
Aikido Tenshinkai
Aikido Tenshinkai [1] là tên gọi của tổng cục Aikido tại Việt Nam do tổ sư
Ueshiba Morihei đặt cho vào năm 1968. Tổng cuộc Aikido Tenshinkai do ông
Đặng Thông Phong sáng lập và chịu trách nhiệm Chủ tịch điều hành cho đến nay.
Ten, shin và kai là các từ tiếng Nhật mà phiên âm Hán-Việt của chúng lần lượt là
thiên, tâm và hội. Cả cụm từ Tenshinkai có nghĩa trong tiếng Việt là "Tổ chức của
những tấm lòng cao cả".
Aikido bắt đầu được truyền bá vào Việt Nam từ năm 1958. Từ đó cho đến nay, sự
phát triển của Aikido ở Việt Nam trải qua ba giai đoạn: 1958-1964, 1964-1975,
1975-nay.

Mục lục
[ẩn]
1 Giai đoạn 1958-1964
2 Giai đoạn 1964-1975
3 Giai đoạn từ 1975 tới nay
4 Chú thích
[sửa] Giai đoạn 1958-1964
Đây là giai đoạn Aikido du nhập vào Việt Nam nhờ công lao của ông Đặng Thông
Trị. Ngoài Đặng Thông Trị, Aikido còn được giới thiệu vào Việt Nam bởi võ sư
Judo Hồ Cẩm Ngạc, tuy nhiên ông chú trọng vào sự phát triển toàn diện các môn
vỏ của xứ Anh Đào, đại thể chia ra làm sáu nhánh là Sumo, Jujutsu, Aikido, Judo,
Karatedo, Kendo và các loại binh khí trong Kobudo... và đã đào tạo được nhiều
môn đệ, môn đồ huyền đai cao đẳng kế thừa, mở đầu giai đoạn khai phá.Judo no
naraikata, Khảo cứu về các môn võ của xứ Anh Đào .
Đặng Thông Trị sinh ngày 17 tháng 11 năm 1928. Thuở thiếu thời, theo lời
khuyên của một người thân trong gia đình, ông đã bắt đầu tập luyện các môn
Thiếu Lâm quyền và quyền Anh. Năm 1949, ông bắt đầu làm quen với môn Judo
và sau đó là Aikido trong thời gian ở Pháp. Năm 1958, khi trở về Việt Nam, ông
lần đầu tiên giới thiệu bộ môn Aikido đến với dân chúng tại Phòng tập Hàn Bái
Đường, một võ đường do võ sư Vũ Bá Oai thành lập đầu những năm 1950, và sau
đó thêm một số nơi khác. Năm 1960, Hội Hiệp Khí Nhu Đạo được thành lập.

Gần cuối năm 1960, Nakazano Mutsuro, đai đen lục đẳng Aikikai từ Nhật bản qua
Việt Nam để hỗ trợ ông Đặng Thông Trị trong việc phát triển Aikido tại Việt Nam
đến tận giữa năm 1962. Giữa năm 1963, Võ sư Abe Tadashi đến Việt Nam và lưu
lại Sài Gòn khoảng hơn 2 tháng và mở các lớp dạy tại Đạo đường Trung ương. Cả
hai võ sư Nakazano và Abe đều là thầy của ông Đặng Thông Trị trong thời gian
ông du học tại Pháp. Năm 1964, Võ sư Tamura Nobuyoshi và phu nhân trên
đường sang Pháp có ghé thăm Đạo đường trung ương 3 ngày.
Aikido Việt Nam dần dần phát triển rộng hơn là nhờ công lao đóng góp của lớp
người đi trước mở phòng tập và thu nhận môn sinh để đào tạo thêm nhân sự.
Từ ngày ông Đặng Thông Trị về nước cho đến ngày ông rời khỏi Việt Nam năm
1964, phong trào luyện tập Aikido chưa được phát triển mạnh vì là một bộ môn võ
thuật mới mẻ đối với nhân dân trong nước, vì thời gian quá ngắn ngủi nên chưa
đào tạo được lớp cán bộ để giảng dạy.
[sửa] Giai đoạn 1964-1975
Đặng Thông Phong, em trai của Đặng Thông Trị sinh ngày 10 tháng 2 năm 1935.
Ông học Aikido từ Đặng Thông Trị vào khoảng năm 1958 và sau đó từ Nakazono
Mutsuro. Cuối năm 1964, ông Trị giao Đạo đường Trung ương cho ông Phong
phụ trách, và 3 tháng sau ông quyết đinh giao toàn quyền cho ông Phong phụ trách
Hiệp Khí Nhu Đạo Việt Nam. Đây là giai đoạn mở đầu cho sự phát triển Aikido
Việt Nam.
Đặng Thông Phong đã mở nhiều lớp Aikido mới để quảng bá rộng rãi hơn trong
quần chúng. Từ đó số môn sinh ngày càng gia tăng đặc biệt trong các giới sinh
viên, giáo sư, bác sĩ, kỹ sư, và giới văn nghệ sĩ. Ý niệm về Aikido, một bộ môn võ
thuật tự vệ, tự luyện ý chí với triết lý hòa bình hướng về một cuộc sống thanh cao,
lành mạnh đã thu hút sự chú tâm của rất nhiều người, nhiều giới trong xã hội.

Trên đà phát triển như thế, ông mở nhiều lớp đào tạo cán bộ mà với đai đên nhị
đẳng vào năm 1964, ông cho rằng ở cấp bậc này khó có đủ uy tín để lãnh đạo môn
phái. Ông quyết tâm sang Nhật, đến Hombu Dojo, cái nôi của Aikido thế giới, để
bổ túc thêm phần kỹ thuật cũng như để thi lên tam đẳng tại đây. Đến cuối năm
1967, ông thực hiện được hoài bão mà ông đã từng ấp ủ. Tại Hombu Dojo thời
gian đó, Ueshiba Morihei vẫn còn ra sân dạy vào mỗi buổi sáng, đồng thời luôn
luôn có sự hiện diện của Ueshiba Kisshomaru, sau này là Đệ nhị Chưởng môn
Aikido. Đặng Thông Phong có cơ hội thụ giáo cả hai cao thủ này. Trước khi về
nước, ông đã dự thi lên tam đẳng tại cái nôi Aikido thế giới. Ngay khi trở về Việt
Nam, ông liền soạn thảo bản Nội Quy để thành lập Tổng cuộc Aikido Tenshinkai.
Đầu tháng giêng năm 1968, Đặng Thông Phong nhận được văn bằng tam đẳng từ
Aikikai và một ủy nhiệm thư do Tổ sư Ueshiba Morihei đồng ký chính thức ủy
quyền cho ông phát triển Aikido trên toàn lãnh thổ Việt Nam trong Tinh Thần
Thương Yêu và Hòa Bình.[2]
Tên Tenshinkai là do Tổ sư đặt cho chi bộ Aikido Việt Nam vào thời kỳ Đặng
Thông Trị còn tại quê nhà, nhưng chính ông Phong là người được chính Tổ sư
Morihei Ueshiba ủy nhiệm để phát triển Aikido trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
Aikido Tenshinkai được công nhận là thành viên của Tổng đàn Aikido thế giới.
Đầu tháng 2 năm 1968, Bộ Nội Vụ Việt Nam Cộng hòa ban hành một quyết định
cho phép Tổng cuộc Aikido Tenshinkai chánh thức hoạt động.
Trong vòng 10 năm từ tháng 10 năm 1964 đến tháng 4 năm 1975, một số võ
đường đã được hình thành dưới sự chỉ đạo của Tổng cuộc Aikido Tenshinkai và đi
vào nề nếp.

[sửa] Giai đoạn từ 1975 tới nay
Sau ngày đất nước thống nhất, trong những năm đầu các môn phái võ thuật đều
cấm chỉ hoạt động. Mãi đến năm 1979 các bộ môn như Dưỡng sinh, Thái cực
quyền và Aikido được phép hoạt động trở lại. Rồi từ đó các môn phái khác tuần tự
được phép đi và sinh hoạt. Năm 1979, ông Phong nhận làm cố vấn cho Aikido
Quận 5 do Lý Văn Minh, môn đệ của ông phụ trách. Sau đó, ông mở phòng tập có
tên là sân Hawai tại phường 17 quận 1 rồi ông về quận Bình Thạnh nơi ông cư ngụ
và làm cố vấn kỹ thuật và đứng lớp dạy. Ông Nguyễn Thành Công, một đệ tử đai
đen của ông Phong có công gây dựng phòng tập này.
Từ khi Hiệp khí đạo được chánh thức sinh hoạt trở lại, các đệ tử của ông Phong
nối gót ông trong việc phát triển Aikido tại Việt Nam gồm có: Trương Văn Lương,
Nguyễn Tăng Vinh, Đổ Thị Minh Thư, Võ Hoàng Phượng, Lý Văn Minh, Vũ Đại
Thảo, Nguyễn Thành Công, Hoàng Việt Hùng, Ngô Quyền, Đổ Hồng Nguyên,
Trương Văn Thời, Đoàn Chí Công, Lê Viết Đắc, Võ Trường Thọ, Hoàng Kim
Cương, Đổ Kế Toại…
Những người nêu trên đã tiên phong đóng góp cho phong trào Aikido sau khi đất
nước được thống nhất. Họ đã có công đàp tạo một lớp người mới mà hiện nay môn
sinh của họ trở thành những huấn luyện viên đứng lớp, trưởng bộ môn hây Chủ
nhiệm các Câu lạc bộ Aikido. Đó là lớp huấn luyện viên của thế hệ thứ hai và thứ
ba tại Việt Nam.
Từ khi ông Phong rời khỏi Việt Nam để sum họp với gia đình tại Hoa Kỳ vào năm
1985 thì mọi sự liên hệ giữa Tổng cuộc Aikido Tenshinkai Việt Nam với Tổng
Đàn Aikido Thế Giới xem như không còn nữa. Bộ môn Aikido Việt Nam bị xóa
tên khỏi tổ chức Aikido quốc tế.
Năm 1994, ông Phong liên lạc với Hội Aikido tại Thành phố Hồ Chí Minh để thảo
luận đường hướng hoạt động và Hội đã chính thức mời ông về nước giúp đỡ. Ông

