhận thức của các em về vị trí của mình trong gia đình.

Bảng 15: Tự nhận thức của học sinh về vai trò trong gia đình

Lớp Tổng cộng

4 5 Vai trò trong gia SL TL % đình SL TL % SL TL %

Quan trọng 19 38.0 24 48.0 43 43.0

Bình thường 23 46.0 25 50.0 48 48.0

Không quan trọng 8 16.0 1 2.0 9 9.0

Tổng cộng 50 100.0 50 100.0 100 100.0

Khi hỏi về vai trò trong gia đình, có 48.0% học sinh nhận thấy vai trò của

mình ở mức bình thường. Bên cạnh đó, tỷ lệ học sinh nhận thấy mình giữ vai trò

quan trọng trong gia đình cũng khá cao là 43.0%. Từ những tương tác với người

lớn, ở đây là bố mẹ, đã cho các em nhận thấy được vai trò của mình trong gia

đình. Các em đã nhận thức được mình là một thành viên trong gia đình nên có

một vị trí quan trọng, đặc biệt ở những học sinh thường xuyên nhận được tình

thương yêu và muông chiều từ ông bà, ba mẹ, hoặc các thành viên khác thì càng

nhận thức rõ về sự quan trọng của mình. Bên cạnh đó, khi được bố mẹ tham

khảo ý kiến về việc mua sắm sách vở, quần áo, đồ chơi cho mình, đặc biệt là

một số quyết định của gia đình như chọn địa điểm đi chơi, trang trí nhà cửa, mua

sắm đồ dùng đã góp phần để các em khẳng định mức độ quan trọng của mình

trong gia đình.

25

20

15

10

Lớp 4 Lớp 5

5

0

Quan trọng Bình thường Không quan

trọng

Biểu đồ 2: Mức độ nhận thức về vai trò quan trọng trong gia đình của học

sinh lớp 4 và 5

Để tìm hiểu sự khác nhau giữa học sinh lớp 4 và học sinh lớp 5 khi nhận

thức về vai trò của mình trong gia đình, chúng tôi tiến hành kiểm định Chi-

Square với mức ý nghĩa Sig = 0.47 (Sig < 0.05). Kết quả cho thấy học sinh lớp 5

nhận thức về vai trò của mình trong gia đình ở mức độ cao hơn học sinh lớp 4.

b. Trên lớp học

Học sinh tiểu học ngay từ giờ phút đầu tiên đến trường đã sống với tập thể

lớp. Sự phát triển nhân cách của các em cũng gắn liền với cuộc sống nhà trường,

với tập thể. Đối với học sinh lớp 4, 5, vấn đề quan trọng không phải là làm giống

hệt như ý muốn của giáo viên mà là làm thế nào để được tập thể và các bạn chấp

nhận. Vì thế, các em rất chú ý đến vị trí của mình trong tập thể lớp. Sau đây sẽ

phân tích sự tự nhận thức của các em về vai trò của mình trong lớp.

Bảng 16: Tự nhận thức của học sinh về vai trò của mình trong lớp

STT Vai trò Giới tính Tổng cộng

Nam Nữ

TH TL % TH TL % TH TL %

Giúp đỡ khi thầy/ cô cần 23 46.0 23 46.0 1 46 46.0

Giúp bạn trong học tập 14 28.0 13 26.0 27 27.0 2

Nhắc các bạn giữ vệ sinh 18 36.0 6.0 21 21.0 3 3

Giúp đỡ khi bạn khiêng, 4 12 24.0 4.0 14 14.0 2 vác đồ nặng

14 14.0 6.0 11 22.0 3 Lớp phó 5

11 11.0 9 18.0 2 4.0 Tổ phó 6

10 10.0 5 10.0 5 10.0 Tổ trưởng 7

6 3 6.0 12.0 9 9.0 Lớp trưởng 8

Tổng cộng 50 160.0 50 144.0 100 152.0

Khi nói về vai trò của mình trong lớp, phần lớn học sinh đề cập đến việc

giúp đỡ thầy cô, bạn bè hơn là chức vụ trong lớp của mình. Có 46.0% học sinh

cho rằng mình thường giúp đỡ thầy/ cô khi cần. Học sinh tiểu học tin vào thầy

cô với một niềm tin gần như là tuyệt đối, thầy cô trở thành thần tượng đối với

các em. Do đó, các em rất xem trọng việc giúp đỡ thầy cô dù là những việc vặt

như: lấy phấn, lau bảng, phát vở bài tập, … Các em cảm thấy tự hào khi được

thầy cô nhờ vả. Bên cạnh đó, các em cũng thường giúp đỡ bạn bè trong học tập,

thực hiện nội quy trong lớp và đỡ đần các công việc nặng. Tỷ lệ học sinh nam

và học sinh nữ có cùng nhận thức trên là bằng nhau. Tuy nhiên, khi so sánh với

nhận thức của giáo viên về vấn đề này thì có sự chênh lệch. Theo các giáo viên

chủ nhiệm, có 69 trường hợp học sinh trong lớp thường giúp đỡ khi thầy cô cần.

Trong đó có 58.0% là học sinh nam và 42.0% là học sinh nữ. Tương tự, trong

các đánh giá khác của giáo viên như: giúp bạn trong học tập, giúp bạn khiêng

vác đồ nặng, nhắc bạn giữ vệ sinh thì tỷ lệ của học sinh nam cao hơn học sinh

nữ. Điều đó cho thấy các bạn nam thường hiếu động hơn, mạnh khỏe hơn, có thể

giúp đỡ những công việc cần dùng sức nhiều như khiêng bàn ghế, lấy đồ dùng

cho lớp, …

Tỷ lệ học sinh giữ vị trí là cán sự lớp thấp hơn so với các vai trò còn lại.

Giải thích vấn đề này là cách tổ chức lớp ở các trường tiểu học nói chung,

trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm nói riêng với cơ cấu cán sự lớp gồm có:

một lớp trưởng, một lớp phó, một tổ trưởng, một tổ phó. Từ đó hạn chế số lượng

học sinh giữ vị trí cán sự ở mỗi lớp.

Khi nhận thức về vai trò của mình trong lớp học, học sinh lớp 4, 5 quan

tâm đến những việc thường làm một cách cụ thể hơn là chức vụ của mình trong

lớp, nổi bật nhất là việc giúp đỡ thầy cô khi cần. Kết quả này cũng phù hợp với

đánh giá của giáo viên chủ nhiệm lớp các em. Có 69.0% giáo viên cho rằng học

sinh của mình thường giúp đỡ khi thầy cô cần, có có 66.0% giáo viên cho rằng

học sinh thường giúp đỡ bạn bè trong học tập. Trong kết quả này, số lượng học

sinh nam chiếm ưu thế hơn học sinh nữa.

c. Trong quan hệ bạn bè

Bảng 17: Mối quan hệ bạn bè

STT Quan hệ bạn bè TH TL %

1 Bạn cùng lớp 75 75.0

2 Bạn cùng trường 47 47.0

3 Bạn cùng tổ 39 39.0

4 Bạn cùng nhóm 30 30.0

5 Bạn cùng xóm 27 27.0

6 Bạn khác 1 1.0

Tổng cộng 100 219.0

Nếu như ở lứa tuổi mẫu giáo và đầu tiểu học, giao tiếp của trẻ chủ yếu có

đối tượng là người lớn, thì đối với học sinh cuối bậc tiểu học, sự phát triển

chung nhiều mặt của nhân cách trong đó đặc biệt là sự phát triển thể chất và

ngôn ngữ đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao tiếp với những người xung

quanh. Các em đã có thể chủ động mở rộng không gian và thời gian giao tiếp.

Đây cũng là giai đoạn “quá độ” chuyển từ tuổi nhi đồng sang tuổi thiếu niên, đã

tạo ra manh nha của sự chuyển hướng hoạt động chủ đạo ở một số em phát triển

sớm. Đó là sự phát triển mạnh mẽ hoạt động giao tiếp, nhất là giao tiếp với bạn

cùng tuổi. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 38.0% học sinh cho rằng mình có

trên 10 người bạn thân, và chiếm đa số là bạn bè giao tiếp trong hoạt động học ở

trường. Trong số đó, bạn cùng lớp chiếp 75.0%. Như vậy, ở học sinh lớp 4, 5

mối quan hệ với bạn bè đồng trang lứa, đặc biệt là bạn cùng lớp giữ vị trí quan

6 Yến, lớp 5P

P thì: “khi có chuyện buồn em thường tâm sự với bạn Thanh Nga học

trọng trong đời sống của các em, thông qua hoạt động học tập. Theo em Hoàng

cùng lớp”.

Khi nghiên cứu về đối tượng giao tiếp của học sinh cuối bậc tiểu học, TS.

Đào Thị Oanh cũng có kết quả tương tự. Tác giả cho rằng đối tượng giao tiếp

của học sinh cuối bậc tiểu học chiếm tỷ lệ cao thứ hai là bạn bè, đặc biệt là bạn

bè học cùng lớp, cùng giới tính, cùng lứa tuổi và ở cùng địa chỉ. Tác giả cũng

khẳng định nếu như cha mẹ đối với trẻ như là một người lớn, một người có kinh

nghiệm trong đó chứa đựng lòng dũng cảm, sự thông thái, sự công bằng và tất cả

những điều này làm cho những ý kiến, hành vi và sự đánh giá của họ như là một

tấm gương lý tưởng của trẻ, thì bạn cùng tuổi là một người ngang hàng, bình

đẳng với trẻ trong mọi phẩm chất: công việc, nhận thức cũng như nhân cách.

Thật vậy, trường Tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm với mô hình bán trú đã

tạo điều kiện cho các em tiếp xúc với nhau nhiều hơn không những trong hoạt

động học tập mà còn ăn, ngủ, vui chơi, sinh hoạt ngoại khóa, … Trong những

hoạt động đó, hầu hết các em sinh hoạt theo lớp nên dễ dàng chia sẻ với nhau

những sở thích, những nguyện vọng, chuyện vui, chuyện buồn, nhất là những

chuyện chưa dám chia sẻ với bố mẹ.

2.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 5

2.2.2.1. Yếu tố sinh lý

Ngày nay, điều kiện sinh hoạt vật chất được cải thiện và ngày càng nâng

cao. Các em học sinh có cơ hội được dùng nhiều thực phẩm bổ dưỡng, cung cấp

nhiều chất đạm như sữa, ngũ cốc, thức ăn nhanh, …, được chăm sóc sức khỏe

tốt hơn. Từ việc bổ sung nhiều chất dinh dưỡng, các em sẽ có sự nhận thức tinh

nhạy hơn về xung quanh cũng như bản thân mình.

2.2.2.2. Yếu tố xã hội

a. Gia đình

Gia đình là nơi có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển nhân

cách của học sinh, nhất là trong giai đoạn cuối của lứa tuổi học sinh tiểu học,

chuẩn bị bước vào giai đoạn dậy thì.

Bảng 18: Đối tượng học sinh thường tìm đến khi cần tâm sự

STT Đối tượng học sinh thường tâm sự TS TL %

1 Bố 3 3.0

2 Mẹ 42 42.0

3 Người thân khác trong gia đình 8 8.0

4 Bạn bè 41 41.0

5 Thầy/ cô 3 3.0

6 Không ai hết 3 3.0

Tổng cộng 100 100.0

Kết quả nghiên cứu cho thấy có 42.0% học sinh thường chia sẻ với mẹ

những tâm tư của mình. Mẹ thường là người gần gũi hơn với các em, dễ bày tỏ

tình yêu thương hơn bố. Từ đó, học sinh sẽ học được những thói quen, cách

nhận thức và xử lý vấn đề. Nếu mẹ thường phân tích cho các em về những đặc

điểm hình thức của bản thân như: như thế nào gọi là cao/ thấp/ mập/ ốm, cách

làm để giữ vẻ bề ngoài của mình đẹp, … những tính cách tốt và không tốt,

phương pháp học tốt, … thì các em sẽ có sự tự nhận thức về bản thân mình rõ

ràng hơn.

Bảng 19: Mối liên hệ giữa mức độ tự nhận thức của học sinh về vai trò của

mình trong gia đình và đối tượng học sinh thường tâm sự

Mức độ tự nhận thức

về vai trò trong gia

đình

Quan Bình Không Tổng

STT trọng thường quan trọng cộng

Người thường tìm đến tâm sự

Bố 1 2 1 3 0

Mẹ 42 2 2 17 23

Người thân khác trong gia đình 5 0 8 3 3

Bạn bè 19 18 41 4 4

Thầy/ cô 0 3 3 0 5

Không ai hết 0 3 3 0 6

9 Tổng cộng 43 48 100

Sau khi tiến hành kiểm định Chi-Square về mối liên hệ giữa người mà học

sinh thường tìm đến tâm sự và sự tự nhận thức về vai trò của mình trong gia

đình với mức ý nghĩa là 0.02 (Sig < 0.05). Những học sinh thường tâm sự với

người thân trong gia đình như bố, mẹ và bạn bè thì nhận thức vai trò của mình

trong gia đình ở mức quan trọng hơn những học sinh thường tìm đến thầy cô hay

không tâm sự với ai.

b. Trên lớp học

Ngoài các giờ học ở trường, trường Tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm rất

quan tâm đến các hoạt động sinh hoạt ngoại khóa dành cho học sinh. Hiện nay

có nhiều trung tâm cộng tác với trường như: Trung tâm Anh ngữ Appolo, trung

tâm giáo dục năng khiếu Angle, trung tâm phát triển Kỹ năng sống IDO, …

Không những thế, trường Tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm còn có giờ sinh hoạt

ngoại khóa về Kỹ năng sống dành cho học sinh các khối lớp vào hàng tuần.

Bảng 20: Sự tham gia các hoạt động ngoại khóa của học sinh trường Tiểu

học Nguyễn Bỉnh Khiêm

Sự tham gia của học sinh TS TL %

Không 71 71.0

Có 29 29.0

Tổng cộng 100 100.0

Chỉ có 29.0% học sinh có tham gia các hoạt động sinh hoạt ngoại khóa

được tổ chức trong và ngoài trường Tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm. Kết quả trên

cho thấy số học sinh có tham gia các hoạt động ngoại khóa chiếm tỷ lệ rất thấp.

Chúng tôi thực hiện kiểm định Chi-Square để phân tích sự khác biệt giữa học

sinh có và không tham gia các hoạt động ngoại khóa trong việc tự nhận thức về

bản thân và thu được kết quả như bảng sau:

Bảng 21: Mối liên hệ giữa việc tham gia hoạt động ngoại khóa và sự tự nhận

thức bản thân

Sự tự nhận thức bản thân Mức ý nghĩa (Sig.)

Chiều cao 0.73

Cân nặng 0.29

Các đặc điểm hình

Khuôn mặt 0.34 thức bên ngoài

Dáng người 0.42

Màu da 0.63

Cách ăn mặc 0.24

0.79 Điểm tốt và điểm Điểm tốt

chưa tốt của bản

Điểm chưa tốt 0.15 thân

Tự nhận thức về mối quan hệ bạn bè 0.61

Tự nhận thức về vai trò trong gia đình 0.70

Tự nhận thức về vai trò trong lớp 0.33

Kết quả kiểm định cho thấy các mức ý nghĩa đều lớn hơn 0.05 nên không

có mối liên hệ giữa việc tham gia sinh hoạt ngoại khóa và tự nhận thức về các

đặc điểm, vai trò của bản thân. Hay nói cách khác, việc tham gia các hoạt động

ngoại khóa không ảnh hưởng đến mức độ tự nhận thức bản thân của học sinh.

Nguyên nhân của vấn đề này là do số lượng học sinh tham gia hoạt động ngoại

khóa chiếm tỷ lệ rất thấp so với tỷ lệ học sinh có tham gia các hoạt động này.

Mặt khác, trong số đa số trong số 29.0% học sinh còn lại thì tham gia các lớp

học tại trung tâm Anh ngữ, tại các lớp học này các em được cung cấp nhiều kiến

thức về ngôn ngữ hơn là bản thân mình, cũng như kỹ năng hỗ trợ sự tự nhận

thức bản thân.

c. Bạn bè

Với học sinh lớp 4, 5, bạn bè giữ vị trí quan trọng và là đối tượng ưu tiên

trong hoạt động giao tiếp của các em. Đối tượng bạn bè mà chúng tôi đề cập ở

đây là bạn đồng trang lứa, bạn cùng lớp, cùng trường với các em.

Sau mẹ, có 41.0% học sinh thường tìm đến bạn bè để tâm sự khi có

chuyện vui, buồn. Các em có thể ngồi trò chuyện với bạn hàng giờ để chia sẻ đủ

thứ chuyện như: khoe đồ mới, kể về một chuyến đi chơi cuối tuần với gia đình,

hoặc những chuyện khó chia sẻ với người lớn như: thích/ không thích một bạn

nào trong lớp, thích/ không thích một môn học nào đó, thích chơi với bạn này,

3 quan tâm đến sự đánh giá của bạn bè về mình, em Bảo Trân, lớp 4P

P cho rằng:

không thích chơi với bạn kia, … Từ việc gần gũi, chia sẻ với nhau, các em rất

5 ghẹo”, còn em Khánh Mỹ, lớp 5P

P thì cho rằng: “Chiều cao là quan trọng nhất vì

“Em rất quan tâm đến cân nặng của mình vì khi mập sẽ dễ bị bạn bè chọc

nếu em lùn thì sẽ bị các bạn gọi là con gái và đặt biệt danh là lùn”. Ngoài ra,

1 đặc điểm của bản thân với bạn. Em Bình Minh, lớp 4P

P cho rằng: “Nếu em thấp

các em còn lấy bạn bè làm chuẩn để tự nhận thức bản thân và hay so sánh những

so với các bạn thì sẽ rất xấu, còn nếu em cao thì sẽ khác đi”.

Lứa tuổi lớp 4, 5 còn được xem là lứa tuổi dự thính để bước vào lứa tuổi

dậy thì. Đặc biệt ngày nay với gia tốc phát triển nhanh thì có nhiều em dậy thì

sớm. Các em đã có những nhận thức về bản thân mình rõ ràng hơn như: đặc

điểm tính dục của nam và nữ, biết mắc cỡ khi người khác đánh giá về mình. Bạn

bè còn được xem là thước đo để các em tự nhận thức và cao hơn là đánh giá về

bản thân mình để tự điều chỉnh.

2.2.2.3. Yếu tố bản thân

Theo các kết quả nghiên cứu đã phân tích ở bảng 6 về “Thống kê mức độ

tự nhận thức đặc điểm hình thức bên ngoài của học sinh theo học lực”, trong

khi học sinh giỏi có xu hướng nhận thức về các đặc điểm hình thức bên ngoài

của mình ở mức “cao” như: dáng người to, cao, ăn mặc hợp thời trang, … thì

học sinh tiên tiến có xu hướng nhận thức về các đặc điểm hình thức bên ngoài

của mình ở mức “trung bình” như: dáng người vừa, ăn mặc bình thường, khuôn

mặt đẹp, … Do đó, học sinh có học lực cao hơn thì có xu hướng tự nhận thức về

các đặc điểm hình thức bên ngoài của bản thân tích cực hơn.

Bên cạnh đó, những học sinh có đặc điểm tính cách khác nhau cũng có

mức độ tự nhận thức bản thân khác nhau.

Bảng 22: Mức độ tự nhận thức về điểm tốt và điểm chưa tốt của học sinh có

đặc điểm tính cách khác nhau

STT Đặc điểm tính cách TL % số điểm tốt TL % số điểm

chưa tốt

Từ 1 – 3 Từ 4 – 5 Từ 1 – 3 Từ 4 – 5

1 Trầm lặng, ít nói 6.3 9.6 7.5 10.0

2 Nhút nhát 14.6 7.7 8.8 20.0

3 Nóng nảy, khó bình tĩnh 52.1 36.5 40.0 60.0

4 Chưa suy nghĩ kỹ trước 20.8 32.7 26.3 30.0 khi làm việc gì

5 Bướng bỉnh 29.2 17.3 23.8 20.0

6 Cẩu thả 8.3 19.2 13.8 15.0

7 Thích gì làm đó 20.8 28.8 26.3 20.0

8 Khi có đồ chơi, đồ ăn, …

không muốn chia sẻ với 9.6 5.0 5.0

người khác

9 Lười biếng 22.9 11.5 18.8 10.0

10 Hay bắt chước 12.5 5.8 6.3 20.0

11 Dễ tin người khác 25.0 15.4 17.5 30.0

12 Sôi nổi, hay cười nói 75.0 87.5 82.5 75.0

13 Mạnh dạn 58.3 67.3 63.8 60.0

14 Dễ tha thứ cho người 60.4 55.8 62.5 40.0 khác

15 Ham học, thích tìm hiểu 54.2 55.8 52.5 65.0

16 Thật thà 35.4 44.2 37.5 50.0

Tổng cộng 100.0 100.0 100.0 100.0

Kết quả khảo sát trên cho thấy học sinh có đặc điểm tính cách trầm lặng –

ít nói kể được số điểm chưa tốt có tỷ lệ % cao hơn số điểm tốt. Ngược lại, học

sinh có đặc điểm tính cách sôi nổi, hay cười nói thì kể được số điểm tốt có tỷ lệ

cao hơn số điểm chưa tốt. Những học sinh có đặc điểm tính cách mạnh dạn, ham

học hỏi kể được số điểm tốt và điểm chưa tốt có tỷ lệ tương đương nhau. Những

học sinh có đặc điểm tính cách khác thì chưa có sự khác biệt rõ ràng.

Từ đó cho thấy năng lực và tính cách có ảnh hưởng đến sự tự nhận thức

bản thân của học sinh. Ngoài ra, những học sinh có xu hướng hướng ngoại, thích

giao tiếp, tìm hiểu, học hỏi thì có sự tự nhận thức về bản thân mình dễ dàng hơn.

2.2.3. Một số biện pháp nâng cao chất lượng tự nhận thức bản thân của học

sinh lớp 4, 5

2.2.3.1. Cơ sở đề xuất các biện pháp

Cơ sở lý luận a.

• Cơ chế hình thành sự tự nhận thức bản thân

Ý thức là hình ảnh phản ánh hiện thực cao nhất của con người. Khái niệm

ý thức được xây dựng dựa trên cơ sở của tâm lý học hoạt động, trên nền tảng của

chủ nghĩa duy vật biện chứng. Trong đó, tự ý thức là một trong những thuộc tính

cơ bản của ý thức. Tự nhận thức bản thân là một thành tố trong cấu trúc của tự ý

thức, thể hiện ở việc cá nhân tự nhận thức về bản thân mình từ đặc điểm bên

ngoài, năng lực, phẩm chất đến vị thế xã hội, hay nói cách khác là các yếu tố về

bản thân và xã hội. Do đó, muốn tác động đến sự tự nhận thức bản thân thì tác

động đến yếu tố bản thân và yếu tố xã hội.

• Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tự nhận thức bản thân

Nguyên tắc quyết định luận trong tâm lý học Macxist đã khẳng định:

nguyên nhân quyết định việc nảy sinh các hiện tượng tâm lý là do các tác động

bên ngoài, nhưng không phải trực tiếp mà phải thông qua các điều kiện bên

trong và hoạt động của chủ thể. Trên cơ sở đó, chúng tôi đưa ra năm nhóm yếu

tố gồm:

- Nhóm biện pháp tác động từ phía gia đình

- Nhóm biện pháp tác động từ trường lớp

- Nhóm biện pháp tác động từ giáo viên

- Nhóm biện pháp tác động từ bạn bè

- Nhóm biện pháp tác động từ phía bản thân học sinh

Cơ sở thực tiễn b.

Kết quả phân tích thực trạng nghiên cứu cho thấy năm nhóm yếu tố trên

có ảnh hưởng đến đặc điểm tự nhận thức bản thân của học sinh ở các mức độ

khác nhau.

2.2.3.2. Các nhóm biện pháp tác động đến sự tự nhận thức bản thân

của học sinh lớp 4, lớp 5

Nhóm biện pháp tác động từ phía gia đình a.

Bố mẹ thường xuyên chia sẻ với học sinh về những khó khăn trong học

tập, động viên, khích lệ những việc các em làm tốt, phân tích nguyên nhân của

những việc làm chưa tốt, những sai phạm sẽ tạo thói quen cho các em nhận thức

về ưu và khuyết điểm của mình, cũng như năng lực của bản thân.

Đây là lứa tuổi mong muốn được làm người lớn nên các em rất mong

muốn bản thân cũng có đóng góp trong hoạt động chung của gia đình. Bố mẹ

tham khảo ý kiến của các em về việc chọn địa điểm cho cả nhà đi nghỉ cuối tuần

sẽ giúp các em nhận thức rõ hơn mình là một thành viên quan trọng trong gia

đình. Bên cạnh đó, phân công một số việc nhà cho các em, khen ngợi sự cố

gắng, cho các em nhận thấy mình cũng có những đóng góp cho gia đình như các

thành viên khác.

Các bậc phụ huynh cũng cần quan tâm đến quan hệ bạn bè của con mình

để có thể biết được những ảnh hưởng của bạn bè đến con là tốt hay chưa tốt, từ

đó có sự can thiệp kịp thời.

Nhóm biện pháp tác động từ trường lớp b.

Tham gia các hoạt động sinh hoạt tập thể sẽ giúp học sinh mở rộng mối

quan hệ với bạn bè. Từ đó các em có thể chia sẻ với bạn bè những suy nghĩ,

nhận thức của mình về bản thân, về bạn bè. Hình ảnh của bạn bè sẽ là tấm

gương để trẻ tự soi vào mình mà thay đổi. Một trong những hoạt động ngoại

khóa hiện tại nhà trường đang tổ chức là kết hợp với các trung tâm giáo dục

khác như: Trung tâm giáo dục và phát triển kỹ năng sống IDO, Trung tâm Tiếng

Anh Appolo với các giờ học tiếng Anh sinh động, Trung tâm thể thao với các

hoạt động như: võ thuật, aerobic, … Nhà trường cần tổ chức những hoạt động

ngoại khóa luân phiên cho các khối lớp như: Đi dã ngoại khám phá điều mới vào

cuối tuần, cuộc thi viết về bản thân mình, …

Bên cạnh đó, các hoạt động Đội với những trò chơi liên quan đến các đặc

điểm cơ thể sẽ giúp học sinh suy nghĩ nhiều hơn về bản thân mình, từ đó có thể

nhận thức một cách chính xác hơn. Hàng năm, nhà trường có rất nhiều chương

trình để tạo điều kiện cho các em được cùng tham gia xây dựng hoạt động phong

trào như: Làm báo tường, ngày hội từ thiện đón Tết hàng năm, thi kể chuyện về

Bác Hồ Chí Minh, … Nhà trường cần mở rộng và tăng cường các hoạt động

Đoàn, Hội đến nhiều đối tượng học sinh hơn nữa để em nào cũng có cơ hội tham

gia.

Nhóm biện pháp tác động từ phía thầy cô c.

Thầy cô là người có tác động rất lớn đến sự hình thành và phát triển nhân

cách của các em đặc biệt trong giai đoạn này. Học sinh có nhiều thời gian để học

hỏi từ thầy cô không chỉ trong hoạt động học tập mà cả trong ứng xử hàng ngày.

Do đó, những nhận xét, đánh giá của thầy cô sẽ hình thành trong các em sự tự

nhận thức về bản thân mình. Các em rất tin vào thầy cô, và đặc biệt những đánh

giá của thầy cô một cách đúng lúc, đúng hoàn cảnh sẽ trở thành dấu ấn trong các

em.

Nhóm biện pháp tác động từ phía bạn bè d.

Bên cạnh gia đình, nhà trường, thầy cô, bạn bè là nhân tố có tác động

thường xuyên, gần gũi nhất đến học sinh. Trẻ biết thông cảm cho các bạn đồng

trang lứa có những đặc điểm khác biệt với mình như: mập, thấp bé, học không

giỏi, … vì không ai là hoàn hảo.

Việc cùng tham gia chơi trong một nhóm bạn cũng tạo điều kiện cho trẻ

hiểu bạn mình hơn, từ đó hiểu bản thân mình hơn.

Nhóm biện pháp tác động từ phía bản thân học sinh e.

Để học sinh có thể tự nhận thức về bản thân mình một cách thực tế và

thiết thực, các em cần quan tâm đến các yếu tố sau:

- Đặc điểm của bản thân: để đảm bảo sức khỏe, các em cần tạo thói quen

sinh hoạt theo đồng hồ sinh học, tham gia các môn thể thao để rèn luyện sự dẻo

dai, bền bỉ, tự tin vào sức mạnh của bản thân. Bên cạnh đó, tìm cho mình một sở

thích hoặc đam mê và dành thời gian để theo đuổi đam mê ấy như: vẽ, đọc sách

khoa học, giải câu đố, chơi đá banh, … Biết được điểm mạnh của bản thân sẽ

giúp trẻ tự tin hơn khi tự nhận thức về bản thân mình.

- Mối quan hệ xã hội: chủ động tham gia vào công việc nhà như: phụ giúp

ba mẹ việc nhà, chia sẻ những mong muốn, ước mơ của bản thân cho ba mẹ biết

và có lời khuyên, động viên kịp thời. Đối với bạn bè, trẻ có thể chia sẻ với bạn

những tâm tư, tình cảm, khó khăn để thông cảm, học hỏi lẫn nhau.

Kết luận chương 2

Qua quá trình khảo sát, tìm hiểu, kết quả nghiên cứu cho thấy học sinh lớp

4, lớp 5 có xu hướng tự nhận thức về bản thân mình cao hơn thực tế. Điều đó thể

hiện qua việc các em rất quan tâm đến yếu tố chiều cao của mình, vì chiều cao

thể hiện mức độ to, nhỏ của trẻ trong tập thể. Bên cạnh đó, các em có xu hướng

tự nhận thức về đặc điểm tính cách và năng lực của mình theo hướng tốt/ cao

nhiều hơn.

Từ kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi đưa ra một số biện pháp để có thể

nâng cao kỹ năng tự nhận thức bản thân của trẻ.

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

KẾT LUẬN

Về mặt nghiên cứu lý luận: đề tài đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận 1.

về sự tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, lớp 5 bằng cách:

- Làm rõ khái niệm sự tự nhận thức bản thân trên cơ sở phân tích khái niệm

về tự ý thức. Khái niệm được phân tích ở các mặt: định nghĩa, vai trò, nội dung.

- Từ đó phân tích khái niệm sự tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4,

lớp 5.

Do đó, đề tài đã thực hiện được nhiệm vụ đầu tiên đã đặt ra.

Về mặt nghiên cứu thực tiễn: đề tài đã đạt được những kết quả sau: 2.

- Học sinh lớp 4, lớp 5 nhận thức các đặc điểm hình thức bên ngoài của bản

thân ở mức độ trên trung bình và tỏ ra hài lòng về những đặc điểm ấy. Không có

sự khác biệt rõ rệt về mức độ tự nhận thức bản thân giữ học sinh có học lực khác

nhau.

- Học sinh lớp 4, lớp 5 có xu hướng tự nhận thức về các đặc điểm tính cách

và năng lực học tập của mình ở mức độ từ trung bình trở lên, tính ổn định và bền

vững chưa cao. Bạn bè là đối tượng trẻ thường tìm gặp để chia sẻ hơn là ba mẹ,

thầy cô.

Như vậy, đề tài đã thực hiện được nhiệm vụ thứ hai, đồng thời đã chứng

minh được giả thuyết đưa ra rằng “tự nhận thức của học sinh lớp 4, lớp 5 ở mức

độ trung bình là chưa đúng. Theo kết quả nghiên cứu, học sinh tự nhận thức về

các đặc điểm hình thức bên ngoài của mình và tính cách, năng lực học tập ở mức

độ trên trung bình.

Bên cạnh đó, giả thuyết có sự khác biệt về đặc điểm sự tự nhận thức bản

thân giữa những học sinh có và không tham gia các lớp sinh hoạt ngoại khóa là

chưa đúng.

Đề tài cũng chứng minh giải thuyết về sự khác biệt về sự tự nhận thức bản

thân giữa học sinh nam và nữ, học sinh có học lực khác nhau là đúng.

- Việc nhận thức và tỏ thái độ về bản thân của học sinh chịu ảnh hưởng từ

đánh giá của người lớn và bạn bè, đặc biệt, các em thường so sánh những đặc

KHUYẾN NGHỊ

điểm của mình với bạn để có thể nhận thức và tỏ thái độ về những đặc điểm đó.

Đối với các tổ chức giáo dục 1.

Cần chú trọng đến các hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tại

các trường tiểu học nói riêng, tại trường phổ thông nói chung. Việc đưa các hoạt

động ngoại khóa vào hệ thống chương trình giảng dạy sẽ giúp mở rộng cơ hội

rèn luyện các kỹ năng, trong đó có kỹ năng tự nhận thức bản thân cho học sinh.

Đẩy mạnh việc ứng dụng phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung

tâm.

Cải tiến hệ thống đánh giá năng lực và hạnh kiểm của học sinh theo chiều

dọc, có nghĩa là so sánh kết quả của học sinh theo trục thời gian. Tập thói quen

so sánh mình với bản thân mình để nhận ra sự tiến bộ hay thoái lùi. Từ đó, học

sinh có thể tự xây dựng cho mình kế hoạch phấn đấu.

Đối với gia đình 2.

Bố mẹ tạo điều kiện cho trẻ tham gia các hoạt động ngoại khóa như: câu

lạc bộ bóng đá, sinh hoạt tại nhà văn hóa thiếu nhi, chương trình sinh hoạt dã

ngoại cuối tuần, … để trẻ có cơ hội giao lưu với bạn bè đồng trang lứa, học hỏi

từ bạn bè và những người xung quanh, khám phá nhiều điều mới lạ qua trải

nghiệm. Nhờ vậy, trẻ có thể tự nhận thức về bản thân mình một cách rõ ràng hơn.

Bên cạnh đó, bố mẹ cần làm bạn với trẻ, chia sẻ những tâm tư, nguyện

vọng, mong ước của trẻ để hiểu được nhận thức của trẻ về bản thân mình như

thế nào, từ đó có thể phân tích và định hướng cho trẻ.

Việc tạo điều kiện cho trẻ tham gia vào các công việc hàng ngày của gia

đình như: dọn dẹp nhà cửa, chuẩn bị một bữa ăn, chuẩn bị một bữa tiệc, lập kế

hoạch đi du lịch cho cả nhà, … sẽ giúp trẻ nhận ra vai trò của mình với tư cách

là một thành viên của gia đình. Từ đó, trẻ sẽ có trách nhiệm hơn với bố, mẹ, bản

thân, với công việc chung của gia đình và với những người khác.

Đối với nhà trường 3.

Tăng cường các hoạt động sinh hoạt ngoại khóa trong hệ thống chương

trình của nhà trường. Mở các lớp sinh hoạt kỹ năng sống trong dịp hè để tạo điều

kiện cho trẻ rèn luyện và trải nghiệm với các bài học kỹ năng.

Tăng cường tổ chức các hoạt động tập thể, hoạt động Đội để tạo cơ hội

cho trẻ được tham gia vào các hoạt động tập thể.

Đối với thầy cô 4.

Chú trọng phương pháp giảng dạy lấy học sinh làm trung tâm để tạo điều

kiện cho trẻ tự do trình bày quan điểm của mình, từ đó trẻ có có hội bộc lộ khả

năng trước tập thể, nhận ra điểm mạnh, điểm chưa mạnh của bản thân và phấn

đấu hoàn thiện hơn.

Phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong lớp để trẻ tự tin, dạn dĩ hơn

khi tham gia vào các hoạt động tập thể.

Khuyến khích, động viên kịp thời với những học sinh có sự nỗ lực và tiến

bộ để trẻ tự tin hơn vào khả năng của bản thân mình, đồng thời nghiêm khắc phê

bình với những lỗi sai của học sinh để các em đánh giá được bản thân mình.

5. Hướng phát triển của đề tài

Để có kết quả khái quát hơn, các đề tài sau có thể mở rộng khách thể

nghiên cứu của đề tài sang học sinh lớp 4, 5 ở các trường Tiểu học khác trong

phạm vi quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, hay các trường trong địa bàn Thành

phố. Ngoài ra, đề tài cũng có thể được thực hiện ở các Tỉnh và Thành phố khác.

Ngoài ra, các đề tài khác có thể mở rộng đối tượng độ tuổi để có thể xây

dựng khái niệm khái quát hơn.

Thực hiện thử nghiệm các biện pháp đã đề ra trong đề tài, bổ sung những

thiếu sót, hạn chế mà đề tài chưa thể làm được.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt:

Bùi Hồng Quân (2010), Kỹ năng tự đánh giá của thiếu niên đang sống tại 1.

các trung tâm bảo trợ xã hội trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, Luận

văn Thạc sĩ Tâm lý học, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bùi Văn Huệ, Phan Thị Hạnh Mai, Nguyễn Xuân Thức (2008), Tâm lí học 2.

tiểu học, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội.

Đỗ Long, Phan Thị Mai Hương (2002), Tính cộng đồng tính cá nhân và 3.

“cái tôi” của người Việt Nam hiện nay, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

Đoàn Huy Oánh (2005), Tâm lý sư phạm, NXB. Đại học quốc gia Thành 4.

phố Hồ Chí Minh.

GS.TS. Vũ Dũng (chủ biên) (2000), Từ điển tâm lý học, NXB Khoa học 5.

xã hội, Hà Nội.

GS.TS. Vũ Dũng (chủ biên) (2008), Từ điển tâm lý học, NXB Từ điển 6.

bách khoa, Hà Nội.

GS. VS. Phạm Minh Hạc, PGS. TS. Lê Đức Phúc (chủ biên) (2004), Một 7.

số vấn đề nghiên cứu nhân cách, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

Lê Ngọc Lan (1985), Sự tự đánh giá và quá trình phát triển nhân cách 8.

sinh viên, Tạp chí Đại học và Trung học chuyên nghiệp (số tháng 1), tr 24

– 25.

Lêônchiep A.N (1979), Sự phát triển tâm lý trẻ em – Trường SP Mẫu giáo 9.

TW3-Thành phố Hồ Chí Minh.

10. Lêônchiep A.N: Hoạt động, ý thức, Nhân cách -NXB Giáo dục Hà Nội.

11. Lưu Hồng Khanh (2005), Tâm lý học chuyên sâu và những tầng sâu vô

thức, NXB. Trẻ.

12. Nguyễn Khắc Viện (chủ biên) (1991), Từ điển tâm lý, NXB. Ngoại văn –

Trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ em, Hà Nội.

13. Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên), Trần Hữu Luyến, Trần Quốc Thành

(1998), Tâm lí học đại cương, NXB. Đại học quốc gia Hà Nội.

14. Nguyễn Văn Đồng (2004), Tâm lý học phát triển, NXB. Chính trị quốc

gia, Hà Nội.

15. Nguyễn Xuân Thức (chủ biên) (2006), giáo trình Tâm lý học đại cương,

NXB. Đại học sư phạm.

16. Phạm Minh Hạc (2003), Một số công trình tâm lý học A.N Lêônchép,

NXB. Giáo dục.

17. Phan Trọng Ngọ (chủ biên), Nguyễn Đức Hưởng (2003), Các lý thuyết

phát triển tâm lý người, NXB. Đại học sư phạm, Hà Nội.

18. Roberts Feldman (2004), biên dịch: Minh Đức – Hồ Kim Chung, Tâm lý

học căn bản, NXB. Văn hóa thông tin, Hà Nội.

19. S. Yamuna (2009), Sao chẳng ai chịu hiểu con, NXB. Lao động xã hội,

Hà Nội.

20. Trung tâm tâm lý học – sinh lý học lứa tuổi (2001), Một số đặc điểm sinh

lý và tâm lý của học sinh tiểu học ngày nay, NXB. Đại học quốc gia, Hà

Nội.

21. TS. Lê Thị Minh Hà (2008), tài liệu bài giảng Tâm lý học nhận thức,

Thành phố Hồ Chí Minh.

22. TS. Nguyễn Thị Bích Hạnh, TS. Trần Thị Thu Mai (2007), Tâm lý học

tiểu học và tâm lý học sư phạm tiểu học, Hà Nội.

23. TS. Trần Thị Quốc Minh, tài liệu tham khảo môn tâm lý học phần Nhân

cách và giáo dục nhân cách, Thành phố Hồ Chí Minh.

24. Vũ Thị Nho, Tâm lý học phát triển, NXB. Đại Học Quốc Gia, Hà Nội.

25. Phạm Thị Hương (2005), Một số biện pháp hình thành khả năng tự nhận

thức bản thân cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi, Luận văn Thạc sỹ Tâm lý học,

Hòa Bình.

26. Nguyễn Kế Hào (1992), Học sinh tiểu học và nghề dạy học, NXB Giáo

dục, Hà Nội.

27. V. X. Mukhina (1981), L. A. Venghe (chủ biên), Thế Trường (Dịch), Tâm

lý học mẫu giáo – tập II, NXB. Giáo dục.

Tiếng Anh:

28. William James (1890), The principles of Psychology, The consciousness

Seft, chapter X.

29. Greenwald, A.G.,& Pratkanis, A. R. (1984). The seft. In R. S. Wyer & T.

K. Srull (Eds.), Handbook of social cognition, pp. 129 – 178.

30. Maureen E. Kenny, Joann Griffiths and Jennifer Grossman (2005), Seft-

image and parental attachment among late adolescents in Belize,

Department of Counseling, Developmental, and Educational Spychology, -

Boston College, USA.

United Arab Emirates University, United Arab Emirates. -

Philipe Rochat (2003), Five levels of self-awareness as they unfold early 31.

in life, Department of Pspychology, Emory University, 532 North Kilgo

Circle, Atlanta, Ga 30322, USA.

32. Richard J. Crisp, Rhiannon N. Turner (2007), Essential social psychology,

0TUhttp://www.who.int/childgrowth/standardsU0T

USA.

33.

JB Asendorpf, Jens B, Baudonniere, Pierre-Marrie (1993), Developmental 34.

Spychology, Vol 29 (1).

35. Text book (2006), The seft – essential social psychology, England.

http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn 36.

http://vi.wikipedia.org 37.

PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1

Phiếu thăm dò ý kiến lần 1

Em vui lòng trả lời những câu hỏi sau theo suy nghĩ của mình nhé!

Phần 1: Thông tin chung

1.1. Giới tính:

 Nam

 Nữ

1.2. Học lớp:

 4

 5

Nặng: …….. kg 1.3. Em cao: ………. m

1.4. Tuổi: ………….

1.5. Kết quả học tập của em:

 Xuất sắc

 Giỏi

 Khá

 Trung bình

 Yếu

 Kém

1.6. Em sống với ai?

................................................................................................

1.7. Ngoài việc học ở trường, em tham gia các lớp sinh hoạt ngoại khóa

nào không? Viết tên (nếu có)

................................................................................................

Phần 2: Nội dung chi tiết

Câu 1: Em quan tâm đến hình thức của mình ở điểm gì?

............................................................................................................

2.2. Điểm nào sau đây là quan trọng nhất đối với em?

............................................................................................................

............................................................................................................

Vì sao? ................................................................................................

............................................................................................................

2.3. Em nhận thấy hình thức bên ngoài của mình như thế nào?

............................................................................................................

............................................................................................................

2.4. Em hài lòng về hình thức của mình không? Hài lòng/ không hài lòng ở

điểm gì?

............................................................................................................

............................................................................................................

2.5. Em thấy tích cách của mình như thế nào?

............................................................................................................

............................................................................................................

2.6. Em thích học môn nào ở trường? Vì sao?

............................................................................................................

............................................................................................................

2.7. Em có vai trò gì trong gia đình?

............................................................................................................

............................................................................................................

2.8. Em có vai trò gì trong lớp?

...........................................................................................................

...........................................................................................................

PHỤ LỤC 2:

Phiếu thăm dò ý kiến lần 2

Em thân mến!

Để có cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu đề tài “Tự nhận thức bản

thân của học sinh lớp 4, 5 trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm, Tp. Hồ Chí

Minh”, mong em trả lời các câu hỏi sau đây. Ý kiến của em sẽ là đóng góp

rất quan trọng cho việc nghiên cứu.

Trước khi trả lời, em hãy đọc thật kỹ câu hỏi và chọn ra cho mình

câu trả lời phù hợp nhất. Rất mong sự hợp tác nhiệt tình của em.

Phần 1: Những thông tin chung

Những thông tin này chỉ dùng để làm tài liệu cho việc nghiên cứu,

không vì mục đích đánh giá, xếp loại nên em hãy trả lời theo suy nghĩ của

mình nhé!

Họ và tên của em: ……………. Năm sinh ……….. 1.

2.

Giới tính:  Nam  Nữ

3.

4

5 Học lớp:  

Em cao: ….m….. Nặng: ……..kg 4.

5.

Tiên tiến

Trung bình

Kết quả xếp loại học tập học kỳ 1 của em ở trường :  Giỏi    Yếu

 Kém

6.

Em trai

Em gái Em sống với:  Ông  Bà  Ba  Mẹ  Người khác (ghi cụ thể)……  Anh  Chị  

Ngoài việc học ở trường, em có tham gia lớp sinh hoạt ngoại khóa 7.

 Không  Có (ghi rõ tên trung tâm)

nào không?

............................................................................................

Phần 2: Nội dung chi tiết Tiếp theo, em hãy đánh dấu “X” vào ô trống có ý trùng với suy nghĩ của mình: Câu 1: Em quan tâm đến vẻ bề ngoài của mình ở điểm gì? (chọn 3 câu trả

 Chiều cao  Cân nặng  Khuôn mặt  Dáng người  Màu da  Cách ăn mặc

lời)

Câu 2: Điểm nào sau đây là quan trọng nhất đối với em? (chọn 1 câu trả

lời)

 Chiều cao  Cân nặng  Khuôn mặt  Dáng người  Màu da  Cách ăn mặc

Vì sao? ................................................................................................

............................................................................................................

Câu 3: Em nhận thấy vẻ bề ngoài của mình như thế nào?

(Ở mỗi hình thức, em đánh dấu vào đặc điểm phù hợp với mình)

Hình thức Mô tả

Chiều cao

Cân nặng

Khuôn mặt

Dáng người

Màu da

 Cao  Trung bình  Thấp  Mập  Vừa  Ốm  Đẹp  Bình thường  Không đẹp  To  Vừa  Nhỏ  Trắng  Ngăm  Đen  Hợp thời trang

Cách ăn mặc

 Bình thường  Chưa đẹp

Câu 4: Em hài lòng về vẻ bề ngoài của mình như thế nào?

(Ở mỗi hình thức, em đánh dấu vào ô tương ứng với suy nghĩ của mình)

Hình thức Rất hài Hài lòng Không hài

lòng lòng

Chiều cao

Cân nặng

Khuôn mặt

Dáng người

Màu da

Cách ăn mặc

Câu 5: Em nhận thấy mình học giỏi môn nào ở trường?

(Chọn 3 môn và đánh dấu thứ tự 1, 2, 3, trong đó 1 là môn em học giỏi nhất)

  Tiếng Việt  Khoa học  Lịch sử  Địa lý

Toán

 Mỹ thuật  Kỹ thuật  Thể dục  Đạo đức  Âm nhạc

Câu 6: Em thích học những môn nào ở trường?

(Chọn 3 môn và đánh dấu thứ tự 1, 2, 3 theo mức độ thích, trong đó 1 là

môn em thích nhất)

Toán

Tiếng Việt

Khoa học

Lịch sử

Địa lý

Kỹ thuật

Thể dục

Đạo đức

      Mỹ thuật    

Âm nhạc

Vì sao? ................................................................................................

Câu 7: Em nhận thấy mình có những tính nào sau đây? (có thể chọn nhiều

câu trả lời)

Trầm lặng, ít nói

   Mạnh dạn  Nhút nhát  Nóng nảy, khó bình tĩnh  Chưa suy nghĩ kỹ trước khi làm việc gì

Sôi nổi, hay cười nói

Thật thà

Lười biếng

 Dễ tin người khác  Hay bắt chước  Đức tính khác (ghi rõ)  Dễ dàng tha thứ cho người khác  Ham học, thích tìm hiểu   Bướng bỉnh   Cẩu thả   Khi có đồ ăn/đồ chơi/ … không muốn chia sẻ với người khác

Thích gì làm đó

Câu 8: Em muốn có tính nào trong những tính sau đây? (có thể chọn nhiều

câu trả lời)

Trầm lặng, ít nói

Sôi nổi, hay cười nói

Thật thà

   Mạnh dạn  Nhút nhát  Nóng nảy, khó bình tĩnh  Chưa suy nghĩ kỹ trước khi làm việc gì  Dễ tin người khác  Hay bắt chước  Đức tính khác (ghi rõ)……………  Dễ dàng tha thứ cho người khác  Ham học, thích tìm hiểu   Bướng bỉnh   Cẩu thả

Lười biếng

  Khi có đồ ăn/đồ chơi/ … không muốn chia sẻ với người khác

Thích gì làm đó

Câu 9: Em hãy liệt kê từ 1 đến 5 điểm tốt và 1 đến 5 điểm chưa tốt của

mình

Điểm tốt Điểm chưa tốt

1. 1.

2. 2.

3. 3.

4. 4.

5. 5.

Câu 10: Em có bao nhiêu bạn thân? (chọn 1 câu trả lời)

1 bạn

2 – 5 bạn

5 – 10 bạn

   

Trên 10 bạn

 Bạn cùng tổ  Bạn cùng lớp  Bạn cùng nhóm  Bạn cùng trường  Bạn cùng xóm  Bạn khác (ghi rõ)……………..

Câu 11: Những bạn mà em chơi thân là: (có thể chọn nhiều câu trả lời)

Câu 12: Bạn bè thường tìm đến em trong trường hợp nào sau đây? (chọn 1

câu trả lời)

 Khi em có đồ chơi mới  Khi em có đồ ăn  Khi bạn có chuyện buồn  Khi bạn có chuyện vui  Khi bạn cần lời khuyên  Khi bạn cần em giúp đỡ

 Ba  Mẹ  Người thân khác trong gia đình

Câu 13: Em thường tâm sự với ai? (chọn 1 câu trả lời)

Ghi rõ:…………………… o

Thầy/ cô giáo chủ nhiệm

 Bạn cùng tổ  Bạn cùng nhóm  Bạn cùng lớp  Bạn cùng trường  Bạn cùng xóm  

Thầy/ cô giáo trong trường

Câu 14: Trong gia đình, ai là người em yêu quý nhất? (chọn 1 câu trả lời)

Em trai

 Ông (ngoại/ nội)  Bà (ngoại/ nội)  Ba  Mẹ  Anh  Chị    Người khác (ghi rõ) ………………………

Em gái

Câu 15: Ba mẹ thường hỏi ý kiến của em trong những trường hợp nào sau

đây? (có thể chọn nhiều câu trả lời)

 Mua sách vở, dụng cụ học tập cho em  Mua quần áo cho em  Mua đồ chơi cho em  Mua đồ dùng trong nhà  Chọn địa điểm để cả nhà đi du lịch/ chơi  Chọn địa điểm tổ chức sinh nhật cho em   Việc khác

Trang trí nhà cửa

(ghirõ)…………………………………………………………  Không có việc nào cả

 Rất quan trọng  Quan trọng  Không quan trọng

Câu 16: Em nhận thấy mình có vai trò như thế nào trong gia đình?

Câu 17: Em giữ vai trò nào trong lớp? (có thể chọn nhiều câu trả lời)

Lớp trưởng

Lớp phó

Tổ trưởng

Tổ phó

Thường nhắc các bạn giữ vệ sinh

       Giúp bạn trong học tập  Giúp đỡ khi thầy/ cô cần

Thường giúp đỡ khi bạn khiêng, vác đồ nặng

Câu 18: Em thường nghe theo lời của ai nhất?(chỉ chọn 1 câu trả lời)

Ông

Thầy/ cô

Bạn bè

   Ba  Mẹ   

Người khác (ghi rõ)…………

Cảm ơn em 

PHỤ LỤC 3:

Phiếu thăm dò ý kiến dành cho học sinh

Em thân mến!

Để có cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu đề tài “Tự nhận thức bản

thân của học sinh lớp 4, 5 trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm, Tp. Hồ Chí

Minh”, mong em trả lời các câu hỏi sau đây. Ý kiến của em sẽ là đóng góp

rất quan trọng cho việc nghiên cứu.

Trước khi trả lời, em hãy đọc thật kỹ câu hỏi và chọn ra cho mình

câu trả lời phù hợp nhất. Rất mong sự hợp tác nhiệt tình của em.

Phần 1: Những thông tin chung

Những thông tin này chỉ dùng để làm tài liệu cho việc nghiên cứu,

không vì mục đích đánh giá, xếp loại nên em hãy trả lời theo suy nghĩ của

mình nhé!

Họ và tên của em: ……………………….. Năm sinh ………… 1.

2.

Giới tính:  Nam  Nữ

3.

4

5 Học lớp:  

Em cao: …….. m ……. Nặng: ………… kg 4.

5.

Tiên tiến

Trung bình

Kết quả xếp loại học tập học kỳ 1 của em ở trường:  Giỏi    Yếu

 Kém

6.

Em trai

Em gái

Em sống với:  Ông  Bà  Bố  Mẹ  Anh  Chị    Người khác (ghi cụ thể) ………..

Ngoài việc học ở trường, em có tham gia lớp sinh hoạt ngoại khóa 7.

 Không  Có (ghi rõ tên trung tâm)

nào không?

…………………………………………………………

Phần 2: Nội dung chi tiết

Tiếp theo, em hãy đánh dấu “X” vào ô trống có ý trùng với suy nghĩ của

mình:

Câu 1: Em quan tâm đến vẻ bề ngoài của mình ở điểm gì? (chọn 3 câu trả

 Chiều cao  Cân nặng  Khuôn mặt  Dáng người  Màu da  Cách ăn mặc

lời)

Câu 2: Điểm nào sau đây là quan trọng nhất đối với em? (chọn 1 câu trả

 Chiều cao  Cân nặng  Khuôn mặt  Dáng người  Màu da  Cách ăn mặc

lời)

Vì sao? ................................................................................................

Câu 3: Em nhận thấy vẻ bề ngoài của mình như thế nào?

(Ở mỗi hình thức, em đánh dấu vào đặc điểm phù hợp với mình)

Hình thức Mô tả

Chiều cao

Cân nặng

Khuôn mặt

Dáng người

 Cao  Trung bình  Thấp  Mập  Vừa  Ốm  To  Vừa  Nhỏ  To  Vừa  Nhỏ  Trắng  Ngăm

Màu da

 Đen  Hợp thời trang  Bình thường  Chưa đẹp

Cách ăn mặc

Câu 4: Em hài lòng về vẻ bề ngoài của mình như thế nào?

(Ở mỗi hình thức, em đánh dấu vào ô tương ứng với suy nghĩ của mình)

Hình thức Rất hài lòng Hài lòng Không hài

lòng

Chiều cao

Cân nặng

Khuôn mặt

Dáng người

Màu da

Cách ăn mặc

Câu 5: Em nhận thấy mình học giỏi môn nào ở trường?

(Chọn 3 môn và đánh dấu thứ tự 1, 2, 3 trong đó 1 là môn em học giỏi nhất)

  Tiếng Việt  Khoa học  Lịch sử  Địa lý  Mỹ thuật  Kỹ thuật  Thể dục  Đạo đức

Toán

 Âm nhạc

Câu 6: Em thích học những môn nào ở trường?

(Chọn 3 môn và đánh dấu thứ tự 1, 2, 3 theo mức độ thích, trong đó 1 là

môn em thích nhất)

  Tiếng Việt  Khoa học  Lịch sử  Địa lý  Mỹ thuật  Kỹ thuật  Thể dục  Đạo đức  Âm nhạc

Toán

Vì sao? ...............................................................................................

Câu 7: Em nhận thấy mình có những tính nào sau đây? (có thể chọn nhiều

câu trả lời)

Trầm lặng, ít nói

   Mạnh dạn  Nhút nhát  Nóng nảy, khó bình tĩnh  Chưa suy nghĩ kỹ trước khi làm việc gì  Dễ tin người khác  Hay bắt chước  Đức tính khác (ghi rõ)  Dễ dàng tha thứ cho người khác

Sôi nổi, hay cười nói

Lười biếng

 Ham học, thích tìm hiểu  Thật thà  Bướng bỉnh   Cẩu thả   Khi có đồ ăn, đồ chơi, … không muốn chia sẻ với người khác

Thích gì làm đó

Câu 8: Em hãy liệt kê từ 1 đến 5 điểm tốt và 1 đến 5 điểm chưa tốt của mình

Điểm tốt Điểm chưa tốt

1. 1.

2. 2.

3. 3.

4. 4.

5. 5.

Câu 9: Em có bao nhiêu bạn thân? (Chọn 1 câu trả lời)

1 bạn

2 – 5 bạn

5 – 10 bạn

   

Trên 10 bạn

 Bạn cùng tổ  Bạn cùng lớp  Bạn cùng nhóm  Bạn cùng trường  Bạn cùng xóm  Bạn khác (ghi rõ)

Câu 10: Những bạn mà em chơi thân là: (Có thể chọn nhiều câu trả lời)

............................................................

Câu 11: Em thường tâm sự với ai? (Chọn 1 câu trả lời)

 Bố  Mẹ  Người thân khác trong gia đình (ghi rõ) …………  Bạn bè 

Thầy/ cô

Câu 12: Trong gia đình, ai là người em yêu quý nhất? (chọn 1 câu trả lời)

Em trai

 Ông  Bà  Bố  Mẹ  Anh  Chị    Người khác (ghi rõ) ………

Em gái

Câu 13: Bố mẹ thường hỏi ý kiến của em trong những trường hợp nào sau

đây? (Có thể chọn nhiều câu trả lời)

 Mua sách vở, dụng cụ học tập cho em  Mua quần áo cho em  Mua đồ chơi cho em  Mua đồ dùng trong nhà  Chọn địa điểm để cả nhà đi du lịch/ đi chơi  Chọn địa điểm để tổ chức sinh nhật cho em   Việc khác (ghi rõ) ………………………  Không có việc nào cả

Trang trí nhà cửa

 Rất quan trọng  Quan trọng  Không quan trọng

Câu 14: Em nhận thấy mình có vai trò như thế nào trong gia đình?

Câu 15: Em giữ vai trò nào trong lớp?(Có thể chọn nhiều câu trả lời)

Lớp trưởng

Lớp phó

Tổ trưởng

Tổ phó

Thường nhắc các bạn giữ vệ sinh

       Giúp bạn trong học tập  Giúp đỡ khi thầy/ cô cần

Thường giúp đỡ khi bạn khiêng đồ nặng

Rất cảm ơn em đã hợp tác.

Chúc em luôn mạnh khỏe và học giỏi. 

PHỤ LỤC 4:

Phiếu thăm dò ý kiến dành cho phụ huynh

Quý phụ huynh thân mến!

Tự nhận thức bản thân là một trong những kỹ năng quan trọng trong

quá trình hình thành nhân cách của các em học sinh. Để đưa ra biện pháp

hỗ trợ các em nhận thức rõ hơn về bản thân mình, chúng tôi nghiên cứu đề

tài: “Tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 5 trường tiểu học Nguyễn

Bỉnh Khiêm, Tp. Hồ Chí Minh”. Những ý kiến sau đây của quý phụ huynh

sẽ góp phần làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu đề tài.

Rất mong sự hợp tác của quý phụ huynh!

Phần 1: Những thông tin chung

Chúng tôi cam đoan những thông tin này chỉ sử dụng làm tài liệu cho

quá trình nghiên cứu.

Họ và tên của con anh/ chị: ……..…………… Năm sinh ………. 1.

2.

Giới tính:  Nam  Nữ

3.

4

5 Học lớp:  

Em cao: …….. m ……. Nặng: ………… kg 4.

5.

Tiên tiến

Trung bình

Kết quả xếp loại học tập học kỳ 1 của em ở trường:  Giỏi    Yếu

 Kém

6.

Em trai

Em gái

Em đang sống với:  Ông  Bà  Bố  Mẹ  Anh  Chị    Người khác (ghi cụ thể) ………..

Ngoài việc học ở trường, em có tham gia lớp sinh hoạt ngoại khóa 7.

 Không  Có (ghi rõ tên trung tâm)

nào không?

…………………………………………………………

Phần 2: Nội dung chi tiết

Câu 1: Anh/ chị nhận thấy vẻ bề ngoài của con mình như thế nào?

(Ở mỗi hình thức, anh/ chị đánh dấu “X” vào ô trống tương ứng với suy

nghĩ của mình)

Hình thức Mô tả

Chiều cao

 Cao  Trung bình  Thấp  Mập  Vừa  Ốm

Cân nặng

Khuôn mặt

Dáng người

Màu da

 To  Vừa  Nhỏ  To  Vừa  Nhỏ  Trắng  Ngăm  Đen  Hợp thời trang  Bình thường  Chưa đẹp

Cách ăn mặc

Câu 2: Anh/ chị nhận thấy con mình học giỏi môn nào ở trường?

(Chọn 3 môn và đánh dấu thứ tự 1, 2, 3 trong đó 1 là môn em học giỏi nhất)

  Tiếng Việt  Khoa học  Lịch sử  Địa lý  Mỹ thuật  Kỹ thuật  Thể dục  Đạo đức  Âm nhạc

Toán

Câu 3: Anh/chị nhận thấy con mình có những tính nào sau đây? (có thể

chọn nhiều câu trả lời)

Trầm lặng, ít nói

Sôi nổi, hay cười nói

Lười biếng

  Mạnh dạn  Nhút nhát  Nóng nảy, khó bình tĩnh  Chưa suy nghĩ kỹ trước khi làm việc gì  Dễ tin người khác  Hay bắt chước  Đức tính khác (ghi rõ)  Dễ dàng tha thứ cho người khác  Ham học, thích tìm hiểu  Thật thà  Bướng bỉnh   Cẩu thả   Khi có đồ ăn, đồ chơi, … không muốn chia sẻ với người khác

Thích gì làm đó

Câu 4: Anh/ chị vui lòng liệt kê từ 1 đến 5 điểm tốt và 1 đến 5 điểm chưa

tốt của con mình

Điểm tốt Điểm chưa tốt

1. 1.

2. 2.

3. 3.

4. 4.

5. 5.

Câu 5: Anh/ chị thường hỏi ý kiến của con mình trong những trường hợp

 Mua sách vở, dụng cụ học tập cho em  Mua quần áo cho em

nào sau đây? (Có thể chọn nhiều câu trả lời)

Chọn địa điểm để cả nhà đi du lịch/ đi chơi

Chọn địa điểm để tổ chức sinh nhật cho em

Trang trí nhà cửa

Việc khác (ghi rõ) ……………………………………

 Mua đồ chơi cho em  Mua đồ dùng trong nhà     

Không có việc nào cả

Câu 6: Con anh/ chị thường tâm sự với ai trong gia đình? (Chọn 1 câu trả

 Ông  Bà  Bố  Mẹ  Anh  Chị  Người thân khác (ghi rõ) …………

lời)

Câu 7: Trong gia đình, con anh/ chị thường nghe theo lời của ai nhất?

 Ông  Bà  Bố  Mẹ  Anh  Chị  Người thân khác (ghi rõ) ……

(Chọn 1 câu trả lời)

Rất cảm ơn anh/ chị đã hợp tác.

Chúc anh/ chị luôn mạnh khỏe và công tác tốt. 

PHỤ LỤC 5:

Phiếu thăm dò ý kiến dành cho giáo viên

Quý thầy cô kính mến!

Tự nhận thức bản thân là một trong những kỹ năng quan trọng trong

quá trình hình thành nhân cách của các em học sinh. Để đưa ra các biện

pháp hỗ trợ các em nhận thức rõ hơn về bản thân mình, chúng tôi nghiên

cứu đề tài:“Tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 5 trường tiểu học

Nguyễn Bỉnh Khiêm, Tp. Hồ Chí Minh”, những ý kiến sau đây của quý

thầy cô sẽ góp phần làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu đề tài.

Rất mong sự hợp tác của quý thầy cô!

Phần 1: Những thông tin chung

Chúng tôi cam đoan những thông tin này chỉ sử dụng làm tài liệu cho quá

trình nghiên cứu.

Họ và tên của học sinh: …………………………………… 1.

2.

Giới tính:  Nam  Nữ

3.

4

5 Học lớp:  

4.

Tiên tiến

Trung bình

Kết quả xếp loại học tập học kỳ 1 của em ở trường:  Giỏi    Yếu  Kém

Ngoài việc học ở trường, em có tham gia lớp sinh hoạt ngoại khóa 5.

 Không  Có (ghi rõ tên trung tâm)

nào không?

…………………………………………………………

Phần 2: Nội dung chi tiết

Câu 1: Thầy/ cô nhận thấy vẻ bề ngoài của em như thế nào?

(Ở mỗi hình thức, thầy/ cô đánh dấu “X” vào ô tương ứng với với suy nghĩ

của mình)

Hình thức Mô tả

Chiều cao

Cân nặng

Khuôn mặt

Dáng người

Màu da

 Cao  Trung bình  Thấp  Mập  Vừa  Ốm  To  Vừa  Nhỏ  To  Vừa  Nhỏ  Trắng  Ngăm  Đen  Hợp thời trang  Bình thường  Chưa đẹp

Cách ăn mặc

Câu 2: Thầy/ cô nhận thấy em học giỏi môn nào ở trường?

(Chọn 3 môn và đánh dấu thứ tự 1, 2, 3 trong đó 1 là môn em học giỏi

nhất)

  Tiếng Việt  Khoa học  Lịch sử  Địa lý  Mỹ thuật  Kỹ thuật  Thể dục  Đạo đức  Âm nhạc

Toán

Câu 3: Thầy/ cô nhận thấy em có những tính nào sau đây? (có thể chọn

nhiều câu trả lời)

Trầm lặng, ít nói

Sôi nổi, hay cười nói

   Mạnh dạn  Nhút nhát  Nóng nảy, khó bình tĩnh  Chưa suy nghĩ kỹ trước khi làm việc gì  Dễ tin người khác  Hay bắt chước  Đức tính khác (ghi rõ)  Dễ dàng tha thứ cho người khác  Ham học, thích tìm hiểu 

Thật thà

Lười biếng

 Bướng bỉnh   Cẩu thả   Khi có đồ ăn, đồ chơi, … không muốn chia sẻ với người khác

Thích gì làm đó

Câu 4: Em có vai trò như thế nào trong lớp? (Có thể chọn nhiều câu trả

lời)

Lớp trưởng

Lớp phó

Tổ trưởng

Tổ phó

Thường nhắc các bạn giữ vệ sinh

       Giúp bạn trong học tập  Giúp đỡ khi thầy/ cô cần

Thường giúp đỡ khi bạn khiêng đồ nặng

Rất cảm ơn thầy/cô đã hợp tác.

Chúc thầy/cô luôn mạnh khỏe và công tác tốt. 

121

PHỤ LỤC 6:

Giáo án trò chơi

STT Nội dung hoạt động Thời lượng Phụ trách

1 3 phút 1. Tập trung:

Trẻ đứng thành vòng tròn, GV cùng đứng GV hướng

dẫn trong vòng tròn với trẻ

2. Giới thiệu trò chơi:

Trẻ lần lượt giới thiệu những thông tin về

mình và hướng bàn tay về một bạn bất kỳ

trong trong tròn để chuyển lượt

Luật chơi:

- Sau 3 tiếng đếm mà chưa nói ra chủ đề

của mình thì bị qua lượt.

- Không chuyển lượt cho người vừa

chuyển cho mình.

Lưu ý:

Trong trường hợp sau 3 tiếng đếm trẻ vẫn

chưa có câu trả lời, bằng cách nào đó, trẻ phải

có thông tin ở lượt sau.

Một số hình phạt nhanh dành cho trẻ:

- Làm con lăng quăng

- Nặn tượng

- Chạy xung quanh vòng tròn 1 lần

2 2 phút GV hướng 3. Khởi động:

dẫn - GV nói to chủ đề: TÊN

- GV giới thiệu tên mình và nhanh chóng

chuyển lượt cho một trẻ trong vòng tròn.

- Trẻ nhận lượt nhanh chóng nói to tên mình

122

và tiếp tục chuyển lượt cho 1 trẻ khác cho

đến khi tất cả trẻ đều giới thiệu tên.

• GV cho trẻ nhắc lại tên của bạn vừa

chuyển lượt để tạo sự chú ý.

3 20 phút 4. Bắt đầu trò chơi:

GV hướng - GV nói to chủ đề: CHIỀU CAO (cao bao

dẫn nhiêu m?)

- Trẻ đang trong lượt nhanh chóng nói ra

chiều cao của mình và chuyển lượt cho một

bạn khác.

- Trò chơi tương tự với các chủ đề:

+ Cân nặng (nặng bao nhiêu kg?)

+ Cao, vừa hay thấp?

+ Mập, vừa hay ốm?

+ Màu da (trắng, ngăm, đen)

+ Vóc dáng (to, vừa, nhỏ)

+ Môn học giỏi nhất (được điểm cao)

+ Môn học thích nhất

+ Ước mơ

+ Sinh nhật

+ …

4 5 phút GV hướng 5. Đúc kết:

GV có thể hỏi bất kỳ một trẻ nào những dẫn

thông tin vừa chơi: Người

VD: Tên, chiều cao, cân nặng, môn học yêu nghiên

thích cứu

Trẻ trình bày về những điều đã đạt được

sau trò chơi.

Nói lời chào tạm biệt.

123

PHỤ LỤC 7:

Mẫu biên bản quan sát biểu hiện tự nhận thức bản thân của học sinh

lớp 4, 5 trong buổi sinh hoạt tập thể

1. Mức độ tập trung chú ý của trẻ khi tham gia trò chơi.

1.1. Chấp hành cách yêu cầu của giáo viên

......................................................................................................................

......................................................................................................................

......................................................................................................................

1.2. Chấp hành luật chơi

......................................................................................................................

......................................................................................................................

......................................................................................................................

1.3. Thông tin khác

......................................................................................................................

......................................................................................................................

......................................................................................................................

2. Mức độ tích cực tham gia các yêu cầu trong hoạt động.

2.1. Thái độ của trẻ khi tham gia trò chơi

......................................................................................................................

......................................................................................................................

......................................................................................................................

2.2. Thông tin khác

......................................................................................................................

......................................................................................................................

......................................................................................................................

3. Mức độ tương tác với các bạn

3.1. Hỏi bạn trước khi trả lời

......................................................................................................................

......................................................................................................................

124

3.2. Nhớ tên bạn

......................................................................................................................

......................................................................................................................

......................................................................................................................

3.3. Thông tin khác

......................................................................................................................

......................................................................................................................

......................................................................................................................

Biểu hiện tự nhận thức bản thân của trẻ 4.

4.1. Tên

......................................................................................................................

......................................................................................................................

......................................................................................................................

4.2. Chiều cao

Trả lời -

......................................................................................................................

......................................................................................................................

Hỏi bạn -

......................................................................................................................

......................................................................................................................

Không trả lời -

......................................................................................................................

......................................................................................................................

4.3. Cân nặng

Trả lời -

......................................................................................................................

......................................................................................................................

125

-

Hỏi bạn

......................................................................................................................

......................................................................................................................

Không trả lời -

......................................................................................................................

......................................................................................................................

4.4. Khuôn mặt

Trả lời -

......................................................................................................................

......................................................................................................................

Hỏi bạn -

......................................................................................................................

......................................................................................................................

Không trả lời -

......................................................................................................................

......................................................................................................................

4.5. Dáng người

Trả lời -

......................................................................................................................

......................................................................................................................

Hỏi bạn -

......................................................................................................................

......................................................................................................................

Không trả lời -

......................................................................................................................

......................................................................................................................

126

4.6. Màu da

Trả lời -

......................................................................................................................

......................................................................................................................

Hỏi bạn -

......................................................................................................................

......................................................................................................................

Không trả lời -

......................................................................................................................

......................................................................................................................

4.7. Cách ăn mặc

Trả lời -

......................................................................................................................

......................................................................................................................

Hỏi bạn -

......................................................................................................................

......................................................................................................................

Không trả lời -

......................................................................................................................

......................................................................................................................

4.8. Môn học yêu thích

Trả lời -

......................................................................................................................

......................................................................................................................

Hỏi bạn -

......................................................................................................................

......................................................................................................................

127

-

Không trả lời

......................................................................................................................

......................................................................................................................

4.9. Môn học đạt điểm cao

Trả lời -

......................................................................................................................

......................................................................................................................

Hỏi bạn -

......................................................................................................................

......................................................................................................................

Không trả lời -

......................................................................................................................

......................................................................................................................

4.10. Tính tình

Trả lời -

......................................................................................................................

......................................................................................................................

Hỏi bạn -

......................................................................................................................

......................................................................................................................

Không trả lời -

......................................................................................................................

......................................................................................................................

4.11. Ưu điểm

Trả lời -

......................................................................................................................

......................................................................................................................

128

-

Hỏi bạn

......................................................................................................................

......................................................................................................................

Không trả lời -

......................................................................................................................

......................................................................................................................

4.12. Nhược điểm

Trả lời -

......................................................................................................................

......................................................................................................................

Hỏi bạn -

......................................................................................................................

......................................................................................................................

Không trả lời -

......................................................................................................................

......................................................................................................................

4.13. Số bạn thân

Trả lời -

......................................................................................................................

......................................................................................................................

Hỏi bạn -

......................................................................................................................

......................................................................................................................

Không trả lời -

......................................................................................................................

......................................................................................................................

129

PHỤ LỤC 8:

Biên bản quan sát biểu hiện tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4

trong buổi sinh hoạt tập thể

Quan sát viên: Lê Ngọc Bảo Trâm

Số lượng học sinh tham gia: 20 em trong đó có 50% là học sinh nam,

50% là học sinh nữ

Giáo viên hướng dẫn: Phan Lê Nhất Bá Nguyên Khôi – HDV KNS của

Trung tâm Phát triển Kỹ Năng Sống IDO.

Địa điểm: Sân trường Tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm

Thời gian: 19/05/2011

KẾT QUẢ QUAN SÁT

1. Mức độ tập trung chú ý của học sinh khi tham gia trò chơi.

1.1. Chấp hành cách yêu cầu của giáo viên

• Giáo viên yêu cầu học sinh di chuyển từ phòng học xuống sân trường, tập

trung thành vòng tròn

• Thông qua trò chơi “Bão thổi”, học sinh di chuyển và sắp xếp vị trí trong

vòng tròn lần lượt theo các tiêu chí:

- Nam – nữ đứng xen kẽ

- Các bạn cùng lớp không đứng cạnh nhau

Học sinh chú ý lắng nghe lời giới thiệu của giáo viên, ban đầu có vài

bạn nam trò chuyện riêng, sau khi được giáo viên nhắc nhở thì chú ý hơn.

Học sinh nữ hơi rụt rè hơn học sinh nam.

130

1.2. Chấp hành luật chơi

Sau khi được giáo viên giới thiệu trò chơi và luật chơi, học sinh

được chơi nháp ở chủ đề: Tên

Các em lần lượt giới thiệu tên mình và đưa tay về phía một bạn bất

kỳ, bạn nhận được lệnh sẽ giới thiệu tên mình, và cứ thế tiếp tục.

Yêu cầu của giáo viên là đưa hai bàn tay về hướng bạn khi cần

chuyển lệnh. Ban đầu có 3 học sinh nam là Trung Nghĩa, Tấn Trung, Quốc

Đạt chưa thuộc luật chơi nên chỉ tay về bạn. Sau khi được giáo viên nhắc

nhở, ba học sinh này cùng tất cả các học sinh còn lại làm theo luật.

Các em chú ý đến lời nói, cử chỉ của bạn mình để làm theo nếu được

giáo viên khen/ công nhận và tránh nếu giáo viên nhắc nhở.

2. Mức độ tích cực tham gia các yêu cầu trong hoạt động.

2.1. Thái độ của học sinh khi tham gia trò chơi

Ban đầu học sinh chưa hiểu rõ trò chơi nên còn rụt rè, mất thời gian

suy nghĩ khi nói. Sau khi chơi được hai vòng thì các em tỏ ra hứng thú với

trò chơi này. Học sinh nào cũng chú ý đến lời nói của bạn mình và trong tư

thế sẵn sàng đến lượt.

Trước những thông tin bất ngờ từ bạn, hay lời nói của bạn chưa đúng

đều gây cười cho các em. Điều đó càng tạo thêm hào hứng trong lúc chơi.

2.2. Thông tin khác: Không có

3. Mức độ tương tác với các bạn

3.1. Hỏi bạn trước khi trả lời

Các học sinh nữ thường hỏi bạn bên cạnh về thông tin của bạn mình khi

đến lượt.

131

Em Phương Nghi luôn tự tin trả lời mà không cần hỏi hai bạn bên cạnh.

Học sinh nam ít hỏi bạn hơn và nói đại thông tin nên thường bị sai.

Các bạn bên cạnh nhắc bạn trả lời, học sinh nam thì nhắc từ xa, học sinh

nữ thì nhắc nhỏ bên cạnh.

Các em thường nhắc bạn trong lúc chơi.

3.2. Nhớ tên bạn

Có 8/10 bạn học sinh nữ nhớ đúng tên của bạn trong vòng chơi đầu

tiên

Có 4/10 học sinh nam nhớ đúng tên của bạn trong vòng chơi đầu

tiên

Khi đến lượt mình, các bạn chưa kịp nhớ và gọi tên bạn, nhưng chú

ý đến bạn khác để tìm và nhớ thông tin.

Sau vòng chơi thứ hai, các em nhớ hết tên của 13 bạn còn lại.

Biểu hiện tự nhận thức bản thân của học sinh 4.

4.1. Tên

Có 20 học sinh nhớ và nói rõ tên mình.

4.1. Chiều cao, cân nặng

- Trả lời: 19 học sinh

- Hỏi bạn: 1 học sinh

- Không trả lời: Có 1 học sinh nam không trả lời được ở vòng chơi đầu tiên.

- Thông tin khác: Ở vòng chơi thứ nhất hầu hết học sinh đều trả lời được

chiều cao của mình, đến vòng chơi thứ hai thì có 10 học sinh trả lời đúng

132

với số chiều cao ban đầu, 10 trả lời khác. Ở vòng chơi thứ 3 có 16 học sinh

trả lời đúng với số chiều cao ban đầu.

4.2. Khuôn mặt

- Trả lời: 20 học sinh trả lời

- Hỏi bạn: Có 2 học sinh nữ hỏi nhau.

- Không trả lời: 0 học sinh

- Thông tin khác: Học sinh trả lời được đặc điểm của khuôn mặt mình ngay

từ vòng đầu tiên. Đa số học sinh cho rằng khuôn mặt của mình ở mức bình

thường.

4.3. Dáng người

- Trả lời: 20 học sinh

- Hỏi bạn: 5 học sinh

- Không trả lời: 0 học sinh

- Thông tin khác: Học sinh hơi do dự khi trả lời về dáng người của mình.

Sau khi được gợi ý (to con/ nhỏ con/ vừa) thì các em nhìn nhau, so sánh

với bạn của mình rồi trả lời.

4.4. Màu da

- Trả lời: 20 học sinh

- Hỏi bạn: có 3 học sinh nữ hỏi bạn, 2 học sinh nam hỏi bạn

- Không trả lời: 0 học sinh

- Thông tin khác: Học sinh lặp lại đúng đặc điểm về màu da ở vòng chơi

thứ hai, ba

133

4.5. Cách ăn mặc

- Trả lời: 20 học sinh

- Hỏi bạn: 0 học sinh

- Không trả lời: 0 học sinh

- Thông tin khác: Hầu hết học sinh cho rằng mình ăn mặc bình thường.

4.6. Môn học yêu thích

- Trả lời: 20 học sinh

- Hỏi bạn: 0 học sinh

- Không trả lời: 0 học sinh

4.7. Môn học đạt điểm cao

- Trả lời: 20 học sinh

- Hỏi bạn: 0 học sinh

- Không trả lời: 0 học sinh

- Thông tin khác: Suy nghĩ, do dự trước khi trả lời. Có 3 học sinh thay đổi

câu trả lời.

4.8. Tính tình

- Trả lời: 5 học sinh

- Hỏi bạn: 9 học sinh

- Không trả lời: 0 học sinh

- Thông tin khác: Do dự, suy nghĩ trước khi trả lời

4.9. Ưu điểm

134

- Trả lời: 20 học sinh

- Hỏi bạn: 0 học sinh

- Không trả lời: 0 học sinh

- Thông tin khác: Trả lời nhanh

4.10. Nhược điểm

- Trả lời: 20 học sinh

- Hỏi bạn: 0 học sinh

- Không trả lời: 0 học sinh

- Thông tin khác: Do dự khi trả lời

4.11. Số bạn thân

- Trả lời: 20 học sinh

- Hỏi bạn: 0 học sinh

- Không trả lời: 0 học sinh

- Thông tin khác: Trả lời rất nhanh

135

PHỤ LỤC 9:

Biên bản quan sát biểu hiện tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 5

trong buổi sinh hoạt tập thể

Quan sát viên: Lê Ngọc Bảo Trâm

Số lượng học sinh tham gia: 20 em trong đó có 10 là học sinh nam, 15 là

học sinh nữ

Giáo viên hướng dẫn: Phan Lê Nhất Bá Nguyên Khôi – HDV KNS của

Trung tâm Phát triển Kỹ Năng Sống IDO.

Địa điểm: Sân trường Tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm

Thời gian: 26/05/2011

KẾT QUẢ QUAN SÁT

1. Mức độ tập trung chú ý của học sinh khi tham gia trò chơi.

1.1. Chấp hành cách yêu cầu của giáo viên

• Giáo viên yêu cầu học sinh di chuyển từ phòng học xuống sân

trường, tập trung thành vòng tròn

• Thông qua trò chơi “Bão thổi”, học sinh di chuyển và sắp xếp vị

trí trong vòng tròn lần lượt theo các tiêu chí:

- Nam – nữ đứng xen kẽ

- Các bạn cùng lớp không đứng cạnh nhau

Học sinh chú ý lắng nghe lời giới thiệu của giáo viên, giáo viên

không cần nhắc nhở.

1.2. Chấp hành luật chơi

Sau khi được giáo viên giới thiệu trò chơi và luật chơi, học sinh

được chơi nháp ở chủ đề: Tên

Các em lần lượt giới thiệu tên mình và đưa tay về phía một bạn bất

kỳ, bạn nhận được lệnh sẽ giới thiệu tên mình, và cứ thế tiếp tục.

Học sinh chú ý đến lời hướng dẫn của giáo viên, đặt câu hỏi thắc mắc.

Ở vòng chơi đầu tiên, một số em nam còn ngại đưa hai tay về phía

bạn mình để chuyển lượt, sau khi quan sát các bạn làm thì các em mạnh

dạn làm theo.

136

2. Mức độ tích cực tham gia các yêu cầu trong hoạt động.

Học sinh hứng thú tham gia ngay từ vòng chơi đầu tiên.

Trước những thông tin bất ngờ từ bạn, hay lời nói của bạn chưa

đúng đều gây cười cho các em. Điều đó càng tạo thêm hào hứng trong

lúc chơi.

3. Mức độ tương tác với các bạn

3.1. Hỏi bạn trước khi trả lời

Các học sinh nữ thường hỏi bạn bên cạnh về thông tin của bạn mình

khi đến lượt.

Học sinh nam ít hỏi bạn hơn và nói đại thông tin nên thường bị sai.

Các em trả lời độc lập, chỉ có vài học sinh hỏi bạn bên cạnh và nhắc

bạn.

3.2. Nhớ tên bạn

Có 12 bạn học sinh nữ nhớ đúng tên của bạn trong vòng chơi đầu tiên

Có 7 học sinh nam nhớ đúng tên của bạn trong vòng chơi đầu tiên

Khi đến lượt mình, các bạn chưa kịp nhớ và gọi tên bạn, nhưng chú ý

đến bạn khác để tìm và nhớ thông tin.

Sau vòng chơi thứ hai, các em nhớ hết tên của 24 bạn còn lại.

Biểu hiện tự nhận thức bản thân của học sinh 4.

4.1. Tên

Có 20 học sinh nhớ và nói rõ tên mình.

4.2. Chiều cao, cân nặng

- Trả lời: 20học sinh

- Hỏi bạn: 3 học sinh

- Không trả lời: 0 học sinh

- Thông tin khác: Học sinh nói rất nhanh thông tin về chiều cao, cân

nặng khi đến lượt mình, số đo ở các vòng chơi sau không trùng với

số đo ở các vòng chơi trước.

137

4.3. Khuôn mặt

- Trả lời: 18 học sinh

- Hỏi bạn: 0 học sinh

- Không trả lời: 2 học sinh

- Thông tin khác: Học sinh trả lời được đặc điểm của khuôn mặt mình

ngay từ vòng đầu tiên. Đa số học sinh cho rằng khuôn mặt của mình

ở mức bình thường.

4.4. Dáng người

- Trả lời: 20 học sinh

- Hỏi bạn: 6 học sinh

- Không trả lời: 0 học sinh

- Thông tin khác: Học sinh thắc mắc về các đặc điểm của dáng người

trước khi trả lời.

4.5. Màu da

- Trả lời: 20 học sinh

- Hỏi bạn: 0 học sinh

- Không trả lời: 0 học sinh

- Thông tin khác: Học sinh lặp lại đúng đặc điểm về màu da ở vòng

chơi thứ hai, ba

4.6. Cách ăn mặc

- Trả lời: 20 học sinh

- Hỏi bạn: 0 học sinh

- Không trả lời: 0 học sinh

- Thông tin khác: Hầu hết học sinh cho rằng mình ăn mặc bình

thường.

4.7. Môn học yêu thích

- Trả lời: 20 học sinh

- Hỏi bạn: 0 học sinh

- Không trả lời: 0 học sinh

138

4.8. Môn học đạt điểm cao

- Trả lời: 20 học sinh

- Hỏi bạn: 0 học sinh

- Không trả lời: 0 học sinh

- Thông tin khác: Suy nghĩ, do dự trước khi trả lời.

4.9. Tính tình

- Trả lời: 20 học sinh

- Hỏi bạn: 13 học sinh

- Không trả lời: 0 học sinh

- Thông tin khác: Do dự, suy nghĩ trước khi trả lời

4.10. Ưu điểm

- Trả lời: 20 học sinh

- Hỏi bạn: 3 học sinh

- Không trả lời: 0 học sinh

- Thông tin khác: Suy nghĩ trước khi trả lời

4.11. Nhược điểm

- Trả lời: 20 học sinh

- Hỏi bạn: 0 học sinh

- Không trả lời: 0 học sinh

- Thông tin khác: Có 4 em do dự khi trả lời

4.12. Số bạn thân

- Trả lời: 20 học sinh

- Hỏi bạn: 0 học sinh

- Không trả lời: 0 học sinh

- Thông tin khác: Trả lời rất nhanh

139

PHỤ LỤC 10:

Một số hình ảnh trong buổi sinh hoạt tập thể

140