Nghề in và Đồ ha sách
thi Nguyn
1. Tìm hiu ngh in đ ha sách Vit Nam thời xưa không thể không
nhắc đến Lương Nhữ Hc và ngh làm giy ca tin nhân ta.
Phn Chư công nghệ t trong sách Lit tiên truyn chép: Hộc người Hng Lc
huyện Trường Tân l Hải Dương. Đỗ Thám khoa Nhâm Tut niên hiệu Đại Bo
th3 (1442). Làm quan đến chức Đô ngự s. Tng hai ln sang s Tu hc
được cách chế bn in. S v, Hc dy cho dân Hng lc Liu Tràng (gi lin
Hng - Liu). vy dân Hng - Liu mi có ngh này. Sau Hc mt, dân lập đn
th, tôn làm TSư. Triều đình cũng ban Sc ch phong làm Phúc thn.
Điều này cần được coi mt s kin quan trng mang ý nghĩa n bn vi s
pháp chính thng khẳng đnh rng: có mt v T nghlàng ngh khc in mc
bn trong lch s c ta. Song vn th cân nhc suy xét cho tht k thì
không nghĩa trước đó nước ta không có ngh khc in mc bn. Du sao
trên thc tế i, s hoạch đnh thành Làng ngh hay Phường hi thì li rt
th phi t sau khi Lương Nhữ Hc đi sứ vnước đem ngh khc in mc bn
truyn dy cho dân Hng - Liễu. Hơn na cho đến nay chúng ta cũng chưa tìm
thêm được liệu mang tính chất văn kiện lch s của Nhà nước phong kiến Vit
Nam nào đ có th chng minh sâu sắc hơn về vấn đ y.
2. Vy còn vấn đế ngh làm giy?
Mi người đu biết rõ, giy mt trong Văn phòng t bo (bút, giy, mc
nghiên). Giy thc s cn thiết không riêng đối vi các quc gia s dng Văn tự
hình khi vuông.
Vit Nam mt nưc nn văn hiến lâu đời. Nhu cu ghi chép, sáng c chế
định các văn bản thành văn từ trung ương xuống các địa phương đến người có hc,
thậm chí đối vi dân thường đã tr thành mt tt yếu từ ngàn đi nay. Do đó ngh
làm giy nước ta t phi truyn thng rất lâu đi, như một l không khó
hiu.
mt liệu của người phương Bắc đã ghi nhn s kin quan trọng ta đt
thành vấn đ kho cu trên. Đó cuốn sách Giao lưu văn hóa quan hệ hu
ngh của nhân dân hai nước Trung - Vit (Bc Kinh, 1957), tác gi Trn Tu Hòa
viết: “vào thế k 3 sau Công Nguyên, người Việt đã dùng g mật hương làm
th giy bn rt tt gi giy Mật Hương. Loi giy này vào năm 284 đã đưc
các thương nhân La Mã mua đến hàng vn t”.
Ngoài ra qua các sách n Thp di ca Vương Gia (thế k IV), Vân đài loi
ng (phn Âm T Loi), Ph Biên Tp Lc (phn Vt phm phong tc) ca
Quý Đôn, cùng vi mt s chi tiết ghi trong các b s lớn đu hé m cho biết v
những địa danh sn xut ca các loi giy. Đó các làng xung quanh khu vực
Bưởi - Cu Giy nng Yên (An) Thái, Tây Dương (tên nôm Cu Giy) là hai
làng chuyên làm Giy Lnh; làng Yên (An) Hoà, Yên (An) Quyết (tên nôm làng
Cót) hai làng làm giy thô; làng H Khu (gi nôm H) thường làm Giy
Moi; làng Động thì làm Giy Qu; làng Trung Nghĩa và Nghĩa Đô lại tp trung
vào làm Giy Sc. Còn mt s làng khác gn nhau thành Cm Làng các x
như Kinh Bc (nay Bc Ninh c Bc Giang), Ngh - Tĩnh (gm Ngh An
Hà Tĩnh), Thanh Hoa (nay gi là Thanh Hóa)… cũng đu có làm các loi giy.
Tìm hiu v chng loi giy thi xưa, ta có thể thy my loại như sau:
1. Giy Bn, thường dùng đ viết sách,
2. Giy Lnh, được dùng đ viết lnh ch,
3. Giy Nghè, li chuyên dùng viết sc phong,
4. Giy Qu, thường được dát vàng qu,
5. Giy Moi, dân chúng thường dùng gói hàng,
6. Giy Xu, thường dai, bèn và dùng pht qut giy,
7. Giy Thô, cũng dai và bn. Hai th giy XuThô đưc dân các làng làm
quạt như Kim Lũ (Lủ) Thanh Đàm (Thanh Trì nay), Lũ Xá (La) Hà Đông,… mua
v làm qut giy.
8. Giy Nhũ Tương, dùng đ viết đi liễn (câu đi), nn giy thưng ngân nhũ
đim xuyết n hoa Mai trông rất đp;
9. Giấy Điệp, thường được các làng in khắc tranh dân gian như Hàng Trống (Trinh
K, nay Nội), làng Đông H (Hà Bc), làng Kim Bng ng Hoàng Bng
(gi lin Kim Hoàng, còn gi theo nghin tranh làng Tranh Đ) rất ưa
chung.
Đấy là chưa kể đến các loi giy q thuộc vào hàng thượng phm như:
1. Giy Mật Hương,
2. Giy Trc Lý(1),
3. Giy Hoa Tiên,
4. Giy Ng(2)…
Điểm qua các thuyết nói v vấn đề in khc, có th thy n sau:
Theo Trí Văn trong Tìm hiu Kinh Pháp Hoa (đc san Vu Lan 2, TC Hong Pháp,
Hi Pht giáo Sài Gòn, 1973) thì: Sut t thế kI đến TK III, đất Luy Lâu đã
mt trung tâm Pht giáo và đã tng cho khc in kinh Pht.
Còn theo Mâu Bác (tài liu hoc lun), hay qua chùm thư tranh lun giữa Đạo
Cao, Pháp Minh, Miu(3) thì s th hiu Pht giáo c ta thi Bc thuc
như thế nào.
Nếu án c vào ngôn ttrong lá tcủa Đàm Thiên gửi Tùy Văn Đế i v vic in
khc các b kinh Giao Châu h ít chng liệu đ ta có mt ý nim t hào v
lch s ngành in nước nhà. Vì thế muốn đi đến mt nhận đnh khoa hc lại là điều
phi hết sc dè dt. Ta biết, Trung Quốc vào đu thế k II, Thái Luân mi ci tiến
phương pháp làm giấy. Mãi tới trưc sau thế k VIII, h mi phát minh ra công
ngh in ván khc. thế thuyết nói trên không đích thc. Còn công ngh khc
in sách ta thì qua các b s ln ít nhiều đều đ cập đến, nht vào hai thi
đi - Trn. Khi mà Phật giáo đang đưc sùng tng t chn triu trung râ đến
ngoài thôn dã, thì triều đình đã biết li dng cho san khc nhiu ln bĐại Tng
kinh thỉnh được t Trung Quc v, ri ph biến cho các t viện trong c.
Nhưng tất c nhng chúng ta đã được vào giai đoạn này đều đã b Minh
Thành T ra sc lnh hy dit tt, nhất là khi Trương Phụ sang nưc ta ln th hai.
Sut mt thi k t c Nguyn Trãi đọc Đai cáo Bình Ngô cho đến khi Nguyn
Ánh lên ngôi vàng vi không biết bao nhiêu biến cthăng trầm, nhiu lý do tác
hại đã khiến cho sách v của c ta mt mát nhiu. Theo thống ban đu thì
70% s sách còn li thuc di sn Hán Nôm li là sách chép tay,n các sách in mà
niên đi sm nht chđược tính vào thời trung hưng trở lại đây, trong đó số
sách in vào thi Nguyn chiếm phn nhiu.
Bốn mươi năm đu ca vua Gia Long Minh Mng thi k vàng son trong s
trì tr chung ca thế cuc nhà Nguyn cho dù cũng những thành công ghi nhn
v các mt hành chính, kinh tế, văn a… Song do bn cht lc hu, nền tàng
tưởng bo thú, c h, nm trong khuôn sáo Nho giáo, by gi ch còn nhng
công thc ràng buc chết cng mà ti. Còn v phương diện Pht giáo nhìn
không gian các làng hTam giáo lâu nay ngưi ta vn gi Tam giáo
đồng nguyên, theo chúng tôi thì l nên bám cht vào không gian mà thc
hin cũng như kh thi li chđóng khung trong nhng ngôi chùa ho lánh trong
các làng c th, thì thc cht ch Tam giáo đồng đường, chính bn thân
cũng đã nht nhẽo đi nhiu ch không còn ch da tinh thn thc s ca gii trí