BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
- - - oo0oo- - -
LÊ NGỌC BẢO TRÂM
TỰ NHẬN THỨC BẢN THÂN CỦA HỌC SINH LỚP 4, 5 TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN BỈNH KHIÊM, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
- - - oo0oo- - -
Lê Ngọc Bảo Trâm
TỰ NHẬN THỨC BẢN THÂN CỦA HỌC SINH LỚP 4, 5 TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN BỈNH KHIÊM, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: 60 31 80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TIẾN SĨ NGUYỄN THỊ TỨ
Thành phố Hồ Chí Minh – 2011
LỜI CẢM ƠN
Để có thể thực hiện và hoàn thành luận văn này, trước hết, xin chân
thành cảm ơn Quý Thầy Cô trường Đại Học Sư Phạm Tp.HCM đã hướng
dẫn, giảng dạy lớp Cao học Tâm lý học khóa 19, niên khóa 2008 – 2010.
Kính gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến Tiến sĩ Nguyễn
Thị Tứ đã tận tâm giúp đỡ, động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong
quá trình hướng dẫn thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn cô Lê Thị Ngọc Điệp, hiệu trường trường Tiểu
học Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tạo điều kiện cho tôi được tiếp cận và thực hiện
các phương pháp nghiên cứu tại trường.
Xin chân thành cảm ơn các anh chị lớp Cao học Tâm lý học khóa 19 đã
động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện những bước đầu
của luận văn.
Và sau cùng, xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và các đồng
nghiệp đã luôn bên cạnh hỗ trợ để tôi có thể vượt qua những giai đoạn khó
khăn trong quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Lê Ngọc Bảo Trâm
MỤC LỤC
0TPHẦN MỞ ĐẦU0T ............................................................................................... 1
0TCHƯƠNG 10T: 0TCƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỰ NHẬN THỨC BẢN THÂN CỦA
0T1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu0T ........................................................................ 8
0T1.1.1.Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài0T ............................................................ 8 0T1.1.2. Các công trình nghiên cứu ở trong nước0T..........................................................13 0T1.2.Các khái niệm cơ bản0T ............................................................................... 14
0T1.2.1.Khái niệm về ý thức0T .................................................................................................14 0T1.2.2.Khái niệm về tự ý thức0T ............................................................................................20 0T1.2.3.Khái niệm về tự nhận thức bản thân0T ...................................................................23 0T1.2.3.1.Khái niệm nhận thức0T..........................................................................................23 0T1.2.3.2.Khái niệm tự nhận thức bản thân0T ..................................................................28 0T1.2.4.Khái niệm tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 50T ...............................31 0T1.2.4.1.Đặc điểm tâm lý lứa tuổi của học sinh lớp 4, 50T ................................ 31 0T1.2.4.2.Đặc điểm tự ý thức của học sinh lớp 4, 50T ......................................... 37 0T1.2.4.3.Đặc điểm tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 50T .................... 39 0T1.2.4.4.Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển sự tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 50T .................................................................. 40 0TCHƯƠNG 20T: 0TĐÁNH GIÁ NGHIÊN CỨU TỰ NHẬN THỨC BẢN THÂN
HỌC SINH LỚP 4, 5 BẬC TIỂU HỌC0T .......................................................... 8
0T2.1. Tổ chức nghiên cứu0T ................................................................................. 44
0T2.2. Đánh giá nghiên cứu về sự tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 5
CỦA HỌC SINH LỚP 4, 5 TRƯỜNG TIỂU HỌC0T ...................................... 44
0T2.2.1. Đặc điểm tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 5 tại trường Tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm0T .......................................................................................................50 0T2.2.1.1. Về hình thức bên ngoài0T .................................................................. 50 0T2.2.1.2. Về phẩm chất, năng lực bản thân0T ................................................... 58 0T2.2.1.3. Về vị trí và các mối quan hệ xã hội0T ................................................ 65 0T2.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 50T ..71 0T2.2.2.1. Yếu tố sinh lý0T ................................................................................. 71 0T2.2.2.2. Yếu tố xã hội0T .................................................................................. 72 0T2.2.2.3. Yếu tố bản thân0T .............................................................................. 77
trường Tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm, Tp. HCM0T ......................................... 50
0T2.2.3. Một số biện pháp nâng cao chất lượng tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 50T ................................................................................................................................79 0T2.2.3.1. Cơ sở đề xuất các biện pháp0T .......................................................... 79 0T2.2.3.2. Các nhóm biện pháp tác động đến sự tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, lớp 50T................................................................................................ 80 0TKẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 0T ................................................................. 85
0TKết luận0T .......................................................................................................................................85 0TKhuyến nghị0T ..................................................................................................... 86
0TTÀI LIỆU THAM KHẢO0T .............................................................................. 88
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu Ý nghĩa
Chi-Square Kiểm định mối liên hệ
Dấu “.” ở các số liệu Dấu cách thập phân
ĐTB Điểm trung bình
ĐLC Độ lệch chuẩn
GS. Học hàm Giáo sư
Sig Mức ý nghĩa
SL Số lượng
STT Số thứ tự
TH Trường hợp
TL % Tỷ lệ %
TS Tần số
TS. Học vị Tiến sĩ
Th.S Học vị Thạc sĩ
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU VÀ BIỂU ĐỒ
0TBảng 1: Thống kê chung về khách thể nghiên cứu phân bố theo giới tính và cấp
BẢNG SỐ LIỆU
0TBảng 2: Học lực của học sinh phân bố theo cấp lớp0T......................................... 49
0TBảng 3: Ba đặc điểm hình thức bên ngoài được học sinh quan tâm nhất0T........... 50
0TBảng 4: Hình thức được học sinh quan tâm nhất0T .............................................. 51
0TBảng 5: Mức độ tự nhận thức và mức độ hài lòng về hình thức bên ngoài của
lớp0T .................................................................................................................... 48
0TBảng 6: Số đo chiều cao và cân nặng của trẻ em Việt Nam từ 10 – 11 tuổi đã
học sinh0T ............................................................................................................ 53
0TBảng 7: Kết quả về nhóm cân nặng giữa nhận thức của phụ huynh và học sinh0T 54
0TBảng 8: Số đo cân nặng và chiều cao chuẩn theo thống kê của tổ chức WHO
được công bố theo “Hằng số sinh học của người Việt Nam” năm 2003.0T ........... 53
0TBảng 9: Thống kê mức độ nhận thức đặc điểm hình thức bên ngoài của học sinh
năm 20070T ......................................................................................................... 55
0TBảng 10: Tự nhận thức của học sinh về đặc điểm tính cách của bản thân0T ......... 58
0TBảng 11: Tự nhận thức của học sinh về các điểm tốt và chưa tốt của bản thân0T . 60
0TBảng 12: Tự nhận thức của học sinh về điểm tốt và điểm chưa tốt theo khối lớp0T
theo học lực0T ...................................................................................................... 56
0TBảng 13: Tự nhận thức của học sinh về các môn học tốt ở trường0T .................... 64
0TBảng 14: Sự tham khảo ý kiến của ba mẹ với học sinh trong gia đình0T .............. 65
0TBảng 15: Tự nhận thức của học sinh về vai trò trong gia đình0T .......................... 66
0TBảng 16: Tự nhận thức của học sinh về vai trò của mình trong lớp0T .................. 68
0TBảng 17: Mối quan hệ bạn bè0T ........................................................................... 70
0TBảng 18: Đối tượng học sinh thường tìm đến khi cần tâm sự0T ........................... 72
0TBảng 19: Mối liên hệ giữa mức độ tự nhận thức của học sinh về vai trò của mình
......................................................................................................................... 62
trong gia đình và đối tượng học sinh thường tâm sự0T ......................................... 73
0TBảng 20: Sự tham gia các hoạt động ngoại khóa của học sinh trường Tiểu học
0TBảng 21: Mối liên hệ giữa việc tham gia hoạt động ngoại khóa và sự tự nhận
Nguyễn Bỉnh Khiêm0T......................................................................................... 74
0TBảng 22: Mức độ tự nhận thức về điểm tốt và điểm chưa tốt của học sinh có đặc
thức bản thân0T .................................................................................................... 75
0T BIỂU ĐỒ
0TBiểu đồ 1: So sánh số lượng điểm tốt và điểm chưa tốt mà học sinh tự nhận thức
điểm tính cách khác nhau0T ................................................................................. 78
0TBiểu đồ 2: 0TMức độ nhận thức về vai trò quan trọng trong gia đình của học sinh
được ................................................................................................................. 61
lớp 4 và 5 ......................................................................................................... 67
DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Phiếu thăm dò ý kiến lần 1 ............................................................. 91
Phụ lục 2: Phiếu thăm dò ý kiến lần 2 ............................................................. 94
Phụ lục 3: Phiếu thăm dò ý kiến dành cho học sinh ....................................... 104
Phụ lục 4: Phiếu thăm dò ý kiến dành cho phụ huynh ................................... 112
Phụ lục 5: Phiếu thăm dò ý kiến dành cho giáo viên ...................................... 117
Phụ lục 6: Giáo án trò chơi ............................................................................ 121
Phụ lục 7: Mẫu biên bản quan sát biểu hiện tự nhận thức bản thân của học sinh
lớp 4, 5 trong buổi sinh hoạt tập thể ............................................................... 123
Phụ lục 8: Biên bản quan sát biểu hiện tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4
trong buổi sinh hoạt tập thể ............................................................................ 129
Phụ lục 9: Biên bản quan sát biểu hiện tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 5
trong buổi sinh hoạt tập thể ............................................................................ 135
Phụ lục 10: Một số hình ảnh trong buổi sinh hoạt tập thể .............................. 139
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong thời đại kinh tế thị trường, vấn đề hình thành ở thế hệ trẻ những
con người hiện đại nhưng vẫn trân trọng những giá trị truyền thống và bản sắc
dân tộc rất được Đảng và Nhà Nước ta quan tâm. Nghị quyết kỳ họp lần thứ IV
của BCHTƯ Đảng Khóa VII đã khẳng định rằng đó phải là con người “có kiến
thức văn hóa, khoa học, có kỹ năng nghề nghiệp, lao động tự chủ, sáng tạo và có
kỷ luật, giàu lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, sống lành mạnh, đáp ứng nhu
cầu phát triển của đất nước.” Điều đó thể hiện ở một trong những thuộc tính của
mô hình nhân cách con người Việt Nam trong thời kỳ này là: Khẳng định cái
“tôi”, phát huy tính tích cực cá nhân, dám đưa cái tôi ra để chịu trách nhiệm
trước bản thân, trước gia đình và trước xã hội về công việc và lối sống của mình.
Nhưng lại không rơi vào chủ nghĩa cá nhân cực đoan coi cái “tôi” là trên hết, lấy
cái “tôi” lấn át cái “ta”.
Để làm được điều đó thì tác động từ giáo dục giữ vai trò rất quan trọng.
Người lớn cần quan tâm đến việc hình thành nhân cách cho trẻ từ rất sớm, đầu
tiên là việc hình thành và phát triển ý thức về bản thân (ý thức bản ngã hay cái
“tôi”), hay nói cách khác là tự nhận thức bản thân. Nếu ở lứa tuổi mẫu giáo, trẻ
biết mình tên gì, bao nhiêu tuổi, vị trí của mình trong gia đình, nhà mình ở đâu,
tên trường Mầm non đang học là gì, … thì trẻ ở lứa tuổi tiểu học cũng có nhận
thức nhất định về bản thân? Làm thế nào để trẻ có thể tự nhận thức về bản thân
mình?
Mới vào lớp một trẻ thường gặp khó khăn khi chuyển trạng thái từ hoạt
động chơi sang hoạt động học, phải thích ứng với môi trường có nhiều điều mới
lạ. Trẻ thường tỏ ra không thích đi học, chỉ học môn mình thích, quên không
làm bài tập ở nhà … Nhiều trường hợp trẻ không dám nói với ba mẹ về điểm
kém và những vi phạm của mình ở trưởng. Đây là vấn đề được rất nhiều phụ
huynh, nhà giáo dục và xã hội quan tâm trên cách phương tiện truyền thông. Do
đó, trước mỗi bước ngoặc cuộc đời, trẻ cần phải tập thích ứng để có thể phát
triển đúng hướng. Tương tự như trường hợp của trẻ 6 tuổi, trẻ 10 tuổi, 11 tuổi
cũng sẽ gặp không ít khó khăn trước ngưỡng cửa của lứa tuổi vị thành niên. Bên
cạnh đó là sự thay đổi về tâm sinh lý lứa tuổi, chuẩn bị cho giai đọan tiếp theo
của cuộc đời. Do đó, trẻ cần được trang bị kỹ năng nhận thức về bản thân mình
để có thể thích ứng với những chuyển biến ấy.
Biết được sức mạnh của bản thân, trẻ sẽ đạt được thành công, có thể đánh
giá đúng khả năng của mình để hoàn thành một công việc nhất định dù có hay
không có sự giúp đỡ của người khác. Điều này sẽ tạo sự phấn khởi, sẵn sàng học
tập tiếp những kỹ năng mới và phát huy những gì đã đạt được, khiến trẻ tin
tưởng vào sức hấp dẫn của bản thân và thiết lập những mối quan hệ tốt đẹp với
những người xung quanh. Trên cơ sở hiểu rõ sức mạnh của bản thân, trẻ sẵn
sàng chấp nhận những thử thách khác, tạo điều kiện cho sự phát triển và hoàn
thiện nhân cách của trẻ. Học sinh các lớp cuối cấp tiểu học muốn nhận được
đánh giá không chỉ để tặng người thân, mà còn để tự mình biết được về sự thành
công và không thành công của mình trong nhận thức. Điều đó chứng tỏ học sinh
tiểu học đã có nhu cầu nhận thức về mình, có nhu cầu có biểu tượng đầy đủ về
bản thân. Sự tự nhận thức sẽ mở đường cho quá trình trưởng thành, trẻ sẽ biết
trân trọng mối quan hệ với những người xung quanh, hiểu rõ được khả năng và
hạn chế của bản thân, nhờ đó điều chỉnh việc học hành hiệu quả hơn trước.
Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về sự tự nhận thức bản thân
như: Công trình nghiên cứu về quá trình phát triển tâm lý của trẻ em của nhóm
tác giả JB Asendorpf, Jens B, Baudonniere, Pierre-Marrie năm 1993 có quan
tâm đến sự phát triển bản thân ở trẻ hai tuổi, kết quả nghiên cứu cho thấy nhiều
trẻ em bắt đầu có những dấu hiệu của sự tự nhận thức bản thân trước khi dùng
các biểu tượng lời nói. Theo một nghiên cứu khác của Kenneth B. Clark và
Mamie K. Clark thuộc Đại học York, Toronto, Ontario cho rằng trẻ em khám
phá chính mình thông qua việc so sánh sự phát triển của cơ thể mình với các cơ
quan trên cơ thể người khác. Điều đó có liên quan đến việc trẻ bắt chước hành vi
của người khác trong quá trình khám phá bản thân.
Ở Việt Nam có công trình nghiên cứu về sự tự ý thức của học sinh tiểu
học như đề tài TS. Vũ Thị Nho đã nghiên cứu đặc điểm về khả năng tự đánh giá
của học sinh cuối bậc tiểu học. Tác giả nhận định sự tự đánh giá của học sinh
tiểu học chưa cao và tính ổn định phụ thuộc vào trình độ học lực của các em.
Nghiên cứu trên cũng có đề cập đến việc tự nhận thức của học sinh về bản thân
mình và người khác để có thể đưa ra những đánh giá. Tuy nhiên, công trình
nghiên cứu chuyên sâu về sự tự nhận thức bản thân của học sinh cuối cấp tiểu
học còn bỏ ngỏ.
Từ thực trạng trên, chúng tôi mong muốn tìm hiểu về sự tự nhận thức bản
thân của lứa tuổi học sinh tiểu học nói chung, lứa tuổi học sinh tiểu học bậc 2,
lớp 4, 5, nói riêng đang theo học tại một trường tiểu học tiêu biểu của thành phố
Hồ Chí Minh là trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm. Từ đó, làm rõ các yếu tố
ảnh hưởng đến sự tự nhận thức bản thân ở học sinh lớp 4, 5, từ đó đề xuất một
số biện pháp hỗ trợ nhằm nâng cao chất lượng của sự tự nhận thức bản thân của
học sinh.
Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, chúng tôi chọn đề tài “Tự
nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 5 tại trường tiểu học Nguyễn Bỉnh
Khiêm, thành phố Hồ Chí Minh.”
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng sự tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 5 tại
trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm, thành phố Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó đề
xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng tự nhận thức bản thân cho học
sinh tiểu học.
Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3.
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Sự tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 5.
3.2. Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu chính: Học sinh lớp 4, 5, trường tiểu học •
Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Khách thể nghiên cứu hỗ trợ: •
- Giáo viên chủ nhiệm của học sinh trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm có
tham gia trong mẫu nghiên cứu.
- Phụ huynh của những học sinh có tham gia trong mẫu nghiên cứu.
Nhiệm vụ nghiên cứu 4.
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về sự tự nhận thức bản thân của học
sinh lớp 4, 5.
- Khảo sát đặc điểm tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 5 tại trường
tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm và các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng đó.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tự nhận thức bản thân
cho học sinh tiểu học.
5. Giả thuyết khoa học
- Mức độ tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 5 ở mức trung bình.
- Có sự khác biệt về sự tự nhận thức bản thân giữa những học sinh chỉ học
chính khóa với những học sinh có học thêm các lớp học ngoại khóa.
- Có sự khác biệt về giới tính và trình độ học lực trong sự tự nhận thức bản
thân của học sinh.
6. Giới hạn nghiên cứu
Về đối tượng nghiên cứu 6.1.
Sự tự nhận thức bản thân ở mỗi lứa tuổi khác nhau thì khác nhau. Trong
giới hạn cho phép, chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu về sự tự nhận thức bản thân
của lứa tuổi học sinh tiểu học, bậc 2, cụ thể là học sinh lớp 4, 5 ở trường tiểu học
Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Về khách thể nghiên cứu 6.2.
- 50 học sinh lớp 4 ở trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm.
- 50 học sinh lớp 5 ở trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm.
- 9 giáo viên chủ nhiệm khối 4 trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm.
- 8 giáo viên chủ nhiệm khối 5 trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm.
- 14 phụ huynh học sinh lớp 4 trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm.
- 14 phụ huynh học sinh lớp 5 trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Phương pháp nghiên cứu 7.
Phương pháp nghiên cứu lý luận 7.1.
- Mục đích: Thu thập những tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm
làm rõ các vấn đề lý luận của đề tài cần nghiên cứu.
- Cách tiến hành: Đọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu liên quan đến vấn đề
nghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu thực tiễn.
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 7.2.
7.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng thăm dò ý kiến
- Mục đích: Thu thập thông tin từ học sinh, phụ huynh và giáo viên chủ
nhiệm để tìm hiểu về đặc điểm sự tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 5.
Đây là phương pháp chủ đạo của quá trình nghiên cứu.
- Cách tiến hành: Cho học sinh lớp 4, 5, phụ huynh và giáo viên chủ nhiệm
trả lời những câu hỏi đóng và mở trên bảng thăm dò ý kiến.
7.2.2. Phương pháp phỏng vấn
- Mục đích: Thu thập thông tin cần thiết để xây dựng bảng thăm dò ý kiến.
- Cách tiến hành: Đặt các câu hỏi đóng và mở trực tiếp cho học sinh trường
tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm.
7.2.3. Phương pháp quan sát
- Mục đích: Quan sát những biểu hiện về sự tự nhận thức bản thân của học
sinh lớp 4, 5 trong lúc tham gia trò chơi tập thể có định hướng, thu thập những
trường hợp thực tiễn cho các vấn đề nghiên cứu.
- Cách tiến hành: Đi thực tế tại trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm, thành
phố Hồ Chí Minh, tổ chức trò chơi tập thể và quan sát những biểu hiện của học
sinh trong quá trình tham gia trò chơi.
Phương pháp thống kê toán học 7.3.
- Mục đích: Xử lý, phân tích, đánh giá kết quả nghiên cứu.
- Cách tiến hành: Sử dụng công cụ hỗ trợ là phần mềm SPSS 11.5.
Các phương pháp khác 7.4.
Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp hỗ trợ khác như:
- Khảo sát thông qua bài tập
- Phỏng vấn nhằm thu thập thêm thông tin cần thiết cho đề tài.
Đóng góp mới của đề tài 8.
Đây là một trong những đề tài nghiên cứu về sự tự nhận thức bản thân của
học sinh tiểu học nói chung, học sinh lớp 4, 5 nói riêng. Vì thế, theo chúng tôi,
kết quả nghiên cứu sẽ góp phần:
- Về mặt lý luận: Làm sáng tỏ vấn đề lý luận về tự nhận thức bản thân của
học sinh lớp 4, 5.
- Về mặt thực tiễn: Là nguồn tài liệu bổ sung giúp cho giáo viên, phụ huynh
có thêm những hiểu biết về sự tự nhận thức bản thân của học sinh và con em
mình, từ đó có biện pháp phối hợp với nhau và với học sinh tốt hơn nhằm hỗ trợ
nâng cao chất lượng tự nhận thức bản thân cho trẻ, nhằm giúp trẻ có môi trường
phát triển nhân cách của mình tốt hơn.
Cấu trúc luận văn 9.
Luận văn gồm có các nội dung sau:
Phần mở đầu
Chương 1: Cơ sở lý luận về tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 5 bậc tiểu
học
Chương 2: Đánh giá nghiên cứu tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 5
trường Tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm
Chương 3: Kết luận và khuyến nghị
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỰ NHẬN THỨC BẢN THÂN CỦA HỌC
SINH LỚP 4, 5 BẬC TIỂU HỌC
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Các nhà khoa học quốc tế đã đề cập đến sự tự nhận thức bản thân trong
các công trình nghiên cứu về tự ý thức.
Do đó, để tìm hiểu những nghiên cứu về sự tự nhận thức bản thân, trước
hết cần tìm hiểu những công trình nghiên cứu về sự tự ý thức.
Nhà tâm lý học người Đức, A.Pfender, đầu thế kỷ XX đã xây dựng khái
niệm tự ý thức từ sự phân biệt “Cái tôi” và tự ý thức. Theo ông, tất cả các hiện
tượng tâm lý là cảm xúc trực tiếp đồng nhất với ý thức, nhưng ý thức không
được hiểu là sự phản ánh mà như cái bên trong có sẵn. Chủ thể tâm lý hình
thành khả năng tự nhận thức về bản thân mình, hình ảnh của chính mình, hình
ảnh này có hạt nhân và ngoại biên. Hạt nhân gồm có cuộc sống quá khứ của con
người, ý thức về những khả năng hành động khác nhau. Ngoại biên gồm những
gì nằm ngoài tâm lý như: quần áo, thân thể, tài sản. Khi chính hình ảnh đó của
chủ thể tâm lý trở thành đối tượng, nội dung của ý thức cụ thể, xuất hiện ý thức
tâm lý đặc biệt là tự ý thức [25]. Do đó, theo A.Pfenden, tự ý thức trong quan
niệm của A.Pfenden giống như là màn ảnh, trên đó phóng chiếu biểu tượng về
bản thân của chủ thể tâm lý.
Cùng nghiên cứu về tự ý thức, GS. Philippe Rochat, thuộc khoa Tâm lý
học, Đại học Emory, Mỹ, đã có công trình về“Năm mức độ tự ý thức mà trẻ bộc
lộc ở những năm đầu đời” [31]. Trong đó, ông đã phân tích năm mức độ tự ý
thức của trẻ gồm có:
- Mức 0: Sự hỗn loạn
- Mức 1: Sự khác biệt
- Mức 2: Sự định vị
- Mức 3: Sự nhận ra
- Mức 4: Sự bền vững
- Mức 5: Sự tự ý thức
Thông qua các bài tập thí nghiệm trên trẻ ở các độ tuổi từ 0 đến 5 tuổi với
gương soi, tác giả đã khẳng định mức độ của tự ý thức xuất hiện theo thứ tự thời
gian, tương ứng với độ tuổi của trẻ. Theo sự phát triển lứa tuổi, sự tự ý thức luôn
luôn biến đổi ở các đối tượng có sự trải nghiệm khác nhau cho đến khi chết đi.
Do đó, khi nghiên cứu về sự tự ý thức, tác giả đã rất xem trọng yếu tố trải
nghiệm mà bỏ qua các yếu tố liên quan đến đặc điểm phát triển tâm sinh lý của
trẻ, với vai trò là cơ sở.
Nhà tâm lý học Pháp, P. Janet, đã có bước tiến đáng kể trong sự hiểu biết
bản chất của tự ý thức. Quan niệm của Janet xuất phát từ việc tự thừa nhận tâm
lý con người bị chế ước bởi quá trình tác động qua lại của xã hội. Trong hoạt
động tập thể và giao tiếp con người nhập tâm những phương thức hành vi, quan
hệ, thái độ đối với thế giới bên ngoài của người khác. Những phương thức hành
vi được nhập tâm đó sẽ thể hiện thành phương thức hành vi của con người đó.
Quan điểm của P.Janet về tự ý thức, như thuộc tính cơ bản của nhân cách được
hình thành trong hệ thống các mối quan hệ xã hội phức tạp. Quan điểm đó đóng
vai trò quan trọng trong sự phát triển quan niệm duy vật về bản chất của tự ý
thức [25].
Bên cạnh đó cũng có những nghiên cứu nhằm phân biệt khái niệm “Tự
nhận thức” và “Tự ý thức” trong quá trình hình thành nhân cách.
Công trình nghiên cứu của S. Franz cho rằng tự nhận thức là một thành
phần của tự ý thức. Tự nhận thức là quá trình nhận thức hướng vào chính bản
thân mình cùng với kết quả của quá trình đó. S. Franz khẳng định rằng quá trình
tự nhận thức phong phú và phức tạp, nó được thực hiện trong những quá trình
thành phần. Các quá trình thành phần đó liên quan chặt chẽ với nhau, chỉ tách ra
một cách tương đối về mặt lý thuyết.
Trong công trình “Vấn đề tự ý thức trong tâm lý học”(1977),
I.I.Trexnôcôva đã đưa ra các nguyên tắc duy vật biện chứng của việc phân tích
tự ý thức nói chung và tự nhận thức nói riêng.Tự ý thức là quá trình tâm lý phức
tạp, bản chất của nó chứa đựng trong sự nhận thức của cá nhân các “hình ảnh”
của bản thân trong những điều kiện hoạt động, hành động khác nhau, trong mọi
mối quan hệ qua lại với người khác. Bản chất của quá trình tự ý thức thể hiện
trong sự liên kết những hình ảnh đó vào một cấu tạo thống nhất trọn vẹn - biểu
tượng, sau đó vào khái niệm “Cái tôi” của chính mình như một chủ thể khác với
những chủ thể khác. I.I.Trexnôcôva cho rằng tự nhận thức là một thành phần
trong cấu trúc của tự ý thức, trong cấu trúc đó gồm 3 mặt thống nhất: nhận thức
(tự nhận thức), cảm xúc-giá trị (thái độ đối với bản thân) và hành động-ý chí,
điều khiển (tự điều chỉnh, điều khiển). Trong tác phẩm này, I.I.Trexnôcôva đã
phân tích quá trình phát triển tự ý thức trong sự phát triển cá thể, phân tích bản
chất ba mặt của ý thức [25].
Trong tác phẩm “Hoạt động, ý thức, nhân cách” A.N.Lêônchiep đã đề cập
đến vấn đề tự ý thức của con người. Ông nói: “Cũng giống như bất cứ một sự
nhận thức nào sự tự nhận thức bản thân cũng bắt đầu từ việc tách bạch ra
những thuộc tính bên ngoài và là kết quả của sự so sánh và khái quát hóa, sự
tách bạch ra cái bản chất”. Theo ông cần phải phân biệt giữa hiểu biết về bản
thân và tự ý thức về mình. “Ngay từ hồi còn rất bé người ta cũng đã tích lũy
được nhiều hiểu biết, những biểu tượng về bản thân. Còn ý thức bản ngã, ý thức
về cái tôi, của mình, là kết quả, là sản phẩm sinh thành của một con người với tư
cách là một nhân cách” [9].
Khi nghiên cứu về tâm lý của trẻ em mẫu giáo, nhà tâm lý học V. X.
Mukhina cũng đã đề cập đến sự tự ý thức của trẻ ở lứa tuổi này. Theo ông, khi
bước vào tuổi mẫu giáo, đứa trẻ chỉ ý thức được chính sự kiện là nó đang tồn tại,
mà nó chưa thực sự hiểu biết gì về bản thân mình, về các phẩm chất của mình.
Cả trẻ mẫu giáo nhỏ tự gán cho mình tất cả những phẩm chất tốt được người lớn
khen ngợi, thậm chí thường không biết những phẩm chất đó như thế nào, cũng
chưa có một ý kiến đúng đắn và có cơ sở nào về bản thân mình. Trong khi đó trẻ
mẫu giáo lớn ý thức được khá đúng đắn những ưu điểm và những thiếu sót của
mình, tính tới thái độ của người xung quanh đối với chúng [27].
Ngoài ra, có một số công trình nghiên cứu về sự tự nhận thức bản thân
trong quá trình hình thành nhân cách như:
Nhà tâm lý học S.L. Rubinxtein cho rằng dấu hiệu đầu tiên của quá trình
hình thành nhân cách là sự xuất hiện sự tự nhận thức bản thân.
William Jame, nhà tâm lý học Mỹ, cũng đã nghiên cứu về sự tự nhận thức
bản thân thông qua tìm hiểu khái niệm về “Cái tôi”. Ông chia “Cái tôi” trong
quá trình phát triển của cá nhân thành ba loại là: “Cái tôi vật chất”, “Cái tôi xã
hội” và “Cái tôi tâm hồn”. Trong đó khái niệm về “Cái tôi xã hội”, ông chú ý
đến mối quan hệ giữa cá nhân với những người xung quanh qua việc đưa ra ví
dụ: Nếu khi ta đến nơi nào đó mà không không có ai xung quanh, không ai trả
lời khi ta nói, hoặc không ai quan tâm đến việc ta làm, và nếu mỗi người ta gặp
đều hành động như không có sự tổn tại của ta thì chúng ta sẽ cảm thấy không
thoải mái, dễ nổi nóng . Ông cho rằng “Cái tôi xã hội” của một người nằm ở
việc người khác nhận ra và có hình ảnh về anh ta như thế nào. [28, tr. 294]
James cũng nói đến “Cái tôi chủ thể” và “Cái tôi khách thể” như là hai mặt của
“Cái tôi” khách thể. Trong đó, “Cái tôi chủ thể” là “Cái tôi” mà bản thân cá nhân
nhận thức được chính mình [3].
Ngoài các nghiên cứu về sự tự nhận thức bản thân kể trên, chúng tôi cũng
tìm hiểu một số công trình khác nghiên cứu sâu hơn về sự tự nhận thức bản thân
ở trẻ em của một số tác giả sau:
Nhà tâm lý học người Mỹ, D.Mead, cho rằng: “Trong mối tương tác với
những người khác trong quá trình hoạt động, mỗi con người trở thành khách thể
nhận thức của chính mình”. Ông cho rằng tự nhận thức bản thân không thực
hiện trực tiếp mà gián tiếp, qua thái độ của cá nhân đó với những người khác
trong nhóm người mà người đó đang thuộc về hoặc với toàn bộ nhóm nói chung.
Khi nghiên cứu sâu hơn về sự tự nhận thức bản thân ở trẻ em, ông cho rằng
nguồn gốc hình thành tự nhận thức bản thân là trò chơi của trẻ. Đầu tiên đó là
những trò chơi lặp lại hành động của người lớn.Trong trò chơi này trẻ thực hiện
những vai xác định. Sau đó là trò chơi có luật với một hay nhiều người khác lập
lại quan hệ của những người xung quanh quen thuộc gần gũi với trẻ. Trong loại
trò chơi này trẻ nắm được hành vi của chính mình, ở trẻ hình thành biểu tượng
sơ đẳng về bản thân, về khả năng của mình và những phẩm chất nhân cách riêng
lẻ. Trẻ có được biểu tượng, rằng nó có thể phục tùng luật chơi hay không và có
thể giữ được trong bao lâu, có thể có hay không hành động phù hợp với hành
động của người khác. Như vậy, có thể nói trong những trò chơi đó bắt đầu hình
thành ở trẻ biểu tượng về bản thân và hình thành cơ sở của tự nhận thức [25].
Năm 1978, Lewis và Brooks đã có một nghiên cứu trên trẻ sơ sinh để
chứng minh rằng sự tự nhận thức bản thân không phải có sẵn khi trẻ vừa sinh ra.
Họ đánh phấn hồng lên mũi của những đứa trẻ và đặt chúng trước gương.
Những đứa trẻ từ 9 đến 12 tháng tuổi để ý và giao tiếp với người trong gương
mà không quan tâm gì đến vết phấn trên mũi của mình. Trong khi đó những trẻ
khoảng 18 tháng tuổi lại rất tò mò nhìn mình trong gương, rồi chạm vào vết
phấn hồng trên mũi mình. Chúng nhận ra được người trong gương chính là mình
và nhận ra đặc điểm khác thường của mình [34].
1.1.2. Các công trình nghiên cứu ở trong nước
Bên cạnh các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học quốc tế kể trên,
các nhà khoa học, nhà giáo dục Việt Nam cũng có một số công trình nghiên cứu
như sau:
Trước hết là các công trình nghiên cứu về sự tự ý thức:
Khi nghiên cứu về các đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ em, tác giả
Nguyễn Ánh Tuyết cho rằng tự ý thức của trẻ được hình thành từ cuối tuổi nhà
trẻ, phát triển trong suốt tuổi mẫu giáo. Tác giả cũng khẳng định vai trò to lớn
của khả năng tự ý thức đối với các hoạt động vui chơi học tập của trẻ ở lứa tuổi
mầm non [21].
Tác giả Ngô Công Hoàn nghiên cứu sự hình thành phát triển đặc điểm tự
ý thức của trẻ lứa tuổi mẫu giáo. Theo tác giả tự ý thức là hạt nhân quan trọng
trong nhân cách trẻ, đây là mầm mống, là tiền đề để gia đình, xã hội dựa vào đó
biến quá trình giáo dục thành tự giáo dục của trẻ và người lớn sau này [25].
Các tác giả không chỉ khẳng định vai trò của việc hình thành và phát triển
khả năng tự ý thức cho trẻ mà còn chỉ ra rằng: khả năng tự ý thức là một điều
kiện cần thiết cho trẻ phát triển hoàn thiện nhân cách ở lứa tuổi mầm non và
trường phổ thông sau này.
Bên cạnh đó là các công trình nghiên cứu về sự tự đánh giá như:
Tác giả Lê Ngọc Lan đã nghiên cứu về tự đánh giá trong mối liên hệ với
các yếu tố bên trong của nhân cách, sự khác nhau về giới tính, tính chất của môn
học ảnh hưởng tới sự đánh giá của cá nhân trong từng giai đoạn khác nhau [8].
Tác giả Bùi Hồng Quân đã nghiên cứu về “Kỹ năng tự đánh giá của thiếu
niên đang sống tại các trung tâm bảo trợ xã hội trên địa bàn thành phố Hồ Chí
Minh” trong luận văn Thạc sỹ Tâm lý học năm 2010. Vì tự đánh giá là mức độ
cao của tự ý thức. Để tự đánh giá, trước tiên trẻ phải tự nhận thức rõ các giá trị
về mình. Trong đề tài này, tác giả cũng rất chú ý phân tích các yếu tố ảnh hưởng
đến sự tự đánh giá của trẻ, đặc biệt là thầy cô và bạn bè ở trung tâm [1].
Nổi bật nhất là công trình nghiên cứu của tác giả Vũ Thị Nho về “Sự tự
đánh giá của học sinh cuối cấp tiểu học”. Tác giả có đề cập đến sự tự nhận thức
bản thân của học sinh lớp 4, lớp 5 với vai trò là cơ sở cho sự tự đánh giá của các
em. Tác giả có nhấn mạnh sự tự nhận thức bản thân của học sinh ở lứa tuổi này
chưa ổn định và chịu sự ảnh hưởng nhiều từ đánh giá của người khác, ở đây là
thầy cô, bạn bè. Kết quả nghiên cứu trên rất gần với đề tài nghiên cứu, song
chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về tự nhận thức bản thân của học
sinh tiểu học, đặc biệt là học sinh lớp 4, lớp 5 [20].
1.2. Các khái niệm cơ bản
1.2.1. Khái niệm về ý thức
Định nghĩa ý thức
1.2.1.1.
Có nhiều quan điểm về ý thức dưới các góc độ khác nhau:
Về mặt kinh nghiệm cá nhân thì ý thức xuất hiện như là tổng hòa các hình
ảnh cảm tính và trí tuệ. Tổng hòa này biến đổi không ngừng và xuất hiện trước
chủ thể dưới các hình thức kinh nghiệm “bên trong” và các dự định hoạt động
thực tiễn của chủ thể đó. Có nhiều ngành khoa học nghiên cứu ý thức như triết
học, logic học, ngôn ngữ học, sinh lý học thần kinh, nhân chủng học, xã hội học,
dân tộc học … Tâm lý học nghiên cứu quá trình nảy sinh, cấu trúc và chức năng
của ý thức cá nhân. Ý thức có tính tích cực, tính định hướng lên đối tượng, tính
suy xét những gì có trong ý thức, tính động cơ – giá trị. Có các mức độ ý thức
khác nhau. Ý thức bị quy định bởi những nhân tố bên ngoài và không phụ thuộc
vào bản thân nó. Tâm lý học Mác xít nghiên cứu quá trình hình thành ý thức
trong quá trình phát triển cá thể. Cấu trúc ý thức của cá nhân được hình thành từ
thời thơ ấu do đứa trẻ lĩnh hội cấu trúc giao tiếp với người lớn. Quá trình lĩnh
hội này được hình thành trên cơ sở phát triển loài.
Từ “ý thức” có thể được dùng với nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp. Theo nghĩa
rộng, ý thức thường được dùng đồng nghĩa với tinh thần, tư tưởng… (ý thức tổ
chức, ý thức kỷ luật…). Theo nghĩa hẹp, khái niệm ý thức được dùng để chỉ một
cấp độ đặc biệt trong tâm lý con người. [6, tr. 1031 – 1032]
Theo quan điểm của phân tâm học, ý thức là một trạng thái tỉnh thức với
chức năng quan sát, ghi nhận, cảm nhận, nhận định đối với các sự vật bên ngoài
cái tôi và đối với các suy tư, cảm xúc và hình ảnh bên trong cái tôi. Ý thức như
thế có thể gọi là một quang năng (faculté) nhận định và là một quang năng định
hướng với bốn chức năng. Đó là các chức năng cảm nhận, suy tư, đánh giá và
trực kiến. Thể hiện các chức năng nói trên, ý thức phải liên hệ với cái Tôi như
chủ thể, như động lực, như đầu não, như trung tâm. [11, tr. 24,25] Cũng theo
quan điểm này, S. Freud đã đề cập đến ý thức trong quan hệ giữa hệ thống vô
thức – ý thức trong đời sống tinh thần của con người. Ông đưa ra nhân tố “Cái
tôi” được ví như là cán cân giữa “cái ấy” và “cái siêu tôi”, nó luôn cố gắng xử lý
sự bướng bỉnh và nôn nóng của “cái ấy”, đối chiếu hành động của mình với hiện
thực, giảm căng thẳng tâm lý và đồng thời đáp ứng với khát vọng thường xuyên
vươn tới sự hoàn thiện của “cái siêu tôi”. Từ việc phân tích các nhân tố trong hệ
thống cấu trúc trong bộ máy tâm thần, Freud ví ý thức như một cái máy chiếu
quét sáng trên sân khấu, những gì nằm ngoài vùng sáng nhưng vẫn trong tầm
chiếu của nó sẽ trở thành tiền ý thức, và “cái tôi” có trách nhiệm điều khiển máy
chiếu này.[17, 246 – 257]
Tuy nhiên, dưới góc độ của tâm lý học hoạt động thì nhà tâm lý học A.N
Lêônchép cho rằng ý thức trực tiếp là bức tranh về thế giới bày ra trước chủ thể,
hành động và trạng thái của chủ thể. Đối với người không thông thạo thì sự tồn
tại của bức tranh chủ quan ấy ở chủ thể, dĩ nhiên, không đặt ra một vấn đề lý
luận nào cả: trước mắt chủ thể là thế giới, chứ không phải thế giới là bức tranh
về thế giới. [16, tr.201]
Cùng quan điểm trên, tác giả Nguyễn Văn Đồng, trong “Tâm lý học phát
triển”, đã đưa ra khái niệm về ý thức dưới dạng ý thức xã hội là: nhận thức của
cá nhân về suy nghĩ, động cơ, tình cảm và ứng xử của bản thân và của người
khác. [14, tr. 449]
Qua việc phân tích khái niệm về ý thức dưới các quan điểm khác nhau,
chúng tôi đồng ý với quan điểm của GS. TS. Vũ Dũng được trình bày trong từ
điển tâm lý học khi định nghĩa ý thức là hình ảnh phản ánh hiện thực cao nhất
của con người. Cũng như tâm lý, ý thức là sản phẩm của vật chất có tổ chức cao
(bộ não) của con người. [6, tr. 424]
Thuộc tính của ý thức: 1.2.1.2.
●
Ý thức có các thuộc tính cơ bản như sau:
Ý thức thể hiện năng lực nhận thức cao nhất của con người về thế
giới. Đó là nhận thức bản chất, khái quát bằng ngôn ngữ. Bên cạnh đó còn dự
kiến trước kế hoạch hành vi, kết quả của nó làm cho hành vi mang tính có chủ
●
định.
Ý thức thể hiện thái độ của con người đối với thế giới. Ý thức
không chỉ nhận thức sâu sắc về thế giới mà còn thể hiện thái độ đối với nó. C.
Mác và F. Ăngghen đã viết: “ Ý thức tồn tại đối với tôi là tồn tại một thái độ nào
đó đối với sự vật này hay sự vật khác, động vật không biết “tỏ thái độ” đối với
●
sự vật nào cả …”
Ý thức thể hiện năng lực điều khiển, điều chỉnh hành vi của con
người. Trên cơ sở nhận thức bản chất khái quát và tỏ rõ thái độ với thế giới, ý
thức điều khiển, điều chỉnh hành vi của con người đạt tới mục đích đã đề ra. Vì
thế ý thức có khả năng sáng tạo. V.I Lênin nói: “Ý thức của con người không chỉ
●
phản ánh hiện thực khách quan mà còn sáng tạo nó”.
Khả năng tự ý thức: con người không chỉ ý thức về thế giới mà còn,
ở mức độ cao hơn, có khả năng tự ý thức, có nghĩa là khả năng tư nhận thức về
mình, tự xác định thái độ đối với bản thân, tự điều khiển, điều chỉnh, tự hoàn
thiện mình. [ 13, tr. 60]
Cấu trúc ba mặt của ý thức: 1.2.1.3.
Từ các thuộc tính trên, trong ý thức có ba mặt tương ứng thống nhất hữu
●
cơ với nhau, điều khiển hoạt động có ý thức của con người.
Mặt nhận thức:
Các quá trình nhận thức cảm tính mang lại những tài liệu đầu tiên cho ý
thức là tầng bậc thấp nhất của ý thức.
Quá trình nhận thức lý tính là bậc tiếp theo trong mặt nhận thức của ý
thức, đem lại cho con người những hiểu biết bản chất, khái quát về thực tại
khách quan. Đây là nội dung rất cơ bản của ý thức, là hạt nhân của ý thức, giúp
con người hình dung ra trước kết quả của hoạt động và hoạch định kế hoạch
●
hành vi.
Mặt thái độ: Nói lên thái độ lựa chọn, thái độ cảm xúc, thái độ đánh
●
giá của chủ thể đối với thế giới.
Mặt năng động: Ý thức điều khiển, điều chỉnh hoạt động của con
người làm cho hoạt động của con người có ý thức. Đó là quá trình con người
vận dụng những hiểu biết và tỏ thái độ của mình nhằm thích nghi, cải tạo thế
giới và cải biến cả bản thân. Mặt khác ý thức nảy sinh và phát triển trong hoạt
động. Cấu trúc của hoạt động quy định cấu trúc của ý thức. Vì thế nhu cầu, hứng
thú, động cơ, ý chí… đều có vị trí nhất định trong cấu trúc của ý thức. [13, tr.
61-62]
Các cấp độ ý thức: 1.2.1.4.
Căn cứ vào tính tự giác, mức độ sáng tỏ, phạm vi bao quát của tâm lý,
người ta phân chia các hiện tượng tâm lý của con người thành ba cấp độ:
- Cấp độ chưa ý thức.
- Cấp độ ý thức và tự ý thức.
- Cấp độ ý thức nhóm và ý thức tập thể.
●
Cấp độ chưa ý thức
Trong cuộc sống cùng với các hiện tượng tâm lý có ý thức, chúng ta
thường gặp những hiện tượng tâm lý chưa có ý thức diễn ra chi phối hoạt động
của con người. Ví dụ: người mắc chứng mộng du vừa ngủ vừa đi trên mái nhà,
người say rượu nói ra những điều không có ý thức, người bị thôi mien, người bị
động kinh… thường có những hành động không ý thức (chưa ý thức). Hiện
tượng tâm lý “không ý thức” này khác với từ “vô ý thức” (vô ý thức tổ chức, vô
ý thức tập thể) mà ta vẫn dùng hàng ngày. Ở đây người vô ý thức thể hiện sự
thiếu ý thức tôn trọng tổ chức, tôn trọng kỷ luật, quy định chung của tập thể, anh
ta rất có ý thức về việc làm sai trái của mình. Hiện tượng tâm lý không ý thức,
chưa nhận thức được, trong tâm lý học gọi là vô thức.
Vô thức là hiện tượng tâm lý ở tầng bậc chưa ý thức, nơi mà ý thức không
thực hiện chức năng của mình. Vô thức bao gồm nhiều hiện tượng tâm lý khác
nhau của tầng không (chưa) ý thức:
Vô thức ở tầng bản năng vô thức (bản năng dinh dưỡng, tự vệ, sinh -
dục) tiềm tàng ở tầng sâu, dưới ý thức, mang tính bẩm sinh, di truyền.
Vô thức còn bao gồm cả những hiện tượng tâm lý dưới ngưỡng ý -
thức (dưới ý thức hay tiền ý thức).
Ví dụ: có lúc ta cảm thấy thích một cái gì đó, nhưng không hiểu rõ vì sao.
Có lúc thích, có lúc không thích, khi gặp điều kiện thì bộc lộ ý thích, khi không
có điều kiện thì thôi.
Hiện tượng tâm thế: hiện tượng tâm lý dưới ý thức, hướng tâm lý sẵn sàng
chờ đón, tiếp nhận một điều gì đó ảnh hưởng đến tính linh hoạt và tính ổn định
của hoạt động. Cũng có lúc tâm thế phát triển xâm nhập cả vào tầng ý thức. Ví
dụ: Tâm thế yêu đương của đôi bạn trẻ đang say mê nhau, tâm thế nghỉ ngơi của
người cao tuổi.
Có những loại hiện tượng tâm lý vốn là có ý thức nhưng do lặp đi lặp lại
nhiều lần chuyển thành dưới ý thức. Chẳng hạn một số kỹ xảo, thói quen ở con
người do được luyện tập đã thành thục, trở thành “tiềm thức”, một dạng tiềm
thức sâu lắng của ý thức. Tiềm thức thường trực chỉ đạo hành động, lời nói, suy
●
nghĩ… của một người tới mức không cần ý thức tham gia.
Cấp độ ý thức và tự ý thức
Ở cấp độ ý thức, như đã nói ở trên, con người nhận thức, tỏ thái độ có chủ
tâm và dự kiến trước được hành vi của mình, làm cho hành vi trở nên có ý thức.
Ý thức thể hiện trong ý chí, trong sự chú ý.
●
Tự ý thức là mức độ phát triển cao hơn của ý thức.
Cấp độ ý thức nhóm và ý thức tập thể
Trong mối quan hệ giao tiếp và hoạt động ý thức của cá nhân sẽ phát triển
dần đến cấp độ ý thức xã hội, ý thức nhóm, ý thức tập thể (ví dụ: ý thức về gia
đình, ý thức về dòng họ, ý thức dân tộc, ý thức nghề nghiệp…). Trong cuộc sống
khi con người hành động, hoạt động với ý thức cộng đồng, ý thức tập thể, mỗi
con người có thêm sức mạnh tinh thần mới mà người đó chưa bao giờ có được
khi anh ta chỉ hoạt động với ý thức cá nhân riêng lẻ.
Tóm lại, các cấp độ khác nhau của ý thức luôn tác động lẫn nhau, chuyển
hoá và bổ sung cho nhau làm tăng tính đa dạng và sức mạnh của ý thức. Ý thức
thống nhất với hoạt động. Hình thành, phát triển và thể hiện trong hoạt động, ý
thức chỉ đạo, điều khiển, điều chỉnh hoạt động, làm cho hoạt động có ý thức.
[13, tr. 66 – 67]
Qua việc tìm hiểu các khái niệm về ý thức, chúng tôi đồng ý với quan
điểm cho rằng: Ý thức là hình thức phản ánh tâm lý cao nhất mà chỉ riêng con
người mới có; phản ánh bằng ngôn ngữ; là khả năng tri thức của con người (là
tri thức về tri thức, phản ánh của phản ánh) [13, tr. 60]. Ý thức có ba mặt là: mặt
nhận thức, mặt thái độ, mặt năng động, tương ứng thống nhất hữu cơ với nhau
và điều khiển hoạt động có ý thức của con người [13, tr. 62]. Trong ba cấp độ
của ý thức, tự ý thức là ý thức ở mức độ phát triển cao nhất.
1.2.2. Khái niệm về tự ý thức
Định nghĩa: 1.2.2.1.
Tự ý thức là việc con người nhận thức và đánh giá bản thân mình về hiểu
biết, phẩm giá, lợi ích, mục đích, lý tưởng… của mình với tư cách là một nhân
cách đang tư duy và hoạt động có ý thức [34].
Hai nhà xã hội học Cooley và Mead tin rằng, sự phát triển tự ý thức và ý
thức xã hội hoàn toàn đồng hành, cái này thúc đẩy sự tiến bộ của cái kia và
ngược lại. Nói chung, tự ý thức của cá nhân là hình ảnh phản xạ của tương quan
cá nhân và những người xung quanh, nó là hình ảnh của cá nhân được phản
chiếu trong cái gương của chung xã hội. [14, tr. 449]
Từ đó cho thấy tự ý thức là khả năng con người tự nhận thức về mình, tự
xác định thái độ đối với bản thân, từ đó tự điều khiển, tự điều chỉnh hành vi của
bản thân, từ đó tự hoàn thiện mình [13, tr.60]
Cấu trúc: 1.2.2.2.
● Tự nhận thức về bản thân:
Từ định nghĩa trên, cấu trúc của tự ý thức bao gồm:
Cá nhân tự nhận thức về bản thân mình ở các điểm như:
+ Hình thức bên ngoài: màu tóc, màu da, vóc dáng, chiều cao, cân nặng, …
+ Đặc điểm bên trong: năng lực, phẩm chất
+ Vị thế trong xã hội: trong gia đình, nhà trường, các tổ chức xã hội
● Tự đánh giá về bản thân:
+ Các quan hệ xã hội: ba mẹ, thầy cô, bạn bè, …
Trên cơ sở tự nhận thức được đặc điểm bản thân mình, nhận thức được
đặc điểm của người khác, cá nhân so sánh bản thân mình với người khác, tỏ thái
độ hài lòng/ không hài lòng với bản thân mình, …
● Tự điều chỉnh, tự điều khiển hành vi của bản thân theo mục đích tự giác:
Cá nhân tự giác điều chỉnh hành vi sao cho phù hợp với mục đích của bản thân.
Qua việc tự nhận thức về bản thân, tự đánh giá những đặc điểm của bản
thân mình, cá nhân có thể tự điều chỉnh, điều khiển hành vi bản thân, từ đó có
khả năng tự giáo dục, tự hoàn thiện mình [13, tr. 67].
Vai trò: 1.2.2.3.
Tự ý thức là mức độ phát triển cao của ý thức, với cấu trúc gồm có: tự
nhận thức bản thân; tự đánh giá; tự điều chỉnh, điều khiển hành vi của bản thân
để từ đó cá nhân có thể tự giáo dục và hoàn thiện mình. Chính thờ tự ý thức về
bản thân, con người tự tách mình khỏi thế giới xung quanh, xác định được vị trí
và vai trò của mình trong thế giới đó. Tự ý thức hình thành không những trong
từng cá nhân mà cả trong những cộng đồng, tập đoàn người lớn, nhỏ.
Mặt khác, kỹ năng tự ý thức ở mỗi người sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho
công tác giáo dục ở mỗi gia đình, nhà trường và các trung tâm giáo dục khác.
Tác giả đưa ra một trải nghiệm xã hội có vai trò quan trọng trong việc
hình thành tự ý thức là gắn bó an toàn với người chăm sóc đầu đời. Sandra Pipp
và đồng nghiệp đã làm một test phức tạp với những trẻ 2 và 3 tuổi. Test này
đánh giá hiểu biết của trẻ về tên, giới tính cùng với các tác vụ về tự ý thức của
chúng. Kết quả là những trẻ gắn bó an toàn trình diễn tốt hơn hẳn những bạn gắn
bó không an toàn. Sự khác biệt này gia tăng theo lứa tuổi từ 2 đến 3.
Mặc dù chúng ta tự hiểu mình hơn những người khác nhưng an toàn nhất
đối với một cá nhân là hãy tự tìm hiểu về bản thân thông qua tiếp xúc và trải
nghiệm với những người khác. Sự tăng trưởng của tự ý thức và những hiểu biết
nảy sinh về bản thân như một thành viên của các tương tác xã hội là tiền đề cho
rất nhiều hiểu biết và kỹ năng xã hội. Ví dụ: những trải nghiệm lương tâm như
xấu hổ phụ thuộc vào mức độ phát triển của tự ý thức. Hơn thế nữa, những trẻ đã
đạt được tự ý thức về cơ bản sẽ trở nên dễ hòa hợp và có kỹ năng hòa nhập xã
hội. Chúng sẽ thích thú bắt chước những hành động của bạn chơi. Thỉnh thoảng
chúng còn có thể cộng tác để đạt được mục tiêu chung.
Khi trẻ bắt đầu thể hiện tự ý thức, chúng trở nên nhạy cảm hơn với sự
khác biệt về tính cách của những người xung quanh và bắt đầu phân loại bản
thân theo những tiêu chí này. Đây là cái tôi được phân loại. Những tiêu chí xã
hội đầu tiên mà trẻ dùng là tuổi, giới tính và những giá trị xã hội. Ví dụ trẻ nói:
“Cháu là cậu bé lớn chứ không phải em bé”, “Mai là bạn gái tốt”.
Cho đến gần đây các nhà tâm lý học phát triển vẫn cho rằng tự ý thức của
trẻ tiền tiểu học có tính cụ thể, thể chất và không chứa những hiểu biết tâm lý về
bản thân. Khi được hỏi về bản thân (“cháu là người như thế nào?”), trẻ từ 3 đến
5 tuổi thường nói nhiều về những đặc trưng thể chất của bản thân (“Cháu cao
hơn bạn”), về những đồ vật mà chúng sở hữu (“Cháu có xe đạp ba bánh”) hoặc
về những hành động mà chúng đặc biệt tự hào (“Cháu tự mình đi đến trường
mẫu giáo”). Những mô tả tâm lý theo kiểu:”Cháu sung sướng lắm”, “Cháu thích
mọi người” rất hiếm khi xuất hiện trong câu chuyện của trẻ ở độ tuổi này.
Rebecca Eder thấy rằng khi hỏi trẻ từ ba tuổi rưỡi đến năm tuổi những câu hỏi
có đáp án cho phép lựa chọn theo kiểu “Cháu thích chơi một mình hay chơi với
bạn?” (yêu cầu ít kỹ năng nói hơn câu hỏi “Cháu là người như thế nào?”) thì câu
trả lời của trẻ sẽ có tính đặc trưng tâm lý xã hội. Và những đặc trưng này khá
bền vững theo thời gian. Những nghiên cứu của Eder cho thấy trẻ có khái niệm
về bản thân khá rõ rệt.
Ở độ tuổi thiếu niên, trẻ tự mô tả bản thân bằng một danh sách những đặc
tính thể chất, ứng xử và dáng vẻ bề ngòai khác nhằm nhấn mạnh những phẩm
chất bên trong của chúng – ví dụ như nét tính cách, hệ thống giá trị, niềm tin và
nhân sinh quan. Càng lớn thì mô tả của thiếu niên về bản thân càng trừu tượng
hơn, càng mang nét tâm lý rõ rệt hơn, càng ít tự tin và kém thành thật hơn. Tác
giả cũng đưa ra 3 ví dụ minh họa cho quan điểm này như sau:
Trẻ chín tuổi: “Tôi là Bruce C. (cả họ lẫn tên). Mắt và tóc tôi màu nâu.
Tôi yêu thể thao. Gia đình tôi có bảy người. Tôi có đôi mắt rất to! Tôi có rất
nhiều bạn bè! Tôi sống ở… Tôi có chú cao tới gần hai mét. Thầy giáo của tôi tên
là… Tôi chơi khúc côn cầu. Tôi là người khỏe nhất lớp. Tôi thích ăn. Tôi yêu
trường tôi.”
Mười một tuổi rưỡi: “Tôi tên là A. (chỉ có họ). Tôi là một người… một
cô gái… một con người thẳng thắn. Tôi không xinh. Tôi học cũng thường thôi.
Tôi đánh đàn viôlông rất hay. Tôi hơi cao so với bạn bè. Tôi thích một vài bạn
trai. Tôi thuộc kiểu người bảo thủ. Tôi bơi rất tốt. Tôi luôn cố giúp đỡ mọi
người. Tôi thường vui vẻ nhưng đôi khi tôi mất bình tĩnh. Tôi không được như
một vài bạn trai và gái khác. Tôi không biết các bạn trai có thích tôi không?”
Mười bảy tuổi: “Tôi là một con người… là một cô gái… là một cá nhân…
Tôi sinh dưới chòm sao song ngư. Tôi là một người ủ rũ, không dứt khoát, có
tham vọng. Tôi ham hiểu biết. Tôi rất cô đơn. Tôi là người Cộng hòa. Tôi là
người tự do. Tôi là người tiến bộ. Tôi là người bảo thủ. Tôi là người tự do giả
danh. Tôi là người vô thần. Tôi là người không thuộc loại nào cả” [14, tr. 450 –
455].
1.2.3. Khái niệm về tự nhận thức bản thân
Để tìm hiểu khái niệm về sự nhận thức bản thân, trước hết cần phân tích
khái niệm về nhận thức.
Khái niệm nhận thức 1.2.3.1.
Để hiểu khái niệm nhận thức, trước hết cần làm rõ khái niệm hoạt động.
Bản chất của hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế
giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới, cả về phía con người
(chủ thể).
Trong mối quan hệ trên có hai quá trình diễn ra đồng thời và bổ sung,
thống nhất với nhau. Đó là:
- Quá trình đối tượng hóa: Là quá trình trong đó chủ thể chuyển năng lực
của mình thành sản phẩm của hoạt động, hay nói khác đi tâm lý của con người
(của chủ thể) được bộc lộ, được khách quan hóa trong quá trình làm ra sản
phẩm. Quá trình đối tượng hóa khách thể còn được gọi là quá trình xuất tâm.
- Quá trình chủ thể hóa: Là khi hoạt động của con người chuyển từ phía
khách thể vào bản thân mình những quy luật, bản chất của thế giới để tạo nên
tâm lý, ý thức, nhân cách của bản thân, bằng cách chiếm lĩnh (lĩnh hội) thế giới.
Quá trình chủ thể hóa còn được gọi là quá trình nhập tâm [13, tr. 45 - 46]
Như vậy là trong hoạt động con người vừa tạo ra sản phẩm cho thế giới,
vừa tạo ra tâm lý của mình, hay nói khác đi tâm lý, ý thức, nhân cách được bộc
lộ và hình thành trong hoạt động.
Nhận thức là một dạng hoạt động cơ bản của con người. Đặc trưng nổi bật
nhất của hoạt động nhận thức là phản ánh hiện thực khách quan. Hoạt động này
bao gồm nhiều quá trình khác nhau, thể hiện những mức độ phản ánh hiện thực
khách quan khác nhau (cảm giác, tri giác, trí nhớ, tưởng tượng, …) và mang lại
những sản phẩm khác nhau về hiện thực khách quan (hình ảnh, hình tượng, biểu
tượng, khái niệm, …)
Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người:
nhận thức, tình cảm, hành động. Nó quan hệ chặt chẽ với các mặt kia và quan hệ
mật thiết với các hiện tượng tâm lý khác của con người [13, tr. 71]
Có nhiều quan điểm khoa học về nhận thức như sau:
Theo Từ điển tâm lý học, nhận thức là “hiểu được một điều gì đó, tiếp thu
được những kiến thức về điều nào đó, hiểu biết những quy luật về những hiện
tượng, quá trình nào đó…” [6]
Theo “Từ điển bách khoa Việt Nam” trên mạng Internet, nhận thức là:
“Quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con
người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể. Sự
nhận thức đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu
tượng đến thực tiễn. Con đường nhận thức đó được thực hiện qua cách giai
đoạn từ thấp đến cao như: nhận thức cảm tính, nhận thức lý tính và nhận thức
trở về thực tiễn. Do đó, thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lí, là cơ sở động lực,
mục đích của nhận thức. Mục đích cuối cùng của nhận thức không chỉ để giải
thích thế giới mà để cải tạo thế giới. Do đó, sự nhận thức ở giai đoạn này có
chức năng chỉ đạo đối với thực tiễn. Sự nhận thức là một quá trình vận động
không ngừng, vì nó gắn liền với hoạt động thực tiễn” [35].
Có nhiều quan niệm khác nhau khi xây dựng khái niệm “Nhận thức”,
nhưng đều cùng khẳng định rằng nhận thức là một quá trình.
Theo quan điểm của triết học Mác- Lênin, nhận thức được định nghĩa là
quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con
người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn [36].
Theo quan diểm của tâm lý học nhận thức, nhà tâm lý học và giáo dục
học Jean Piaget (1896 – 1986) cho rằng sự phát triển nhận thức của trẻ em bao
gồm sự thu thập các cấu trúc nhận thức, các nguyên tắc để hiểu và làm việc với
thế giới bên ngoài, để tư duy và giải quyết vấn đề. Hai dạng nguyên tắc của cấu
trúc nhận thức này là sơ đồ và hệ lý thuyết. Sơ đồ là hệ quy tắc xác định các
phạm trù cụ thể của ứng xử: ứng xử sẽ được thực hiện ra sao và ở điều kiện như
thế nào? Nói cách khác, sơ đồ là một chuỗi hành động cảm giác – vận động có
tổ chức. Chuỗi hành động của một sơ đồ là không đổi và không đảo ngược trật
tự. Ví dụ: cấu trúc nhận thức của trẻ sơ sinh bao gồm sơ đồ mút, sơ đồ với và sơ
đồ nhìn.
Piaget khẳng định rằng trẻ em thu nhận kiến thức về môi trường bằng
cách phát triển cấu trúc thần kinh gọi là hệ lý thuyết. Hệ lý thuyết là các quy tắc
mô tả thuộc tính của các sự kiện xung quanh và quan hệ của chúng với các hệ lý
thuyết khác. Ví dụ hệ lý thuyết về sự tồn tại của các vật thể khác nhau bao gồm
các vật thể đó làm gì, chúng liên hệ với các vật thể khác như thế nào, sẽ xảy ra
gì nếu sờ nó và chơi nó. Vì vậy, cấu trúc nhận thức của trẻ em bao gồm các hệ lý
thuyết về các sự vật như tiếng lách cách, quả bóng, thanh gỗ của cũi, bàn tay,
những người khác nhau, …
Theo quan điểm của Piaget (1896-1980), quá trình nhận thức được coi là
sự tổng hợp của hai quá trình trái ngược và bổ xung lẫn nhau: Quá trình đồng
hóa và quá trình điều ứng. Đứng trước một sự vật, hiện tượng, để tìm hiểu hay
tác động lên nó con người bước đầu vận dụng một “sơ cấu” hành động hoặc tư
duy đã có từ bẩm sinh hoặc trải nghiệm trước đó là quá trình đồng hóa. Tuy
nhiên, con người thường gặp những sự vật hiện tượng mang những đặc tính mới
khác với “ sơ cấu” vốn có khi ấy phải điều chỉnh tức là tạo ra mô hình sơ cấu
mới để song nạp được sự vật hiện tượng mới đó, quá trình này được gọi là điều
ứng. Cả đồng hoá và điều ứng đều nhằm giúp cá thể thích nghi với môi trường
và đạt đến sự cân bằng. Quan điểm này có tác dụng rất lớn trong việc giải thích
sự phát triển quá trình nhận thức và sự thích nghi của con người với môi trường.
Piaget đưa ra bốn giai đoạn phát triển nhận thức gồm có: giai đoạn cảm
giác vận động (từ 0 đến 2 tuổi); giai đoạn tiền thao tác (từ 2 đến 6, 7 tuổi); giai
đoạn thao tác cụ thể (từ 6, 7 đến 12 tuổi) và giai đoạn thao tác hình thức (từ 12
tuổi trở lên). Ông cho rằng các cá thể có thể khác nhau trong tốc độ phát triển ở
mỗi giai đoạn nhưng vẫn có thể chỉ ra các giới hạn tuổi tác gần đúng cho từng
giai đoạn. Mặc dù, sự phát triển là một quá trình liên tục, nhưng sự biến đổi cấu
trúc nhận thức của trẻ từ tuổi này sang tuổi khác cho phép suy luận về các
nguyên tắc mà trẻ ở lứa tuổi nhất định sử dụng để tìm hiểu môi trường xung
quanh và kiểm soát ứng xử của bản thân [14, tr. 176 - 178].
Dưới góc độ tâm lý học hoạt động, Vygotsky tuyên bố rằng nhận thức của
nhân loại – thậm chí được hình thành trong sự tách biệt vốn đã là văn hóa – xã
hội vì nó chịu ảnh hưởng của niềm tin, hệ thống giá trị và các công cụ thích nghi
trí tuệ được truyền cho cá nhân thông qua văn hóa [14, tr. 210]
Quan điểm theo lý thuyết thông tin của tác giả Nguyễn Thị Kim Hoa về
“Phương pháp dạy trẻ chậm phát triển trí tuệ”: quá trình nhận thức của con
người được xem như quá trình thu nạp và xử lý thông tin trong một hệ thống
máy tính trong đó các thông tin được các cơ quan cảm giác của con người ghi lại
và xử lý, quá trình này theo họ thực chất là quá trình chuyển hóa thông tin qua
lại giữa bộ nhớ động và bộ nhớ tĩnh. Bộ nhớ sử dụng như một màn hình máy
tính trong cùng một lúc nó có thể hiểu và biểu diễn ra thành phản ứng bên ngoài
và tối đa không tồn tại đối tượng khác nhau còn bộ nhớ tĩnh như cái thư viện
khổng lồ có sức chứa gần như vô hạn. Các thông tin từ bộ nhớ hoạt động có thể
được ghi lại trực tiếp vào bộ nhớ tĩnh hoặc ghi vào nhờ quá trình lặp lại, ngược
lại thông tin từ bộ nhớ tĩnh có thể được lấp trở lại bộ nhớ hoạt động nhờ quá
trình hồi tưởng, đôi khi thông tin có thể mất đi do không có ý nghĩa hoặc không
được sử dụng lại (Hiện tượng quên). Lý thuyết thông tin về quá trình nhận thức
cho phép hình dung một cách khá tường minh về quá trình nhận thức khách
quan nhưng không kể đến tác động qua lại với các quá trình tâm lý khác, những
đặc điểm mang tính chủ quan của chủ thể, cách tiếp cận này tỏ ra tương đối
thuận lợi cho viêc mô tả lại các đặc điểm hoạt động nhận thức của trẻ.
Trên cơ sở phân tích các quan niệm về khái niệm “nhận thức” chúng tôi
xác định khái niệm “nhận thức” như sau:
Nhận thức là một dạng hoạt động cơ bản của con người. Hoạt động nhận
thức là quá trình tâm lý phản ánh thế giới khách quan. Đặc trưng nổi bật nhất
của hoạt động nhận thức là phản ánh hiện thực khách quan (những đặc điểm,
thuộc tính, tính chất của sự vật, hiện tượng). Hay nói cách khác, nhận thức là
quá trình chủ thể tiếp nhận những thông tin và xử lý những thông tin thu được
làm cơ sở cho việc định hướng, điều khiển, điều chỉnh hành vi của mình nhằm
đảm bảo sự thích ứng và phát triển của cá nhân.
● Định nghĩa
Khái niệm tự nhận thức bản thân 1.2.3.2.
Để có cách hiểu về tự nhận thức bản thân làm cơ sở lý luận cho việc
nghiên cứu thực tiễn của đề tài, chúng tôi đã phân tích các khái niệm về tự nhận
thức dưới các góc độ khác nhau như sau:
Theo từ điển tâm lý học, khái niệm tự nhận thức thường được hiểu là nhận
thức về bản thân. Đây là một trong những vấn đề quan trọng nhất và phức tạp
nhất của chủ thể. Sự phức tạp này do các nguyên nhân sau:
Thứ nhất, con người cần phát triển khả năng nhận thức của mình, tìm
kiếm những phương thức, qua đó đi tới sự tự nhận thức.
Thứ hai, con người cần tích lũy những cơ sở cần thiết cho sự nhận thức
của bản thân, tức là sự tích lũy để mình trở thành ai. Trong quý trình đó cá nhân
không ngừng phát triển sự tự nhận thức.
Thứ ba, bất kỳ những kiến thức nào mà cá nhân nhận được cũng đều có
thể là nhân tố để thay đổi bản thân, nhận biết về bản thân mình và để trở thành
một người khác. Do vậy, nhiệm vụ của tự nhận thức luôn mang tính chủ quan.
Đó là con đường dẫn tới sự tự hoàn thiện, tự phát triển của cá nhân.
Tự nhận thức bắt đầu từ rất sớm của tuổi thơ và khi đó nó đã có những
hình thức và nội dung đặc trưng. Đầu tiên, đứa trẻ học cách phân biệt bản thân
nó với thế giới vật chất – hiện tại đứa trẻ chưa biết cái gì liên quan tới cơ thể của
nó. Sau đó, nó nhận thức bản thân với một tư duy khác – nó là thành viên của
môi trường xã hội vi mô. Trong giai đoạn này đứa trẻ đã bắt đầu quan sát các
hiện tượng giống nhau. Mặc dù vậy, đứa trẻ vẫn còn khó khăn trong việc phân
biệt nó với những người khác. Đến tuổi vị thành niên, cá nhân bắt đầu nhận
thức về “cái tôi lý tưởng” của mình qua hiểu biết về các đặc điểm tâm lý, tính
cách và các phẩm chất đạo đức của bản thân.
Quá trình tự nhận thức là quá trình kích thích mạnh mẽ sự lĩnh hội một
cách tích cực các kinh nghiệm văn hoá của cá nhân. Đối với lứa tuổi vị thành
niên, quá trình này bắt đầu với câu hỏi: “Tôi là ai?”, “Tại sao mình lại không
như vậy?”, “Tôi sẽ cần trở thành một người như thế nào?”. Đó là sự nhận thức
về cái tôi lý tưởng và đây chính là bắt đầu của sự tự hoàn thiện cá nhân [6, tr.
968 - 969]
Khi đề cập đến vấn đề “cái tôi” lý tưởng, Carl Rogers cũng đã nhấn mạnh
“cái tôi” lý tưởng được hiểu là tự nhận thức mà cá nhân muốn trải qua nhất [3,
● Vai trò
tr. 29].
Theo nhà tâm lý học người Nga N.N.Yechocoba “tự nhận thức như là mắt
xích đầu tiên và là cơ sở tồn tại thể hiện của tự ý thức. Qua nhận thức, con người
đi từ những hiểu biết xác định về bản thân. Những hiểu biết đó đi vào nội dung
của tự ý thức như là tâm điểm của nó”.
Nhà tâm lý học S.Pranz cho rằng, tự nhận thức là một thành phần của tự ý
thức. Tự nhận thức là quá trình nhận thức hướng vào chính bản thân mình cùng
với kết quả của quá trình đó.
Như đã trình bày ở trên, trong cấu trúc của ý thức gồm các thành tố có
liên quan mật thiết với nhau. Trong đó tự nhận thức là một thành phần của tự ý
thức. Tự nhận thức bắt đầu bằng sự hiểu biết bản thân làm cơ sở cho sự tự ý thức
về mình.
Theo nhà tâm lý học S. Yamuna, việc biết rõ sức mạnh của bản thân sẽ
giúp ta đạt được thành công cũng như giúp ta có thể đánh giá đúng khả năng của
mình để hoàn thành một công việc nhất định dù có hay không có sự giúp đỡ của
người khác. Điều này sẽ tạo sự phấn khởi, sẵn sàng học tập tiếp những kỹ năng
mới và phát huy những gì đã đạt được, khiến ta tin tưởng vào sức hấp dẫn của
bản thân và thiết lập những mối quan hệ tốt đẹp với những người xung quanh.
Nhờ đó, chúng ta sẵn sàng chấp nhận những thử thách khác trên cơ sở hiểu rõ
sức mạnh của bản thân mình. Ý thức được điểm yếu của bản thân giúp ta chấp
nhận những hạn chế của mình và sẵn lòng đón nhận sự giúp đỡ khi được đề nghị
và do đó, chúng ta có thể khắc phục được những khiếm khuyết của mình. Điều
này mở đường cho việc phát triển kỹ năng và phát huy năng lực của mỗi cá nhân
– những yếu tố vô cùng cần thiết cho cuộc sống. Sự tự nhận thức sẽ mở đường
cho quá trình trưởng thành: trẻ sẽ biết trân trọng mối quan hệ với những người
xung quanh, hiểu rõ được khả năng và hạn chế của bản thân, nhờ đó điều chỉnh
để việc học hành hiệu quả hơn trước [19, tr. 186 - 187].
Như vậy, nhờ tự nhận thức bản thân, con người có khả năng tự nhận thức
bản thân (đặc điểm hình thức, tính cách, năng lực, ưu điểm, nhược điểm, …), tự
đánh giá bản thân để có thể điều chỉnh hành vi, tu dưỡng, rèn luyện bản thân.
Đây là cơ sở để con người hình thành khát vọng tự giáo dục bản thân và hoàn
● Nội dung
thiện nhân cách của mình.
Cá nhân tự nhận thức về bản thân mình từ đặc điểm bên ngoài, năng lực,
phẩm chất đến vị thế xã hội. Cụ thể là:
- Hình thức bên ngoài: là những đặc điểm về mái tóc (màu gì? Dài hay
ngắn? mềm hay cứng?...), làn da (màu trắng hay ngăm đen? Da khô hay mềm
mại?) , vóc dáng (to hay nhỏ?), chiều cao (cao hay thấp?), cân nặng (ốm hay
mập?), …
- Nội dung bên trong: năng lực (kết quả học tập, năng lực làm việc, năng
khiếu,…), phẩm chất (tính cách, khí chất)
- Vị thế và các quan hệ xã hội: vị trí của cá nhân trong gia đình (quan hệ
với ba, mẹ, anh, chị, em, …), trong nhà trường (quan hệ với thầy, cô, bạn cùng
lớp, bạn cùng trường) và các tổ chức xã hội (Đoàn, Đội, câu lạc bộ, …).
Dựa trên cơ sở phân tích những khái niệm về nhận thức và tự ý thức,
chúng tôi xác định tự nhận thức là thành tố trong cấu trúc của tự ý thức. Đó là
quá trình tâm lý phản ánh những đặc điểm, phẩm chất, … của bản thân, làm cơ
sở cho việc định hướng, điều khiển, điều chỉnh hành vi của mình.
Như chúng ta đã biết, mỗi lứa tuổi có những đặc điểm tâm sinh lý khác
nhau, đặc biệt là đặc điểm về nhận thức. Do đó, lứa tuổi mầm non sẽ có các đặc
điểm tự nhận thức bản thân khác với lứa tuổi tiểu học, và khác với lứa tuổi thanh
niên. Vậy học sinh lớp 4, lớp 5 tự nhận thức về bản thân như thế nào?
1.2.4. Khái niệm tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, lớp 5
Đặc điểm tâm lý lứa tuổi của học sinh lớp 4, lớp 5 1.2.4.1.
Lứa tuổi sinh tiểu học, hay còn gọi là tuổi học sinh nhỏ, là giai đoạn từ 7
đến 12 tuổi. Những cấu tạo tâm lý mới trong lứa tuổi này chủ yếu do hoạt động
học tập mang lại. Tuy nhiên, tính chủ đạo của hoạt động học tập không phải
được hình thành ngay mà nó là một quá trình được diễn ra và phát triển trong
bốn, năm đầu cuộc đời học sinh. Do đó, đến trường thực hiện hoạt động học tập
là bước ngoặc quan trọng trong đời sống của trẻ ở lứa tuổi này. Giờ đây các em
đã trở thành một học sinh thực sự, học tập là nhiệm vụ quan trọng nhất giúp các
em tích lũy kiến thức. Khi đến trường, các em bước vào những mối quan hệ mới
và phức tạp hơn: quan hệ với thầy cô, với bạn bè. Trong môi trường hoạt động
mới sẽ tạo ra cho các em thế giới nội tâm phong phú. Những cấu tạo tâm lý mới
chủ yếu do hoạt động học tập mang lại và được hình thành dần dần với chính
quá trình hình thành của quá trình hoạt động học tập.
Nếu như điểm đặc trưng về tâm lý của học sinh lớp 1, 2 là những bước
chuyển từ hoạt động vui chơi của lứa tuổi mầm non sang hoạt động học tập của
học sinh, thì ở học sinh lớp 4, 5 có những đặc điểm tâm lý mới được hình thành
● Sự phát triển của quá trình nhận thức
và phát triển phù hợp với hoạt động học tập ở cuối bậc tiểu học này [25].
Ở trẻ lớp 4, 5, tính tổng thể của tri giác dần dần nhường chỗ cho tri giác
chính xác, biết phân phối chú ý với những dạng hoạt động khác nhau. Tính chủ
định của chú ý, tri giác là những nét tâm lý mới của trẻ lứa tuổi này.
Về sự phát triển của trí nhớ, ghi nhớ có chủ định được hình thành và phát
triển dần trong quá trình học tập và được hình thành rõ nét ở trẻ lớp 3. Hai hình
thức ghi nhớ chủ định và ghi nhớ không chủ định tồn tại song song, chuyển hóa,
bổ sung cho nhau. Ở những năm cuối của giai đoạn này, trí nhớ có sự tham gia
tích cực của ngôn ngữ.
Sự phát triển của tưởng tượng chủ yếu là phát triển tưởng tượng tái tạo cụ
thể. Tưởng tượng của trẻ ở giai đoạn này phát triển theo xu hướng rút gọn và
khái quát hơn. Đặc điểm này được phát triển song song với ghi nhớ có ý nghĩa.
Điểm khác nhau căn bản về tưởng tượng của trẻ mẫu giáo và trẻ nhi đồng là: trẻ
nhi đồng ý thức rõ rệt về tính thuần túy, quy ước về những điều tưởng tượng của
mình. Tưởng tượng sáng tạo bắt đầu hình thành ở thời gian cuối của giai đoạn.
Sự phát triển của tư duy ở trẻ tiểu học được chia làm hai giai đoạn. Giai
đoạn 1, trẻ 6 đến 7 tuổi, tư duy trực quan hành động chiếm ưu thế. Ở giai đoạn
2, trẻ từ 8 đến 12 tuổi, phát triển tư duy trực quan hình tượng. Trẻ nắm được các
mối quan hệ của khái niệm. Những thao tác về tư duy như phân loại, phân hạng
tính toán, không gian, thời gian, … được hình thành và phát triển mạnh. Đến
cuối giai đoạn 2, tư duy ngôn ngữ bắt đầu hình thành. Theo lý thuyết phát triển
trí tuệ của Piaget, thì đây được gọi là giai đoạn “vận dụng năng lực tư duy cụ thể
(concrete operation stage) với hai đặc điểm nổi bật là trẻ am hiểu nguyên lý bảo
tồn và khái niệm nghịch đảo. Tuy nhiên năng lực tư duy của trẻ còn bị hạn chế
bởi sự ràng buộc với những thật tại vật chất cụ thể. Trẻ gặp khó khăn trong tư
● Sự phát triển của cảm xúc, ý chí
duy trừu tượng.
Đời sống cảm xúc, tình cảm khá phong phú, đa dạng và cơ bản mang tính
tích cực. Tính kiềm chế và tự giác được tăng cường. Trạng thái cảm xúc ổn
● Sự phát triển nhân cách
định. Đặc biệt tâm trạng sảng khoái, vui tươi thường bền vững lâu dài.
Chủ yếu diễn ra và bị chi phối bởi hoạt động chủ đạo và hoạt động học
tập. Trẻ tự điều khiển mình tuân theo những điều “cần phải” chứ không phải
theo ý muốn chủ quan. Nhờ có tính chủ định đối với mọi hành vi, trẻ dần dần
nắm được những chuẩn mực đạo đức, những quy tắc hành vi. Nét đặc trưng của
những mối quan hệ qua lại giữa trẻ là chúng dựa vào sự giống nhau về hoàn
cảnh sống hay những hứng thú ngẫu nhiên. Cuối tuổi này, hành vi, lời đánh giá
của bạn bè có ý nghĩa rất lớn trong việc nhìn nhận và đánh giá bản thân của trẻ
làm cơ sở cho tính tự đánh giá ở trẻ. Hình ảnh của người lớn đặc biệt là của giáo
viên có ý nghĩa rất to lớn trong việc giáo dục cho trẻ.
Trẻ chịu ảnh hưởng của hoạt động lao động. Những công việc tự phục vụ
bản thân và giúp đỡ gia đình đã làm hình thành những kỹ năng lao động, kỹ
năng vạch kế hoạch, mục tiêu cho hành động và tạo điều kiện cho những rung
cảm, tình cảm tốt đẹp đối với lao động.
Trong hoạt động đội nhóm, dưới ảnh hưởng của tiêu chuẩn, nội quy,
quyền lợi chung của tập thể trẻ phát triển được: Tính tự lập, tình cảm trách
nhiệm, mối quan tâm, đồng cảm với người khác, rèn luyện kỹ năng giao tiếp.
Phát huy tính tích cực xã hội, điều kiện hình thành nhân cách mang đậm nét xã
hội nơi trẻ. Theo thuyết phát triển tâm lý xã hội của Erikson thì giai đoạn này
được gọi là giai đoạn “chuyên cần – ngược lại – tụt hậu”. Cụ thể là tình trạng
phát triển tâm lý xã hội thành công đặc trưng bởi ngày càng tăng thêm khả năng
vượt qua mọi yêu cầu, các yêu cầu có thể là các tương tác xã hội hay kỹ năng
học vấn. Ngược lại rắc rối trong giai đoạn này khiến trẻ có cảm giác thất bại và
thua sút.
Nhân cách của học sinh tiểu học nói chung, học sinh lớp 4, 5 nói riêng
● Về nhu cầu: Ở trẻ đã xuất hiện các nhu cầu mới liên quan đến cuộc sống
gồm có những đặc điểm như sau:
nhà trường và hoạt động học tập như: nhu cầu thực hiện chính xác các yêu cầu
của giáo viên, nhu cầu chiếm lĩnh những điều mới mẻ; nhu cầu đến trường với
sự hoàn thành các bài tập được giao; nhu cầu về điểm tốt; nhu cầu về sự hài lòng
của người lớn (nhất là của thầy cô giáo và bố mẹ); nhu cầu trở thành học sinh
giỏi, ngoan; nhu cầu được giao tiếp thường xuyên với giáo viên, với bạn; nhu
cầu đảm nhận một trọng trách của tập thể, xã hội; …
Nghiên cứu về nhu cầu của học sinh tiểu học, các nhà tâm lý học còn cho
thấy các nhu cầu tinh thần càng ngày càng chiếm ưu hơn so với các nhu cầu vật
chất, và các nhu cầu ngày càng mang tính xã hội cũng như được nhận thức.
Trong sự phát triển này, hoạt động của trẻ trong tập thể có một vai trò rất lớn.
Trong các nhu cầu của học sinh tiểu học, nhu cầu nhận thức giữ vai trò
chủ đạo. Đặc biệt ở học sinh lớp 3, lớp 4, lớp 5 có nhu cầu gắn liền với sự phát
hiện những nguyên nhân, quy luật, các mối liên hệ và quan hệ phụ thuộc giữa
các sự vật, hiện tượng. Vì thế, nếu trẻ các lớp đầu tiểu học có nhu cầu làm rõ
“cái gì đó” thì học sinh các lớp cuối tiểu học lại có nhu cầu giải quyết câu hỏi
● Về tính cách: Điều dễ nhận thấy trong tính cách của trẻ ở lứa tuổi này là
“tại sao?” và “như thế nào?”.
tính xung động trong hành vi, tức là khuynh hướng hành động ngay lập tức dưới
tác động của các kích thích bên trong và bên ngoài mà không kịp suy nghĩ, cân
nhắc. Tất cả những gì tác động đến trẻ đều có thể khơi dậy ở các em một phản
ứng nhanh chóng. Đặc điểm này đã khiến cho hành vi của các em dễ mang tính
tự phát. Một điều nữa cũng rất dễ nhìn thấy trong tính cách của trẻ ở lứa tuổi này
là sự cả tin. Trẻ tin tưởng tuyệt đối vào người lớn, sách vở và cả bản thân mình.
Với trẻ mọi điều ở người lớn (nhất là thầy cô giáo) nói ra đều đúng và chuẩn
mực. Trẻ tin rằng sẽ làm được mọi điều mình muốn. Vì vậy, khi được hỏi “lớn
lên cháu sẽ làm gì?”, trẻ đã trả lời một cách dứt khoát và nhanh chóng “cháu sẽ
là họa sĩ”, “cháu sẽ là phi công”, …Bên cạnh đó, trẻ cũng hay bắt chước người
lớn, bạn bè cũng như các nhân vật quan trọng trong phim, trong sách, …Ngoài
ra, phần lớn học sinh tiểu học có những nét tính cách tốt như: lòng vị tha, tính
ham hiểu biết, tính chân thật, … Tuy nhiên, trong tính cách của trẻ ở lứa tuổi
● Về tình cảm: Trước hết, tình cảm của các em mang tính cụ thể, trực tiếp.
này cũng thường gặp những thiếu sót như: bướng bỉnh và thất thường.
Đối tượng gây cảm xúc cho trẻ thường là những sự vật, hiện tượng, việc làm,
con người cụ thể, sinh động mà đã được nhìn thấy hoặc tiếp xúc. K.Đ.Usinxki
đã từng thừa nhận trẻ suy nghĩ bằng “hình thù, màu sắc, âm thanh và cảm xúc”.
Tính dễ cảm xúc của học sinh tiểu học còn thể hiện ở tính dễ xúc động. Các em
có thể vui sướng reo lên khi được điểm tốt, buồn bả khi bị điểm kém hay bị chê
trách, dễ khóc trước những tình tiết, hoàn cảnh thương tâm, …Trẻ thường bộc lộ
tình cảm của mình một cách hồn nhiên, chân thật, chưa biết ngụy trang. Vì vậy,
trẻ có thể khóc trước mặt bạn bè khi bị điểm kém, hoặc cười rất tươi khi được
khen. Tình cảm của học sinh tiểu học còn mong manh, chưa bền vững và chưa
sâu sắc. Điều này thể hiện rất rõ sự dễ dàng chuyển hóa cảm xúc như có thể
khóc đấy nhưng rồi cười ngay.
Học sinh tiểu học có tình cảm đặc biệt đối với những người thân trong gia
đình và thầy cô giáo. Những tình cảm đó chiếm vị trí đáng kể trong đời sống
tình cảm của trẻ, thậm chí chúng trở thành một trong những động cơ học tập.
Tình bạn trong nhóm, tổ, lớp cũng được hình thành ở trẻ. Học sinh các lớp cuối
tiểu học chọn bạn dựa vào các đức tính của bạn (dũng cảm, hay giúp đỡ bạn bè,
…) chứng tỏ rằng trẻ đã bắt đầu ý thức được tình cảm của mình. Đặc biệt là đã
xuất hiện sự đồng cảm. Ở các lớp cuối tiểu học, tình cảm trách nhiệm đã được
hình thành và cùng với nó là tình cảm tập thể. Vì vậy, trẻ mong muốn giúp đỡ
● Về ý chí và hành động ý chí: Ở lứa tuổi này, sự phát triển của ý chí và
bạn để khỏi ảnh hưởng đến thành tích của tập thể.
tình cảm diễn ra trong sự tác động lẫn nhau không ngừng. Trong những trường
hợp này tình cảm thúc đẩy sự phát triển của ý chí, nhưng trong những trường
hợp khác, ngược lại, tình cảm kìm hãm sự phát triển của ý chí. Sự phát triển
mạnh của tình cảm trách nhiệm đã trở thành động cơ các hành động ý chí của
học sinh các lớp cuối tiểu học. Cho nên, học sinh lớp 1, lớp 2 khi được hỏi “Tại
sao cháu không đi chơi?”, thường có câu trả lời “sợ mẹ mắng”, “phải học bài
kẻo mai bị điểm kém”, … Nhưng đến lớp 3, tình cảm thôi thúc hành động đã
mang tính xã hội hơn “phải học bài kẻo nhận điểm kém ảnh hưởng đến tổ”. Học
sinh tiểu học chưa có khả năng đặt ra mục đích và lập kế hoạch cho hành động
của mình nên dễ gặp thất bại, dễ mất lòng tin vào sức lực, khả năng của mình.
Tính độc lập, kiềm chế, tự chủ còn thấp nên học sinh tiểu học chưa thể độc lập
hoàn toàn mà còn trông chờ nhiều vào sự giúp đỡ của người khác. Trẻ dễ bắt
● Về tự đánh giá: Ở học sinh tiểu học, biểu tượng về mình và tự đánh giá
chước hành động của người khác do tính bột phát ngẫu nhiên.
được hình thành và cùng với chúng là các kỹ xảo tự kiểm tra, tự điều hành cũng
được xuất hiện. Học sinh các lớp cuối tiểu học muốn nhận được đánh giá tốt
không chỉ để “tặng” người thân, mà còn để tự mình biết được về sự thảnh công
và không thành công của mình trong nhận thức. Điều đó chứng tỏ trẻ đã có nhu
cầu nhận thức về mình, có nhu cầu có biểu tượng đầy đủ về bản thân. Học sinh
các lớp đầu tiểu học thường đánh giá các hành động, hành vi, việc làm cụ thể
của mình chứ chưa thể đánh giá nhân cách của mình. Học sinh các lớp cuối cấp
tiểu học đã có thể đánh giá khả năng và các phẩm chất tâm lý của mình một cách
độc lập hơn. Nghiên cứu của các nhà tâm lý học Việt Nam cho thấy rằng, tự
đánh giá của học sinh các lớp cuối tiểu học vẫn phụ thuộc khá nhiều vào nội
dung và chuẩn đánh giá. Những gì cụ thể, gần gũi mình thì trẻ thường tự đánh
giá một cách tự tin và mạnh dạn hơn. Ngược lại, những nội dung trừu tượng
(năng lực học tập, vị thế trong tập thể, khả năng nhận thức, …) thường được trẻ
tự đánh giá một cách dè dặt, thận trọng và khiêm tốn hơn. Tự đánh giá của trẻ
chưa thật khách quan và phù hợp: trẻ thường tự đánh giá bản thân cao hơn so
với hiện thực và tính ổn định trong tự đánh giá của trẻ cũng chưa cao và có mối
● Về phát triển năng khiếu: Năng khiếu được bộc lộ sớm và phát triển rất
liên hệ chặt chẽ với trình độ học lực.
nhanh ở các lĩnh vực nghệ thuật, văn thơ, khoa học tự nhiên và kỹ thuật [2, tr.
151 – 174].
Đặc điểm tự ý thức của học sinh lớp 4, 5 1.2.4.2.
Khi nghiên cứu về quá trình hình thành tự ý thức, tác giả Nguyễn Văn
Đồng đã nhấn mạnh đến vai trò của các trải nghiệm xã hội.
Tác giả đưa ra một trải nghiệm xã hội có vai trò quan trọng trong việc
hình thành tự ý thức là gắn bó an toàn với người chăm sóc đầu đời. Sandra Pipp
và đồng nghiệp đã làm một test phức tạp với những trẻ 2 và 3 tuổi. Test này
đánh giá hiểu biết của trẻ về tên, giới tính cùng với các tác vụ về tự ý thức của
chúng. Kết quả là những trẻ gắn bó an toàn trình diễn tốt hơn hẳn những bạn gắn
bó không an toàn. Sự khác biệt này gia tăng theo lứa tuổi từ 2 đến 3.
Ở tuổi thiếu niên nói chung, và lứa tuổi học sinh lớp 4, lớp 5 nói riêng, trẻ
đã phát triển và phân tách một cách rõ rệt cái tôi bên ngoài với cái tôi nội tâm,
trẻ tự mô tả bản thân bằng một danh sách những đặc tính thể chất, ứng xử và
dáng vẻ bề ngoài khác nhằm nhấn mạnh những phẩm chất bên trong của chúng –
ví dụ như nét tính cách, hệ thống giá trị, niềm tin và nhân sinh quan. Càng lớn
thì mô tả của thiếu niên càng trừu tượng hơn, càng mang nét tâm lý rõ rệt hơn,
càng ít tự tin và kém thành thật hơn.. Tác giả cũng đưa ra 3 ví dụ minh họa cho
quan điểm này như sau:
Trẻ chín tuổi: “Tôi là Bruce C. (cả họ lẫn tên). Mắt và tóc tôi màu nâu.
Tôi yêu thể thao. Gia đình tôi có bảy người. Tôi có đôi mắt rất to! Tôi có rất
nhiều bạn bè! Tôi sống ở… Tôi có chú cao tới gần hai mét. Thầy giáo của tôi tên
là… Tôi chơi khúc côn cầu. Tôi là người khỏe nhất lớp. Tôi thích ăn. Tôi yêu
trường tôi.”
Mười một tuổi rưỡi: “Tôi tên là A. (chỉ có họ). Tôi là một người… một
cô gái… một con người thẳng thắn. Tôi không xinh. Tôi học cũng thường thôi.
Tôi đánh đàn viôlông rất hay. Tôi hơi cao so với bạn bè. Tôi thích một vài bạn
trai. Tôi thuộc kiểu người bảo thủ. Tôi bơi rất tốt. Tôi luôn cố giúp đỡ mọi
người. Tôi thường vui vẻ nhưng đôi khi tôi mất bình tĩnh. Tôi không được như
một vài bạn trai và gái khác. Tôi không biết các bạn trai có thích tôi không?”
Mười bảy tuổi: “Tôi là một con người… là một cô gái… là một cá nhân…
Tôi sinh dưới chòm sao song ngư. Tôi là một người ủ rũ, không dứt khoát, có
tham vọng. Tôi ham hiểu biết. Tôi rất cô đơn. Tôi là người Cộng hòa. Tôi là
người tự do. Tôi là người tiến bộ. Tôi là người bảo thủ. Tôi là người tự do giả
danh. Tôi là người vô thần. Tôi là người không thuộc loại nào cả” [14, tr. 450 –
455].
Dựa vào những biểu hiện của tự ý thức và đặc điểm tâm lý lứa tuổi học
sinh lớp 4, lớp 5 như đã trình bày ở trên, chúng tôi đưa ra các biểu hiện về tự ý
thức của học sinh lớp 4, lớp 5 như sau:
- Trẻ tự nhận thức về bản thân mình từ những đặc điểm về hình thức bên
ngoài (có thể nhìn thấy, cân, đo được); năng lực học tập (kết quả học tập), nét
tính cách và vị thế của mình trong gia đình, trường lớp và bạn bè.
- Trẻ tự đánh giá về bản thân ở các mức độ khác nhau, thường thì có xu
hướng đánh giá cao hơn so với thực tại.
- Trẻ tự điều khiển, điều chỉnh hành vi của mình theo các chuẩn mực mà
gia đình, trường lớp đưa ra. Trẻ hiểu các nội quy, luật lệ, những giá trị đạo đức
và cố gắng tuân theo những giá trị đó.
Trên cơ sở của tự nhận thức, tự đánh giá, tự điều chỉnh hành vi, trẻ có khả
năng tự hoàn thiện mình.
Như vậy, tự nhận thức bản thân là cơ sở cho ý thức của trẻ.
Đặc điểm tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 5 1.2.4.3.
Tác giả Nguyễn Văn Đồng cũng khẳng định vai trò của nhận thức rất
quan trọng trong việc tự ý thức – phải đạt được đến một mức phát triển nhận
thức nhất định thì trẻ mới có thể tự ý thức được bản thân [14, tr. 450 – 455].
Như đã trình bày ở trên, tự nhận thức bản thân là một trong những biểu
hiện của tự ý thức, được bắt đầu bằng sự hiểu biết về bản thân làm cơ sở cho tự
ý thức về mình. Đó là quá trình cá nhân tự nhận thức về bản thân mình từ hình
thức bên ngoài đến nội dung tâm hồn, đến vị thế và các quan hệ xã hội.
Học sinh lớp 4, lớp 5 có thể tự nhận thức một cách độc lập về hình thức
bên ngoài, khả năng và phẩm chất tâm lý của mình. Từ đó làm cơ sở để trẻ có
● Về hình thức bên ngoài: Trẻ rất chú trọng đến vẻ bề ngoài của mình,
thể tự đánh giá các yếu tố trên.
muốn làm người mình sạch sẽ, ăn mặc đẹp, gọn gàng. Theo kết quả thăm dò ý
kiến ở phiếu mở của chúng tôi, khi hỏi về vẻ bề ngoài của mình, trẻ kể ra các
yếu tố như: chiều cao, cân nặng, khuôn mặt, dáng người, màu da, cách ăn mặc.
Mô tả của trẻ về các yếu tố bên ngoài đơn giản ở các mức độ: cao/ thấp, to/ nhỏ,
mập/ ốm, đẹp/ không đẹp… Trong đó, mỗi trẻ có cơ sở đo các mức độ khác
● Năng lực và phẩm chất bên trong: Ở trẻ lớp 4, lớp 5, hoạt động học tậo
nhau.
giữ vai trò chủ đạo nên nhận thức về năng lực thể hiện ở năng lực học tập. Một
trong những biểu hiện của năng lực học tập là kết quả học tập của trẻ ở trường.
Trẻ được xem là học giỏi môn nào khi có kết quả các bài kiểm tra học kỳ của
môn ấy cao so với những môn học khác.
Một trong những phẩm chất tâm lý mà trẻ dễ dàng nhận ra là tính cách, cụ
thể ở các biểu hiện của nét tính cách như: trầm lặng, ít nói, mạnh dạn, nhút nhát,
nóng nảy, chăm chỉ, cẩu thả, …Trẻ nhận thức về các nét tính cách thông qua
● Vị thế và quan hệ xã hội: Trẻ lớp 4, lớp 5 có ba mối quan hệ giao tiếp
những thói quen thể hiện trong ứng xử hàng ngày của bản thân và bạn bè.
chính là: trẻ - bạn bè, trẻ - gia đình, trẻ - thầy cô.
Trẻ thường tự nhận thức một cách tự tin và mạnh dạn những gì cụ thể, gần
gũi với mình; một cách dè dặt, thận trọng và khiêm tốm những nội dung trừu
tượng như năng lực học tập, vị thế trong tập thể, khả năng nhận thức. Trẻ tự
nhận thức về bản thân mình chưa cao và có mối liên hệ chặt chẽ với trình độ học lực.
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển sự 1.2.4.4.
● Sinh lý: Các nghiên cứu của Trung tâm tâm lý học – sinh lý học lứa tuổi
tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 5
thuộc viện khoa học Giáo dục Việt Nam vào những năm 1990 cho thấy gia tốc
phát triển ở học sinh Việt Nam không mạnh và không đều giữa các chỉ số phát
triển, chủ yếu tăng rõ rệt ở chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực tự nhiên.
Nguyên nhân của các hiện tượng trên là có sự cải thiện điều kiện sinh hoạt vật
chất, tinh thần, sự đô thị hóa, sự hôn phối các dân tộc, yếu tố di truyền [2, tr. 89]
● Xã hội:
Những thay đổi về sinh lý sẽ dẫn đến việc trẻ sớm nhận thức về bản thân mình hơn.
- Gia đình: Như đã trình bày ở trên, trẻ thường nghe theo lời người lớn, đặc
biệt là từ ba mẹ và thầy cô. Do đó, gia đình, đặc biệt là ba mẹ có ảnh hưởng rất
lớn đến việc tự nhận thức bản thân của trẻ qua việc đánh giá và phản ứng với
những ứng xử hàng ngày của trẻ, đặc biệt là việc nhận thức về năng lực và phẩm
chất bên trong. Nếu ba mẹ thường xuyên khen trẻ là cô bé/ cậu bé thông minh,
giỏi về các khám phá khoa học thì nhất định trẻ sẽ tự cho rằng đây là lĩnh vực
mình giỏi nhất. Nếu ba mẹ so sánh với các anh chị em trong gia đình và cho
rằng trẻ chậm chạp, hậu đậu thì nhất định trẻ cũng sẽ nhận thức về mình như thế.
- Hoạt động học tập và cuộc sống nhà trường: Đây là hoạt động chủ đạo ở
lứa tuổi học sinh tiểu học nói chung, lứa tuổi học sinh lớp 4, lớp 5 nói riêng.
Dưới ảnh hưởng trực tiếp của hoạt động học, các quá trình nhận thức lại được
phát triển mạnh [2, tr. 96]. Hoạt động học tập diễn ra trong nhà trường với
những yêu cầu chặt chẽ, nghiêm túc, có kỷ cương, đối tượng của hoạt động này
chính là các tri thức khoa học ngày một mới lạ với trẻ. Mặt khác, việc tố chức
hoạt động học tập bằng phương pháp nhà trường rèn luyện cho trẻ cách làm
việc trí óc. Từ đó hình thành nên ở trẻ thái độ mới, lối suy nghĩ mới khi nhìn cái
quen thuộc, tính chủ định và kỹ năng làm việc trí óc.
Đến trường, trở thành “học sinh”, trẻ có một loạt các quyền hạn và trách
nhiệm không chỉ trước bản thân, trước những người thân mà còn trước xã hội. Ở
trường, trẻ là “người công dân – học sinh”, gánh vác trách nhiệm của một người
học sinh trước xã hội – tiến hành hoạt động học tập đạt kết quả. Kết quả học tập
của trẻ sẽ quyết định vị thế xã hội của trẻ: nếu học tốt thì hoàn thành nhiệm vụ,
thì làm bố mẹ, thầy cô vui, thì có nhiều bạn, …; nếu học kém thì không những
không hoàn thành nhiệm vụ, mà còn không làm cho bố mẹ, thầy cô vui và không
có bạn chơi cùng.
Như vậy, để thích ứng với những yêu cầu của hoạt động học tập và cuộc
sống nhà trường, trẻ phải tạo ra những nét mới trong phẩm chất và năng lực của
mình. Đây chính là động lực để trẻ tự nhận thức về bản thân.
- Thầy cô: Thầy cô là người mà trẻ thần tượng, những đánh giá của thầy cô
có giá trị định vị trong nhận thức của trẻ về một vấn đề nào đó.
- Bạn bè: Bạn bè là đối tượng giao tiếp chủ đạo của trẻ ở lứa tuổi này. Do
đó quá trình giao tiếp, làm việc nhóm, chơi với bạn sẽ hình thành nên vị thế của
trẻ trong bạn bè. Trẻ có thể chia sẻ với bạn bè rất nhiều điều mà không thể chia
sẻ với người lớn được. Những đánh giá, lời khuyên của bạn có tác động rất lớn
đến nhận thức của trẻ về bản thân mình.
Trẻ thích thi đua với bạn, có nhu cầu được thể hiện mình trước tập thể.
Quá trình giao tiếp với bạn bè trong các hoạt động học tập và vui chơi sẽ hình
thành vị thế của trẻ trong bạn bè.
• Bản thân: Trình độ phát triển nhận thức, tình cảm và đặc điểm nhân cách
ở mỗi trẻ khác nhau thì mỗi trẻ sẽ nhận thức về bản thân mình khác nhau. Trẻ
mạnh dạn, sôi nổi sẽ tự nhận thức về bản thân theo chiều hướng tốt nhiều hơn ở
trẻ nhút nhát. Trẻ càng biết nhiều về các thông số đo, cách đánh giá, … thì tự
nhận thức về bản thân mình mang tính chính xác cao.
Kết luận chương 1
Tự nhận thức bản thân được nghiên cứu như một thành tố trong cấu trúc
của tự ý thức. Đây là quá trình tâm lý phản ánh những đặc điểm hình thức bên
ngoài; nội dung bên trong; vị thế và quan hệ xã hội. Trên cơ sở tự nhận thức
được đặc điểm bản thân mình và đặc điểm của người khác, cá nhân so sánh bản
thân mình với người khác và tỏ thái độ hài lòng hay không hài lòng với bản thân
mình. Từ đó, cá nhân có thể định hướng, điều chỉnh bản thân mình để hoàn thiện
hơn. Học sinh lớp 4, lớp 5 có thể tự nhận thức một cách độc lập về hình thức bên
ngoài, khả năng và phẩm chất tâm lý của mình. Sự tự nhận thức bản thân của trẻ
chịu ảnh hưởng của yếu tố sinh lý; các yếu tố xã hội như: gia đình, hoạt động
học tập và cuộc sống nhà trường, thầy cô, bạn bè; và bản thân của trẻ.
CHƯƠNG 2
ĐÁNH GIÁ NGHIÊN CỨU TỰ NHẬN THỨC BẢN THÂN CỦA
HỌC SINH LỚP 4, 5 TRƯỜNG TIỂU HỌC
NGUYỄN BỈNH KHIÊM
2.1. Tổ chức nghiên cứu
2.1.1. Điều kiện nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành trong điều kiện bình thường. Học sinh vừa thi
học kỳ nên không bị ảnh hưởng bởi lịch học trên trường. Không có sự đầu tư
kinh phí cho nhóm nghiên cứu.
Cô hiệu trưởng, cô hiệu phó và các thầy cô giáo phụ trách các lớp khối 4,
5 đều rất nhiệt tình tham gia hỗ trợ người nghiên cứu.
2.1.2. Quy trình nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu được thực hiện qua ba giai đoạn, từ ngày 23/04 đến
ngày 30/06.
• Giai đoạn 1: Khảo sát thử và hoàn thiện bảng câu hỏi, từ ngày 23/04 đến
ngày 16/05.
- Từ ngày 23/04 – 24/04: Khảo sát thử lần một trên một nhóm học sinh lớp
4 và một nhóm học sinh lớp 5 trường Tiểu học Hiệp Bình, quận Thủ Đức, Thành
phố Hồ Chí Minh về vấn đề tự nhận thức bản thân với bảng câu hỏi mở và
phỏng vấn sâu.
- Sau buổi khảo sát thử, người nghiên cứu tổng hợp thông tin và thành lập
bảng câu hỏi dựa trên các ý kiến thực tế của trẻ. Gồm có ba bảng câu hỏi:
+ Bảng câu hỏi khảo sát dành cho học sinh.
+ Bảng câu hỏi khảo sát dành cho giáo viên chủ nhiệm.
+ Bảng câu hỏi khảo sát dành cho phụ huynh.
- Tham khảo ý kiến của giáo viên hướng dẫn về bảng câu hỏi và chỉnh sửa
lần một.
- Từ ngày 11/05 – 13/05: Khảo sát thử lần hai trên học sinh lớp 4, 5 trường
TH Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thành phố Hồ Chí Minh trong giờ sinh hoạt Kỹ năng
sống chính khóa tại trường, sử dụng bảng câu hỏi sau khi chỉnh sửa lần một.
- Tổ chức buổi sinh hoạt tại trường với các trò chơi nhằm phát triển kỹ
năng tự nhận thức bản thân cho học sinh tham gia nghiên cứu.
- Từ ngày 14/05 – 16/05: Điều chỉnh bảng câu hỏi lần hai dựa trên thông tin
tổng hợp và rút kinh nghiệm sau buổi khảo sát thử lần hai, tham khảo ý kiến của
giáo viên hướng dẫn.
• Giai đoạn 2: Khảo sát trên mẫu nghiên cứu học sinh từ ngày 19/05 –
27/05.
- Từ ngày 19/05 – 25/05: Khảo sát trên học sinh khối lớp 4 cùng với giáo
viên chủ nhiệm và phụ huynh học sinh. Tổ chức buổi sinh hoạt để trẻ tham gia
trò chơi thực hành kỹ năng tự nhận thức bản thân.
- Từ ngày 26/05 – 27/05: Khảo sát trên học sinh khối lớp 5 cùng với giáo
viên chủ nhiệm của các em. Tổ chức buổi sinh hoạt để trẻ tham gia trò chơi thực
hành kỹ năng tự nhận thức bản thân.
• Giai đoạn 3: 28/05 – 30/06: Tổng hợp các bảng câu hỏi, nhập liệu và xử
lý số liệu.
2.1.3. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp điều tra bằng bảng câu hỏi khảo sát 2.1.3.1.
• Mô tả phương pháp
Các thông tin về đặc điểm của sự tự nhận thức bản thân của học sinh được
cụ thể hóa thành dạng câu hỏi viết, học sinh có thể trả lời bằng cách đánh dấu
vào ô có đáp án tương ứng với suy nghĩ (đối với câu hỏi đóng) và viết vào bảng
câu hỏi (đối với câu hỏi mở). Thông qua các câu trả lời của học sinh, người
nghiên cứu tổng hợp, phân tích các dữ kiện và đưa ra kết luận.
• Mô tả công cụ nghiên cứu
Bảng câu hỏi khảo sát gồm có 15 câu, được chia làm hai phần:
- Phần 1: Thu thập thông tin cá nhân của học sinh như: Họ và tên, năm
sinh, giới tính, học vấn, học lực, số đo chiều cao, số cân nặng, hoàn cảnh gia
đình, việc tham gia các hoạt động ngoại khóa.
- Phần 2: Khảo sát về đặc điểm tự nhận thức bản thân của học sinh, trong đó:
+ Từ câu hỏi 1 đến câu hỏi 4: tìm hiểu về đặc điểm và mức độ tự nhận
thức của học sinh về các đặc điểm hình thức bên ngoài của mình.
+ Câu hỏi 5 và câu hỏi 6: tìm hiểu về đặc điểm tự nhận thức của học sinh
về năng lực học tập của mình.
+ Câu hỏi 7 và câu hỏi 8: tìm hiểu về đặc điểm và mức độ tự nhận thức
bản thân của học sinh về các nét tính cách của mình.
+ Từ câu hỏi 9 đến câu hỏi 12: tìm hiểu về đặc điểm tự nhận thức của học
sinh về mối quan hệ với bạn bè và gia đình mình.
+ Câu hỏi 13 và câu hỏi 14: tìm hiểu về đặc điểm tự nhận thức của học
sinh về vai trò của mình trong gia đình.
+ Câu hỏi 15: tìm hiểu về đặc điểm tự nhận thức của học sinh về vai trò
của mình trong lớp học.
• Thang điểm đánh giá
- Phần 1 – thông tin cá nhân: chỉ dùng biện pháp thống kê tần số nhằm mục
đích cung cấp những thông tin phục vụ cho việc so sánh các chỉ số liên quan.
- Phần 2 – đặc điểm tự nhận thức bản thân của học sinh:
+ Với những câu hỏi định danh, định tính, định lượng: dùng biện pháp
thống kê tần số và tìm mối liên hệ giữa các giá trị nghiên cứu.
+ Cho điểm theo từng câu hỏi: Mỗi câu hỏi có ba mức độ trả lời tương
ứng là cao, trung bình và thấp.
Ví dụ 1:
Cao Trung bình Thấp
Em nhận thấy chiều cao của mình như thế nào?
Được quy định lần lượt là:
Cao: 1 điểm
Trung bình: 2 điểm
Thấp: 3 điểm
Ví dụ 2:
Rất hài lòng Hài lòng Không hài lòng
Em hài lòng về chiều cao của mình như thế nào?
Được quy định là:
Rất hài lòng: 1
Hài lòng: 2
Không hài lòng: 3
Từ kết quả khảo sát, chúng tôi tính điểm trung bình của giá trị các mức độ
tương ứng.
Phương pháp quan sát 2.1.3.2.
• Lựa chọn mẫu để tổ chức bài tập thực hành
Vì tính chất của bài tập là trò chơi tập thể có định hướng nên cần sự tập
trung đến từng học sinh. Trong điều kiện thời gian và khả năng cho phép, chúng
tôi chỉ thực hiện ở 20/50 học sinh lớp 4 và 20/50 học sinh lớp 5 của trường Tiểu
học Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thành phố Hồ Chí Minh.
• Tổ chức trò chơi
Bên cạnh bảng câu hỏi khảo sát, chúng tôi còn tổ chức bài tập thực hành
dưới dạng trò chơi tập thể để quan sát biểu hiện sự tự nhận thức bản thân của
học sinh.
Bài tập thực hành được xây dựng dựa vào nội dung hai phần chính trong
bảng câu hỏi. Trong đó, tập trung vào ba đặc điểm:
- Hình thức bên ngoài: số đo chiều cao, cân nặng; khuôn mặt; dáng người;
màu da; cách ăn mặc
- Nội dung bên trong: tính tình; môn học yêu thích; môn học đạt điểm cao
nhất; ưu điểm; nhược điểm
- Mối quan hệ xã hội: số bạn thân
Phương pháp thống kê và phân tích kết quả bằng phần 2.1.3.3.
mềm SPSS
Tổng hợp kết quả nghiên cứu và phân tích bằng phương pháp thống kê
thông qua phần mềm SPSS.
2.1.4. Mẫu khách thể nghiên cứu
Bảng 1: Thống kê chung về khách thể nghiên cứu phân bố theo giới tính và
cấp lớp
Tổng cộng Lớp
4 5
SL % SL % SL %
Nam 25 50.0 25 50.0 50 50.0 Giới
tính Nữ 25 50.0 25 50.0 50 50.0
Tổng cộng 50 100.0 50 100.0 100 100.0
Để có kết quả nghiên cứu khách quan và thuận tiện trong quá trình so
sánh kết quả, chúng tôi chọn mẫu nghiên cứu có số lượng khách thể đồng đều về
lứa tuổi và giới tính. Mẫu nghiên cứu được chọn ngẫu nhiên ở học sinh khối lớp
4 và khối lớp 5 theo tiêu chí đồng đều về giới tính.
Để đảm bảo tính khách quan, chúng tôi chọn học sinh từ lớp 4A1 đến
4A9, mỗi lớp 6 học sinh và 5A1 đến 5A8, mỗi lớp 7 học sinh. Sau khi thu thập
và tổng hợp các bảng câu hỏi khảo sát, chúng tôi loại những bảng câu hỏi không
hợp lệ (trả lời không đúng yêu cầu, trả lời thiếu câu hỏi, …) và chọn ra 100 bảng
câu hỏi hợp lệ như trên.
Qua quá trình khảo sát thông tin chung của khách thể nghiên cứu, cụ thể
là thông tin về xếp loại về kết quả học tập thì chúng tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 2: Học lực của học sinh phân bố theo cấp lớp
Tổng cộng Lớp
4 5
SL TL % SL TL % SL TL %
Giỏi 42 84.0 100.0 92.0 Kết quả 50 92
học tập Tiên tiến 8 16.0 8 8.0
Kết quả khảo sát cho thấy kết quả học tập của học sinh được xếp loại cao.
Khi được hỏi: “Kết quả học tập học kỳ I của em xếp loại gì?”, có 92% học sinh
trả lời xếp loại giỏi, trong đó có 50 học sinh lớp 5, chiếm tỷ lệ 100% trong số
học sinh lớp 5 tham gia khảo sát, có 42 học sinh lớp 4, chiếm tỷ lệ 84% trong số
học sinh lớp 4 tham gia khảo sát. Số lượng học sinh có kết quả học tập xếp loại
tiên tiến chiếm tỷ lệ rất thấp là 8%, trong đó chỉ có học sinh lớp 4, và không có
học sinh nào xếp loại trung bình, yếu và kém.
Kết quả học tập của học sinh lớp 5 cao hơn của học sinh lớp 4 chứng tỏ
các em đã có sự nỗ lực lớn trong học tập để chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp và
vào cấp II. Trong những năm gần đây, bên cạnh trường tiểu học Nguyễn Bỉnh
Khiêm, học sinh ở các trường tiểu học khác cũng có kết quả học tập cao hơn.
Kết quả này trước hết là học sinh có điều kiện học tập tốt hơn, bên cạnh học
chính khóa, các em còn tham gia lớp học thêm và ngoại khóa khác. Ngoài ra, cơ
hội tiếp xúc với nhiều mạng thông tin như báo chí, truyền hình, internet, giao
lưu với bạn bè và những người khác đã giúp các em hiểu biết nhiều hơn. Đây
cũng là yếu tố giúp trẻ có thể nhận thức tốt hơn về bản thân mình.
2.2. Đánh giá nghiên cứu về sự tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 5
trường Tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm, Tp. HCM
2.2.1. Đặc điểm tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 5 tại trường Tiểu
học Nguyễn Bỉnh Khiêm
Như đã trình bày ở trên, sự tự nhận thức bản thân của trẻ được thể hiện ở
ba nội dung cơ bản là: hình thức bên ngoài, nội dung bên trong, các vị thế và
quan hệ xã hội. Do đó, để nghiên cứu về sự tự nhận thức bản thân của học sinh,
chúng tôi tìm hiểu về sự tự nhận thức của các em về các đặc điểm hình thức bên
ngoài, đặc điểm về tính cách, năng lực cùng vị trí của mình trong mối quan hệ
với gia đình, trường lớp và bạn bè.
2.2.1.1. Về hình thức bên ngoài
Để tìm hiểu về đặc điểm tự nhận thức bản thân của học sinh về hình thức
bên ngoài, chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 100 học sinh lớp 4, lớp 5 và thu
được kết quả như sau:
Bảng 3: Ba đặc điểm hình thức bên ngoài được học sinh quan tâm nhất
STT TL % theo giới tính Tổng cộng
Nam Nữ Đặc điểm về
SL TL % SL TL % SL TL % hình thức
Chiều cao 46 1 59 32 41 78 100
Cân nặng 34 2 56.7 26 43.3 60 100
Khuôn mặt 21 3 43.7 27 56.3 48 100
Dáng người 26 4 41.3 37 58.7 63 100
Màu da 3 5 21.4 11 78.6 14 100
Cách ăn mặc 20 6 54.1 17 45.9 37 100
Kết quả khảo sát trên cho thấy ba đặc điểm về hình thức bên ngoài được
học sinh quan tâm nhất là chiều cao 78/100 học sinh, dáng người 63/100 và cân
nặng 60/100 học sinh. Đây cũng là ba yếu tố mà các em thường được người
khác đánh giá về mình: cao – thấp, to – nhỏ, mập - ốm. Nếu một em học sinh có
chiều cao tốt thì trông to hơn các bạn khác trong nhóm.
Bên cạnh đó, trong khi các em học sinh nam quan tâm nhiều hơn đến đặc
điểm về chiều cao và cân nặng thì còn các học sinh nữ quan tâm nhiều hơn đến
dáng người. Học sinh tiểu học phát triển về tư duy trực quan sinh động nên các
em rất coi trọng hình thức bên ngoài. Các em nam tham gia các hoạt động thể
thao, trò chơi vận động nên cho rằng cao và to là mạnh khỏe hơn, nhìn lớn hơn.
Các em nữ đã bắt đầu để ý đến vẻ đẹp của mình nên cho rằng dáng người đẹp sẽ
mặc quần áo đẹp.
Do đó, chiều cao là yếu tố được các em quan tâm nhiều nhất. Điều này thể
hiện rõ ở kết quả sau đây:
Bảng 4: Hình thức được học sinh quan tâm nhất
Tổng cộng STT Giới tính
Nam Nữ Đặc điểm về
TL % SL TL % SL TL % SL hình thức
Chiều cao 27 1 16 43 32.0 43.0 54.0
Cân nặng 6 2 10 20.0 16 16.0 12.0
Khuôn mặt 1 3 14 28.0 15 15.0 2.0
Dáng người 5 4 10 20.0 15 15.0 10.0
Cách ăn mặc 10 5 10 10.0 20.0
Màu da 1 6 1 1.0 2.0
Tổng cộng 50 100.0 50 100.0 100 100.0
Trong các đặc điểm về hình thức bên ngoài, có 43% học sinh quan tâm
nhiều nhất đến chiều cao của mình, chiếm tỷ lệ cao nhất so với các đặc điểm còn
lại. Trong đó, có 38% học sinh cho rằng: “Nếu cao có thể lấy đồ ở chỗ cao và
chơi các môn thể thao như cầu lông”, và 5% học sinh cho rằng: “Nếu thấp so
với các bạn khác thì nhìn rất xấu”. Kết quả trên cho thấy học sinh nhận thức
được những ưu điểm khi có được chiều cao tốt như nhìn cao lớn hơn các bạn
khác, dễ chơi các môn thể thao như bóng đá, cầu lông, bóng rổ, …
Bên cạnh yếu tố chiều cao, các em học sinh nữ quan tâm đến cân nặng và
dáng người nhiều hơn học sinh nam (20%). Kết quả này rất phù hợp với nhận
định của TS. Nguyễn Thị Bích Hạnh và TS. Trần Thị Thu Mai trong nghiên cứu
về “Tâm lý học tiểu học và tâm lý học sư phạm tiểu học” khi cho rằng học sinh
tiểu học có nguyện vọng giữ gìn về ngoài sạch, đẹp, muốn người mình sạch sẽ,
ăn mặc gọn gàng. Tuy nhiên, điều này thể hiện sự khác nhau trong quan niệm về
cái đẹp giữa học sinh nam và học sinh nữ. Nếu như đối với các học sinh nam vẻ
đẹp thể hiện ở việc ăn mặc như: quần áo sạch đẹp, gọn gàng vì “ăn mặc sạch sẽ,
gọn gàng sẽ được người khác đánh giá cao về mình” thì các bạn nữ cho rằng thể
hiện ở dáng người vì “dáng người là vẻ bề ngoài giúp mình có nét đẹp và xinh
xắn” hay “dáng người đẹp sẽ tự tin ra đường hơn”.
Bảng 2 và bảng 3 có kết quả tương đương nhau. Dù được lựa chọn ba hay
một yếu tố thì học sinh quan tâm nhiều nhất đến yếu tố “chiều cao”, sau đó là
“cân nặng” và “dáng người”, ở bảng 3 có thêm yếu tố “cách ăn mặc”. Như vậy,
kết quả trên có độ tin cậy cao.
Kết quả nghiên cứu trên cho thấy học sinh lớp 4, 5 nói riêng và học sinh
tiểu học nói chung rất quan tâm và tin vào sự đánh giá của người khác, cụ thể là
thầy cô, người lớn trong gia đình và bạn bè về mình. Từ đó, các em biết được
những đặc điểm nào thường được người khác khen tốt thì các em tin là tốt, và
ngược lại. Mặt khác, các em cũng thường so sánh đặc điểm của bản thân với
các bạn đồng trang lứa, các em sẽ tỏ ra mất tự tin trong tập thể nếu bản thân có
nhiều điểm thua kém hơn bạn như: quá gầy, quá mập, thấp, nhỏ, ăn mặc xuề xòa, …
Để làm rõ vấn đề trên, chúng tôi đã tìm hiểu về sự tự nhận thức và mức độ
hài lòng của các em về sáu đặc điểm hình thức của mình.
Bảng 5: Mức độ tự nhận thức và mức độ hài lòng về hình thức bên ngoài của
học sinh
STT Hình thức Mức độ tự nhận thức Mức độ hài lòng
ĐTB ĐLC ĐTB ĐLC
1 Chiều cao 1.66 0.54 1.80 0.71
2 Cân nặng 1.86 0.38 2.21 0.52
3 Khuôn mặt 1.79 0.41 1.75 0.46
4 Dáng người 1.90 0.41 1.93 0.41
5 Màu da 1.86 0.47 1.90 0.54
6 Cách ăn mặc 1.64 0.48 1.62 0.55
Điểm trung bình cho mức độ tự nhận thức của học sinh về các đặc điểm
hình thức bên ngoài từ 1.64 đến 1.90, tương ứng với mức độ trên trung bình.
Đây là những đặc điểm các em có thể nhìn thấy, so sánh được, thậm chí cân, đo
được nên có thể tự tin và mạnh dạn đánh giá. Điều này phù hợp với kết quả quan
sát đã thực hiện trong quá trình nghiên cứu. Hầu hết học sinh cho mình ở mức
trung bình, và số học sinh còn lại ở mức cao hơn, đẹp hơn. Điều này phù hợp
với đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học rằng các em có xu hướng đánh giá
mình cao hơn so với thực tế.
Bảng 6: Số đo chiều cao và cân nặng của trẻ em Việt Nam từ 10 – 11 tuổi đã
được công bố theo “Hằng số sinh học của người Việt Nam” năm 2003.
Cân nặng (kg) Chiều cao (m)
Nam Nữ Nam Nữ
Lớp 4 (10 tuổi) 23.22 ± 2.70 22.62 ± 2.72 126.02 ± 5.17 126.07 ± 5.35
Lớp 5 (11 tuổi) 25.14 ± 3.04 25.42 ± 3.55 130.41 ± 5.50 132.17 ± 6.12
Có 88.0% học sinh lớp 4, 5 có chiều cao từ 1.25m đến 1.50m, trong đó có
56.8% là học sinh nam và 43.2% là học sinh nữ. Có 12.0% học sinh cao từ
1.50m trở lên là học sinh lớp 5 và không có học sinh nào cao dưới 1.25m. Khi so
sánh với số liệu trên, chiều cao của các em ở mức trung bình trở lên, các em lớp
5 thì cao hơn. Trong 28 phụ huynh của học sinh tham gia khảo sát, có 100.0%
phụ huynh cho rằng chiều cao của con mình nằm ở mức từ 1.25m đến 1.50m.
Như vậy, đánh giá của học sinh về chiều cao của mình tương đối phù hợp với
nhận thức về chiều cao hiện tại.
Có 53.0% học sinh có cân nặng từ 21.0kg đến 40.0kg, trong đó có 58.5%
học sinh lớp 4 và 41.5% học sinh lớp 5. Có 60.7% phụ huynh nhận định tương
tự. Như vậy, 47.0% học sinh còn lại có cân nặng cao từ 40.0kg trở lên. So sánh
với số liệu trên thì cân nặng của học sinh ở mức độ từ trung bình trở lên.
Bảng 7: Kết quả về nhóm cân nặng giữa nhận thức của phụ huynh và học
sinh
STT Nhóm cân nặng TL %
(kg) Phụ huynh Học sinh
1 22 – 40.5 60.7 53.0
2 41 – 43 14.3 14.0
3 Lớn hơn 43 25.0 33.0
Tổng cộng 100.0 100.0
Khi so sánh giữa chiều cao và cân nặng do học sinh tự nhận thức về bản
thân mình với đánh giá của phụ huynh thì tương đối phù hợp (bảng 6). Có
53.0% học sinh cho rằng mình ở mức cân nặng từ 22 kg đến 40.5 kg, và có 60.7
phụ huynh cùng có ý kiến trên. Tuy nhiên, khi so sánh kết quả cân nặng trên với
số liệu chuẩn năm 2003 về hằng số sinh học của Người Việt Nam thì ở mức
trung bình trở lên. Điều đó cho thấy học sinh lớp 4, 5 có số đo về chiều cao và
cân nặng lớn hơn số đo chuẩn. Để giải thích cho điều này, chúng tôi đã tìm hiểu
thêm về biểu đồ phát triển chiều cao và cân nặng trẻ em của tổ chức WHO năm
2007 thì có kết quả như sau:
Bảng 8: Số đo cân nặng và chiều cao chuẩn theo thống kê của tổ chức WHO
năm 2007
Cân nặng (kg) Chiều cao (m)
Nam Nữ Nam Nữ
Lớp 4 (10 tuổi) 23 – 40.5 21 – 40 1.25 – 1.47 1.23 – 1.45
Lớp 5 (11 tuổi) 25 – 44 22 – 43 1.30 – 1.55 1.27 – 1.50
Số liệu trên cho thấy chỉ số chiều cao và cân nặng của học sinh lớp 4, 5
theo thống kê năm 2007 cao hơn so với năm 2003. Điều này chỉ mang tính chất
tương đối vì đây là số liệu thống kê quốc tế, không chỉ dành riêng cho người
Việt Nam. Nhưng cũng thể hiện sự thay đổi và phát triển sinh học của trẻ em
trong những năm gần đây theo chiều hướng tăng lên.
Từ kết quả phân tích trên cho thấy với các đặc điểm cụ thể, có thể cân, đo
được thì học sinh lớp 4, 5 trường Tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm tự nhận thức
tương đối hợp lý so với thực tế và có xu hướng cao hơn.
Để xác định sự khác biệt về mức độ tự nhận thức các đặc điểm hình thức
bên ngoài của bản thân với học lực, chúng tôi đã tiến hành kiểm định Chi-
Square với các mức ý nghĩa tương ứng là:
- Mức độ nhận thức về chiều cao và học lực: Sig = 0.5
- Mức độ nhận thức về cân nặng và học lực: Sig = 0.014
- Mức độ nhận thức về khuôn mặt và học lực: Sig = 0.785
- Mức độ nhận thức về dáng người và học lực: Sig = 0.05
- Mức độ nhận thức về màu da và học lực: Sig = 0.03
- Mức độ nhận thức về cách ăn mặc và học lực: Sig = 0.47
Từ kết quả kiểm định trên, với mức ý nghĩa Sig = < 0.05 cho thấy trình
độ học lực có liên quan đến mức độ tự nhận thức các đặc điểm về cân nặng,
dáng người và màu da.
Bảng 9: Thống kê mức độ nhận thức đặc điểm hình thức bên ngoài của học
sinh theo học lực
Kết quả học tập Tổng cộng
Giỏi Tiên tiến Mức độ nhận thức đặc
SL TL % SL TL % SL TL % điểm hình thức
Cao 35 25.0 37 37.0 2 38.0 Chiều cao
Trung bình 54 75.0 60 60.0 6 58.7
Thấp 3 3 3.0 3.3
Tổng cộng 100.0 8 100.0 100 100.0 92
Mập 15 15 15.0 16.3 Cân nặng
Vừa 76 84 84.0 82.6 8 100.0
Ốm 1 1 1.0 1.1
8 Tổng cộng 92 100.0 100.0 100 100.0
Đẹp 2 Khuôn 19 20.7 25.0 21 21.0
mặt Bình thường 73 79.3 6 75.0 79 79.0
Tổng cộng 92 100.0 8 100.0 100 100.0
To 14 15.2 14 14.0 Dáng
người Vừa 74 80.4 8 100.0 82 82.0
Nhỏ 4 4.3 4 4.0
Tổng cộng 100 100 100 92 100 8
Hợp thời Cách ăn 34 37.0 25.0 36 36.0 2 trang mặc
Bình thường 58 63.0 6 75.0 64 64.0
Tổng cộng 92 100.0 8 100.0 100 100.0
Trắng 19 20.7 19 19.0 Màu da
Ngăm 70 76.1 6 76 76.0 75.0
Đen 3 3.3 2 5 5.0 25.0
Tổng cộng 92 100 8 100 100 100
Kết quả cho thấy mức độ tự nhận thức về các đặc điểm hình thức của bản
thân mình của học sinh giỏi cao hơn học sinh tiên tiến. Học sinh tiên tiến có xu
hướng nhận thức các đặc điểm hình thức của mình ở mức “vừa”, tức trung bình.
Có 25% học sinh tiên tiến cho rằng màu da của mình đen, trong khi chỉ có 3.3%
học sinh giỏi có mức độ nhận thức tương tự. Ngoài ra, chỉ có 1.1% học sinh giỏi
cho rằng mình ốm và 4.5% cho rằng dáng người của mình nhỏ. Điều đó thể hiện
học lực càng cao thì các em càng tự tin hơn về bản thân mình. Điều này tương
đối phù hợp với kết quả nghiên cứu về đặc điểm tâm lý của lứa tuổi học sinh
cuối cấp tiểu học khi cho rằng sự tự đánh giá của trẻ giai đoạn này có mối liên
hệ chặt chẽ với trình độ học vấn.
Kết quả ở bảng 5 cũng cho thấy mức độ hài lòng của học sinh về đặc điểm
hình thức bên ngoài của mình từ 1.62 đến 2.21, tương ứng với mức hài lòng.
Trong đó, mức độ hài lòng về cân nặng của các em thấp hơn các đặc điểm còn
lại.
Cuối cấp tiểu học là giai đoạn hình thành và phát triển tư duy trực quan
hình tượng ở học sinh nên các em có thể phân loại được cân nặng của mình theo
dạng quá cân, vừa hay thiếu cân để có thể nhận thức được mình thuộc dạng mập,
vừa hay ốm. Ngoài việc học ở trường, các em học sinh thường xuyên tham gia
các lớp học ngoại khóa như: Tiếng Anh, thể thao, kỹ năng sống, học phụ đạo, …
nên cần cung cấp nhanh năng lượng để có thể tham gia vào các hoạt động trên.
Điều này cũng tạo điều kiện để các em thường xuyên tiếp xúc với các loại thức
ăn nhanh gây ra tình trạng thừa cân, dễ bị béo phì. Đây cũng là một trong những
vấn đề rất được các bậc phụ huynh quan tâm.
Tóm lại, học sinh lớp 4, 5 nhận thức các đặc điểm hình thức bên ngoài của
bản thân ở mức độ trên trung bình và tỏ ra hài lòng về những đặc điểm ấy của
bản thân. Nhìn chung, mức độ nhận thức giữ những học sinh giỏi và học sinh
tiên tiến nhìn chung không có sự khác biệt. Việc nhận thức và tỏ thái độ về các
đặc điểm hình thức bên ngoài của học sinh chịu ảnh hưởng từ đánh giá của
người lớn và bạn bè, đặc biệt, các em thường so sánh những đặc điểm của mình
với bạn để có thể nhận thức và tỏ thái độ về những đặc điểm đó.
2.2.1.2. Về phẩm chất, năng lực bản thân
Một trong những đặc điểm tâm lý đặc trưng của học sinh các lớp cuối cấp
tiểu học là các em có thể đánh giá khả năng và các phẩm chất tâm lý của mình
một cách độc lập hơn. Để làm rõ vấn đề này, chúng tôi tìm hiểu về sự tự nhận
thức của các em về tính cách và năng lực của mình.
Bảng 10: Tự nhận thức của học sinh về đặc điểm tính cách của bản thân
STT Tính cách TH TL %
1 Sôi nổi, hay cười nói 81 81.0
2 Mạnh dạn 63 63.0
Dễ dàng tha thứ cho người khác 3 58 58.0
Ham học, thích tìm hiểu 4 55 55.0
Nóng nảy, khó bình tĩnh 5 44 44.0
Thật thà 6 40 40.0
Chưa suy nghĩ kỹ trước khi làm 7 27 27.0 việc gì đó
8 Thích gì làm đó 25 25.0
9 Bướng bỉnh 23 23.0
10 Dễ tin người khác 20 20.0
11 Lười biếng 17 17.0
12 Cẩn thận 14 14.0
13 Nhút nhát 11 11.0
14 Hay bắt chước 9 9.0
15 Trầm lặng, ít nói 8 8.0
16 Khi có đồ chơi, đồ ăn… không 5 5.0 muốn chia sẻ cho người khác
Kết quả nghiên cứu cho thấy có ba nét tính cách được các em lựa chọn
nhiều nhất là: “sôi nổi, hay cười nói” chiếm tỷ lệ 81%, “mạnh dạn” chiếm tỷ lệ
63%, “dễ dàng tha thứ cho người khác” chiếm tỷ lệ 58%. Do đó, các em có xu
hướng nhận thức về các đặc điểm tính cách của bản thân một cách tích cực. Điều
này thể hiện rõ hơn khi các em tự liệt kê những điểm tốt và điểm chưa tốt của
bản thân ở bảng khảo sát dưới đây.
Bảng 11: Tự nhận thức của học sinh về các điểm tốt và chưa tốt của bản thân
Điểm tốt Điểm chưa tốt
TS TL % TS TL % Số lượng liệt kê
1 11 11.0 27 27.0
2 15 15.0 29 29.0
3 22 22.0 24 24.0
4 17 17.0 15 15.0
5 35 5 5.0 35.0
Tổng cộng 100 100.0 100 100.0
Khi được hỏi về các điểm tốt của bản thân, có 35% học sinh kể ra được
5/5 điểm, chiếm tỷ lệ nhiều nhất so với các số lượng liệt kê khác. Trong khi đó,
chỉ có 11% học sinh liệt kê được 1/5 điểm tốt. Các điểm tốt mà các em kể được
thường là: Biết giúp đỡ bạn bè, dễ tha thứ, học giỏi, thật thà, mạnh dạn. Một số
em kể được việc mình đã giúp đỡ bố mẹ công việc nhà, vâng lời người lớn.
Mặt khác, khi được hỏi về các điểm chưa tốt, chỉ có 5% học sinh kể được
5/5 điểm, chiếm tỷ lệ thấp nhất so với các số lượng liệt kê khác. Trong khi đó có
đến 27% học sinh kể được 1 điểm chưa tốt và 29% học sinh kể được 2 điểm.
Các điểm chưa tốt mà các em kể được thường là: chưa cẩn thận, nóng nảy, dễ
mất bình tĩnh, Các em nhận ra những đặc điểm này trong quá trình học tập và
vui chơi với bạn bè.
35
30
25
20
15
Điểm tốt Điểm chưa tốt
10
5
0
1 điểm
2 điểm
3 điểm
4 điểm
5 điểm
Biểu đồ 1: So sánh số lượng điểm tốt và điểm chưa tốt mà học sinh tự nhận
thức được
Kết quả trên cho thấy, các em học sinh có thể tự nhận thức được những
điểm tốt và chưa tốt của mình. Tuy nhiên, nhận thức của các em chưa thật khách
quan về những ưu và nhược điểm của bản thân, thể hiện ở con số chênh lệch giữ
số lượng điểm tốt và điểm chưa tốt mà các em kể được. Ở đây có thể nói đến hai
trường hợp: hoặc các em sợ người khác đánh giá không tốt về mình khi liệt kê ra
nhiều điểm chưa tốt, hoặc các em chưa nhận ra được những điểm đó. Tuy nhiên,
việc nhận thức của các em gắn với hoạt động chủ đạo là học tập và các hoạt
động khác trong quan hệ với gia đình và bạn bè. Dù chưa thật khách quan nhưng
điều đó cũng chứng tỏ rằng các em đã nhận thức về bản thân một cách có trách
nhiệm.
Chúng tôi thực hiện kiểm định Chi-Square để tìm hiểu mối liên hệ giữa
việc tự nhận thức các điểm tốt và chưa tốt của bản thân với lứa tuổi của học
sinh, ở đây thể hiện ở hai cấp lớp 4 và lớp 5. Kết quả kiểm định cho thấy có sự
khác biệt giữa việc tự nhận thức về ưu và nhược điểm của bản thân của học sinh
lớp 4 và lớp 5, với mức ý nghĩa là 0.01 (Sig < 0.05).
Bảng 12: Tự nhận thức của học sinh về điểm tốt và điểm chưa tốt theo khối
lớp
Điểm tốt Điểm chưa tốt
1 2 3 4 5 1 2 3 4 5
TL % TL % TL % TL % TL % TL % TL % TL % TL % TL % Lớp
4.0 8.0 20.0 24.0 14.0 28.0 24.0 4.0 4 44.0 30.0
18.0 22.0 24.0 10.0 30.0 18.0 6.0 6.0 5 26.0 40.0
Khi yêu cầu các em kể ra 5 điểm tốt của mình, có 4.0% học sinh lớp 4 và
18.0% học sinh lớp 5 kể được 1/5 điểm tốt. Trong khi đó, có 44.0% học sinh lớp
4 kể được và 26.0% học sinh kể được 5/5 điểm tốt. Kết quả cho thấy học sinh
lớp 4 kể được nhiều điểm tốt hơn học sinh lớp 5. Học sinh tiểu học chịu ảnh
hưởng từ sự đánh giá của bạn bè và người khác khi nhận thức về điều gì đó. Với
các đặc điểm có thể quan sát, đo đếm được, các em có thể dễ dàng nhận thức
dựa vào chuẩn đánh giá từ bạn bè hay người lớn mang đến. Ở học sinh lớp 4, 5
bắt đầu có ý thức về những giá trị đạo đức, nội quy, …trong nhà trường, gia
đình và xã hội xung quanh. Do đó, để biết được ưu điểm của mình như thế nào,
các em phải so sánh với những chuẩn mực đạo đức ấy. Lúc này, học sinh lớp 5
thận trọng hơn khi so sánh bản thân với những chuẩn mực ấy để đưa ra những
ưu điểm của mình.
Bên cạnh các điểm tốt, các em còn kể ra được các điểm chưa tốt của mình
với yêu cầu tương tự. Kết quả thu được thể hiện sự trái ngược so với việc tự
nhận thức các điểm tốt. Có 14.0% học sinh lớp 4 kể được 1/5 điểm chưa tốt,
4.0% em kể được 5/5 điểm, chiếm tỷ lệ cao nhất là 3/5 điểm với 30.0%. Kết quả
cho thấy rất ít học sinh kể được 5/5 điểm chưa tốt, và phần lớn học sinh kể được
3/5 điểm. Như vậy, học sinh lớp 4 dễ kể các điểm tốt của mình hơn là điểm chưa
tốt. Tỷ lệ giữa các điểm khá đồng đều, độ chênh lệch giữa tỷ lệ kể được 1/5 và
5/5 điểm chỉ có 10.0%.
Tuy nhiên, có 40.0% học sinh lớp 5 kể được 1/5 điểm chưa tốt, và chỉ có
6.0% kể được 5/5 điểm. Kết quả cho thấy việc kể ra các điểm chưa tốt thấp hơn
các điểm tốt và mức độ chênh lệch khá, 34.0%. Như vậy, sự nhận thức về các
điểm chưa tốt của mình chưa ổn định.
Mức độ chênh lệch giữa các tỷ lệ trên khá cao: Ở học sinh học sinh lớp 4,
chênh lệch về tỷ lệ kể được 1/5 điểm tốt và 5/5 điểm tốt là 40.0%. Ở học sinh
lớp 5, chênh lệch về tỷ lệ kể được 1/5 điểm chưa tốt và 5/5 điểm tốt là 34.0%.
Điều đó thể hiện sự chưa ổn định trong khả năng tự nhận thức các phẩm chất
tâm lý của bản thân ở học sinh lớp 4 và lớp 5. Điều này cũng phù hợp với kết
quả quan sát của chúng tôi khi thực hiện trò chơi với các em, hỗ trợ trong quá
trình nghiên cứu. Học sinh lớp 5 tỏ ra do dư, suy nghĩ trước khi nói ra các điểm
tốt và chưa tốt của mình. Trong khi học sinh lớp 4 có thể nói nhanh những đặc
điểm tốt của bản thân.
Trong nghiên cứu của TS. Vũ Thị Nho về khả năng tự đánh giá của học
sinh cuối bậc tiểu học cũng có đề cập đến tính ổn định trong việc tự đánh giá của
học sinh ở lứa tuổi này. Tác giả cho rằng tính ổn định trong tự đánh giá biểu
hiện ở chỗ, khi tự đánh giá các năng lực phẩm chất của mình, người tự đánh giá
giữ vững mức độ đánh giá về bản thân trong một thời gian nhất định nào đó. Kết
quả nghiên cứu cho thấy tính ổn định và tính bền vững trong tự đánh giá của học
sinh thể hiện chưa cao (31.0%), không đồng đều ở các loại học sinh. [20, tr. 85].
Theo cấu trúc của tự ý thức, tự nhận thức là cơ sở để học sinh tự đánh giá bản
thân nên nhận thức về các phẩm chất của bản thân chưa ổn định thì sẽ dẫn đến
tính bền vững trong tự đánh giá chưa cao.
Từ việc phân tích kết quả trên cho thấy học sinh lứa cuối bậc tiểu học có
xu hướng tự nhận thức bản thân cao hơn hiện thực, thể hiện ở việc kê nhiều
điểm tốt hơn là điểm chưa tốt của mình. Trong đó, học sinh lớp 5 dè dặt và thận
trọng hơn khi kể ra các ưu điểm.
Bảng 13: Tự nhận thức của học sinh về các môn học tốt ở trường
STT Môn học SL ĐTB ĐLC
1 Toán 1.45 0.64 66
2 Âm nhạc 1.96 0.84 25
3 Tiếng Việt 2.02 0.82 53
4 Lịch sử 2.06 0.83 17
5 Mỹ thuật 2.06 0.90 33
6 Đạo đức 2.14 0.66 14
7 Thể dục 2.28 0.63 32
8 Khoa học 2.29 0.82 45
9 Địa lý 2.40 0.84 10
10 Kỹ thuật 8 2.50 0.76
Khi được cho điểm về ba môn học giỏi nhất ở trường theo thứ tự 1, 2, 3
tương ứng với môn học giỏi nhất, nhì và ba, có 66 học sinh cho rằng mình học
giỏi môn Toán ở trường với Điểm trung bình = 1.45. Có 53 học sinh cho rằng
mình học môn Tiếng Việt giỏi thứ nhì (Điểm trung bình = 2.02) và 45 học sinh
chọn môn học giỏi thứ ba là Khoa học (Điểm trung bình = 2.29). Toán, Tiếng
Việt là hai môn học chính ở trường với số tiết học nhiều hơn các môn học còn
lại. Vì là môn học chính nên học sinh có nhiều cách để chú trọng đến việc nâng
cao điểm của các môn này. Em Quỳnh Như, lớp 4, cho rằng “Em học giỏi môn
Toán vì đây là môn em được nhiều điểm 10 nhất”. Từ đó cho thấy học sinh xác
định môn học tốt ở trường dựa vào số điểm. Điều này phù hợp với việc đánh giá
năng lực thông thường, là dựa vào kết quả lao động.
Để tìm hiểu xem các em có thích những môn học tốt ở trường hay không,
chúng tôi tiến hành kiểm định Chi-square để xác định mối liên hệ giữa việc biết
được môn nào học tốt ở trường và môn học nào các em yêu thích. Kết quả kiểm
định với mức ý nghĩa từ Sig = 0 đến Sig = 0.017 cho thấy các em thích những
môn mình học tốt ở trường.
2.2.1.3. Về vị trí và các mối quan hệ xã hội
Theo tác giả Nguyễn Kế Hào trong nghiên cứu về “Học sinh tiểu học và
nghề dạy học”, một trong những chức năng giao tiếp của học sinh tiểu học là
nhận thức lẫn nhau và đánh giá lẫn nhau. Do đó, các em bắt đầu quan tâm đến
các mối quan hệ xung quanh mình. Đối với học sinh lớp 4, 5, bên cạnh gia đình,
trường lớp và bạn bè có vị trí quan trọng trong các hoạt động hàng ngày của các
em.
a. Gia đình
Bảng 14: Sự tham khảo ý kiến của ba mẹ với học sinh trong gia đình
STT Nội dung TH TL %
1 Mua sách vở, dụng cụ học tập cho em 64 64.0
2 Chọn địa điểm tổ chức sinh nhật cho em 53 53.0
3 Mua quần áo cho em 51 51.0
4 Chọn địa điểm để cả nhà đi chơi 44 44.0
5 Mua đồ chơi cho em 36 36.0
6 Trang trí nhà cửa 18 18.0
7 Mua đồ dùng trong nhà 13 13.0
8 Việc khác 5 5.0
Tổng cộng 100 284.0
Các em cho rằng ba mẹ thường hỏi ý kiến của mình trong những việc có
liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến các em như: mua sách vở, dụng cụ học tập,
quần áo, đồ chơi. Trong đó, có 64.0% học sinh cho rằng bố mẹ thường hỏi ý
2 rằng bố mẹ không bao giờ hỏi ý kiến của các em. Em Anh Kiệt, lớp 4P
P cho rằng:
kiến khi mua sách vở và dụng cụ học tập cho em. Không có học sinh nào cho
Bố mẹ thường hỏi ý kiến khi chọn chỗ học anh văn cho em. Đây cũng là ý kiến
của một số học sinh khác trong 5.0% lựa chọn còn lại. Nhìn chung, các em đã
biết được những việc nào bố mẹ thường hay hỏi ý kiến mình. Qua đó, chúng tôi
tìm hiểu thêm về mức độ nhận thức của các em về vị trí của mình trong gia đình.
Bảng 15: Tự nhận thức của học sinh về vai trò trong gia đình
Lớp Tổng cộng
4 5 Vai trò trong gia SL TL % đình SL TL % SL TL %
Quan trọng 19 38.0 24 48.0 43 43.0
Bình thường 23 46.0 25 50.0 48 48.0
Không quan trọng 8 16.0 1 2.0 9 9.0
Tổng cộng 50 100.0 50 100.0 100 100.0
Khi hỏi về vai trò trong gia đình, có 48.0% học sinh nhận thấy vai trò của
mình ở mức bình thường. Bên cạnh đó, tỷ lệ học sinh nhận thấy mình giữ vai trò
quan trọng trong gia đình cũng khá cao là 43.0%. Từ những tương tác với người
lớn, ở đây là bố mẹ, đã cho các em nhận thấy được vai trò của mình trong gia
đình. Các em đã nhận thức được mình là một thành viên trong gia đình nên có
một vị trí quan trọng, đặc biệt ở những học sinh thường xuyên nhận được tình
thương yêu và muông chiều từ ông bà, ba mẹ, hoặc các thành viên khác thì càng
nhận thức rõ về sự quan trọng của mình. Bên cạnh đó, khi được bố mẹ tham
khảo ý kiến về việc mua sắm sách vở, quần áo, đồ chơi cho mình, đặc biệt là
một số quyết định của gia đình như chọn địa điểm đi chơi, trang trí nhà cửa, mua
sắm đồ dùng đã góp phần để các em khẳng định mức độ quan trọng của mình
trong gia đình.
25
20
15
10
Lớp 4 Lớp 5
5
0
Quan trọng Bình thường Không quan
trọng
Biểu đồ 2: Mức độ nhận thức về vai trò quan trọng trong gia đình của học
sinh lớp 4 và 5
Để tìm hiểu sự khác nhau giữa học sinh lớp 4 và học sinh lớp 5 khi nhận
thức về vai trò của mình trong gia đình, chúng tôi tiến hành kiểm định Chi-
Square với mức ý nghĩa Sig = 0.47 (Sig < 0.05). Kết quả cho thấy học sinh lớp 5
nhận thức về vai trò của mình trong gia đình ở mức độ cao hơn học sinh lớp 4.
b. Trên lớp học
Học sinh tiểu học ngay từ giờ phút đầu tiên đến trường đã sống với tập thể
lớp. Sự phát triển nhân cách của các em cũng gắn liền với cuộc sống nhà trường,
với tập thể. Đối với học sinh lớp 4, 5, vấn đề quan trọng không phải là làm giống
hệt như ý muốn của giáo viên mà là làm thế nào để được tập thể và các bạn chấp
nhận. Vì thế, các em rất chú ý đến vị trí của mình trong tập thể lớp. Sau đây sẽ
phân tích sự tự nhận thức của các em về vai trò của mình trong lớp.
Bảng 16: Tự nhận thức của học sinh về vai trò của mình trong lớp
STT Vai trò Giới tính Tổng cộng
Nam Nữ
TH TL % TH TL % TH TL %
Giúp đỡ khi thầy/ cô cần 23 46.0 23 46.0 1 46 46.0
Giúp bạn trong học tập 14 28.0 13 26.0 27 27.0 2
Nhắc các bạn giữ vệ sinh 18 36.0 6.0 21 21.0 3 3
Giúp đỡ khi bạn khiêng, 4 12 24.0 4.0 14 14.0 2 vác đồ nặng
14 14.0 6.0 11 22.0 3 Lớp phó 5
11 11.0 9 18.0 2 4.0 Tổ phó 6
10 10.0 5 10.0 5 10.0 Tổ trưởng 7
6 3 6.0 12.0 9 9.0 Lớp trưởng 8
Tổng cộng 50 160.0 50 144.0 100 152.0
Khi nói về vai trò của mình trong lớp, phần lớn học sinh đề cập đến việc
giúp đỡ thầy cô, bạn bè hơn là chức vụ trong lớp của mình. Có 46.0% học sinh
cho rằng mình thường giúp đỡ thầy/ cô khi cần. Học sinh tiểu học tin vào thầy
cô với một niềm tin gần như là tuyệt đối, thầy cô trở thành thần tượng đối với
các em. Do đó, các em rất xem trọng việc giúp đỡ thầy cô dù là những việc vặt
như: lấy phấn, lau bảng, phát vở bài tập, … Các em cảm thấy tự hào khi được
thầy cô nhờ vả. Bên cạnh đó, các em cũng thường giúp đỡ bạn bè trong học tập,
thực hiện nội quy trong lớp và đỡ đần các công việc nặng. Tỷ lệ học sinh nam
và học sinh nữ có cùng nhận thức trên là bằng nhau. Tuy nhiên, khi so sánh với
nhận thức của giáo viên về vấn đề này thì có sự chênh lệch. Theo các giáo viên
chủ nhiệm, có 69 trường hợp học sinh trong lớp thường giúp đỡ khi thầy cô cần.
Trong đó có 58.0% là học sinh nam và 42.0% là học sinh nữ. Tương tự, trong
các đánh giá khác của giáo viên như: giúp bạn trong học tập, giúp bạn khiêng
vác đồ nặng, nhắc bạn giữ vệ sinh thì tỷ lệ của học sinh nam cao hơn học sinh
nữ. Điều đó cho thấy các bạn nam thường hiếu động hơn, mạnh khỏe hơn, có thể
giúp đỡ những công việc cần dùng sức nhiều như khiêng bàn ghế, lấy đồ dùng
cho lớp, …
Tỷ lệ học sinh giữ vị trí là cán sự lớp thấp hơn so với các vai trò còn lại.
Giải thích vấn đề này là cách tổ chức lớp ở các trường tiểu học nói chung,
trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm nói riêng với cơ cấu cán sự lớp gồm có:
một lớp trưởng, một lớp phó, một tổ trưởng, một tổ phó. Từ đó hạn chế số lượng
học sinh giữ vị trí cán sự ở mỗi lớp.
Khi nhận thức về vai trò của mình trong lớp học, học sinh lớp 4, 5 quan
tâm đến những việc thường làm một cách cụ thể hơn là chức vụ của mình trong
lớp, nổi bật nhất là việc giúp đỡ thầy cô khi cần. Kết quả này cũng phù hợp với
đánh giá của giáo viên chủ nhiệm lớp các em. Có 69.0% giáo viên cho rằng học
sinh của mình thường giúp đỡ khi thầy cô cần, có có 66.0% giáo viên cho rằng
học sinh thường giúp đỡ bạn bè trong học tập. Trong kết quả này, số lượng học
sinh nam chiếm ưu thế hơn học sinh nữa.
c. Trong quan hệ bạn bè
Bảng 17: Mối quan hệ bạn bè
STT Quan hệ bạn bè TH TL %
1 Bạn cùng lớp 75 75.0
2 Bạn cùng trường 47 47.0
3 Bạn cùng tổ 39 39.0
4 Bạn cùng nhóm 30 30.0
5 Bạn cùng xóm 27 27.0
6 Bạn khác 1 1.0
Tổng cộng 100 219.0
Nếu như ở lứa tuổi mẫu giáo và đầu tiểu học, giao tiếp của trẻ chủ yếu có
đối tượng là người lớn, thì đối với học sinh cuối bậc tiểu học, sự phát triển
chung nhiều mặt của nhân cách trong đó đặc biệt là sự phát triển thể chất và
ngôn ngữ đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao tiếp với những người xung
quanh. Các em đã có thể chủ động mở rộng không gian và thời gian giao tiếp.
Đây cũng là giai đoạn “quá độ” chuyển từ tuổi nhi đồng sang tuổi thiếu niên, đã
tạo ra manh nha của sự chuyển hướng hoạt động chủ đạo ở một số em phát triển
sớm. Đó là sự phát triển mạnh mẽ hoạt động giao tiếp, nhất là giao tiếp với bạn
cùng tuổi. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 38.0% học sinh cho rằng mình có
trên 10 người bạn thân, và chiếm đa số là bạn bè giao tiếp trong hoạt động học ở
trường. Trong số đó, bạn cùng lớp chiếp 75.0%. Như vậy, ở học sinh lớp 4, 5
mối quan hệ với bạn bè đồng trang lứa, đặc biệt là bạn cùng lớp giữ vị trí quan
6 Yến, lớp 5P
P thì: “khi có chuyện buồn em thường tâm sự với bạn Thanh Nga học
trọng trong đời sống của các em, thông qua hoạt động học tập. Theo em Hoàng
cùng lớp”.
Khi nghiên cứu về đối tượng giao tiếp của học sinh cuối bậc tiểu học, TS.
Đào Thị Oanh cũng có kết quả tương tự. Tác giả cho rằng đối tượng giao tiếp
của học sinh cuối bậc tiểu học chiếm tỷ lệ cao thứ hai là bạn bè, đặc biệt là bạn
bè học cùng lớp, cùng giới tính, cùng lứa tuổi và ở cùng địa chỉ. Tác giả cũng
khẳng định nếu như cha mẹ đối với trẻ như là một người lớn, một người có kinh
nghiệm trong đó chứa đựng lòng dũng cảm, sự thông thái, sự công bằng và tất cả
những điều này làm cho những ý kiến, hành vi và sự đánh giá của họ như là một
tấm gương lý tưởng của trẻ, thì bạn cùng tuổi là một người ngang hàng, bình
đẳng với trẻ trong mọi phẩm chất: công việc, nhận thức cũng như nhân cách.
Thật vậy, trường Tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm với mô hình bán trú đã
tạo điều kiện cho các em tiếp xúc với nhau nhiều hơn không những trong hoạt
động học tập mà còn ăn, ngủ, vui chơi, sinh hoạt ngoại khóa, … Trong những
hoạt động đó, hầu hết các em sinh hoạt theo lớp nên dễ dàng chia sẻ với nhau
những sở thích, những nguyện vọng, chuyện vui, chuyện buồn, nhất là những
chuyện chưa dám chia sẻ với bố mẹ.
2.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 5
2.2.2.1. Yếu tố sinh lý
Ngày nay, điều kiện sinh hoạt vật chất được cải thiện và ngày càng nâng
cao. Các em học sinh có cơ hội được dùng nhiều thực phẩm bổ dưỡng, cung cấp
nhiều chất đạm như sữa, ngũ cốc, thức ăn nhanh, …, được chăm sóc sức khỏe
tốt hơn. Từ việc bổ sung nhiều chất dinh dưỡng, các em sẽ có sự nhận thức tinh
nhạy hơn về xung quanh cũng như bản thân mình.
2.2.2.2. Yếu tố xã hội
a. Gia đình
Gia đình là nơi có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển nhân
cách của học sinh, nhất là trong giai đoạn cuối của lứa tuổi học sinh tiểu học,
chuẩn bị bước vào giai đoạn dậy thì.
Bảng 18: Đối tượng học sinh thường tìm đến khi cần tâm sự
STT Đối tượng học sinh thường tâm sự TS TL %
1 Bố 3 3.0
2 Mẹ 42 42.0
3 Người thân khác trong gia đình 8 8.0
4 Bạn bè 41 41.0
5 Thầy/ cô 3 3.0
6 Không ai hết 3 3.0
Tổng cộng 100 100.0
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 42.0% học sinh thường chia sẻ với mẹ
những tâm tư của mình. Mẹ thường là người gần gũi hơn với các em, dễ bày tỏ
tình yêu thương hơn bố. Từ đó, học sinh sẽ học được những thói quen, cách
nhận thức và xử lý vấn đề. Nếu mẹ thường phân tích cho các em về những đặc
điểm hình thức của bản thân như: như thế nào gọi là cao/ thấp/ mập/ ốm, cách
làm để giữ vẻ bề ngoài của mình đẹp, … những tính cách tốt và không tốt,
phương pháp học tốt, … thì các em sẽ có sự tự nhận thức về bản thân mình rõ
ràng hơn.
Bảng 19: Mối liên hệ giữa mức độ tự nhận thức của học sinh về vai trò của
mình trong gia đình và đối tượng học sinh thường tâm sự
Mức độ tự nhận thức
về vai trò trong gia
đình
Quan Bình Không Tổng
STT trọng thường quan trọng cộng
Người thường tìm đến tâm sự
Bố 1 2 1 3 0
Mẹ 42 2 2 17 23
Người thân khác trong gia đình 5 0 8 3 3
Bạn bè 19 18 41 4 4
Thầy/ cô 0 3 3 0 5
Không ai hết 0 3 3 0 6
9 Tổng cộng 43 48 100
Sau khi tiến hành kiểm định Chi-Square về mối liên hệ giữa người mà học
sinh thường tìm đến tâm sự và sự tự nhận thức về vai trò của mình trong gia
đình với mức ý nghĩa là 0.02 (Sig < 0.05). Những học sinh thường tâm sự với
người thân trong gia đình như bố, mẹ và bạn bè thì nhận thức vai trò của mình
trong gia đình ở mức quan trọng hơn những học sinh thường tìm đến thầy cô hay
không tâm sự với ai.
b. Trên lớp học
Ngoài các giờ học ở trường, trường Tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm rất
quan tâm đến các hoạt động sinh hoạt ngoại khóa dành cho học sinh. Hiện nay
có nhiều trung tâm cộng tác với trường như: Trung tâm Anh ngữ Appolo, trung
tâm giáo dục năng khiếu Angle, trung tâm phát triển Kỹ năng sống IDO, …
Không những thế, trường Tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm còn có giờ sinh hoạt
ngoại khóa về Kỹ năng sống dành cho học sinh các khối lớp vào hàng tuần.
Bảng 20: Sự tham gia các hoạt động ngoại khóa của học sinh trường Tiểu
học Nguyễn Bỉnh Khiêm
Sự tham gia của học sinh TS TL %
Không 71 71.0
Có 29 29.0
Tổng cộng 100 100.0
Chỉ có 29.0% học sinh có tham gia các hoạt động sinh hoạt ngoại khóa
được tổ chức trong và ngoài trường Tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm. Kết quả trên
cho thấy số học sinh có tham gia các hoạt động ngoại khóa chiếm tỷ lệ rất thấp.
Chúng tôi thực hiện kiểm định Chi-Square để phân tích sự khác biệt giữa học
sinh có và không tham gia các hoạt động ngoại khóa trong việc tự nhận thức về
bản thân và thu được kết quả như bảng sau:
Bảng 21: Mối liên hệ giữa việc tham gia hoạt động ngoại khóa và sự tự nhận
thức bản thân
Sự tự nhận thức bản thân Mức ý nghĩa (Sig.)
Chiều cao 0.73
Cân nặng 0.29
Các đặc điểm hình
Khuôn mặt 0.34 thức bên ngoài
Dáng người 0.42
Màu da 0.63
Cách ăn mặc 0.24
0.79 Điểm tốt và điểm Điểm tốt
chưa tốt của bản
Điểm chưa tốt 0.15 thân
Tự nhận thức về mối quan hệ bạn bè 0.61
Tự nhận thức về vai trò trong gia đình 0.70
Tự nhận thức về vai trò trong lớp 0.33
Kết quả kiểm định cho thấy các mức ý nghĩa đều lớn hơn 0.05 nên không
có mối liên hệ giữa việc tham gia sinh hoạt ngoại khóa và tự nhận thức về các
đặc điểm, vai trò của bản thân. Hay nói cách khác, việc tham gia các hoạt động
ngoại khóa không ảnh hưởng đến mức độ tự nhận thức bản thân của học sinh.
Nguyên nhân của vấn đề này là do số lượng học sinh tham gia hoạt động ngoại
khóa chiếm tỷ lệ rất thấp so với tỷ lệ học sinh có tham gia các hoạt động này.
Mặt khác, trong số đa số trong số 29.0% học sinh còn lại thì tham gia các lớp
học tại trung tâm Anh ngữ, tại các lớp học này các em được cung cấp nhiều kiến
thức về ngôn ngữ hơn là bản thân mình, cũng như kỹ năng hỗ trợ sự tự nhận
thức bản thân.
c. Bạn bè
Với học sinh lớp 4, 5, bạn bè giữ vị trí quan trọng và là đối tượng ưu tiên
trong hoạt động giao tiếp của các em. Đối tượng bạn bè mà chúng tôi đề cập ở
đây là bạn đồng trang lứa, bạn cùng lớp, cùng trường với các em.
Sau mẹ, có 41.0% học sinh thường tìm đến bạn bè để tâm sự khi có
chuyện vui, buồn. Các em có thể ngồi trò chuyện với bạn hàng giờ để chia sẻ đủ
thứ chuyện như: khoe đồ mới, kể về một chuyến đi chơi cuối tuần với gia đình,
hoặc những chuyện khó chia sẻ với người lớn như: thích/ không thích một bạn
nào trong lớp, thích/ không thích một môn học nào đó, thích chơi với bạn này,
3 quan tâm đến sự đánh giá của bạn bè về mình, em Bảo Trân, lớp 4P
P cho rằng:
không thích chơi với bạn kia, … Từ việc gần gũi, chia sẻ với nhau, các em rất
5 ghẹo”, còn em Khánh Mỹ, lớp 5P
P thì cho rằng: “Chiều cao là quan trọng nhất vì
“Em rất quan tâm đến cân nặng của mình vì khi mập sẽ dễ bị bạn bè chọc
nếu em lùn thì sẽ bị các bạn gọi là con gái và đặt biệt danh là lùn”. Ngoài ra,
1 đặc điểm của bản thân với bạn. Em Bình Minh, lớp 4P
P cho rằng: “Nếu em thấp
các em còn lấy bạn bè làm chuẩn để tự nhận thức bản thân và hay so sánh những
so với các bạn thì sẽ rất xấu, còn nếu em cao thì sẽ khác đi”.
Lứa tuổi lớp 4, 5 còn được xem là lứa tuổi dự thính để bước vào lứa tuổi
dậy thì. Đặc biệt ngày nay với gia tốc phát triển nhanh thì có nhiều em dậy thì
sớm. Các em đã có những nhận thức về bản thân mình rõ ràng hơn như: đặc
điểm tính dục của nam và nữ, biết mắc cỡ khi người khác đánh giá về mình. Bạn
bè còn được xem là thước đo để các em tự nhận thức và cao hơn là đánh giá về
bản thân mình để tự điều chỉnh.
2.2.2.3. Yếu tố bản thân
Theo các kết quả nghiên cứu đã phân tích ở bảng 6 về “Thống kê mức độ
tự nhận thức đặc điểm hình thức bên ngoài của học sinh theo học lực”, trong
khi học sinh giỏi có xu hướng nhận thức về các đặc điểm hình thức bên ngoài
của mình ở mức “cao” như: dáng người to, cao, ăn mặc hợp thời trang, … thì
học sinh tiên tiến có xu hướng nhận thức về các đặc điểm hình thức bên ngoài
của mình ở mức “trung bình” như: dáng người vừa, ăn mặc bình thường, khuôn
mặt đẹp, … Do đó, học sinh có học lực cao hơn thì có xu hướng tự nhận thức về
các đặc điểm hình thức bên ngoài của bản thân tích cực hơn.
Bên cạnh đó, những học sinh có đặc điểm tính cách khác nhau cũng có
mức độ tự nhận thức bản thân khác nhau.
Bảng 22: Mức độ tự nhận thức về điểm tốt và điểm chưa tốt của học sinh có
đặc điểm tính cách khác nhau
STT Đặc điểm tính cách TL % số điểm tốt TL % số điểm
chưa tốt
Từ 1 – 3 Từ 4 – 5 Từ 1 – 3 Từ 4 – 5
1 Trầm lặng, ít nói 6.3 9.6 7.5 10.0
2 Nhút nhát 14.6 7.7 8.8 20.0
3 Nóng nảy, khó bình tĩnh 52.1 36.5 40.0 60.0
4 Chưa suy nghĩ kỹ trước 20.8 32.7 26.3 30.0 khi làm việc gì
5 Bướng bỉnh 29.2 17.3 23.8 20.0
6 Cẩu thả 8.3 19.2 13.8 15.0
7 Thích gì làm đó 20.8 28.8 26.3 20.0
8 Khi có đồ chơi, đồ ăn, …
không muốn chia sẻ với 9.6 5.0 5.0
người khác
9 Lười biếng 22.9 11.5 18.8 10.0
10 Hay bắt chước 12.5 5.8 6.3 20.0
11 Dễ tin người khác 25.0 15.4 17.5 30.0
12 Sôi nổi, hay cười nói 75.0 87.5 82.5 75.0
13 Mạnh dạn 58.3 67.3 63.8 60.0
14 Dễ tha thứ cho người 60.4 55.8 62.5 40.0 khác
15 Ham học, thích tìm hiểu 54.2 55.8 52.5 65.0
16 Thật thà 35.4 44.2 37.5 50.0
Tổng cộng 100.0 100.0 100.0 100.0
Kết quả khảo sát trên cho thấy học sinh có đặc điểm tính cách trầm lặng –
ít nói kể được số điểm chưa tốt có tỷ lệ % cao hơn số điểm tốt. Ngược lại, học
sinh có đặc điểm tính cách sôi nổi, hay cười nói thì kể được số điểm tốt có tỷ lệ
cao hơn số điểm chưa tốt. Những học sinh có đặc điểm tính cách mạnh dạn, ham
học hỏi kể được số điểm tốt và điểm chưa tốt có tỷ lệ tương đương nhau. Những
học sinh có đặc điểm tính cách khác thì chưa có sự khác biệt rõ ràng.
Từ đó cho thấy năng lực và tính cách có ảnh hưởng đến sự tự nhận thức
bản thân của học sinh. Ngoài ra, những học sinh có xu hướng hướng ngoại, thích
giao tiếp, tìm hiểu, học hỏi thì có sự tự nhận thức về bản thân mình dễ dàng hơn.
2.2.3. Một số biện pháp nâng cao chất lượng tự nhận thức bản thân của học
sinh lớp 4, 5
2.2.3.1. Cơ sở đề xuất các biện pháp
Cơ sở lý luận a.
• Cơ chế hình thành sự tự nhận thức bản thân
Ý thức là hình ảnh phản ánh hiện thực cao nhất của con người. Khái niệm
ý thức được xây dựng dựa trên cơ sở của tâm lý học hoạt động, trên nền tảng của
chủ nghĩa duy vật biện chứng. Trong đó, tự ý thức là một trong những thuộc tính
cơ bản của ý thức. Tự nhận thức bản thân là một thành tố trong cấu trúc của tự ý
thức, thể hiện ở việc cá nhân tự nhận thức về bản thân mình từ đặc điểm bên
ngoài, năng lực, phẩm chất đến vị thế xã hội, hay nói cách khác là các yếu tố về
bản thân và xã hội. Do đó, muốn tác động đến sự tự nhận thức bản thân thì tác
động đến yếu tố bản thân và yếu tố xã hội.
• Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tự nhận thức bản thân
Nguyên tắc quyết định luận trong tâm lý học Macxist đã khẳng định:
nguyên nhân quyết định việc nảy sinh các hiện tượng tâm lý là do các tác động
bên ngoài, nhưng không phải trực tiếp mà phải thông qua các điều kiện bên
trong và hoạt động của chủ thể. Trên cơ sở đó, chúng tôi đưa ra năm nhóm yếu
tố gồm:
- Nhóm biện pháp tác động từ phía gia đình
- Nhóm biện pháp tác động từ trường lớp
- Nhóm biện pháp tác động từ giáo viên
- Nhóm biện pháp tác động từ bạn bè
- Nhóm biện pháp tác động từ phía bản thân học sinh
Cơ sở thực tiễn b.
Kết quả phân tích thực trạng nghiên cứu cho thấy năm nhóm yếu tố trên
có ảnh hưởng đến đặc điểm tự nhận thức bản thân của học sinh ở các mức độ
khác nhau.
2.2.3.2. Các nhóm biện pháp tác động đến sự tự nhận thức bản thân
của học sinh lớp 4, lớp 5
Nhóm biện pháp tác động từ phía gia đình a.
Bố mẹ thường xuyên chia sẻ với học sinh về những khó khăn trong học
tập, động viên, khích lệ những việc các em làm tốt, phân tích nguyên nhân của
những việc làm chưa tốt, những sai phạm sẽ tạo thói quen cho các em nhận thức
về ưu và khuyết điểm của mình, cũng như năng lực của bản thân.
Đây là lứa tuổi mong muốn được làm người lớn nên các em rất mong
muốn bản thân cũng có đóng góp trong hoạt động chung của gia đình. Bố mẹ
tham khảo ý kiến của các em về việc chọn địa điểm cho cả nhà đi nghỉ cuối tuần
sẽ giúp các em nhận thức rõ hơn mình là một thành viên quan trọng trong gia
đình. Bên cạnh đó, phân công một số việc nhà cho các em, khen ngợi sự cố
gắng, cho các em nhận thấy mình cũng có những đóng góp cho gia đình như các
thành viên khác.
Các bậc phụ huynh cũng cần quan tâm đến quan hệ bạn bè của con mình
để có thể biết được những ảnh hưởng của bạn bè đến con là tốt hay chưa tốt, từ
đó có sự can thiệp kịp thời.
Nhóm biện pháp tác động từ trường lớp b.
Tham gia các hoạt động sinh hoạt tập thể sẽ giúp học sinh mở rộng mối
quan hệ với bạn bè. Từ đó các em có thể chia sẻ với bạn bè những suy nghĩ,
nhận thức của mình về bản thân, về bạn bè. Hình ảnh của bạn bè sẽ là tấm
gương để trẻ tự soi vào mình mà thay đổi. Một trong những hoạt động ngoại
khóa hiện tại nhà trường đang tổ chức là kết hợp với các trung tâm giáo dục
khác như: Trung tâm giáo dục và phát triển kỹ năng sống IDO, Trung tâm Tiếng
Anh Appolo với các giờ học tiếng Anh sinh động, Trung tâm thể thao với các
hoạt động như: võ thuật, aerobic, … Nhà trường cần tổ chức những hoạt động
ngoại khóa luân phiên cho các khối lớp như: Đi dã ngoại khám phá điều mới vào
cuối tuần, cuộc thi viết về bản thân mình, …
Bên cạnh đó, các hoạt động Đội với những trò chơi liên quan đến các đặc
điểm cơ thể sẽ giúp học sinh suy nghĩ nhiều hơn về bản thân mình, từ đó có thể
nhận thức một cách chính xác hơn. Hàng năm, nhà trường có rất nhiều chương
trình để tạo điều kiện cho các em được cùng tham gia xây dựng hoạt động phong
trào như: Làm báo tường, ngày hội từ thiện đón Tết hàng năm, thi kể chuyện về
Bác Hồ Chí Minh, … Nhà trường cần mở rộng và tăng cường các hoạt động
Đoàn, Hội đến nhiều đối tượng học sinh hơn nữa để em nào cũng có cơ hội tham
gia.
Nhóm biện pháp tác động từ phía thầy cô c.
Thầy cô là người có tác động rất lớn đến sự hình thành và phát triển nhân
cách của các em đặc biệt trong giai đoạn này. Học sinh có nhiều thời gian để học
hỏi từ thầy cô không chỉ trong hoạt động học tập mà cả trong ứng xử hàng ngày.
Do đó, những nhận xét, đánh giá của thầy cô sẽ hình thành trong các em sự tự
nhận thức về bản thân mình. Các em rất tin vào thầy cô, và đặc biệt những đánh
giá của thầy cô một cách đúng lúc, đúng hoàn cảnh sẽ trở thành dấu ấn trong các
em.
Nhóm biện pháp tác động từ phía bạn bè d.
Bên cạnh gia đình, nhà trường, thầy cô, bạn bè là nhân tố có tác động
thường xuyên, gần gũi nhất đến học sinh. Trẻ biết thông cảm cho các bạn đồng
trang lứa có những đặc điểm khác biệt với mình như: mập, thấp bé, học không
giỏi, … vì không ai là hoàn hảo.
Việc cùng tham gia chơi trong một nhóm bạn cũng tạo điều kiện cho trẻ
hiểu bạn mình hơn, từ đó hiểu bản thân mình hơn.
Nhóm biện pháp tác động từ phía bản thân học sinh e.
Để học sinh có thể tự nhận thức về bản thân mình một cách thực tế và
thiết thực, các em cần quan tâm đến các yếu tố sau:
- Đặc điểm của bản thân: để đảm bảo sức khỏe, các em cần tạo thói quen
sinh hoạt theo đồng hồ sinh học, tham gia các môn thể thao để rèn luyện sự dẻo
dai, bền bỉ, tự tin vào sức mạnh của bản thân. Bên cạnh đó, tìm cho mình một sở
thích hoặc đam mê và dành thời gian để theo đuổi đam mê ấy như: vẽ, đọc sách
khoa học, giải câu đố, chơi đá banh, … Biết được điểm mạnh của bản thân sẽ
giúp trẻ tự tin hơn khi tự nhận thức về bản thân mình.
- Mối quan hệ xã hội: chủ động tham gia vào công việc nhà như: phụ giúp
ba mẹ việc nhà, chia sẻ những mong muốn, ước mơ của bản thân cho ba mẹ biết
và có lời khuyên, động viên kịp thời. Đối với bạn bè, trẻ có thể chia sẻ với bạn
những tâm tư, tình cảm, khó khăn để thông cảm, học hỏi lẫn nhau.
Kết luận chương 2
Qua quá trình khảo sát, tìm hiểu, kết quả nghiên cứu cho thấy học sinh lớp
4, lớp 5 có xu hướng tự nhận thức về bản thân mình cao hơn thực tế. Điều đó thể
hiện qua việc các em rất quan tâm đến yếu tố chiều cao của mình, vì chiều cao
thể hiện mức độ to, nhỏ của trẻ trong tập thể. Bên cạnh đó, các em có xu hướng
tự nhận thức về đặc điểm tính cách và năng lực của mình theo hướng tốt/ cao
nhiều hơn.
Từ kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi đưa ra một số biện pháp để có thể
nâng cao kỹ năng tự nhận thức bản thân của trẻ.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
KẾT LUẬN
Về mặt nghiên cứu lý luận: đề tài đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận 1.
về sự tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, lớp 5 bằng cách:
- Làm rõ khái niệm sự tự nhận thức bản thân trên cơ sở phân tích khái niệm
về tự ý thức. Khái niệm được phân tích ở các mặt: định nghĩa, vai trò, nội dung.
- Từ đó phân tích khái niệm sự tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4,
lớp 5.
Do đó, đề tài đã thực hiện được nhiệm vụ đầu tiên đã đặt ra.
Về mặt nghiên cứu thực tiễn: đề tài đã đạt được những kết quả sau: 2.
- Học sinh lớp 4, lớp 5 nhận thức các đặc điểm hình thức bên ngoài của bản
thân ở mức độ trên trung bình và tỏ ra hài lòng về những đặc điểm ấy. Không có
sự khác biệt rõ rệt về mức độ tự nhận thức bản thân giữ học sinh có học lực khác
nhau.
- Học sinh lớp 4, lớp 5 có xu hướng tự nhận thức về các đặc điểm tính cách
và năng lực học tập của mình ở mức độ từ trung bình trở lên, tính ổn định và bền
vững chưa cao. Bạn bè là đối tượng trẻ thường tìm gặp để chia sẻ hơn là ba mẹ,
thầy cô.
Như vậy, đề tài đã thực hiện được nhiệm vụ thứ hai, đồng thời đã chứng
minh được giả thuyết đưa ra rằng “tự nhận thức của học sinh lớp 4, lớp 5 ở mức
độ trung bình là chưa đúng. Theo kết quả nghiên cứu, học sinh tự nhận thức về
các đặc điểm hình thức bên ngoài của mình và tính cách, năng lực học tập ở mức
độ trên trung bình.
Bên cạnh đó, giả thuyết có sự khác biệt về đặc điểm sự tự nhận thức bản
thân giữa những học sinh có và không tham gia các lớp sinh hoạt ngoại khóa là
chưa đúng.
Đề tài cũng chứng minh giải thuyết về sự khác biệt về sự tự nhận thức bản
thân giữa học sinh nam và nữ, học sinh có học lực khác nhau là đúng.
- Việc nhận thức và tỏ thái độ về bản thân của học sinh chịu ảnh hưởng từ
đánh giá của người lớn và bạn bè, đặc biệt, các em thường so sánh những đặc
KHUYẾN NGHỊ
điểm của mình với bạn để có thể nhận thức và tỏ thái độ về những đặc điểm đó.
Đối với các tổ chức giáo dục 1.
Cần chú trọng đến các hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tại
các trường tiểu học nói riêng, tại trường phổ thông nói chung. Việc đưa các hoạt
động ngoại khóa vào hệ thống chương trình giảng dạy sẽ giúp mở rộng cơ hội
rèn luyện các kỹ năng, trong đó có kỹ năng tự nhận thức bản thân cho học sinh.
Đẩy mạnh việc ứng dụng phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung
tâm.
Cải tiến hệ thống đánh giá năng lực và hạnh kiểm của học sinh theo chiều
dọc, có nghĩa là so sánh kết quả của học sinh theo trục thời gian. Tập thói quen
so sánh mình với bản thân mình để nhận ra sự tiến bộ hay thoái lùi. Từ đó, học
sinh có thể tự xây dựng cho mình kế hoạch phấn đấu.
Đối với gia đình 2.
Bố mẹ tạo điều kiện cho trẻ tham gia các hoạt động ngoại khóa như: câu
lạc bộ bóng đá, sinh hoạt tại nhà văn hóa thiếu nhi, chương trình sinh hoạt dã
ngoại cuối tuần, … để trẻ có cơ hội giao lưu với bạn bè đồng trang lứa, học hỏi
từ bạn bè và những người xung quanh, khám phá nhiều điều mới lạ qua trải
nghiệm. Nhờ vậy, trẻ có thể tự nhận thức về bản thân mình một cách rõ ràng hơn.
Bên cạnh đó, bố mẹ cần làm bạn với trẻ, chia sẻ những tâm tư, nguyện
vọng, mong ước của trẻ để hiểu được nhận thức của trẻ về bản thân mình như
thế nào, từ đó có thể phân tích và định hướng cho trẻ.
Việc tạo điều kiện cho trẻ tham gia vào các công việc hàng ngày của gia
đình như: dọn dẹp nhà cửa, chuẩn bị một bữa ăn, chuẩn bị một bữa tiệc, lập kế
hoạch đi du lịch cho cả nhà, … sẽ giúp trẻ nhận ra vai trò của mình với tư cách
là một thành viên của gia đình. Từ đó, trẻ sẽ có trách nhiệm hơn với bố, mẹ, bản
thân, với công việc chung của gia đình và với những người khác.
Đối với nhà trường 3.
Tăng cường các hoạt động sinh hoạt ngoại khóa trong hệ thống chương
trình của nhà trường. Mở các lớp sinh hoạt kỹ năng sống trong dịp hè để tạo điều
kiện cho trẻ rèn luyện và trải nghiệm với các bài học kỹ năng.
Tăng cường tổ chức các hoạt động tập thể, hoạt động Đội để tạo cơ hội
cho trẻ được tham gia vào các hoạt động tập thể.
Đối với thầy cô 4.
Chú trọng phương pháp giảng dạy lấy học sinh làm trung tâm để tạo điều
kiện cho trẻ tự do trình bày quan điểm của mình, từ đó trẻ có có hội bộc lộ khả
năng trước tập thể, nhận ra điểm mạnh, điểm chưa mạnh của bản thân và phấn
đấu hoàn thiện hơn.
Phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong lớp để trẻ tự tin, dạn dĩ hơn
khi tham gia vào các hoạt động tập thể.
Khuyến khích, động viên kịp thời với những học sinh có sự nỗ lực và tiến
bộ để trẻ tự tin hơn vào khả năng của bản thân mình, đồng thời nghiêm khắc phê
bình với những lỗi sai của học sinh để các em đánh giá được bản thân mình.
5. Hướng phát triển của đề tài
Để có kết quả khái quát hơn, các đề tài sau có thể mở rộng khách thể
nghiên cứu của đề tài sang học sinh lớp 4, 5 ở các trường Tiểu học khác trong
phạm vi quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, hay các trường trong địa bàn Thành
phố. Ngoài ra, đề tài cũng có thể được thực hiện ở các Tỉnh và Thành phố khác.
Ngoài ra, các đề tài khác có thể mở rộng đối tượng độ tuổi để có thể xây
dựng khái niệm khái quát hơn.
Thực hiện thử nghiệm các biện pháp đã đề ra trong đề tài, bổ sung những
thiếu sót, hạn chế mà đề tài chưa thể làm được.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt:
Bùi Hồng Quân (2010), Kỹ năng tự đánh giá của thiếu niên đang sống tại 1.
các trung tâm bảo trợ xã hội trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, Luận
văn Thạc sĩ Tâm lý học, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bùi Văn Huệ, Phan Thị Hạnh Mai, Nguyễn Xuân Thức (2008), Tâm lí học 2.
tiểu học, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội.
Đỗ Long, Phan Thị Mai Hương (2002), Tính cộng đồng tính cá nhân và 3.
“cái tôi” của người Việt Nam hiện nay, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Đoàn Huy Oánh (2005), Tâm lý sư phạm, NXB. Đại học quốc gia Thành 4.
phố Hồ Chí Minh.
GS.TS. Vũ Dũng (chủ biên) (2000), Từ điển tâm lý học, NXB Khoa học 5.
xã hội, Hà Nội.
GS.TS. Vũ Dũng (chủ biên) (2008), Từ điển tâm lý học, NXB Từ điển 6.
bách khoa, Hà Nội.
GS. VS. Phạm Minh Hạc, PGS. TS. Lê Đức Phúc (chủ biên) (2004), Một 7.
số vấn đề nghiên cứu nhân cách, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Lê Ngọc Lan (1985), Sự tự đánh giá và quá trình phát triển nhân cách 8.
sinh viên, Tạp chí Đại học và Trung học chuyên nghiệp (số tháng 1), tr 24
– 25.
Lêônchiep A.N (1979), Sự phát triển tâm lý trẻ em – Trường SP Mẫu giáo 9.
TW3-Thành phố Hồ Chí Minh.
10. Lêônchiep A.N: Hoạt động, ý thức, Nhân cách -NXB Giáo dục Hà Nội.
11. Lưu Hồng Khanh (2005), Tâm lý học chuyên sâu và những tầng sâu vô
thức, NXB. Trẻ.
12. Nguyễn Khắc Viện (chủ biên) (1991), Từ điển tâm lý, NXB. Ngoại văn –
Trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ em, Hà Nội.
13. Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên), Trần Hữu Luyến, Trần Quốc Thành
(1998), Tâm lí học đại cương, NXB. Đại học quốc gia Hà Nội.
14. Nguyễn Văn Đồng (2004), Tâm lý học phát triển, NXB. Chính trị quốc
gia, Hà Nội.
15. Nguyễn Xuân Thức (chủ biên) (2006), giáo trình Tâm lý học đại cương,
NXB. Đại học sư phạm.
16. Phạm Minh Hạc (2003), Một số công trình tâm lý học A.N Lêônchép,
NXB. Giáo dục.
17. Phan Trọng Ngọ (chủ biên), Nguyễn Đức Hưởng (2003), Các lý thuyết
phát triển tâm lý người, NXB. Đại học sư phạm, Hà Nội.
18. Roberts Feldman (2004), biên dịch: Minh Đức – Hồ Kim Chung, Tâm lý
học căn bản, NXB. Văn hóa thông tin, Hà Nội.
19. S. Yamuna (2009), Sao chẳng ai chịu hiểu con, NXB. Lao động xã hội,
Hà Nội.
20. Trung tâm tâm lý học – sinh lý học lứa tuổi (2001), Một số đặc điểm sinh
lý và tâm lý của học sinh tiểu học ngày nay, NXB. Đại học quốc gia, Hà
Nội.
21. TS. Lê Thị Minh Hà (2008), tài liệu bài giảng Tâm lý học nhận thức,
Thành phố Hồ Chí Minh.
22. TS. Nguyễn Thị Bích Hạnh, TS. Trần Thị Thu Mai (2007), Tâm lý học
tiểu học và tâm lý học sư phạm tiểu học, Hà Nội.
23. TS. Trần Thị Quốc Minh, tài liệu tham khảo môn tâm lý học phần Nhân
cách và giáo dục nhân cách, Thành phố Hồ Chí Minh.
24. Vũ Thị Nho, Tâm lý học phát triển, NXB. Đại Học Quốc Gia, Hà Nội.
25. Phạm Thị Hương (2005), Một số biện pháp hình thành khả năng tự nhận
thức bản thân cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi, Luận văn Thạc sỹ Tâm lý học,
Hòa Bình.
26. Nguyễn Kế Hào (1992), Học sinh tiểu học và nghề dạy học, NXB Giáo
dục, Hà Nội.
27. V. X. Mukhina (1981), L. A. Venghe (chủ biên), Thế Trường (Dịch), Tâm
lý học mẫu giáo – tập II, NXB. Giáo dục.
Tiếng Anh:
28. William James (1890), The principles of Psychology, The consciousness
Seft, chapter X.
29. Greenwald, A.G.,& Pratkanis, A. R. (1984). The seft. In R. S. Wyer & T.
K. Srull (Eds.), Handbook of social cognition, pp. 129 – 178.
30. Maureen E. Kenny, Joann Griffiths and Jennifer Grossman (2005), Seft-
image and parental attachment among late adolescents in Belize,
Department of Counseling, Developmental, and Educational Spychology, -
Boston College, USA.
United Arab Emirates University, United Arab Emirates. -
Philipe Rochat (2003), Five levels of self-awareness as they unfold early 31.
in life, Department of Pspychology, Emory University, 532 North Kilgo
Circle, Atlanta, Ga 30322, USA.
32. Richard J. Crisp, Rhiannon N. Turner (2007), Essential social psychology,
0TUhttp://www.who.int/childgrowth/standardsU0T
USA.
33.
JB Asendorpf, Jens B, Baudonniere, Pierre-Marrie (1993), Developmental 34.
Spychology, Vol 29 (1).
35. Text book (2006), The seft – essential social psychology, England.
http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn 36.
http://vi.wikipedia.org 37.
PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 1
Phiếu thăm dò ý kiến lần 1
Em vui lòng trả lời những câu hỏi sau theo suy nghĩ của mình nhé!
Phần 1: Thông tin chung
1.1. Giới tính:
Nam
Nữ
1.2. Học lớp:
4
5
Nặng: …….. kg 1.3. Em cao: ………. m
1.4. Tuổi: ………….
1.5. Kết quả học tập của em:
Xuất sắc
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
Kém
1.6. Em sống với ai?
................................................................................................
1.7. Ngoài việc học ở trường, em tham gia các lớp sinh hoạt ngoại khóa
nào không? Viết tên (nếu có)
................................................................................................
Phần 2: Nội dung chi tiết
Câu 1: Em quan tâm đến hình thức của mình ở điểm gì?
............................................................................................................
2.2. Điểm nào sau đây là quan trọng nhất đối với em?
............................................................................................................
............................................................................................................
Vì sao? ................................................................................................
............................................................................................................
2.3. Em nhận thấy hình thức bên ngoài của mình như thế nào?
............................................................................................................
............................................................................................................
2.4. Em hài lòng về hình thức của mình không? Hài lòng/ không hài lòng ở
điểm gì?
............................................................................................................
............................................................................................................
2.5. Em thấy tích cách của mình như thế nào?
............................................................................................................
............................................................................................................
2.6. Em thích học môn nào ở trường? Vì sao?
............................................................................................................
............................................................................................................
2.7. Em có vai trò gì trong gia đình?
............................................................................................................
............................................................................................................
2.8. Em có vai trò gì trong lớp?
...........................................................................................................
...........................................................................................................
PHỤ LỤC 2:
Phiếu thăm dò ý kiến lần 2
Em thân mến!
Để có cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu đề tài “Tự nhận thức bản
thân của học sinh lớp 4, 5 trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm, Tp. Hồ Chí
Minh”, mong em trả lời các câu hỏi sau đây. Ý kiến của em sẽ là đóng góp
rất quan trọng cho việc nghiên cứu.
Trước khi trả lời, em hãy đọc thật kỹ câu hỏi và chọn ra cho mình
câu trả lời phù hợp nhất. Rất mong sự hợp tác nhiệt tình của em.
Phần 1: Những thông tin chung
Những thông tin này chỉ dùng để làm tài liệu cho việc nghiên cứu,
không vì mục đích đánh giá, xếp loại nên em hãy trả lời theo suy nghĩ của
mình nhé!
Họ và tên của em: ……………. Năm sinh ……….. 1.
2.
Giới tính: Nam Nữ
3.
4
5 Học lớp:
Em cao: ….m….. Nặng: ……..kg 4.
5.
Tiên tiến
Trung bình
Kết quả xếp loại học tập học kỳ 1 của em ở trường : Giỏi Yếu
Kém
6.
Em trai
Em gái Em sống với: Ông Bà Ba Mẹ Người khác (ghi cụ thể)…… Anh Chị
Ngoài việc học ở trường, em có tham gia lớp sinh hoạt ngoại khóa 7.
Không Có (ghi rõ tên trung tâm)
nào không?
............................................................................................
Phần 2: Nội dung chi tiết Tiếp theo, em hãy đánh dấu “X” vào ô trống có ý trùng với suy nghĩ của mình: Câu 1: Em quan tâm đến vẻ bề ngoài của mình ở điểm gì? (chọn 3 câu trả
Chiều cao Cân nặng Khuôn mặt Dáng người Màu da Cách ăn mặc
lời)
Câu 2: Điểm nào sau đây là quan trọng nhất đối với em? (chọn 1 câu trả
lời)
Chiều cao Cân nặng Khuôn mặt Dáng người Màu da Cách ăn mặc
Vì sao? ................................................................................................
............................................................................................................
Câu 3: Em nhận thấy vẻ bề ngoài của mình như thế nào?
(Ở mỗi hình thức, em đánh dấu vào đặc điểm phù hợp với mình)
Hình thức Mô tả
Chiều cao
Cân nặng
Khuôn mặt
Dáng người
Màu da
Cao Trung bình Thấp Mập Vừa Ốm Đẹp Bình thường Không đẹp To Vừa Nhỏ Trắng Ngăm Đen Hợp thời trang
Cách ăn mặc
Bình thường Chưa đẹp
Câu 4: Em hài lòng về vẻ bề ngoài của mình như thế nào?
(Ở mỗi hình thức, em đánh dấu vào ô tương ứng với suy nghĩ của mình)
Hình thức Rất hài Hài lòng Không hài
lòng lòng
Chiều cao
Cân nặng
Khuôn mặt
Dáng người
Màu da
Cách ăn mặc
Câu 5: Em nhận thấy mình học giỏi môn nào ở trường?
(Chọn 3 môn và đánh dấu thứ tự 1, 2, 3, trong đó 1 là môn em học giỏi nhất)
Tiếng Việt Khoa học Lịch sử Địa lý
Toán
Mỹ thuật Kỹ thuật Thể dục Đạo đức Âm nhạc
Câu 6: Em thích học những môn nào ở trường?
(Chọn 3 môn và đánh dấu thứ tự 1, 2, 3 theo mức độ thích, trong đó 1 là
môn em thích nhất)
Toán
Tiếng Việt
Khoa học
Lịch sử
Địa lý
Kỹ thuật
Thể dục
Đạo đức
Mỹ thuật
Âm nhạc
Vì sao? ................................................................................................
Câu 7: Em nhận thấy mình có những tính nào sau đây? (có thể chọn nhiều
câu trả lời)
Trầm lặng, ít nói
Mạnh dạn Nhút nhát Nóng nảy, khó bình tĩnh Chưa suy nghĩ kỹ trước khi làm việc gì
Sôi nổi, hay cười nói
Thật thà
Lười biếng
Dễ tin người khác Hay bắt chước Đức tính khác (ghi rõ) Dễ dàng tha thứ cho người khác Ham học, thích tìm hiểu Bướng bỉnh Cẩu thả Khi có đồ ăn/đồ chơi/ … không muốn chia sẻ với người khác
Thích gì làm đó
Câu 8: Em muốn có tính nào trong những tính sau đây? (có thể chọn nhiều
câu trả lời)
Trầm lặng, ít nói
Sôi nổi, hay cười nói
Thật thà
Mạnh dạn Nhút nhát Nóng nảy, khó bình tĩnh Chưa suy nghĩ kỹ trước khi làm việc gì Dễ tin người khác Hay bắt chước Đức tính khác (ghi rõ)…………… Dễ dàng tha thứ cho người khác Ham học, thích tìm hiểu Bướng bỉnh Cẩu thả
Lười biếng
Khi có đồ ăn/đồ chơi/ … không muốn chia sẻ với người khác
Thích gì làm đó
Câu 9: Em hãy liệt kê từ 1 đến 5 điểm tốt và 1 đến 5 điểm chưa tốt của
mình
Điểm tốt Điểm chưa tốt
1. 1.
2. 2.
3. 3.
4. 4.
5. 5.
Câu 10: Em có bao nhiêu bạn thân? (chọn 1 câu trả lời)
1 bạn
2 – 5 bạn
5 – 10 bạn
Trên 10 bạn
Bạn cùng tổ Bạn cùng lớp Bạn cùng nhóm Bạn cùng trường Bạn cùng xóm Bạn khác (ghi rõ)……………..
Câu 11: Những bạn mà em chơi thân là: (có thể chọn nhiều câu trả lời)
Câu 12: Bạn bè thường tìm đến em trong trường hợp nào sau đây? (chọn 1
câu trả lời)
Khi em có đồ chơi mới Khi em có đồ ăn Khi bạn có chuyện buồn Khi bạn có chuyện vui Khi bạn cần lời khuyên Khi bạn cần em giúp đỡ
Ba Mẹ Người thân khác trong gia đình
Câu 13: Em thường tâm sự với ai? (chọn 1 câu trả lời)
Ghi rõ:…………………… o
Thầy/ cô giáo chủ nhiệm
Bạn cùng tổ Bạn cùng nhóm Bạn cùng lớp Bạn cùng trường Bạn cùng xóm
Thầy/ cô giáo trong trường
Câu 14: Trong gia đình, ai là người em yêu quý nhất? (chọn 1 câu trả lời)
Em trai
Ông (ngoại/ nội) Bà (ngoại/ nội) Ba Mẹ Anh Chị Người khác (ghi rõ) ………………………
Em gái
Câu 15: Ba mẹ thường hỏi ý kiến của em trong những trường hợp nào sau
đây? (có thể chọn nhiều câu trả lời)
Mua sách vở, dụng cụ học tập cho em Mua quần áo cho em Mua đồ chơi cho em Mua đồ dùng trong nhà Chọn địa điểm để cả nhà đi du lịch/ chơi Chọn địa điểm tổ chức sinh nhật cho em Việc khác
Trang trí nhà cửa
(ghirõ)………………………………………………………… Không có việc nào cả
Rất quan trọng Quan trọng Không quan trọng
Câu 16: Em nhận thấy mình có vai trò như thế nào trong gia đình?
Câu 17: Em giữ vai trò nào trong lớp? (có thể chọn nhiều câu trả lời)
Lớp trưởng
Lớp phó
Tổ trưởng
Tổ phó
Thường nhắc các bạn giữ vệ sinh
Giúp bạn trong học tập Giúp đỡ khi thầy/ cô cần
Thường giúp đỡ khi bạn khiêng, vác đồ nặng
Câu 18: Em thường nghe theo lời của ai nhất?(chỉ chọn 1 câu trả lời)
Ông
Bà
Thầy/ cô
Bạn bè
Ba Mẹ
Người khác (ghi rõ)…………
Cảm ơn em
PHỤ LỤC 3:
Phiếu thăm dò ý kiến dành cho học sinh
Em thân mến!
Để có cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu đề tài “Tự nhận thức bản
thân của học sinh lớp 4, 5 trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm, Tp. Hồ Chí
Minh”, mong em trả lời các câu hỏi sau đây. Ý kiến của em sẽ là đóng góp
rất quan trọng cho việc nghiên cứu.
Trước khi trả lời, em hãy đọc thật kỹ câu hỏi và chọn ra cho mình
câu trả lời phù hợp nhất. Rất mong sự hợp tác nhiệt tình của em.
Phần 1: Những thông tin chung
Những thông tin này chỉ dùng để làm tài liệu cho việc nghiên cứu,
không vì mục đích đánh giá, xếp loại nên em hãy trả lời theo suy nghĩ của
mình nhé!
Họ và tên của em: ……………………….. Năm sinh ………… 1.
2.
Giới tính: Nam Nữ
3.
4
5 Học lớp:
Em cao: …….. m ……. Nặng: ………… kg 4.
5.
Tiên tiến
Trung bình
Kết quả xếp loại học tập học kỳ 1 của em ở trường: Giỏi Yếu
Kém
6.
Em trai
Em gái
Em sống với: Ông Bà Bố Mẹ Anh Chị Người khác (ghi cụ thể) ………..
Ngoài việc học ở trường, em có tham gia lớp sinh hoạt ngoại khóa 7.
Không Có (ghi rõ tên trung tâm)
nào không?
…………………………………………………………
Phần 2: Nội dung chi tiết
Tiếp theo, em hãy đánh dấu “X” vào ô trống có ý trùng với suy nghĩ của
mình:
Câu 1: Em quan tâm đến vẻ bề ngoài của mình ở điểm gì? (chọn 3 câu trả
Chiều cao Cân nặng Khuôn mặt Dáng người Màu da Cách ăn mặc
lời)
Câu 2: Điểm nào sau đây là quan trọng nhất đối với em? (chọn 1 câu trả
Chiều cao Cân nặng Khuôn mặt Dáng người Màu da Cách ăn mặc
lời)
Vì sao? ................................................................................................
Câu 3: Em nhận thấy vẻ bề ngoài của mình như thế nào?
(Ở mỗi hình thức, em đánh dấu vào đặc điểm phù hợp với mình)
Hình thức Mô tả
Chiều cao
Cân nặng
Khuôn mặt
Dáng người
Cao Trung bình Thấp Mập Vừa Ốm To Vừa Nhỏ To Vừa Nhỏ Trắng Ngăm
Màu da
Đen Hợp thời trang Bình thường Chưa đẹp
Cách ăn mặc
Câu 4: Em hài lòng về vẻ bề ngoài của mình như thế nào?
(Ở mỗi hình thức, em đánh dấu vào ô tương ứng với suy nghĩ của mình)
Hình thức Rất hài lòng Hài lòng Không hài
lòng
Chiều cao
Cân nặng
Khuôn mặt
Dáng người
Màu da
Cách ăn mặc
Câu 5: Em nhận thấy mình học giỏi môn nào ở trường?
(Chọn 3 môn và đánh dấu thứ tự 1, 2, 3 trong đó 1 là môn em học giỏi nhất)
Tiếng Việt Khoa học Lịch sử Địa lý Mỹ thuật Kỹ thuật Thể dục Đạo đức
Toán
Âm nhạc
Câu 6: Em thích học những môn nào ở trường?
(Chọn 3 môn và đánh dấu thứ tự 1, 2, 3 theo mức độ thích, trong đó 1 là
môn em thích nhất)
Tiếng Việt Khoa học Lịch sử Địa lý Mỹ thuật Kỹ thuật Thể dục Đạo đức Âm nhạc
Toán
Vì sao? ...............................................................................................
Câu 7: Em nhận thấy mình có những tính nào sau đây? (có thể chọn nhiều
câu trả lời)
Trầm lặng, ít nói
Mạnh dạn Nhút nhát Nóng nảy, khó bình tĩnh Chưa suy nghĩ kỹ trước khi làm việc gì Dễ tin người khác Hay bắt chước Đức tính khác (ghi rõ) Dễ dàng tha thứ cho người khác
Sôi nổi, hay cười nói
Lười biếng
Ham học, thích tìm hiểu Thật thà Bướng bỉnh Cẩu thả Khi có đồ ăn, đồ chơi, … không muốn chia sẻ với người khác
Thích gì làm đó
Câu 8: Em hãy liệt kê từ 1 đến 5 điểm tốt và 1 đến 5 điểm chưa tốt của mình
Điểm tốt Điểm chưa tốt
1. 1.
2. 2.
3. 3.
4. 4.
5. 5.
Câu 9: Em có bao nhiêu bạn thân? (Chọn 1 câu trả lời)
1 bạn
2 – 5 bạn
5 – 10 bạn
Trên 10 bạn
Bạn cùng tổ Bạn cùng lớp Bạn cùng nhóm Bạn cùng trường Bạn cùng xóm Bạn khác (ghi rõ)
Câu 10: Những bạn mà em chơi thân là: (Có thể chọn nhiều câu trả lời)
............................................................
Câu 11: Em thường tâm sự với ai? (Chọn 1 câu trả lời)
Bố Mẹ Người thân khác trong gia đình (ghi rõ) ………… Bạn bè
Thầy/ cô
Câu 12: Trong gia đình, ai là người em yêu quý nhất? (chọn 1 câu trả lời)
Em trai
Ông Bà Bố Mẹ Anh Chị Người khác (ghi rõ) ………
Em gái
Câu 13: Bố mẹ thường hỏi ý kiến của em trong những trường hợp nào sau
đây? (Có thể chọn nhiều câu trả lời)
Mua sách vở, dụng cụ học tập cho em Mua quần áo cho em Mua đồ chơi cho em Mua đồ dùng trong nhà Chọn địa điểm để cả nhà đi du lịch/ đi chơi Chọn địa điểm để tổ chức sinh nhật cho em Việc khác (ghi rõ) ……………………… Không có việc nào cả
Trang trí nhà cửa
Rất quan trọng Quan trọng Không quan trọng
Câu 14: Em nhận thấy mình có vai trò như thế nào trong gia đình?
Câu 15: Em giữ vai trò nào trong lớp?(Có thể chọn nhiều câu trả lời)
Lớp trưởng
Lớp phó
Tổ trưởng
Tổ phó
Thường nhắc các bạn giữ vệ sinh
Giúp bạn trong học tập Giúp đỡ khi thầy/ cô cần
Thường giúp đỡ khi bạn khiêng đồ nặng
Rất cảm ơn em đã hợp tác.
Chúc em luôn mạnh khỏe và học giỏi.
PHỤ LỤC 4:
Phiếu thăm dò ý kiến dành cho phụ huynh
Quý phụ huynh thân mến!
Tự nhận thức bản thân là một trong những kỹ năng quan trọng trong
quá trình hình thành nhân cách của các em học sinh. Để đưa ra biện pháp
hỗ trợ các em nhận thức rõ hơn về bản thân mình, chúng tôi nghiên cứu đề
tài: “Tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 5 trường tiểu học Nguyễn
Bỉnh Khiêm, Tp. Hồ Chí Minh”. Những ý kiến sau đây của quý phụ huynh
sẽ góp phần làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu đề tài.
Rất mong sự hợp tác của quý phụ huynh!
Phần 1: Những thông tin chung
Chúng tôi cam đoan những thông tin này chỉ sử dụng làm tài liệu cho
quá trình nghiên cứu.
Họ và tên của con anh/ chị: ……..…………… Năm sinh ………. 1.
2.
Giới tính: Nam Nữ
3.
4
5 Học lớp:
Em cao: …….. m ……. Nặng: ………… kg 4.
5.
Tiên tiến
Trung bình
Kết quả xếp loại học tập học kỳ 1 của em ở trường: Giỏi Yếu
Kém
6.
Em trai
Em gái
Em đang sống với: Ông Bà Bố Mẹ Anh Chị Người khác (ghi cụ thể) ………..
Ngoài việc học ở trường, em có tham gia lớp sinh hoạt ngoại khóa 7.
Không Có (ghi rõ tên trung tâm)
nào không?
…………………………………………………………
Phần 2: Nội dung chi tiết
Câu 1: Anh/ chị nhận thấy vẻ bề ngoài của con mình như thế nào?
(Ở mỗi hình thức, anh/ chị đánh dấu “X” vào ô trống tương ứng với suy
nghĩ của mình)
Hình thức Mô tả
Chiều cao
Cao Trung bình Thấp Mập Vừa Ốm
Cân nặng
Khuôn mặt
Dáng người
Màu da
To Vừa Nhỏ To Vừa Nhỏ Trắng Ngăm Đen Hợp thời trang Bình thường Chưa đẹp
Cách ăn mặc
Câu 2: Anh/ chị nhận thấy con mình học giỏi môn nào ở trường?
(Chọn 3 môn và đánh dấu thứ tự 1, 2, 3 trong đó 1 là môn em học giỏi nhất)
Tiếng Việt Khoa học Lịch sử Địa lý Mỹ thuật Kỹ thuật Thể dục Đạo đức Âm nhạc
Toán
Câu 3: Anh/chị nhận thấy con mình có những tính nào sau đây? (có thể
chọn nhiều câu trả lời)
Trầm lặng, ít nói
Sôi nổi, hay cười nói
Lười biếng
Mạnh dạn Nhút nhát Nóng nảy, khó bình tĩnh Chưa suy nghĩ kỹ trước khi làm việc gì Dễ tin người khác Hay bắt chước Đức tính khác (ghi rõ) Dễ dàng tha thứ cho người khác Ham học, thích tìm hiểu Thật thà Bướng bỉnh Cẩu thả Khi có đồ ăn, đồ chơi, … không muốn chia sẻ với người khác
Thích gì làm đó
Câu 4: Anh/ chị vui lòng liệt kê từ 1 đến 5 điểm tốt và 1 đến 5 điểm chưa
tốt của con mình
Điểm tốt Điểm chưa tốt
1. 1.
2. 2.
3. 3.
4. 4.
5. 5.
Câu 5: Anh/ chị thường hỏi ý kiến của con mình trong những trường hợp
Mua sách vở, dụng cụ học tập cho em Mua quần áo cho em
nào sau đây? (Có thể chọn nhiều câu trả lời)
Chọn địa điểm để cả nhà đi du lịch/ đi chơi
Chọn địa điểm để tổ chức sinh nhật cho em
Trang trí nhà cửa
Việc khác (ghi rõ) ……………………………………
Mua đồ chơi cho em Mua đồ dùng trong nhà
Không có việc nào cả
Câu 6: Con anh/ chị thường tâm sự với ai trong gia đình? (Chọn 1 câu trả
Ông Bà Bố Mẹ Anh Chị Người thân khác (ghi rõ) …………
lời)
Câu 7: Trong gia đình, con anh/ chị thường nghe theo lời của ai nhất?
Ông Bà Bố Mẹ Anh Chị Người thân khác (ghi rõ) ……
(Chọn 1 câu trả lời)
Rất cảm ơn anh/ chị đã hợp tác.
Chúc anh/ chị luôn mạnh khỏe và công tác tốt.
PHỤ LỤC 5:
Phiếu thăm dò ý kiến dành cho giáo viên
Quý thầy cô kính mến!
Tự nhận thức bản thân là một trong những kỹ năng quan trọng trong
quá trình hình thành nhân cách của các em học sinh. Để đưa ra các biện
pháp hỗ trợ các em nhận thức rõ hơn về bản thân mình, chúng tôi nghiên
cứu đề tài:“Tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 5 trường tiểu học
Nguyễn Bỉnh Khiêm, Tp. Hồ Chí Minh”, những ý kiến sau đây của quý
thầy cô sẽ góp phần làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu đề tài.
Rất mong sự hợp tác của quý thầy cô!
Phần 1: Những thông tin chung
Chúng tôi cam đoan những thông tin này chỉ sử dụng làm tài liệu cho quá
trình nghiên cứu.
Họ và tên của học sinh: …………………………………… 1.
2.
Giới tính: Nam Nữ
3.
4
5 Học lớp:
4.
Tiên tiến
Trung bình
Kết quả xếp loại học tập học kỳ 1 của em ở trường: Giỏi Yếu Kém
Ngoài việc học ở trường, em có tham gia lớp sinh hoạt ngoại khóa 5.
Không Có (ghi rõ tên trung tâm)
nào không?
…………………………………………………………
Phần 2: Nội dung chi tiết
Câu 1: Thầy/ cô nhận thấy vẻ bề ngoài của em như thế nào?
(Ở mỗi hình thức, thầy/ cô đánh dấu “X” vào ô tương ứng với với suy nghĩ
của mình)
Hình thức Mô tả
Chiều cao
Cân nặng
Khuôn mặt
Dáng người
Màu da
Cao Trung bình Thấp Mập Vừa Ốm To Vừa Nhỏ To Vừa Nhỏ Trắng Ngăm Đen Hợp thời trang Bình thường Chưa đẹp
Cách ăn mặc
Câu 2: Thầy/ cô nhận thấy em học giỏi môn nào ở trường?
(Chọn 3 môn và đánh dấu thứ tự 1, 2, 3 trong đó 1 là môn em học giỏi
nhất)
Tiếng Việt Khoa học Lịch sử Địa lý Mỹ thuật Kỹ thuật Thể dục Đạo đức Âm nhạc
Toán
Câu 3: Thầy/ cô nhận thấy em có những tính nào sau đây? (có thể chọn
nhiều câu trả lời)
Trầm lặng, ít nói
Sôi nổi, hay cười nói
Mạnh dạn Nhút nhát Nóng nảy, khó bình tĩnh Chưa suy nghĩ kỹ trước khi làm việc gì Dễ tin người khác Hay bắt chước Đức tính khác (ghi rõ) Dễ dàng tha thứ cho người khác Ham học, thích tìm hiểu
Thật thà
Lười biếng
Bướng bỉnh Cẩu thả Khi có đồ ăn, đồ chơi, … không muốn chia sẻ với người khác
Thích gì làm đó
Câu 4: Em có vai trò như thế nào trong lớp? (Có thể chọn nhiều câu trả
lời)
Lớp trưởng
Lớp phó
Tổ trưởng
Tổ phó
Thường nhắc các bạn giữ vệ sinh
Giúp bạn trong học tập Giúp đỡ khi thầy/ cô cần
Thường giúp đỡ khi bạn khiêng đồ nặng
Rất cảm ơn thầy/cô đã hợp tác.
Chúc thầy/cô luôn mạnh khỏe và công tác tốt.
121
PHỤ LỤC 6:
Giáo án trò chơi
STT Nội dung hoạt động Thời lượng Phụ trách
1 3 phút 1. Tập trung:
Trẻ đứng thành vòng tròn, GV cùng đứng GV hướng
dẫn trong vòng tròn với trẻ
2. Giới thiệu trò chơi:
Trẻ lần lượt giới thiệu những thông tin về
mình và hướng bàn tay về một bạn bất kỳ
trong trong tròn để chuyển lượt
Luật chơi:
- Sau 3 tiếng đếm mà chưa nói ra chủ đề
của mình thì bị qua lượt.
- Không chuyển lượt cho người vừa
chuyển cho mình.
Lưu ý:
Trong trường hợp sau 3 tiếng đếm trẻ vẫn
chưa có câu trả lời, bằng cách nào đó, trẻ phải
có thông tin ở lượt sau.
Một số hình phạt nhanh dành cho trẻ:
- Làm con lăng quăng
- Nặn tượng
- Chạy xung quanh vòng tròn 1 lần
2 2 phút GV hướng 3. Khởi động:
dẫn - GV nói to chủ đề: TÊN
- GV giới thiệu tên mình và nhanh chóng
chuyển lượt cho một trẻ trong vòng tròn.
- Trẻ nhận lượt nhanh chóng nói to tên mình
122
và tiếp tục chuyển lượt cho 1 trẻ khác cho
đến khi tất cả trẻ đều giới thiệu tên.
• GV cho trẻ nhắc lại tên của bạn vừa
chuyển lượt để tạo sự chú ý.
3 20 phút 4. Bắt đầu trò chơi:
GV hướng - GV nói to chủ đề: CHIỀU CAO (cao bao
dẫn nhiêu m?)
- Trẻ đang trong lượt nhanh chóng nói ra
chiều cao của mình và chuyển lượt cho một
bạn khác.
- Trò chơi tương tự với các chủ đề:
+ Cân nặng (nặng bao nhiêu kg?)
+ Cao, vừa hay thấp?
+ Mập, vừa hay ốm?
+ Màu da (trắng, ngăm, đen)
+ Vóc dáng (to, vừa, nhỏ)
+ Môn học giỏi nhất (được điểm cao)
+ Môn học thích nhất
+ Ước mơ
+ Sinh nhật
+ …
4 5 phút GV hướng 5. Đúc kết:
GV có thể hỏi bất kỳ một trẻ nào những dẫn
thông tin vừa chơi: Người
VD: Tên, chiều cao, cân nặng, môn học yêu nghiên
thích cứu
Trẻ trình bày về những điều đã đạt được
sau trò chơi.
Nói lời chào tạm biệt.
123
PHỤ LỤC 7:
Mẫu biên bản quan sát biểu hiện tự nhận thức bản thân của học sinh
lớp 4, 5 trong buổi sinh hoạt tập thể
1. Mức độ tập trung chú ý của trẻ khi tham gia trò chơi.
1.1. Chấp hành cách yêu cầu của giáo viên
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
1.2. Chấp hành luật chơi
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
1.3. Thông tin khác
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
2. Mức độ tích cực tham gia các yêu cầu trong hoạt động.
2.1. Thái độ của trẻ khi tham gia trò chơi
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
2.2. Thông tin khác
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
3. Mức độ tương tác với các bạn
3.1. Hỏi bạn trước khi trả lời
......................................................................................................................
......................................................................................................................
124
3.2. Nhớ tên bạn
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
3.3. Thông tin khác
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
Biểu hiện tự nhận thức bản thân của trẻ 4.
4.1. Tên
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
4.2. Chiều cao
Trả lời -
......................................................................................................................
......................................................................................................................
Hỏi bạn -
......................................................................................................................
......................................................................................................................
Không trả lời -
......................................................................................................................
......................................................................................................................
4.3. Cân nặng
Trả lời -
......................................................................................................................
......................................................................................................................
125
-
Hỏi bạn
......................................................................................................................
......................................................................................................................
Không trả lời -
......................................................................................................................
......................................................................................................................
4.4. Khuôn mặt
Trả lời -
......................................................................................................................
......................................................................................................................
Hỏi bạn -
......................................................................................................................
......................................................................................................................
Không trả lời -
......................................................................................................................
......................................................................................................................
4.5. Dáng người
Trả lời -
......................................................................................................................
......................................................................................................................
Hỏi bạn -
......................................................................................................................
......................................................................................................................
Không trả lời -
......................................................................................................................
......................................................................................................................
126
4.6. Màu da
Trả lời -
......................................................................................................................
......................................................................................................................
Hỏi bạn -
......................................................................................................................
......................................................................................................................
Không trả lời -
......................................................................................................................
......................................................................................................................
4.7. Cách ăn mặc
Trả lời -
......................................................................................................................
......................................................................................................................
Hỏi bạn -
......................................................................................................................
......................................................................................................................
Không trả lời -
......................................................................................................................
......................................................................................................................
4.8. Môn học yêu thích
Trả lời -
......................................................................................................................
......................................................................................................................
Hỏi bạn -
......................................................................................................................
......................................................................................................................
127
-
Không trả lời
......................................................................................................................
......................................................................................................................
4.9. Môn học đạt điểm cao
Trả lời -
......................................................................................................................
......................................................................................................................
Hỏi bạn -
......................................................................................................................
......................................................................................................................
Không trả lời -
......................................................................................................................
......................................................................................................................
4.10. Tính tình
Trả lời -
......................................................................................................................
......................................................................................................................
Hỏi bạn -
......................................................................................................................
......................................................................................................................
Không trả lời -
......................................................................................................................
......................................................................................................................
4.11. Ưu điểm
Trả lời -
......................................................................................................................
......................................................................................................................
128
-
Hỏi bạn
......................................................................................................................
......................................................................................................................
Không trả lời -
......................................................................................................................
......................................................................................................................
4.12. Nhược điểm
Trả lời -
......................................................................................................................
......................................................................................................................
Hỏi bạn -
......................................................................................................................
......................................................................................................................
Không trả lời -
......................................................................................................................
......................................................................................................................
4.13. Số bạn thân
Trả lời -
......................................................................................................................
......................................................................................................................
Hỏi bạn -
......................................................................................................................
......................................................................................................................
Không trả lời -
......................................................................................................................
......................................................................................................................
129
PHỤ LỤC 8:
Biên bản quan sát biểu hiện tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4
trong buổi sinh hoạt tập thể
Quan sát viên: Lê Ngọc Bảo Trâm
Số lượng học sinh tham gia: 20 em trong đó có 50% là học sinh nam,
50% là học sinh nữ
Giáo viên hướng dẫn: Phan Lê Nhất Bá Nguyên Khôi – HDV KNS của
Trung tâm Phát triển Kỹ Năng Sống IDO.
Địa điểm: Sân trường Tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm
Thời gian: 19/05/2011
KẾT QUẢ QUAN SÁT
1. Mức độ tập trung chú ý của học sinh khi tham gia trò chơi.
1.1. Chấp hành cách yêu cầu của giáo viên
• Giáo viên yêu cầu học sinh di chuyển từ phòng học xuống sân trường, tập
trung thành vòng tròn
• Thông qua trò chơi “Bão thổi”, học sinh di chuyển và sắp xếp vị trí trong
vòng tròn lần lượt theo các tiêu chí:
- Nam – nữ đứng xen kẽ
- Các bạn cùng lớp không đứng cạnh nhau
Học sinh chú ý lắng nghe lời giới thiệu của giáo viên, ban đầu có vài
bạn nam trò chuyện riêng, sau khi được giáo viên nhắc nhở thì chú ý hơn.
Học sinh nữ hơi rụt rè hơn học sinh nam.
130
1.2. Chấp hành luật chơi
Sau khi được giáo viên giới thiệu trò chơi và luật chơi, học sinh
được chơi nháp ở chủ đề: Tên
Các em lần lượt giới thiệu tên mình và đưa tay về phía một bạn bất
kỳ, bạn nhận được lệnh sẽ giới thiệu tên mình, và cứ thế tiếp tục.
Yêu cầu của giáo viên là đưa hai bàn tay về hướng bạn khi cần
chuyển lệnh. Ban đầu có 3 học sinh nam là Trung Nghĩa, Tấn Trung, Quốc
Đạt chưa thuộc luật chơi nên chỉ tay về bạn. Sau khi được giáo viên nhắc
nhở, ba học sinh này cùng tất cả các học sinh còn lại làm theo luật.
Các em chú ý đến lời nói, cử chỉ của bạn mình để làm theo nếu được
giáo viên khen/ công nhận và tránh nếu giáo viên nhắc nhở.
2. Mức độ tích cực tham gia các yêu cầu trong hoạt động.
2.1. Thái độ của học sinh khi tham gia trò chơi
Ban đầu học sinh chưa hiểu rõ trò chơi nên còn rụt rè, mất thời gian
suy nghĩ khi nói. Sau khi chơi được hai vòng thì các em tỏ ra hứng thú với
trò chơi này. Học sinh nào cũng chú ý đến lời nói của bạn mình và trong tư
thế sẵn sàng đến lượt.
Trước những thông tin bất ngờ từ bạn, hay lời nói của bạn chưa đúng
đều gây cười cho các em. Điều đó càng tạo thêm hào hứng trong lúc chơi.
2.2. Thông tin khác: Không có
3. Mức độ tương tác với các bạn
3.1. Hỏi bạn trước khi trả lời
Các học sinh nữ thường hỏi bạn bên cạnh về thông tin của bạn mình khi
đến lượt.
131
Em Phương Nghi luôn tự tin trả lời mà không cần hỏi hai bạn bên cạnh.
Học sinh nam ít hỏi bạn hơn và nói đại thông tin nên thường bị sai.
Các bạn bên cạnh nhắc bạn trả lời, học sinh nam thì nhắc từ xa, học sinh
nữ thì nhắc nhỏ bên cạnh.
Các em thường nhắc bạn trong lúc chơi.
3.2. Nhớ tên bạn
Có 8/10 bạn học sinh nữ nhớ đúng tên của bạn trong vòng chơi đầu
tiên
Có 4/10 học sinh nam nhớ đúng tên của bạn trong vòng chơi đầu
tiên
Khi đến lượt mình, các bạn chưa kịp nhớ và gọi tên bạn, nhưng chú
ý đến bạn khác để tìm và nhớ thông tin.
Sau vòng chơi thứ hai, các em nhớ hết tên của 13 bạn còn lại.
Biểu hiện tự nhận thức bản thân của học sinh 4.
4.1. Tên
Có 20 học sinh nhớ và nói rõ tên mình.
4.1. Chiều cao, cân nặng
- Trả lời: 19 học sinh
- Hỏi bạn: 1 học sinh
- Không trả lời: Có 1 học sinh nam không trả lời được ở vòng chơi đầu tiên.
- Thông tin khác: Ở vòng chơi thứ nhất hầu hết học sinh đều trả lời được
chiều cao của mình, đến vòng chơi thứ hai thì có 10 học sinh trả lời đúng
132
với số chiều cao ban đầu, 10 trả lời khác. Ở vòng chơi thứ 3 có 16 học sinh
trả lời đúng với số chiều cao ban đầu.
4.2. Khuôn mặt
- Trả lời: 20 học sinh trả lời
- Hỏi bạn: Có 2 học sinh nữ hỏi nhau.
- Không trả lời: 0 học sinh
- Thông tin khác: Học sinh trả lời được đặc điểm của khuôn mặt mình ngay
từ vòng đầu tiên. Đa số học sinh cho rằng khuôn mặt của mình ở mức bình
thường.
4.3. Dáng người
- Trả lời: 20 học sinh
- Hỏi bạn: 5 học sinh
- Không trả lời: 0 học sinh
- Thông tin khác: Học sinh hơi do dự khi trả lời về dáng người của mình.
Sau khi được gợi ý (to con/ nhỏ con/ vừa) thì các em nhìn nhau, so sánh
với bạn của mình rồi trả lời.
4.4. Màu da
- Trả lời: 20 học sinh
- Hỏi bạn: có 3 học sinh nữ hỏi bạn, 2 học sinh nam hỏi bạn
- Không trả lời: 0 học sinh
- Thông tin khác: Học sinh lặp lại đúng đặc điểm về màu da ở vòng chơi
thứ hai, ba
133
4.5. Cách ăn mặc
- Trả lời: 20 học sinh
- Hỏi bạn: 0 học sinh
- Không trả lời: 0 học sinh
- Thông tin khác: Hầu hết học sinh cho rằng mình ăn mặc bình thường.
4.6. Môn học yêu thích
- Trả lời: 20 học sinh
- Hỏi bạn: 0 học sinh
- Không trả lời: 0 học sinh
4.7. Môn học đạt điểm cao
- Trả lời: 20 học sinh
- Hỏi bạn: 0 học sinh
- Không trả lời: 0 học sinh
- Thông tin khác: Suy nghĩ, do dự trước khi trả lời. Có 3 học sinh thay đổi
câu trả lời.
4.8. Tính tình
- Trả lời: 5 học sinh
- Hỏi bạn: 9 học sinh
- Không trả lời: 0 học sinh
- Thông tin khác: Do dự, suy nghĩ trước khi trả lời
4.9. Ưu điểm
134
- Trả lời: 20 học sinh
- Hỏi bạn: 0 học sinh
- Không trả lời: 0 học sinh
- Thông tin khác: Trả lời nhanh
4.10. Nhược điểm
- Trả lời: 20 học sinh
- Hỏi bạn: 0 học sinh
- Không trả lời: 0 học sinh
- Thông tin khác: Do dự khi trả lời
4.11. Số bạn thân
- Trả lời: 20 học sinh
- Hỏi bạn: 0 học sinh
- Không trả lời: 0 học sinh
- Thông tin khác: Trả lời rất nhanh
135
PHỤ LỤC 9:
Biên bản quan sát biểu hiện tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 5
trong buổi sinh hoạt tập thể
Quan sát viên: Lê Ngọc Bảo Trâm
Số lượng học sinh tham gia: 20 em trong đó có 10 là học sinh nam, 15 là
học sinh nữ
Giáo viên hướng dẫn: Phan Lê Nhất Bá Nguyên Khôi – HDV KNS của
Trung tâm Phát triển Kỹ Năng Sống IDO.
Địa điểm: Sân trường Tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm
Thời gian: 26/05/2011
KẾT QUẢ QUAN SÁT
1. Mức độ tập trung chú ý của học sinh khi tham gia trò chơi.
1.1. Chấp hành cách yêu cầu của giáo viên
• Giáo viên yêu cầu học sinh di chuyển từ phòng học xuống sân
trường, tập trung thành vòng tròn
• Thông qua trò chơi “Bão thổi”, học sinh di chuyển và sắp xếp vị
trí trong vòng tròn lần lượt theo các tiêu chí:
- Nam – nữ đứng xen kẽ
- Các bạn cùng lớp không đứng cạnh nhau
Học sinh chú ý lắng nghe lời giới thiệu của giáo viên, giáo viên
không cần nhắc nhở.
1.2. Chấp hành luật chơi
Sau khi được giáo viên giới thiệu trò chơi và luật chơi, học sinh
được chơi nháp ở chủ đề: Tên
Các em lần lượt giới thiệu tên mình và đưa tay về phía một bạn bất
kỳ, bạn nhận được lệnh sẽ giới thiệu tên mình, và cứ thế tiếp tục.
Học sinh chú ý đến lời hướng dẫn của giáo viên, đặt câu hỏi thắc mắc.
Ở vòng chơi đầu tiên, một số em nam còn ngại đưa hai tay về phía
bạn mình để chuyển lượt, sau khi quan sát các bạn làm thì các em mạnh
dạn làm theo.
136
2. Mức độ tích cực tham gia các yêu cầu trong hoạt động.
Học sinh hứng thú tham gia ngay từ vòng chơi đầu tiên.
Trước những thông tin bất ngờ từ bạn, hay lời nói của bạn chưa
đúng đều gây cười cho các em. Điều đó càng tạo thêm hào hứng trong
lúc chơi.
3. Mức độ tương tác với các bạn
3.1. Hỏi bạn trước khi trả lời
Các học sinh nữ thường hỏi bạn bên cạnh về thông tin của bạn mình
khi đến lượt.
Học sinh nam ít hỏi bạn hơn và nói đại thông tin nên thường bị sai.
Các em trả lời độc lập, chỉ có vài học sinh hỏi bạn bên cạnh và nhắc
bạn.
3.2. Nhớ tên bạn
Có 12 bạn học sinh nữ nhớ đúng tên của bạn trong vòng chơi đầu tiên
Có 7 học sinh nam nhớ đúng tên của bạn trong vòng chơi đầu tiên
Khi đến lượt mình, các bạn chưa kịp nhớ và gọi tên bạn, nhưng chú ý
đến bạn khác để tìm và nhớ thông tin.
Sau vòng chơi thứ hai, các em nhớ hết tên của 24 bạn còn lại.
Biểu hiện tự nhận thức bản thân của học sinh 4.
4.1. Tên
Có 20 học sinh nhớ và nói rõ tên mình.
4.2. Chiều cao, cân nặng
- Trả lời: 20học sinh
- Hỏi bạn: 3 học sinh
- Không trả lời: 0 học sinh
- Thông tin khác: Học sinh nói rất nhanh thông tin về chiều cao, cân
nặng khi đến lượt mình, số đo ở các vòng chơi sau không trùng với
số đo ở các vòng chơi trước.
137
4.3. Khuôn mặt
- Trả lời: 18 học sinh
- Hỏi bạn: 0 học sinh
- Không trả lời: 2 học sinh
- Thông tin khác: Học sinh trả lời được đặc điểm của khuôn mặt mình
ngay từ vòng đầu tiên. Đa số học sinh cho rằng khuôn mặt của mình
ở mức bình thường.
4.4. Dáng người
- Trả lời: 20 học sinh
- Hỏi bạn: 6 học sinh
- Không trả lời: 0 học sinh
- Thông tin khác: Học sinh thắc mắc về các đặc điểm của dáng người
trước khi trả lời.
4.5. Màu da
- Trả lời: 20 học sinh
- Hỏi bạn: 0 học sinh
- Không trả lời: 0 học sinh
- Thông tin khác: Học sinh lặp lại đúng đặc điểm về màu da ở vòng
chơi thứ hai, ba
4.6. Cách ăn mặc
- Trả lời: 20 học sinh
- Hỏi bạn: 0 học sinh
- Không trả lời: 0 học sinh
- Thông tin khác: Hầu hết học sinh cho rằng mình ăn mặc bình
thường.
4.7. Môn học yêu thích
- Trả lời: 20 học sinh
- Hỏi bạn: 0 học sinh
- Không trả lời: 0 học sinh
138
4.8. Môn học đạt điểm cao
- Trả lời: 20 học sinh
- Hỏi bạn: 0 học sinh
- Không trả lời: 0 học sinh
- Thông tin khác: Suy nghĩ, do dự trước khi trả lời.
4.9. Tính tình
- Trả lời: 20 học sinh
- Hỏi bạn: 13 học sinh
- Không trả lời: 0 học sinh
- Thông tin khác: Do dự, suy nghĩ trước khi trả lời
4.10. Ưu điểm
- Trả lời: 20 học sinh
- Hỏi bạn: 3 học sinh
- Không trả lời: 0 học sinh
- Thông tin khác: Suy nghĩ trước khi trả lời
4.11. Nhược điểm
- Trả lời: 20 học sinh
- Hỏi bạn: 0 học sinh
- Không trả lời: 0 học sinh
- Thông tin khác: Có 4 em do dự khi trả lời
4.12. Số bạn thân
- Trả lời: 20 học sinh
- Hỏi bạn: 0 học sinh
- Không trả lời: 0 học sinh
- Thông tin khác: Trả lời rất nhanh
139
PHỤ LỤC 10:
Một số hình ảnh trong buổi sinh hoạt tập thể
140

