GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG

QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG GIAI ĐOẠN 2010 - 2020 Ở VIỆT NAM

Chủ nhiệm đề tài: Th.S Tạ Thị Thùy Trang

Thành viên tham gia: Nguyễn Thị Vinh Hương

Hà Nội, tháng 3 năm 2021

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG

QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG GIAI ĐOẠN 2010 - 2020 Ở VIỆT NAM

Chủ nhiệm đề tài: Th.S Tạ Thị Thùy Trang

Thành viên tham gia: Nguyễn Thị Vinh Hương

Xác nhận của Trường Đại học Thương mại

Chủ nhiệm đề tài

Hà Nội, tháng 3 năm 2021

TÓM LƯỢC

Hiện nay, khi chuyển quyền sử dụng đất bằng hình thức chuyển nhượng là chủ

yếu thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là khâu quan trọng để đạt được

thành công trong giao dịch. Đề tài liên quan đến chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã

được một số công trình nghiên cứu khoa học đề cập đến. Do vậy, việc lựa chọn

“nghiên cứu pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong giai đoạn

2010 – 2020 ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường vừa có những

thuận lợi, vừa là thử thách đối với nhóm tác giả. Trong phạm vi đề tài nghiên cứu,

nhóm tác giả tập trung trình bày, hoàn thiện hệ thống lý luận về hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất theo pháp luật hiện hành. Đồng thời, phân tích thực trạng

và thực tiễn áp dụng pháp luật Việt Nam để làm rõ những ưu điểm và hạn chế của

pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong giai đoạn 2010 - 2020.

Từ đó, đề xuất định hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi

pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLDS: Bộ luật dân sự

BLTTDS: Bộ luật tố tụng dân sự

LĐĐ: Luật đất đai

THA: Thi hành án

HĐCNQSDĐ: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

QSDĐ: Quyền sử dụng đất

SDĐ: Sử dụng đất

GCN QSDĐ: Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất

TA: Tòa án

TAND: Tòa án nhân dân

UBND: Ủy ban nhân dân

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

ĐỀ TÀI NCKH CẤP TRƯỜNG

1. Thông tin chung: - Tên đề tài: Nghiên cứu pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng

đất trong giai đoạn 2010 – 2020 ở Việt Nam

- Mã số: CS20 -30

- Chủ nhiệm: Th.S Tạ Thị Thùy Trang

- Cơ quan chủ trì: Đại học Thương Mại

- Thời gian thực hiện: 7/2020 đến 3/2021

2. Mục tiêu: - Hệ thống cơ sở lý luận pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng

đất.

- Phân tích thực trạng và thực tiễn áp dụng pháp luật Việt Nam để làm rõ những

ưu điểm và hạn chế của pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong giai đoạn 2010 - 2020.

- Đề xuất định hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi

pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

3. Tính mới và sáng tạo: Trên cơ sở tiếp thu giá trị, đồng thời phân tích những nội dung mà các công trình

khoa học đã công bố chưa đề cập hoặc chưa làm rõ, đề tài đã xây dựng định hướng

nghiên cứu tổng quan, toàn diện về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Những vấn đề lý luận về đất đai và quyền sử dụng đất được phân tích, đánh giá làm

tiền đề để xây dựng các quy định pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Những vấn đề về việc xác lập, thực hiện hợp đồng nói chung được xem xét, nhận định trên cơ sở đặc thù của quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, giúp cho đề tài vừa thể hiện được những vấn đề về hợp đồng nói chung, nhưng vẫn làm nổi bật những nét riêng có của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

4. Kết quả nghiên cứu: - 01 bài báo khoa học - 01 báo cáo nghiên cứu

5. Công bố sản phẩm khoa học từ kết quả nghiên cứu của đề tài

Bài viết “ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” đăng tải trên tạp chí

Nghiên cứu lập pháp số 21 tháng 11/2020

6. Hiệu quả, phương thức chuyển giao kết quả nghiên cứu và khả năng áp

dụng:

Chuyển giao kết quả nghiên cứu thông qua nghiệm thu bàn giao sản phẩm đề tài

nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu có thể được khai thác, vận dụng vào giảng dạy cho sinh viên

Đại học Thương mại nói chung và cho sinh viên chuyên ngành Luật kinh tế nói riêng

liên quan tới học phần Pháp luật môi trường – đất đai.

Ngày 22 tháng 4 năm 2021

Chủ nhiệm đề tài (ký, họ và tên)

Tạ Thị Thùy Trang

MỤC LỤC

TÓM LƯỢC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 1

1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài ............................................................................. 1

2 Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài ....................................................................... 3

3 Các mục tiêu nghiên cứu .............................................................................................. 9

4 Phạm vi nghiên cứu .................................................................................................... 10

5 Ý nghĩa của nghiên cứu .............................................................................................. 10

6 Kết cấu báo cáo nghiên cứu ........................................................................................ 11

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN

SỬ DỤNG ĐẤT VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG

QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ............................................................................................ 12

1.1. Khái quát về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ................................... 12

1.1.1. Các khái niệm liên quan ...................................................................................... 12

1.1.2. Đặc điểm của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ............................... 16

1.2. Khái quát pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ................... 20

1.2.1. Khái niệm ............................................................................................................ 20

1.2.2. Nội dung pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ................. 22

1.2.3. Vai trò pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ..................... 25

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN

NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG GIAI ĐOẠN 2010 – 2020 Ở VIỆT

NAM .............................................................................................................................. 28

2.1. Nội dung các quy định pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

....................................................................................................................................... 28

2.1.1. Các quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử

dụng đất. ........................................................................................................................ 28

2.1.2. Các quy định pháp luật về thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng

đất .................................................................................................................................. 41

2.1.3. Các quy định về hình thức, thủ tục xác lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử

dụng đất ......................................................................................................................... 45

2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

trong giai đoạn 2010 – 2020 ở Việt Nam ...................................................................... 52

2.2.1. Đánh giá tổng quan những thuận lợi và khó khăn trong việc giải quyết tranh

chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong giai đoạn 2010 – 2020 ở

Việt Nam ........................................................................................................................ 52

2.2.2. Một số khó khăn vướng mắc cụ thể đối với tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng

quyền sử dụng đất trong giai đoạn 2010 – 2020 ở Việt Nam ........................................ 62

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO

HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG

QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ............................................................................................ 71

3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật ........................................................................... 71

3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền

sử dụng đất ..................................................................................................................... 73

3.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất ............................................................................................ 76

KẾT LUẬN .................................................................................................................. 79

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................... 81

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài

Chuyển nhượng quyền sử dụng đất là quyền cơ bản trong các quyền của người

sử dụng đất; đồng thời cũng là quyền được thực hiện thường xuyên, liên tục và chiếm

tỷ lệ lớn vào loại bậc nhất trong các giao dịch dân sự về đất đai trên thị trường trong

bối cảnh đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu như Việt

Nam hiện nay. Trên thực tế, đây là phương thức dịch chuyển linh hoạt về quyền sử

dụng đất trên thị trường, tuân thủ đầy đủ các quy luật của thị trường như cung – cầu,

cạnh tranh, giá cả, tôn trọng quyền tự do ý chí, thỏa thuận của các chủ thể giao dịch

thông qua hợp đồng mà ít có sự can thiệp và tham gia sâu của Nhà nước trong quá

trình xác lập và thực hiện giao dịch. Từ tính chất linh hoạt này, chuyển nhượng quyền

sử dụng đất cũng là hình thức góp phần thúc đẩy tích tụ và tập trung đất đai vào tay

những người có nhu cầu và khả năng sử dụng đất, biết làm giàu trên đất, làm cho đất

đai từ một thứ tài nguyên thuần túy được thiên nhiên ban tặng trở thành tài sản có giá,

là hàng hóa có giá trị lưu thông trên thị trường. Nhận thấy được tầm quan trọng của đất

đai đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước nói chung và tính chất linh hoạt

nhưng cũng rất phức tạp của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thực tế

nói riêng, pháp luật đất đai và pháp luật khác có liên quan qua các thời kỳ được xây

dựng, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện theo hướng ngày càng hợp lý hơn, toàn diện và

đầy đủ hơn. Đặc biệt, với hàng loạt các văn bản được ban hành trong thời gian gần đây

đã tạo ra hành lang pháp lý tương đối đầy đủ cho các chủ thể tham gia giao dịch

chuyển nhượng QSDĐ trên thị trường. Có thể nói giai đoạn 2010 – 2020 đánh dấu sự

thay đổi của hệ thống pháp luật đất đai nói chung và các văn bản pháp luật điều chỉnh

về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói riêng rất rõ rệt, cụ thể như: Luật

đất đai năm 2013 thay thế Luật đất đai 2003, Luật kinh doanh bất động sản năm 2014

thay thế Luật kinh doanh bất động sản 2006, Bộ luật dân sự năm 2015 thay thế Bộ luật

dân sự 2005, Luật nhà ở 2014 thay thế Luật nhà ở 2005, Luật đầu tư 2014 thay thế

Luật đầu tư 2005... Tuy nhiên, nhìn nhận một cách khách quan cũng không thể phủ

nhận được rằng, trên thực tế, hoạt động chuyển nhượng quyền sử dụng đất vẫn còn

diễn biến phức tạp, pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất còn

nhiều bất cập dẫn đến giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất được "biến tướng"

với nhiều sai phạm tinh vi hơn, khó phát hiện hơn như: giao dịch chuyển nhượng

1

quyền sử dụng đất trái pháp luật được thực hiện trên cơ sở có sự thỏa thuận, "thông

đồng ý kiến" của các bên trong hợp đồng nhằm đối phó với pháp luật, trốn lậu thuế với

giá trị lớn, gây hỗn loạn thị trường… Đây cũng là nguyên nhân cơ bản dẫn đến các

tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày càng gia tăng về số

lượng và phức tạp về tính chất. Theo thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, chỉ tính

riêng tranh chấp về quyền sử dụng đất năm 2019 đã lên tới hơn 20 nghìn vụ. Trong

con số kể trên, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chiếm trên 1/3.

Dưới góc độ pháp luật, mặc dù hàng loạt các văn bản pháp luật được ban hành và điều

chỉnh ở nhiều khía cạnh khác nhau về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất,

song xét trong mối quan hệ tổng thể của sự thống nhất pháp luật cho thấy, pháp luật

hiện hành vẫn còn nhiều quy định chưa thống nhất, thậm chí còn mâu thuẫn và loại trừ

lẫn nhau, nhiều quy định xét về mục đích, ý nghĩa là sự cần thiết, song lại xa rời với

thực tiễn thực thi và khó hiện thực hóa được trên thực tế; nhiều quy định tỏ ra lỏng lẻo

và thiếu cơ chế bảo đảm để thực thi có hiệu quả trên thực tế và chúng là hệ lụy cho

những động thái "lách luật", vi phạm khi ký kết và thực hiện hợp đồng. Không chỉ

dừng lại ở đó, đặt trong điều kiện của nền kinh tế thị trường và xu thế kinh tế hội nhập

trong giai đoạn hiện nay của Việt Nam cũng cho thấy, vẫn còn nhiều rào cản cho việc

tiếp cận đất đai thông qua cơ chế chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Vì vậy, hiệu quả

điều chỉnh của pháp luật trên thực tế chưa cao, quản lý nhà nước về thị trường bất

động sản nói chung và giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thực tế chưa

đạt được mục đích đề ra, giữa vô vàn những quy định điều chỉnh hợp đồng chuyển

nhượng thì đáng lý ra giao dịch đó phải được vận động trong một trạng thái an toàn

cho các chủ thể tham gia giao dịch, song trái lại, trên thực tế, hợp đồng chuyển nhượng

quyền sử dụng đất vẫn chứa đựng vô cùng nhiều rủi ro, bất trắc. Thực tế nêu trên cho

thấy, sự cần thiết khách quan ở cả hiện tại và tương lai vẫn đang và sẽ rất cần phải có

các công trình tiếp tục được nghiên cứu vừa mang tính tổng thể, toàn diện, vừa mang

tính chuyên sâu ở cả khía cạnh lý luận, pháp luật thực định, cũng như thực tiễn thực thi

về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, sự nghiên cứu cần phải đặt trong mối

quan hệ gắn bó mật thiết và phù hợp với nền kinh tế thị trường, với hội nhập kinh tế

quốc tế hiện nay. Đó là những lý do nhóm tác giả lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu pháp

luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong giai đoạn 2010 - 2020 của

Việt Nam” để nghiên cứu.

2

2 Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài

Chuyển nhượng quyền sử dụng đất (QSDĐ) luôn là vấn đề thu hút sự quan tâm

nghiên cứu, tìm hiểu của giới luật học nước ta. Trong thời gian qua, đã có không ít các

công trình nghiên cứu về vấn đề này. Các công trình nghiên cứu đã công bố khai thác

vấn đề ở nhiều góc độ và phương diện khác nhau; mỗi công trình có cách tiếp cận,

nghiên cứu, nhìn nhận riêng và nhìn chung đều đã phân tích cũng như phản ánh được

những nét cơ bản nhất về các vấn đề nghiên cứu, cụ thể như sau:

* Về quyền sử dụng đất

- Sách: “Sự hình thành và phát triển thị trường bất động sản trong công cuộc đổi

mới ở Việt Nam” của TS. Lê Xuân Bá, NXB Khoa học và Kỹ thuật, năm 2003. Cuốn

sách nghiên cứu về thị trường bất động sản ở Việt Nam nên QSDĐ chỉ được nhóm tác

giả đề cập một cách ngắn gọn: Quyền sử dụng đất là bộ phận cấu thành của quyền sở

hữu đất. Thông qua việc được độc quyền giao đất, cho thuê đất, Nhà nước trao cho

người sử dụng đất thực hiện trong thời hạn thuê đất, nhận giao đất những quyền và

nghĩa vụ nhất định, trong đó có sự phân biệt theo loại đất, theo đối tượng (người) sử

dụng đất, theo hình thức thuê hoặc giao đất [tr.83]. Khái niệm này chỉ ra quyền sử

dụng đất là một quyền phái sinh từ quyền sở hữu đất. Đồng thời đã xác định quyền sử

dụng đất không chỉ là quyền của người sử dụng đất mà còn bao hàm cả nghĩa vụ của

họ.

- Sách: “Từ điển Luật học” NXB Từ điển bách khoa và NXB Tư pháp, năm

2006: Từ điển Luật học là một công trình của tập thể nhóm tác giả do Viện nghiên cứu

khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp chủ trì. Trong công trình này, QSDĐ được xác định

như sau: Quyền sử dụng đất là quyền của các chủ thể được khai thác công dụng,

hưởng hoa lợi, lợi ích từ việc sử dụng đất được nhà nước giao, cho thuê hoặc được

chuyển giao từ những chủ thể khác thông qua việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho

thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho... từ những chủ thể khác có quyền sử dụng đất

[tr.655]. Khái niệm về quyền sử dụng đất trong công trình này thiên về việc xác định

quyền khai thác lợi ích từ đất, chuyển quyền sử dụng đất và nguồn gốc của quyền này.

- Sách: “Nghiên cứu về tài sản trong luật dân sự Việt nam” của TS. Nguyễn

Ngọc Điện, NXB Trẻ thành phố Hồ Chí Minh, năm 1999. Cuốn sách nghiên cứu về

các loại tài sản được quy định trong luật dân sự Việt Nam. Thông qua việc xem xét các

loại tài sản bao gồm: Vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản, nhóm tác giả xác định

3

quyền sử dụng đất là một loại tài sản ở dạng quyền tài sản.

- Đề tài Thạc sĩ Luật học: “Xây dựng và hoàn thiện pháp luật thị trường quyền

sử dụng đất ở Việt Nam” của Nguyễn Thị Nga, năm 2003. Trong công trình này, nhóm

tác giả xác định tính đặc thù của quyền sử dụng đất so với quyền sử dụng các loại tài

sản khác: Nói đến “quyền sử dụng” nghĩa là nói đến quyền khai thác công dụng và

hưởng hoa lợi, lợi tức từ một đối tượng tài sản. Song rất khác với các loại tài sản khác,

đất đai là một tài sản đặc biệt, một tư liệu sản xuất đặc thù có giới hạn về không gian,

diện tích nhưng vô hạn về thời gian sử dụng và khả năng sinh lợi [tr.6].

- Đề tài Thạc sĩ Luật học: “Một số vấn đề về chuyển nhượng quyền sử dụng đất

ở theo quy định của pháp luật Việt nam của Nguyễn Thị Thu Thủy, năm 2004. Từ việc

nêu ra các đặc điểm của QSDĐ, nhóm tác giả của công trình này đã xác định quyền sử

dụng đát bao gồm ba quyền năng là: chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. Với cách nhìn

này thì quyền sử dụng đất đã được nhóm tác giả coi như là quyền sở hữu một tài sản,

hay nói cách khác, một cách gián tiếp, nhóm tác giả của công trình này đã coi quyền

sử dụng đất là một tài sản thuộc sở hữu của người sử dụng đất. Tuy nhiên, nhóm tác

giả cũng khẳng định: “Các quyền năng này không phải là quyền độc lập như quyền

của các chủ sở hữu tài sản thông thường”.

- Đề tài tiến sĩ Luật học: “Pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong

kinh doanh bất động sản” của Nguyễn Thị Hồng Nhung, năm 2012. Từ việc đưa ra

một số quan điểm của các nhóm tác giả về quyền sở hữu đất đai và quyền sử dụng đất,

nhóm tác giả của đề tài này cho rằng: quyền sử dụng đất được xem xét dưới hai góc

độ. Dưới góc độ kinh tế thì quyền sử dụng đất là quyền khai thác các lợi ích từ đất của

các tổ chức, hộ gia đình cá nhân sử dụng đất. Dưới góc độ pháp lý thì quyền sử dụng

đất là những quyền năng mà Nhà nước thông qua công cụ pháp lý để quy định, thừa

nhận cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân (người sử dụng đất) được hưởng, được làm

trong quá trình sử dụng đất [ tr.16 ].

* Về chuyển nhượng quyền sử dụng đất

- Cuốn “Từ điển Luật học” của Viện Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp xác định:

“Chuyển nhượng quyền sử dụng đất : (Người sử dụng đất) chuyển giao đất và quyền

sử dụng đất đó cho người nhận chuyển nhượng (gọi là bên nhận quyền sử dụng đất) sử

dụng. Bên chuyển giao đất và quyền sử dụng đất được nhận số tiền tương đương với

giá trị quyền sử dụng đất theo thỏa thuận của các bên” [tr.161]. Như vậy, nhóm tác giả

4

của công trình này coi chuyển nhượng quyền sử dụng đất là mối quan hệ giữa bên

chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng. Trong đó, bên chuyển nhượng vừa

“chuyển giao đất” vừa chuyển giao “quyền sử dụng đất” cho bên nhận chuyển nhượng.

- Đề tài tiến sĩ Luật học: “Địa vị pháp lý của người sử dụng đất trong các giao

dịch dân sự và kinh tế”, của Nguyễn Quang Tuyến năm 2003. Nhóm tác giả của đề tài

xác định chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo hai phương diện: Chuyển nhượng

quyền sử dụng đất về phương diện pháp lý là một loại giao dịch về đất đai, theo đó chủ

sử dụng đất này tự nguyện chấm dứt các quyền, nghĩa vụ của mình đối với những diện

tích nhất định và chuyển chúng cho chủ thể khác, do vậy, Điều 679, Bộ luật dân sự

2005 quy định: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận giữa các

bên, theo đó, bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất chuyển giao đất và quyền sử dụng

đất cho bên nhận chuyển nhượng, còn bên nhận chuyển nhượng trả tiền cho bên

chuyển nhượng theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai. Về phương diện

kinh tế thì chuyển nhượng quyền sử dụng đất chính là chuyển nhượng các lợi ích kinh

tế do đất đai mang lại từ chủ sử dụng đất này sang chủ sử dụng đất khác và đó là biểu

hiện của quan hệ thị trường [tr.76].

- Đề tài tiến sĩ luật học: “Pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong

kinh doanh bất động sản” (2012) của Nguyễn Thị Hồng Nhung. Nhóm tác giả xác

định: Giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất là việc chuyển nhượng quyền sử

dụng đất vĩnh viễn từ chủ sử dụng đất sang cho người mua và nhận một khoản tiền

tương ứng với giá trị quyền sử dụng đất. Với cách tiếp cận này thì chuyển nhượng

quyền sử dụng đất là một hợp đồng mua bán.

- Đề tài thạc sĩ luật học của nhóm tác giả Nông Viết Vỹ với đề tài “Hợp đồng

chuyển nhượng quyền sử dụng đất – Thực tiễn thi hành tại thành phố Bắc Kạn, tỉnh

Bắc Kan (2019). Nhóm tác giả xác định rằng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là một

trong những hình thức chuyển quyền sử dụng đất phổ biến. Theo đó, chuyển nhượng

quyền sử dụng đất là một giao dịch dân sự nhằm thực hiện việc chuyển quyền sử dụng

từ chủ thể này sang chủ thể khác. Ngoài ra, nhóm tác giả đề tài cũng cho rằng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất còn được hiểu là một quan hệ pháp luật dân sự và xác định

các bên chủ thể trong chuyển nhượng, đối tượng, khách thể của quan hệ pháp luật về

chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Đối với các công trình nghiên cứu khoa học của nước ngoài, nhìn chung, không

5

có công trình nghiên cứu ngoài nước nào trực tiếp nghiên cứu pháp luật về hợp đồng

chuyển nhượng quyền sử dụng đất của Việt Nam. Tuy nhiên, mua bán hay chuyển

nhượng đất đai, quyền sử dụng đất đều có mối quan hệ chặt chẽ, logic biện chứng và

không tách rời với quyền sở hữu đất đai, trong đó, quyền sở hữu đất đai đóng vai trò là

tiền đề, là cơ sở pháp lý ảnh hưởng, chi phối và quyết định tới quyền này. Ở các quốc

gia quy định và duy trì chế độ sở hữu tư nhân về đất đai thì đất đai được quan niệm là

một loại tài sản và chúng thuộc quyền định đoạt và chi phối của chủ sở hữu đối với đất

đai đó; theo đó, người có quyền sở hữu đất đai được quyền mua, được quyền bán một

mảnh đất theo ý chí và nguyện vọng của mình mà không chịu sự lệ thuộc bởi các chủ

thể khác, sự chi phối của Nhà nước chỉ mang tính chất kiểm soát thủ tục và nhằm truy

thu thuế, cũng như có ý nghĩa trong việc xem xét về tác động của giao dịch đó tới quy

hoạch tổng thể đất đai của Nhà nước mà thôi. Trái lại, ở các nước duy trì chế độ sở

hữu Nhà nước về đất đai hay sở hữu toàn dân về đất đai mà Nhà nước giữ vai trò đại

diện như Việt Nam thì vấn đề này lại hoàn toàn khác biệt. Theo đó, Nhà nước nắm

quyền kiểm soát và chi phối toàn bộ đất đai, quyết định chuyển giao đất đai của quốc

gia cho các chủ thể khác trong xã hội giữ quyền quản lý và khai thác, và do đó, quyền

của mỗi chủ thể về đất đất đai là quyền trên cơ sở Nhà nước với tư cách chủ sở hữu

cho phép. Hệ lụy của mối quan hệ này là giữa những chủ thể có quyền khai thác và sử

dụng đất đai đó cũng có thể thiết lập với nhau các giao dịch về quyền sử dụng đất song

đó chỉ là quyền phái sinh do nhà nước trao cho hoặc có được trong quá trình sử dụng

đất. Với sự khác nhau nêu trên cho thấy, nghiên cứu vấn đề sở hữu đất đai có ý nghĩa

quan trọng trong việc nhận diện cơ sở lý luận, nguồn gốc của giao dịch chuyển nhượng

hay mua bán đất đai, sự tương đồng và khác biệt giữa pháp luật điều chỉnh hợp đồng

chuyển nhượng quyền sử dụng đất với pháp luật điều chỉnh quan hệ mua bán đất đai ở

các quốc gia có chế độ sở hữu khác nhau. Cụ thể:

- Cuốn sách “Property Rights and Land Policies” (Các quyền sở hữu và các

chính sách về đất đai) của nhóm tác giả Ingram, Gregory K, and Yu-Hung Hong, xuất

bản tháng 5/2009. Cuốn sách tìm hiểu mối liên hệ giữa quyền sở hữu và chính sách đất

đai trong bối cảnh các nước phát triển và đang phát triển, đặc biệt là ở khu vực Châu

Á. Nhóm tác giả bàn về một loạt các chủ đề về chính sách đất đai bao gồm việc chấp

hành quy định, việc sử dụng các tên miền nổi tiếng và chiếm đoạt trong lắp ráp đất, sự

xuất hiện của quyền sở hữu tư nhân, chuyển nhượng quyền sở hữu trong nền kinh tế

6

chuyển đổi, giấy phép phát thải thị trường, quản lý tài nguyên thiên nhiên, và những

tác động của việc quy hoạch đất đai và phát triển nhà ở.

- Sách: “Claims to the Possession of Land” (Xác lập sở hữu với đất đai) của các

nhóm tác giả PhilipWalter, Adrianavis, JamesHarris, B.McGuire. Xuất bản 10/2000.

Cuốn này chủ yếu đề cập đến vấn đề Tuyên bố quyền sở hữu đất đai và giải thích pháp

luật liên quan và các thủ tục của từng loại quyền sở hữu. Ngoài ra, cuốn sách cũng đề

cập tới lợi ích của việc tuyên bố quyền Sở hữu đất đai, cụ thể là việc tuyên bố quyền

lợi này sẽ cung cấp thông tin cập nhật một cách thường xuyên về tài sản và kiện tụng

luật sư, quản lý tài sản, chủ nhà, người thuê nhà và khách thuê khác.

- Sách: “Private land claims, Illinois, Indiana, Michigan and Wisconsin” (Xác

lập đất tư, Illinois, Indiana, Michigan, và Wiscosin)của nhóm tác giả Ainsworth, Fern.

Một trong số nội dung chính trong 4 phần của cuốn sách là chủ đề “Michigan land and

property”. Cuốn này đi sâu vào vấn đề mua bán và sở hữu đất đai cùng các thủ tục đi

kèm tại miền Tây quốc gia Michigan, việc này nhằm khuyến khích việc mở rộng đất

đai sinh sống về miền Tây. Trình bày cụ thể về hồ sơ đất mua bán (chuyển nhượng),

ngoài ra còn cả những thông tin chi tiết dành cho người muốn chuyển đến/mua đất ở

đây, nhằm mục đích để cung cấp, truyền lại kinh nghiệm sinh sống tại vùng này của

người chủ trước cho người mới đến. Trong đó, thường nêu các thông tin khác trong gia

đình chẳng hạn như tên của người thừa kế, những người thân khác, hoặc hàng xóm.

- Sách: “Modern Real Estate and Land Transfer” (Mua bán đất đai và bất động

sản hiện đại) của các nhóm tác giả Steven W. Bender,Celeste M. Hammond, Michael

T. Madison, Robert M. Zinman, xuất bản năm 2012. Cuốn này đề cập tới vấn đề bất

động sản đi kèm với việc mua bán đất đai song vẫn còn hạn chế đề cập đến vấn đề

mua bán. Hiện nay vấn đề bất động sản khá phức tạp vì còn liên quan đến nhiều chính

sách, do có liên quan đến pháp lý và cả các chính sách thuế của nhà nước. Cuốn sách

cũng phản ánh những thay đổi trong pháp luật, bao gồm cả trường hợp pháp luật trả lời

theo luật định cuộc khủng hoảng thế chấp bất động sản khu dân cư; chiến lược quốc

phòng bị tịch thu đất; tác động chính sách của cuộc khủng hoảng thế chấp, trong đó có

vai trò của luật sư. So với các thành phần môi trường khác mà có thể giao dịch áp

dụng giấy phép như khoáng sản, nước, đất đai có một số đặc tính khá khác biệt, nhất là

vì nhiều công cụ pháp lý chi phối nên nó đóng một vai trò lớn trong việc xác định giá

của nó. Luật sở hữu khác nhau giữa các nước này sang nước khác, đặc biệt là ở trường

7

hợp của pháp luật phát triển, yếu tố quyết định giá vốn đất khi có nhu cầu. Vì lý do

này, trước khi đi vào chi tiết các ví dụ thực tế của giấy phép có thể giao dịch, mối quan

hệ giữa pháp luật bất động sản, quy định phát triển đô thị và cấp giấy phép có thể giao

dịch sẽ được kiểm tra, đặc biệt chú ý đến sự khác biệt giữa các hệ thống pháp lý ở Bắc

Mỹ và ở Tây Âu.

- Sách: “Transfer Land Use Rights in China: Results from a Survey of Rural”

(QSDĐ chuyển nhượng ở Trung Quốc: Kết quả từ một cuộc khảo sát ở nông thôn) của

nhóm tác giả Wen Yan, K.K. Klein, xuất bản 8/2013. Nhóm tác giả của cuốn sách này

xác định lý do tại sao tỷ lệ chuyển nhượng QSDĐ trong khu vực được lựa chọn là tỉnh

Hà Bắc, Trung Quốc quá thấp so với tỷ lệ trung bình, bằng cách đưa các yếu tố có thể

ảnh hưởng đến quyết định hộ gia đình nông thôn trong việc chuyển nhượng QSDĐ và

cũng để tìm ra các yếu tố quyết định để kiến nghị những tác động phù hợp. Kết quả

kinh tế cho thấy thiếu hụt của một hệ thống an sinh xã hội ở nông thôn, sự thiếu tự do

của nhiều hộ nông dân để thương lượng các điều khoản chuyển nhượng QSDĐ của họ,

và tỷ lệ thấp trong tổng thu nhập hộ gia đình đến từ các nguồn phi nông nghiệp là

những yếu tố chính có thể giải thích hiện tượng này.

- Đại sứ quán Pháp tại Trung Quốc và Quỹ phát triển Pháp luật châu Âu lục địa

(Fondation pour le Droit continental) đã cho công bố một số báo vào năm 2009 (số 0-

Tháng 01-3 năm 2009) về “Sở hữu tại Trung Quốc” (La propriété en Chine). Trong tài

liệu này, đã đề cập đến nhiều thông tin về sở hữu tài sản, nhất là về sở hữu bất động

sản tại Trung quốc. Bài viết liên quan đến chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Trung

Quốc.

Các công trình trên đã góp phần xây dựng cơ sở lý luận và đặt ra các vấn đề

thực tiễn về chuyển quyền sử dụng đất cũng như đối với việc quản lý đất đai của Nhà

nước. Tuy nhiên, những năm gần đây chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu chi

tiết, cụ thể toàn diện pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở Việt

Nam – một hình thức giao dịch đặc trưng, điển hình bắt buộc trong lĩnh vực đất đai.

Hơn nữa, trong điều kiện kinh tế xã hội luôn có những thay đổi, phát triển thì những

kết quả nghiên cứu đã đạt được vẫn cần tiếp tục bổ sung và hoàn thiện. Trên cơ sở các

công trình nghiên cứu khoa học đã công bố về chuyển nhượng quyền sử dụng đất,

nhóm tác giả có sự tổng hợp và kế thừa để nghiên cứu một cách có hệ thống cơ sở lý

luận, thông qua hoạt động thực tiễn phân tích và đưa ra những nhận định đánh giá của

8

mình về pháp luật điều chỉnh hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Bên cạnh

đó, nghiên cứu các quy định về quyền sở hữu đất đai và quyền được thực hiện các giao

dịch về đất đai ở một số quốc gia trên thế giới qua các công trình nghiên cứu nêu trên

cho nhóm tác giả rút ra được các tiền đề pháp lý sau đây khi thực hiện đề tài về hợp

đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo pháp luật Việt Nam:

- Thứ nhất, Với chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất thì đất đai tham gia giao

dịch trên thị trường chính là những mảnh đất cụ thể đã được xác định chủ sở hữu đích

thực. Hình thức của giao dịch được biểu hiện bằng các hợp đồng mua bán đất hoặc

hợp đồng chuyển quyền sở hữu đất mà không phải là chuyển nhượng quyền sử dụng

đât. Điều này cho thấy sự khác biệt cả về nội dung và hình thức của các giao dịch về

quyền sử dụng đất ở Việt Nam.

- Thứ hai, Dù quan hệ mua bán đất hay chuyển quyền sở hữu đất một cách tự do

và thuộc quyền tự định đoạt của mỗi chủ sở hữu đối với mảnh đất đó, pháp luật của

hầu hết các quốc gia đều quy định bắt buộc các chủ thể mua bán phải thông qua các

quy trình, thủ tục do cơ quan nhà nước kiểm soát và đồng thời phải tuân thủ tuyệt đối

quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của Nhà nước. Đây cũng là tiền đề pháp lý để nhóm

tác giả phân tích, nhận định, đánh giá về hệ thống các quy trình, thủ tục hành chính ở

Việt Nam quy định về chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

- Thứ ba, công nhận và cho phép quyền chuyển dịch tự do quyền sở hữu đất đai

song pháp luật của tất cả các quốc gia đều quy định nghĩa vụ nộp thuế chuyển quyền

sở hữu đất cho Nhà nước. Tùy thuộc ở mỗi quốc gia khác nhau thì mức thuế suất

chuyển quyền sở hữu khác nhau và cách thức truy thu thuế suất qua mỗi lần tích tụ đất

đai là khác nhau. Đây là tiền đề pháp lý để nhóm tác giả tiếp cận và luận giải về các

chính sách tài chính về giá trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở Việt

Nam.

Tóm lại, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, nhóm tác giả tập tập trung nghiên

cứu cụ thể về các quy định pháp luật điều chỉnh hợp đồng chuyển nhượng quyền sử

dụng đất và các văn bản pháp luật liên quan; thực tiễn áp dụng; kinh nghiệm của một

số quốc gia; quan điểm của các nhà khoa học, các học giả về vấn đề liên quan đến hợp

đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong giai đoạn 2010 – 2020 tại Việt Nam.

3 Các mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống cơ sở lý luận pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng

9

đất.

- Phân tích thực trạng và thực tiễn áp dụng pháp luật Việt Nam để làm rõ những

ưu điểm và hạn chế của pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

trong giai đoạn 2010 - 2020.

- Đề xuất định hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi

pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

4 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung nghiên cứu: quyền sử dụng đất là một tài sản đặc biệt, có

ý nghĩa quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội và liên quan đến nhiều lĩnh vực khác

nhau. Quyền sử dụng đất chịu sự điều chỉnh rộng rãi của nhiều lĩnh vực pháp luật

chuyên ngành. Trong công trình này, nhóm tác giả tập trung nghiên cứu chuyên sâu hệ

thống pháp luật đất đai hiện hành điều chỉnh quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng

đất. Các pháp luật khác liên quan như: pháp luật dân sự, pháp luật doanh nghiệp, đầu

tư, pháp luật kinh doanh bất động sản, pháp luật về công chứng, pháp luật tài chính

liên quan đến đất đai... sẽ được nghiên cứu ở phạm vi hẹp bởi các chế định cụ thể có

liên quan trực tiếp đến nội dung thuộc đề tài.

- Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu về hợp đồng chuyển nhượng quyền

sử dụng đất ở trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam.

- Phạm vi về thời gian: Nhóm tác giả tập trung nghiên cứu các quy định của

pháp luật hiện hành và thực tiễn thực hiện pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng

đất giai đoạn 2010 – 2020. Nhóm tác giả tiếp cận, nghiên cứu với mục đích so sánh,

đối chiếu giữa luật cũ và luật hiện hành để nhận thấy rõ nét hơn quá trình hình thành

và phát triển của pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là một quá

trình phát triển hợp quy luật, từ thấp đến cao, từ chưa phù hợp đến phù hợp hơn.

5 Ý nghĩa của nghiên cứu

* Đối với lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Với tư cách là một nội dung của môn học pháp luật kinh tế, việc nghiên cứu

một cách toàn diện, chi tiết về đề tài sẽ giải quyết những vướng mắc của sinh viên và

giảng viên về các vấn đề có liên quan đến đề tài. Công trình sẽ là tài liệu tham khảo

hữu ích cho sinh viên, học viên và cán bộ thực tiễn trong quá trình nghiên cứu, vận

dụng giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

*Đối với lĩnh vực khoa học và công nghệ có liên quan

10

Các kết quả của đề tài sẽ góp phần hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại

và phát triển của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói riêng và pháp luật về

hợp đồng nói chung, từ đó hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam thông qua các giải

pháp, kiến nghị trong đề tài.

* Đối với phát triển kinh tế-xã hội:

Với việc làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về hợp đồng

chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đồng thời tìm ra các căn nguyên cơ bản, hợp lý và

chính xác có tác động và ảnh hưởng đến các giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng

đất trên thị trường để đưa ra những định hướng, giải pháp tổng thể, toàn diện và thiết

thực nhằm hướng tới đảm bảo sự vận hành của các giao dịch chuyển nhượng quyền sử

dụng đất thuận lợi, an toàn, minh bạch và công khai hóa trên nền tảng của chế độ sở

hữu toàn dân về đất đai, tôn trọng tối đa các quy luật của thị trường và phù hợp với xu

thế hội nhập quốc tế.

* Đối với tổ chức chủ trì và các cơ sở ứng dụng kết quả nghiên cứu

Đề tài đảm bảo cung cấp cho sinh viên, giáo viên và các cơ quan quản lý có liên

quan những kiến thức pháp luật về hợp đồng nói chung và hợp đồng chuyển nhượng

quyền sử dụng đất nói riêng.

6 Kết cấu báo cáo nghiên cứu

Ngoài các phần tóm lược, lời cảm ơn, mục lục, kết cấu đề tài gồm 4 chương. Cụ

thể:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài

Chương 2: Cơ sở lý luận về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và

pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Chương 3: Thực trạng pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

trong giai đoạn 2021 – 2020 ở Việt Nam

Chương 4: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi

pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

11

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN

SỬ DỤNG ĐẤT VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG

QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

1.1. Khái quát về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

1.1.1. Các khái niệm liên quan

Đất đai là nguồn tài nguyên quan trọng của đất nước. Các vấn đề liên quan đến

quản lý, sử dụng đất đai là một trong những vấn đề hệ trọng của quốc gia. Ngay từ khi

mới thành lập, Đảng ta đã coi sở hữu đất đai là một trong những nội dung cốt lõi của

mục tiêu đấu tranh cách mạng, đánh giá đúng vai trò, vị trí của đất đai nên trong mỗi

giai đoạn lịch sử, Đảng và Nhà nước đã có những chính sách về sở hữu quản lý, sử

dụng đất đai phù hợp, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất

nước. Việc hoàn thiện chính sách, pháp luật đất đai cần phải được thực hiện một cách

khoa học, đầy đủ, bảo đảm xây dựng một hệ thống pháp luật về đất đai hoàn chỉnh,

toàn diện, bao quát các vấn đề liên quan, minh bạch về thông tin đất đai, dự báo được

các biến động trong tương lai, trên cơ sở nghiên cứu và đối chiếu từ kinh nghiệm quốc

tế. Xuất phát từ thực tiễn nước ta là một quốc gia đang chuyển đổi nền kinh tế từ nền

kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của

Nhà nước theo định hướng XHCN, Việt Nam cần tăng cường vai trò của các công cụ

thị trường trong quản lý tài nguyên, đặc biệt là loại tài nguyên có giá trị rất lớn như đất

đai, nhằm sử dụng, khai thác có hiệu quả để có thể phát huy được tiềm năng kinh tế to

lớn từ đất đai. Nhà nước xác lập quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai, trên cơ sở đó

pháp luật công nhận quyền sử dụng đất đai của các chủ thể, coi quyền sử dụng đất là

hàng hóa, vận hành theo cơ chế thị trường. Song song với việc phát triển kinh tế, pháp

luật đất đai đồng thời cũng phải được xây dựng để đảm bảo công bằng xã hội, thực

hiện các mục tiêu xóa đói giảm nghèo, tạo điều kiện để người dân có đất canh tác, sinh

hoạt, ổn định cuộc sống, bảo đảm các quyền cơ bản của công dân như quyền chuyển

nhượng quyền sử dụng đất.

Hợp đồng là một trong các khái niệm đầu tiên của pháp luật, được hình thành

ngay từ khi con người thực hiện những giao dịch đầu tiên. Thuật ngữ hợp đồng còn

được dùng để chỉ các quan hệ pháp luật phát sinh từ hợp đồng, để chỉ văn bản chứa

đựng nội dung của hợp đồng. Hợp đồng có thể được thực hiện ngay khi các bên đạt

được sự thoả thuận. Đối với các hợp đồng đơn giản này, cử chỉ, lời nói cũng là hình

12

thức thể hiện hợp đồng. Cùng với sự gia tăng nhu cầu trao đổi, nhất là từ khi giới

thương gia hình thành, việc thực hiện hợp đồng dần dần tách khỏi thời điểm các bên

đạt được sự thoả thuận, và hợp đồng dưới hình thức văn bản xuất hiện. Để chống lại sự

gian dối, lật lọng trong giao dịch, hình thức văn bản có chứng thực, chứng nhận dần

được hình thành. Chế định hợp đồng đạt được sự hoàn thiện cả về nội dung và hình

thức vào thời kì đầu của xã hội tư sản. Cùng với sự phát triển của xã hội, các nguyên

tắc cơ bản của hợp đồng từng bước bị hạn chế nhằm bảo vệ lợi ích chung của cộng

đồng. Ở Việt Nam, các quy định về hợp đồng không được thể hiện một cách tập trung

thành một văn bản quy phạm pháp luật thống nhất, mà mỗi loại hợp đồng được quy

định trong một văn bản như: hợp đồng dân sự trong Bộ luật dân sự (BLDS), hợp đồng

lao động trong Bộ luật lao động, hợp đồng thương mại trong Luật thương mại...

Điều 388 Bộ luật Dân sự năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) quy định khái

niệm hợp đồng như sau: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác

lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Tuy nhiên, quan hệ pháp luật

dân sự theo nghĩa rộng bao gồm cả những quan hệ về đầu tư, lao động, kinh doanh

thương mại, bảo hiểm…. Theo đó, tại thời điểm này, trong khái niệm về hợp đồng từ

“dân sự” được đặt đằng sau hai từ “hợp đồng” và sau hai từ nghĩa vụ thì dẫn đến thực

tiễn thi hành pháp luật có cách hiểu rằng những quy định của Bộ luật Dân sự hiện hành

chỉ liên quan đến hợp đồng dân sự. Như vậy, sẽ làm hạn chế phạm vi điều chỉnh của

Bộ luật dân sự với tư cách là đạo luật chung đối với tất cả các loại hợp đồng, bao gồm

cả hợp đồng dân sự, hợp đồng lao động, hợp đồng kinh doanh hay hợp đồng thương

mại. Do đó, mà tại BLDS 2015 này các nhà làm luật đã có những chỉnh sửa liên quan

đến khái niệm “hợp đồng” để khắc phục bất cập trên. Cụ thể, Điều 385 BLDS năm

2015 quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc

chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự”. So với BLDS hiện hành thì BLDS năm 2015 đã

bỏ cụm từ “dân sự” sau hai từ “hợp đồng”. Quy định mới về khái niệm hợp đồng tại

Điều 385 của BLDS năm 2015 là điểm mới quan trọng, đáng chú ý không những về

mặt kỹ thuật lập pháp và còn làm tăng tính khả thi, minh bạch trong thực tiễn áp dụng.

Bộ luật dân sự năm 2015 ghi nhận sáu loại hợp đồng chủ yếu tại Điều 402:

Hợp đồng gồm các loại chủ yếu sau đây:

1. Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau.

2. Hợp đồng đơn vụ là hợp đồng mà chỉ một bên có nghĩa vụ.

13

3. Hợp đồng chính là hợp đồng mà hiệu lực không phụ thuộc vào hợp đồng phụ.

4. Hợp đồng phụ là hợp đồng mà hiệu lực phụ thuộc vào hợp đồng chính.

5. Hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba là hợp đồng mà các bên giao kết hợp

đồng đều phải thực hiện nghĩa vụ và người thứ ba được hưởng lợi ích từ việc thực hiện

nghĩa vụ đó.

6. Hợp đồng có điều kiện là hợp đồng mà việc thực hiện phụ thuộc vào việc

phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt một sự kiện nhất định.

Theo đó, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mang đầy đủ bản chất

của hợp đồng song vụ. Khái niệm “chuyển nhượng quyền sử dụng đất” không phải là

một khái niệm đã có từ lâu đời như khái niệm “mua, bán đất” mà mới xuất hiện khi

Luật Đất đai năm 1993 xác lập cho phép hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất

có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất.

Kế thừa quan điểm này, Luật đất đai 2013 quy định “Chuyển quyền sử dụng đất là

việc chuyển giao quyền sử dụng đất từ người này sang người khác thông qua các hình

thức chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất và góp vốn

bằng quyền sử dụng đất”. Trên thực tế việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất hình

thức phổ biến nhất trong chuyển quyền sử dụng. Hình thức này biểu hiện tập trung

nhất tính chất của chuyển quyền sử dụng đất.

Một vấn đề đặt ra là tại sao nhà làm luật dùng thuật ngữ “chuyển nhượng

quyền sử dụng đất” mà không dùng thuật ngữ “mua, bán quyển sử dụng đất; hai thuật

ngữ này khác nhau như thế nào? Thuật ngữ “chuyển nhượng đất” hoặc “chuyển

nhượng ruộng đất” đã được sử dụng song song với thuật ngữ mua bán đất và được đề

cập tại các văn bản về quản lý đất đai của nước ta từ trước năm 1993, cụ thể: Mục 9,

phần II Thông tư số 55/ĐKTK ngày 05 tháng 11 năm 1981 của Tống cục Quản lý

ruộng đất (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) hướng dẫn cách giải quyết các trường

hợp sử dụng ruộng đất không hợp pháp, không hợp lý quy định: “Nói chung, tất cả các

việc chuyển nhượng, mua bán đất hoặc đất của Hợp tác xã chia cấp không được cơ

quan nhà nước có thẩm quyền cho phép và tất cả các việc chuyển nhượng, mua bán đất

từ trước đây thuộc sở hữu tư nhân không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thị

thực đều là trái phép. Riêng đối với các tỉnh phía Nam, kể từ sau ngày 5-3-1975 ban

hành nghị định số 01-ND/75 của Chính phủ miền Nam Việt Nam, tất cả mọi việc mua,

bán, chuyển nhượng ruộng đất giữa các tư nhân với nhau, dù là có được chính quyền

14

địa phương thị thực, đều là trái phép. Như vậy, xét về mặt từ ngữ thì chắc chắn có sự

khác biệt giữa “chuyển nhượng” và “mua bán”. Theo các nhà ngôn ngữ học định nghĩa

thì “nhượng” là một động từ có nghĩa là “nhường, bán hoặc cho”; “nhường”; cũng là

một động từ có nghĩa là “nhượng, chịu thiệt cho mình đê lợi cho người”. “Chuyển

nhượng” nghĩa là “nhường lại, bán lại cho người khác”. “Mua” nghĩa là “trao đổi tiền

lấy đồ vật với sự ưng thuận của người bán”, “Bán” nghĩa là “Trao đổi đồ vật và tiền có

sự thỏa thuận cả đôi bên”.

Xét về bản chất kinh tế, “chuyển nhượng” và “mua, bán” có điểm tương

đồng thể hiện ở việc một bên chuyển giao tài sản (hoặc quyền sử dụng đất cho bên kia

để lấy tiền, tuy nhiên, về mặt pháp lý, chuyển nhượng quyền sử dụng đất khác với mua

bán đất đai ở một số điểm sau đây: Thứ nhất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất có đối

tượng là chuyển giao quyền sử dụng đất còn mua bán đất có đối tượng là chuyển giao

quyền sở hữu và quyền sử dụng đất. Thứ hai, chủ thể chuyển nhượng quyền sử dụng

đất là người sử dụng đất còn chủ thê mua bán đất là chủ sở hữu đất đai. Thứ ba, hình

thức pháp lý của chuyển quyền sử dụng đất là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử

dụng đất. Ngoài ra, chúng ta có thể thấy rằng “chuyển nhượng” ít mang ý nghĩa kinh

tế, tìm kiếm lợi nhuận, trong nhiều trường hợp thậm chí không có. Còn “mua bán” thì

phải có lợi nhuận. Nhà làm luật đã lựa chọn thuật ngữ “chuyển nhượng quyền sử dụng

đất” thay vì “mua bán quyền sử dụng đất” để phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện và mục

tiêu của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Dần dần theo thời gian, thuật ngữ chuyển nhượng

quyền sử dụng đất đã trở nên phổ biến, đặc biệt là trong các văn bản hành chính Nhà

nước và nội hàm của nó cũng biến đổi theo hướng là một khái niệm có tính chất tương

tự như “mua ban quyền sử dụng đất”.

Khái niệm hợp đồng chuyển nhượng sử dụng đất được các nhà làm luật chính

thức ghi nhận trong Bộ luật dân sự 2005 như sau: “ Hợp đồng chuyển nhượng quyền

sử dụng đất là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên chuyển nhượng quyền sử dụng

đất chuyển giao đất và quyền sử dụng đất cho bên nhận chuyển nhượng, còn bên nhận

chuyến nhượng trả tiền cho bên chuyển nhượng theo quy định của Bộ luật này và pháp

luật về đất đai”. Bộ luật dân sự 2015 không quy định cụ thể khái niệm hợp đồng

chuyển nhượng quyền sử dụng đất như năm 2005 mà quy định chung cho tất cả các

hợp đồng liên quan đến chuyển quyển sử dụng đất. Theo đó, “Hợp đồng về quyền sử

dụng đất là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó người sử dụng đất chuyển đổi, chuyển

15

nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất hoặc

thực hiện quyền khác theo quy định của Luật đất đai cho bên kia; bên kia thực hiện

quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng với người sử dụng đất” . Điều đó có nghĩa là, chuyển

quyền sử dụng đất là việc người sử dụng đất được phép chuyển quyền sử dụng đất đối

với các phần diện tích thuộc quyền sử dụng tương ứng với nghĩa vụ thực hiện với Nhà

nước bao gồm chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp,

góp vốn. Chuyển nhượng quyền sử dụng đất chỉ là một trong các hình thức của chuyển

quyền sử dụng đất nói chung mà thôi.

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất rất dễ bị nhầm lẫn với hợp đồng

chuyển đổi quyền sử dụng đất. Chuyển nhượng và chuyển đổi đều là hình thức chuyển

quyền sử dụng đất, theo đó nhà nước chấm dứt quyền sử dụng đất của bên này để thiết

lập quyền sử dụng đất cho bên kia. Tuy nhiên, hai hình thức này khác nhau ở chỗ, nếu

như trong quan hệ chuyển nhượng quyề sử dụng đất, đối tượng của quan hệ là “đổi

quyền sử dụng đất lấy tiền” thì trong quan hệ chuyển đổi quyền sử dụng đất đối tượng

của quan hệ lại là “đổi quyền sử dụng đất lấy quyền sử dụng đất”. Trong quan hệ

chuyển đổi quyền sử dụng đất này các bên có thể thỏa thuận chuyển tiền cho nhau để

bù đắp giá trị chênh lệch giữa hai thửa đất những mục đích cơ bản và cũng là vấn đề cả

người sử dụng đất lẫn cơ quan quản lý nhà nước quan tâm là các bên đổi quyền sử

dụng đất cho nhau.

Tóm lại, dưới góc độ khoa học pháp lý chúng ta có thể hiểu “hợp đồng

chuyển nhượng quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận thống nhất ý chí giữa các bên, theo

đó người có quyền sử dụng đất (bên chuyển nhượng) có nghĩa vụ giao quyền sử dụng

đất cho bên nhận chuyển nhượng, bên nhận chuyển nhượng có nghĩa vụ trả tiền cho

bên chuyển nhượng theo thỏa thuận và các bên phải thực hiện nghĩa vụ tài chính với

nhà nước theo quy định pháp luật”.

1.1.2. Đặc điểm của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Trước hết, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mang đầy đủ đặc điểm

của hợp đồng song vụ dân sự nói chung, đó là:

Thứ nhất, đây là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên, nhưng là sự thỏa thuận

thống nhất ý chí và ý chí đó phải phù hợp với ý chí của Nhà nước.

Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều người mà tạo lập nên một nghĩa

vụ làm hoặc không làm một việc cụ thể, nếu chỉ là ý chí của một bên thì đó được gọi là

16

hành vi pháp lý đơn phương. Tuy nhiên, thỏa thuận không dựa trên sự tự nguyện của

các bên, tức là không có sự thống nhất ý chí thì hợp đồng đó bị tuyên vô hiệu khi có

yêu cầu. Nguyên tắc của pháp luật là bình đẳng, dựa trên sự thỏa thuận, tự nguyện

thiện chí của các bên nên nếu không có sự thống nhất ý chí thì không được coi là đã

hình thành nên hợp đồng. Đồng thời, sự thỏa thuận thống nhất ý chí còn phải phù hợp

với ý chí của Nhà nước để Nhà nước kiểm soát và cho phép hợp đồng phát sinh trên

thực tế.

Thứ hai, hợp đồng là một sự kiện pháp lý làm phát sinh hậu quả pháp lý: Xác

lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể.

Sự kiện pháp lý là sự biến hoặc hành vi mà pháp luật quy định khi xuất hiện thì

sẽ xác lập, thay đổi hay chấm dứt quan hệ pháp luật. Hợp đồng là một sự kiện pháp lý,

theo đó các bên khi có nhu cầu tham gia giao lưu dân sự nhằm thỏa mãn mục đích của

mình sẽ tiến hành thực hiện.

Nghĩa vụ được phát sinh từ hai nguồn gốc là hành vi pháp lý hoặc sự kiện pháp

lý. Sự kiện pháp lý bao gồm các sự kiện, hoặc tự nguyện (như vi phạm) hoặc không tự

nguyện; hợp pháp hoặc không hợp pháp mà hậu quả pháp lý cụ thể của chúng được

xác định không phải bởi các bên mà bởi pháp luật. Tự nguyện trong sự kiện pháp lý

chỉ là tự nguyện đối với hậu quả thiệt hại chứ không tự nguyện đối với hậu quả pháp

lý.

Hành vi pháp lý là một sự thể hiện ý chí nhằm làm phát sinh ra một hậu quả

pháp lý, có nghĩa là làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt một quyền lợi. Sự thể hiện ý

chỉ có thể là đơn phương (như đề nghị giao kết hợp đồng) hoặc có thể là đa phương,

hay còn gọi là sự thống nhất ý chí, có nghĩa là sự thỏa thuận, mà sự thỏa thuận có mục

đích xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền lợi được gọi là hợp đồng. Vậy nên hợp

đồng thường được định nghĩa là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều người xác lập

nhằm thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên chủ thể.

Thứ ba, nội dung của hợp đồng là quyền và nghĩa vụ mà các bên chủ thể quy

định cho nhau.

Hợp đồng là sự thống nhất của ý chí các chủ thể tham gia giao kết, nội dung của

hợp đồng thể hiện rõ ý chỉ đó của các bên trong phần quyền và nghĩa vụ cụ thể. Vì

vậy, hợp đồng ít nhất phải có hai bên chủ động cùng nhau tạo lập một quan hệ nghĩa

vụ pháp lý cụ thể. Nếu phân tích hợp đồng từ các lời hứa hay sự cam kết, thì hợp đồng

17

có thể được xem là một phương thức mà theo đó người này thương lượng với người

khác để có thể tạo ra sự đảm bảo rằng những lời hứa hay sự cam kết của họ có đời

sống dài lâu hơn so với những trạng thái dễ thay đổi trong suy nghĩ của họ. Điều này

nghĩa là khi đã cam kết thực sự và mong muốn tạo lập ra một hậu quả pháp lý, những

người cam kết bị ràng buộc vào cam kết của mình (trừ trường hợp trở ngại khách

quan, bất khả kháng) mà pháp luật gọi đó là nghĩa vụ.

Thứ tư, mục đích của hợp đồng là lợi ích hợp pháp, không trái đạo đức xã hội

mà các bên cùng hướng tới: Chỉ khi mục đích của hợp đồng dân sự được chứng minh

hoặc được thừa nhận là hợp pháp, không trái đạo đức xã hội thì hợp đồng dân sự mới

phát sinh hiệu lực, qua đó quyền và nghĩa vụ của các bên mới có thể thực hiện được

trên thực tế.

Bên cạnh đó, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cũng mang những

đặc điểm riêng biệt. Để hiểu rõ về những đặc trưng riêng của hợp đồng chuyển nhượng

quyền sử dụng đất chúng ta có thể đi sâu vào phân tích và so sánh với một số hình thức

chuyển quyền sử dụng đất khác. Cụ thể:

 So sánh giữa hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với hợp đồng

chuyển đổi quyền sử dụng đất

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất rất dễ bị nhầm lẫn với hợp đồng

chuyển đổi quyền sử dụng đất. Chuyển nhượng và chuyển đổi đều là hình thức chuyển

quyền sử dụng đất, theo đó nhà nước chấm dứt quyền sử dụng đất của bên này để thiết

lập quyền sử dụng đất cho bên kia. Tuy nhiên, hai hình thức này khác nhau ở chỗ, nếu

như trong quan hệ chuyển nhượng quyề sử dụng đất, đối tượng của quan hệ là “đổi

quyền sử dụng đất lấy tiền” thì trong quan hệ chuyển đổi quyền sử dụng đất đối tượng

của quan hệ lại là “đổi quyền sử dụng đất lấy quyền sử dụng đất”. Trong quan hệ

chuyển đổi quyền sử dụng đất này các bên có thể thỏa thuận chuyển tiền cho nhau để

bù đắp giá trị chênh lệch giữa hai thửa đất những mục đích cơ bản và cũng là vấn đề cả

người sử dụng đất lẫn cơ quan quản lý nhà nước quan tâm là các bên đổi quyền sử

dụng đất cho nhau. Chuyển đổi quyền sử dụng đất là phương thức đơn giản của

chuyển quyền sử dụng đất, theo đó, các bên có quyền sử dụng đất thỏa thuận chuyển

quyền sử dụng đất cho nhau để thỏa mãn nhu cầu tiện lợi trong sản xuất, đời sống.

Mục đích của chuyển đổi quyền sử dụng đất là tạo điều kiện thuận tiện cho sản xuất

nhằn nâng cao hiệu quả sử dụng đất và phù hợp với điều kiện nhu cầu của từng đối

18

tượng sử dụng đất. Việc nhà nước ghi nhận quyền này có ý nghĩa rất lớn

* So sánh giữa hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với hình thức thế

chấp quyền sử dụng đất

Thế chấp quyền sử dụng đất là trường hợp ngời sử dụng đất mang quyền sử

dụng đất của mình đi thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Nghĩa vụ dân sự

là nghĩa vụ của bên thế chấp, thông thường được phát sinh từ hợp đồng vay mượn tiền,

tài sản của bên thế chấp. Việc nhà nước ghi nhận quyền này nhằm tạo điều kiện cho

người sử dụng đất có thể dùng quyền sử dụng đeất của mình để đảm bảo thực hiện

nghĩa vụ trong quá trình tạo lập cho mình một khoản tiền một cách hợp pháp để đầu tư

vào sản xuất, kinh doanh khi họ không có điều kiện kinh tế trước mắt.

Cũng như chuyển nhượng quyền sử dụng đất, khi thế chấp quyền sử dụng đất,

người có quyền sử dụng đất phải chuyển giao giấy chứng nhận cho bên nhận thế chấp,

nhưng sự chuyển giao này chỉ mang tính tạm thời, trong thời hạn thế chấp hoặc chưa

giải trừ thế chấp.

Khác với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bên thế chấp không bị

chấm dứt việc sử dụng đất của mình mà vẫn được tiếp tục chiếm hữu, sử dụng đất; bên

nhận thế chấp không có quyền như một chủ sử dụng đất cả về mặt thực tế lẫn pháp lý

mà họ chỉ có quyền năng pháp lý của bên thế chấp và có quyền đưa quyền sử dụng đất

này ra phát mại bán đấu giá khi bên thế chấp không hoặc thực hiện khong đầy đủ

nghĩa vụ hai bên đã thỏa thuận.

Như vậy, khác với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thế chấp quyền

sử dụng đất là hình thức chuyển quyền sử dụng đất không trọn vẹn và có điều kiện.

Thêm nữa, điều kiện chủ thể của bên nhận thế chấp không rộng như bên nhận chuyển

nhượng, thường chủ là tổ chức tín dụng có đầy đủ điều kiện theo luật định.

* So sánh hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với hợp đồng mua bán

tài sản thông thường:

Ở đây cũng cần lưu ý bản chất hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là

đổi quyền sử dụng lấy tiền khá giống với hợp đồng mua bán tài sản thông thường.

Quyền và nghĩa vụ của các bên đều được phát sinh thông qua hình thức hợp đồng,

quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia, một bên có nghĩa vụ chuyển giao quyền sử

dụng đất (đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất) hoặc tài sản (đối với

hợp đồng mua bán tài sản) và nhận tiền; ngược lại bên kia có nghĩa vụ trả tiền và nhận

19

quyền sử dụng đất hoặc tài sản. Tuy nhiên, đây là hai loại hợp đồng khác biệt, thể hiện

ở chỗ:

Thứ nhất về mặt đối tượng: trong hợp đồng mua bán tài sản, đối tượng luôn là

tài sản thuộc quyền sở hữu bên bán, còn hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

là quyền của bên chuyển nhượng, thửa đất chuyển nhượng vẫn thuộc quyền sở hữu của

toàn dân mà nhà nước là đại diện chủ sở hữu .

Thứ hai, hình thức hợp đồng mua bán tài sản có thể được giao kết bằng văn bản,

lời nói hay hành vi. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bắt buộc bằng văn

bản và có công chứng.

Thứ ba, hợp đồng mua bán tài sản không phải thực hiện nghĩa vụ gì với nhà

nước nhưng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có nghĩa vụ tài chính với nhà

nước theo quy định của pháp luật.

1.2. Khái quát pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

1.2.1. Khái niệm

Pháp luật ra đời vì nhu cầu của xã hội để quản lý một xã hội đã phát triển ở một

mức độ nhất định. Khi xã hội đã phát triển quá phức tạp, xuất hiện những giai cấp

mang lợi ích đối lập với nhau và nhu cầu về chính trị - giai cấp để bảo vệ lợi ích cho

giai cấp, lực lượng thống trị về chính trị và kinh tế trong xã hội. Khái niệm pháp luật

đang tồn tại nhiều quan niệm khác nhau như: Pháp luật là ý muốn của Thượng đế;

pháp luật là phương tiện để quản lý xã hội (pháp luật gắn liền với xã hội, ở đâu có xã

hội thì ở đó có pháp luật); pháp luật là những tiêu chuẩn căn bản mà mọi người phải

tuân theo để quản lý xã hội và trừ khử những điều gian tà, bất chính trong xã hội; pháp

luật là công lý đại diện cho sự công bằng xã hội, bảo vệ lợi ích cho tất cả mọi người

trong xã hội; pháp luật là ý chí của giai cấp thống trị được đề lên thành luật;…

Các quan điểm hiện đại đều cho rằng, pháp luật công cụ pháp lý xã hội ra đời

khi xã hội đã phát triển đến một trình độ nhất định, xã hội trở nên phức tạp, đặc biệt

một trình đọ nhất định, xã hội trở nên phức tạp, đặc biệt là khi trong xã hội có sự phân

hóa thành các giai cấp có lợi ích đói lập nhau, các công cụ pháp lý xã hội khác như tập

quán, đạo đức, tính điều tôn giáo … không còn đủ khả năng duy trì được trật tự xã hội

và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị. Trong những điều kiện như vậy, nhà nước đã

ban hành ra pháp luật (thừa nhận những quy định đã có trong xã hội là pháp luật và

bảo đảm cho chúng được thực hiện, nhà nước còn tiến hành đặt ra những quy định

20

pháp luật mới) để tổ chức và quản lý xã hội vừa để bảo vệ lợi ích của xã hội vừa để

bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền.

Theo nghĩa hẹp, pháp luật gồm các quy định mà phần lớn là các quy tắc xử sự

chung do nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội vì lợi ích cảu cả xã hội

và vì lợi ích của giai cấp thống trị.

Theo nghĩa rộng, pháp luật không chỉ gồm các quy tắc xử sự chung mà còn bao

hàm cả các nguyên tắc xử sự, các tư tưởng, học thuyết pháp lý … được thể hiện ở các

loại nguồn pháp luật khác nhau.

Thông thường, pháp luật được hiểu khái quát như sau: “Pháp luật là hệ thống

các quy tắc xử sự chung, do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí

của nhà nước, là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội vì sự tồn tại và phát triển của

cả xã hội, đồng thời vì lợi ích, mục đích của giai cấp thống trị”.

Bên cạnh đó, như đã phân tích ở trên, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng

đất là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó người sử dụng chuyển nhượng theo quy định

của pháp luật cho bên kia; bên kia thực hiện quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng với người

sử dụng đất. Trong quan hệ này, bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất sẽ chấp dứt

quan hệ sử dụng đất trước Nhà nước, chấm dứt mối quan hệ đất đai pháp luật điều

chỉnh, đồng thời tạo nên mối quan hệ mới giữa Nhà nước và người nhận chuyển

nhượng. Nhà nước với vai trò đại diện chủ sử hữu đất đai, vừa là chủ thể ban hành

pháp luật, đã đưa ra các quy phạm pháp luật điều chỉnh mọi quan hệ phát sinh trong

quá trình chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thiết ập các quan hệ luôn luôn được thực

hiện theo một vòng trật tự nhất định.

Từ đó, có thể rút ra khái niệm: “pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền

sử dụng đất là tổng thể các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận

nhằm điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong quá trình giao kết, thực hiện hợp

đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Có thể nhận thấy pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bao

gồm các yếu tố :

Đây là các quy tắc xử sự chung được hệ thống mang tính pháp luật và

tính đạo đức, áp dụng với quy mô cả nước, đối với mọi chủ thể trong xã hội.

Đối với các quy định của pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền

sử dụng đất được áp dụng chung trong cộng đồng, chủ thể không có quyền lựa chọn

21

thực hiện hay không vì pháp luật mang tính bắt buộc chung và được đảm bảo thực

hiện.

Nội dung của pháp luật vừa thể hiện ý chí, bản chất của giai cấp thống

trị, vừa thể hiện sự bình đẳng thỏa thuận giữa các chủ thể trong hợp đồng chuyển

nhượng đất.

1.2.2. Nội dung pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Đất đai, quyền sở hữu và quyền sử dụng đất được đề cập đến trong Hiến pháp,

đạo luật có hiệu lực pháp lý cao nhất của Nhà nước ta và tiếp tục được cụ thể hóa tại

các văn bản pháp lý khác. BLDS với tư cách là đạo luật gốc điều chỉnh các quan hệ

dân sự nói chung quy định về địa vị pháp lý của cá nhân, pháp nhân, các điều kiện trở

thành chủ thể của giao dịch dân sự, tài sản và quyền sở hữu, nghĩa vụ, hợp đồng, ...

Pháp luật đất đai quy định cụ thể về các nội dung liên quan đến đất và quyền sử dụng

đất, quyền và trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai, quy hoạch, kế hoạch sử dụng

đất, đăng ký đất đai, cấp GCN QSDĐ, căn cứ xác lập quyền sử dụng đất, chế độ sử

dụng, phân loại đất, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, ... Pháp luật kinh doanh

bất động sản quy định về HĐCNQSDĐ trong hoạt động kinh doanh bất động sản.

Pháp luật nhà ở quy định về các giao dịch mua bán nhà ở gắn liền với quyền sử dụng

đất ở, ... Căn cứ quy định pháp luật về mục đích sử dụng đất ở và việc nghiêm cấm xây

dựng “nhà ở trên đất không phải là đất ở” (khoản 4 Điều 6 Luật nhà ở 2014), thì chỉ

các hợp đồng có đối tượng là “quyền sử dụng đất ở” chịu sự điều chỉnh của pháp luật

nhà ở trong trường hợp có nhà ở trên đất (tuy nhiên trên thực tế vẫn có trường hợp

ngoại lệ do sự thiếu thống nhất trong quy định pháp luật hiện hành). Phạm vi điều

chỉnh của các ngành luật nói trên đề cập đến nhiều nội dung. Để tập trung cho việc

nghiên cứu của đề tài, trong phần này, nhóm tác giả chủ yếu phân tích một số phương

diện cơ bản.

Thứ nhất, các quy định pháp luật về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất.

Việc xác định hợp đồng có hiệu lực hay hợp đồng vô hiệu rất quan trọng trong

việc ràng buộc các bên thực hiện đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận hợp đồng, hoặc xác

định các nghĩa vụ bị vi phạm khi giải quyết tranh chấp hợp đồng. Bởi hợp đồng vô

hiệu sẽ không làm phát sinh nghĩa vụ phải thực hiện theo thỏa thuận hợp đồng đối với

các bên. Các bên giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cần lưu ý

22

những điều kiện sau để đảm bảo hợp đồng có hiệu lực:

* Chủ thể của hợp đồng là những người tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng,

có quyền, nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng và phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện

quyền, nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đó. Để tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng,

theo quy định của pháp luật hiện hành chủ thể phải có đầy đủ năng lực pháp lý. Theo

đó, yêu cầu về chủ thể tham gia hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất “có năng

lực hành vi dân sự” là một trong những điều kiện tiên quyết để hợp đồng có hiệu lực.

Nhìn chung, để có thể xác lập, thực hiện các hợp đồng, chủ thể là cá nhân phải

có năng lực hành vi dân sự thích ứng với loại giao dịch hoặc loại hợp đồng mà chủ thể

đó tham gia. Pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác xác lập, thực hiện hợp đồng thông qua

người đại diện hợp pháp, nhưng phải đúng ‘phạm vi đại diện’ và phải phù hợp với giới

hạn về ‘lĩnh vực hoạt động’ của các chủ thể.

*Nội dung, mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật và

không trái đạo đức xã hội

Pháp luật Việt Nam thừa nhận nguyên tắc tự do cam kết, thỏa thuận. Nhưng để

bảo vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích của công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của

người khác, “Bộ luật dân sự 2015” cũng qui định một số trường hợp hạn chế quyền tự

do của các bên trong việc thiết lập hợp đồng. Theo đó, nội dung và mục đích của hợp

đồng (giao dịch dân sự) “không được vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái

đạo đức xã hội” (Điểm b, khoản 1 Điều 122). Hợp đồng (giao dịch dân sự) “có mục

đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu”

(Điều 128).

Nội dung của hợp đồng là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể

tham gia hợp đồng được thể hiện trong các điều khoản của hợp đồng. Mục đích của

của hợp đồng nói chung và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói riêng là

“lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó”.

*Tính tự nguyện:

Tự nguyện xác lập, thực hiện hợp đồng là việc chủ thể tự mình quyết định là có

tham gia hay không tham gia vào hợp đồng theo nguyện vọng của cá nhân mình,

không chịu sự chi phối hay sự tác động, can thiệp chủ quan nào từ những người khác.

Pháp luật đòi hỏi những người tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng phải hoàn toàn tự

nguyện. Tự nguyện là nguyên tắc pháp lý cơ bản của pháp luật. Tự nguyện giao kết

23

hợp đồng là yếu tố cơ bản để các bên xác lập quan hệ hợp đồng vì bản chất của hợp

đồng vốn là sự thống nhất ý chí của các bên thông qua sự thỏa thuận tự do và tự

nguyện. Do vậy, hợp đồng xác lập thiếu yếu tố tự nguyện thì đương nhiên vô hiệu

(nếu được xác lập do giả tạo) hoặc có thể bị vô hiệu (trong các trường hợp còn lại

được quy định trong Bộ luật dân sự 2015).

*Hình thức hợp đồng

Hình thức là một yếu tố pháp lý quan trọng của hợp đồng, có quan hệ biện

chứng với bản chất, nội dung, giá trị hiệu lực, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, và

là phương tiện để diễn đạt ý chí của các bên,cũng như để chứng minh sự tồn tại của

hợp đồng. Người ta sẽ không biết đến sự tồn tại của hợp đồng, nếu nó không được thể

hiện dưới một hình thức xác định. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là một

loại giao dịch dân sự, mà bản chất của nó là sự thỏa thuận giữa các bên, và hợp đồng

chỉ có thể được tạo lập khi có sự gặp gỡ ý chí giữa các bên. Hình thức của hợp đồng

chuyển nhượng quyền sử dụng đất không chỉ là hình thức thể hiện nội dung của hợp

đồng mà còn là những thủ tục mà pháp luật qui định bắt buộc các bên giao kết hợp

đồng phải tuân thủ khi giao kết một số loại hợp đồng như phải có xác nhận của công

chứng, chứng thực, đăng ký hoặc xin phép…Hình thức của hợp đồng chuyển quyền sử

dụng đất là căn cứ để xác định các bên đã tham gia vào hợp đồng. Thông qua đó, xác

định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng, xác định trách nhiệm của người vi

phạm hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất.

Thứ hai, các quy định về trình tự thủ tục xác lập hợp đồng chuyển nhượng

quyền sử dụng đất.

Pháp luật về HĐCNQSDĐ liên quan đến trình tự thủ tục được thể hiện trên

những phương diện: (i) Quy định pháp luật về nguồn gốc hình thành đối tượng hợp

đồng (căn cứ, hình thức xác lập quyền sử dụng đất), điều kiện để quyền sử dụng đất ở

trở thành đối tượng của HĐCNQSDĐ, các loại đối tượng của HĐCNQSDĐ (Điều 55,

Điều 143, Điều 144, Điều 145, Điều 136, Điều 137, Điều 188, ... Luật Đất đai 2013);

(ii) Để HĐCNQSDĐ được giao kết, thực hiện và có hiệu lực, các bên phải thực hiện

đầy đủ các thủ tục hành chính và tuân thủ các điều kiện của pháp luật (thủ tục giao đất,

cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất,

cấp GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, các quyền của

người sử dụng đất, ...).

24

Thứ ba, các quy định về thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Nhà nước giữ cho mình quyền định đoạt tối cao với tư cách là đại diện chủ sở hữu đất

đai và giới hạn quyền của người sử dụng đất trên cơ sở phù hợp với các quy định của

Hiến pháp nhằm đảm bảo hài hòa vai trò của chủ sở hữu, nguyên tắc quản lý thống

nhất với đất đai và quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất. Sự điều chỉnh của

pháp luật đất đai đối với HĐCNQSDĐ được thể hiện trong mối quan hệ quản lý hành

chính Nhà nước với người sử dụng đất trên một số phương diện cơ bản sau: (i) Các

thỏa thuận trong hợp đồng phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch, mục đích, thời hạn

sử dụng của đất ở; (ii) Các chủ thể được quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở,

quyền và nghĩa vụ của các bên được quy định trong hợp đồng phải phù hợp với pháp

luật đất đai; (iii) HĐCNQSDĐ phải đăng ký tại Văn phòng đăng ký đất đai; (iv) Nếu

thuộc các trường hợp phải bị thu hồi, trưng dụng đất, người sử dụng đất hoặc nhận

chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải chấp hành hoặc bị cưỡng chế thi hành và được

nhận bồi thường theo quy định của pháp luật; (v) GCN QSDĐ do cơ quan Nhà nước

có thẩm quyền cấp là một trong những điều kiện bắt buộc để người sử dụng đất được

phép thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế,

tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Khi hợp đồng chuyển nhượng có

hiệu lực nhưng bên nhận chuyển nhượng chưa được cấp GCN QSDĐ thì vẫn chưa đủ

điều kiện để thực hiện chuyển quyền sử dụng đất cho người khác; Cùng với việc ký

kết hợp đồng, các thủ tục và văn bản, giấy tờ có liên quan đến quyền sử dụng đất phải

được thực hiện và đính kèm hợp đồng theo quy định của pháp luật. Quyền chuyển

nhượng quyền sử dụng đất, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất đã được quy

định chi tiết trong pháp luật đất đai, trong đó người sử dụng đất có các quyền năng

tương ứng với căn cứ xác lập, mục đích sử dụng hay thời hạn sử dụng đất.

1.2.3. Vai trò pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Thứ nhất, pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tạo hành

lang pháp lý an toàn cho các chủ thể tham gia hợp đồng. Khi các bên tham gia hợp

đồng thì có quyền tự do, tự nguyện giao kết hợp đồng nhưng tự do phải nằm trong

khuôn khổ của pháp luật. Việc quy định về các điều kiện để chủ thể giao kết hợp đồng

và các biện pháp chế tài nếu các bên không tuân thủ các điều kiện an toàn cho các chủ

thể tham gia hợp đồng.

Thứ hai, pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là cơ sở để

25

giải quyết các tranh chấp xảy ra. Khi có tranh chấp thì chính những thỏa thuận của các

bên sẽ là chứng cứ quan trọng để xác định trách nhiệm của mỗi người. Một trong

những yêu cầu trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, chính

là sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật. Khi áp dụng pháp luật nói chung, áp dụng

pháp luật trong giải quyết tranh chấp tại Toà án nhân dân nói riêng, Thẩm phán, Hội

đồng xét xử phải áp dụng các quy định của Hiến pháp, pháp luật tố tụng dân sự và hệ

thống các văn bản pháp luật khác có liên quan nhằm đưa ra bản án và quyết định dân

sự chính xác, đúng pháp luật, có hiệu quả và hiệu lực cao. Vì vậy, để hoạt động áp

dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng

đất đạt hiệu quả cao, đòi hỏi phải có sự đảm bảo về pháp lý, bao gồm sự hoàn thiện

của hệ thống pháp luật thực định; sự hoàn thiện của cơ chế thực hiện và áp dụng pháp

luật; ý thức pháp luật và văn hoá pháp lý của cán bộ, công chức liên quan. Để giải

quyết một tranh chấp, các chủ thể có thể sử dụng nhiều biện pháp như tự thương

lượng, thỏa thuận với nhau. Pháp luật đất đai không quan tâm cách thức họ thỏa thuận

thế nào, thương lượng ra sao mà chỉ đưa ra các quy định điều chỉnh hoạt động giải

quyết tranh chấp khi có sự tham gia của cơ quan nhà nước vào việc giải quyết đó mà

thôi. Điều này nhằm thể hiện sự tôn trọng của Nhà nước với tự do ý chí, tự do định

đoạt của các chủ thể và Nhà nước sẽ cung cấp một công cụ giải quyết tranh chấp cho

họ nếu như họ không có được sự thống nhất. Một khi đã có sự tham gia của cơ quan

nhà nước thì các quy phạm pháp luật về giải quyết tranh chấp trên cơ sở hợp đồng giữa

các bên là cần thiết, bởi lẽ có những quy phạm pháp luật này thì người dân cũng như

chính cơ quan nhà nước mới biết chủ thể nào có thẩm quyền giải quyết tranh chấp và

giải quyết theo trình tự, thủ tục gì.

Thứ ba, pháp luật về HĐCNQSDĐ là cơ sở xác định quyền và nghĩa vụ của

người sử dụng đất. Thực hiện Nghị quyết Trung ương số 48 - NQ/TW của Bộ Chính

trị ngày 24 tháng 5 năm 2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật

Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Nghị quyết Trung ương số 49 –

NQ/ TW của Bộ Chính trị ngày 02 tháng 6 năm 2005 về chiến lược cải cách tư pháp

đến năm 2020, trong những năm qua, hệ thống pháp luật đất đai không ngừng đổi mới,

hoàn thiện theo hướng mở rộng và bảo đảm các quyền của người sử dụng đất. Tuy

vậy, để hài hòa giữa quyền của chủ sở hữu đất đai với quyền, nghĩa vụ của người sử

dụng đất và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, vẫn đặt ra các vấn đề cần nghiên cứu

26

liên quan đến quyền sử dụng đất, trong đó có hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng

đất ở. Điều này đảm bảo sự ổn định các quan hệ sở hữu tài sản. Khi một hoặc các bên

vi phạm thì hợp đồng dân sự vô hiệu, bên vi phạm phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi

cho chính họ, ví dụ: bị phạt cọc... Việc quy định này có ý nghĩa khắc phục những thiệt

hại cho bên vi phạm, đồng thời còn tạo nên sự công bằng xã hội, tạo sự ổn định trong

giao lưu tài sản, góp phần ổn định trong quan hệ sở hữu tài sản.

Thứ tư, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là cơ sở pháp lý đảm bảo

cho việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm

quyền. Những cam kết của các chủ thể tham gia hợp đồng là căn cứ quan trọng để các

cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra xem các chủ thể đó có thực hiện nghiêm túc

theo quy định của pháp luật hay không. Đồng thời áp dụng các biện pháp chế tài cho

các bên vi phạm khi cần thiết. Theo đó, mang tính chủ động thường xuyên của cơ

quan, tổ chức hoặc nhân dân đối với hoạt động của các đối tượng chịu sự giám sát và

sự tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng các hoạt động đó đi đúng

quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác định từ trước, bảo

đảm cho Hiến pháp và pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh.

27

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN

NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG GIAI ĐOẠN 2010 – 2020

Ở VIỆT NAM

2.1. Nội dung các quy định pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử

dụng đất

2.1.1. Các quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng

quyền sử dụng đất.

Vào thời La Mã cổ đại, cũng đã tồn tại những quy định về giao dịch có điều

kiện (condicio)“là những tình huống được đặt ra trong hợp đồng gắn với những hậu

quả pháp lý nhất định”. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Điều kiện” là “thứ cần phải có để

cho cái khác có thể tồn tại hay “điều cần thiết phải có để đạt một mục đích, cơ sở của

một sự thoả thuận”[95]. Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử

dụng đất dựa trên các yếu tố: chủ thể, nội dung mục đích, tính tự nguyện và hình thức.

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, xin đi sâu phân tích hai khía cạnh pháp luật về

điều kiện có hiệu lực của HĐCNQSDĐ còn nhiều hạn chế hơn cả là điều kiện về chủ

thể và hình thức.

A, Quy định pháp luật về chủ thể chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (QSDĐ) là hợp đồng song phương

làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên đối với QSDĐ. Theo quy định của Luật

Đất đai năm 2013 bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng chỉ có quyền giao

dịch và tiến hành giao dịch khi đáp ứng các điều kiện sau:

Đối với bên chuyển nhượng :

- Phải là chủ thể sử dụng đất (SDĐ)

Về nguyên tắc, theo Luật đất đai 2013, để có quyền chuyển nhượng QSDĐ, bên

tiến hành giao dịch, trước hết, phải là chủ thể SDĐ1. Tư cách chủ thể của bên tiến hành

giao dịch phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận thông qua giấy chứng

nhận QSDĐ. Chính vì vậy, khi quy định về thời điểm và điều kiện và tiến hành giao

dịch QSDĐ, Luật Đất đai buộc bên tiến hành phải có giấy chứng nhận QSDĐ2. Trong

một số trường hợp, Luật Đất đai cho phép người không phải là chủ thể SDĐ được

phép tiến hành giao dịch. Những người không phải là chủ thể SDĐ vẫn có quyền giao

1 Điều 5

2 Điều 168 và Điều 188

28

dịch bao gồm: người thuê lại đất của chủ đầu tư thuê đất của Nhà nước để xây dựng

kết cấu hạ tầng trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ

cao, khu kinh tế (chủ đầu tư kết cấu hạ tầng) có quyền thực hiện tất cả các giao dịch,

trừ giao dịch chuyển đổi, để thừa kế. Nếu người không có QSDĐ tại Việt Nam, nhưng

được tặng cho, để thừa kế cũng có quyền chuyển nhượng QSDĐ. Trường hợp này, do

bên tiến hành giao dịch không phải là chủ thể SDĐ nên không được cấp giấy chứng

nhận. Do vậy, các đối tượng này có quyền tiến hành giao dịch mà không cần giấy

chứng nhận quyền sử dụng, trừ trường hợp người thuê lại đất của chủ đầu tư đầu tư kết

cấu hạ tầng trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ

cao, khu kinh tế do trường hợp này được cấp giấy chứng nhận QSDĐ theo quy định tại

điểm e, khoản 1, điều 99, Luật Đất đai 2013. Trong các trường hợp vừa nêu, bên tiến

hành giao dịch chỉ cần giấy chứng nhận QSDĐ mang tên bên tặng cho (đối với trường

hợp tặng cho), giấy tờ chứng minh quyền thừa kế (đối với trường hợp thừa kế). Trong

các trường hợp khác, người không phải là chủ thể SDĐ chỉ có quyền tiến hành giao

dịch QSDĐ khi được chủ sở hữu cho phép.

- Phải được Luật Đất đai cho phép giao dịch

Theo quy định của Luật Đất đai, những chủ thể được phép giao dịch QSDĐ bao

gồm: hộ gia đình, cá nhân trong nước, tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập tự

chủ tài chính, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước

ngoài. Các chủ thể này có quyền giao dịch khi SDĐ theo các hình thức: được Nhà

nước giao đất có thu tiền SDĐ, mà không được miễn tiền SDĐ, trừ trường hợp được

miễn tiễn SDĐ để thực hiện dự án kinh doanh nhà ở; thuê đất trả tiền thuê đất một lần

cho cả thời gian thuê mà không được miễn tiền thuê đất, trừ trường hợp được miễn

tiền thuê đất để thực hiện dự án kinh doanh nhà ở; thuê đất trả tiền cho nhiều năm mà

tiền đã trả cho thời hạn thuê còn lại ít nhất là 5 năm; công nhận QSDĐ như giao đất có

thu tiền SDĐ mà không được miễn tiền SDĐ; nhận chuyển QSDĐ. Đối với người thuê

lại đất của chủ đầu tư kết cấu hạ tầng trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu

chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế thì phải trả tiền thuê đất một lần và bên cho

thuê lại phải SDĐ theo hình thức trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê. Trong

trường hợp bên cho thuê lại trả tiền thuê đất hàng năm thì bên thuê lại ngoài điều kiện

phải trả tiền thuê một lần còn phải đáp ứng điều kiện: thuê lại đất trước ngày

29

01/7/2014 (trước ngày Luật Đất đai có hiệu lực)3 và bên cho thuê lại (chủ đầu tư kết

cấu hạ tầng trong các khu vực này) đã nộp đủ tiền thuê đất vào ngân sách nhà nước.

Các chủ thể nêu trên có quyền chuyển nhượng QSDĐ. Bằng phương pháp loại

trừ, có thể nhận thấy, các chủ thể SDĐ không có quyền giao dịch QSDĐ là các chủ thể

SDĐ theo các hình thức: thuê đất trả tiền hàng năm; thuê đất trả tiền nhiều năm mà

tiền đã trả cho thời hạn thuê còn lại ít hơn 5 năm; giao đất không thu tiền SDĐ; công

nhận QSDĐ như giao đất không thu tiền SDĐ, trừ hộ gia đình, cá nhân trong nước4;

giao đất có thu tiền SDĐ mà được miễn tiền SDĐ, trừ hộ gia đình, cá nhân trong nước

và chủ đầu tư dự án kinh doanh nhà ở.

- Không bị hạn chế quyền định đoạt

Để tiến hành giao dịch QSDĐ, bên tiến hành giao dịch ngoài việc đáp ứng các

điều kiện nêu trên, cần phải không bị hạn chế quyền định đoạt. Quyền định đoạt của

bên tiến hành giao dịch bị hạn chế trong các trường hợp do pháp luật quy định hoặc

(và) do thỏa thuận. Theo quy định tại diểm c khoản 1 Điều 188, Điều 192, Điều 194

Luật Đất đai, các trường hợp bị hạn chế quyền định đoạt bao gồm: các chủ thể bị kê

biên QSDĐ để bảo đảm thi hành án; hộ gia đình, cá nhân SDĐ trong phân khu bảo vệ

nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái thuộc rừng đặc dụng, rừng phòng hộ; hộ gia

đình, cá nhân là dân tộc thiểu số SDĐ do Nhà nước giao đất theo chính sách hỗ trợ của

Nhà nước; bên tiến hành giao dịch là chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng kinh doanh nhà

ở; dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng. Theo quy định tại Điều 194 Luật Đất đai

2013, chủ thể này chỉ được chuyển nhượng QSDĐ khi đã hoàn thành đầu tư kết cấu hạ

tầng trên đất, trừ trường hợp chuyển nhượng QSDĐ gắn với chuyển nhượng sự án.

Ngoài trường hợp này, tuy Luật Đất đai không đề cập đến, nhưng thực tiễn xét

xử cho thấy, chủ thể SDĐ còn bị hạn chế quyền định đoạt theo quy định chung của Bộ

luật Dân sự và các văn bản pháp luật liên quan, cụ thể: trong trường hợp QSDĐ bị thế

chấp, mà không có thỏa thuận về việc chuyển quyền hoặc các bên có thỏa thuận về

việc không được cho thuê, cho thuê lại, thế chấp QSDĐ[3].

Bên tham gia giao dịch

- Phải là người được phép tham gia giao dịch

3 Khác với Luật đất đai 2003, Luật đất đai 2013 không cho phép người thuê đất trả tiền hàng năm lấy tiền thuê lại đất một lần.

4 Điều 179, Luật Đất đai 2013

30

Theo quy định tại Điều 169 Luật Đất đai, người được phép tham gia vào giao

dịch bao gồm: hộ gia đình, cá nhân trong nước, cộng đồng dân cư, tổ chức kinh tế,

người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Quyền

nhận chuyển nhượng QSDĐ không áp dụng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,

người Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam và

người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư trong khu công nghiệp, khu chế xuất,

cụm công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao.

- Không bị hạn chế quyền tham gia giao dịch

Luật Đất đai quy định một số hạn chế đối với người có quyền tham gia vào giao

dịch. Theo đó, người Việt Nam định cư ở nước ngoài chỉ có quyền nhận chuyển

nhượng QSDĐ ở gắn liền với nhà ở, trừ trường hợp đất nằm trong các dự án phát triển

nhà ở. Đối với các loại đất khác thì chỉ được nhận chuyển nhượng QSDĐ trong khu

công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế. Người

không đủ điều kiện nhận chuyển nhượng dự án bất động sản không có quyền giao dịch

QSDĐ trong dự án đầu tư xây dựng nhà, công trình xây dựng, mà không gắn với các

giao dịch nhà, công trình xây dựng, trừ trường hợp dự án được phép phân lô, bán nền.

Ngoài các điều kiện nêu trên, mặc dù cũng không được Luật Đất đai đề cập đến,

nhưng bên tiến hành và bên tham gia giao dịch đương nhiên phải đáp ứng các điều

kiện về năng lực của chủ thể theo quy định của Bộ luật Dân sự.

Có thể nói, pháp luật đã có các quy định cụ thể áp dụng đối với chủ thể trong

hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ như đã nêu trên nhưng vẫn còn một số hạn chế cần

được khắc phục.

Thứ nhất, quy định không cho phép chủ thể thuê đất của Nhà nước trả tiền thuê

đất hàng năm có quyền chuyển nhượng QSDĐ.

Theo quy định của Luật Đất đai5, chủ thể SDĐ theo hình thức thuê đất trả tiền

thuê đất hàng năm không có quyền giao dịch QSDĐ, trừ trường hợp thuê đất trong khu

công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, làng nghề, khu kinh tế, khu công nghệ

cao là chưa hợp lý. Trường hợp này có quyền duy nhất là quyền cho thuê lại QSDĐ

sau khi đã đầu tư kết cấu hạ tầng. Xét về tổng thể, người thuê đất của Nhà nước trả

tiền thuê đất hàng năm phải thực hiện các nghĩa vụ như người thuê đất của Nhà nước

trả tiền một lần cho cả thời gian thuê, thậm chí số tiền phải trả có thể cao hơn so với

5 Xem các điều 175, 178, 179, 183, 185, 187 Luật Đất đai 2013

31

thuê đất trả tiền thuê đất một lần. Bên cạnh đó, thuê đất trả tiền thuê đất một lần có thể

gây thiệt hại cho ngân sách nếu không tính chính xác được sự mất giá của đồng tiền do

lạm phát. Chính vì vậy, các nước khi cho thuê bất động sản hạn chế mức tối đa sử

dụng hình thức thuê đất trả tiền thuê một lần. Thực tế, khi xem xét các giao dịch cho

thuê QSDĐ trên thị trường ở nước ta, các tổ chức, cá nhân là chủ thể SDĐ thường sử

dụng hình thức cho thuê QSDĐ trả tiền thuê hàng năm hoặc tối đa là 5 năm.

Mặt khác, xét cả về lý luận và thực tế, quy định này chưa hợp lý và không khả

thi vì những lý do sau:

i) về mặt lý luận, việc tách bạch giá bất động sản trên đất và đất là không thể

thực hiện được.

ii) do không thể tách bạch giữa giá bất động sản trên đất và đất nên cũng không

thể đưa ra quy định kiểm soát việc tính giá bất động sản trên đất nói riêng và việc tuân

thủ việc thực hiện quy định không được chuyển nhượng hay thực hiện bất cứ giao dịch

nào đối với QSDĐ thuê của Nhà nước trả tiền thuê đất hàng năm.

iii) mặc dù Luật Đất đai cấm không được giao dịch đối với đất thuê của Nhà

nước trả tiền hàng năm, nhưng lại cho phép bên mua bất động sản trên đất này được

phép trở thành chủ thể QSDĐ. Như vậy, thực chất của giao dịch này chính là giao dịch

mua bán bất động sản trên đất và chuyển nhượng QSDĐ.

iv) vì những lý do trên, thực tiễn, giá bán bất động sản trên đất thuê luôn bao

gồm cả giá trị QSDĐ (giá chuyển nhượng QSDĐ), thậm chí ngay cả đối với người

muốn tuân thủ quy định này.

v) việc không cho phép giao dịch đối với QSDĐ thuê trả tiền hàng năm làm

tăng thủ tục hành chính, dẫn đến tăng chi phí giao dịch, nhất là đối với bên mua bất

động sản, gây thiệt hại cho Nhà nước.

Từ những phân tích trên, chúng tôi cho rằng, cần sửa đổi Luật Đất đai theo

hướng, cho phép cả người thuê đất của Nhà nước trả tiền thuê hàng năm có quyền giao

dịch đối với QSDĐ như trường hợp thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian

thuê. Trong trường hợp Nhà nước muốn thu hút người SDĐ theo phương thức trả tiền

một lần thì có thể dùng các phương thức hợp lý và khả thi hơn, ví dụ như sử dụng biện

pháp thuế hay tài chính.

- Quy định doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bị hạn chế quyền giao dịch

do bị hạn chế khả năng xác lập QSDĐ

32

Như trên đã đề cập, về nguyên tắc chuyển nhượng, phải là chủ thể SDĐ. Theo

quy định của Luật Đất đai, có ba phương thức xác lập QSDĐ: nhận giao đất từ Nhà

nước, thuê đất của Nhà nước và nhận chuyển QSDĐ từ người SDĐ. Tuy nhiên, người

Việt Nam định cư ở nước ngoài và nhất là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

không có quyền sử dụng tất cả các phương thức này để xác lập QSDĐ. Người Việt

Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ có quyền xác

lập QSDĐ thông qua việc thuê đất, giao đất của Nhà nước. Như vậy, phương thức xác

lập QSDĐ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chủ yếu thông qua thị trường

sơ cấp (trực tiếp từ Nhà nước). Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài xác lập QSDĐ

thông qua thị trường thứ cấp rất hạn chế. Qua thị trường thứ cấp, doanh nghiệp có vốn

đầu tư nước ngoài chỉ có quyền xác lập QSDĐ thông qua việc nhận góp vốn bằng

QSDĐ. Tuy nhiên, trong số các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ có doanh

nghiệp liên doanh có quyền sử dụng phương thức này. Người Việt Nam định cư ở

nước ngoài cũng chỉ có quyền nhận chuyển nhượng QSDĐ trong khu công nghiệp,

cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và khu kinh tế để thực hiện dự án

đầu tư. Ngoài khu vực này, người Việt Nam định cư ở nước ngoài chỉ có quyền nhận

chuyển nhượng QSDĐ gắn với nhà ở khi mua bán nhà ở hoặc QSDĐ ở trong các dự án

phát triển nhà ở để ở. Việc hạn chế các phương thức xác lập QSDĐ dẫn đến việc hạn

chế quyền giao dịch QSDĐ của các chủ thể này. Quy định này rõ ràng làm giảm khả

năng thu hút vốn đầu tư của nước ngoài vào nước ta.

- Quy định cho phép một số đối tượng không phải là chủ thể SDĐ có quyền giao

dịch QSDĐ

Theo khoản 3, Điều 149, Luật Đất đai 2013 quy định: “Tổ chức kinh tế, hộ gia

đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư

nước ngoài đầu tư vào sản xuất, kinh doanh trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp,

khu chế xuất được thuê lại đất gắn với kết cấu hạ tầng của tổ chức kinh tế khác, người

Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư xây

dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng và có các quyền và nghĩa vụ sau đây: Trường hợp

thuê lại đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê thì có các quyền và nghĩa vụ

quy định tại Điều 174 của Luật này”. Một trong các quyền quy định tại Điều 174 là

chuyển nhượng quyền sử dụng đất, điều này có nghĩa cho phép người thuê lại QSDĐ

của chủ thể SDĐ có quyền giao dịch mà không cần sự đồng ý của chủ thể SDĐ. Việc

33

cho phép người không phải là chủ thể QSDĐ có quyền định đoạt QSDĐ là nhằm thu

hút vốn đầu tư vào việc SDĐ vào các khu vực này. Mặc dù đây là quy định được kế

thừa từ Luật Đất đai năm 2003, tuy nhiên, việc đặt ra quy định này rõ ràng trái với bản

chất của giao dịch thuê vì bản chất của giao dịch cho thuê (cho thuê lại) là không

chuyển QSDĐ. Bên cho thuê vẫn là chủ thể SDĐ. Bên thuê lại QSDĐ chỉ có quyền

khai thác, SDĐ và không có quyền định đoạt QSDĐ nếu không được bên cho thuê lại

đồng ý. Mặt khác, kể cả trong trường hợp bên cho thuê lại đồng ý, bên thuê lại cũng

không có quyền chuyển QSDĐ nhân danh bên thuê lại. Tuy nhiên, Luật Đất đai lại cho

phép bên thuê lại nếu đã trả tiền thuê một lần cho bên cho thuê lại có quyền chuyển

QSDĐ nhân danh chính bên thuê lại. Như vậy, về bản chất, đây là loại giao dịch

chuyển quyền có đền bù, cụ thể là giao dịch chuyển nhượng. Về nguyên tắc, bên thuê

lại đất không thể có nhiều hơn quyền của bên cho thuê lại. Tuy nhiên, nếu theo nguyên

tắc này, bên cho thuê lại khó thu hút được người thuê lại, nhất là người thuê lại trả tiền

thuê đất một lần cho cả thời gian thuê. Vì vậy, để mở rộng quyền cho bên thuê lại đã

trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê lại và cũng giúp cho bên cho thuê lại sử

dụng được phương thức cho thuê lại lấy tiền một lần từ bên thuê lại, Luật Đất đai cho

phép bên thuê lại được quyền giao dịch QSDĐ nếu đã trả tiền thuê đất một lần cho bên

cho thuê lại. Đối với trường hợp bên cho thuê lại có quyền chuyển nhượng QSDĐ thì

quy định này là không hợp lý và không cần thiết, bởi vì, nếu người có QSDĐ cho thuê

lại quyền sử dụng nhưng lại bị mất quyền định đoạt đối với QSDĐ, nhưng tiền nhận

được là tiền thuê lại mà không phải tiền chuyển nhượng (tiền chuyển nhượng đương

nhiên phải cao hơn tiền thuê) thì người này hiển nhiên sẽ không chọn phương thức này

mà sẽ chọn phương thức chuyển nhượng QSDĐ. Như vậy, việc cho phép bên thuê lại

QSDĐ có quyền giao dịch như một chủ thể SDĐ chỉ có ý nghĩa trong trường hợp bên

cho thuê lại không có quyền chuyển QSDĐ, nhưng được phép cho thuê lại theo

phương thức lấy tiền một lần cho cả thời gian cho thuê lại. Tuy vậy, Luật Đất đai năm

2013 đã bỏ quy định cho phép người thuê đất của Nhà nước trả tiền thuê hàng năm

trong các khu vực nêu trên có quyền cho thuê lại đất và lấy tiền thuê đất một lần cho

cả thời gian cho thuê lại. Việc bỏ quy định này là hoàn toàn hợp lý, bởi lẽ ngoài các lý

do như kể trên thì quy định này còn dẫn đến việc rất khó xử lý đối với QSDĐ khi bên

cho thuê không thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước.

- Quy định bắt buộc mọi trường hợp để lại thừa kế QSDĐ đều phải có giấy

34

chứng nhận QSDĐ

Giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản nói chung và QSDĐ nói riêng chỉ là điều

kiện về thủ tục nhằm chứng minh người giao dịch là chủ sở hữu tài sản. Đối với các

giao dịch thông thường, bên tiến hành giao dịch tự chịu trách nhiệm về việc đảm bảo

tư cách chủ thể của mình. Pháp luật chỉ can thiệp vào vấn đề này khi có nguy cơ xảy ra

rủi ro lớn, hậu quả khó khắc phục, ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của các bên

giao dịch và bên liên quan, nhất là ảnh hưởng đến lợi ích công và bên yếu thế. Tuy

nhiên, theo chúng tôi, do việc để thừa kế là hành vi pháp lý đơn phương của người để

lại thừa kế và hiệu lực của giao dịch này chỉ phát sinh khi người để thừa kế chết. Vì

vậy, tại thời điểm để thừa kế, người để thừa kế còn sống nên chưa thể phát sinh quyền

lợi và nghĩa vụ của người nhận thừa kế và các bên liên quan đối với QSDĐ. Do đó,

không thể phát sinh hậu quả pháp lý tiêu cực cho người khác. Nếu như việc để lại thừa

kế QSDĐ khi chưa có giấy chứng nhận QSDĐ không gây ảnh hưởng đến quyền lợi

chính đáng của người khác thì rõ ràng việc không cho phép người chưa có giấy chứng

nhận QSDĐ không có quyền lập di chúc để lại thừa kế làm cho ý chí của người SDĐ

không thể thực hiện được.

Vì vậy, chúng tôi cho rằng, quy định bắt buộc phải có giấy chứng nhận QSDĐ

đối với giao dịch thừa kế QSDĐ là chưa hợp lý. Tuy nhiên, do việc công chứng hiện

nay không chỉ có ý nghĩa như bằng chứng, mà còn có ý nghĩa về tính hợp pháp. Vì

vậy, việc công chứng chỉ nên cho phép đối với trường hợp chưa có giấy chứng nhận

QSDĐ, nhưng có đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận QSDĐ. Đối với các

trường hợp chỉ xác nhận ý chí của người để thừa kế thì không cần điều kiện này.

- Quy định về các chủ thể không có quyền giao dịch QSDĐ

Luật Đất đai năm 2013 chỉ có một điều luật quy định trực tiếp về các chủ thể

không có quyền giao dịch QSDĐ tại điểm b, khoản 1 Điều 181. Tuy nhiên, có thể nhận

thấy, không phải chỉ có các chủ thể được quy định tại điều luật này mới không có

quyền giao dịch QSDĐ. Ngoài chủ thể này còn có các chủ thể khác không có quyền

giao dịch trong mọi trường hợp như: tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; tổ

chức sự nghiệp công lập chưa tự chủ tài chính, cơ quan nhà nước và các tổ chức trong

nước khác mà không phải là tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài

chính. Vì vậy, Luật Đất đai cần quy định cụ thể, rõ ràng về các chủ thể không có

quyền giao dịch QSDĐ.

35

B, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không tuân thủ quy định

về hình thức

Bộ luật dân sự 2015 quy định về thủ tục thực hiện hợp đồng về quyền sử dụng

đất và hiệu lực của việc chuyển quyền sử dụng đất tại các điều 502 và 503, cụ thể như

sau:

“Điều 502. Hình thức, thủ tục thực hiện hợp đồng về quyền sử dụng đất

Hợp đồng về quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản theo hình thức

phù hợp với quy định của Bộ luật này, pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp

luật có liên quan.

Việc thực hiện hợp đồng về quyền sử dụng đất phải đúng trình tự, thủ tục theo

quy định của pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan”.

“Điều 503. Hiệu lực của việc chuyển quyền sử dụng đất

Việc chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký theo

quy định của Luật Đất đai.”

Qua nghiên cứu quy định của Bộ luật dân sự 2015 về hiệu lực của hợp

đồng, nhóm tác giả thấy rằng Điều 401 Bộ luật dân sự 2015 về hiệu lực của hợp đồng

cơ bản giữ nguyên quy định tại Điều 405 Bộ luật dân sự năm 2005, chỉ chỉnh sửa về

kỹ thuật và bổ sung thêm quy định tại khoản 2. Cụ thể Điều 401 Bộ luật dân sự 2015

quy định như sau: “Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao

kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác. Từ thời

điểm hợp đồng có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau

theo cam kết. Hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa thuận của các bên

hoặc theo quy định của pháp luật.” Theo quy định tại Điều 689 BLDS 2005 và Điều

502 BLDS 2015, Điều 167 Luật Đất đai 2013 thì hình thức của Hợp đồng chuyển

nhượng QSDĐ phải được công chứng, chứng thực và theo quy định của Điều 692

BLDS 2005 và Điều 503 BLDS 2015, Điều 188 Luật Đất đai 2013 thì việc chuyển

nhượng QSDĐ có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính. Thêm vào đó,

Điều 5 Luật Công chứng năm 2014 quy định “Văn bản công chứng có hiệu lực kể từ

ngày được công chứng viên ký và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng”. Việc

xác định thời điểm hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ có hiệu lực trong thực tiễn áp

dụng pháp luật còn có nhiều quan điểm khác nhau, đó là sự khác nhau giữa thời điểm

có hiệu lực của hợp đồng và thời điểm việc chuyển nhượng có hiệu lực. Đây là vấn đề

36

rất quan trọng trong việc xác định hợp đồng vô hiệu hoặc có hiệu lực, đặc biệt là

những giao dịch xảy ra trước thời điểm BLDS 2015 có hiệu lực.

Quan điểm 1: Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ vi phạm điều kiện về hình thức,

không được công chứng, chứng thực thì vô hiệu (trừ trường hợp đã thực hiện 2/3 nghĩa

vụ và được áp dụng quy định tại Điều 129 của BLDS 2015). Trước khi BLDS 2015 có

hiệu lực thì không có quy định hết thời hiệu yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu do vi

phạm về hình thức thì giao dịch có hiệu lực. Đây là một đường lối giải quyết tương đối

nhiều trong thực tiễn.

Quan điểm 2: Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ chỉ có hiệu lực kể từ khi được

đăng ký vào sổ địa chính.

Quan điểm 3: Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ không có công chứng, chứng

thực mà đã hết thời hiệu yêu cầu tuyến bố giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm về hình

thức thì sẽ có hiệu lực.

Tại Điều 129 BLDS 2015 về Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ về

hình thức “Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định

bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện xong hai

phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án

ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó”. Quy định này chỉ đề cập đến

trường hợp giao dịch không được công chứng, chứng thực sẽ phát sinh hiệu lực mà

không đề cập đến yếu tố “đăng ký”. Do đó, theo nhóm tác giả, có thể hiểu ý chí lập

pháp ở đây là xác định tại thời điểm hợp đồng có công chứng, chứng thực là đã có hiệu

lực, không phải từ thời điểm đăng ký. Việc xác định hợp đồng có hiệu lực không đồng

nghĩa với việc việc chuyển quyền đã có hiệu lực. Tại thời điểm hợp đồng có hiệu lực

(được công chứng, chứng thực) thì giữa các bên mới phát sinh quyền và nghĩa vụ với

nhau, trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ chuyển nhượng thì bên nhận chuyển nhượng

có quyền yêu cầu bên chuyển nhượng thực hiện nghĩa vụ hoàn tất việc chuyển

nhượng. Đồng thời, Tòa án chỉ xác định hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều kiện về

công chứng, chứng thực khi có yêu cầu của đương sự và trong trường hợp đã hết thời

hiệu (có yêu cầu áp dụng thời hiệu) yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì hợp

đồng phải có hiệu lực.

Điều này sẽ dẫn đến việc có ý kiến cho rằng sẽ mâu thuẫn với những trường

hợp chuyển quyền khác, ví dụ như giao dịch về thế chấp QSDĐ. Theo quy định của

37

pháp luật thì điều kiện có hiệu lực và thời điểm việc thế chấp có hiệu lực cũng tương

tự như giao dịch chuyển nhượng QSDĐ. Đồng thời, thực tiễn áp dụng pháp luật cũng

tương đối đồng nhất về việc xác định hiệu lực của việc thế chấp, đó lại tại thời điểm

đăng ký, khi giao dịch thế chấp có công chứng, chứng thực nhưng chưa được đăng ký

mà phát sinh tranh chấp thì Tòa án sẽ xác định thỏa thuận về quyền ưu tiên xử lý tài

sản để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ không có giá trị pháp lý.

Việc xác định thỏa thuận thế chấp tài sản không có giá trị pháp lý khi chưa đăng

ký sẽ cho chúng ta cảm giác thấy mâu thuẫn với quan điểm cho rằng hiệu lực của hợp

đồng phát sinh tại thời điểm công chứng, chứng thực. Tuy nhiên, theo nhóm tác giả thì

hợp đồng thế chấp vẫn có hiệu lực tại thời điểm công chứng, chứng thực, phát sinh

quyền và nghĩa vụ. Khi xảy ra tranh chấp, đây là trường hợp tranh chấp về quyền và

nghĩa vụ của giao dịch có hiệu lực, các bên có quyền yêu cầu bên kia thực hiện các

nghĩa vụ để thực hiện việc đăng ký giao dịch bảo đảm, quyền yêu cầu hủy bỏ các giao

dịch khác liên quan đến tài sản thế chấp và những tranh chấp khác liên quan đến hợp

đồng thế chấp (chưa đề cập đến việc có được chấp nhận hay không)… Tuy nhiên, khi

phát sinh tranh chấp, việc Tòa án xác định thỏa thuận về quyền ưu tiên xử lý tài sản

không có giá trị pháp lý trong trường hợp không có đăng ký giao dịch bảo đảm xuất

phát từ tính chất pháp lý của việc đăng ký này là để đảm bảo quyền xử lý tài sản và chỉ

khi hoàn tất thủ tục đăng ký, có nghĩa là được cơ quan quản lý Nhà nước xác nhận

hoàn tất việc chuyển quyền, thì việc thế chấp mới có hiệu lực và tại thời điểm giải

quyết tranh chấp, giữa các bên không có thiện chí để thực hiện việc đăng ký giao dịch

đảm bảo nên không thể thực hiện.

Với việc phân tích các quy định trên, nhóm tác giả cho rằng hoàn toàn

không có sự mâu thuẫn hay chồng chéo trong các quy định của pháp luật về thời điểm

có hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi pháp luật quy định

phải công chứng, chứng thực. Theo quy định của pháp luật dân sự thì “hợp đồng là sự

thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân

sự”. Sau khi các bên đã giao kết hợp đồng dưới một hình thức nhất định phù hợp với

pháp luật và hợp đồng đó đáp ứng đầy đủ các điều kiện mà pháp luật yêu cầu thì hợp

đồng có hiệu lực bắt buộc đối với các bên. Điều đó có nghĩa là từ thời điểm hợp đồng

có hiệu lực, các bên trong hợp đồng bắt đầu có quyền và nghĩa vụ đối với nhau. Khi

thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, các bên bao gồm chuỗi các

38

hành vi: giao kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng (các bên thực hiện các quyền và nghĩa

vụ được xác định trong hợp đồng), đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và cơ quan có

thẩm quyền ghi vào sổ địa chính. Như vậy, cần phải hiểu việc chuyển nhượng quyền

sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai, có hiệu lực kể từ thời điểm đăng

ký vào sổ địa chính tức là việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã hoàn thành chứ

không phải có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký này.

Tuy nhiên, hiện nay, việc yêu cầu công chứng chứng thực các hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất đang là nguyên nhân của nhiều giao dịch bị tuyên bố vô

hiệu mặc dù ý chí của các bên đã hoàn toàn tự nguyện và rất rõ ràng. Theo khoản 3,

điều 167 Luật đất đai 2013 quy định:

Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người

sử dụng đất được thực hiện như sau:

a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng

đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng

thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;

b) Hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài

sản gắn liền với đất, hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; hợp đồng

chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài

sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động

kinh doanh bất động sản được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên;

Thế nhưng, nhóm tác giả cho rằng công chứng, chứng thực bắt buộc hiện nay

gây ra quá nhiều bất cập nên việc chuyển công chứng, chứng thực bắt buộc thành công

chứng, chứng thực tự nguyện (quyền công chứng, chứng thực) nên được phát triển.

Thực tiễn xét xử đã chứng minh đôi khi Tòa án đã phải "bỏ qua” quy định yêu cầu

phải công chứng, chứng thực giao dịch về quyền sử dụng đất. Xin đưa ra một giả

thuyết để cho thấy điều vừa nêu: Trước khi chết, A chuyển nhượng 600m2 đất cho ông

V và bà H với giá 36 cây vàng. Bên bán đã nhận 22 cây vàng và chưa hoàn tất thủ tục

chuyển nhượng. Đối chiếu khoản 2, điều 129, Bộ luật dân sự 2015 “Giao dịch dân sự

đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng

thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao

dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu

lực của giao dịch đó”. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công

39

chứng, chứng thực theo quy định của Luật đất đai 2013. Như vậy, hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất không được công chứng, chứng thực nhưng vẫn được công

nhận để ổn định các quan hệ, tôn trọng ý chí của người đã khuất.

Bên cạnh đó, một vấn đề vướng mắc trong thực tiễn giải quyết tranh chấp nữa

là trong trường hợp tranh chấp về tài sản là QSDĐ bị cưỡng chế thi hành án dân sự,

người chuyển nhượng và người nhận chuyển nhượng không có tranh chấp về hợp đồng

chuyển nhượng (việc chuyển quyền chưa có hiệu lực), chỉ có người thứ ba là người

được thi hành án khởi kiện yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu do vi phạm điều kiện về

công chứng, chứng thực mà thời hiệu yêu cầu đã hết và có yêu cầu áp dụng thời hiệu.

Nếu theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 217 BLTTDS thì sẽ đình chỉ giải quyết vụ

án, khi đó trong quyết định đình chỉ không xác định được giá trị pháp lý của việc

chuyển nhượng, tài sản đang bị cưỡng chế thuộc về người nào để làm cơ sở cho Cơ

quan THA dân sự tổ chức thi hành. Theo chúng tôi, trong trường hợp này, mặc dù chỉ

có yêu cầu khởi kiện của người được thi hành án nhưng khi giải quyết, Tòa án phải

giải quyết vấn đề chính đó là xác định tài sản bị cưỡng chế thi hành án thuộc về bên

nào nên phải xem xét, đánh giá tính hợp pháp của giao dịch, không riêng gì vấn đề vi

phạm điều kiện công chứng, chứng thực nên vụ án không được đình chỉ giải quyết vì

lý do hết thời hiệu mà phải giải quyết bằng một bản án trong đó đối với yêu cầu tuyên

bố giao dịch vô hiệu sẽ được đình chỉ giải quyết và phải xác định tài sản thuộc về chủ

thể nào.

BLDS 2005 và 2015 đều quy định về thời hiệu yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô

hiệu do không tuân thủ về hình thức, thời hiệu là 02 năm kể từ ngày xác lập hợp đồng.

Điểm khác của BLDS 2015 đó là việc khẳng định rõ “Hết thời hiệu quy định tại khoản

1 Điều này mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân

sự có hiệu lực”. Có quan điểm cho rằng BLDS 2005 không quy định nên không thể

mặc nhiên xác định giao dịch xác lập tại thời điểm BLDS 2005 có hiệu lực khi hết thời

hiệu yêu cầu tuyên bố vô hiệu do vi phạm công chứng, chứng thực. Theo nhóm tác giả

thì tại một thời điểm, một thỏa thuận không thể nằm ngoài hai thuộc tính là có hiệu lực

hoặc không có hiệu lực (vô hiệu).

Cần phân biệt rõ thời hiệu yêu cầu tuyên bố giao dịch chuyển nhượng QSDĐ vô

hiệu khác với tranh chấp về QSDĐ (không tính thời hiệu). Vì tranh chấp về QSDĐ là

tranh chấp xác định ai là người có QSDĐ, còn yêu cầu tuyên bố vô hiệu không phải là

40

tranh chấp xác định chủ thể có QSDĐ mà việc xác định giá trị pháp lý của giao dịch là

có hiệu lực hay vô hiệu.

Đồng thời, cần xác định rõ thời điểm để tính thời hiệu, tại Điều 136 của BLDS

2005 và Điều 132 của BLDS 2015 đã xác định rõ thời điểm để tính thời hiệu là 02 năm

kể từ ngày xác lập giao dịch, không phải là ngày biết được quyền và lợi ích bị xâm

phạm. Tuy nhiên, thực tiễn vẫn có Tòa án xác định thời điểm để tính thời hiệu là ngày

các bên thỏa thuận gia hạn nghĩa vụ trả nợ.

Thực tiễn xét xử, có rất nhiều bản án xác định hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ

không được công chứng, chứng thực bị vô hiệu mà không xem xét đến thời hiệu yêu

cầu. Thời điểm áp dụng BLDS 2005, thông thường Tòa án sẽ yêu cầu các bên phải

thực hiện hình thức của hợp đồng, trong trường hợp không thực hiện thì sẽ tuyên hợp

đồng vô hiệu theo quy định tại Điều 137 BLDS 2005. Theo chúng tôi, chỉ trong trường

hợp các bên có yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu về hình thức và phải

trong thời hạn 02 năm kể từ ngày xác lập (không phải là ngày vi phạm) thì Tòa án mới

buộc các bên phải thực hiện hoàn thiện về hình thức (và điều này là khó khả thi trên

thực tiễn khi đã phát sinh tranh chấp do đó BLDS 2015 đã bỏ quy định này).

Trường hợp đã hết thời hiệu theo BLTTDS 2004 hoặc hết thời hiệu và có yêu

cầu áp dụng thời hiệu theo BLTTDS 2015 thì giao dịch phải có hiệu lực, các bên phải

thực hiện quyền và nghĩa vụ đã thỏa thuận. Tóm lại, theo nhóm tác giả thì khi giải

quyết yêu cầu tuyên bố giao dịch chuyển nhượng QSDĐ vô hiệu do không tuân thủ

quy định về công chứng, chứng thực thì trước hết phải xem xét đến thời hiệu yêu cầu;

nếu đã hết thời hiệu (có yêu cầu áp dụng thời hiệu) thì phải xác định giao dịch đó có

hiệu lực, bên nhận chuyển nhượng được quyền thực hiện thủ tục hoàn tất thủ tục đăng

ký QSDĐ (nếu không thuộc những trường hợp vô hiệu khác, ví dụ như không thể thực

hiện được do đối kháng với người thứ ba mà giao dịch với người thứ ba có giá trị pháp

lý đảm bảo hơn như đã đăng ký thế chấp hoặc đã đăng ký vào sổ địa chính, thực hiện

xong việc chuyển quyền…); trường hợp còn thời hiệu thì tùy trường hợp để xác định

hợp đồng vô hiệu hoặc không vô hiệu theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2004/NQ-

HĐTP ngày 10/8/2004 hoặc Điều 129 BLDS 2015.

2.1.2. Các quy định pháp luật về thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền

sử dụng đất

Thứ nhất, Luật đất đai 2013 thiếu quy định cụ thể về khái niệm “Hợp đồng

41

chuyển nhượng quyền sử dụng đất” gây khó khăn cho các chủ thể khi thực hiện hợp

đồng. Như đã đề cập ở phần trên, Bộ luật dân sự 2015 đã bỏ quy định các hợp đồng cụ

thể về quyền sử dụng đất như chuyển nhượng, tặng cho, chuyển đổi, thế chấp ... thay

vào đó là quy định “hợp đồng về quyền sử dụng đất” nói chung. Tuy nhiên, quy định

hợp đồng về quyền sử dụng đất tại Điều 500 BLDS 2015 mới chỉ mang tính chất liệt

kê các quan hệ chuyển quyền sử dụng đất theo pháp luật đất đai hiện hành, chưa nêu

được những đặc trưng pháp lí của từng hình thức chuyển quyền sử dụng đất. Về mặt

thực tiễn, việc thiếu vắng quy định về khái niệm “chuyển nhượng quyền sử dụng đất”

này sẽ có thể làm người áp dụng luật bị nhầm lẫn. Ví dụ nhầm lẫn giữa hợp đồng

chuyển nhượng với chuyển quyền sử dụng đất, hay như không phân biệt được sự khác

nhau giữa hợp đồng chuyển nhượng với hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất.

Thêm vào đó, về mặt kỹ thuật xây dựng văn bản pháp luật, người ta luôn yêu cầu các

khái niệm (thuật ngữ) phải được hiểu theo một nghĩa, nhằm tránh tình trạng mỗi

người, mỗi nơi hiểu và vận dụng một cách khác nhau. Yêu cầu này được thể hiện rõ

trong Điều 5 Luật Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật: “Ngôn ngữ sử dụng

trong văn bản phải chính xác, phổ thông, cách diễn đạt phải đơn giản, dễ hiểu. Đối với

thuật ngữ chuyên môn cần xác định rõ nội dung, thì phải được định nghĩa trong văn

bản”.

Khái niệm “ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” không được Bộ luật

dân sự 2015 và Luật đất đai 2013 đề cập nhưng có thể được tìm thấy trong văn bản

luật chuyên ngành khác là Luật kinh doanh bất động sản và Luật nhà ở. Vấn đề ở chỗ,

Luật kinh doanh bất động sản 2014 tuy có đề cập đến Hợp đồng chuyển nhượng quyền

sử dụng đất, nhưng quy định này chỉ áp dụng riêng với các hợp đồng thuộc phạm vi

điều chỉnh của pháp luật kinh doanh bất động sản. Tương tự, quy định về hợp đồng

mua bán nhà ở chỉ áp dụng riêng với các hợp đồng thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật

nhà ở. Xét tính chất phức tạp của các hợp đồng về quyền sử dụng đất, cá nhân tôi cho

rằng đây là điểm hạn chế cần khắc phục. Bởi hợp đồng là cơ sở để đảm bảo cho việc

thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên, giải quyết tranh chấp, tránh xảy ra sai sót và

hạn chế rủi ro. Đối với một loại tài sản chịu sự điều chỉnh của nhiều ngành luật như

quyền sử dụng đất, việc xây dựng một khái niệm pháp lý hoàn chỉnh thống nhất chung

trong hệ thống văn bản pháp luật là yếu tố cần thiết để hoạt động áp dụng và thực hiện

pháp luật được thông suốt, hiệu quả.

42

Thứ hai thuật ngữ tranh chấp đất đai thiếu cụ thể, dễ dẫn đến khó khăn khi

thực hiện giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng

đất. Khi quyền sử dụng đất có tranh chấp đồng nghĩa với việc tại thời điểm đó giá trị

quyền sử dụng đất vẫn đang thuộc một đối tượng cụ thể, nhưng khả năng định đoạt

chuyển nhượng quyền sử dụng đất của đối tượng này có thể bị ảnh hưởng bởi tình

trạng kiện tụng tranh chấp. Bởi vì, để bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng cho các chủ

thể khác có liên quan, đồng thời, nhằm tránh tình trạng tranh chấp về sau này, pháp

luật thường không cho phép các chủ thể chuyển nhượng các giá trị quyền sử dụng đất

đang có tranh chấp. Tuy nhiên, cần phải xác định như thế nào là đất có tranh chấp, bản

chất của tranh chấp đó là để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người đang tranh

chấp hay việc “tranh chấp” đó chỉ với mục đích làm cho người có quyền sử dụng đất

không thể chuyển nhượng được quyền sử dụng đất đó cần phải được xem xét.

Khái niệm “tranh chấp đất đai” được ghi nhận tại khoản 23 Điều 3 Luật Đất

đai 2013: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất

giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”. Nội dung tranh chấp trong tranh chấp

đất đai là quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, tuy nhiên, “quyền và nghĩa vụ của

người sử dụng đất” là một khái niệm quá rộng và sự quy định thiếu tính cụ thể này đã

dẫn đến tình trạng việc gì liên quan đến đất đai đều được coi là tranh chấp đất đai. Cho

tới nay đã có nhiều định nghĩa về tranh chấp đất đai, chẳng hạn: “Tranh chấp đất đai là

sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể

khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai”6 hoặc “Tranh chấp đất đai là sự bất đồng

mâu thuẫn giữa các chủ thể (sử dụng đất) trong việc xác định ai là người có quyền sử

dụng đối với một (hoặc những) thửa đất nhất định … Tranh chấp đất đai có thể bao

hàm cả các tranh chấp về địa giới giữa các đơn vị hành chính”7. Tuy nhiên, các định

nghĩa trên vẫn chưa chỉ ra nội hàm bản chất của tranh chấp đất đai. Trên thực tế, có

quá nhiều nguyên nhân dẫn đến tranh chấp đất đai như: Tranh chấp ranh giới, mốc

giới, quyền địa dịch; quyền sử dụng đất, tranh chấp các giao dịch chuyển quyền sử

dụng đất với các thủ tục tranh chấp khác nhau. Trong một số tranh chấp đất đai, quyền

sử dụng đất được chuyển nhượng vẫn không ảnh hưởng đến quyền của người đang

tranh chấp vì theo quy định của pháp luật, chủ thể nhận chuyển nhượng quyền sử dụng

6 Giáo trình Luật đất đai, Trường Đại học Luật Hà Nội (2008, tr.455)

7 Giáo trình Luật đất đai, Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh (2012, Tr.357-358)

43

đất sẽ là người tiếp tục phải thực hiện các nghĩa vụ như người chuyển nhượng. Ví dụ

như quyền địa dịch “là quyền của chủ sở hữu hoặc chủ sử dụng bất động sản đối với

bất động sản của người khác hình thành và phát triển trên cơ sở đảm bảo cho việc sử

dụng đất đai hiệu quả và mang lại lợi ích chung cho xã hội và lợi ích riêng cho chủ sở

hữu hoặc người sử dụng đất” 8. Cụ thể như không được xây nhà quá cao (trên mảnh

đất cách xa sân bay) mà làm ảnh hưởng đến đường bay của máy bay hoặc không được

xây nhà quá cao trên mảnh đất A làm mất tầm nhìn của ngôi biệt thự thuộc mảnh đất

B. Tức là, theo thỏa thuận về quyền địa dịch mà ở đó nhà trên mảnh đất A không được

xây cao để nhằm làm cho ngôi biệt thự trên mảnh đất B có tầm nhìn đẹp. Chủ sở hữu

mảnh đất B có quyền địa dịch đối với mảnh đất A. Nếu chủ sở hữu B chuyển nhượng

nhà, biệt thự cho chủ sở hữu C thì C vẫn được quyền khai thác đối với tài sản của A

giống như chủ sở hữu B. Vì vậy, về mặt lý luận, tranh chấp giữa A và B có xảy ra

cũng không làm mất đi quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất của B.

Pháp luật về đất đai hiện hành cũng quy định rằng, khi có tranh chấp đất đai

thì khuyến khích các bên tự hòa giải, khi các bên tranh chấp không hòa giải được thì

gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải 9. Trường hợp

đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì các bên có quyền

khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng

dân sự. Khi các bên có sự bất đồng về quyền và nghĩa vụ đối với nhau nhưng sau đó

“tự hòa giải” và không có bên nào gửi đơn yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền

giải quyết thì có gọi là tranh chấp được không? Về mặt thực tiễn, tranh chấp đất đai

chính là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ giữa các bên đương sự nên thủ tục giải quyết

tranh chấp này phải thông qua con đường tố tụng. Do vậy, chúng ta vẫn hiểu rằng chỉ

khi nào một bên đã gửi đơn yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp cơ sở giải quyết tranh chấp

quyền và nghĩa vụ liên quan đến đất đai mới bị coi là đất đang có tranh chấp. Mặt

khác, người sử dụng đất chỉ không được chuyển nhượng quyền sử dụng đất nếu tranh

chấp đó đang được Tòa án có thẩm quyền thụ lý để giải quyết. Trong khi đó, về mặt lý

luận, mặc dù đã được giải thích: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ

của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai” nhưng quyền và

nghĩa vụ gì, cần phải có sự xác định rõ ràng.

8 TS. Phạm Công Lạc, Quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề, Nxb. Tư Pháp, Hà Nội (2006), tr. 86

9 Điều 202, Luật đất đai 2013

44

2.1.3. Các quy định về hình thức, thủ tục xác lập hợp đồng chuyển nhượng

quyền sử dụng đất

Thứ nhất, một trong các yêu cầu tiên quyết khi xác lập HĐCNQSDĐ là chủ thể

chuyển nhượng phải có quyền sử dụng, nhưng trên thực tế quy định và quy trình đăng

ký quyền sử dụng đất còn rất nhiều vướng mắc. Khoản 3, Điều 191 Luật Đất đai năm

2013 quy định về trường hợp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền

sử dụng đất như sau: “Hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp

không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trồng lúa.” Đồng

thời quy định này được hướng dẫn tại Điều 3, Thông tư 33/2017/TT-BTNMT ngày

29/9/2018 quy định chi tiết Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 sửa đổi Nghị

định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 hướng dẫn việc xác nhận hộ gia đình, cá nhân

trực tiếp sản xuất nông nghiệp. Theo đó, rất nhiều đối tượng được hướng dẫn là không

có điều kiện trực tiếp canh tác đất như “Không thuộc đối tượng được hưởng lương

thường xuyên; đối tượng đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ

cấp xã hội;” hoặc “Có nguồn thu nhập thường xuyên từ sản xuất nông nghiệp trên

diện tích đất đang sử dụng quy định tại Điểm a Khoản này, kể cả trường hợp không có

thu nhập thường xuyên vì lý do thiên tai, thảm họa môi trường, hỏa hoạn, dịch

bệnh”… Như vậy, về nội dung áp dụng quy định nêu trên một mặt đảm bảo nhu cầu

của cơ quan quản lý nhà nước về đất đai, phục vụ nhu cầu đảm bảo an ninh lương thực

phát triển bền vững nền kinh tế, nhưng xét trong một khía cạnh khác đã vi phạm quyền

tự do định đoạt của người sử dụng đất trong việc quyết định chuyển nhượng quyền sử

dụng đất thuộc phạm vi mình đang quản lý và sử dụng. Trên thực tế hiện nay, trong

quá trình sử dụng nhiều trường hợp các ông bố, bà mẹ đã quá tuổi lao động và không

thể tiếp tục canh tác phần đất nông nghiệp hiện đang quản lý, có ý muốn tặng cho các

con nhờ trông coi quản lý thay (thực sự các phần đất nông nghiệp đều cho thuê và có

người canh tác các ông, bà chỉ là người nhận tiền thuê đất đây được xem là phần thu

nhập “trực tiếp” từ việc canh tác đất). Tuy nhiên, các con đều là công chức nhà nước

và đều có thu nhập ổn định, do vậy theo quy định trên các con đều không thuộc đối

tượng được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất nông nghiệp trong

khi về quy định phần đất đó họ không thể chuyển mục đích khác để canh tác. Như vậy

các bậc cha, mẹ phải làm gì với quyền sử dụng mình được ghi nhận trong khi không

còn đủ sức để canh tác và không thể chuyển nhượng, tặng cho các con trong khi họ

45

không muốn chuyển nhượng, tặng cho cho người khác… Song song đó, với quy trình

đăng ký thủ công, tồn tại nhiều sai sót, dễ dẫn đến tình trạng nhũng nhiễu từ phía cán

bộ đăng ký. Thủ tục đăng ký tài sản rườm rà, thiếu minh bạch, chưa đáp ứng được mục

tiêu cải cách thủ tục hành chính, trong khi việc đăng ký trái quy định của pháp luật vẫn

tiếp diễn và có biểu hiện ngày càng tinh vi, khó phát hiện, gây bức xúc cho người dân,

gây dư luận xã hội. Thực tế cho thấy việc xác nhận người trực tiếp canh tác đất được

giao về cho Ủy ban nhân dân cấp xã, trong đó người tiến hành xác nhận là cán bộ địa

chính xã, phường trong nhiều trường hợp còn ít tuổi hoặc ở địa phương khác làm cho

việc xác nhận rất nhiều trường hợp mang tính hình thức và khái niệm “trực tiếp canh

tác” được hiểu như thế nào cho đúng vẫn còn mang nhiều tranh cãi thì rất khó để có

được một sự xác nhận mang tính chính xác, đúng đắn và trung thực. Bên cạnh đó, phải

kể đến một số trường hợp vướng mắc khác như việc thông tin về quyền sử dụng đất,

tài sản gắn liền với đất trong một số trường hợp đã không phản ánh chính xác về tình

trạng của đất trên thực tế, từ đó dẫn đến tranh chấp, khiếu nại kéo dài, gây bức xúc

trong xã hội là những khó khăn vướng mắc không nhỏ của hệ thống đăng ký quyền sử

dụng đất của nước ta hiện nay. Ví dụ: Quyền sử dụng đất được cấp cho vợ - chồng,

nhưng trên giấy chứng nhận lại ghi người sử dụng đất là hộ gia đình, hoặc quyền sử

dụng đất bị hạn chế quyền, nhưng trên giấy chứng nhận lại không ghi nhận tình trạng

đó... Trong đó, rất nhiều trường hợp quyền sử dụng đất được cấp theo Luật Đất đai

năm 1993 thì hầu hết quyền sử dụng đất nông nghiệp đều được ghi nhận cấp cho người

sử dụng đất với tư cách quyền sử dụng đất của hộ gia đình, trong khi nguồn gốc hình

thành tài sản là tài sản riêng của cá nhân thì khi đó việc xác định người có quyền

chuyển nhượng, tặng, cho các quyền sử dụng đất trên đều gặp rất nhiều khó khăn và vì

như thế nhiều tranh chấp không được giải quyết hoặc giải quyết kéo dài, không thỏa

đáng gây bức xúc trong nhân dân.

Trong khi đó, kinh nghiệm cho thấy, thiết chế đăng ký bất động sản muốn vận

hành hiệu quả đòi hỏi phải xây dựng được một hệ thống cơ quan đăng ký thực sự hiện

đại, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ trong quá trình giải quyết hồ sơ của người dân,

doanh nghiệp. Điều này thực sự gây ra rất nhiều khó khăn cho cơ quan quản lý hành

chính nhà nước về đất đai trong việc thực thi quyền sử dụng đất của người sử dụng

đất, mặt khác lại giới hạn quá nhiều về quyền tài sản của người sử dụng đất trong việc

quyết định quyền sử dụng đất của mình. Ngoài ra, thực tế còn cho thấy, ngay chính

46

mối liên hệ của các cơ quan đăng ký hoặc giữa cơ quan đăng ký với tổ chức hành nghề

công chứng, thuế cũng chưa có sự kết nối, chia sẻ thông tin về tình trạng pháp lý của

tài sản. Việc thiếu dữ liệu thông tin về tài sản đã và đang dẫn đến những khó khăn cho

người dân, doanh nghiệp, cũng như cho chính các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Không những thế, quy trình chuyển nhượng quyền sử dụng, đặc biệt là nhóm

đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp còn

phức tạp, gây khó khăn trong quá trình tiếp cận. Thủ tục nhận chuyển nhượng quyền

sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh phi nông

nghiệp được quy định ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Luật Đất đai năm

2013, Luật Đầu tư năm 2014, Luật Nhà ở năm 2014, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP

ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai,

Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số

quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai, Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày

12/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của

Luật Đầu tư, Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ quy định

chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà ở, Thông tư số 24/2014/TT-

BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ địa

chính, Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi

trường quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ

sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai và sửa đổi,

bổ sung một số điều của các Thông tư hướng dẫn thi hành Luật Đất đai… Như vậy, có

thể thấy để thực hiện được đầy đủ các thủ tục nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất

nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp thì nhà

đầu tư cần phải tiếp cận với rất nhiều các quy định nằm ở các văn bản pháp luật khác

nhau. Về cơ bản thủ tục nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực

hiện dự án đầu tư có thể được khái quát như sau:

Bước 1: Thực hiện việc chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối

với tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện

dự án sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp theo quy định tại Điều 193 Luật Đất đai.

Tại khoản 1 Điều 193 Luật Đất đai đã quy định: Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân

được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư

sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp phải có văn bản chấp thuận của cơ quan nhà

47

nước có thẩm quyền. Như vậy, để thực hiện quyền nhận chuyển nhượng quyền sử

dụng đất để thực hiện dự án đầu tư thì nhà đầu tư cần phải có chấp thuận của cơ quan

nhà nước có thẩm quyền. Đây là bước khởi đầu và là tiền đề pháp lý quan trọng để nhà

đầu tư tiến hành các hoạt động thương lượng, thỏa thuận với người sử dụng đất nông

nghiệp và tiến hành các bước tiếp theo.

Bước 2: Việc thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp

giữa người sử dụng đất và chủ đầu tư: Trình tự, thủ tục này được quy định tại Khoản 2

Điều 9 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi

trường quy định về hồ sơ địa chính được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 2 Điều 7 Thông tư

số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định

chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung

một số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai và sửa đổi, bổ sung một số

điều của các Thông tư hướng dẫn thi hành Luật Đất đai. Cụ thể ở bước 2 này nhà đầu

tư cần phải nộp những giấy tờ sau:

- Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất;

- Hợp đồng, văn bản về việc chuyển nhượng;

- Bản gốc Giấy chứng nhận đã cấp;

- Văn bản chấp thuận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với tổ chức

kinh tế nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư

(văn bản này nhà đầu tư phải có từ bước 1);

Ở khâu này, nhà đầu tư sẽ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ thể nhận

chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Để đảm bảo đầy đủ các hồ sơ, giấy tờ nộp cho cơ

quan nhà nước khi chuyển nhượng thì nhà đầu tư phải chủ động liên hệ với người sử

dụng đất để thỏa thuận chuyển nhượng theo giá cả do hai bên thương lượng. Đây

chính là điểm khác biệt cơ bản của việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất để

thực hiện dự án so với các hình thức được giao đất để thực hiện dự án thông qua đấu

giá và đấu thầu. Nếu như với cách thức được giao đất thông qua đấu giá và đấu thầu,

nhà đầu tư sẽ được giao trực tiếp từ cơ quan nhà nước còn việc thu hồi đất là trách

nhiệm của cơ quan nhà nước thì ở hình thức này chủ đầu tư được tự chủ động liên hệ

và thỏa thuận mức giá chuyển nhượng cho người sử dụng đất nông nghiệp. Điều này

sẽ tạo nên tính linh động và tích cực cho hoạt động đầu tư.

Bước 3: Sau khi đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp thì chủ

48

đầu tư mới được thực hiện quy trình đầu tư theo pháp luật đầu tư và pháp luật có liên

quan. Ở giai đoạn này, chủ đầu tư cần phải thực hiện theo Điều 22 Nghị định số

118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi

hành một số điều của Luật Đầu tư như sau:

- Quyết định chủ trương đầu tư, cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư;

- Thành lập tổ chức kinh tế đối với nhà đầu tư nước ngoài đầu tư theo hình thức

thành lập tổ chức kinh tế;

- Thực hiện thủ tục cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của

pháp luật về đất đai;

- Thực hiện thủ tục về xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng (nếu

dự án có hoạt động xây dựng).

Như vậy, sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp nhà đầu

tư phải thực hiện một loạt các hoạt động như: quyết định chủ trương đầu tư, thành lập

tổ chức kinh tế đối với nhà đầu tư nước ngoài đầu tư theo hình thức thành lập tổ chức

kinh tế, thực hiện thủ tục cho phép chuyển mục đích sử dụng đất... Có thể thấy

khâu này là sự tổng hợp của rất nhiều thủ tục khác nhau yêu cầu nhà đầu tư phải thực

hiện đầy đủ thì mới có cơ sở pháp lý để triển khai và thực hiện dự án.

Qua 3 bước trên cho thấy việc thực hiện thủ tục nhận chuyển nhượng quyền sử

dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp

khá phức tạp. Trong quá trình thực hiện có một số vướng mắc, bất cập như sau:

Thứ nhất, chưa có một văn bản thống nhất được toàn bộ thủ tục nhận chuyển

nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh

phi nông nghiệp mà việc thực hiện phải tuân theo nhiều văn bản khác nhau dẫn đến

việc tiếp cận và hiểu các quy định rất khó khăn.

Thứ hai, một số quy định của pháp luật chưa rõ ràng khiến cho cả nhà đầu tư và

cơ quan nhà nước đều lúng túng trong quá trình thực hiện. Ví dụ như ở bước 1 là thực

hiện xin chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với tổ chức kinh tế nhận

chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án sản xuất, kinh

doanh phi nông nghiệp thì hiện nay không có quy định cụ thể cho hoạt động này như

hồ sơ cần phải nộp, trình tự của thủ tục chấp thuận…

Thứ ba, trong quá trình thực hiện toàn bộ thủ tục thì chưa có cơ quan nhà nước

nào là đầu mối thống nhất thực hiện. Qua phần khái quát trên cho thấy việc thực hiện

49

thủ tục lại được chia thành những quy trình nhỏ, mỗi quy trình nhỏ do các cơ quan nhà

nước khác nhau tiếp nhận và giải quyết. Cụ thể, nếu liên quan đến đất đai sẽ do Sở Tài

nguyên và Môi trường tiếp nhận hồ sơ và giải quyết, nếu liên quan đến đầu tư sẽ do Sở

Kế hoạch và Đầu tư tiếp nhận hồ sơ và giải quyết, nếu liên quan đến xây dựng sẽ do

Sở Xây dựng tiếp nhận hồ sơ và giải quyết... Việc phải thực hiện rất nhiều các thủ tục

với các cơ quan nhà nước khác nhau sẽ khiến cho nhà đầu tư gặp khó khăn vì không

biết phải làm thủ tục nào trước, thủ tục nào sau, không biết thắc mắc, kiến nghị với cơ

quan nào.

Thứ tư, hệ thống hồ sơ nhà đầu tư phải nộp và chuẩn bị tương đối nhiều và

phức tạp, có sự chồng chéo giữa các luật. Ví dụ như tại khoản 2 Điều 6 Nghị định số

118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số

điều của Luật Đầu tư quy định: “Cơ quan đăng ký đầu tư không được yêu cầu nhà đầu

tư nộp thêm giấy tờ khác ngoài các giấy tờ trong hồ sơ đăng ký đầu tư theo quy định

tại Luật Đầu tư và Nghị định này”. Tuy nhiên, tại điểm b khoản 2 Điều 171 Luật Nhà

ở năm 2014 quy định: "Đối với trường hợp quyết định chủ trương đầu tư theo Luật đầu

tư thì ngoài hồ sơ đề nghị chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của Luật đầu tư

còn phải có các giấy tờ sau đây: Văn bản đề nghị chấp thuận chủ trương dự án xây

dựng nhà ở, trong đó nêu rõ cơ sở pháp lý, các nội dung cần chấp thuận và lý do đề

nghị chấp thuận; Bản vẽ quy hoạch chi tiết khu vực có dự án đã được cơ quan nhà

nước có thẩm quyền phê duyệt. Như vậy, các quy định này cho thấy sự chồng chéo

của pháp luật dẫn đến khó khăn trong triển khai thực hiện. Như vậy, việc hoàn thiện hệ

thống pháp luật là hết sức cần thiết để hướng một hành lang pháp lý thông suốt, minh

bạch cho các nhà đầu tư thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình

thực hiện thủ tục nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự

án đầu tư sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp.

Một vấn đề trên thực tiễn nữa có thể ảnh hưởng tới quá trình xác lập hợp đồng

chuyển nhượng phải kể đến là, khi hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ không có công

chứng, chứng thực hoặc đã được công chứng, chứng thực (theo nhóm tác giả là đã có

hiệu lực) nhưng chưa hoàn tất thủ tục đăng ký lại phát sinh yêu cầu áp dụng biện pháp

khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản từ người thứ ba hoặc bị Cơ quan thi hành án dân

sự kê biên để cưỡng chế thi hành án thì việc giải quyết tranh chấp. Có quan điểm xác

định giao dịch chuyển nhượng vô hiệu do vi phạm điều cấm hoặc vô hiệu do có đối

50

tượng không thực hiện được hoặc vô hiệu do trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba

hoặc công nhận hợp đồng, xác định QSDĐ đã được chuyển nhượng và quyền đăng ký

quyền sử dụng của người nhận chuyển nhượng. Theo nhóm tác giả thì việc phát sinh

biện pháp phong tỏa, hoặc kê biên sau khi giao kết hợp đồng chuyển nhượng thì giao

dịch vẫn đảm bảo điều kiện để phát sinh hiệu lực, bởi lẽ tại thời điểm xác lập giao dịch

không có quy định của pháp luật nào ngăn cấm chủ thể thực hiện quyền của người sử

dụng đất (nếu thửa đất đảm bảo điều kiện chuyển nhượng). Chỉ trong trường hợp có

căn cứ rõ ràng để xác định giao dịch này nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ với người

thứ ba mới dẫn đến vô hiệu.

Liên quan đến vấn đề này, nhóm tác giả không đồng nhất với quy định tại Điều

24 Nghị định 62/2015/NĐ-CP hướng dẫn Điều 75 của Luật THA về việc giải quyết

tranh chấp, yêu cầu hủy giấy tờ, giao dịch liên quan đến tài sản THA thì “Kể từ thời

điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, nếu người phải THA chuyển đổi, tặng

cho, bán, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố tài sản cho người khác mà không sử dụng

khoản tiền thu được để THA và không còn tài sản khác hoặc tài sản khác không đủ để

đảm bảo nghĩa vụ THA thì tài sản đó vẫn bị kê biên, xử lý để THA, trừ trường hợp

pháp luật có quy định khác”. Bởi lẽ, quy định này lại mâu thuẫn với những quy định

của pháp luật về quyền, điều kiện chuyển giao quyền sở hữu tài sản, QSDĐ10, theo đó

thì pháp luật không cấm, hạn chế người phải THA thực hiện giao dịch chuyển quyền

đối với tài sản và người nhận chuyển quyền được quyền xác lập quyền sở hữu, quyền

sử dụng, chỉ trừ trường hợp giao dịch đó vô hiệu do giả tạo, nhằm trốn tránh nghĩa vụ

đối với người thứ ba [3]. Đồng thời, điều này sẽ gây khó khăn, ảnh hưởng lớn đến

quyền lợi của người tham gia giao dịch chuyển quyền có căn cứ pháp luật, rất khó để

họ đảm bảo yếu tố ngay tình khi ngoài việc tìm hiểu tài sản đó có đủ điều kiện giao

dịch, thì còn phải xác định chủ sở hữu tài sản có phải đang thi hành nghĩa vụ dân sự

của bản án, quyết định nào của Tòa án hay không. Mặt khác, đó là chúng ta chưa tính

đến yếu tố giá trị tài sản chuyển quyền lớn hơn nhiều so với nghĩa vụ phải THA hoặc

người chủ sở hữu tài sản đã sử dụng khoản tiền thu được để thực hiện những nghĩa vụ

cho những người khác. Mặc dù quy định này đảm bảo hiệu lực thi hành bản án, quyết

định của Tòa án, tuy nhiên trong trường hợp này việc bảo vệ quyền lợi của chủ thể này

10 Tham khảo các điều 129, 161 BLDS 2015, Điều 188 Luật đất đai 2014; Điều 122 Luật nhà ở 2014; các điều 5, 7 Luật công chứng 2014

51

sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của chủ thể khác. Theo nhóm tác giả việc người chuyển

nhượng không sử dụng tiền nhận chuyển nhượng để thực hiện nghĩa vụ theo bản án,

quyết định có hiệu lực có thể được xem xét xử lý nếu có đủ căn cứ về hành vi vi phạm

quy định về gây thiệt hại đến tài sản của người khác “Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ

trốn để chiếm đoạt tài sản của người khác” hoặc về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm

đoạt tài sản với tình tiết “có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả”11.

2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử

dụng đất trong giai đoạn 2010 – 2020 ở Việt Nam

2.2.1. Đánh giá tổng quan những thuận lợi và khó khăn trong việc giải quyết

tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong giai đoạn 2010 –

2020 ở Việt Nam

* Thuận lợi:

Trong những năm qua, nhờ chính sách và đường lối phát triển phù hợp của

Đảng, Nhà nước trong lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai, đến nay trên 90,25% diện tích

tự nhiên của cả nước được khai thác đưa vào sử dụng cho các mục đích phát triển kinh

tế - văn hóa – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Diện tích đất dành cho phát triển

đô thị tăng nhanh, trong giai đoạn 2001 – 2010, diện tích đất đô thị tăng 531 nghìn ha,

bình quân tăng 53 nghìn ha/ năm, đã hình thành hệ thống mạng lưới đô thị phân bổ

tương đối hợp lý trên các vùng lãnh thổ của cả nước. Thị trường quyền sử dụng đất

vận hành đã góp phần tạo nguồn thu cho ngân sách và trở thành một trong những

nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Nguồn thu từ đất đai

cho ngân sách nhà nước tăng qua các năm (năm 2002 là 5.486 tỷ đồng, chiếm 4,4%

tổng thu ngân sách nhà nước, năm 2010 là 67.000 tỷ đồng, chiếm 11,21% tổng thu

ngân sách nhà nước). Cùng với sự vận hành và phát triển của các quan hệ xã hội, các

quy định về quyền sử dụng đất cũng được nhìn nhận và đánh giá đúng bản chất trong

quan hệ kinh tế thị trường và giao dịch dân sự [29]. Từ thời điểm LĐĐ 2003, Luật

Kinh doanh bất động sản năm 2006, Luật Nhà ở năm 2005, BLDS 2005, Luật Công

chứng năm 2006, ... có hiệu lực, tranh chấp liên quan đến việc xác lập, thực hiện

HĐCNQSDĐ có xu hướng giảm. Qua nghiên cứu tình hình giải quyết Giám đốc thẩm

đối với các bản án/ quyết định về quyền sử dụng đất từ năm 2013 trở lại đây, chúng tôi

11 Điểm b khoản 1 Điều 175 BLHS 2015, sửa đổi, bổ sung 2017.

52

nhận thấy tranh chấp từ những năm 2003 trở về trước có tính chất phức tạp, kéo dài và

khó giải quyết dứt điểm hơn so với thời điểm sau này.

Những thuận lợi cơ bản của pháp luật đối với HĐCNQSDĐ bao gồm: (1) Quy

định pháp luật về HĐCNQSDĐ tạo nên hành lang pháp lý được các chủ thể xác lập,

thực hiện nghiêm túc. Đối với thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động

sản, LĐĐ 2003 và các pháp luật có liên quan được ban hành đã làm thay đổi căn bản

thị trường bất động sản nói chung, thị trường quyền sử dụng nói riêng, tạo lập được cơ

chế để thị trường bất động 114 sản hoạt động và phát triển tương đối nhanh, đồng bộ.

Giao dịch về quyền sử dụng đất từng bước đi vào nề nếp. Tổ chức phát triển quỹ đất,

Văn phòng đăng ký đất đai, Quỹ phát triển đất, tổ chức môi giới, định giá, tư vấn pháp

lý, ... được hình thành và hoạt động ngày càng chuyên nghiệp, hỗ trợ tích cực cho thị

trường bất động sản [29]. Đối với HĐCNQSDĐ, hành lang pháp lý được xây dựng

tương đối đồng bộ, đầy đủ, từ căn cứ xác lập quyền sử dụng đất, điều kiện có hiệu lực

của hợp đồng, yêu cầu đối với việc thực hiện hợp đồng, biện pháp xử lý khi vi phạm

hợp đồng, hợp đồng vô hiệu, ... (2) Các quy định pháp luật về hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất là cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp, xác định trách

nhiệm pháp lý các bên khi phát sinh tranh chấp: Quy định pháp luật là cơ sở để xác

định trách nhiệm của các bên trên cơ sở quyền và nghĩa vụ quy định trong hợp đồng

hoặc/ và pháp luật. Khi giải quyết tranh chấp, cơ quan tài phán sẽ căn cứ vào quy định

pháp luật, đối chiếu với thoả thuận của các bên trong hợp đồng, việc tuân thủ quy định

pháp luật và thực hiện thoả thuận của các bên, các chứng cứ để nhận định, xác định

quan hệ tranh chấp, trách nhiệm, lỗi, ... của các bên là cơ sở để ban hành phán quyết.

Xác định trình tự, thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp: Chủ thể, đối

tượng, bản chất của quan hệ pháp luật là một trong những căn cứ quan trọng để xác

định trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp. (3) Quy định pháp luật cụ thể, rõ ràng, đầy

đủ góp phần đảm bảo sự minh bạch trong việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của các bên

trong hợp đồng, thực hiện các nghĩa vụ với Nhà nước, các bên liên quan.

* Khó khăn trong quá trình áp dụng pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng

quyền sử dụng đất:

Bên cạnh thuận lợi kể trên, thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất vẫn gặp nhiều khó khăn, xuất phát từ những nguyên nhân

cơ bản sau: (1) Sự phức tạp về cơ chế và chính sách pháp luật đất đai qua các thời kỳ.

53

Chính sách pháp luật đất đai qua các thời kỳ phức tạp, chưa ổn định, thường xuyên

thay đổi. Việc xác lập quyền sử dụng đất ở mỗi thời kỳ, theo hình thức nào phải do

luật nội dung có hiệu lực pháp luật vào thời điểm đó điều chỉnh, trừ trường hợp ngoại

lệ và đặc thù, do vậy, việc xác định tính hợp pháp của căn cứ xác lập quyền sử dụng

đất, chủ thể sử dụng đất hoặc các quyền năng của chủ thể sử dụng đất trong đó phải kể

đến hoạt động chuyển nhượng QSDĐ trên thực tế gặp rất nhiều khó khăn (2) Điều kiện

kinh tế, xã hội: Từ Đại hội Đảng lần thứ VI, Đảng ta chủ trương phát triển nền kinh tế

thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thay cho nền kinh tế kế hoạch tập trung, với

nền kinh tế mở cửa đã làm cho các mối quan hệ xã hội nói chung và các quan hệ đất

đai vận hành theo một cơ chế mới. Cho phép quyền sử dụng đất vào thị trường chuyển

nhượng, những quy luật kinh tế làm cho tài sản này phát sinh nhiều vấn đề phức tạp

khi tham gia vào thị trường. Giá trị quyền sử dụng đất luôn biến đổi không ngừng có

lúc tăng, lúc giảm, gây nhiều rủi ro cho những người tham gia việc chuyển nhượng. Có

người tham gia vào quan hệ chuyển nhượng mà có thể giàu lên nhanh chóng, đồng

thời cũng có những người tham gia quan hệ chuyển nhượng có thể bị mất một khoản

lợi lớn. Hệ quả của sự biến động về giá là việc Tòa án nhân dân các địa phương đã

nhận được rất nhiều đơn yêu cầu hủy HĐCNQSDĐ. Một trong các bên muốn hủy các

HĐCNQSDĐ đã giao kết trước đây nhằm giành lại quyền sử dụng đất ở hoặc khoản

tiền để thực hiện các giao dịch khác. Ngoài ra, còn phải kể đến một số nguyên nhân

dẫn đến tranh chấp trong HĐCNQSDĐ là do chiến tranh, lịch sử để lại. (3) Hoạt động

tổ chức và thực hiện pháp luật: Về phía cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, hoạt động

tổ chức và thực hiện pháp luật còn thể hiện tinh thần trách nhiệm chưa cao, buông lỏng

việc quản lý, xác minh, dẫn đến sai phạm trong lĩnh vực cấp GCNQSD đất, đăng ký

đất đai, ... vẫn xảy ra khá phổ biến. Bên cạnh đó, việc quản lý sổ sách, giấy tờ liên

quan đến quyền sử dụng đất còn nhiều bất cập, thiếu chặt chẽ, trên thực tế hiện tượng

mất các phôi GCNQSD đất xảy ra rất nhiều, ... gây khó khăn trong việc xác minh, đối

chiếu chứng cứ và quản lý hoạt động sử dụng đất trên địa bàn. Một số cán bộ, công

chức thực hiện công vụ liên quan đến đất đai còn thiếu gương mẫu, tuỳ tiện trong quản

lý, vi phạm chế độ quán lý và sử dụng đất đai. Quy định pháp luật về HĐCNQSDĐ

chưa đầy đủ và phù hợp. Biểu hiện của nguyên nhân này xuất phát từ những điểm

chưa hợp lý của quy định pháp luật, mặc dù trong thời gian gần đây các quy định về

hợp đồng này luôn được sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện. Nhưng trên thực tế thì vẫn

54

còn nhiều quy định chưa cụ thể, rõ ràng gây ra nhiều khó khăn cho cơ quan nhà nước

có thẩm quyền khi thực thi pháp luật. Đây là nguyên nhân vừa do yếu tố “lịch sử để

lại”, vừa xuất phát từ hệ thống pháp luật hiện hành. Để giải quyết những hậu quả pháp

lý do lịch sử để lại, pháp luật hiện hành đã ban hành các văn bản hướng dẫn theo

hướng linh hoạt hơn, nhằm đảm bảo quyền lợi cho người sử dụng đất. Tuy nhiên,

chính vì sự “linh hoạt” này đã tạo ra sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa căn cứ pháp lý và

cơ sở thực tiễn, khiến nhiều vụ án giải quyết tranh chấp gần như “bế tắc”. Có những

vụ án trải qua thời gian tố tụng hơn 20 năm với hàng chục cấp xét xử vẫn chưa được

giải quyết thỏa đáng bởi sự chênh vênh của quy định pháp luật. Ví dụ, người dân đi

“đòi lại quyền sử dụng đất” theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu đất (Luật Cải cách

ruộng đất 1953). Trong thời gian chiến tranh, người này đã giao nhà đất cho người

khác quản lý. Sau này, người được giao quản lý nhà đất cố tình không trả và đã làm

thủ tục xin cấp GCN QSDĐ. Người chủ thực sự của khu đất đã có rất nhiều đơn từ đến

cơ quan Nhà nước yêu cầu trả lại đất, vì họ vẫn có giấy tờ hợp pháp theo Luật Cải

cách ruộng đất năm 1953 và đất của họ không thuộc vào các trường hợp bị thu hồi

theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, pháp luật hiện nay lại có hướng dẫn về việc

công nhận quyền sử dụng đất thực tế dựa trên thời gian sử dụng đất “ổn định, lâu dài,

đã xây dựng các công trình kiên cố, ...” trên đất. Trong những vụ án như trên, rất khó

để xác định “ai” là người thực sự có quyền sử dụng đất. Hoặc có trường hợp tranh

chấp về HĐCNQSDĐ được xác lập từ những năm 1960, các bên đều không đưa ra

được các giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất từ thời kỳ đó, nhưng một bên chứng

minh được có tài sản trên đất (nhà thờ, mộ phần của tổ tiên), một bên chứng minh

được mình đã quản lý, sử dụng đất một thời gian dài và đã kê khai, nộp thuế sử dụng

đất. Trên thực tế, qua xác minh thì bên có tài sản trên đất đã nhiều lần khiếu nại, đòi

đất nhưng không được giải quyết. Cùng với những vướng mắc trên, giấy tờ, tài liệu

chứng minh người có quyền sử dụng đất qua nhiều thời kỳ không thể hiện rõ ai là

người sử dụng đất, hình thức xác lập là gì (tặng cho, chuyển nhượng, cho ở nhờ, ủy

quyền quản lý, ...), diện tích, ranh giới đất, ... Trong khi đó việc quản lý Nhà nước về

đất đai qua nhiều thời kỳ chưa tốt, việc quản lý hồ sơ, tài liệu địa chính đối với từng

thửa đất chưa chặt chẽ, dẫn đến khó khăn trong việc xem xét, đánh giá các chứng cứ,

tài liệu. (4) Nhận thức pháp luật của các chủ thể tham gia quan hệ HĐCNQSDĐ: Khi

tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng, một hoặc các bên không nhận thức và tìm hiểu

55

đầy đủ các quy định pháp luật có liên quan, vi phạm các điều kiện chuyển quyền hoặc

điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, không lưu giữ các chứng cứ cần thiết (giấy biên

nhận, thanh toán, biên bản bàn giao, ...). Ý thức pháp luật của các bên khi tham gia ký

kết hợp đồng: Khi tham gia HĐCNQSDĐ, có thể các bên đều có ý thức được việc

chuyển nhượng của mình cần phải tuân thủ các điều kiện bắt buộc mà pháp luật quy

định, nhưng lại không tuân thủ. Điều này xuất phát từ nhiều lý do khác nhau, có thể là

do việc phải thực hiện các thủ tục hành chính, hoặc cũng có thể là do các bên muốn

trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước. Điều này có thể thấy được trong

thời gian gần đây, giá trị quyền sử dụng đất ở không ngừng biến động, giao kết

HĐCNQSDĐ vẫn diễn ra thường xuyên, khi nhận thấy hợp đồng chưa có hiệu lực

pháp lý, nếu giá đất tăng cao hơn so với thời điểm giao kết thì bên chuyển nhượng sẽ

không muốn thực hiện hợp đồng và ngược lại nếu giá đất thấp hơn so với thời điểm

giao kết thì bên nhận chuyển nhượng cũng sẽ yêu cầu hủy bỏ hợp đồng... Đây cũng là

lý do chính dẫn đến tình trạng tranh chấp HĐCNQSDĐ xảy ra. Tuy nhiên, vấn đề này

sẽ được giải quyết dễ dàng khi các bên tham gia quan hệ chuyển nhượng nghiêm chỉnh

tuân thủ các quy định của pháp luật. Công nhóm tác giải quyết tranh chấp, khiếu kiện

về đất đai ở nhiều địa phương nhìn chung hiệu quả chưa cao, chưa kịp thời, còn nhiều

đơn thư chưa giải quyết. Các tranh chấp dân sự, nhất là tranh chấp liên quan đến đất

đai rất phức tạp do tập quán chuyển nhượng, cho thuê, cho mượn, thừa kế thường thỏa

thuận miệng, không có người làm chứng, không có xác nhận của chính quyền địa

phương, công chứng, …. dẫn đến khi có tranh chấp, Tòa án không đủ chứng cứ, tài

liệu để thừa nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu của đương sự. Việc giải quyết tranh

chấp đất đai ở một số nơi còn mang tính nể nang, chủ quan, không đúng pháp luật và

thiếu công bằng, gây giảm sút lòng tin của người dân. Số lượng các vụ án dân sự để

quá thời hạn giải quyết còn nhiều, còn có những bản án tuyên không rõ, gây khó khăn

cho công tác thi hành án dân sự. Việc này xuất phát từ cả nguyên nhân chủ quan và

khách quan. Trong đó, nguyên nhân vì sự thiếu thống nhất trong các quy định pháp

luật chiếm số lượng không nhỏ, dẫn đến ảnh hưởng trực tiếp đến việc đánh giá chứng

cứ, xác định quan hệ pháp luật có tranh chấp, mức độ lỗi của các bên, hậu quả pháp lý

của hợp đồng vô hiệu, … [53, năm 2012]. Công tác tuyên truyền, giải thích, tư vấn

pháp luật về đất đai vẫn còn nhiều hạn chế và chưa được quan tâm đúng mức. Công

tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật đất đai chưa thật sự được coi trọng, vì thế trình độ

56

hiểu biết pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật trong nhân dân còn hạn chế. Nhiều

văn bản pháp luật đất đai chưa thực sự đi vào cuộc sống. Việc điều tra, xem xét giải

quyết tranh chấp đất đai còn yếu kém, hiệu lực thấp, chưa thật sự quan tâm đến những

giải pháp mang tính quần chúng.

Tình hình công tác xét xử tại Toà án Những năm gần đây, thông qua Báo cáo

tổng kết của TAND các cấp, tranh chấp đất đai vẫn là một trong những nội dung nổi

cộm và được nhắc tới nhiều nhất trong số 118 các vụ án dân sự. Trong các tranh chấp

dân sự, tranh chấp về đất đai qua các năm vẫn chiếm tỷ lệ cao, phức tạp. Ví dụ, theo

Báo cáo tổng kết ngành Tòa án năm 2013, các tranh chấp về đất đai năm 2013 tăng

1.417 vụ so với năm 2012. Báo cáo tổng kết của toàn ngành tòa án các năm 2014,

2015 không đề cập cụ thể đến tranh chấp dân sự về quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, các

tranh chấp này vẫn là một trong những tranh chấp nổi cộm và được đề cập đến trong

báo cáo tổng kết của TAND các địa phương. Tính riêng TP. Hồ Chí Minh: Theo các

Báo cáo tổng kết của TAND TP. Hồ Chí Minh, tranh chấp dân sự chủ yếu vẫn là tranh

chấp thừa kế về nhà, đất, hợp đồng mua bán nhà (BC tổng kết của TAND TP. HCM

năm 2010). Án dân sự năm 2011, số vụ thụ lý và giải quyết toàn ngành tăng. Tại Tòa

án thành phố, án dân sự sơ thẩm giảm so với năm 2010 nhưng án dân sự phúc thẩm

tăng, trong đó các tranh chấp về hợp đồng vay tài sản, tranh chấp quyền sở hữu nhà,

đất, thừa kế chiếm tỷ trọng cao trong số án giải quyết [55]. Đây là những dạng tranh

chấp rất phức tạp, nhiều khó khăn trong việc đánh giá, thu thập chứng cứ, đương sự

không hợp tác khi tiến hành đo vẽ, định giá, nhận thức pháp luật còn hạn chế nên việc

cung cấp chứng cứ bảo vệ quyền lợi của đương sự chưa được đầy đủ. Nhiều trường

hợp phải làm văn bản gửi cơ quan chuyên môn, Ủy ban nhân dân để thu thập chứng

cứ, xác định nguồn gốc, quá trình sử dụng nhà, đất, nhưng các cơ quan chuyên môn

chậm trả lời, hoặc có trả lời nhưng không đầy đủ phải yêu cầu bổ sung, dẫn đến kéo

dài vụ án. Trong thời gian gần đây, phát sinh tranh chấp quan hệ vay tài sản nhưng

việc vay này các đương sự không lập hợp đồng vay mà lập hợp đồng mua bán nhà

hoặc đất. Quá trình giải quyết loại án này rất phức tạp do tính chất phức tạp về chứng

cứ của vụ án. Hoặc các vụ án tranh chấp tài sản sản là nhà đất giữa cha mẹ với con cái

hoặc tranh chấp tài sản giữa vợ chồng. Đối với các vụ án bị cấp giám đốc thẩm hoặc

phúc thẩm giao cấp sơ thẩm giải quyết lại gặp rất nhiều khó khăn trong việc thu thập

chứng cứ, có trường hợp đương sự đã thi hành án, có trường hợp bên được thi hành án

57

đã bán nhà cho người khác nên khi tiến hành giải quyết lại việc mời đương sự, thu

thập chứng cứ rất khó khăn. Bên cạnh đó, ở Hà Nội, theo báo cáo tổng kết của Tòa án,

các tranh chấp dân sự chủ yếu là tranh chấp đất đai, hợp đồng vay tài sản, về quyền sở

hữu, đặc biệt xuất hiện tranh chấp hợp đồng giữa chủ đầu tư, Ban quản lý và người dân

trong khu chung cư (BC số 1592/BC-TA ngày 12/11/2015 của TAND TP. Hà Nội).

Năm 2014, hai cấp TAND TP. Hà Nội thụ lý 3.307 vụ án dân sự, tăng 185 vụ, đã giải

quyết 2.940 vụ, tăng 129 vụ so với năm 2013, đạt tỷ lệ 89% số vụ án đã thụ lý. Các vụ

án dân sự chiếm tỷ lệ cao là tranh chấp đất đai, hợp đồng vay tài sản, tranh chấp về

quyền sở hữu (BC số 2158/BC-VP ngày 3/11/2014 của TAND TP. Hà Nội), ... [54].

Tại một số địa phương khác: Theo Báo cáo tổng kết của TAND tỉnh Sơn La, trong

năm 2015, việc giải quyết tranh chấp về HĐCNQSDĐ tại cấp sơ thẩm còn sai chiếm tỷ

lệ không nhỏ. Các tranh chấp này khi bị kháng cáo lên TA cấp phúc thẩm tại Sơn La

phải ra quyết định sửa bản án, quyết định do cấp sơ thẩm sai chiếm 50% tổng số tranh

chấp về HĐCNQSDĐ (9/18 vụ án); hủy bản án, quyết định sơ thẩm để đình chỉ chiếm

16,7% (3/18 vụ án); hủy bán án, quyết định sơ thẩm để xét xử lại chiếm 11.1% (2/18

vụ án); còn lại là giữ nguyên bản án, quyết định thẩm 22,2% (4/18 vụ án). Con số

thống kê trên cho thấy, Tòa án sơ thẩm giải quyết tranh chấp còn chưa được triệt để và

hiệu quả, dẫn đến tranh chấp vẫn còn xảy ra [100]. Ngoài ra còn có nguyên nhân khác

là do Tòa án cấp sơ thẩm khi tuyên HĐCNQSDĐ vô hiệu nhưng lại không giải quyết

hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Điều này chưa thực sự bảo đảm bảo được quyền, lợi

ích hợp pháp của các đương sự, dẫn đến tranh chấp kéo dài, gây tốn kém về tiền bạc và

bức xúc cho người dân [52]. Theo Báo cáo số 48/2015/BC-TA ngày 30/6/2015 của

TAND thị xã Sông Cầu, Phú Yên, tranh chấp quyền sử dụng đất trong 6 tháng đầu

năm 2015 là 32 vụ, chiếm tỷ lệ 31,7% số án thụ lý, tranh chấp đòi lại tài sản liên quan

đến đất đai là 09 vụ, chiếm 9% số án thụ lý. Báo cáo tổng kết của TAND TP. Cần Thơ

(BC số 92-BC/2013/TA ngày 5/11/2013) các tranh chấp liên quan đến đất đai năm

2012 là 863 vụ, năm 2013 là 940 vụ. Nhiều vụ tranh chấp xảy ra trong thân tộc. Theo

đánh giá của ngành Toà án, nguyên nhân sâu xa dẫn đến tranh chấp là do giá trị đất

ngày càng biến động, nguyên nhân trực tiếp là do có thể trước đây cấp giấy đại trà, đo

đạc không chính xác, ranh giới, mốc giới giữa các khu đất liền kề không phân định rõ,

bị lấn chiếm, hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cho thuê, cho tặng, cho mượn

không chặt chẽ, rõ ràng. Hợp đồng vi phạm một trong các điều kiện trên đều có thể

58

dẫn đến hậu quả pháp lý hợp đồng vô hiệu. Tuy nhiên, có một số trường hợp hợp đồng

vi phạm các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, nhưng căn cứ thực tiễn và đảm bảo

quyền lợi cho người sử dụng, tôn tạo tài sản trên đất, Toà án vẫn xem xét công nhận

hợp đồng có hiệu lực trên thực tế. Tại Đồng Nai, trong 10 tháng (từ tháng 12-2018 đến

tháng 9-2019), số vụ án dân sự tòa án nhân dân 2 cấp thụ lý mới gần 3,3 ngàn vụ (tăng

gần 800 vụ so với cùng kỳ năm 2019). Trong đó, có khoảng 2,2 ngàn vụ án dân sự liên

quan đến đất đai. Tuy nhiên mới có 500/khoảng 2,2 ngàn vụ án dân sự liên quan đến

đất đai đã được giải quyết [101]. Tình hình thi hành án Theo Báo cáo số 4043/BTP-

TCTHADS ngày 3/11/2015 của Tổng Cục thi hành án dân sự, năm 2015, toàn quốc có

737 bản án, quyết định Tòa án tuyên không rõ, có sai sót tương ứng với 775 quyết định

thi hành án với số tiền phải thi hành án là hơn 479 tỷ đồng và có 216 trường hợp thực

hiện nghĩa vụ liên quan đến tài sản là hiện vật, hành vi 126 như: Trả lại nhà, quyền sử

dụng đất, buộc thực hiện hoặc không thực hiện hành vi, bản án tuyên không rõ về đối

tượng thực hiện nghĩa vụ hoặc nội dung nghĩa vụ phải thực hiện. Thông qua việc rà

soát, thống kê lại kết quả tổng hợp về các bản án tuyên không rõ, có sai sót, khó thi

hành án, chúng tôi nhận thấy ¾ trong số này liên quan đến quyền sử dụng đất, trong đó

½ các bản án có liên quan đến quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở. Để khắc

phục tình trạng án tuyên không rõ ràng, gây khó khăn cho công tác thi hành án dân sự,

các Tòa án đã chủ động tăng cường sự phối hợp với Viện kiểm sát và Cơ quan thi hành

án dân sự cùng cấp rà soát các bản án dân sự chưa thi hành. Ví dụ, năm 2012, với việc

thu thập chứng cứ, xem xét kỹ thực địa trong quá trình giải quyết và chú trọng việc rà

soát bản án trước khi ban hành, số lượng các bản án tuyên không rõ ràng, gây khó

khăn cho công tác thi hành án dân sự đã giảm rõ rệt (600 trường hợp). Năm 2013, các

Tòa án đã giải thích, đính chính 650 bản án, kháng nghị 12 bản án do tuyên không rõ

ràng, giảm gần 40% so với năm 2012. Những năm tiếp theo, các thiếu sót trên đã được

khắc phục cơ bản và hầu như không được đề cập trong báo cáo tổng kết của ngành

Tòa. Năm 2016, theo Báo cáo số 4489/BTP-TCTHADS ngày 16/12/2016 của Tổng

Cục Thi hành án dân sự, toàn quốc có 583 bản án, quyết định Tòa án tuyên không rõ,

khó thi hành tương ứng với 637 quyết định thi hành án với số tiền phải thi hành là

1.820 tỷ đồng và có 145 trường hợp thực hiện nghĩa vụ liên quan đến tài sản là hiện

vật, hành vi như: Trả lại nhà, quyền sử dụng đất, buộc thực hiên hoặc không thực hiện

hành vi, bản án tuyên không rõ về đối tượng thực hiện nghĩa vụ hoặc nội dung nghĩa

59

vụ phải thực hiện, ... So với năm 2015, tổng số bản án, quyết định của Tòa án tuyên

không rõ, có sai sót, khó thi hành đã giảm đi đáng kể. Tính đến thời điểm 30/9/2016,

có 12 tỉnh không còn bản án, quyết định Tòa án tuyên không rõ, khó thi hành.

*Nguyên nhân gây khó khăn trong quá trình áp dụng pháp luật về hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất:

Nguyên nhân khách quan: Tranh chấp đất đai ở nước ta phát sinh có nguồn gốc

sâu xa do lịch sử để lại. Ở miền Bắc, sau Cách mạng tháng 8 và sau năm 1953, Đảng

và Chính phủ đã tiến hành cải cách ruộng đất, xóa bỏ chế độ chiếm hữu ruộng đất của

thực dân, phong kiến, thiết lập quyền sở hữu ruộng đất cho người nông dân. Năm

1960, thông qua con đường hợp tác hóa nông nghiệp, ruộng đất của người nông dân

được đưa vào làm tư liệu sản xuất chung trở thành sở hữu tập thể, do đó tình hình sử

dụng đất đai tương đối ổn định. ở miền Nam, sau hai cuộc kháng chiến chống ngoại

xâm tình hình sử dụng đất đai có nhiều diễn biến phức tạp hơn.

Trong chín năm kháng chiến, Chính phủ đã tiến hành chia ruộng đất cho người

nông dân hai lần vào các năm 1949 – 1950 và năm 1954, nhưng đến năm 1957, ngụy

quyền Sài gòn đã thực hiện cải cách điền địa, thực hiện việc “truất hữu” nhằm xóa bỏ

thành quả của cách mạng, gây ra những xáo trộn về quyền quản lý ruộng đất của người

nông dân. Sau khi thống nhất đất nước, năm 1975, Nhà nước đã tiến hành hợp tác hóa

nông nghiệp, đồng thời xây dựng hàng loạt các lâm trường, nông trường, trang trại.

Những tổ chức đó bao chiếm quá nhiều diện tích đất nhưng sử dụng lại kém hiệu quả.

Đặc biệt, qua hai lần điều chỉnh ruộng đất vào các năm 1977 – 1978 và năm 1982-

1983, với chính sách chia cấp đất theo kiểu bình quân, “cào bằng” đã dẫn tới những

xáo trộn lớn về ruộng đất, về ranh giới, số lượng và mục đích sử dụng đất đai.

Khi đất nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường với sự thay đổi cơ chế quản

lý làm cho đất đai thì đất đai ngày càng trở nên có giá trị.

Dưới góc độ kinh tế, đất đai được coi như một loại hàng hóa trao đổi trên thị

trường theo quy luật cung cầu, quy luật giá trị. Đây là quy luật tự nhiên, nhưng đối với

đất lại không được thừa nhận một cách dễ dàng ở nước ta trong một thời gian khá dài.

Do vậy Nhà nước chưa kịp thời có các chính sách để điều tiết và quản lý có

hiệu quả. Từ khi nhà, đất trở nên có giá trị cao đã tác động đến tâm lý của nhiều người

dẫn đến tình trạng tranh chấp, đòi lại nhà, đất mà trước đó đã bán, cho thuê, cho mượn,

đã bị tịch thu hoặc giao cho người khác sử dụng hoặc khi thực hiện một số chính sách

60

về đất đai ở các giai đoạn trước đây mà không có các văn bản xác định việc sử dụng

đất ổn định của họ.

Nguyên nhân chủ quan có thể nhắc đến như:

- Về cơ chế quản lý đất đai

Trong thời gian qua, công tác quản lý nhà nước về đất đai còn bị buông lỏng,

nhiều sơ hở, có khi phạm sai lầm, giải quyết tùy tiện, sai pháp luật.

Trong cơ chế quản lý tập trung, kế hoạch hóa cao độ, Nhà nước phân công,

phân cấp cho quá nhiều ngành, dẫn đến việc quản lý đất đai thiếu chặt chẽ, nhiều sơ

hở.

Có thời kỳ mỗi loại đất do một ngành quản lý dẫn đến việc tranh chấp về đất

thuộc quyền quản lý của nhiều ngành khác nhau.

Trong cơ chế thị trường, Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch

chung, có sự phân công, phân cấp trách nhiệm quản lý đất đai khá rõ.

Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn tồn tại nhiều sai phạm, non kém về trình độ

quản lý của đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý đất đai. Điều này góp phần làm xuất

hiện nhiều tranh chấp đất đai phức tạp, khó giải quyết.

- Về công tác cán bộ công chức thực hiện công vụ liên quan đến đất đai

Một bộ phận cán bộ, công chức được giao nhiệm vụ quản lý đất đai đã thực

hiện không tốt nhiệm vụ được giao, thiếu gương mẫu, lạm dụng chức quyền, vì lợi ích

riêng tư, bị kẻ xấu lợi dụng để “đục nước béo cò”, thực hiện những âm mưu đen tối,

gây mất ổn định xã hội.

Lợi dụng chủ trương điều chỉnh ruộng đất, tổ chức lại sản xuất theo cơ chế mới,

một số cán bộ, đảng viên lợi dụng sơ hở trong các chế độ, chính sách đất đai của Nhà

nước và dựa vào chức quyền để chiếm dụng đất đai trái phép, gây bất bình trong nhân

dân.

Đặc biệt, ở những nơi nội bộ mất đoàn kết thì lại lấy vấn đề đất đai làm phương

tiện để đấu tranh với nhau, một số phần tử xấu lợi dụng cơ hội này để bao chiếm đất

đai hoặc kích động gây chia rẽ nội bộ và gây mất ổn định về tình hình chính trị- xã hội,

làm mất uy tín của tổ chức Đảng và chính quyền.

- Về công tác lãnh đạo, chỉ đạo

Công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc giải quyết tranh chấp đất đai ở nhiều nơi, nhiều

lúc còn hữu khuynh, mất cảnh giác. Chẳng những hồ sơ đất đai không đầy đủ, mà việc

61

đăng ký nhân khẩu, hộ khẩu ở nông thôn cũng chưa chặt chẽ, kẻ xấu có điều kiện để

hoạt động dễ dàng.

- Về đường lối chính sách, pháp luật về đất đai

Chính sách đất đai và các chính sách khác có liên quan đến đất đai chưa đồng

bộ, có mặt không rõ ràng và đang còn biến động.

Thực tế áp dụng các chính sách đất đai còn tùy tiện dẫn đến tình trạng: Người

có khả năng sản xuất nông nghiệp thì thiếu ruộng đất, ngược lại, người có ruộng lại

không có khả năng hoặc nhu cầu sản xuất, để đất đai hoang hóa hoặc sử dụng đất kém

hiệu quả.

Bên cạnh đó, việc Nhà nước chia, tách, nhập hoặc thành lập mới những đơn vị

hành chính trong những năm gần đây dẫn đến việc phân địa giới hành chính không rõ

ràng, cụ thể làm cho tình hình tranh chấp đất đai ngày càng phức tạp và gay gắt hơn.

- Về công tác tuyên truyền, giáo dục và phổ biến pháp luật

Công tác tuyên truyền, giáo dục và phổ biến pháp luật đất đai chưa được coi

trọng, làm cho nhiều văn bản pháp luật đất đai của Nhà nước chưa được phổ biến sâu

rộng trong nhân dân.

Tuy nhiên, việc tranh chấp đất đai ở mỗi địa phương khác nhau còn có những

nguyên nhân đặc thù và việc tìm ra những nguyên nhân đó phải căn cứ vào thực tế sử

dụng đất, và phong tục tập quán của từng địa phương để xây dựng được những giải

pháp tốt nhất nhằm giải quyết có hiệu quả từng vụ tranh chấp. Song trên thực tế khía

cạnh này chưa được các cơ quan nhà nước chú trọng, xem xét

2.2.2. Một số khó khăn vướng mắc cụ thể đối với tranh chấp hợp đồng

chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong giai đoạn 2010 – 2020 ở Việt Nam

Để làm sáng tỏ các nội dung phân tích thực trạng vướng mắc của pháp luật hiện

hành về HĐCNQSDĐ, nhóm tác giả xin đưa ra một số vụ án cụ thể như sau:

Vụ việc thứ nhất:

Theo đơn khởi kiện ngày 01/4/2016 và quá trình giải quyết vụ án ông Trần Văn

H và bà Cao Thị Q trình bày: Vào ngày 09/02/2005, vợ chồng ông Trần Văn H có

nhận chuyển lại của bà Lâm Thị C một thửa đất khoảng 8000m2 với số tiền là

30.000.000đồng, khi mua bán có viết giấy tay sang nhượng, thửa đất chuyển nhượng

nằm trong diện tích 13.000m2 thuộc GCNQSDĐ số 115 cấp ngày 02/01/1997, đứng

tên ông Quách Đại V (ông V là người bán đất cho ông Quách Xuân H, sau đó ông H

62

bán cho bà C). Do ông V đang thế chấp GCNQSDĐ tại Ngân hàng để vay vốn nên bà

C không tách sổ cho vợ chông ông H được, vì khi bán đất bà C thỏa thuận khi nào ông

V lấy GCNQSDĐ ra thì bà C sẽ làm thủ tục, tách sổ sang tên cho vợ chồng ông H.

Bị đơn bà Lâm Thị C trình bày: Vào năm 1999 ông Quách Xuân H chuyển

nhượng thửa đất khoảng 8000m2 cho bà C với giá 04 cây vàng, khi chuyển nhượng có

làm giấy tay, hiện giấy đã bị thất lạc, bà C đã nhận đất và canh tác, nhưng do khi đó

GCNQSDĐ đứng tên ông Quách Đại V đang thế chấp tại Ngân hàng nên chưa sang

tên cho bà C. Đến năm 2005 bà C sang nhượng lại thửa đất trên cho ông Trần Văn H

và bà Cao Thị Q, khi mua bán có làm giấy viết tay thỏa thuận khi nào ông V lấy được

GCNQSDĐ ra thì bà C sẽ làm thủ tục tách số cho ông H và bà Q. Nhưng đến nay ông

V đã lấy sổ ra nhưng không đưa cho bà C nên chưa tách sổ sang tên cho ông H và bà

Q được.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Quách Xuân H trình bày: Vào năm

1997, ông nhận chuyển nhượng lại thửa đất từ ông Quách Đại V (ông V là em ruột của

ông H) với số tiền là 03 cây vàng, khi nhận chuyển nhượng có một số cây ăn trái đang

cho thu hoạch. Năm 1999 ông chuyển nhượng lại cho bà C. Khi chuyển nhượng

GCNQSDĐ của ông V đang thế chấp tại Ngân hàng nên chưa sang tên được. Hai bên

có làm giấy tay nhưng đã bị thất lạc. Đến năm 2005 bà C sang nhượng lại cho vợ

chồng ông H, bà Q, tại phiên tòa ông Quách Xuân H nhất trí với đơn khởi kiện của ông

H và bà Q.

Ông Quách Đại V và bà Nguyễn Thị H có đơn phản tố trình bày: Vợ chồng ông

V và bà H có một thửa đất đã được cấp GCNQSDĐ có diện tích 13.000m2. Vào năm

1997 vợ chồng ông đi làm ăn xa không thể canh tác nên có cho ông Quách Xuân H

mượn khoảng 8000m2 để cách tác và không có thỏa thuận thời hạn trả đất. Sau đó, ông

Quách Xuân H sang nhượng cho bà C; bà C sang nhượng lại cho ông H bà Q thì ông

không có biết. Đến năm 2015 ông Quách Đại V bà H lấy GCNQSDĐ từ Ngân hàng ra

và ký hợp đồng chuyển nhượng diện tích đất trên cho bà Bùi Thị H thì mới biết ông H

và bà Q đang canh tác trên đất. Do ông H bà Q đang sử dụng phần đất 8000m2 của ông

nên nay ông yêu cầu ông H bà Q trả lại phần đất trên cho ông, không công nhận giao

dịch CNQSDĐ giữa bà C với ông H và bà Q, về hậu quả pháp lý ông đồng ý xử lý

theo quy định của pháp luật.

Qua vụ việc nêu trên có hai ý kiến không thống nhất:

63

Ý kiến thứ nhất cho rằng, Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông H, bà Q,

bị đơn bà C, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Quách Xuân H đều thống

nhất nội dung vào năm 2005, vợ chồng ông H, bà Q có nhận chuyển nhượng của bà

Lâm Thị C diện tích đất tranh chấp có diện tích đo thực tế là 8000m2, với số tiền

30.000.000đồng. Thửa đất chuyển nhượng nằm trong tổng diện tích 13.000m2 thuộc

GCNQSDĐ số 115 do UBND huyện P cấp ngày 02/01/1997 đứng tên ông Quách Đại

V. Nguồn gốc đất này do ông Quách Xuân H nhận chuyển nhượng của ông V vào

khoảng năm 1997, đến năm 1999 ông Quách Xuân H sang nhượng thửa đất này cho bà

C. Do ông Quách Đại V đã thế chấp tại Ngân hàng để vay vốn nên bà C không thể

tách sổ sang tên cho vợ chồng ông H và bà Q được, bà C thỏa thuận khi nào ông

Quách Đại V lấy GCNQSDĐ ra thì bà C sẽ tách sổ sang tên cho vợ chồng ông H. Tuy

nhiên, theo lời trình bày của vợ chồng ông Quách Đại V thì vợ chồng ông V đi làm ăn

xa nên năm 1997, ông V có cho anh trai là Quách Xuân H mượn diện tích đất nêu trên

để canh tác. Khi cho mượn đất không làm giấy tờ gì, cũng không thỏa thuận trả. Sau

khi mượn đất thì ông Quách Xuân H tự ý sang nhượng thửa đất trên cho bà C, và bà C

sang nhượng lại cho vợ chồng ông H, bà Q thì ông V không biết. Như vậy, về nguồn

gốc diện tích đất tranh chấp có diện tích thực tế là 8000m2 nằm trong tổng số diện tích

năm 2006 đo chính quy với tổng diện tích là 12.000m2. Việc ông Quách Đại V và ông

Quách Xuân H thỏa thuận mua bán không có lập biên bản với giá 03 cây vàng vào

năm 1997. Ông Quách Xuân H nhận đất và quản lý, sử dụng cho đến khi chuyển

nhượng lại cho bà C vào năm 1999 với giá 04 cây vàng. Vợ chồng ông Quách Đại V

cho rằng chỉ cho ông Quách Xuân H mượn đất chứ không phải chuyển nhượng vì vợ

chồng ông Quách Đại V đi làm ăn xa không canh tác được và việc ông Quách Xuân H

chuyển nhượng cho bà C, bà C chuyển nhượng lại cho vợ chông ông H bà Q không

biết là không đúng. Vì theo kết quả xác minh tại địa phương thì từ năm 2010 cho đến

nay thì vợ chồng ông Quách Đại V không có đăng ký tạm vắng hay chuyển khẩu đi

khỏi địa phương. Ngoài ra, vợ chồng ông V cũng không cung cấp được chứng cứ gì về

việc đi làm ăn xa từ năm 1997 cho đến năm 2015. Hơn nữa, thời gian bà C canh tác và

sau này vợ chông ông H bà Q cũng canh tác trên phần đất giáp ranh với đất của ông V.

Đến năm 2015 ông V thanh lý các cây trên đất. Như vậy, phần diện tích còn lại trong

thửa đất vẫn do vợ chồng ông Quách Đại V quản lý, sử dụng nên ông V cho rằng

không biết việc ông Quách Xuân H chuyển nhượng đất cho bà C và bà C chuyển

64

nhượng lại đất cho vợ chồng ông H bà Q là không hợp lý. Do đó, có đủ cơ sở xác định

vào năm 1997, vợ chồng ông Quách Đại V có chuyển nhượng cho ông Quách Xuân

H diện tích 8000m2, đến năm 1999, ông Quách Xuân H chuyển nhượng lại cho bà C.

Năm 2005, bà C chuyển nhượng lại cho vợ chồng ông H, bà Q. Nhưng về hình thức

hợp đồng mặc dù tại thời điểm CNQSDĐ giữa ông Quách Đại V với ông Xuân H, ông

Quách Xuân H với bà C, giữa bà C với vợ chồng ông H, bà Q đều không lập thành văn

bản hoặc lập văn bản nhưng không có công chứng, chứng thực theo quy định là vi

phạm quy định tại các Điều 400, Điều 691 BLDS năm 1995; Điều 106 Luật đất đai

năm 2003. Về nội dung mặc dù thời điểm ông Quách Xuân H, bà C, ông H, bà Q nhận

chuyển nhượng thì GCNQSDĐ đứng tên ông V và đang thế chấp tại Ngân hàng là vi

phạm về nội dung. Đến năm 2015 thì ông V mới lấy lấy CNQSDĐ từ Ngân hàng về.

Nhưng sau khi nhận chuyển nhượng đất ông Quách Xuân H đã quản lý, sử dụng từ

năm 1997. Sau đó, chuyển nhượng lại cho bà C năm 1999; năm 2005 bà C chuyển

nhượng lại cho ông H và bà Q. Phía ông Quách Xuân H, bà C, ông H bà Q đều quản

lý, sử dụng ổn định, trồng cây lâu năm mà không có ai tranh chấp. Ông Quách Đại V

có mặt tại địa phương và biết việc này nhưng không có ý kiến phản đối. Nên cần căn

cứ điểm b.3 tiểu mục 2.3 Nghị quyết số 02/2004 ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm

phán Tòa án nhân dân tối cao (gọi tắt là Nghị quyết 02) để công nhận hợp đồng

CNQSDĐ giữa ông Quách Đại H với bà C; bà C với ông H bà Q.

Ý kiến thứ hai cho rằng, bởi vì, khi nhận CNQSDĐ ông Quách Xuân H không

có bất cứ các giấy tờ hay chứng cứ gì để chứng minh việc mình đã sang nhượng phần

đất trên của ông Quách Đại V. Như vậy, hợp đồng CNQSDĐ giữa ông Quách Xuân H

và vợ chồng ông Quách Đại V là vi phạm trình tự, thủ tục về CNQSDĐ được quy định

tại điểm a.6, tiểu mục 2.3 mục 2 Nghị quyết số 02 và Điều 75 Luật Đất đai năm 1993,

Điều 106 Luật Đất năm 2003, Điều 10, Điều 11 Nghị định số 17 ngày 27/3/1999 của

Chính phủ quy định việc công nhận quyền sử dụng đất và Điều 691, 692 BLDS năm

1995. Do đó, hợp đồng CNQSDĐ giữa ông Quách Xuân H và vợ chồng ông Quách

Đại V, hợp đồng CNQSDĐ giữa ông Quách Xuân H và bà C, hợp đồng CNQSDĐ

giữa bà C với vợ chồng ông H bà Q là vô hiệu.

Ý kiến của nhóm tác giả đồng ý với ý kiến thứ hai, bởi lẽ, phần diện tích

8000m2, ông Trần Văn H, bà Cao Thị Q cho rằng là nhận chuyển nhượng lại của bà

Lâm Thị C là vi phạm về trình tự thủ tục CNQSDĐ. Vì, phần diện tích 8000m2 đất

65

nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 115 do UBND huyện P cấp ngày

02/01/1997, đứng tên ông Quách Đại V. Nhưng ý kiến thứ nhất lại cho rằng cần căn cứ

điểm b.3 tiểu mục 2.3 Nghị quyết số 02 để công nhận hợp đồng CNQSDĐ đất giữa

ông Quách Xuân H với vợ chồng ông V là không đúng.

Bởi vì, điểm b.3 tiểu mục 2.3 Nghị quyết số 02 quy định: “Đối với hợp đồng

chuyển nhượng quyền sử dụng đất vi phạm điều kiện được hướng dẫn tại điểm a.4 và

điểm a.6 tiểu mục 2.3 mục 2 này, nếu sau khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng, bên

nhận chuyển nhượng đã trồng cây lâu năm, đã làm nhà kiên cố... và bên chuyển

nhượng không phản đối và cũng không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi

phạm hành chính theo các quy định của Nhà nước về xử lý vi phạm hành chính trong

lĩnh vực đất đai, thì Toà án công nhận hợp đồng. Nếu bên nhận chuyển nhượng chỉ

làm nhà trên một phần đất, thì Toà án công nhận phần hợp đồng chuyển nhượng

quyền sử dụng phần đất có nhà ở và hủy phần hợp đồng đối với diện tích đất còn lại,

buộc bên nhận chuyển nhượng giao trả phần đất đó cho bên chuyển nhượng, trừ

trường hợp việc giao trả không bảo đảm mục đích sử dụng cho cả hai bên giao kết

hợp đồng, đồng thời buộc các bên thanh toán cho nhau phần chênh lệch”. Như vậy,

đây chỉ là hướng dẫn về trường hợp hợp đồng CNQSDĐ vi phạm 2 điều kiện về giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất và điều kiện hợp đồng được lập thành văn bản nhưng

chưa được công chứng hoặc chứng thực của cơ quan có thẩm quyền. Chỉ áp dụng

trong trường hợp như: “Đất của bà C đứng tên quyền sở hữu mà CNQSDĐ cho vợ

chồng ông Trần Văn H bà Cao Thị Q nhưng hợp đồng không có công chứng, chứng

thực”. Nhưng trong trường hợp này ông Quách Xuân H cho rằng năm 1997 sang

nhượng của ông Quách Đại V nhưng không có giấy tờ để chứng minh cho việc sang

nhượng; còn ông Quách Đại V không thừa nhận sang nhượng mà chỉ cho ông Quách

Xuân H mượn đất. Do vậy, hợp đồng CNQSDĐ giữa ông Quách Xuân H và ông

Quách Đại V đã vi phạm Điều 75 Luật Đất đai năm 1993, Điều 691, 692 BLDS năm

1995 quy định về trình tự, thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất;

Điều 75 Luật đất đai năm 1993 quy định:“Việc chuyển nhượng phải được cơ

quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép. Người nhận đất phải sử dụng đúng mục

đích”.

Điều 691, 692 BLDS năm 1995 quy định về hình thức chuyển quyền sử dụng

đất: “Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp quyền sử dụng đất theo quy

định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai được thực hiện thông qua hợp đồng. Hợp

đồng chuyển quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản có chứng thực của Uỷ

66

ban nhân dân cấp có thẩm quyền…. Thủ tục chuyển quyền sử dụng đất. Việc chuyển

quyền sử dụng đất phải được làm thủ tục và đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm

quyền”.

Như vậy, hợp đồng CNQSDĐ giữa ông Quách Đại V và ông Quách Xuân H đã

vi phạm dẫn đến việc ông Quách Xuân H sang nhượng lại cho bà Lâm Thị C (không

có giấy tờ) là vi phạm; bà C sang nhượng lại cho ông Trần Văn H bà Cao Thị Q (chỉ

có giấy viết tay, không có công chứng, chứng thực) lại tiếp tục vi phạm Điều 75 Luật

Đất đại năm 1993, Điều 106 Luật Đất đai năm 2003, Điều 691,692 BLDS năm 1995

và Điều 10,11 Nghị định số 17/NĐ-CP ngày 27/3/1999 của Chính phủ quy định về

CNQSDĐ.

Do vậy, không thể tuyên công nhận hợp đồng CNQSDĐ giữa bà Lâm Thị C với

vợ chồng ông Trần Văn H và bà Cao Thị Q ngày 09/02/2005 (thể hiện bằng giấy sang nhượng đất viết tay) đối với diện tích 8000m2. Bởi vì, phần diện tích đất chuyển

nhượng nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 115 do UBND huyện P cấp

ngày 02/01/1997, đứng tên ông Quách Đại V nên không thể vi phạm điều kiện được

hướng dẫn tại điểm a.4, tiểu mục 2.3 mục 2 của Nghị quyết số 02 để công nhận hợp

đồng.

Điểm a.4, tiểu mục 2.3 mục 2 của Nghị quyết số 02 quy định: “Đất chuyển

nhượng đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo

Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003”.

Nhưng ông Quách Xuân H không có bất cứ các giấy tờ hay chứng cứ gì để

chứng minh việc ông đã sang nhượng phần đất trên của ông Quách Đại V. Và hợp

đồng CNQSDĐ giữa ông Quách Xuân H với bà C và hợp đồng bà C chuyển nhượng

QSDĐ cho vợ chồng ông H bà Q đã vi phạm điều kiện tại điểm a.6, tiểu mục 2.3 mục

2 Nghị quyết số 02.

Điểm a.6, tiểu mục 2.3 mục 2 Nghị quyết số 02 quy định: “Hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất được lập thành văn bản có chứng nhận của Công chứng

nhà nước hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền”.

Như vậy, ý kiến thứ nhất cho rằng cần căn cứ điểm b.3 tiểu mục 2.3 Nghị quyết

02 để công nhận hợp đồng CNQSDĐ giữa ông Quách Xuân H và vợ chồng ông Quách

Đại V và từ đó làm căn cứ để công nhận hợp đồng CNQSDĐ giữa ông Quách Xuân H

với bà C và giữa bà C với vợ chồng ông H bà Q là áp dụng không đúng pháp luật. Vi

phạm Điều 75 Luật Đất đai năm 1995, Điều 106 Luật Đất đai năm 2003; Điều 10,

Điều 11 Nghị định số 17/NĐ-CP ngày 27/3/1999 của Chính phủ quy định việc công

67

nhận quyền sử dụng đất và Điều 691, 692 BLDS năm 1995 quy đình về trình tự, thủ

tục CNQSDĐ.

Ngoài ra, từ khi sang nhượng cho đến khi tranh chấp thì ông Quách Xuân H

không có ý kiến gì để cho ông Quách Đại V làm thủ tục tách sổ. Đồng thời, bà Lâm

Thị C, ông Trần Văn H, bà Cao Thị Q đều biết phần diện tích đất chuyển nhượng của

ông Quách Đại V đang đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và

GCNQSDĐ ông Quách Đại V đang thế chấp tại Ngân hàng để đảm bảo cho việc vay

tiền từ ngày 24/08/2004, đến hạn ngày 24/6/2007. Đến ngày 28/9/2012 ông Quách Đại

V tiếp tục thế chấp GCNQSDĐ để đảm bảo cho việc vay tiền tại Ngân hàng nhưng

ông Quách Xuân H, bà C và vợ chông ông H bà Q đều biết đất của ông Quách Đại V

đang cầm cố, thế chấp tại Ngân hàng. Nhưng khi sang nhượng bà Lâm Thị C, ông

Trần Văn H, bà Cao Thị Q cũng không hỏi ý kiến của ông Quách Đại V có đồng ý để

cho ông Quách Xuân H sang nhượng không để ông Quách Đại V có đồng ý làm thủ

tách sổ hay không? nhưng vẫn sang nhượng. Đến ngày 30/9/2013, đến hạn ông V đã

thanh toán hết số tiền vay. Như vậy, hợp đồng CNQSDĐ giữa ông Quách Đại V với

ông Quách Xuân H, giữa ông Quách Xuân H với bà Lâm Thị C, giữa bà Lâm Thị C

với vợ chồng ông Trần Văn H bà Cao Thị Q là vi phạm pháp luật các bên đều có lỗi

nên cần phải tuyên vô hiệu.

Vụ việc thứ 2: A nhận chuyển nhượng của B một phần đất có diện tích 100m2 (loại đất trồng

cây lâu năm, tại đô thị thuộc tỉnh Hậu Giang). Hai bên đã làm thủ tục công chứng theo

quy định nhưng chưa đăng ký sang tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các

bên đã nhận đủ tiền và giao đất. Nay A khởi kiện ra Tòa án và yêu cầu công nhận hợp

đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. B cũng thống nhất với yêu cầu của A. Theo

Điều 6 của Quyết định số 01/2018/QĐ-UBND ngày 11/01/2018 của UBND tỉnh Hậu

Giang ban hành quy định diện tích tối thiểu được phép tách thửa đối với đất nông

nghiệp, đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, hạn mức công nhận quyền sử dụng

đất nông nghiệp do tự khai hoang cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thì diện tích tối thiểu được phép tách thửa trong trường hợp này là 200m2. Vấn đề đặt

ra là do diện tích nhận chuyển nhượng nhỏ hơn diện tích tách thửa tối thiểu theo quy

định của UBND tỉnh[2] thì Tòa án có được công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền

sử dụng đất theo sự thống nhất của các bên đương sự hay không, khi hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất đã đảm bảo các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo

quy định tại Điều 117 của Bộ luật dân sự năm 2015.

68

Hiện nay, vấn đề này vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau nên thực tiễn

áp dụng không thống nhất, cụ thể như sau:

Quan điểm thứ nhất: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị vô hiệu.

Bởi lẽ, khoản 2 Điều 29 của Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ

quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai quy định: “Không được công

chứng, chứng thực, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và

tài sản khác gắn liền với đất và không được làm thủ tục thực hiện các quyền của người

sử dụng đất đối với trường hợp tự chia tách thửa đất đã đăng ký, đã được cấp Giấy

chứng nhận thành hai hoặc nhiều thửa đất mà trong đó có ít nhất một thửa đất có diện

tích nhỏ hơn diện tích tối thiểu theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.”

Điều 123 BLDS năm 2015 quy định về Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm

điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội như sau: “Giao dịch dân sự có mục đích, nội

dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu. Điều cấm của luật là

những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất

định”. Như vậy, đối chiếu các quy định trên, trường hợp diện tích chuyển nhượng nhỏ

hơn so với quy định về diện tích tối thiểu được tách thửa thuộc trường hợp vi phạm

điều cấm của pháp luật được quy định tại Điều 123 BLDS năm 2015. Do đó, hợp đồng

chuyển nhượng quyền sử dụng đất sẽ bị vô hiệu theo quy định tại Điều 122 BLDS năm

2015.

Quan điểm thứ hai: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có hiệu lực.

Bởi vì, hợp đồng chuyển nhượng đảm bảo các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo

quy định tại Điều 117 của BLDS năm 2015. Hơn nữa, theo Điều 4 của Quyết định số

01/2018/QĐ-UBND ngày 11/01/2018 của UBND tỉnh Hậu Giang ban hành quy định

diện tích tối thiểu được phép tách thửa đối với đất nông nghiệp, đất sản xuất, kinh

doanh phi nông nghiệp, hạn mức công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp do tự khai

hoang cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thì có quy định các trường

hợp không áp dụng hạn mức tối thiểu được phép tách thửa theo Quy định này. Trong

đó, tại khoản 2 Điều 4 của Quyết định có quy định không áp dụng trong trường

hợp: “Tách thửa khi thực hiện: Quyết định giải quyết tranh chấp về đất đai, kết quả

hòa giải thành về tranh chấp đất đai được cơ quan có thẩm quyền công nhận; việc xử

lý nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp, bảo lãnh; quyết định giải quyết khiếu

nại, tố cáo về đất đai; Bản án hoặc Quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực;

quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án đã được thi hành; văn bản công nhận

kết quả trúng đấu giá quyền sử dụng đất phù hợp theo quy định của pháp luật.”

69

Như vậy, Quyết định của UBND cấp tỉnh quy định về giới hạn tách thửa chỉ

áp dụng trong quá trình hoạt động của UBND các cấp trong tỉnh đó, không ảnh hưởng

đến phán quyết trong các Bản án hoặc Quyết định của TAND. Nói cách khác, Tòa án

vẫn có quyền công nhận sự thỏa thuận hoặc chấp nhận yêu cầu của đương sự nếu việc

chuyển nhượng có diện tích nhỏ so với quy định của UBND. Khi Tòa án đã ban hành

Bản án hoặc Quyết định có hiệu lực thì UBND sẽ căn cứ vào Bản án hoặc Quyết định

đó để làm căn cứ tách thửa và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đương sự.

Nhóm tác giả thống nhất với quan điểm thứ nhất. Bởi lẽ, nếu Tòa án giải quyết

theo quan điểm thứ hai, tức là Tòa án được quyền công nhận hợp đồng chuyển nhượng

quyền sử dụng đất có diện tích nhỏ hơn diện tích tối thiểu theo quy định của UBND

cấp tỉnh thì quy định của UBND sẽ không còn có giá trị nữa. Khi đó, nếu người dân

muốn tách thửa với diện tích nhỏ hơn so với quy định thì chỉ cần thỏa thuận chuyển

nhượng quyền sử dụng đất với diện tích nhỏ và khởi kiện ra Tòa án để Tòa án công

nhận hợp đồng chuyển nhượng. Đây sẽ là căn cứ để UBND cấp Giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất đối với phần đất có diện tích nhỏ hơn quy định.

Nói cách khác, đây sẽ là một cách lách luật để người dân được công nhận quyền

sử dụng đất có diện tích nhỏ. Do đó, để đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của

các bên đương sự cũng như đảm bảo tính thống nhất trong quá trình vận dụng pháp

luật, nhóm tác giả thiết nghĩ cần có văn bản hướng dẫn cụ thể về vấn đề, cụ thể như

sau: đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nếu diện tích chuyển nhượng

nhỏ hơn diện tích tách thửa tối thiểu theo quy định của UBND tỉnh thì thuộc trường

hợp vi phạm điều cấm của pháp luật, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị

vô hiệu theo quy định tại Điều 122 và 123 BLDS năm 2015; Đồng thời, quy định rõ

trường hợp loại trừ theo quy định tại Điều 4 của Quyết định số 01/2018/QĐ-UBND

ngày 11/01/2018 của UBND tỉnh có nghĩa là Tòa án chỉ công nhận trường hợp có diện

tích nhỏ hơn trong các vụ án tranh chấp chia tài sản khi ly hôn hoặc chia thừa kế, chia

tài sản chung của hộ gia đình.

70

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO

HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG

QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật

Cơ sở hoàn thiện pháp luật phải xuất từ nhu cầu cần được sửa đổi, bổ sung của

chế định pháp luật đó để phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế và định hướng phát

triển triển kinh tế, xã hội của đất nước. Các cơ sở để đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp

luật về HĐCNQSDĐ bao gồm:

Một là, đường lối chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách phát

triển đất nước: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản

Việt Nam nhấn mạnh “tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách để thị

trường bất động sản vận hành thông suốt, phù hợp quy luật cung cầu nhằm khai thác,

sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả nguồn lực từ đất đai và tài sản, kết cấu hạ tầng trên đất,

ngăn ngừa đầu cơ, lãng phí ”. Quan điểm chỉ đạo của Đảng được cụ thể hóa trong các

quy định [99] pháp luật về thị trường bất động sản nói chung, giao dịch chuyển

nhượng quyền sử dụng đất ở nói riêng. Trong giai đoạn hiện nay, thị trường quyền sử

dụng đất là một trong những mục tiêu khuyến khích phát triển, bao gồm cả thị trường

sơ cấp và thị trường thứ cấp trong chính sách phát triển kinh tế đất nước của Đảng,

Nhà nước ta.

Hai là, đảm bảo mối quan hệ giữa luật chung với luật chuyên ngành, giữa luật

chuyên ngành với nhau. Theo đó, những vấn đề thuộc lĩnh vực điều chỉnh của luật

chung (BLDS), sẽ do BLDS quy định. Những vấn đề thuộc lĩnh vực điều chỉnh của

luật chuyên ngành, sẽ do pháp luật chuyên ngành quy định. Kết cấu và nội dung các

quy định pháp luật về HĐCNQSDĐ trong các văn bản QPPL hiện hành đang thể hiện

sự chồng chéo, đi ngược lại với kết cấu của các ngành luật khác. Theo đó, hợp đồng về

quyền sử dụng đất – đối tượng điều chỉnh của pháp luật đất đai, kinh doanh bất động

sản lại được quy định trong BLDS năm 2015. Bên cạnh đó, quyền sử dụng đất lại là

đối tượng điều chỉnh của nhiều ngành luật khác nhau, mỗi ngành luật có thể đề cập

đến những quan hệ pháp luật hoặc khía cạnh riêng nhưng về cơ bản vẫn khó tránh khỏi

sự trùng lặp, xung đột.

Ba là, các quy định pháp luật về HĐCNQSDĐ phải xuất phát từ bản chất của

“quyền sử dụng đất ở” trong giao dịch dân sự. Có nghĩa, cần có sự tách biệt giữa

71

“quyền sử dụng đất ở” với tư cách là “tài sản” với “hoạt động khai thác, sử dụng đất”.

Có như vậy, đối tượng hợp đồng mới được định hình cụ thể, quy định pháp luật áp

dụng đối với quyền sử dụng đất mới đảm bảo sự minh bạch, chặt chẽ và trọng tâm.

Trên cơ sở đó, quy định pháp luật liên quan đến chế độ quản lý, sở hữu quyền sử dụng

đất ở, chủ thể, quyền và nghĩa vụ của các bên trong HĐCNQSDĐ sẽ được xây dựng

phù hợp và hiệu quả hơn.

Bốn là, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn. Thông qua phân tích một số vụ án liên

quan đến HĐCNQSDĐ, xác định những tranh chấp điển hình thường gặp, những

vướng mắc trong thực tiễn xét xử và áp dụng quy định pháp luật vào việc giải quyết vụ

án, đã đặt ra các yêu cầu cần phải hoàn thiện pháp luật . Thực tiễn xét xử, vụ án kéo

dài không chỉ về thời gian, mà còn về tố tụng, phức tạp về nội dung, tình tiết, diễn

biến, ... Quy định pháp luật chỉ là hành lang pháp lý được áp dụng chung cho các tình

huống có tính chất tương tự nhau, còn mỗi vụ án gắn với quyền, lợi ích, nghĩa vụ của

mỗi cá nhân cụ thể. Do vậy, đòi hỏi hội đồng xét xử phải nhận diện được bản chất của

từng vấn đề, từng quan hệ pháp luật, chứng cứ chứng minh, ... kết hợp giữa quy định

pháp luật, thực tiễn trong quá trình giải quyết vụ án để đưa ra các phán quyết hợp lý,

hợp tình. Đối với một số vụ án tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất, phán quyết

của tòa án các cấp chưa giải quyết dứt điểm vì nhiều nguyên nhân (cả chủ quan và

khách quan), ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các bên đương sự. Điều này

cho thấy quy định pháp luật liên quan đến quan đến căn cứ xác lập quyền sử dụng đất

129 vẫn đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện, đảm bảo sức sống, sự ứng dụng và minh bạch

hơn để đảm bảo hiệu quả thực thi và áp dụng trong thực tiễn.

Năm là, xuất phát từ nhu cầu hội nhập, thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt

Nam. Trong bối cảnh kinh tế hội nhập, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức

của nhiều Tổ chức thương mại quốc tế, Hiệp định thương mại song phương và đa

phương như WTO, TPP, ASEAN, ... Xu hướng toàn cầu hoá về thương mại đang dần

dần xoá bỏ rào cản về biên giới, lãnh thổ. Do vậy, chính sách đất đai và thị trường

quyền sử dụng đất cũng cần được điều chỉnh theo hướng vừa đảm bảo giá trị tài

nguyên thiên nhiên của đất nước, vừa tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư,

trong đó có việc đảm bảo một nơi sinh sống ổn định khi các nhà đầu tư muốn hợp tác,

gắn bó lâu dài với Việt Nam. Chính sách quản lý và sử dụng đất ở vì thế cũng cần

được điều chỉnh linh hoạt phù hợp với phát triển kinh tế đất nước.

72

Xuất phát từ các cơ sở trên, đặt ra yêu cầu cần phải hoàn thiện hệ thống pháp

luật theo định hướng như sau:

- Cần phải rà soát toàn bộ các văn bản là cơ sở để thực hiện thủ tục nhận chuyển

nhượng quyền sử dụng đất để từ đó có hướng dẫn thống nhất trong cả nước, trường

hợp thiếu quy định cần phải bổ sung cho rõ ràng, tránh việc suy diễn, hiểu sai dẫn đến

áp dụng khác nhau ở mỗi địa phương.

- Cần tổ chức đầu mối liên thông các thủ tục để đảm bảo thực hiện thông suốt,

liên tục. Có thể quy định một cơ quan đầu mối tiếp nhận và luân chuyển hồ sơ giữa các

cơ quan nhà nước với nhau tạo điều kiện cho nhà đầu tư dễ liên hệ và phản ánh. Cần

nghiên cứu rút ngắn và lồng ghép các thủ tục cho nhà đầu tư. Hiện nay quy trình thủ

tục rất phức tạp, gồm nhiều bước, mỗi bước lại bao gồm nhiều hoạt động. Do đó, cần

phải nghiên cứu giảm bớt các bước thực hiện, tiết kiệm thời gian, nguồn lực cho nhà

đầu tư.

- Các quy định về thành phần hồ sơ cần nộp phải đảm bảo tính thống nhất, tránh

chồng chéo giữa các văn bản pháp luật. Do đó, cần phải sửa đổi các quy định pháp lý

hiện hành đảm bảo không làm phát sinh thêm các giấy tờ không cần thiết trong quá

trình chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất

Thứ nhất, Luật Đất đai năm 2013 phải đưa ra quy định không cho phép bên thuê

lại QSDĐ có quyền định đoạt QSDĐ khi bên cho thuê lại chưa nộp tiền thuê đất cho

Nhà nước, như đã phân tích ở trên, đây lại là quy định không hợp lý vì không thể bắt

bên thuê lại chịu trách nhiệm cho nghĩa vụ của người khác. Vì vậy, ý nghĩa của việc

đặt ra quy định này không còn. Để khắc phục các hạn chế nêu trên, theo chúng tôi, cần

chỉnh sửa Điều 149 Luật Đất đai năm 2013 theo hướng loại bỏ các quy định về việc

cho phép bên thuê lại QSDĐ có quyền định đoạt QSDĐ khi đã trả tiền thuê một lần

cho bên cho thuê lại. Thay vào đó, cho phép bên cho thuê lại nói chung và chủ đầu tư

xây dựng kết cấu hạ tầng trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu

công nghệ cao nói riêng SDĐ theo hình thức thuê đất của Nhà nước trả tiền thuê đất

hàng năm có quyền chuyển nhượng QSDĐ và các giao dịch khác như một chủ thể

SDĐ. Trong trường hợp cần khuyến khích người SDĐ theo hình thức thuê đất trả tiền

thuê một lần cho cả thời gian thuê, có thể sử dụng các biện pháp tài chính, thuế…

73

Thứ hai, bổ sung quy định khái niệm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng

đất. Như đã phân tích ở trên, nhóm tác giả cho rằng cần nghiên cứu khôi phục lại quy

định đối với từng loại hợp đồng về quyền sử dụng đất, trong đó có “Hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất”. Đồng thời, để phù hợp với các quy định pháp luật về các

loại hợp đồng chuyên ngành, hợp đồng về chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên được

quy định trong luật đất đai.

Thứ ba, Luật đất đai cần xác định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các bên trong

tranh chấp đất đai là gì để tránh làm cản trở quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Việc quy định cụ thể này sẽ giúp giải quyết tình trạng khó khăn trong việc xác định

như thế nào là đất không có tranh chấp và không ảnh hưởng rất lớn đến quyền chuyển

nhượng quyền sử dụng đất của người có quyền sử dụng đất.

Thứ tư, cần hoàn thiện các quy định về hình thức, thủ tục xác lập hợp đồng

chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Qua thực tiễn cho thấy, nhiều người dân đã gặp

không ít rắc rối khi đến cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục chuyển quyền sử

dụng đất vì mỗi nơi hiểu và áp dụng một cách khác nhau. Thông thường, sau khi Bên

chuyển nhượng và Bên nhận chuyển nhượng thực hiện hoàn tất thủ tục công chứng,

hoăc chứng thực Hợp đồng thì tiếp tục thực hiện việc đăng ký trước bạ, sang tên quyền

sử dụng đất đứng tên Bên nhận chuyển quyền tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng

đất. Vậy thời điểm có hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là khi

nào là câu hỏi không ít người thắc mắc trong quá trình thực thi pháp luật.Luật đất đai

nên quy định “việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền

của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được thực hiện theo nhu cầu

của các bên” là thuyết phục hơn vì đã khắc phục được các hạn chế trên, đồng thời

giảm chi phí (vì phí công chứng không nhỏ) cũng như rườm rà cho người dân (vì còn

phải tiến hành đăng ký nữa). Chúng ta không thể phủ nhận của việc công chứng bắt

buộc hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là cần thiết. Về mặt quy định của

pháp luật thì các giao dịch về bất động sản được công chứng sẽ đảm bảo về hình thức

theo quy định tạo điều kiện để các giao dịch đó tiếp tục được các cơ quan có thẩm

quyền thực hiện các bước tiếp theo. Việc công chứng các giao dịch về bất động sản

mang lại lợi ích cho các bên không chỉ về pháp lý mà còn về kinh tế, thương mại, hạn

chế được những ảnh hưởng, thậm chí là phá sản do những hợp đồng, giao dịch dân sự,

thương mại tiềm ẩn những rủi ro do không được công chứng. Hợp đồng, giao dịch

74

được công chứng có giá trị chứng cứ, những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao

dịch được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là

vô hiệu. Các hoạt động giao dịch được kiểm soát, hạn chế thất thu về thuế cho Nhà

nước, các tranh chấp, khiếu kiện ít xảy ra hơn, giảm gánh nặng cho Tòa án và giúp thị

trường bất động sản ổn định hơn rất nhiều. Thực ra, không có giải pháp nào mang lại

ưu điểm tuyệt đối, nhưng việc quy định công chứng, chứng thực bắt buộc như hiện nay

có nhiều nhược điểm hơn việc chuyển sang công chứng, chứng thực tự nguyện. Khi

người tham gia giao dịch có sự nghi ngờ đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử

dụng đất mà họ muốn xác lập, họ vẫn có thể yêu cầu sự trợ giúp của công chứng viên

bằng cách yêu cầu công chứng giao dịch của họ. Bởi lẽ, Luật Công chứng đã quy định

rõ “công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của

hợp đồng, giao dịch khác bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công

chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”. Hơn nữa, nếu có sự gian

lận trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì hiện nay chúng ta đã có cơ

chế để bảo vệ người ngay tình vì pháp luật dân sự đã có chế tài cho người gian lận

thông qua quy định về giao dịch vô hiệu do nhầm lẫn, do lừa dối hay do giả tạo.

Thứ năm, Luật đất đai nên quy định cụ thể điều kiện đối với từng phương thức

trong chuyển quyền sử dụng đất. Việc tách riêng các điều kiện đối với từng phương

thức chuyển quyền sử dụng đất khỏi các quy định về quyền và nghĩa vụ chung sẽ đảm

bảo người sử dụng đất có thể dễ dàng nắm được quy định mà tuân thủ thực hiện.

Ngoài ra, trong các điều kiện để quyền sử dụng đất có thể được chuyển nhượng tại

Luật đất đai thì điều kiện phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một trong

những điều kiện gây ra những khó khăn cho sự phát triển của thị trường quyền sử dụng

đất. Kể cả khi tất cả các thửa đất ở Việt Nam đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất thì điều kiện này vẫn gây ra những khó khăn nhất định. Đó là các trường hợp

chuyển nhượng một phần thửa đất, hoặc đang trong quá trình chờ lấy giấy chứng nhận

nhưng lại có nhu cầu chuyển nhượng ngay, các bên không thể công chứng để thực hiện

các giao dịch. Do đó, về điều kiện chuyển nhượng trong Luật đất đai cần tính đến cả

những tiến bộ trong tương lai của ngành địa chính đó là việc số hóa việc quản lý các

thông tin địa chính trong đó có cả việc đăng ký quyền sử dụng đất. Khi đó thì người sử

dụng đất cũng không cần phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cơ quan đăng

ký chỉ cần đối chiếu thông tin trong hợp đồng và đăng ký trên hệ thống điện tử. Do đó

75

nhóm tác giả mạnh dạn đề nghị Luật đất đai sửa đổi điều kiện chuyển nhượng này

thành “có quyền sử dụng đất hợp pháp”.

Thứ sáu, tại Việt Nam, không cho phép giao dịch đối với đất, mà chỉ được giao

dịch với quyền sử dụng đất. Do vậy, quyền sử dụng đất có ý nghĩa lớn đối với chủ thể

sử dụng đất và sự phát triển của thị trường bất động sản. Vì vậy, theo chúng tôi, cần

sửa đổi Điều 169 Luật Đất đai theo hướng mở rộng quyền xác lập QSDĐ của các chủ

thể và chỉ nên hạn chế quyền xác lập QSDĐ của các đối tượng này vì lý do an ninh,

quốc phòng hoặc đảm bảo an toàn lương thực..Cụ thể: cần bổ sung trường hợp tổ chức

kinh tế SDĐ nhận thừa kế vào các trường hợp có quyền giao dịch QSDĐ; cho phép

người Việt Nam định cư ở nước ngoài và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có

quyền sử dụng tất cả các phương thức để xác lập QSDĐ.

3.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về hợp

đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Thứ nhất, đối với Nhà nước, phải xây dựng và quản lý hệ thống thông tin cá

nhân đầy đủ toàn diện, trên cơ sở đó giữa ngành thuế và ngành tài nguyên - môi trường

kết nối mạng thông tin thống nhất trên phạm vi toàn quốc để quản lý được việc sở hữu

bất động sản chi tiết của từng cá nhân. Từ đó, chống được sự man khai là tài sản duy

nhất trong chuyển nhượng bất động sản để được miễn thuế. Nhà nước ta cần đổi mới

và tăng cường hiệu lực của hoạt động quản lý nhà nước về đất đai. Trong điều kiện

khoa học kỹ thuật phát triển như hiện nay, việc ghi nhận thông tin về đất đai cần được

công nghệ hóa và có sự kết nối thông suốt về dữ liệu thông tin địa chính trên toàn

quốc. Việc thực hiện nghiêm túc pháp luật và xử lý nghiêm minh những hành vi vi

phạm pháp luật đất đai, nhất là với các giao dịch bất hợp pháp, là biện pháp thiết thực

nhất để ngăn chặn hành vi đầu cơ đất đai. Các thông tin về đất đai và thị trường bất

động sản cần phải tiếp cận nhanh chóng và minh bạch. Các hộ gia đình, cá nhân có thể

tiếp cận một cách dễ dàng hơn, đặc biệt là thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng

đất đến từng thửa đất kịp thời. Để làm được điều này, chúng ta cần phải nâng cao khả

năng lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Bên cạnh đó, thông tin về tình trạng pháp

lý của từng thửa đất cần phải được tìm hiểu dễ dàng hơn. Đây là điều kiện để tạo sự an

tâm, mạnh dạn đầu tư cho các doanh nghiệp, các hộ gia đình, cá nhân góp phần làm

nâng cao chất lượng, phong phú hàng hóa cho thị trường bất động sản, Chính sách tài

chính về đất đai cần đảm bảo các vấn đề xã hội, chống lãng phí đất đai thì còn phải có

76

tác dụng hạn chế đầu cơ đất đai. Trong đó, thuế là công cụ hữu hiệu nhất để hạn chế

những người đầu cơ. Chẳng hạn, đối với đất ở mà người sử dụng đất tích tụ vượt quá

nhu cầu bình thường thì phải chịu một mức thuế chống đầu cơ cao hơn mức bình

thường, theo cách tính lũy tiến. Cách làm này đã được thực hiện ở một số nước phát

triển trên thế giới, mà Hàn Quốc, Nhật Bản là những ví dụ điển hình. Để giảm nạn đầu

cơ đất đai, Chính phủ các nước này đã quy định thuế lũy tiến đánh vào giá trị của đất

đai, tùy thuộc vào thời gian nắm giữ đất đai đã tích tụ. Việc làm này được thực hiện

với sự hỗ trợ của khoa học kỹ thuật, và thu thuế đối với bất động sản. Đây là việc

không dễ dàng đối với điều kiện của Việt Nam, nhưng không phải không thực hiện

được nếu chúng ta có thiện chí và quyết tâm thực sự.

Thứ hai: Nâng cao trình độ chuyên môn, trách nhiệm công vụ của một số bộ

phận cán bộ trong lĩnh vực đất đai. Nhiều cán bộ chưa nắm vững được các quy định

của pháp luật, thiếu kiến thức về quản lý kinh tế, xã hội, lại còn chủ quan không thực

hiện đầy đủ quy trình nghiệp vụ nên chưa hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Nguồn

nhân lực phục vụ thực hiện các thủ tục hành chính phải được đào tạo, có trình độ

chuyên môn sâu, am hiểu về bất động sản. Nhân viên phải sử dụng thành thạo các

công cụ, phương tiện quản lý, có năng lực tốt, có thể kiểm tra, xác minh được tính

chính xác của các thông tin về bất động sản tham gia giao dịch.

Thứ ba, tích cực tuyên truyền, phổ biến pháp luật đất đai về thủ tục hành chính

trong lĩnh vực chuyển quyền sử dụng đất đối với các chủ thể trong xã hội. Để những

chính sách pháp luật đất đai có thể đi vào trong thực tiễn đời sống của quảng đại quần

chúng nhân dân thì công tác tuyên truyền giáo dục, phổ biến pháp luật đất đai luôn

đóng vai trò quan trọng. Chính từ việc thông qua công tác tuyên truyền, giáo dục nâng

cao nhận thức pháp luật đất đai của người dân thì ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật

đất đai của cộng đồng từng bước có nhiều thay đổi và dần đi vào nề nếp. Chúng tôi

mạnh dạn đề xuất giải pháp Nhà nước ta cần phải tiến hành để việc phổ biến pháp luật

đất đai về thủ tục hành chính trong lĩnh vực chuyển quyền sử dụng đất của hộ gia đình

cá nhân ngày càng có hiệu quả hơn: Một là: Cần bổ sung cụ thể các quy định về việc

tổ chức, hoạt động của Trung tâm tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đất đai

thuộc Tổng cục Đất đai (Bộ Tài nguyên và Môi trường) có chức năng và lượng nhân

lực có trình độ có thể tham mưu, giúp Bộ Tài nguyên và Môi trường trong việc xây

dựng và thực hiện thường xuyên. Hoạt động của Trung tâm này nghiệp vụ chuyên môn

77

có thể phối hợp, hỗ trợ với Vụ tuyên truyền pháp luật của Bộ Tư pháp hoạt động để có

quy mô và chất lượng phục vụ nhân dân tốt hơn. Hai là: Trong quá trình triển khai, sau

mỗi đợt tuyên truyền, Trung tâm tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đất đai cần

tổng kết, đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật. Thông qua đó, các cơ quan hành chính

Nhà nước có thể phát hiện ra những bất cập để sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện thủ tục

hành chính trong lĩnh vực chuyển quyền sử dụng đất. Đứng trước những thay đổi của

tốc độ đô thị hóa và lượng dân số ngày càng tăng ở các trung tâm kinh tế, thương

mại... đã kéo theo nhu cầu sử dụng nhà và đất ngày càng tăng. Đây là vấn đề xuất phát

từ đòi hỏi của thực tiễn khách quan.

78

KẾT LUẬN

Trên cơ sở tiếp thu giá trị, đồng thời phân tích những nội dung mà các công

trình khoa học đã công bố chưa đề cập hoặc chưa làm rõ, đề tài đã xây dựng định

hướng nghiên cứu tổng quan, toàn diện về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng

đất. Những vấn đề lý luận về đất đai và quyền sử dụng đất được phân tích, đánh giá

làm tiền đề để xây dựng các quy định pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử

dụng đất. Những vấn đề về việc xác lập, thực hiện hợp đồng nói chung được xem xét,

nhận định trên cơ sở đặc thù của quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, giúp cho

đề tài vừa thể hiện được những vấn đề về hợp đồng nói chung, nhưng vẫn làm nổi bật

những nét riêng có của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Từ những kết quả

nghiên cứu được trình bày trong các Chương nhóm tác giả nhận thấy: 1) Hợp đồng

chuyển nhượng quyền sử dụng đất là hợp đồng dân sự nhưng nằm trong sự điều chỉnh

của nhiều ngành luật và chịu sự tác động, chi phối của nhiều chủ thể, trong đó nổi bật

nhất là sự can thiệp của Nhà nước. Sự tác động của Nhà nước vừa với tư cách đại diện

chủ sở hữu về đất đai, vừa với tư cách là cơ quan quản lý hành chính, thể hiện rõ nét

trong các quy định pháp luật về đất đai, quyền sử dụng đất, quyền, nghĩa vụ của người

sử dụng đất, quyền chuyển nhượng, ... Thông qua quy định pháp luật, Nhà nước thể

hiện ý chí của mình trong việc điều chỉnh, tác động đến thoả thuận của các bên trong

hợp đồng. 2) Đất ở và quyền sử dụng đất ở là các khái niệm có tính lịch sử, pháp lý.

Quy định pháp luật về đất và quyền sử dụng đất chi phối quyền, nghĩa vụ của người sử

dụng đất và thoả thuận của các bên trong hợp đồng. Xuất phát từ nhu cầu, mục đích sử

dụng của đất, pháp luật cần có quy định cụ thể về chế độ sở hữu, quyền sở hữu đối với

chủ sở hữu và quyền sở hữu đối với đất. 3) Quyền sử dụng đất trong giao dịch dân sự

phân biệt với hoạt động khai thác, sử dụng đất ở. Mục đích sử dụng đất phân biệt với

mục đích xác lập, thực hiện hợp đồng. Cơ chế kiểm soát và giải quyết tranh chấp đối

với giao dịch về quyền sử dụng đất và hoạt động sử dụng sử dụng đất ở độc lập với

nhau. Đây là những vấn đề cần làm sáng tỏ về mặt lý luận để làm tiền đề cho việc xây

dựng và thực thi pháp luật. Quy định pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử

dụng đất ở mang những đặc trưng riêng so với pháp luật của các quốc gia khác vì bị

chi phối bởi chế độ sở hữu và quản lý đất đai của Nhà nước ta. 4) Hệ thống pháp luật

hiện hành về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã chạm đến hầu hết các

vấn đề cần điều chỉnh, nhưng được phân bổ thiếu tập trung, chỗ thừa, chỗ thiếu nên

79

chưa đáp ứng được nhu cầu tiếp cận pháp luật của người dân. Để xác lập, thực hiện

hợp đồng, tránh rủi ro pháp lý, các bên cần phải đọc và tìm hiểu ở nhiều văn bản luật

khác nhau, điều này sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của việc thực thi pháp luật. Do vậy,

phù hợp với mục tiêu của Đảng, Nhà nước ta là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội

chủ nghĩa, hệ thống pháp luật nói chung, từng lĩnh vực, từng chế định pháp luật nói

riêng cần được xây dựng đồng bộ, khoa học, để phục vụ và đảm bảo tiêu chí “dân biết,

dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. 5) Nghiên cứu, phân tích quy định pháp luật hiện

hành về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có ý nghĩa đối với các giao dịch

được xác lập kể từ thời điểm quy định pháp luật đó có hiệu lực. Tuy nhiên, trong hoạt

động giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất, đòi hỏi thẩm phán, những người

tham gia tố tụng khác phải am hiểu toàn bộ các quy định pháp luật có liên quan qua

các thời kỳ lịch sử. Những vấn đề phức tạp, khó giải quyết dứt điểm hầu hết xuất phát

từ những hợp đồng được xác lập từ những năm 2003 trở về trước. Do biến động của

lịch sử, chiến tranh, chính sách quản lý đất đai của Nhà nước, sự khó khăn trong việc

thu thập, xác minh chứng cứ. ... nên việc xác định tính hợp pháp của giao dịch hoặc ai

là người có quyền sử dụng đất gặp nhiều khó khăn. Cho đến thời điểm này, quy định

pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở được đánh giá là tương đối

đầy đủ, khắc phục cơ bản những hạn chế của những văn bản quy pháp luật trước kia

nhưng cũng không thể lấp đầy những lỗ hổng pháp lý do “lịch sử để lại”. Để xây dựng

hệ thống pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở đồng bộ, hạn chế

tranh chấp, cần có sự nghiên cứu, đánh giá tổng quát từ lý luận, thực trạng pháp luật

đến hoạt động áp dụng và thực thi pháp luật. Phạm vi đề xuất các giải pháp hoàn thiện

pháp luật của đề tài tập trung khắc phục những tồn tại, bất cập về pháp luật trong các

nội dung nghiên cứu mà không nêu các giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hoặc

giải pháp có tính kỹ thuật, tổ chức, ... khác. Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất có vai trò bình ổn các giao dịch dân sự, thúc đẩy sự phát

triển của thị trường quyền sử dụng đất và bất động sản.

80

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

I. Văn kiện Đại hội Đảng, văn bản luật

1. Bộ luật Dân sự năm 1995

2. Bộ luật Dân sự năm 2005

3. Bộ luật Dân sự năm 2015

4. Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011)

5. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

6. Công ước Montevideo về quyền và nhiệm vụ của các quốc gia năm 1933

7. Hiến pháp năm 2013

8. Luật Cải cách ruộng đất năm 1953

9. Luật Đất đai năm 1987

10. Luật Đất đai năm 1993 (sửa đổi, bổ sung năm 1998, 2001)

11. Luật Đất đai năm 2003 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)

12. Luật Đất đai năm 2013

13. Luật Đất đai Liên bang Nga năm 2001

14. Luật Đầu tư năm 2014

15. Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014

16. Luật Nhà ở năm 2014

17. Luật Thi hành án dân sự năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2014)

18. Luật Thương mại năm 2005

19. Luật Xây dựng năm 2014

20. Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/ 10/ 2004 về thi hành Luật Đất đai

năm 2003

21. Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/ 11/ 2013 về quản lý hoạt động kinh

doanh vàng

22. Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một

số điều của Luật Đất đai năm 2013

23. Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/ 7/2015 quy định chi tiết và hướng

dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự

24. Pháp lệnh ngoại hối năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2013)

25. Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và

81

Môi trường quy định về GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với

đất

II. Sách tham khảo, công trình NCKH liên quan đến đề tài

26. Nguyễn Mạnh Bách (1974), Dân luật Việt Nam: Nghĩa vụ, Nxb. Trường

Thọ, Sài Gòn

27. Nguyễn Mạnh Bách (năm 1997), uật Dân sự Việt Nam lược giải: Các hợp

đồng dân sự thông dụng, NXB Chính trị Quốc gia

28. Nguyễn Mạnh Bách. (1995), Pháp luật về hợp đồng, Nxb. CTQG, H. 1995

29. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012), Báo cáo số 193/BC-BTN T về việc

“Tổng kết tình hình thi hành Luật Đất đai 2003 và định hướng sửa đổi luật Đất đai”

ngày 6/9/2012

30. Bộ Tư pháp (1996), Những nội dung cơ bản của BLDS nước CHXHCN

Việt Nam, Tài liệu nghiên cứu

31. Bộ Tư pháp (2015), Những nội dung cơ bản của Phần thứ ba “Nghĩa vụ và

hợp đồng” – Dự thảo BLDS (sửa đổi) (Nguồn: Hội thảo “Góp ý về chế định hợp đồng

trong Dự thảo BLDS (sửa đổi)” tổ chức ngày 18/3/2015 tại Khách sạn Fortuna Hà Nội

do USAID, Bộ Tư Pháp và VIAC tổ chức)

32. Chính phủ (2014), Tờ trình số 287/TTr-CP ngày 15/8/2014 vờ trình số

287/TTr-CP ngày 15/8/20

33. Nguyễn Hồng Anh (2006), một số vấn đề pháp lý về chuyển nhượng tài sản

gắn liền với đất, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp điện tử - 16/01/2006

34. Vũ Thị Lan Anh (năm 2011), Tìm hiểu hệ thống pháp luật Cộnng hòa liên

bang Đức, Tạp chí Luật học – đặc san 9/2011

35. Ngô Huy Cương (2009), Những bất cập về khái niệm tài sản, phân loại tài

sản của BLDS 2005 và định hướng cải cách, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 9/2009

36. Nguyễn Văn Cường, Nguyễn Minh Hằng (2011), Giao dịch về quyền sử

dụng đất vô hiệu – Pháp luật dân sự và thực tiễn xét xử, NXB Thông tin và truyền

thông

37. Nguyễn Thị Dung, Bảo đảm tính minh bạch của thị trường bất động sản

pháp luật một số nước trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí Luật học số

8/ 2010

38. Đỗ Văn Đại (2006), Thực hiện hợp đ ng bị tuyên bố vô hiệu, Tạp chí Khoa

82

học pháp lý số 5/2006

39. Đỗ Văn Đại (2010), Các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp

đồng trong pháp luật Việt Nam”, NXB Chính trị quốc gia

40. Đỗ Văn Đại (2010), Luật hợp đồng Việt Nam: bản án và bình luận bản án,

NXB Chính trị quốc gia.

41. Đỗ Văn Đại (2013), Hình thức bắt buộc của hợp đồng trong pháp luật dân

sự Việt Nam, Tạp chí Luật học số 2/ 2013

42. Đỗ Văn Đại (2015), Điều chỉnh hợp đ ng khi hoàn cảnh thay đổi, tham luận

tại Hội thảo chế định hợp đồng trong Dự thảo BLDS (sđ), ngày 18/3/2015

43. Nguyễn Ngọc Điện (2012), Đăng ký bất động sản ở Việt Nam – Những vấn

đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 6/2012

44. Nguyễn Ngọc Điện (2001), Bình luận các hợp đ ng thông dụng trong luật

dân sự Việt Nam, NXB Trẻ - TP. Hồ Chí Minh.

45. Phạm Hoàng Giang (2007), Ảnh hưởng của điều kiện hình thức hợp đồng

đến hiệu lực hợp đồng, Tạp chí Nhà nước và pháp luật. Viện Nhà nước, số 03/2007

46. Nguyễn Ngọc Khánh (2003), Giao kết hợp đồng – một số vấn đề lý luận và

thực tiễn, trong quyển “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật hợp đồng ở

Việt Nam” (Nguyễn Như Phát và Lê Thu Thủy – Chủ biên), NXB CAND, Hà Nội.

47. Lê Hồng Hạnh (2015), Sử dụng khái niệm quyền tài sản thay cho vật quyền

trong dự thảo B luật dân sự (sửa đổi), Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 4/2015

48. Nguyễn Minh Hằng (chủ biên) (2012), Pháp luật đất đai trong hoạt động

nghề luật sư, NXB Thông tin và truyền thông

49. Lê Minh Hùng (2010), Đề tài tiến sĩ “Hiệu lực của hợp đồng theo quy định

của pháp luật Việt Nam”, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

50. Trần Quang Huy (2009), Pháp luật đất đai hiện hành – Nhìn từ góc độ bảo

đảm quyền của người sử dụng đất”, Tạp chí Luật học số 8/2009

51. Nguyễn Thị Hồng Nhung (2012), Đề tài tiến sĩ Luật học “Pháp luật về

chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong kinh doanh bất động sản ở Việt Nam”, Đại

học Luật Hà Nội

52. Đào Thị Thiết (2016), Thực hiện pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng

quyền sử dụng đất tại tỉnh Sơn La – Thực trạng và giải pháp, Tạp chí Dân chủ và Pháp

luật điện tử (30/9/2016)

83

53. Toà án nhân dân tối cao (2010, 2011, 2012, 2013, 2014, 2015), Báo cáo

tổng kết ngành Toà án

54. Toà án nhân dân TP. Hà Nội (2010, 2011, 2012, 2013, 2014, 2015), Báo cáo

tổng kết của Toà án hai cấp TP. Hà Nội

55. Toà án nhân dân TP. Hồ Chí Minh (2010, 2011, 2012, 2013, 2014, 2015),

Báo cáo tổng kết của Toà án hai cấp TP. H Chí Minh

56. Tổng Cục thi hành án dân sự (2015, 2016) Báo cáo số 4043/BTP-

TCTHADS ngày 3/11/2015, Báo cáo số 4489/BTP-TCTHADS ngày 16/12/2016 về

việc rà soát, thống kê, lập danh sách bản án, quyết định của Tòa án tuyên không rõ, có

sai sót và khó thi hành

57. Nguyễn Thùy Trang (2016), Căn cứ xác lập quyền sử dụng đất ở và một số

vướng mắc trong các quy định pháp luật hiện hành, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số

6/2016

58. Nguyễn Thùy Trang (2016), Hoàn thiện một số khái niệm liên quan đến hợp

đồng chuyển quyền sử dụng đất ở”, đăng trên Tạp chí Dân chủ pháp luật điện tử ngày

31/3/2016

59. Nguyễn Thùy Trang (2016), Quyền sử dụng đất – một số quan điểm tiếp

cận và đề xuất hướng giải quyết trong khoa học pháp lý của Việt Nam, Tạp chí Khoa

học pháp lý số 4/2016

60. Nguyễn Thùy Trang (2016), Hợp đồng về quyền sử dụng đất trong Bộ luật

Dân sự năm 2015, Tạp chí Luật học số 7/2016

61. Nguyễn Quang Tuyến (2007), Hệ thống pháp luật đất đai trong 20 năm đổi

mới (1986 – 2006), Tạp chí Luật học số 1/2007

95. Nguyễn Như Ý (chủ biên) (2011), Đại từ điển Tiếng Việt (tái bản lần thứ

12), NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

III. Các trang thông tin điện tử

96. Dictionary.reference.com

97. http://baodientu.chinhphu.vn

98. http://canhosieunho.batdongsan.com.vn/

99. http://hn.24h.com.vn. /Đ /p://hn.24h.com.vnbatdongsan.com.vn/

100. https://opic.com.vn/vi/blog/tranh-chap-ve-hop-dong-chuyen-nhuong-cho-

thue-cho-thue-lai-quyen-su-dung-dat-va-cac-giai-phap-khac-phuc

101. http://www.baodongnai.com.vn/phapluat/201910/van-con-nhieu-vu-an-

dan-su-tranh-chap-dat-2971235/index.htm

84