
Luận văn
Thực trạng sử dụng vốn
và giải pháp tạo lập và
sử dụng vốn hỗ trợ cho
người nghèo

1
LỜI NÓI ĐẦU
²²²²
Đói nghèo là một vấn đề xã hội mang tính toàn cầu, mục tiêu xoá
đói giảm nghèo không chỉ có ở nước ta mà còn nhiều nước trong khu
vực và trên thế giới.
Nghèo đói không chỉ làm cho hàng triệu người không có cơ hội
được hưởng thụ thành quả văn minh tiến bộ của loài người mà còn gây
ra những hậu quả nghiêm trọng về vấn đề kinh tế xã hội đối với sự phát
triển, sự tàn phá môi trường sinh thái. Vấn đề nghèo đói không được
giải quyết thì không một mục tiêu nào mà cộng đồng quốc tế cũng như
quốc gia định ra như tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống, hoà bình ổn
định, đảm bảo các quyền con người được thực hiện. Đặc biệt ở nước ta, quá
trình chuyển sang kinh tế thị trường với xuất phát điểm nghèo nàn và lạc
hậu thì tình trạng đói nghèo càng không thể tránh khỏi. Theo số liệu thống
kê mới nhất, hiện nay cả nước có khoảng trên 2 triệu hộ nghèo đói chiếm
11% tổng số hộ trong cả nước. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến nghèo đói
nhưng phải kể hơn cả là thiếu vốn và kỹ thuật làm ăn.
Vốn cho người nghèo đang là một nghị sự nóng hổi trên diễn đàn
kinh tế. Giải quyết vốn cho người nghèo để thực hiện mục tiêu xoá đói
giảm nghèo đã được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm.
Trong các năm qua, tuy đã có nhiều biện pháp hỗ trợ vốn cho người
nghèo nhưng thực trạng mà đánh giá vốn chuyển tải đến người nghèo chưa
được là bao nhiêu và hiệu quả sử dụng chưa cao. Tuy vậy nhìn tổng thể và
trước những yêu cầu đặt ra thì quả thực còn nhiều mặt cần được đề cập để
đi đến đưa ra những giải pháp cơ bản, lâu dài cho việc hỗ trợ vốn làm ăn
tới người nghèo ở nước ta.
Sau một thời gian thực tập tại vụ bảo trợ xã hội - Bộ Lao động
Thương binh và xã hội, được sự tận tình hướng dẫn của thầy giáo Phạm
Văn Liên và các đồng chí lãnh đạo, tập thể cán bộ vụ bảo trợ xã hội, kho
bạc Nhà nước Trung ương, Ngân hàng phục vụ người nghèo, uỷ ban dân
tộc miền núi... với ý thức mong muốn góp phần tích cực vào phát triển
kinh tế của đất nước. Em mạnh dạn lựa chọn đề tài "Tạo lập và sử dụng
vốn cho người nghèo, thực trạng - giải pháp". Là vô cùng cần thiết.

2
1. Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở phân tích những vấn đề cơ bản: kinh tế thị trường và
tính tất yếu nghèo đói trong nền kinh tế, vốn cho người nghèo và các
kênh hỗ trợ vốn cho người nghèo về mặt lý luận cũng như thực tiễn ở
nước ta thời gian vừa qua. Trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp về vốn hỗ
trợ người nghèo ở nước ta hiện nay.
2. Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài lấy vấn đề về vốn và sự vận động của vốn cho mục tiêu xoá
đói giảm nghèo ở nước ta làm đối tượng nghiên cứu.
3. Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của phép
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử có kết hợp với phương pháp phân
tích tổng hợp, thống kê, so sánh, xử lý hệ thống mô hình hoá, thực
chứng và các phương pháp khác của nghiên cứu khoa học kinh tế.
4. Kết cấu đề tài: ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được
trình trong 3 chương.
Chương 1 - Kinh tế thị trường và các kênh hỗ trợ vốn cho người
nghèo ở nước ta.
Chương 2 - Thực trạng việc tạo lập và sử dụng vốn hỗ trợ cho
người nghèo ở nước ta trong thời gian vừa qua.
Chương 3 - Một số giải pháp tạo lập và sử dụng vốn hỗ trợ người
nghèo trong giai đoạn hiện nay.

3
Chương I
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ CÁC KÊNH HỖ TRỢ VỐN CHO
NGƯỜI NGHÈO Ở NƯỚC TA
1.1. Kinh tế thị trường và những ưu khuyết tật của nó.
Kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hoá đã phát triển tới trình
độ cao, khi mà các quan hệ tiền tệ, giá cả, thị trường trở thành yếu tố
chủ đạo cấu thành cơ chế vận hành của nền kinh tế và kể cả xã hội; ở
đây quá trình sản xuất và trao đổi hàng hoá được vận động tự do bởi
thống trị của nguyên tắc tự do cạnh tranh.
Có thể nói kinh tế thị trường là sản phẩm cao cấp của sự tiến hoá
lịch sử nhân loại. Quả thật trong lịch sử phát triển kinh tế, kinh tế thị
trường đã phát huy đến mức cao nhất mọi tiềm năng, tiền vốn, công
nghệ để sản xuất một cách có hiệu quả cao. Với tư cách đó, nó chứa
đựng nhiều ưu điểm so với các hình thái và tổ chức kinh tế trước nó.
Phải kể đến là các ưu điểm sau.
Một là: Kinh tế thị trường với điều kiện tồn tại các chủ thể kinh tế
độc lập là tạo khả năng chủ động lựa chọn mô hình sản xuất kinh doanh
khả dĩ, nếu xét tổng quát nền kinh tế lâu dài thì đây là yếu tố nội sinh
thúc đẩy hiệu quả kinh tế toàn xã hội và từng cá nhân tăng lên.
Hai là: Kinh tế thị trường với điều kiện trình độ phân công lao
động xã hội tăng lên, theo đó làm tăng trình độ xã hội hoá nền sản xuất
và thúc đẩy hiệu quả sản xuất tăng lên
Ba là: Kinh tế thị trường với mục đích tối thượng là lợi nhuận
trong mọi hoạt động kinh tế, theo đó tự nó đã thúc đẩy sản xuất mạnh
mẽ so với các nền kinh tế trước đó. Bởi vì để giải quyết được 3 vấn đề
(sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai) trong sản xuất
của nền kinh tế thị trường, buộc từng chủ thể kinh tế phải tăng cường
cải tiến kỹ thuật, công nghệ sản xuất phải thoả mãn nhu cầu của xã hội...
Tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm trên, kinh tế thị trường tuyệt
nhiên không phải là một công cụ vạn năng để giải quyết hữu hiệu tất cả
mọi vấn đề của nền kinh tế, mà kinh tế thị trường luôn hàm chứa trong
đó không ít khuyết tật, cụ thể là:
Thứ nhất: Kinh tế thị trường khi mà mục đích tối thượng là lợi
nhuận, thì các chủ thể kinh tế chỉ quan tâm tới hiệu quả sản xuất thuần
tuý như "người dùng chanh chỉ biết vắt hết nước" thì có thể gây ra một
hậu quả nghiêm trọng đối với tiến trình phương pháp kinh tế, xã hội lâu
dài. Điều này đã được minh chứng rõ khi con người khai thác tài
nguyên, chặt cây, phá rừng đến một mức như huỷ diệt thì sự trả giá là
không nhỏ tý nào từ môi trường sinh thái cân bằng cho sự phát triển đã
trở thành môi trường đang bị huỷ diệt.
Thứ hai: Sự cạnh tranh tự do vốn có của nền kinh tế thị trường sẽ
dẫn đến độc quyền và chính sự độc quyền là nguyên nhân lũng đoạn nền
kinh tế theo hướng thu lợi riêng quá mức trên những tổn hại chung của

4
xã hội. Cạnh tranh tự do (hơn nữa là tự phát) là nguồn gốc tự nhiên, trực
tiếp của tình trạng phân hoá giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội...
Đối với nước ta nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường đã tạo
điều kiện cho một số doanh nghiệp và cá nhân có tiền vốn kỹ thuật...
làm ăn có hiệu quả, được khuyến khích làm giàu chính đáng, tuy nhiên,
cạnh tranh nảy sinh trong cơ chế thị trường có thể dẫn đến những hậu quả
xấu, nếu không có sự điều tiết của Nhà nước, cạnh tranh sẽ dẫn đến tìm
mọi mánh khoé làm ăn theo hướng "mạnh được, yếu thua" thậm chí "cá
lớn nuốt cá bé" từ đó dẫn đến kinh doanh trốn thuế, mua bán ép giá, lừa
gạt, triệt tiêu lẫn nhau... đều làm cho thị trường tăng rối loạn. Cạnh tranh
như thế, một số giàu lên nhanh chóng, song cũng không ít người rơi vào
làm ăn thua lỗ, phá sản cơ nghiệp làm cho nền kinh tế bị kìm hãm và thất
nghiệp, phân hoá thu nhập... và giàu nghèo cũng có nguồn gốc từ đây.
Như vậy, nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường luôn tồn tại
hai thái cực: một bên là tích cực đã thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển,
một bên là tiêu cực sẽ kìm hãm phát triển kinh tế xã hội và phân hoá đời
sống các tâng lớp dân cư. Để thúc đẩy mặt tích cực, đồng thời hạn chế
mặt tiêu cực thì đòi hỏi phải có vai trò điều tiết của Nhà nước.
1.2. Vai trò của Nhà nước trong việc điều tiết nền kinh tế thị trường.
Như trên đã phân tích, về thực chất, cơ chế thị trường tự nó không
đủ khả năng điều chỉnh, khắc phục những khuyết tật do nó gây ra. Đó là
lý do cần phải có sự can thiệp của Nhà nước vào quá trình vận hành của
hệ thống thị trường trong mọi giai đoạn phát triển của nó. Đương nhiên
sự can thiệp của Nhà nước phải có một định hướng rõ ràng, hơn nữa
được thể hiện trên các chức năng nhất định. Chúng ta có thể nhìn nhận
chức năng của Nhà nước thông qua các vấn đề sau (1)
Một là: Với các công cụ chính sách, Nhà nước thực hiện điều tiết các
quá trình kinh tế vĩ mô, tạo lập môi trường vĩ mô cho phát triển bền vững
nền kinh tế - xã hội. Thuộc hệ công cụ chính sách này như: chính sách tài
khoá, chính sách tiền tệ, chính sách đầu tư, chính sách phát triển nông thôn,
chính sách xoá đói giảm nghèo...
Hai là: Nhà nước tạo tập và duy trì một hành lang pháp lý để điều
chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh. Thực hiện chức năng này Nhà
nước có thể hạn chế những tiêu cực trong hoạt động kinh tế xã hội do
cạnh tranh hoặc độc quyền gây ra.
Ba là: Với tư cách là bộ máy quyền lực tập trung để điều chỉnh sự
phát triển của xã hội thì Nhà nước không thể không có chức năng định
hướng kinh tế để hướng hoạt động thị trường vào cơ cấu kinh tế và mục
tiêu theo hướng đã chọn. Bởi vì chỉ có sự can thiệp của Nhà nước thông
qua các định hướng phát triển và có giải pháp để thực hiện chúng thì
nền kinh tế mới có thể phát triển đạt hiệu quả cao và lâu bền.
Bốn là: Nhà nước có chức năng điều tiết và phân phối thu nhập,
đảm bảo công bằng xã hội. Đây không chỉ là chức năng kinh tế mà cả
chức năng xã hội của Nhà nước. Điều này được lý giải bởi: bên cạnh
những vấn đề kinh tế, nền kinh tế thị trường còn phát sinh nhiều vấn đề

