
Nguyễn Thế Sơn
Nghệ thuật đương đại Trung Quốc - Hệ quả từ một chính sách
(Tham luận tại Hội thảo "20 năm mỹ thuật thời kỳ đổi mới 1986-2006" ngày 10.5.2007)
Từ sau mốc lịch sử năm 1978, khi ông Đặng Tiểu Bình mở cửa Trung Quốc với thế giới, đất
nước Trung Quốc như hồi sinh và có nhiều thay đổi to lớn về mọi mặt. Trong lĩnh vực nghệ
thuật, các nghệ sĩ Trung Quốc đã háo hức thử nghiệm với những kỹ thuật và thủ pháp nghệ
thuật mới của phương Tây để phản ánh những vấn đề nóng hổi và bức xúc về chính trị và xã
hội. Chính động lực này đã tạo ra một diện mạo rất khởi sắc của nghệ thuật đương đại Trung
Quốc.
Một loạt những tên tuổi sáng giá của Trung Quốc đã liên tiếp xuất hiện trong những triển lãm
nghệ thuật quốc tế lớn. Các tác phẩm của họ đã có mặt áp đảo trong các gallery uy tín và các
cuộc đấu giá nổi tiếng trên thế giới. Mặt bằng các tranh, ảnh, tượng của các nghệ sĩ Trung
Quốc liên tục gia tăng, tạo nên một làn sóng sưu tập các tác phẩm nghệ thuật đương đại
Trung Quốc trên khắp các thị trường nghệ thuật lớn như Châu Âu, Châu Mỹ, Hồng Kông,
Singapore… Nói một cách khác, giá trị thương hiệu của nghệ thuật đương đại Trung Quốc đã
được nâng lên một cách vượt bậc.
Vậy thực sự là cái gì đã tạo ra sự thay đổi thần kỳ đó? Điều gì đã biến một nền nghệ thuật
Trung Quốc trước đó không lâu chỉ được biết đến với cái tên hiện thực xã hội chủ nghĩa - một
bản sao của Liên Xô cũ mang màu sắc Trung Quốc - trở thành một quốc gia có nền nghệ thuật
đương đại uy tín vào bậc nhất trên thế giới như hiện nay?
Phải chăng phải đến những năm 80 các nghệ sĩ Trung Quốc mới nhận ra cần phải thay đổi tư
duy sáng tác, chủ đề sáng tác, hay do đến thời điểm đó năng lực sáng tác của họ mới đủ chín
muồi? Qua tìm hiểu một số tài liệu, tôi thấy rằng tình hình chính trị và xã hội của Trung Quốc
thời kỳ đó đã xảy ra những giằng xé nội bộ giữa phái hữu, gồm những người cấp tiến muốn
thực hiện nhanh chóng cuộc cải cách dân chủ, và phái tả, gồm những người muốn triệt để
tuân theo đường lối chính trị giáo điều truyền thống. Sau đó, sự phân cực gắt gao giữa hai
phái đã đi đến hồi kết bằng sự tan rã của phái hữu sau sự kiện Thiên An Môn năm 1989.
Thắng lợi tạm thời của phái tả tồn tại không lâu và cuối cùng lại bị gạt sang một bên, đặc biệt
là sau chuyến thị sát Thượng Hải của ông Đặng Tiểu Bình.
Trong không khí căng thẳng thời kỳ hậu Thiên An Môn đó, một chính sách mới đã chính thức
được áp dụng, đó là chính sách kỹ trị. Trung Quốc đã thực hiện bước chuyển dứt điểm từ nền
chính trị giáo điều sang nền chính trị thực dụng.
Cuộc chuyển biến này đã dọn đường cho sự lên ngôi của tầng lớp tinh hoa mới, những nhà kỹ
trị đầu tiên do Giang Trạch Dân lãnh đạo đã tạo ra được một luồng gió mới hiện đại và thực
dụng, thu hút được một lượng tinh hoa nhân tài trở thành một lực lượng quan trọng trong xã
hội. Công cuộc cải cách kinh tế theo hướng thị trường cùng với thay đổi lớn lao mà nó mang lại
đã thu hút được trọn vẹn tâm huyết của giới trẻ. Trong khi đó, những người thuộc thế hệ cũ
trung thành với nền chính trị bảo thủ ngày càng già đi và dần rút khỏi chính trường. Hơn 10
năm sau chuyến đi lịch sử của ông Đặng Tiểu Bình đến Thượng Hải, sự tăng trưởng mạnh mẽ
của nền kinh tế chính là sự khẳng định chắc chắn về hiệu quả của đường lối kỹ trị, tầng lớp
tinh hoa của Trung Quốc đã được mở rộng để tham gia quản lý nhà nước. (Theo ông James
Tong - một chuyên gia nghiên cứu về Trung Quốc - thì cả 9 uỷ viên thường vụ Bộ Chính trị
Trung Quốc hiện nay đều là kỹ sư, không có bất kỳ một nhà lý luận nào, không có ai từ ngành

tình báo, không có quân nhân chuyên nghiệp, không có ai xuất thân là công nhân, chỉ có duy
nhất một người là cán bộ cao cấp thời kỳ trước. Cấu trúc quyền lực của Trung Quốc đã thực sự
dứt bỏ được khuôn mẫu của nền chính trị giáo điều truyền thống).
Tầng lớp trung lưu, thanh niên sinh viên bị cuốn theo sức hấp dẫn to lớn của các cơ hội phát
triển kinh tế, cơ hội đầu tư, cùng với sức ép việc làm thôi thúc, đã quay lưng lại với các vấn đề
chính trị. Giới kỹ trị này không còn vướng mắc trong các ràng buộc và tranh luận vô bổ về ý
thức hệ, đã có tự do nhất định để ban hành các quyết định duy lý và hiệu quả khi giải quyết
các vấn đề của hiện đại hoá.
Việc sử dụng tri thức tinh hoa được thể hiện rất rõ rệt. Sau khi mở cửa Trung Quốc đã có
nhiều chính sách đón nhận, thu nạp một lượng lớn những người Trung Quốc thành đạt, những
nhà khoa học, tiến sĩ, nghệ sĩ… trở về Trung Quốc. Chính những người này đã chắp thêm cánh
cho sự phát triển mạnh mẽ của Trung Quốc, nó vừa gia tăng nội lực vừa củng cố thêm những
ảnh hưởng về kinh tế, văn hoá của Trung Quốc trên toàn thế giới. Tinh thần dân tộc được đẩy
mạnh, lúc này tất cả các yếu tố để tạo nên một thương hiệu mạnh, MADE IN CHINA trở nên
quan trọng hơn cả. Chính phủ Trung Quốc đến lúc này cũng không ngần ngại đứng ra bảo trợ
cho nghệ thuật đương đại Trung Quốc. Một loạt các cuộc triển lãm nghệ thuật lớn được chính
phủ Trung Quốc tổ chức, nhiều nhà đầu tư lớn cũng không bỏ qua cơ hội này.
Chính sách đầu tư cho tinh hoa tri thức cũng đã được thể hiện rất rõ trong giáo dục. Trong các
trường đại học, giáo sư được trả lương rất cao, có thể nói là cao nhất trong các ngành. Cùng
với lực lượng giảng viên có sẵn, các trường đại học còn mời thêm nhiều giáo sư, các nghệ sĩ
tham gia giảng dạy, tạo ra một không khí rất cởi mở và hết sức cầu thị. Thực sự là Trung Quốc
đã và đang chuyển hoá sang một nền kinh tế tri thức.
Sự bùng nổ của nghệ thuật thị giác ở Trung Quốc từ sau năm 1979:
Sự cởi mở hơn về chính trị và sự chuyển biến trong ý thức hệ của Trung Quốc đã là tác nhân
khơi nguồn cho sự nở rộ của nghệ thuật đương đại Trung Quốc. Quá trình phát triển và diễn
biến này được chia làm 2 giai đoạn, mốc bản lề là năm 1989 – năm xảy ra sự kiện Thiên An
Môn.
Giai đoạn thứ nhất từ sau năm 1979 đến 1989
Đây là giai đoạn Trung Quốc chưa chính thức áp dụng chính sách kỹ trị, tình hình đất nước
Trung Quốc vừa thoát khỏi bóng đêm của cuộc Cách mạng Văn hoá (1966-1976). Năm 1978,
ông Đặng Tiểu Bình đã lật trang sử của Trung Quốc sang một giai đoạn mới - giai đoạn mở cửa
hội nhập với thế giới. Đây có thể gọi là giai đoạn quá độ của lộ trình kỹ trị, khi mà giá trị của
hai hệ tư tưởng đang giằng xé ngay trong nội bộ chính phủ Trung Quốc. Cải cách dân chủ
nhanh chóng hay tiếp tục theo đuổi đường lối chính trị giáo điều truyền thống? Điểm mâu
thuẫn đó chính là đặc điểm, tính chất căn bản của tình hình xã hội Trung Quốc giai đoạn này.
Điều này được thể hiện qua các sáng tác, trào lưu nghệ thuật cũng như qua thái độ ứng xử và
phản ứng của chính phủ trước các trào lưu nghệ thuật đương đại này. Sau một thời gian dài bị
tổn thương và kìm hãm trong Cách mạng Văn hoá, đề tài chính mà các nghệ sĩ giai đoạn này
đề cập tới là các vấn đề của Cách mạng Văn hoá. Có những phong trào xuất hiện với cái tên
“Những bức tranh có sẹo” hay “nghệ thuật của những người bị tổn thương”. Trào lưu này diễn

tả nỗi đau đớn của cuộc cách mạng được thể hiện dưới dạng áp phích. Rất nhiều tác phẩm đã
thể hiện một tâm trạng thất vọng và vỡ mộng của giới trẻ, những người cảm thấy bị phản bội
và bị bỏ rơi. Có nhóm khác đi theo lối sơn dầu của phương Tây, nhiều hoạ sĩ ở Hạ Môn, Phúc
Kiến còn theo trào lưu đa đa - một hình thức đã làm bối rối nghệ thuật châu Âu vào những
năm trước thế chiến thứ nhất. Họ đã tham gia làm nhiều “happenning art” ở Hạ Môn.
Đến giữa những năm 80, những tác phẩm thử nghiệm táo bạo đã được diễn ra ở một vài nơi
của Trung Quốc. Sự nở rộ của nghệ thuật tiền phong đã cho ra đời “phong trào 85”, mục đích
của họ là muốn diễn tả sự thay đổi của chính sách và xã hội giai đoạn này. Các nghệ sĩ cảm
thấy rõ trách nhiệm của mình trong việc thiết lập lại xã hội, phong trào này không nhằm mục
đich tạo ra hình thức biểu đạt mới mà đơn giản là họ chỉ muốn góp những hoạt động nghệ
thuật của mình như một phần trong sự thay đổi của xã hội.
Một trong những tác phẩm đáng ghi nhận nhất là tác phẩm sắp đặt “Cuốn sách trời” của Xu
Bing. Cho đến giờ, Xu Bing vẫn là người tiên phong trong trào lưu nghệ thuật đương đại Trung
Quốc. Tác phẩm của ông được làm từ 4000 ký tự vô nghĩa của Tiếng Hán. Ông khắc chúng vào
những con triện theo kiểu nhà Tống (thế kỷ 11) sau đó bày tác phẩm của mình dưới dạng
tranh trục. Ông đã làm việc này trong 3 năm từ 1987 đến 1991 với một công việc nhàm chán
là ngồi khắc dấu, giống như việc ngồi cầu nguyện vào mỗi buổi sáng, quá trình làm là quan
trọng hơn kết quả. Tác phẩm như một đài tưởng niệm với một ý nghĩa rất sâu sa.

Một tác giả nữa của giai đoạn này cũng phải kể đến là Huang Yong Ping với tác phẩm sắp đặt
“Máy giặt”. Ông đã bỏ hai cuốn sách viết về nghệ thuật Trung Quốc rất có giá trị vào máy giặt
và bấm máy trong vòng 2 phút. Sau đó, để ra thành từng đống hỗn độn trên mặt bàn. Một tác
phẩm đề cập đến những vấn đề về giá trị.
Có thể thấy các tác phẩm của các nghệ sĩ tiên phong thời kỳ này luôn đề cập tới sự giằng xé,
đấu tranh cũng như sự xung đột về hệ tư tưởng và khái niệm về giá trị. Thái độ phản ứng của
chính quyền đối với những hoạt động nghệ thuật này thường không mấy tích cực, rất nhiều
cuộc triển lãm và buổi trình diễn đã bị đóng cửa, bắt bớ, tra hỏi.
Đến tận năm 1989, ngay sau khi xảy ra sự kiện Thiên An môn, cuộc triển lãm “Nghệ thuật tiên
phong Trung Quốc” tổ chức ở Bảo tàng Quốc gia Bắc Kinh vẫn bị đóng cửa hai lần sau khai
mạc, nhiều nghệ sĩ đã bị bắt giữ, chất vấn, thậm chí có hai nghệ sĩ nhiếp ảnh Hàng Châu đã bị
quân đội bắn chết. Có thể nói, năm 1989 là một thời điểm cao trào của những xung đột giữa
hai phái hữu khuynh và tả khuynh.
Giai đoạn thứ hai từ năm 1989 đến nay
Không khí căng thẳng và ảm đạm bao trùm khắp Trung Quốc sau sự kiện Thiên An Môn. Các
phong trào nghệ thuật tiên phong trở nên yên ắng, các nghệ sĩ không trưng bày các tác phẩm
ở nơi cộng cộng nữa, họ chủ yếu làm việc trong studio. Thời gian này là thời điểm Trung Quốc
gặp phải rất nhiều phản ứng của thế giới. Thậm chí có lúc Trung Quốc còn đứng trước nguy cơ
bị cấm vận, trừng phạt kinh tế. Song có lẽ đến lúc này sự dàn xếp trong nội bộ chính phủ đã
tạm ổn, thể hiện bằng việc ông Giang Trạch Dân đã đưa ra một loạt chính sách kỹ trị, tạo ra

được một luồng gió mới, hướng sự tập trung của đất nước vào phát triển kinh tế, đẩy mạnh
công cuộc hiện đại hoá. Thời gian này trong xã hội Trung Quốc tự phổ biến một quan niệm
“Hãy kiếm tiền và không hỏi gì hết”. Về phía các nghệ sĩ cũng được tự do hơn, đặc biệt là sau
năm 1992. Đó là hệ quả của quá trình cải cách dân chủ ở Trung Quốc. Thái độ đối xử của các
nhà cầm quyền với các hoạt động của giới nghệ sĩ cũng đã có chuyển biến hơn trước. Chính sự
mở cửa này đã tạo ra sự bùng nổ về nghệ thuật đương đại. Hơn bao giờ hết, hình tượng Mao
được các nghệ sĩ sử dụng một cách công khai, tạo thành một trào lưu Mao Pop rất phát triển.
Trường phái hiện thực phê phán cũng thịnh hành từ những xung đột về hệ tư tưởng giữa tư
bản chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Sự tăng tưởng kinh tế mạnh mẽ, sức ép của nền kinh tế
thị trường đã mang lại cho các nghệ sĩ đương đại những chủ đề mới như sự khát khao làm giàu
nhanh chóng, sự cạnh tranh khốc liệt, sự ngăn cách giàu nghèo… Rất nhiều đề tài cũng như
hình thức nghệ thuật thể nghiệm mới được phát triển rầm rộ như ảnh khái niệm, ảnh sắp đặt,
video art, trình diễn…
Một đặc điểm chung của các sáng tác thời kỳ này là rất cởi mở, hả hê, khoáng đạt chứ không
còn cảm giác gò bó, ấm ức như giai đoạn trước. Quả thực, có được tinh thần này cũng là do sự
mở cửa về văn hoá của chính phủ Trung Quốc trên tiêu chí sử dụng tri thức tinh hoa từ chính
sách kỹ trị.
Sau một thời gian dài bị đóng cửa, các triển lãm nghệ thuật đương đại đã được chính phủ quan
tâm trở lại. Hơn nữa các nghệ sĩ Trung Quốc giờ đây đã trưởng thành hơn rất nhiều, các tác
phẩm của họ đã gây được nhiều sự chú ý trên thế giới, giá tranh của họ liên tục tăng cao trên
các gallery và các nhà đấu giá nổi tiếng thế giới. Chính phủ lại đứng ra tổ chức các cuộc triển
lãm nghệ thuật qui mô quốc tế cho các nghệ sĩ đương đại Trung Quốc. Cùng với đà phát triển
kinh tế, nghệ thuật đương đại Trung Quốc cũng đơm hoa kết trái, chưa bao giờ giá của các tác
phẩm nghệ thuật lại cao như hiện nay. Theo báo cáo của Thời báo New York tháng 1 năm
2007, danh sách các hoạ sĩ đạt kỷ lục đấu giá tranh liên tục gia tăng. Trong đó, có những nghệ
sĩ nổi tiếng về bán tranh với giá hàng triệu đôla một bức như Zhang Xiao Gang, Fang Li Jun,
Yue Min Jun, Zeng Fan Zhi, Wang guang Yi, Zeng Hao…
Trong năm 2006 vừa qua, hai nhà đấu giá lớn nhất thế giới Sotheby’s và Christie’s đã bán
được 190 triệu đôla cho các tác phẩm nghệ thuật đương đại của Châu Á, phần lớn trong số đó
là các tác phẩm của các nghệ sĩ Trung Quốc. Bức tranh “Đập Tam Hiệp” của Liu Xiao Dong đã
bán được với giá 2,7 triệu đôla. Bức “Quảng trường Thiên An Môn” 1993 của Zhang Xiao Gang
được bán cho một nhà sưu tập tư nhân thông qua nhà đấu giá Christie’s ở Hồng Kông với giá
2,3 triệu đôla. Theo Artnet.com thì 16 bức tranh khác của Zhang Xiao Gang đã được bán với
giá 500.000 đôla mỗi bức trong suốt hai năm vừa qua.
Với những số liệu trên, ta có thể thấy rõ mặt bằng những sáng tác nghệ thuật của các nghệ sĩ
đương đại Trung Quốc đã được nâng lên rất nhiều. Một lần nữa chúng ta lại được chứng kiến
giá trị thương hiệu MADE IN CHINA trong nghệ thuật của Trung Quốc được vực dậy ngoạn mục
như thế nào. Có được những thành quả bước đầu đó trước hết là do nội lực cũng như sức sáng
tạo tiềm tàng của những nghệ sĩ Trung Quốc, tiếp theo đó là do chính sách kỹ trị mềm dẻo và
hiệu quả của chính phủ Trung Quốc. Sự cất cánh của nền nghệ thuật đương đại Trung Quốc
qua phân tích có thể thấy luôn song hành cùng với sự phát triển của kinh tế và sự mở cửa của
văn hoá và tư tưởng. Chính vì vậy, có thể nói tương lai của nghệ thuật đương đại Trung Quốc
phụ thuộc nhiều vào sự phát triển của nền kinh tế cũng như xã hội Trung Quốc.
Qua nghiên cứu và phân tích có thể thấy cứ mỗi chặng 10 năm, Trung Quốc lại có những thay

