Môn thể thao võ thuật - Aikido
Aikido (tiếng Nhật
合気道
(Kana:
あいきどう
), Hiệp khí đạo) là một môn võ thuật hiện
đại của Nhật Bản được Ueshiba Morihei (1883-1969) sáng tạo ra trên cơ sở các môn võ
thuật cổ truyền của Nhật Bản như Nhu thuật (Jujitsu), Kiếm thuật (Kenjutsu), và Thương
thuật (Sojutsu).
Mục lục
1 Về tên gọi của môn phái
2 Lịch sử
3 Luyện tập thể chất
o 3.1 Luyện tập thể chất nói chung
o 3.2 Kĩ thuật chiến đấu
o 3.3 Thực hiện
4 Luyện tập tinh thần
5 Võ phục và Đai
6 Aikido Việt Nam
7 Tham khảo
8 Liên kết ngoài
Về tên gọi của môn phái
Tên gọi Aikido của môn phái được tạo nên bi ba chHán - Nhật:
- ai: hiệp, hợp, hòa hp, hài hòa
- ki: khí, tinh thần, thể (khí) của chất (huyết)
- do: đạo, con đường
Hiệp-Khí-Đạo viết bằng chữ Hán-Nhật theo lối Thư-Đạo
Aiki (
合気
) được các cao thủ Aikido giải nghĩa là "cảm giác được bản thân và đối thủ
hòa làm một và cả hai đều hòa hợp với vũ trụ".
Tương truyền, sau này Ueshiba Morihei hay giải thích Ai trong Aikido nghĩa là "yêu
thương", có lẽ dựa trên cơ sở đồng âm tiếng Nhật với từ
(ái).
Lịch sử
Ueshiba Morihei, người sáng lập ra Aikido.
Aikido, đúng như sự hình dung của người sáng lập ra nó, không chỉ là sự tổng hợp của
việc luyện tập võ thuật của người sáng lập, mà còn bộc lộ triết lý riêng của ông về hòa
bình và hòa hợp vũ trụ. Ngày nay, Aikido tiếp tục sự phát triển của nó từ koryū (võ thuật
cổ), thành những thể hiện cực kì đa dạng của các võ sư khác nhau trên toàn thế giới.[1]
Aikido được sáng lập bởi Ueshiba Morihei (
植芝
盛平
Ueshiba Morihei, 14 tháng 12
1883 – 26 tháng tư 1969), cũng được các võ sinh coi là Ōsensei ("Người thày vĩ đại").[2]
Ueshiba Morihei phát triển Aikido chủ yếu vào cuối những năm 1920 cho tới những năm
1930 qua sự tổng hợp các môn võ cổ mà ông đã học được.[3] Aikido phát triển chủ yếu từ
Daitō-ryū aiki-jūjutsu, mà Ueshiba Morihei đã học trực tiếp với Takeda Sokaku (
武田
惣角
Takeda Sōkaku, 1859–1943). Thêm vào đó, Ueshiba Morihei cũng đã học Tenjin
Shin'yō-ryū với Tozawa Tokusaburō (
戸沢
徳三郎
, 1848–1912) Tokyo vào năm 1901,
Gotōha Yagyū Shingan-ryū vi Nakai Masakatsu (
中井
正勝
, fl. 1891–1908) Sakai t
1903 đến 1908, và judo với Kiyoichi Takagi (
高木
喜代子
Takagi Kiyoichi, 1894–1972)
Tanabe vào năm 1911.[4]
Daitō-ryū là môn ảnh hưởng lớn nhất đến Aikido. Cùng với các kĩ thuật ném tay
không và khóa khớp, Ueshiba Morihei kết hợp luyện tập di chuyển có vũ khí, như giáo
(yari), gậy ngắn (jō), và có thể cả đoản dao (jūken). Tuy nhiên, Aikido phát triển phần
lớn các cấu trúc đòn đánh t Kiếm thuật (kenjutsu).
Ueshiba Morihei tới Hokkaidō năm 1912, và bắt đầu học dưới sự dạy dỗ của Takeda
Sokaku vào năm 1915. Việc học Daitō-ryū tiếp tục cho đến năm 1937.[3] Tuy nhiên, sau
thời gian đó, Ueshiba Morihei bắt đầu xa rời Takeda và môn Daitō-ryū. Vào thời điểm
đó, Ueshiba Morihei dùng t"Aiki Budō" để nói đến môn võ của ông. Không rõ chính
xác khi nào Ueshiba Morihei bắt đầu sử dụng cái tên "Aikido", nhưng nó trở thành tên
chính thức của môn võ vào năm 1942, khi Dai Nippon Butoku Kai được tham gia vào
việc tổ chức lại và tập trung hóa các môn võ Nhật Bản của chính phủ.[1]
Onisaburo Deguchi, giáo chđạo Oomoto
Sau khi Ueshiba Morihei rời Hokkaidō năm 1919, ông gặp và chịu ảnh hưởng lớn từ
Onisaburo Deguchi (
出口
王仁三郎
), giáo chủ của đạo Đại Bản Giáo (Oomoto) ở
Ayabe.[5] Một trong những đặc điểm chủ yếu của đạo Oomoto là nó nhấn mạnh đến sự
đạt được cõi hoàn hảo trong một đời người. Điều này tạo ảnh hưởng lớn đến triết lý của
môn võ của Ueshiba Morihei về rộng mở tình yêu thương và sự cảm thông, đặc biệt đối
vi những ai muốn hãm hại người khác. Aikido thể hiện triết lý này trong việc nhấn mạnh
rằng, nắm vững võ thuật để mà nhận đòn và chuyển hướng nó đi một cách vô hại. Trong
trường hợp lý tưởng, không chỉ người nhận mà cả người tấn công cũng vô hại.[6]
Aikido lần đầu tiên được truyền bá tới phương Tây vào năm 1951 bởi Minoru Mochizuki
(
望月
Mōchizuki Minoru, 1907–2003) trong một chuyến đi tới Pháp nơi mà ông giới
thiệu các kĩ thuật Aikido tới các môn sinh Judo.[7] Theo sau ông là Tadashi Abe (
阿部
Abe Tadashi, 1926–1984) vào năm 1952 người trở thành đại diện Aikikai Hombu chính
thức, ở lại Pháp trong bảy năm. Kenji Tomiki (
富木
謙治
Tomiki Kenji, 1900–1979) đi
du lịch với một đoàn đại biểu các võ sư khác nhau từ mười lăm bang của Hoa Kỳ năm
1953. Sau đó trong năm ấy, Koichi Tohei (
藤平
光一
Tōhei Kōichi, sinh năm 1920) được
gửi bởi Aikikai Hombu tới Hawaii, trong một năm tròn, nơi ông lập lên một vài dojo.
Việc này được ủng hộ bởi một vài chuyến thăm khác và được xem là sự truyền bá chính
thức Aikido tới Hoa Kỳ. Vương quốc Anh theo sau vào năm 1955; Italy năm 1964; Đức
và Australia năm 1965. Ngày nay có các dojo Aikido để luyện tập trên toàn thế giới.
Luyện tập thể chất
Trong Aikido, cũng như trong tất cả các môn võ Nhật Bản khác, vừa sự luyện tập thể
chất, vừa có sự luyện tập về mặt tinh thần. Việc luyện tập thể chất trong Aikido rất phong
phú, bao gồm cả luyện tập thể chất và trau dồi kinh nghiệm nói chung, cũng như các kĩ
thuật đặc biệt.[8] Bi một phần quan trọng trong việc luyện tập Aikido luôn bao gồm đòn
ném đối thủ, nên điều đầu tiên môn sinh cần học là làm thế nào để ngã hoặc lăn an
toàn.[9] Các kĩ thuật đánh đặc biệt bao gồm đánh và nắm; các kĩ thuật phòng th bao
gồm ném và khóa. Sau khi học xong các kĩ thuật cơ bản, môn sinh bắt đầu phòng thủ tự
do chống lại nhiều đối thủ, và trong nhiều trường hợp là các kĩ thuật chống vũ khí.