TIỂU LUẬN:
NGHIÊN CỨU HÀNH VI MUA
SẮM CỦA NGƯỜI DÂN TRÊN ĐỊA
BÀN HÀ NỘI
A - PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong những m qua thói quen tiêu dùng của người dân Việt Nam nói
chung và của người dân Hà Nội nói riêng những thay đổi rõ rệt, trong đó sự gia
tăng thói quen mua sắm tại siêu thị thay thế chợ, cửa hàng truyền thống điều dễ
nhận ra hơn cả. Siêu thị bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam tđầu những m 90 khi
nhà nước ta bắt đầu chuyển đổi chế tập trung bao cấp sang chế thị trường.
Vào thời điểm siêu thị bắt đầu xuất hiện, việc mua sm tại siêu thị khá lạ lẫm với
người tiêu dùng Việt, thậm trí được còn coi như sự thể hiện lối sống đặc trưng
của tầng lớp khá giả. Song smặt của siêu thị ngày nay đã không còn trở nên
xa lạ với người dân. Cùng với sự gia tăng mức độ hội nhập văn hóa, kinh tế của
Việt Nam với thế giới, siêu thị cũng mọc lên ngày càng nhiều vi rất nhiều quy mô
chủng loại. Ngày nay thói quen mua sắm tại siêu thị đã trở thành một phần
trong cuộc sống của người tiêu dùng Việt Nam, đặc biệt các thành phố lớn
như Nội thành phố Hồ Chí Minh. c địa phương khác trong nhưng m
gần đây cũng đã xuất hiện một số siêu thị. Khi đời sống người dân càng cao, càng
văn minh, thói quen đi siêu thị sẽ n gia tăng mạnh hơn nữa. Nhận thức được
tiềm ng này, nhiều doanh nghiệp đã tận dụng hội, đầu kinh doanh siêu
thị.
Sự thay đổi thói quen tiêu dùng nhanh chóng của người dân đã mang lại lợi
nhuận không nhỏ cho các doanh nghiệp kinh doanh siêu thị. Song đồng thời sự
thay đổi này cũng đặt ra cho các doanh nghiệp kinh doanh siêu thị những đòi hỏi
để thích ứng đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng tốt n nữa. Ngày nay tính
chất cạnh tranh càng diễn ra gay gắt n khi Việt Nam trở thành thành viên của
WTO, các tập đoàn, công ty nước ngoài cùng đi vào hoạt động kinh doanh siêu thị.
Do đó việc c định chiến lược đúng thực hiện thành công, sẽ giúp cho các tập
đoàn, công ty bảo đảm mức độ tương xứng giữa sức mạnh của mình và đối thủ
cạnh tranh và với nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao hơn của khách hàng
Để thể đưa ra những chiến lược, những thay đổi hợp nhất, hiệu quả
nhất thì các siêu thị phải hiểu hành vi tiêu dùng của người dân. Đây chính
nguyên nhân em quyết định chọn đề tài:”Nghiên cứu xu hướng tiêu dùng của
người dân Hà Nội và giải pháp marketing cho doanh nghiệp” làm đề tài cho đề
án marketing của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu sự gia tăng thói quen mua sắm tại siêu thị của người dân nội
thành Nội, phân tích để đưa ra giải pháp Marketing cho các siêu thị để thích
ứng với sự thay đổi này.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Nghiên cứu thực trạng hoạt động mua sắm tại siêu thị của người dân.
- Phân tích kết quả nghiên cứu và nguyên nhân của sự thay đổi thói
quen này của người dân.
- Những vấn đề đặt ra đối với các doanh nghiệp kinh doanh siêu thị khi
người dân tăng thói quen mua sắm tại siêu thị.
- Tổng quan về tình hình hoạt động của các siêu thị trên địa bàn Hà Nội
- Giải pháp marketing cho các doanh nghiệp
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động mua sắm của người tiêu dùng trên
địa bàn Hà Nội.
- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu khách hàng trên địa bàn nội thành
Nội.
4. Cấu trúc đề án:
- Chương I: Tổng quan về tình hình hoạt động các siêu thị trên địa bàn
Nội. Chương I cái nhìn toàn cảnh về thực trạng kinh doanh siêu thị trên địa
bàn Hà Nội, về sự hình thành, phát triển cũng như những thay đổi đáng kể của quy
mô và số lượng các siêu thị trên địa bàn Hà Nội trong những năm gần đây.
- Chương II: Nghiên cứu hoạt động mua sắm của người dân
Chương II nội dung chính của bài đề án, chương II tả chi tiết quá
trình nghiên cứu thực tế hoạt động mua sắm của người dân để thu thập dữ liệu, từ
dữ liệu thu thập được phân tích tình hình.
- Chương III: Giải pháp marketing nhằm thích ng s thay đổi của
khách hàng.. Căn cứ vào dữ liệu thu thập kết quả phân tích của chương II đồng
thời căn cứ vào tình hình chung của hoạt động kinh doanh siêu thị để từ đó đề xuất
những giải pháp cho các siêu thị nói chung trên địa bàn Hà Nội.
- Chương IV: Kết luận. Rút ra những ý kiến, nhận định chung.
B - NỘI DUNG CHÍNH
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC SIÊU
THỊ TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
1.1. Tổng quan về siêu thị
Siêu thị t được dịch ra từ các thuật ngữ nước ngoài - "supermarket"
(tiếng Anh) hay "supermarché" (tiếng Pháp), trong đó "super" nghĩa "siêu"
"market" là "thị trường" ("chợ").
Theo Philips Kotler, siêu th "cửa hàng tự phục vụ tương đối lớn mức
chi phí thấp, tỷ suất lợi nhuận không cao khối luợng hàng hóa bán ra lớn, đảm
bảo thỏa mãn đầy đủ nhu cầu của người tiêu dùng về thực phẩm, bột giặt, các chất
tẩy rửa và những mặt hàng chăm sóc nhà cửa"
Theo nhà kinh tế Marc Benoun của Pháp, siêu thị "ca hàng n lẻ theo
phương thức tự phục v có diện tích từ 400m2 đến 2500m2 chủ yếu bán ng thc
phm"
Theo từ điển kinh tế thị trường tA đến Z: "Siêu thị là cửa hàng tự phục vụ
bày bán nhiều mặt hàng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hàng ngày của người tiêu dùng
như thực phẩm, đồ uống, dụng cụ gia đình và các loại vật dụng cần thiết khác"
Theo Quy chế Siêu thị, Trung m thương mại của Bộ Thương mại Việt
Nam (nay Bộ Công Thương Việt Nam) ban hành ngày 24 tháng 9 năm 2004:
Siêu thị loại hình cửa hàng hiện đại; kinh doanh tồng hợp hoặc chuyên doanh;
có cơ cấu chủng loại hàng hoá phong phú, đa dạng, bảo đảm chất lượng; đáp ứng
các tiêu chẩn về diện tích kinh doanh, trang bị kỹ thuật trình độ quản lý, tổ
chức kinh doanh; các phương thức phục vụ văn minh, thuận tiện nhằm thoả
mãn nhu cầu mua sắm hàng hóa của khách hàng”
Siêu thị truyền thống thường được xây dựng trên diện tích lớn, gần khu dân
để tiện lợi cho khách hàng đảm bảo doanh thu. Quy của siêu thị thì lớn
hơn các cửa hàng tạp phẩm (hoặc chợ) và tương đối nhỏ hơn các trung tâm thương
mại. Theo Quy chế Siêu thị, Trung m thương mại, Trung tâm thương mại có quy
lớn n, không chbao gồm các loại hình cửa hàng, cơ sở hoạt động dịch vụ
còn bao gồm cả hội trường, phòng họp, văn phòng cho thuê…được bố chí tập
trung, liên hoàn. Hàng hóa đây rất đa dạng được chọn lọc kĩ hơn so với trong
chợ hay cửa hàng tạp phẩm. Loại hình này gọi chung siêu thị truyền thống vì
ngày nay, từ "siêu thị" còn được chỉ những nơi chỉ chuyên kinh doanh một mặt
hàng, một chủng loại hàng nào đó thôi. dụ: siêu thị máy tính, siêu thị điện
thoại di động, siêu thị trái cây, siêu thị điện máy, siêu thị kính thuốc... thậm chí
còn siêu th việc m nữa. (những cách gọi này hay được dùng tại Nội
thành phố Hồ Chí Minh).
Tiêu chuẩn Siêu thị, theo quy định của Bộ Công Thương Việt Nam, siêu thị
được phân làm 3 hạng:
Siêu thị hạng I