104 http://www.thuvienvatly.info | © hiepkhachquay
Nn văn hóa lưng t
Robert P Crease
Thuật ngữ phát sinh từ thuyết ợng tử tra phổ biến trong nền văn hóa cộng đồng từ
nghệ thuật phim ảnh cho đến điêu khắc thơ ca. Robert P Crease scung cấp cho bạn các
thí dụ thật hấp dẫn.
Tên gọi của nó là Đám mây Lượng tử. Các du khách đến thăm London không thể nào quên
khi đến thăm công viên gần Lâu đài Thiên niên kỉ hay thả bộ dọc theo bsông Thames.
nhô cao 30 m trên một cái bục đặt trên bờ sông và từ xa trông giống như một đống len thép khổng
lồ. Khi bạn tiến lại gần, bạn thể trông hình dạng sương, ma quái của một con người
chính giữa của nó. là một tác phNm điêu khắc, do nghệ người Anh Antony Gormley thực
hiện, tạo hình từ các thanh thép dài khoảng một mét rưỡi gắn với nhau theo kiểu vẻ như bừa
bãi. Được bố cục bởi bầu trời London thường xuyên xám xịt, thật strông giống như y.
Nhưng sao lại là “lượng tử” ?
Tác phNm Đám mây Lượng tử của Antony Gormley dựng trên sông Thames ở London.
105 Tuyển Physics World 2008 | © hiepkhachquay
Cái từ lượng tử đã trở nên quen thuộc được biết nhiều trong lịch sử khoa học. Max
Planck đã đưa vào bài luận hiện đại hồi năm 1900 để tcách thức ánh sáng bị hấp thụ
phát ra bởi các vật đen. Các vật đó dường như m như vậy chỉ những năng lượng bằng với bội
số của tích của một tần số nhất định một số gọi h, mà ông gọi một lượng tử, tiếng Latin
nghĩa “bao nhiêu”. Planck những người khác cho rằng quan niệm cục, phản Newton luận
này sẽ sớm được thay thế bởi một cách giải thích tốt hơn về hành trạng của ánh sáng.
Nhưng không may mắn thế. Thay vào đó, smặt của lượng tử trong khoa học còn lớn
mạnh thêm. Einstein đã chứng tỏ rằng ánh sáng tác dụng như thể là hạt”, còn Bohr thì hợp
nhất lượng tử vào lời giải thích của ông cho cách thức các electron nguyên tử thực hiện những
bước nhảy không thể tiên đoán từ một trạng thái này sang một trạng thái khác. Lượng tử trở nên
nảy sinh trong nhiều lĩnh vực khác của vật học, rồi trong hóa học và những ngành khoa học
khác. Một lí thuyết hoàn toàn mới mẻ, gọi là cơ học lượng tử, đã được phát triển vào năm 1927.
Dẫu vậy, kém quen thuộc và được biết tới hơn là lịch sử văn hóa của lượng tử. Không bao
lâu sau năm 1927, cái tlượng tử, và các thuật ngữ phát sinh khác nphần bù” “nguyên
bất định”, bắt đầu xuất hiện trong các ngành học hàn lâm viện ngoài các ngành khoa học. Kcả
những người sáng lập của cơ học lượng tử, trong đó có Bohr và Heisenberg, đã áp dụng thuật ngữ
đó cho sự công bằng, quyền tự donh yêu. Lượng tử đã tiến hành những bước nhảy không thể
đoán trước đến những nơi bất ngờ chưa từng có. Chẳng hạn, bộ phim James Bond tiếp sau đó
cái gọi là Lượng tử Lòng vị tha.
Trào lưu lượng t
Vị chủ nhiệm khoa của trường đại học của tôi Stony Brook, James Staros, một nhà khoa
học, đôi khi hay nói khoa của ông đang bị “lượng tử hóa”. Khi ngân quỹ cần phải cắt giảm, chẳng
hạn, ông giảng giải rằng người ta chẳng thể nào giảm một khoa đi, nói dụ, 0,79 người hay 1,21
người, cho những con số này hoàn toàn tỉ lệ với stiền cắt giảm. Như Staros giải thích, “nó
phải tinh giảm từng người một, cho các khoa quy mô i khác nhau một chút”. Đây là
việc sử dụng chính xác và mang hiệu quả tu từ của ngôn từ lượng tử.
Và khi tôi hỏi Gormley về tên gọi của tác phNm điêu khắc của ông, ông đã cho tôi một câu
trả lời đầy sức thuyết phục. “Sự phát triển của học lượng tử”, ông nói với tôi, “tiêu biểu cho sự
chuyển dịch trong khoa học từ nghiên cứu các thực thể càng lúc càng rời rạc sang chú ý nhiều hơn
đến các hiện tượng chảy trường trong đó các dạng thức mới xuất hiện được xem như tiến triển
ra khỏi khuôn khổ của chúng. Đám mây lượng tử gợi lên điều này”.
106 http://www.thuvienvatly.info | © hiepkhachquay
Trong khi cả Gormley và Staros đều triển khai ngôn ngữ lượng tử theo một kiểu khá chính
xác, thì những trường hợp khác đã bị lạm dụng, mang đến nhận xét của James Clerk
Maxwell rằng “những quan điểm nhất thể mặt, cho rằng chúng được thể hiện trong
ngôn ngữ, âm thanh của chúng gợi nhớ lại một số cụm từ khoa học nổi tiếng”. Từ lượng tử, chẳng
hạn, xuất hiện đều đều trong chiêm tinh học, thuật tự kỉ và bài viết y học lang băm.
Những con cừu phun sơn này đã giúp Valerie Laws sáng tác bài thơ Đàn cừu lượng tử
Nhưng nếu chúng ta nghĩ về khoa học thay phán xét, thì tất cả công dụng của ngôn từ
lượng tử - cho chính xác hay khoe khoang, đúng về mặt thuật hay hiểu biết tồi tđược
sáng tạo để y dấu ấnthật là lí thú. Sau hết, mỗi người bị thúc đNy bởi một số quan niệm của ý
nghĩa của lượng tử. Nhưng chúng ta có thể tìm thấy những kiểu mẫu gì trong những quan niệm đó
? Và những kiểu mẫu đó nói gì về văn hóa và làm thế nào nó hiểu được khoa học ?
Đồng nghiệp của tôi, Fred Goldhaber tôi đã đưa những câu hỏi y vào trong một khóa
học gọi “Trào lưu lượng tử”, chúng tôi đã giảng một vài lần với các sinh viên tại Stony Brook.
Chúng tôi đã lấy cắp tên gọi từ cuốn sách của Mordecai Feingold: Trào lưu [ewton luận: Isaac
107 Tuyển Physics World 2008 | © hiepkhachquay
[ewton Ssáng lập của Văn hóa hiện đại, nảy sinh tại một cuộc triển lãm tại Thư viện Công
cộng New York năm 2004-5 xác nhận tác động của Newton lên nền văn hóa cuối thế kỉ 17 đầu
thế k18. Trong một phong cách tương tự, Goldhaber và tôi đã tập trung vào đánh giá xem ngôn
từ lượng tử đã tác động những gì lên nền văn hóa hiện nay.
Chúng tôi phát hiện thấy câu trả lời thật phức tạp, lượng tử đã lan truyền khắp thế giới
theo những kiểu khác nhau.
Kiu 1: nhng quá trình thng kê không th rút gn hơn na
Một kiểu liên quan tới việc áp dụng các thuật ngữ lượng tcho những quá trình thống kê
không thể rút gọn hơn nữa. Trong khoảng một phần thế kỉ, các nhà vật đã áp dụng những
dạng thức toán học đã phát triển cho c hiện ợng lượng tử vào kinh tế học. dụ, trong cuốn
sách của ông Tài chính lượng tử: Tích phân đường Hamiltonian cho các quyền chọn lựa tỉ
lệ ưa chuộng, nhà vật lí Belal Baaquie ở trường Đại học quốc gia Singapore lưu ý rằng ông không
áp dụng bản thân thuyết lượng tử cho tài chính học. “Thay vào đó”, ông viết, “thuật ngữ ‘lượng
tử’ gợi tới các dạng thức toán học trừu tượng của thuyết lượng tử bao gồm thuyết xác suất,
không gian trạng thái, các toán tử, các Hamiltionian, các phương trình đảo, các Lagrangian, tích
phân đường, các trường lượng tử, boson, fermion, vân vân. Tất cnhững cấu trúc thuyết này
tìm thấy những ứng dụng tự nhiên hữu ích trong ngành tài chính”. Từ lượng tử đây nhắc tới
không phải sự lượng tử hóa nvậy, sự áp dụng các phương pháp thống của cho
những quá trình lộn xộn như tỉ lệ ưa thích và các thăng giáng giá cả hàng hóa.
Đối với thứ hoàn toàn khác, y xét Đàn cừu lượng tử, đứa con tinh thần của Valerie
Laws, một y bút sinh sống miền bắc nước Anh. Năm 2002, đã phun n các chữ lên trên
bộ lông của đàn cừu một cánh đồng gần đấy. Khi các túm lông khô đi, các từ được sắp xếp lại
một “bài thơmới được tạo ra mỗi khi đàn cừu đi tới đứng yên. Một phát ngôn viên của tờ
Nghệ thuật phương Bắc, đã htrợ 2000 bảng Anh cho dự án, phát biểu rằng kết quả đó thật
“một sự hợp nhất thú vị của thơ ca vật lí lượng tử”. Sau đây là một trong các “bài tứ tuyệt” thu
được:
Các đám mây lướt qua bầu trời
Bên dưới, đàn cừu thẫn thờ rong chơi
Trên đồng, những chiếc gương mềm mại
Sưởi ấm cho tuyết trắng mùa đông
108 http://www.thuvienvatly.info | © hiepkhachquay
Phát biểu với đài BBC vào lúc ấy, Laws giải thích tại sao ta cảm thấy dự án đáng để
theo đuổi. “Sự ngẫu nhiên và bất định nằm ở tâm điểm của cách thức vũ trụ được đặt lại với nhau,
hơi khó đối với chúng ta với cách những con người sống dựa trên trật tự đó”, nói. “Cho
nên tôi quyết định khảo sát tính ngẫu nhiên một số nguyên của học lượng tử, thông qua
thơ ca, sử dụng môi trường đàn cừu”.
Tất nhiên, một thế giới khác biệt giữa việc tính toán tỉ lệ ưa thích việc làm cho một
đàn cừu sơn lông giãn ra trên cánh đồng. Nhưng cả hai trường hợp này dược thúc đNy bởi vai trò
của tính ngẫu nhiên trong thuyết lượng tử: trường hợp đầu liên quan tới việc sử dụng thật sự các
phương pháp thống của nó, còn trường hợp sau viện dẫn lượng tử một biểu trưng của những
quá trình ngẫu nhiên không thể đơn giản hơn nữa.
Kiu 2: rượu bia b sung
Con người lượng tử một tác phNm điêu khắc của Julian Voss-Andreae hiện đặt thành
phố Moses Lake, Washington (Physics World, tháng 9/2006, trang 7). Chế tác từ những tấm thép
cao 2,5 m nằm song song với nhau, tác phNm đó thay đổi hình dạng khi bạn đi xung quanh nó. T
một góc độ, nó biểu lộ đường nét bên ngoài của một người, còn từ góc độ khác dạng thức con
người biến mất hoàn toàn.
Tác phNm điêu khắc, theo nhà nghệ nói, một phép Nn dụ cho thế giới phản trực giác
của vật lí lượng tử”. Voss-Andreae phải biết như thế. Ông đã học vật khi chưa tốt nghiệp
Berlin Edinburgh, đã làm luận văn tốt nghiệp Vienna với Anton Zeilinger về các thí
nghiệm khe đôi liên quan tới sự giao thoa lượng tử của các phân tcarbon-60 (Physics World,
tháng 11/2006, trang 44).
Phép Nn dụ như thế dựa trên tính bổ sung, tên do Bohr đặt cho thực tế rằng, trong thế
giới lượng tử, hai đặc trưng của một tả thể cần thiết nhưng loại trừ lẫn nhau một hạt
một vị trí động lượng xác định dụ tiêu biểu. Tuy nhiên, Bohr một số nhà vật hàng
đầu của thời y cảm thấy rằng tính bổ sung cũng thể mở rộng cho những lĩnh vực khác
ngoài vật ra, một ý tưởng thường bị nhạo báng. Nhưng sau khi cân nhắc một sáp dụng của
nguyên lí bổ sung của Bohr cho thế giới xã hội, một trong những người viết tiểu sử của Bohr, nhà
vật kiên định Abraham Pais, nhận thấy trong khi những áp dụng đó ràng mang tính Nn dụ,
nhưng chúng thường giúp ông nghĩ ra ngoài khuôn khổ”. Pais đoan chắc rằng “Về mặt nhân,
tôi đã nhận ra phương pháp bổ sung của sự giải phóng ý nghĩ”.