GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG
QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG GIAI ĐOẠN 2010 - 2020 Ở VIỆT NAM
Chủ nhiệm đề tài: Th.S Tạ Thị Thùy Trang
Thành viên tham gia: Nguyễn Thị Vinh Hương
Hà Nội, tháng 3 năm 2021
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG
QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG GIAI ĐOẠN 2010 - 2020 Ở VIỆT NAM
Chủ nhiệm đề tài: Th.S Tạ Thị Thùy Trang
Thành viên tham gia: Nguyễn Thị Vinh Hương
Xác nhận của Trường Đại học Thương mại
Chủ nhiệm đề tài
Hà Nội, tháng 3 năm 2021
TÓM LƯỢC
Hiện nay, khi chuyển quyền sử dụng đất bằng hình thức chuyển nhượng là chủ
yếu thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là khâu quan trọng để đạt được
thành công trong giao dịch. Đề tài liên quan đến chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã
được một số công trình nghiên cứu khoa học đề cập đến. Do vậy, việc lựa chọn
“nghiên cứu pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong giai đoạn
2010 – 2020 ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường vừa có những
thuận lợi, vừa là thử thách đối với nhóm tác giả. Trong phạm vi đề tài nghiên cứu,
nhóm tác giả tập trung trình bày, hoàn thiện hệ thống lý luận về hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất theo pháp luật hiện hành. Đồng thời, phân tích thực trạng
và thực tiễn áp dụng pháp luật Việt Nam để làm rõ những ưu điểm và hạn chế của
pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong giai đoạn 2010 - 2020.
Từ đó, đề xuất định hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi
pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLDS: Bộ luật dân sự
BLTTDS: Bộ luật tố tụng dân sự
LĐĐ: Luật đất đai
THA: Thi hành án
HĐCNQSDĐ: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
QSDĐ: Quyền sử dụng đất
SDĐ: Sử dụng đất
GCN QSDĐ: Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất
TA: Tòa án
TAND: Tòa án nhân dân
UBND: Ủy ban nhân dân
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI NCKH CẤP TRƯỜNG
1. Thông tin chung: - Tên đề tài: Nghiên cứu pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất trong giai đoạn 2010 – 2020 ở Việt Nam
- Mã số: CS20 -30
- Chủ nhiệm: Th.S Tạ Thị Thùy Trang
- Cơ quan chủ trì: Đại học Thương Mại
- Thời gian thực hiện: 7/2020 đến 3/2021
2. Mục tiêu: - Hệ thống cơ sở lý luận pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất.
- Phân tích thực trạng và thực tiễn áp dụng pháp luật Việt Nam để làm rõ những
ưu điểm và hạn chế của pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong giai đoạn 2010 - 2020.
- Đề xuất định hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi
pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
3. Tính mới và sáng tạo: Trên cơ sở tiếp thu giá trị, đồng thời phân tích những nội dung mà các công trình
khoa học đã công bố chưa đề cập hoặc chưa làm rõ, đề tài đã xây dựng định hướng
nghiên cứu tổng quan, toàn diện về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Những vấn đề lý luận về đất đai và quyền sử dụng đất được phân tích, đánh giá làm
tiền đề để xây dựng các quy định pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Những vấn đề về việc xác lập, thực hiện hợp đồng nói chung được xem xét, nhận định trên cơ sở đặc thù của quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, giúp cho đề tài vừa thể hiện được những vấn đề về hợp đồng nói chung, nhưng vẫn làm nổi bật những nét riêng có của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
4. Kết quả nghiên cứu: - 01 bài báo khoa học - 01 báo cáo nghiên cứu
5. Công bố sản phẩm khoa học từ kết quả nghiên cứu của đề tài
Bài viết “ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” đăng tải trên tạp chí
Nghiên cứu lập pháp số 21 tháng 11/2020
6. Hiệu quả, phương thức chuyển giao kết quả nghiên cứu và khả năng áp
dụng:
Chuyển giao kết quả nghiên cứu thông qua nghiệm thu bàn giao sản phẩm đề tài
nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu có thể được khai thác, vận dụng vào giảng dạy cho sinh viên
Đại học Thương mại nói chung và cho sinh viên chuyên ngành Luật kinh tế nói riêng
liên quan tới học phần Pháp luật môi trường – đất đai.
Ngày 22 tháng 4 năm 2021
Chủ nhiệm đề tài (ký, họ và tên)
Tạ Thị Thùy Trang
MỤC LỤC
TÓM LƯỢC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 1
1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài ............................................................................. 1
2 Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài ....................................................................... 3
3 Các mục tiêu nghiên cứu .............................................................................................. 9
4 Phạm vi nghiên cứu .................................................................................................... 10
5 Ý nghĩa của nghiên cứu .............................................................................................. 10
6 Kết cấu báo cáo nghiên cứu ........................................................................................ 11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN
SỬ DỤNG ĐẤT VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG
QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ............................................................................................ 12
1.1. Khái quát về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ................................... 12
1.1.1. Các khái niệm liên quan ...................................................................................... 12
1.1.2. Đặc điểm của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ............................... 16
1.2. Khái quát pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ................... 20
1.2.1. Khái niệm ............................................................................................................ 20
1.2.2. Nội dung pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ................. 22
1.2.3. Vai trò pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ..................... 25
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN
NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG GIAI ĐOẠN 2010 – 2020 Ở VIỆT
NAM .............................................................................................................................. 28
2.1. Nội dung các quy định pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
....................................................................................................................................... 28
2.1.1. Các quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất. ........................................................................................................................ 28
2.1.2. Các quy định pháp luật về thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất .................................................................................................................................. 41
2.1.3. Các quy định về hình thức, thủ tục xác lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất ......................................................................................................................... 45
2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
trong giai đoạn 2010 – 2020 ở Việt Nam ...................................................................... 52
2.2.1. Đánh giá tổng quan những thuận lợi và khó khăn trong việc giải quyết tranh
chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong giai đoạn 2010 – 2020 ở
Việt Nam ........................................................................................................................ 52
2.2.2. Một số khó khăn vướng mắc cụ thể đối với tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất trong giai đoạn 2010 – 2020 ở Việt Nam ........................................ 62
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG
QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ............................................................................................ 71
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật ........................................................................... 71
3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất ..................................................................................................................... 73
3.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ............................................................................................ 76
KẾT LUẬN .................................................................................................................. 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................... 81
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài
Chuyển nhượng quyền sử dụng đất là quyền cơ bản trong các quyền của người
sử dụng đất; đồng thời cũng là quyền được thực hiện thường xuyên, liên tục và chiếm
tỷ lệ lớn vào loại bậc nhất trong các giao dịch dân sự về đất đai trên thị trường trong
bối cảnh đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu như Việt
Nam hiện nay. Trên thực tế, đây là phương thức dịch chuyển linh hoạt về quyền sử
dụng đất trên thị trường, tuân thủ đầy đủ các quy luật của thị trường như cung – cầu,
cạnh tranh, giá cả, tôn trọng quyền tự do ý chí, thỏa thuận của các chủ thể giao dịch
thông qua hợp đồng mà ít có sự can thiệp và tham gia sâu của Nhà nước trong quá
trình xác lập và thực hiện giao dịch. Từ tính chất linh hoạt này, chuyển nhượng quyền
sử dụng đất cũng là hình thức góp phần thúc đẩy tích tụ và tập trung đất đai vào tay
những người có nhu cầu và khả năng sử dụng đất, biết làm giàu trên đất, làm cho đất
đai từ một thứ tài nguyên thuần túy được thiên nhiên ban tặng trở thành tài sản có giá,
là hàng hóa có giá trị lưu thông trên thị trường. Nhận thấy được tầm quan trọng của đất
đai đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước nói chung và tính chất linh hoạt
nhưng cũng rất phức tạp của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thực tế
nói riêng, pháp luật đất đai và pháp luật khác có liên quan qua các thời kỳ được xây
dựng, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện theo hướng ngày càng hợp lý hơn, toàn diện và
đầy đủ hơn. Đặc biệt, với hàng loạt các văn bản được ban hành trong thời gian gần đây
đã tạo ra hành lang pháp lý tương đối đầy đủ cho các chủ thể tham gia giao dịch
chuyển nhượng QSDĐ trên thị trường. Có thể nói giai đoạn 2010 – 2020 đánh dấu sự
thay đổi của hệ thống pháp luật đất đai nói chung và các văn bản pháp luật điều chỉnh
về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói riêng rất rõ rệt, cụ thể như: Luật
đất đai năm 2013 thay thế Luật đất đai 2003, Luật kinh doanh bất động sản năm 2014
thay thế Luật kinh doanh bất động sản 2006, Bộ luật dân sự năm 2015 thay thế Bộ luật
dân sự 2005, Luật nhà ở 2014 thay thế Luật nhà ở 2005, Luật đầu tư 2014 thay thế
Luật đầu tư 2005... Tuy nhiên, nhìn nhận một cách khách quan cũng không thể phủ
nhận được rằng, trên thực tế, hoạt động chuyển nhượng quyền sử dụng đất vẫn còn
diễn biến phức tạp, pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất còn
nhiều bất cập dẫn đến giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất được "biến tướng"
với nhiều sai phạm tinh vi hơn, khó phát hiện hơn như: giao dịch chuyển nhượng
1
quyền sử dụng đất trái pháp luật được thực hiện trên cơ sở có sự thỏa thuận, "thông
đồng ý kiến" của các bên trong hợp đồng nhằm đối phó với pháp luật, trốn lậu thuế với
giá trị lớn, gây hỗn loạn thị trường… Đây cũng là nguyên nhân cơ bản dẫn đến các
tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày càng gia tăng về số
lượng và phức tạp về tính chất. Theo thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, chỉ tính
riêng tranh chấp về quyền sử dụng đất năm 2019 đã lên tới hơn 20 nghìn vụ. Trong
con số kể trên, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chiếm trên 1/3.
Dưới góc độ pháp luật, mặc dù hàng loạt các văn bản pháp luật được ban hành và điều
chỉnh ở nhiều khía cạnh khác nhau về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất,
song xét trong mối quan hệ tổng thể của sự thống nhất pháp luật cho thấy, pháp luật
hiện hành vẫn còn nhiều quy định chưa thống nhất, thậm chí còn mâu thuẫn và loại trừ
lẫn nhau, nhiều quy định xét về mục đích, ý nghĩa là sự cần thiết, song lại xa rời với
thực tiễn thực thi và khó hiện thực hóa được trên thực tế; nhiều quy định tỏ ra lỏng lẻo
và thiếu cơ chế bảo đảm để thực thi có hiệu quả trên thực tế và chúng là hệ lụy cho
những động thái "lách luật", vi phạm khi ký kết và thực hiện hợp đồng. Không chỉ
dừng lại ở đó, đặt trong điều kiện của nền kinh tế thị trường và xu thế kinh tế hội nhập
trong giai đoạn hiện nay của Việt Nam cũng cho thấy, vẫn còn nhiều rào cản cho việc
tiếp cận đất đai thông qua cơ chế chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Vì vậy, hiệu quả
điều chỉnh của pháp luật trên thực tế chưa cao, quản lý nhà nước về thị trường bất
động sản nói chung và giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thực tế chưa
đạt được mục đích đề ra, giữa vô vàn những quy định điều chỉnh hợp đồng chuyển
nhượng thì đáng lý ra giao dịch đó phải được vận động trong một trạng thái an toàn
cho các chủ thể tham gia giao dịch, song trái lại, trên thực tế, hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất vẫn chứa đựng vô cùng nhiều rủi ro, bất trắc. Thực tế nêu trên cho
thấy, sự cần thiết khách quan ở cả hiện tại và tương lai vẫn đang và sẽ rất cần phải có
các công trình tiếp tục được nghiên cứu vừa mang tính tổng thể, toàn diện, vừa mang
tính chuyên sâu ở cả khía cạnh lý luận, pháp luật thực định, cũng như thực tiễn thực thi
về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, sự nghiên cứu cần phải đặt trong mối
quan hệ gắn bó mật thiết và phù hợp với nền kinh tế thị trường, với hội nhập kinh tế
quốc tế hiện nay. Đó là những lý do nhóm tác giả lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu pháp
luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong giai đoạn 2010 - 2020 của
Việt Nam” để nghiên cứu.
2
2 Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài
Chuyển nhượng quyền sử dụng đất (QSDĐ) luôn là vấn đề thu hút sự quan tâm
nghiên cứu, tìm hiểu của giới luật học nước ta. Trong thời gian qua, đã có không ít các
công trình nghiên cứu về vấn đề này. Các công trình nghiên cứu đã công bố khai thác
vấn đề ở nhiều góc độ và phương diện khác nhau; mỗi công trình có cách tiếp cận,
nghiên cứu, nhìn nhận riêng và nhìn chung đều đã phân tích cũng như phản ánh được
những nét cơ bản nhất về các vấn đề nghiên cứu, cụ thể như sau:
* Về quyền sử dụng đất
- Sách: “Sự hình thành và phát triển thị trường bất động sản trong công cuộc đổi
mới ở Việt Nam” của TS. Lê Xuân Bá, NXB Khoa học và Kỹ thuật, năm 2003. Cuốn
sách nghiên cứu về thị trường bất động sản ở Việt Nam nên QSDĐ chỉ được nhóm tác
giả đề cập một cách ngắn gọn: Quyền sử dụng đất là bộ phận cấu thành của quyền sở
hữu đất. Thông qua việc được độc quyền giao đất, cho thuê đất, Nhà nước trao cho
người sử dụng đất thực hiện trong thời hạn thuê đất, nhận giao đất những quyền và
nghĩa vụ nhất định, trong đó có sự phân biệt theo loại đất, theo đối tượng (người) sử
dụng đất, theo hình thức thuê hoặc giao đất [tr.83]. Khái niệm này chỉ ra quyền sử
dụng đất là một quyền phái sinh từ quyền sở hữu đất. Đồng thời đã xác định quyền sử
dụng đất không chỉ là quyền của người sử dụng đất mà còn bao hàm cả nghĩa vụ của
họ.
- Sách: “Từ điển Luật học” NXB Từ điển bách khoa và NXB Tư pháp, năm
2006: Từ điển Luật học là một công trình của tập thể nhóm tác giả do Viện nghiên cứu
khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp chủ trì. Trong công trình này, QSDĐ được xác định
như sau: Quyền sử dụng đất là quyền của các chủ thể được khai thác công dụng,
hưởng hoa lợi, lợi ích từ việc sử dụng đất được nhà nước giao, cho thuê hoặc được
chuyển giao từ những chủ thể khác thông qua việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho
thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho... từ những chủ thể khác có quyền sử dụng đất
[tr.655]. Khái niệm về quyền sử dụng đất trong công trình này thiên về việc xác định
quyền khai thác lợi ích từ đất, chuyển quyền sử dụng đất và nguồn gốc của quyền này.
- Sách: “Nghiên cứu về tài sản trong luật dân sự Việt nam” của TS. Nguyễn
Ngọc Điện, NXB Trẻ thành phố Hồ Chí Minh, năm 1999. Cuốn sách nghiên cứu về
các loại tài sản được quy định trong luật dân sự Việt Nam. Thông qua việc xem xét các
loại tài sản bao gồm: Vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản, nhóm tác giả xác định
3
quyền sử dụng đất là một loại tài sản ở dạng quyền tài sản.
- Đề tài Thạc sĩ Luật học: “Xây dựng và hoàn thiện pháp luật thị trường quyền
sử dụng đất ở Việt Nam” của Nguyễn Thị Nga, năm 2003. Trong công trình này, nhóm
tác giả xác định tính đặc thù của quyền sử dụng đất so với quyền sử dụng các loại tài
sản khác: Nói đến “quyền sử dụng” nghĩa là nói đến quyền khai thác công dụng và
hưởng hoa lợi, lợi tức từ một đối tượng tài sản. Song rất khác với các loại tài sản khác,
đất đai là một tài sản đặc biệt, một tư liệu sản xuất đặc thù có giới hạn về không gian,
diện tích nhưng vô hạn về thời gian sử dụng và khả năng sinh lợi [tr.6].
- Đề tài Thạc sĩ Luật học: “Một số vấn đề về chuyển nhượng quyền sử dụng đất
ở theo quy định của pháp luật Việt nam của Nguyễn Thị Thu Thủy, năm 2004. Từ việc
nêu ra các đặc điểm của QSDĐ, nhóm tác giả của công trình này đã xác định quyền sử
dụng đát bao gồm ba quyền năng là: chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. Với cách nhìn
này thì quyền sử dụng đất đã được nhóm tác giả coi như là quyền sở hữu một tài sản,
hay nói cách khác, một cách gián tiếp, nhóm tác giả của công trình này đã coi quyền
sử dụng đất là một tài sản thuộc sở hữu của người sử dụng đất. Tuy nhiên, nhóm tác
giả cũng khẳng định: “Các quyền năng này không phải là quyền độc lập như quyền
của các chủ sở hữu tài sản thông thường”.
- Đề tài tiến sĩ Luật học: “Pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong
kinh doanh bất động sản” của Nguyễn Thị Hồng Nhung, năm 2012. Từ việc đưa ra
một số quan điểm của các nhóm tác giả về quyền sở hữu đất đai và quyền sử dụng đất,
nhóm tác giả của đề tài này cho rằng: quyền sử dụng đất được xem xét dưới hai góc
độ. Dưới góc độ kinh tế thì quyền sử dụng đất là quyền khai thác các lợi ích từ đất của
các tổ chức, hộ gia đình cá nhân sử dụng đất. Dưới góc độ pháp lý thì quyền sử dụng
đất là những quyền năng mà Nhà nước thông qua công cụ pháp lý để quy định, thừa
nhận cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân (người sử dụng đất) được hưởng, được làm
trong quá trình sử dụng đất [ tr.16 ].
* Về chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cuốn “Từ điển Luật học” của Viện Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp xác định:
“Chuyển nhượng quyền sử dụng đất : (Người sử dụng đất) chuyển giao đất và quyền
sử dụng đất đó cho người nhận chuyển nhượng (gọi là bên nhận quyền sử dụng đất) sử
dụng. Bên chuyển giao đất và quyền sử dụng đất được nhận số tiền tương đương với
giá trị quyền sử dụng đất theo thỏa thuận của các bên” [tr.161]. Như vậy, nhóm tác giả
4
của công trình này coi chuyển nhượng quyền sử dụng đất là mối quan hệ giữa bên
chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng. Trong đó, bên chuyển nhượng vừa
“chuyển giao đất” vừa chuyển giao “quyền sử dụng đất” cho bên nhận chuyển nhượng.
- Đề tài tiến sĩ Luật học: “Địa vị pháp lý của người sử dụng đất trong các giao
dịch dân sự và kinh tế”, của Nguyễn Quang Tuyến năm 2003. Nhóm tác giả của đề tài
xác định chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo hai phương diện: Chuyển nhượng
quyền sử dụng đất về phương diện pháp lý là một loại giao dịch về đất đai, theo đó chủ
sử dụng đất này tự nguyện chấm dứt các quyền, nghĩa vụ của mình đối với những diện
tích nhất định và chuyển chúng cho chủ thể khác, do vậy, Điều 679, Bộ luật dân sự
2005 quy định: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận giữa các
bên, theo đó, bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất chuyển giao đất và quyền sử dụng
đất cho bên nhận chuyển nhượng, còn bên nhận chuyển nhượng trả tiền cho bên
chuyển nhượng theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai. Về phương diện
kinh tế thì chuyển nhượng quyền sử dụng đất chính là chuyển nhượng các lợi ích kinh
tế do đất đai mang lại từ chủ sử dụng đất này sang chủ sử dụng đất khác và đó là biểu
hiện của quan hệ thị trường [tr.76].
- Đề tài tiến sĩ luật học: “Pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong
kinh doanh bất động sản” (2012) của Nguyễn Thị Hồng Nhung. Nhóm tác giả xác
định: Giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất là việc chuyển nhượng quyền sử
dụng đất vĩnh viễn từ chủ sử dụng đất sang cho người mua và nhận một khoản tiền
tương ứng với giá trị quyền sử dụng đất. Với cách tiếp cận này thì chuyển nhượng
quyền sử dụng đất là một hợp đồng mua bán.
- Đề tài thạc sĩ luật học của nhóm tác giả Nông Viết Vỹ với đề tài “Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất – Thực tiễn thi hành tại thành phố Bắc Kạn, tỉnh
Bắc Kan (2019). Nhóm tác giả xác định rằng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là một
trong những hình thức chuyển quyền sử dụng đất phổ biến. Theo đó, chuyển nhượng
quyền sử dụng đất là một giao dịch dân sự nhằm thực hiện việc chuyển quyền sử dụng
từ chủ thể này sang chủ thể khác. Ngoài ra, nhóm tác giả đề tài cũng cho rằng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất còn được hiểu là một quan hệ pháp luật dân sự và xác định
các bên chủ thể trong chuyển nhượng, đối tượng, khách thể của quan hệ pháp luật về
chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Đối với các công trình nghiên cứu khoa học của nước ngoài, nhìn chung, không
5
có công trình nghiên cứu ngoài nước nào trực tiếp nghiên cứu pháp luật về hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất của Việt Nam. Tuy nhiên, mua bán hay chuyển
nhượng đất đai, quyền sử dụng đất đều có mối quan hệ chặt chẽ, logic biện chứng và
không tách rời với quyền sở hữu đất đai, trong đó, quyền sở hữu đất đai đóng vai trò là
tiền đề, là cơ sở pháp lý ảnh hưởng, chi phối và quyết định tới quyền này. Ở các quốc
gia quy định và duy trì chế độ sở hữu tư nhân về đất đai thì đất đai được quan niệm là
một loại tài sản và chúng thuộc quyền định đoạt và chi phối của chủ sở hữu đối với đất
đai đó; theo đó, người có quyền sở hữu đất đai được quyền mua, được quyền bán một
mảnh đất theo ý chí và nguyện vọng của mình mà không chịu sự lệ thuộc bởi các chủ
thể khác, sự chi phối của Nhà nước chỉ mang tính chất kiểm soát thủ tục và nhằm truy
thu thuế, cũng như có ý nghĩa trong việc xem xét về tác động của giao dịch đó tới quy
hoạch tổng thể đất đai của Nhà nước mà thôi. Trái lại, ở các nước duy trì chế độ sở
hữu Nhà nước về đất đai hay sở hữu toàn dân về đất đai mà Nhà nước giữ vai trò đại
diện như Việt Nam thì vấn đề này lại hoàn toàn khác biệt. Theo đó, Nhà nước nắm
quyền kiểm soát và chi phối toàn bộ đất đai, quyết định chuyển giao đất đai của quốc
gia cho các chủ thể khác trong xã hội giữ quyền quản lý và khai thác, và do đó, quyền
của mỗi chủ thể về đất đất đai là quyền trên cơ sở Nhà nước với tư cách chủ sở hữu
cho phép. Hệ lụy của mối quan hệ này là giữa những chủ thể có quyền khai thác và sử
dụng đất đai đó cũng có thể thiết lập với nhau các giao dịch về quyền sử dụng đất song
đó chỉ là quyền phái sinh do nhà nước trao cho hoặc có được trong quá trình sử dụng
đất. Với sự khác nhau nêu trên cho thấy, nghiên cứu vấn đề sở hữu đất đai có ý nghĩa
quan trọng trong việc nhận diện cơ sở lý luận, nguồn gốc của giao dịch chuyển nhượng
hay mua bán đất đai, sự tương đồng và khác biệt giữa pháp luật điều chỉnh hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất với pháp luật điều chỉnh quan hệ mua bán đất đai ở
các quốc gia có chế độ sở hữu khác nhau. Cụ thể:
- Cuốn sách “Property Rights and Land Policies” (Các quyền sở hữu và các
chính sách về đất đai) của nhóm tác giả Ingram, Gregory K, and Yu-Hung Hong, xuất
bản tháng 5/2009. Cuốn sách tìm hiểu mối liên hệ giữa quyền sở hữu và chính sách đất
đai trong bối cảnh các nước phát triển và đang phát triển, đặc biệt là ở khu vực Châu
Á. Nhóm tác giả bàn về một loạt các chủ đề về chính sách đất đai bao gồm việc chấp
hành quy định, việc sử dụng các tên miền nổi tiếng và chiếm đoạt trong lắp ráp đất, sự
xuất hiện của quyền sở hữu tư nhân, chuyển nhượng quyền sở hữu trong nền kinh tế
6
chuyển đổi, giấy phép phát thải thị trường, quản lý tài nguyên thiên nhiên, và những
tác động của việc quy hoạch đất đai và phát triển nhà ở.
- Sách: “Claims to the Possession of Land” (Xác lập sở hữu với đất đai) của các
nhóm tác giả PhilipWalter, Adrianavis, JamesHarris, B.McGuire. Xuất bản 10/2000.
Cuốn này chủ yếu đề cập đến vấn đề Tuyên bố quyền sở hữu đất đai và giải thích pháp
luật liên quan và các thủ tục của từng loại quyền sở hữu. Ngoài ra, cuốn sách cũng đề
cập tới lợi ích của việc tuyên bố quyền Sở hữu đất đai, cụ thể là việc tuyên bố quyền
lợi này sẽ cung cấp thông tin cập nhật một cách thường xuyên về tài sản và kiện tụng
luật sư, quản lý tài sản, chủ nhà, người thuê nhà và khách thuê khác.
- Sách: “Private land claims, Illinois, Indiana, Michigan and Wisconsin” (Xác
lập đất tư, Illinois, Indiana, Michigan, và Wiscosin)của nhóm tác giả Ainsworth, Fern.
Một trong số nội dung chính trong 4 phần của cuốn sách là chủ đề “Michigan land and
property”. Cuốn này đi sâu vào vấn đề mua bán và sở hữu đất đai cùng các thủ tục đi
kèm tại miền Tây quốc gia Michigan, việc này nhằm khuyến khích việc mở rộng đất
đai sinh sống về miền Tây. Trình bày cụ thể về hồ sơ đất mua bán (chuyển nhượng),
ngoài ra còn cả những thông tin chi tiết dành cho người muốn chuyển đến/mua đất ở
đây, nhằm mục đích để cung cấp, truyền lại kinh nghiệm sinh sống tại vùng này của
người chủ trước cho người mới đến. Trong đó, thường nêu các thông tin khác trong gia
đình chẳng hạn như tên của người thừa kế, những người thân khác, hoặc hàng xóm.
- Sách: “Modern Real Estate and Land Transfer” (Mua bán đất đai và bất động
sản hiện đại) của các nhóm tác giả Steven W. Bender,Celeste M. Hammond, Michael
T. Madison, Robert M. Zinman, xuất bản năm 2012. Cuốn này đề cập tới vấn đề bất
động sản đi kèm với việc mua bán đất đai song vẫn còn hạn chế đề cập đến vấn đề
mua bán. Hiện nay vấn đề bất động sản khá phức tạp vì còn liên quan đến nhiều chính
sách, do có liên quan đến pháp lý và cả các chính sách thuế của nhà nước. Cuốn sách
cũng phản ánh những thay đổi trong pháp luật, bao gồm cả trường hợp pháp luật trả lời
theo luật định cuộc khủng hoảng thế chấp bất động sản khu dân cư; chiến lược quốc
phòng bị tịch thu đất; tác động chính sách của cuộc khủng hoảng thế chấp, trong đó có
vai trò của luật sư. So với các thành phần môi trường khác mà có thể giao dịch áp
dụng giấy phép như khoáng sản, nước, đất đai có một số đặc tính khá khác biệt, nhất là
vì nhiều công cụ pháp lý chi phối nên nó đóng một vai trò lớn trong việc xác định giá
của nó. Luật sở hữu khác nhau giữa các nước này sang nước khác, đặc biệt là ở trường
7
hợp của pháp luật phát triển, yếu tố quyết định giá vốn đất khi có nhu cầu. Vì lý do
này, trước khi đi vào chi tiết các ví dụ thực tế của giấy phép có thể giao dịch, mối quan
hệ giữa pháp luật bất động sản, quy định phát triển đô thị và cấp giấy phép có thể giao
dịch sẽ được kiểm tra, đặc biệt chú ý đến sự khác biệt giữa các hệ thống pháp lý ở Bắc
Mỹ và ở Tây Âu.
- Sách: “Transfer Land Use Rights in China: Results from a Survey of Rural”
(QSDĐ chuyển nhượng ở Trung Quốc: Kết quả từ một cuộc khảo sát ở nông thôn) của
nhóm tác giả Wen Yan, K.K. Klein, xuất bản 8/2013. Nhóm tác giả của cuốn sách này
xác định lý do tại sao tỷ lệ chuyển nhượng QSDĐ trong khu vực được lựa chọn là tỉnh
Hà Bắc, Trung Quốc quá thấp so với tỷ lệ trung bình, bằng cách đưa các yếu tố có thể
ảnh hưởng đến quyết định hộ gia đình nông thôn trong việc chuyển nhượng QSDĐ và
cũng để tìm ra các yếu tố quyết định để kiến nghị những tác động phù hợp. Kết quả
kinh tế cho thấy thiếu hụt của một hệ thống an sinh xã hội ở nông thôn, sự thiếu tự do
của nhiều hộ nông dân để thương lượng các điều khoản chuyển nhượng QSDĐ của họ,
và tỷ lệ thấp trong tổng thu nhập hộ gia đình đến từ các nguồn phi nông nghiệp là
những yếu tố chính có thể giải thích hiện tượng này.
- Đại sứ quán Pháp tại Trung Quốc và Quỹ phát triển Pháp luật châu Âu lục địa
(Fondation pour le Droit continental) đã cho công bố một số báo vào năm 2009 (số 0-
Tháng 01-3 năm 2009) về “Sở hữu tại Trung Quốc” (La propriété en Chine). Trong tài
liệu này, đã đề cập đến nhiều thông tin về sở hữu tài sản, nhất là về sở hữu bất động
sản tại Trung quốc. Bài viết liên quan đến chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Trung
Quốc.
Các công trình trên đã góp phần xây dựng cơ sở lý luận và đặt ra các vấn đề
thực tiễn về chuyển quyền sử dụng đất cũng như đối với việc quản lý đất đai của Nhà
nước. Tuy nhiên, những năm gần đây chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu chi
tiết, cụ thể toàn diện pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở Việt
Nam – một hình thức giao dịch đặc trưng, điển hình bắt buộc trong lĩnh vực đất đai.
Hơn nữa, trong điều kiện kinh tế xã hội luôn có những thay đổi, phát triển thì những
kết quả nghiên cứu đã đạt được vẫn cần tiếp tục bổ sung và hoàn thiện. Trên cơ sở các
công trình nghiên cứu khoa học đã công bố về chuyển nhượng quyền sử dụng đất,
nhóm tác giả có sự tổng hợp và kế thừa để nghiên cứu một cách có hệ thống cơ sở lý
luận, thông qua hoạt động thực tiễn phân tích và đưa ra những nhận định đánh giá của
8
mình về pháp luật điều chỉnh hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Bên cạnh
đó, nghiên cứu các quy định về quyền sở hữu đất đai và quyền được thực hiện các giao
dịch về đất đai ở một số quốc gia trên thế giới qua các công trình nghiên cứu nêu trên
cho nhóm tác giả rút ra được các tiền đề pháp lý sau đây khi thực hiện đề tài về hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo pháp luật Việt Nam:
- Thứ nhất, Với chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất thì đất đai tham gia giao
dịch trên thị trường chính là những mảnh đất cụ thể đã được xác định chủ sở hữu đích
thực. Hình thức của giao dịch được biểu hiện bằng các hợp đồng mua bán đất hoặc
hợp đồng chuyển quyền sở hữu đất mà không phải là chuyển nhượng quyền sử dụng
đât. Điều này cho thấy sự khác biệt cả về nội dung và hình thức của các giao dịch về
quyền sử dụng đất ở Việt Nam.
- Thứ hai, Dù quan hệ mua bán đất hay chuyển quyền sở hữu đất một cách tự do
và thuộc quyền tự định đoạt của mỗi chủ sở hữu đối với mảnh đất đó, pháp luật của
hầu hết các quốc gia đều quy định bắt buộc các chủ thể mua bán phải thông qua các
quy trình, thủ tục do cơ quan nhà nước kiểm soát và đồng thời phải tuân thủ tuyệt đối
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của Nhà nước. Đây cũng là tiền đề pháp lý để nhóm
tác giả phân tích, nhận định, đánh giá về hệ thống các quy trình, thủ tục hành chính ở
Việt Nam quy định về chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
- Thứ ba, công nhận và cho phép quyền chuyển dịch tự do quyền sở hữu đất đai
song pháp luật của tất cả các quốc gia đều quy định nghĩa vụ nộp thuế chuyển quyền
sở hữu đất cho Nhà nước. Tùy thuộc ở mỗi quốc gia khác nhau thì mức thuế suất
chuyển quyền sở hữu khác nhau và cách thức truy thu thuế suất qua mỗi lần tích tụ đất
đai là khác nhau. Đây là tiền đề pháp lý để nhóm tác giả tiếp cận và luận giải về các
chính sách tài chính về giá trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở Việt
Nam.
Tóm lại, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, nhóm tác giả tập tập trung nghiên
cứu cụ thể về các quy định pháp luật điều chỉnh hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất và các văn bản pháp luật liên quan; thực tiễn áp dụng; kinh nghiệm của một
số quốc gia; quan điểm của các nhà khoa học, các học giả về vấn đề liên quan đến hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong giai đoạn 2010 – 2020 tại Việt Nam.
3 Các mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống cơ sở lý luận pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
9
đất.
- Phân tích thực trạng và thực tiễn áp dụng pháp luật Việt Nam để làm rõ những
ưu điểm và hạn chế của pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
trong giai đoạn 2010 - 2020.
- Đề xuất định hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi
pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
4 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung nghiên cứu: quyền sử dụng đất là một tài sản đặc biệt, có
ý nghĩa quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội và liên quan đến nhiều lĩnh vực khác
nhau. Quyền sử dụng đất chịu sự điều chỉnh rộng rãi của nhiều lĩnh vực pháp luật
chuyên ngành. Trong công trình này, nhóm tác giả tập trung nghiên cứu chuyên sâu hệ
thống pháp luật đất đai hiện hành điều chỉnh quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng
đất. Các pháp luật khác liên quan như: pháp luật dân sự, pháp luật doanh nghiệp, đầu
tư, pháp luật kinh doanh bất động sản, pháp luật về công chứng, pháp luật tài chính
liên quan đến đất đai... sẽ được nghiên cứu ở phạm vi hẹp bởi các chế định cụ thể có
liên quan trực tiếp đến nội dung thuộc đề tài.
- Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu về hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất ở trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
- Phạm vi về thời gian: Nhóm tác giả tập trung nghiên cứu các quy định của
pháp luật hiện hành và thực tiễn thực hiện pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng
đất giai đoạn 2010 – 2020. Nhóm tác giả tiếp cận, nghiên cứu với mục đích so sánh,
đối chiếu giữa luật cũ và luật hiện hành để nhận thấy rõ nét hơn quá trình hình thành
và phát triển của pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là một quá
trình phát triển hợp quy luật, từ thấp đến cao, từ chưa phù hợp đến phù hợp hơn.
5 Ý nghĩa của nghiên cứu
* Đối với lĩnh vực giáo dục và đào tạo
Với tư cách là một nội dung của môn học pháp luật kinh tế, việc nghiên cứu
một cách toàn diện, chi tiết về đề tài sẽ giải quyết những vướng mắc của sinh viên và
giảng viên về các vấn đề có liên quan đến đề tài. Công trình sẽ là tài liệu tham khảo
hữu ích cho sinh viên, học viên và cán bộ thực tiễn trong quá trình nghiên cứu, vận
dụng giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
*Đối với lĩnh vực khoa học và công nghệ có liên quan
10
Các kết quả của đề tài sẽ góp phần hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại
và phát triển của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói riêng và pháp luật về
hợp đồng nói chung, từ đó hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam thông qua các giải
pháp, kiến nghị trong đề tài.
* Đối với phát triển kinh tế-xã hội:
Với việc làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đồng thời tìm ra các căn nguyên cơ bản, hợp lý và
chính xác có tác động và ảnh hưởng đến các giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng
đất trên thị trường để đưa ra những định hướng, giải pháp tổng thể, toàn diện và thiết
thực nhằm hướng tới đảm bảo sự vận hành của các giao dịch chuyển nhượng quyền sử
dụng đất thuận lợi, an toàn, minh bạch và công khai hóa trên nền tảng của chế độ sở
hữu toàn dân về đất đai, tôn trọng tối đa các quy luật của thị trường và phù hợp với xu
thế hội nhập quốc tế.
* Đối với tổ chức chủ trì và các cơ sở ứng dụng kết quả nghiên cứu
Đề tài đảm bảo cung cấp cho sinh viên, giáo viên và các cơ quan quản lý có liên
quan những kiến thức pháp luật về hợp đồng nói chung và hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất nói riêng.
6 Kết cấu báo cáo nghiên cứu
Ngoài các phần tóm lược, lời cảm ơn, mục lục, kết cấu đề tài gồm 4 chương. Cụ
thể:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài
Chương 2: Cơ sở lý luận về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và
pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Chương 3: Thực trạng pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
trong giai đoạn 2021 – 2020 ở Việt Nam
Chương 4: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi
pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN
SỬ DỤNG ĐẤT VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG
QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
1.1. Khái quát về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
1.1.1. Các khái niệm liên quan
Đất đai là nguồn tài nguyên quan trọng của đất nước. Các vấn đề liên quan đến
quản lý, sử dụng đất đai là một trong những vấn đề hệ trọng của quốc gia. Ngay từ khi
mới thành lập, Đảng ta đã coi sở hữu đất đai là một trong những nội dung cốt lõi của
mục tiêu đấu tranh cách mạng, đánh giá đúng vai trò, vị trí của đất đai nên trong mỗi
giai đoạn lịch sử, Đảng và Nhà nước đã có những chính sách về sở hữu quản lý, sử
dụng đất đai phù hợp, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất
nước. Việc hoàn thiện chính sách, pháp luật đất đai cần phải được thực hiện một cách
khoa học, đầy đủ, bảo đảm xây dựng một hệ thống pháp luật về đất đai hoàn chỉnh,
toàn diện, bao quát các vấn đề liên quan, minh bạch về thông tin đất đai, dự báo được
các biến động trong tương lai, trên cơ sở nghiên cứu và đối chiếu từ kinh nghiệm quốc
tế. Xuất phát từ thực tiễn nước ta là một quốc gia đang chuyển đổi nền kinh tế từ nền
kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của
Nhà nước theo định hướng XHCN, Việt Nam cần tăng cường vai trò của các công cụ
thị trường trong quản lý tài nguyên, đặc biệt là loại tài nguyên có giá trị rất lớn như đất
đai, nhằm sử dụng, khai thác có hiệu quả để có thể phát huy được tiềm năng kinh tế to
lớn từ đất đai. Nhà nước xác lập quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai, trên cơ sở đó
pháp luật công nhận quyền sử dụng đất đai của các chủ thể, coi quyền sử dụng đất là
hàng hóa, vận hành theo cơ chế thị trường. Song song với việc phát triển kinh tế, pháp
luật đất đai đồng thời cũng phải được xây dựng để đảm bảo công bằng xã hội, thực
hiện các mục tiêu xóa đói giảm nghèo, tạo điều kiện để người dân có đất canh tác, sinh
hoạt, ổn định cuộc sống, bảo đảm các quyền cơ bản của công dân như quyền chuyển
nhượng quyền sử dụng đất.
Hợp đồng là một trong các khái niệm đầu tiên của pháp luật, được hình thành
ngay từ khi con người thực hiện những giao dịch đầu tiên. Thuật ngữ hợp đồng còn
được dùng để chỉ các quan hệ pháp luật phát sinh từ hợp đồng, để chỉ văn bản chứa
đựng nội dung của hợp đồng. Hợp đồng có thể được thực hiện ngay khi các bên đạt
được sự thoả thuận. Đối với các hợp đồng đơn giản này, cử chỉ, lời nói cũng là hình
12
thức thể hiện hợp đồng. Cùng với sự gia tăng nhu cầu trao đổi, nhất là từ khi giới
thương gia hình thành, việc thực hiện hợp đồng dần dần tách khỏi thời điểm các bên
đạt được sự thoả thuận, và hợp đồng dưới hình thức văn bản xuất hiện. Để chống lại sự
gian dối, lật lọng trong giao dịch, hình thức văn bản có chứng thực, chứng nhận dần
được hình thành. Chế định hợp đồng đạt được sự hoàn thiện cả về nội dung và hình
thức vào thời kì đầu của xã hội tư sản. Cùng với sự phát triển của xã hội, các nguyên
tắc cơ bản của hợp đồng từng bước bị hạn chế nhằm bảo vệ lợi ích chung của cộng
đồng. Ở Việt Nam, các quy định về hợp đồng không được thể hiện một cách tập trung
thành một văn bản quy phạm pháp luật thống nhất, mà mỗi loại hợp đồng được quy
định trong một văn bản như: hợp đồng dân sự trong Bộ luật dân sự (BLDS), hợp đồng
lao động trong Bộ luật lao động, hợp đồng thương mại trong Luật thương mại...
Điều 388 Bộ luật Dân sự năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) quy định khái
niệm hợp đồng như sau: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác
lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Tuy nhiên, quan hệ pháp luật
dân sự theo nghĩa rộng bao gồm cả những quan hệ về đầu tư, lao động, kinh doanh
thương mại, bảo hiểm…. Theo đó, tại thời điểm này, trong khái niệm về hợp đồng từ
“dân sự” được đặt đằng sau hai từ “hợp đồng” và sau hai từ nghĩa vụ thì dẫn đến thực
tiễn thi hành pháp luật có cách hiểu rằng những quy định của Bộ luật Dân sự hiện hành
chỉ liên quan đến hợp đồng dân sự. Như vậy, sẽ làm hạn chế phạm vi điều chỉnh của
Bộ luật dân sự với tư cách là đạo luật chung đối với tất cả các loại hợp đồng, bao gồm
cả hợp đồng dân sự, hợp đồng lao động, hợp đồng kinh doanh hay hợp đồng thương
mại. Do đó, mà tại BLDS 2015 này các nhà làm luật đã có những chỉnh sửa liên quan
đến khái niệm “hợp đồng” để khắc phục bất cập trên. Cụ thể, Điều 385 BLDS năm
2015 quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc
chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự”. So với BLDS hiện hành thì BLDS năm 2015 đã
bỏ cụm từ “dân sự” sau hai từ “hợp đồng”. Quy định mới về khái niệm hợp đồng tại
Điều 385 của BLDS năm 2015 là điểm mới quan trọng, đáng chú ý không những về
mặt kỹ thuật lập pháp và còn làm tăng tính khả thi, minh bạch trong thực tiễn áp dụng.
Bộ luật dân sự năm 2015 ghi nhận sáu loại hợp đồng chủ yếu tại Điều 402:
Hợp đồng gồm các loại chủ yếu sau đây:
1. Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau.
2. Hợp đồng đơn vụ là hợp đồng mà chỉ một bên có nghĩa vụ.
13
3. Hợp đồng chính là hợp đồng mà hiệu lực không phụ thuộc vào hợp đồng phụ.
4. Hợp đồng phụ là hợp đồng mà hiệu lực phụ thuộc vào hợp đồng chính.
5. Hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba là hợp đồng mà các bên giao kết hợp
đồng đều phải thực hiện nghĩa vụ và người thứ ba được hưởng lợi ích từ việc thực hiện
nghĩa vụ đó.
6. Hợp đồng có điều kiện là hợp đồng mà việc thực hiện phụ thuộc vào việc
phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt một sự kiện nhất định.
Theo đó, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mang đầy đủ bản chất
của hợp đồng song vụ. Khái niệm “chuyển nhượng quyền sử dụng đất” không phải là
một khái niệm đã có từ lâu đời như khái niệm “mua, bán đất” mà mới xuất hiện khi
Luật Đất đai năm 1993 xác lập cho phép hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất
có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất.
Kế thừa quan điểm này, Luật đất đai 2013 quy định “Chuyển quyền sử dụng đất là
việc chuyển giao quyền sử dụng đất từ người này sang người khác thông qua các hình
thức chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất và góp vốn
bằng quyền sử dụng đất”. Trên thực tế việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất hình
thức phổ biến nhất trong chuyển quyền sử dụng. Hình thức này biểu hiện tập trung
nhất tính chất của chuyển quyền sử dụng đất.
Một vấn đề đặt ra là tại sao nhà làm luật dùng thuật ngữ “chuyển nhượng
quyền sử dụng đất” mà không dùng thuật ngữ “mua, bán quyển sử dụng đất; hai thuật
ngữ này khác nhau như thế nào? Thuật ngữ “chuyển nhượng đất” hoặc “chuyển
nhượng ruộng đất” đã được sử dụng song song với thuật ngữ mua bán đất và được đề
cập tại các văn bản về quản lý đất đai của nước ta từ trước năm 1993, cụ thể: Mục 9,
phần II Thông tư số 55/ĐKTK ngày 05 tháng 11 năm 1981 của Tống cục Quản lý
ruộng đất (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) hướng dẫn cách giải quyết các trường
hợp sử dụng ruộng đất không hợp pháp, không hợp lý quy định: “Nói chung, tất cả các
việc chuyển nhượng, mua bán đất hoặc đất của Hợp tác xã chia cấp không được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền cho phép và tất cả các việc chuyển nhượng, mua bán đất
từ trước đây thuộc sở hữu tư nhân không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thị
thực đều là trái phép. Riêng đối với các tỉnh phía Nam, kể từ sau ngày 5-3-1975 ban
hành nghị định số 01-ND/75 của Chính phủ miền Nam Việt Nam, tất cả mọi việc mua,
bán, chuyển nhượng ruộng đất giữa các tư nhân với nhau, dù là có được chính quyền
14
địa phương thị thực, đều là trái phép. Như vậy, xét về mặt từ ngữ thì chắc chắn có sự
khác biệt giữa “chuyển nhượng” và “mua bán”. Theo các nhà ngôn ngữ học định nghĩa
thì “nhượng” là một động từ có nghĩa là “nhường, bán hoặc cho”; “nhường”; cũng là
một động từ có nghĩa là “nhượng, chịu thiệt cho mình đê lợi cho người”. “Chuyển
nhượng” nghĩa là “nhường lại, bán lại cho người khác”. “Mua” nghĩa là “trao đổi tiền
lấy đồ vật với sự ưng thuận của người bán”, “Bán” nghĩa là “Trao đổi đồ vật và tiền có
sự thỏa thuận cả đôi bên”.
Xét về bản chất kinh tế, “chuyển nhượng” và “mua, bán” có điểm tương
đồng thể hiện ở việc một bên chuyển giao tài sản (hoặc quyền sử dụng đất cho bên kia
để lấy tiền, tuy nhiên, về mặt pháp lý, chuyển nhượng quyền sử dụng đất khác với mua
bán đất đai ở một số điểm sau đây: Thứ nhất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất có đối
tượng là chuyển giao quyền sử dụng đất còn mua bán đất có đối tượng là chuyển giao
quyền sở hữu và quyền sử dụng đất. Thứ hai, chủ thể chuyển nhượng quyền sử dụng
đất là người sử dụng đất còn chủ thê mua bán đất là chủ sở hữu đất đai. Thứ ba, hình
thức pháp lý của chuyển quyền sử dụng đất là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất. Ngoài ra, chúng ta có thể thấy rằng “chuyển nhượng” ít mang ý nghĩa kinh
tế, tìm kiếm lợi nhuận, trong nhiều trường hợp thậm chí không có. Còn “mua bán” thì
phải có lợi nhuận. Nhà làm luật đã lựa chọn thuật ngữ “chuyển nhượng quyền sử dụng
đất” thay vì “mua bán quyền sử dụng đất” để phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện và mục
tiêu của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Dần dần theo thời gian, thuật ngữ chuyển nhượng
quyền sử dụng đất đã trở nên phổ biến, đặc biệt là trong các văn bản hành chính Nhà
nước và nội hàm của nó cũng biến đổi theo hướng là một khái niệm có tính chất tương
tự như “mua ban quyền sử dụng đất”.
Khái niệm hợp đồng chuyển nhượng sử dụng đất được các nhà làm luật chính
thức ghi nhận trong Bộ luật dân sự 2005 như sau: “ Hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên chuyển nhượng quyền sử dụng
đất chuyển giao đất và quyền sử dụng đất cho bên nhận chuyển nhượng, còn bên nhận
chuyến nhượng trả tiền cho bên chuyển nhượng theo quy định của Bộ luật này và pháp
luật về đất đai”. Bộ luật dân sự 2015 không quy định cụ thể khái niệm hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất như năm 2005 mà quy định chung cho tất cả các
hợp đồng liên quan đến chuyển quyển sử dụng đất. Theo đó, “Hợp đồng về quyền sử
dụng đất là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó người sử dụng đất chuyển đổi, chuyển
15
nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất hoặc
thực hiện quyền khác theo quy định của Luật đất đai cho bên kia; bên kia thực hiện
quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng với người sử dụng đất” . Điều đó có nghĩa là, chuyển
quyền sử dụng đất là việc người sử dụng đất được phép chuyển quyền sử dụng đất đối
với các phần diện tích thuộc quyền sử dụng tương ứng với nghĩa vụ thực hiện với Nhà
nước bao gồm chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp,
góp vốn. Chuyển nhượng quyền sử dụng đất chỉ là một trong các hình thức của chuyển
quyền sử dụng đất nói chung mà thôi.
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất rất dễ bị nhầm lẫn với hợp đồng
chuyển đổi quyền sử dụng đất. Chuyển nhượng và chuyển đổi đều là hình thức chuyển
quyền sử dụng đất, theo đó nhà nước chấm dứt quyền sử dụng đất của bên này để thiết
lập quyền sử dụng đất cho bên kia. Tuy nhiên, hai hình thức này khác nhau ở chỗ, nếu
như trong quan hệ chuyển nhượng quyề sử dụng đất, đối tượng của quan hệ là “đổi
quyền sử dụng đất lấy tiền” thì trong quan hệ chuyển đổi quyền sử dụng đất đối tượng
của quan hệ lại là “đổi quyền sử dụng đất lấy quyền sử dụng đất”. Trong quan hệ
chuyển đổi quyền sử dụng đất này các bên có thể thỏa thuận chuyển tiền cho nhau để
bù đắp giá trị chênh lệch giữa hai thửa đất những mục đích cơ bản và cũng là vấn đề cả
người sử dụng đất lẫn cơ quan quản lý nhà nước quan tâm là các bên đổi quyền sử
dụng đất cho nhau.
Tóm lại, dưới góc độ khoa học pháp lý chúng ta có thể hiểu “hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận thống nhất ý chí giữa các bên, theo
đó người có quyền sử dụng đất (bên chuyển nhượng) có nghĩa vụ giao quyền sử dụng
đất cho bên nhận chuyển nhượng, bên nhận chuyển nhượng có nghĩa vụ trả tiền cho
bên chuyển nhượng theo thỏa thuận và các bên phải thực hiện nghĩa vụ tài chính với
nhà nước theo quy định pháp luật”.
1.1.2. Đặc điểm của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Trước hết, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mang đầy đủ đặc điểm
của hợp đồng song vụ dân sự nói chung, đó là:
Thứ nhất, đây là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên, nhưng là sự thỏa thuận
thống nhất ý chí và ý chí đó phải phù hợp với ý chí của Nhà nước.
Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều người mà tạo lập nên một nghĩa
vụ làm hoặc không làm một việc cụ thể, nếu chỉ là ý chí của một bên thì đó được gọi là
16
hành vi pháp lý đơn phương. Tuy nhiên, thỏa thuận không dựa trên sự tự nguyện của
các bên, tức là không có sự thống nhất ý chí thì hợp đồng đó bị tuyên vô hiệu khi có
yêu cầu. Nguyên tắc của pháp luật là bình đẳng, dựa trên sự thỏa thuận, tự nguyện
thiện chí của các bên nên nếu không có sự thống nhất ý chí thì không được coi là đã
hình thành nên hợp đồng. Đồng thời, sự thỏa thuận thống nhất ý chí còn phải phù hợp
với ý chí của Nhà nước để Nhà nước kiểm soát và cho phép hợp đồng phát sinh trên
thực tế.
Thứ hai, hợp đồng là một sự kiện pháp lý làm phát sinh hậu quả pháp lý: Xác
lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể.
Sự kiện pháp lý là sự biến hoặc hành vi mà pháp luật quy định khi xuất hiện thì
sẽ xác lập, thay đổi hay chấm dứt quan hệ pháp luật. Hợp đồng là một sự kiện pháp lý,
theo đó các bên khi có nhu cầu tham gia giao lưu dân sự nhằm thỏa mãn mục đích của
mình sẽ tiến hành thực hiện.
Nghĩa vụ được phát sinh từ hai nguồn gốc là hành vi pháp lý hoặc sự kiện pháp
lý. Sự kiện pháp lý bao gồm các sự kiện, hoặc tự nguyện (như vi phạm) hoặc không tự
nguyện; hợp pháp hoặc không hợp pháp mà hậu quả pháp lý cụ thể của chúng được
xác định không phải bởi các bên mà bởi pháp luật. Tự nguyện trong sự kiện pháp lý
chỉ là tự nguyện đối với hậu quả thiệt hại chứ không tự nguyện đối với hậu quả pháp
lý.
Hành vi pháp lý là một sự thể hiện ý chí nhằm làm phát sinh ra một hậu quả
pháp lý, có nghĩa là làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt một quyền lợi. Sự thể hiện ý
chỉ có thể là đơn phương (như đề nghị giao kết hợp đồng) hoặc có thể là đa phương,
hay còn gọi là sự thống nhất ý chí, có nghĩa là sự thỏa thuận, mà sự thỏa thuận có mục
đích xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền lợi được gọi là hợp đồng. Vậy nên hợp
đồng thường được định nghĩa là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều người xác lập
nhằm thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên chủ thể.
Thứ ba, nội dung của hợp đồng là quyền và nghĩa vụ mà các bên chủ thể quy
định cho nhau.
Hợp đồng là sự thống nhất của ý chí các chủ thể tham gia giao kết, nội dung của
hợp đồng thể hiện rõ ý chỉ đó của các bên trong phần quyền và nghĩa vụ cụ thể. Vì
vậy, hợp đồng ít nhất phải có hai bên chủ động cùng nhau tạo lập một quan hệ nghĩa
vụ pháp lý cụ thể. Nếu phân tích hợp đồng từ các lời hứa hay sự cam kết, thì hợp đồng
17
có thể được xem là một phương thức mà theo đó người này thương lượng với người
khác để có thể tạo ra sự đảm bảo rằng những lời hứa hay sự cam kết của họ có đời
sống dài lâu hơn so với những trạng thái dễ thay đổi trong suy nghĩ của họ. Điều này
nghĩa là khi đã cam kết thực sự và mong muốn tạo lập ra một hậu quả pháp lý, những
người cam kết bị ràng buộc vào cam kết của mình (trừ trường hợp trở ngại khách
quan, bất khả kháng) mà pháp luật gọi đó là nghĩa vụ.
Thứ tư, mục đích của hợp đồng là lợi ích hợp pháp, không trái đạo đức xã hội
mà các bên cùng hướng tới: Chỉ khi mục đích của hợp đồng dân sự được chứng minh
hoặc được thừa nhận là hợp pháp, không trái đạo đức xã hội thì hợp đồng dân sự mới
phát sinh hiệu lực, qua đó quyền và nghĩa vụ của các bên mới có thể thực hiện được
trên thực tế.
Bên cạnh đó, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cũng mang những
đặc điểm riêng biệt. Để hiểu rõ về những đặc trưng riêng của hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất chúng ta có thể đi sâu vào phân tích và so sánh với một số hình thức
chuyển quyền sử dụng đất khác. Cụ thể:
So sánh giữa hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với hợp đồng
chuyển đổi quyền sử dụng đất
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất rất dễ bị nhầm lẫn với hợp đồng
chuyển đổi quyền sử dụng đất. Chuyển nhượng và chuyển đổi đều là hình thức chuyển
quyền sử dụng đất, theo đó nhà nước chấm dứt quyền sử dụng đất của bên này để thiết
lập quyền sử dụng đất cho bên kia. Tuy nhiên, hai hình thức này khác nhau ở chỗ, nếu
như trong quan hệ chuyển nhượng quyề sử dụng đất, đối tượng của quan hệ là “đổi
quyền sử dụng đất lấy tiền” thì trong quan hệ chuyển đổi quyền sử dụng đất đối tượng
của quan hệ lại là “đổi quyền sử dụng đất lấy quyền sử dụng đất”. Trong quan hệ
chuyển đổi quyền sử dụng đất này các bên có thể thỏa thuận chuyển tiền cho nhau để
bù đắp giá trị chênh lệch giữa hai thửa đất những mục đích cơ bản và cũng là vấn đề cả
người sử dụng đất lẫn cơ quan quản lý nhà nước quan tâm là các bên đổi quyền sử
dụng đất cho nhau. Chuyển đổi quyền sử dụng đất là phương thức đơn giản của
chuyển quyền sử dụng đất, theo đó, các bên có quyền sử dụng đất thỏa thuận chuyển
quyền sử dụng đất cho nhau để thỏa mãn nhu cầu tiện lợi trong sản xuất, đời sống.
Mục đích của chuyển đổi quyền sử dụng đất là tạo điều kiện thuận tiện cho sản xuất
nhằn nâng cao hiệu quả sử dụng đất và phù hợp với điều kiện nhu cầu của từng đối
18
tượng sử dụng đất. Việc nhà nước ghi nhận quyền này có ý nghĩa rất lớn
* So sánh giữa hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với hình thức thế
chấp quyền sử dụng đất
Thế chấp quyền sử dụng đất là trường hợp ngời sử dụng đất mang quyền sử
dụng đất của mình đi thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Nghĩa vụ dân sự
là nghĩa vụ của bên thế chấp, thông thường được phát sinh từ hợp đồng vay mượn tiền,
tài sản của bên thế chấp. Việc nhà nước ghi nhận quyền này nhằm tạo điều kiện cho
người sử dụng đất có thể dùng quyền sử dụng đeất của mình để đảm bảo thực hiện
nghĩa vụ trong quá trình tạo lập cho mình một khoản tiền một cách hợp pháp để đầu tư
vào sản xuất, kinh doanh khi họ không có điều kiện kinh tế trước mắt.
Cũng như chuyển nhượng quyền sử dụng đất, khi thế chấp quyền sử dụng đất,
người có quyền sử dụng đất phải chuyển giao giấy chứng nhận cho bên nhận thế chấp,
nhưng sự chuyển giao này chỉ mang tính tạm thời, trong thời hạn thế chấp hoặc chưa
giải trừ thế chấp.
Khác với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bên thế chấp không bị
chấm dứt việc sử dụng đất của mình mà vẫn được tiếp tục chiếm hữu, sử dụng đất; bên
nhận thế chấp không có quyền như một chủ sử dụng đất cả về mặt thực tế lẫn pháp lý
mà họ chỉ có quyền năng pháp lý của bên thế chấp và có quyền đưa quyền sử dụng đất
này ra phát mại bán đấu giá khi bên thế chấp không hoặc thực hiện khong đầy đủ
nghĩa vụ hai bên đã thỏa thuận.
Như vậy, khác với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thế chấp quyền
sử dụng đất là hình thức chuyển quyền sử dụng đất không trọn vẹn và có điều kiện.
Thêm nữa, điều kiện chủ thể của bên nhận thế chấp không rộng như bên nhận chuyển
nhượng, thường chủ là tổ chức tín dụng có đầy đủ điều kiện theo luật định.
* So sánh hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với hợp đồng mua bán
tài sản thông thường:
Ở đây cũng cần lưu ý bản chất hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là
đổi quyền sử dụng lấy tiền khá giống với hợp đồng mua bán tài sản thông thường.
Quyền và nghĩa vụ của các bên đều được phát sinh thông qua hình thức hợp đồng,
quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia, một bên có nghĩa vụ chuyển giao quyền sử
dụng đất (đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất) hoặc tài sản (đối với
hợp đồng mua bán tài sản) và nhận tiền; ngược lại bên kia có nghĩa vụ trả tiền và nhận
19
quyền sử dụng đất hoặc tài sản. Tuy nhiên, đây là hai loại hợp đồng khác biệt, thể hiện
ở chỗ:
Thứ nhất về mặt đối tượng: trong hợp đồng mua bán tài sản, đối tượng luôn là
tài sản thuộc quyền sở hữu bên bán, còn hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
là quyền của bên chuyển nhượng, thửa đất chuyển nhượng vẫn thuộc quyền sở hữu của
toàn dân mà nhà nước là đại diện chủ sở hữu .
Thứ hai, hình thức hợp đồng mua bán tài sản có thể được giao kết bằng văn bản,
lời nói hay hành vi. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bắt buộc bằng văn
bản và có công chứng.
Thứ ba, hợp đồng mua bán tài sản không phải thực hiện nghĩa vụ gì với nhà
nước nhưng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có nghĩa vụ tài chính với nhà
nước theo quy định của pháp luật.
1.2. Khái quát pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
1.2.1. Khái niệm
Pháp luật ra đời vì nhu cầu của xã hội để quản lý một xã hội đã phát triển ở một
mức độ nhất định. Khi xã hội đã phát triển quá phức tạp, xuất hiện những giai cấp
mang lợi ích đối lập với nhau và nhu cầu về chính trị - giai cấp để bảo vệ lợi ích cho
giai cấp, lực lượng thống trị về chính trị và kinh tế trong xã hội. Khái niệm pháp luật
đang tồn tại nhiều quan niệm khác nhau như: Pháp luật là ý muốn của Thượng đế;
pháp luật là phương tiện để quản lý xã hội (pháp luật gắn liền với xã hội, ở đâu có xã
hội thì ở đó có pháp luật); pháp luật là những tiêu chuẩn căn bản mà mọi người phải
tuân theo để quản lý xã hội và trừ khử những điều gian tà, bất chính trong xã hội; pháp
luật là công lý đại diện cho sự công bằng xã hội, bảo vệ lợi ích cho tất cả mọi người
trong xã hội; pháp luật là ý chí của giai cấp thống trị được đề lên thành luật;…
Các quan điểm hiện đại đều cho rằng, pháp luật công cụ pháp lý xã hội ra đời
khi xã hội đã phát triển đến một trình độ nhất định, xã hội trở nên phức tạp, đặc biệt
một trình đọ nhất định, xã hội trở nên phức tạp, đặc biệt là khi trong xã hội có sự phân
hóa thành các giai cấp có lợi ích đói lập nhau, các công cụ pháp lý xã hội khác như tập
quán, đạo đức, tính điều tôn giáo … không còn đủ khả năng duy trì được trật tự xã hội
và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị. Trong những điều kiện như vậy, nhà nước đã
ban hành ra pháp luật (thừa nhận những quy định đã có trong xã hội là pháp luật và
bảo đảm cho chúng được thực hiện, nhà nước còn tiến hành đặt ra những quy định
20
pháp luật mới) để tổ chức và quản lý xã hội vừa để bảo vệ lợi ích của xã hội vừa để
bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền.
Theo nghĩa hẹp, pháp luật gồm các quy định mà phần lớn là các quy tắc xử sự
chung do nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội vì lợi ích cảu cả xã hội
và vì lợi ích của giai cấp thống trị.
Theo nghĩa rộng, pháp luật không chỉ gồm các quy tắc xử sự chung mà còn bao
hàm cả các nguyên tắc xử sự, các tư tưởng, học thuyết pháp lý … được thể hiện ở các
loại nguồn pháp luật khác nhau.
Thông thường, pháp luật được hiểu khái quát như sau: “Pháp luật là hệ thống
các quy tắc xử sự chung, do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí
của nhà nước, là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội vì sự tồn tại và phát triển của
cả xã hội, đồng thời vì lợi ích, mục đích của giai cấp thống trị”.
Bên cạnh đó, như đã phân tích ở trên, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó người sử dụng chuyển nhượng theo quy định
của pháp luật cho bên kia; bên kia thực hiện quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng với người
sử dụng đất. Trong quan hệ này, bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất sẽ chấp dứt
quan hệ sử dụng đất trước Nhà nước, chấm dứt mối quan hệ đất đai pháp luật điều
chỉnh, đồng thời tạo nên mối quan hệ mới giữa Nhà nước và người nhận chuyển
nhượng. Nhà nước với vai trò đại diện chủ sử hữu đất đai, vừa là chủ thể ban hành
pháp luật, đã đưa ra các quy phạm pháp luật điều chỉnh mọi quan hệ phát sinh trong
quá trình chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thiết ập các quan hệ luôn luôn được thực
hiện theo một vòng trật tự nhất định.
Từ đó, có thể rút ra khái niệm: “pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất là tổng thể các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận
nhằm điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong quá trình giao kết, thực hiện hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Có thể nhận thấy pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bao
gồm các yếu tố :
Đây là các quy tắc xử sự chung được hệ thống mang tính pháp luật và
tính đạo đức, áp dụng với quy mô cả nước, đối với mọi chủ thể trong xã hội.
Đối với các quy định của pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất được áp dụng chung trong cộng đồng, chủ thể không có quyền lựa chọn
21
thực hiện hay không vì pháp luật mang tính bắt buộc chung và được đảm bảo thực
hiện.
Nội dung của pháp luật vừa thể hiện ý chí, bản chất của giai cấp thống
trị, vừa thể hiện sự bình đẳng thỏa thuận giữa các chủ thể trong hợp đồng chuyển
nhượng đất.
1.2.2. Nội dung pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Đất đai, quyền sở hữu và quyền sử dụng đất được đề cập đến trong Hiến pháp,
đạo luật có hiệu lực pháp lý cao nhất của Nhà nước ta và tiếp tục được cụ thể hóa tại
các văn bản pháp lý khác. BLDS với tư cách là đạo luật gốc điều chỉnh các quan hệ
dân sự nói chung quy định về địa vị pháp lý của cá nhân, pháp nhân, các điều kiện trở
thành chủ thể của giao dịch dân sự, tài sản và quyền sở hữu, nghĩa vụ, hợp đồng, ...
Pháp luật đất đai quy định cụ thể về các nội dung liên quan đến đất và quyền sử dụng
đất, quyền và trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai, quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất, đăng ký đất đai, cấp GCN QSDĐ, căn cứ xác lập quyền sử dụng đất, chế độ sử
dụng, phân loại đất, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, ... Pháp luật kinh doanh
bất động sản quy định về HĐCNQSDĐ trong hoạt động kinh doanh bất động sản.
Pháp luật nhà ở quy định về các giao dịch mua bán nhà ở gắn liền với quyền sử dụng
đất ở, ... Căn cứ quy định pháp luật về mục đích sử dụng đất ở và việc nghiêm cấm xây
dựng “nhà ở trên đất không phải là đất ở” (khoản 4 Điều 6 Luật nhà ở 2014), thì chỉ
các hợp đồng có đối tượng là “quyền sử dụng đất ở” chịu sự điều chỉnh của pháp luật
nhà ở trong trường hợp có nhà ở trên đất (tuy nhiên trên thực tế vẫn có trường hợp
ngoại lệ do sự thiếu thống nhất trong quy định pháp luật hiện hành). Phạm vi điều
chỉnh của các ngành luật nói trên đề cập đến nhiều nội dung. Để tập trung cho việc
nghiên cứu của đề tài, trong phần này, nhóm tác giả chủ yếu phân tích một số phương
diện cơ bản.
Thứ nhất, các quy định pháp luật về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất.
Việc xác định hợp đồng có hiệu lực hay hợp đồng vô hiệu rất quan trọng trong
việc ràng buộc các bên thực hiện đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận hợp đồng, hoặc xác
định các nghĩa vụ bị vi phạm khi giải quyết tranh chấp hợp đồng. Bởi hợp đồng vô
hiệu sẽ không làm phát sinh nghĩa vụ phải thực hiện theo thỏa thuận hợp đồng đối với
các bên. Các bên giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cần lưu ý
22
những điều kiện sau để đảm bảo hợp đồng có hiệu lực:
* Chủ thể của hợp đồng là những người tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng,
có quyền, nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng và phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện
quyền, nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đó. Để tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng,
theo quy định của pháp luật hiện hành chủ thể phải có đầy đủ năng lực pháp lý. Theo
đó, yêu cầu về chủ thể tham gia hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất “có năng
lực hành vi dân sự” là một trong những điều kiện tiên quyết để hợp đồng có hiệu lực.
Nhìn chung, để có thể xác lập, thực hiện các hợp đồng, chủ thể là cá nhân phải
có năng lực hành vi dân sự thích ứng với loại giao dịch hoặc loại hợp đồng mà chủ thể
đó tham gia. Pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác xác lập, thực hiện hợp đồng thông qua
người đại diện hợp pháp, nhưng phải đúng ‘phạm vi đại diện’ và phải phù hợp với giới
hạn về ‘lĩnh vực hoạt động’ của các chủ thể.
*Nội dung, mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật và
không trái đạo đức xã hội
Pháp luật Việt Nam thừa nhận nguyên tắc tự do cam kết, thỏa thuận. Nhưng để
bảo vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích của công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của
người khác, “Bộ luật dân sự 2015” cũng qui định một số trường hợp hạn chế quyền tự
do của các bên trong việc thiết lập hợp đồng. Theo đó, nội dung và mục đích của hợp
đồng (giao dịch dân sự) “không được vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái
đạo đức xã hội” (Điểm b, khoản 1 Điều 122). Hợp đồng (giao dịch dân sự) “có mục
đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu”
(Điều 128).
Nội dung của hợp đồng là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể
tham gia hợp đồng được thể hiện trong các điều khoản của hợp đồng. Mục đích của
của hợp đồng nói chung và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói riêng là
“lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó”.
*Tính tự nguyện:
Tự nguyện xác lập, thực hiện hợp đồng là việc chủ thể tự mình quyết định là có
tham gia hay không tham gia vào hợp đồng theo nguyện vọng của cá nhân mình,
không chịu sự chi phối hay sự tác động, can thiệp chủ quan nào từ những người khác.
Pháp luật đòi hỏi những người tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng phải hoàn toàn tự
nguyện. Tự nguyện là nguyên tắc pháp lý cơ bản của pháp luật. Tự nguyện giao kết
23
hợp đồng là yếu tố cơ bản để các bên xác lập quan hệ hợp đồng vì bản chất của hợp
đồng vốn là sự thống nhất ý chí của các bên thông qua sự thỏa thuận tự do và tự
nguyện. Do vậy, hợp đồng xác lập thiếu yếu tố tự nguyện thì đương nhiên vô hiệu
(nếu được xác lập do giả tạo) hoặc có thể bị vô hiệu (trong các trường hợp còn lại
được quy định trong Bộ luật dân sự 2015).
*Hình thức hợp đồng
Hình thức là một yếu tố pháp lý quan trọng của hợp đồng, có quan hệ biện
chứng với bản chất, nội dung, giá trị hiệu lực, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, và
là phương tiện để diễn đạt ý chí của các bên,cũng như để chứng minh sự tồn tại của
hợp đồng. Người ta sẽ không biết đến sự tồn tại của hợp đồng, nếu nó không được thể
hiện dưới một hình thức xác định. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là một
loại giao dịch dân sự, mà bản chất của nó là sự thỏa thuận giữa các bên, và hợp đồng
chỉ có thể được tạo lập khi có sự gặp gỡ ý chí giữa các bên. Hình thức của hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất không chỉ là hình thức thể hiện nội dung của hợp
đồng mà còn là những thủ tục mà pháp luật qui định bắt buộc các bên giao kết hợp
đồng phải tuân thủ khi giao kết một số loại hợp đồng như phải có xác nhận của công
chứng, chứng thực, đăng ký hoặc xin phép…Hình thức của hợp đồng chuyển quyền sử
dụng đất là căn cứ để xác định các bên đã tham gia vào hợp đồng. Thông qua đó, xác
định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng, xác định trách nhiệm của người vi
phạm hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất.
Thứ hai, các quy định về trình tự thủ tục xác lập hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất.
Pháp luật về HĐCNQSDĐ liên quan đến trình tự thủ tục được thể hiện trên
những phương diện: (i) Quy định pháp luật về nguồn gốc hình thành đối tượng hợp
đồng (căn cứ, hình thức xác lập quyền sử dụng đất), điều kiện để quyền sử dụng đất ở
trở thành đối tượng của HĐCNQSDĐ, các loại đối tượng của HĐCNQSDĐ (Điều 55,
Điều 143, Điều 144, Điều 145, Điều 136, Điều 137, Điều 188, ... Luật Đất đai 2013);
(ii) Để HĐCNQSDĐ được giao kết, thực hiện và có hiệu lực, các bên phải thực hiện
đầy đủ các thủ tục hành chính và tuân thủ các điều kiện của pháp luật (thủ tục giao đất,
cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất,
cấp GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, các quyền của
người sử dụng đất, ...).
24
Thứ ba, các quy định về thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Nhà nước giữ cho mình quyền định đoạt tối cao với tư cách là đại diện chủ sở hữu đất
đai và giới hạn quyền của người sử dụng đất trên cơ sở phù hợp với các quy định của
Hiến pháp nhằm đảm bảo hài hòa vai trò của chủ sở hữu, nguyên tắc quản lý thống
nhất với đất đai và quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất. Sự điều chỉnh của
pháp luật đất đai đối với HĐCNQSDĐ được thể hiện trong mối quan hệ quản lý hành
chính Nhà nước với người sử dụng đất trên một số phương diện cơ bản sau: (i) Các
thỏa thuận trong hợp đồng phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch, mục đích, thời hạn
sử dụng của đất ở; (ii) Các chủ thể được quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở,
quyền và nghĩa vụ của các bên được quy định trong hợp đồng phải phù hợp với pháp
luật đất đai; (iii) HĐCNQSDĐ phải đăng ký tại Văn phòng đăng ký đất đai; (iv) Nếu
thuộc các trường hợp phải bị thu hồi, trưng dụng đất, người sử dụng đất hoặc nhận
chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải chấp hành hoặc bị cưỡng chế thi hành và được
nhận bồi thường theo quy định của pháp luật; (v) GCN QSDĐ do cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền cấp là một trong những điều kiện bắt buộc để người sử dụng đất được
phép thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế,
tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Khi hợp đồng chuyển nhượng có
hiệu lực nhưng bên nhận chuyển nhượng chưa được cấp GCN QSDĐ thì vẫn chưa đủ
điều kiện để thực hiện chuyển quyền sử dụng đất cho người khác; Cùng với việc ký
kết hợp đồng, các thủ tục và văn bản, giấy tờ có liên quan đến quyền sử dụng đất phải
được thực hiện và đính kèm hợp đồng theo quy định của pháp luật. Quyền chuyển
nhượng quyền sử dụng đất, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất đã được quy
định chi tiết trong pháp luật đất đai, trong đó người sử dụng đất có các quyền năng
tương ứng với căn cứ xác lập, mục đích sử dụng hay thời hạn sử dụng đất.
1.2.3. Vai trò pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Thứ nhất, pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tạo hành
lang pháp lý an toàn cho các chủ thể tham gia hợp đồng. Khi các bên tham gia hợp
đồng thì có quyền tự do, tự nguyện giao kết hợp đồng nhưng tự do phải nằm trong
khuôn khổ của pháp luật. Việc quy định về các điều kiện để chủ thể giao kết hợp đồng
và các biện pháp chế tài nếu các bên không tuân thủ các điều kiện an toàn cho các chủ
thể tham gia hợp đồng.
Thứ hai, pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là cơ sở để
25
giải quyết các tranh chấp xảy ra. Khi có tranh chấp thì chính những thỏa thuận của các
bên sẽ là chứng cứ quan trọng để xác định trách nhiệm của mỗi người. Một trong
những yêu cầu trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, chính
là sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật. Khi áp dụng pháp luật nói chung, áp dụng
pháp luật trong giải quyết tranh chấp tại Toà án nhân dân nói riêng, Thẩm phán, Hội
đồng xét xử phải áp dụng các quy định của Hiến pháp, pháp luật tố tụng dân sự và hệ
thống các văn bản pháp luật khác có liên quan nhằm đưa ra bản án và quyết định dân
sự chính xác, đúng pháp luật, có hiệu quả và hiệu lực cao. Vì vậy, để hoạt động áp
dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất đạt hiệu quả cao, đòi hỏi phải có sự đảm bảo về pháp lý, bao gồm sự hoàn thiện
của hệ thống pháp luật thực định; sự hoàn thiện của cơ chế thực hiện và áp dụng pháp
luật; ý thức pháp luật và văn hoá pháp lý của cán bộ, công chức liên quan. Để giải
quyết một tranh chấp, các chủ thể có thể sử dụng nhiều biện pháp như tự thương
lượng, thỏa thuận với nhau. Pháp luật đất đai không quan tâm cách thức họ thỏa thuận
thế nào, thương lượng ra sao mà chỉ đưa ra các quy định điều chỉnh hoạt động giải
quyết tranh chấp khi có sự tham gia của cơ quan nhà nước vào việc giải quyết đó mà
thôi. Điều này nhằm thể hiện sự tôn trọng của Nhà nước với tự do ý chí, tự do định
đoạt của các chủ thể và Nhà nước sẽ cung cấp một công cụ giải quyết tranh chấp cho
họ nếu như họ không có được sự thống nhất. Một khi đã có sự tham gia của cơ quan
nhà nước thì các quy phạm pháp luật về giải quyết tranh chấp trên cơ sở hợp đồng giữa
các bên là cần thiết, bởi lẽ có những quy phạm pháp luật này thì người dân cũng như
chính cơ quan nhà nước mới biết chủ thể nào có thẩm quyền giải quyết tranh chấp và
giải quyết theo trình tự, thủ tục gì.
Thứ ba, pháp luật về HĐCNQSDĐ là cơ sở xác định quyền và nghĩa vụ của
người sử dụng đất. Thực hiện Nghị quyết Trung ương số 48 - NQ/TW của Bộ Chính
trị ngày 24 tháng 5 năm 2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật
Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Nghị quyết Trung ương số 49 –
NQ/ TW của Bộ Chính trị ngày 02 tháng 6 năm 2005 về chiến lược cải cách tư pháp
đến năm 2020, trong những năm qua, hệ thống pháp luật đất đai không ngừng đổi mới,
hoàn thiện theo hướng mở rộng và bảo đảm các quyền của người sử dụng đất. Tuy
vậy, để hài hòa giữa quyền của chủ sở hữu đất đai với quyền, nghĩa vụ của người sử
dụng đất và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, vẫn đặt ra các vấn đề cần nghiên cứu
26
liên quan đến quyền sử dụng đất, trong đó có hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất ở. Điều này đảm bảo sự ổn định các quan hệ sở hữu tài sản. Khi một hoặc các bên
vi phạm thì hợp đồng dân sự vô hiệu, bên vi phạm phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi
cho chính họ, ví dụ: bị phạt cọc... Việc quy định này có ý nghĩa khắc phục những thiệt
hại cho bên vi phạm, đồng thời còn tạo nên sự công bằng xã hội, tạo sự ổn định trong
giao lưu tài sản, góp phần ổn định trong quan hệ sở hữu tài sản.
Thứ tư, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là cơ sở pháp lý đảm bảo
cho việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền. Những cam kết của các chủ thể tham gia hợp đồng là căn cứ quan trọng để các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra xem các chủ thể đó có thực hiện nghiêm túc
theo quy định của pháp luật hay không. Đồng thời áp dụng các biện pháp chế tài cho
các bên vi phạm khi cần thiết. Theo đó, mang tính chủ động thường xuyên của cơ
quan, tổ chức hoặc nhân dân đối với hoạt động của các đối tượng chịu sự giám sát và
sự tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng các hoạt động đó đi đúng
quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác định từ trước, bảo
đảm cho Hiến pháp và pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh.
27
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN
NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG GIAI ĐOẠN 2010 – 2020
Ở VIỆT NAM
2.1. Nội dung các quy định pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất
2.1.1. Các quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất.
Vào thời La Mã cổ đại, cũng đã tồn tại những quy định về giao dịch có điều
kiện (condicio)“là những tình huống được đặt ra trong hợp đồng gắn với những hậu
quả pháp lý nhất định”. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Điều kiện” là “thứ cần phải có để
cho cái khác có thể tồn tại hay “điều cần thiết phải có để đạt một mục đích, cơ sở của
một sự thoả thuận”[95]. Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất dựa trên các yếu tố: chủ thể, nội dung mục đích, tính tự nguyện và hình thức.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, xin đi sâu phân tích hai khía cạnh pháp luật về
điều kiện có hiệu lực của HĐCNQSDĐ còn nhiều hạn chế hơn cả là điều kiện về chủ
thể và hình thức.
A, Quy định pháp luật về chủ thể chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (QSDĐ) là hợp đồng song phương
làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên đối với QSDĐ. Theo quy định của Luật
Đất đai năm 2013 bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng chỉ có quyền giao
dịch và tiến hành giao dịch khi đáp ứng các điều kiện sau:
Đối với bên chuyển nhượng :
- Phải là chủ thể sử dụng đất (SDĐ)
Về nguyên tắc, theo Luật đất đai 2013, để có quyền chuyển nhượng QSDĐ, bên
tiến hành giao dịch, trước hết, phải là chủ thể SDĐ1. Tư cách chủ thể của bên tiến hành
giao dịch phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận thông qua giấy chứng
nhận QSDĐ. Chính vì vậy, khi quy định về thời điểm và điều kiện và tiến hành giao
dịch QSDĐ, Luật Đất đai buộc bên tiến hành phải có giấy chứng nhận QSDĐ2. Trong
một số trường hợp, Luật Đất đai cho phép người không phải là chủ thể SDĐ được
phép tiến hành giao dịch. Những người không phải là chủ thể SDĐ vẫn có quyền giao
1 Điều 5
2 Điều 168 và Điều 188
28
dịch bao gồm: người thuê lại đất của chủ đầu tư thuê đất của Nhà nước để xây dựng
kết cấu hạ tầng trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ
cao, khu kinh tế (chủ đầu tư kết cấu hạ tầng) có quyền thực hiện tất cả các giao dịch,
trừ giao dịch chuyển đổi, để thừa kế. Nếu người không có QSDĐ tại Việt Nam, nhưng
được tặng cho, để thừa kế cũng có quyền chuyển nhượng QSDĐ. Trường hợp này, do
bên tiến hành giao dịch không phải là chủ thể SDĐ nên không được cấp giấy chứng
nhận. Do vậy, các đối tượng này có quyền tiến hành giao dịch mà không cần giấy
chứng nhận quyền sử dụng, trừ trường hợp người thuê lại đất của chủ đầu tư đầu tư kết
cấu hạ tầng trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ
cao, khu kinh tế do trường hợp này được cấp giấy chứng nhận QSDĐ theo quy định tại
điểm e, khoản 1, điều 99, Luật Đất đai 2013. Trong các trường hợp vừa nêu, bên tiến
hành giao dịch chỉ cần giấy chứng nhận QSDĐ mang tên bên tặng cho (đối với trường
hợp tặng cho), giấy tờ chứng minh quyền thừa kế (đối với trường hợp thừa kế). Trong
các trường hợp khác, người không phải là chủ thể SDĐ chỉ có quyền tiến hành giao
dịch QSDĐ khi được chủ sở hữu cho phép.
- Phải được Luật Đất đai cho phép giao dịch
Theo quy định của Luật Đất đai, những chủ thể được phép giao dịch QSDĐ bao
gồm: hộ gia đình, cá nhân trong nước, tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập tự
chủ tài chính, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài. Các chủ thể này có quyền giao dịch khi SDĐ theo các hình thức: được Nhà
nước giao đất có thu tiền SDĐ, mà không được miễn tiền SDĐ, trừ trường hợp được
miễn tiễn SDĐ để thực hiện dự án kinh doanh nhà ở; thuê đất trả tiền thuê đất một lần
cho cả thời gian thuê mà không được miễn tiền thuê đất, trừ trường hợp được miễn
tiền thuê đất để thực hiện dự án kinh doanh nhà ở; thuê đất trả tiền cho nhiều năm mà
tiền đã trả cho thời hạn thuê còn lại ít nhất là 5 năm; công nhận QSDĐ như giao đất có
thu tiền SDĐ mà không được miễn tiền SDĐ; nhận chuyển QSDĐ. Đối với người thuê
lại đất của chủ đầu tư kết cấu hạ tầng trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu
chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế thì phải trả tiền thuê đất một lần và bên cho
thuê lại phải SDĐ theo hình thức trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê. Trong
trường hợp bên cho thuê lại trả tiền thuê đất hàng năm thì bên thuê lại ngoài điều kiện
phải trả tiền thuê một lần còn phải đáp ứng điều kiện: thuê lại đất trước ngày
29
01/7/2014 (trước ngày Luật Đất đai có hiệu lực)3 và bên cho thuê lại (chủ đầu tư kết
cấu hạ tầng trong các khu vực này) đã nộp đủ tiền thuê đất vào ngân sách nhà nước.
Các chủ thể nêu trên có quyền chuyển nhượng QSDĐ. Bằng phương pháp loại
trừ, có thể nhận thấy, các chủ thể SDĐ không có quyền giao dịch QSDĐ là các chủ thể
SDĐ theo các hình thức: thuê đất trả tiền hàng năm; thuê đất trả tiền nhiều năm mà
tiền đã trả cho thời hạn thuê còn lại ít hơn 5 năm; giao đất không thu tiền SDĐ; công
nhận QSDĐ như giao đất không thu tiền SDĐ, trừ hộ gia đình, cá nhân trong nước4;
giao đất có thu tiền SDĐ mà được miễn tiền SDĐ, trừ hộ gia đình, cá nhân trong nước
và chủ đầu tư dự án kinh doanh nhà ở.
- Không bị hạn chế quyền định đoạt
Để tiến hành giao dịch QSDĐ, bên tiến hành giao dịch ngoài việc đáp ứng các
điều kiện nêu trên, cần phải không bị hạn chế quyền định đoạt. Quyền định đoạt của
bên tiến hành giao dịch bị hạn chế trong các trường hợp do pháp luật quy định hoặc
(và) do thỏa thuận. Theo quy định tại diểm c khoản 1 Điều 188, Điều 192, Điều 194
Luật Đất đai, các trường hợp bị hạn chế quyền định đoạt bao gồm: các chủ thể bị kê
biên QSDĐ để bảo đảm thi hành án; hộ gia đình, cá nhân SDĐ trong phân khu bảo vệ
nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái thuộc rừng đặc dụng, rừng phòng hộ; hộ gia
đình, cá nhân là dân tộc thiểu số SDĐ do Nhà nước giao đất theo chính sách hỗ trợ của
Nhà nước; bên tiến hành giao dịch là chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng kinh doanh nhà
ở; dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng. Theo quy định tại Điều 194 Luật Đất đai
2013, chủ thể này chỉ được chuyển nhượng QSDĐ khi đã hoàn thành đầu tư kết cấu hạ
tầng trên đất, trừ trường hợp chuyển nhượng QSDĐ gắn với chuyển nhượng sự án.
Ngoài trường hợp này, tuy Luật Đất đai không đề cập đến, nhưng thực tiễn xét
xử cho thấy, chủ thể SDĐ còn bị hạn chế quyền định đoạt theo quy định chung của Bộ
luật Dân sự và các văn bản pháp luật liên quan, cụ thể: trong trường hợp QSDĐ bị thế
chấp, mà không có thỏa thuận về việc chuyển quyền hoặc các bên có thỏa thuận về
việc không được cho thuê, cho thuê lại, thế chấp QSDĐ[3].
Bên tham gia giao dịch
- Phải là người được phép tham gia giao dịch
3 Khác với Luật đất đai 2003, Luật đất đai 2013 không cho phép người thuê đất trả tiền hàng năm lấy tiền thuê lại đất một lần.
4 Điều 179, Luật Đất đai 2013
30
Theo quy định tại Điều 169 Luật Đất đai, người được phép tham gia vào giao
dịch bao gồm: hộ gia đình, cá nhân trong nước, cộng đồng dân cư, tổ chức kinh tế,
người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Quyền
nhận chuyển nhượng QSDĐ không áp dụng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,
người Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam và
người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư trong khu công nghiệp, khu chế xuất,
cụm công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao.
- Không bị hạn chế quyền tham gia giao dịch
Luật Đất đai quy định một số hạn chế đối với người có quyền tham gia vào giao
dịch. Theo đó, người Việt Nam định cư ở nước ngoài chỉ có quyền nhận chuyển
nhượng QSDĐ ở gắn liền với nhà ở, trừ trường hợp đất nằm trong các dự án phát triển
nhà ở. Đối với các loại đất khác thì chỉ được nhận chuyển nhượng QSDĐ trong khu
công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế. Người
không đủ điều kiện nhận chuyển nhượng dự án bất động sản không có quyền giao dịch
QSDĐ trong dự án đầu tư xây dựng nhà, công trình xây dựng, mà không gắn với các
giao dịch nhà, công trình xây dựng, trừ trường hợp dự án được phép phân lô, bán nền.
Ngoài các điều kiện nêu trên, mặc dù cũng không được Luật Đất đai đề cập đến,
nhưng bên tiến hành và bên tham gia giao dịch đương nhiên phải đáp ứng các điều
kiện về năng lực của chủ thể theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Có thể nói, pháp luật đã có các quy định cụ thể áp dụng đối với chủ thể trong
hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ như đã nêu trên nhưng vẫn còn một số hạn chế cần
được khắc phục.
Thứ nhất, quy định không cho phép chủ thể thuê đất của Nhà nước trả tiền thuê
đất hàng năm có quyền chuyển nhượng QSDĐ.
Theo quy định của Luật Đất đai5, chủ thể SDĐ theo hình thức thuê đất trả tiền
thuê đất hàng năm không có quyền giao dịch QSDĐ, trừ trường hợp thuê đất trong khu
công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, làng nghề, khu kinh tế, khu công nghệ
cao là chưa hợp lý. Trường hợp này có quyền duy nhất là quyền cho thuê lại QSDĐ
sau khi đã đầu tư kết cấu hạ tầng. Xét về tổng thể, người thuê đất của Nhà nước trả
tiền thuê đất hàng năm phải thực hiện các nghĩa vụ như người thuê đất của Nhà nước
trả tiền một lần cho cả thời gian thuê, thậm chí số tiền phải trả có thể cao hơn so với
5 Xem các điều 175, 178, 179, 183, 185, 187 Luật Đất đai 2013
31
thuê đất trả tiền thuê đất một lần. Bên cạnh đó, thuê đất trả tiền thuê đất một lần có thể
gây thiệt hại cho ngân sách nếu không tính chính xác được sự mất giá của đồng tiền do
lạm phát. Chính vì vậy, các nước khi cho thuê bất động sản hạn chế mức tối đa sử
dụng hình thức thuê đất trả tiền thuê một lần. Thực tế, khi xem xét các giao dịch cho
thuê QSDĐ trên thị trường ở nước ta, các tổ chức, cá nhân là chủ thể SDĐ thường sử
dụng hình thức cho thuê QSDĐ trả tiền thuê hàng năm hoặc tối đa là 5 năm.
Mặt khác, xét cả về lý luận và thực tế, quy định này chưa hợp lý và không khả
thi vì những lý do sau:
i) về mặt lý luận, việc tách bạch giá bất động sản trên đất và đất là không thể
thực hiện được.
ii) do không thể tách bạch giữa giá bất động sản trên đất và đất nên cũng không
thể đưa ra quy định kiểm soát việc tính giá bất động sản trên đất nói riêng và việc tuân
thủ việc thực hiện quy định không được chuyển nhượng hay thực hiện bất cứ giao dịch
nào đối với QSDĐ thuê của Nhà nước trả tiền thuê đất hàng năm.
iii) mặc dù Luật Đất đai cấm không được giao dịch đối với đất thuê của Nhà
nước trả tiền hàng năm, nhưng lại cho phép bên mua bất động sản trên đất này được
phép trở thành chủ thể QSDĐ. Như vậy, thực chất của giao dịch này chính là giao dịch
mua bán bất động sản trên đất và chuyển nhượng QSDĐ.
iv) vì những lý do trên, thực tiễn, giá bán bất động sản trên đất thuê luôn bao
gồm cả giá trị QSDĐ (giá chuyển nhượng QSDĐ), thậm chí ngay cả đối với người
muốn tuân thủ quy định này.
v) việc không cho phép giao dịch đối với QSDĐ thuê trả tiền hàng năm làm
tăng thủ tục hành chính, dẫn đến tăng chi phí giao dịch, nhất là đối với bên mua bất
động sản, gây thiệt hại cho Nhà nước.
Từ những phân tích trên, chúng tôi cho rằng, cần sửa đổi Luật Đất đai theo
hướng, cho phép cả người thuê đất của Nhà nước trả tiền thuê hàng năm có quyền giao
dịch đối với QSDĐ như trường hợp thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian
thuê. Trong trường hợp Nhà nước muốn thu hút người SDĐ theo phương thức trả tiền
một lần thì có thể dùng các phương thức hợp lý và khả thi hơn, ví dụ như sử dụng biện
pháp thuế hay tài chính.
- Quy định doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bị hạn chế quyền giao dịch
do bị hạn chế khả năng xác lập QSDĐ
32
Như trên đã đề cập, về nguyên tắc chuyển nhượng, phải là chủ thể SDĐ. Theo
quy định của Luật Đất đai, có ba phương thức xác lập QSDĐ: nhận giao đất từ Nhà
nước, thuê đất của Nhà nước và nhận chuyển QSDĐ từ người SDĐ. Tuy nhiên, người
Việt Nam định cư ở nước ngoài và nhất là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
không có quyền sử dụng tất cả các phương thức này để xác lập QSDĐ. Người Việt
Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ có quyền xác
lập QSDĐ thông qua việc thuê đất, giao đất của Nhà nước. Như vậy, phương thức xác
lập QSDĐ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chủ yếu thông qua thị trường
sơ cấp (trực tiếp từ Nhà nước). Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài xác lập QSDĐ
thông qua thị trường thứ cấp rất hạn chế. Qua thị trường thứ cấp, doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài chỉ có quyền xác lập QSDĐ thông qua việc nhận góp vốn bằng
QSDĐ. Tuy nhiên, trong số các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ có doanh
nghiệp liên doanh có quyền sử dụng phương thức này. Người Việt Nam định cư ở
nước ngoài cũng chỉ có quyền nhận chuyển nhượng QSDĐ trong khu công nghiệp,
cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và khu kinh tế để thực hiện dự án
đầu tư. Ngoài khu vực này, người Việt Nam định cư ở nước ngoài chỉ có quyền nhận
chuyển nhượng QSDĐ gắn với nhà ở khi mua bán nhà ở hoặc QSDĐ ở trong các dự án
phát triển nhà ở để ở. Việc hạn chế các phương thức xác lập QSDĐ dẫn đến việc hạn
chế quyền giao dịch QSDĐ của các chủ thể này. Quy định này rõ ràng làm giảm khả
năng thu hút vốn đầu tư của nước ngoài vào nước ta.
- Quy định cho phép một số đối tượng không phải là chủ thể SDĐ có quyền giao
dịch QSDĐ
Theo khoản 3, Điều 149, Luật Đất đai 2013 quy định: “Tổ chức kinh tế, hộ gia
đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài đầu tư vào sản xuất, kinh doanh trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp,
khu chế xuất được thuê lại đất gắn với kết cấu hạ tầng của tổ chức kinh tế khác, người
Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư xây
dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng và có các quyền và nghĩa vụ sau đây: Trường hợp
thuê lại đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê thì có các quyền và nghĩa vụ
quy định tại Điều 174 của Luật này”. Một trong các quyền quy định tại Điều 174 là
chuyển nhượng quyền sử dụng đất, điều này có nghĩa cho phép người thuê lại QSDĐ
của chủ thể SDĐ có quyền giao dịch mà không cần sự đồng ý của chủ thể SDĐ. Việc
33
cho phép người không phải là chủ thể QSDĐ có quyền định đoạt QSDĐ là nhằm thu
hút vốn đầu tư vào việc SDĐ vào các khu vực này. Mặc dù đây là quy định được kế
thừa từ Luật Đất đai năm 2003, tuy nhiên, việc đặt ra quy định này rõ ràng trái với bản
chất của giao dịch thuê vì bản chất của giao dịch cho thuê (cho thuê lại) là không
chuyển QSDĐ. Bên cho thuê vẫn là chủ thể SDĐ. Bên thuê lại QSDĐ chỉ có quyền
khai thác, SDĐ và không có quyền định đoạt QSDĐ nếu không được bên cho thuê lại
đồng ý. Mặt khác, kể cả trong trường hợp bên cho thuê lại đồng ý, bên thuê lại cũng
không có quyền chuyển QSDĐ nhân danh bên thuê lại. Tuy nhiên, Luật Đất đai lại cho
phép bên thuê lại nếu đã trả tiền thuê một lần cho bên cho thuê lại có quyền chuyển
QSDĐ nhân danh chính bên thuê lại. Như vậy, về bản chất, đây là loại giao dịch
chuyển quyền có đền bù, cụ thể là giao dịch chuyển nhượng. Về nguyên tắc, bên thuê
lại đất không thể có nhiều hơn quyền của bên cho thuê lại. Tuy nhiên, nếu theo nguyên
tắc này, bên cho thuê lại khó thu hút được người thuê lại, nhất là người thuê lại trả tiền
thuê đất một lần cho cả thời gian thuê. Vì vậy, để mở rộng quyền cho bên thuê lại đã
trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê lại và cũng giúp cho bên cho thuê lại sử
dụng được phương thức cho thuê lại lấy tiền một lần từ bên thuê lại, Luật Đất đai cho
phép bên thuê lại được quyền giao dịch QSDĐ nếu đã trả tiền thuê đất một lần cho bên
cho thuê lại. Đối với trường hợp bên cho thuê lại có quyền chuyển nhượng QSDĐ thì
quy định này là không hợp lý và không cần thiết, bởi vì, nếu người có QSDĐ cho thuê
lại quyền sử dụng nhưng lại bị mất quyền định đoạt đối với QSDĐ, nhưng tiền nhận
được là tiền thuê lại mà không phải tiền chuyển nhượng (tiền chuyển nhượng đương
nhiên phải cao hơn tiền thuê) thì người này hiển nhiên sẽ không chọn phương thức này
mà sẽ chọn phương thức chuyển nhượng QSDĐ. Như vậy, việc cho phép bên thuê lại
QSDĐ có quyền giao dịch như một chủ thể SDĐ chỉ có ý nghĩa trong trường hợp bên
cho thuê lại không có quyền chuyển QSDĐ, nhưng được phép cho thuê lại theo
phương thức lấy tiền một lần cho cả thời gian cho thuê lại. Tuy vậy, Luật Đất đai năm
2013 đã bỏ quy định cho phép người thuê đất của Nhà nước trả tiền thuê hàng năm
trong các khu vực nêu trên có quyền cho thuê lại đất và lấy tiền thuê đất một lần cho
cả thời gian cho thuê lại. Việc bỏ quy định này là hoàn toàn hợp lý, bởi lẽ ngoài các lý
do như kể trên thì quy định này còn dẫn đến việc rất khó xử lý đối với QSDĐ khi bên
cho thuê không thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước.
- Quy định bắt buộc mọi trường hợp để lại thừa kế QSDĐ đều phải có giấy
34
chứng nhận QSDĐ
Giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản nói chung và QSDĐ nói riêng chỉ là điều
kiện về thủ tục nhằm chứng minh người giao dịch là chủ sở hữu tài sản. Đối với các
giao dịch thông thường, bên tiến hành giao dịch tự chịu trách nhiệm về việc đảm bảo
tư cách chủ thể của mình. Pháp luật chỉ can thiệp vào vấn đề này khi có nguy cơ xảy ra
rủi ro lớn, hậu quả khó khắc phục, ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của các bên
giao dịch và bên liên quan, nhất là ảnh hưởng đến lợi ích công và bên yếu thế. Tuy
nhiên, theo chúng tôi, do việc để thừa kế là hành vi pháp lý đơn phương của người để
lại thừa kế và hiệu lực của giao dịch này chỉ phát sinh khi người để thừa kế chết. Vì
vậy, tại thời điểm để thừa kế, người để thừa kế còn sống nên chưa thể phát sinh quyền
lợi và nghĩa vụ của người nhận thừa kế và các bên liên quan đối với QSDĐ. Do đó,
không thể phát sinh hậu quả pháp lý tiêu cực cho người khác. Nếu như việc để lại thừa
kế QSDĐ khi chưa có giấy chứng nhận QSDĐ không gây ảnh hưởng đến quyền lợi
chính đáng của người khác thì rõ ràng việc không cho phép người chưa có giấy chứng
nhận QSDĐ không có quyền lập di chúc để lại thừa kế làm cho ý chí của người SDĐ
không thể thực hiện được.
Vì vậy, chúng tôi cho rằng, quy định bắt buộc phải có giấy chứng nhận QSDĐ
đối với giao dịch thừa kế QSDĐ là chưa hợp lý. Tuy nhiên, do việc công chứng hiện
nay không chỉ có ý nghĩa như bằng chứng, mà còn có ý nghĩa về tính hợp pháp. Vì
vậy, việc công chứng chỉ nên cho phép đối với trường hợp chưa có giấy chứng nhận
QSDĐ, nhưng có đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận QSDĐ. Đối với các
trường hợp chỉ xác nhận ý chí của người để thừa kế thì không cần điều kiện này.
- Quy định về các chủ thể không có quyền giao dịch QSDĐ
Luật Đất đai năm 2013 chỉ có một điều luật quy định trực tiếp về các chủ thể
không có quyền giao dịch QSDĐ tại điểm b, khoản 1 Điều 181. Tuy nhiên, có thể nhận
thấy, không phải chỉ có các chủ thể được quy định tại điều luật này mới không có
quyền giao dịch QSDĐ. Ngoài chủ thể này còn có các chủ thể khác không có quyền
giao dịch trong mọi trường hợp như: tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; tổ
chức sự nghiệp công lập chưa tự chủ tài chính, cơ quan nhà nước và các tổ chức trong
nước khác mà không phải là tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài
chính. Vì vậy, Luật Đất đai cần quy định cụ thể, rõ ràng về các chủ thể không có
quyền giao dịch QSDĐ.
35
B, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không tuân thủ quy định
về hình thức
Bộ luật dân sự 2015 quy định về thủ tục thực hiện hợp đồng về quyền sử dụng
đất và hiệu lực của việc chuyển quyền sử dụng đất tại các điều 502 và 503, cụ thể như
sau:
“Điều 502. Hình thức, thủ tục thực hiện hợp đồng về quyền sử dụng đất
Hợp đồng về quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản theo hình thức
phù hợp với quy định của Bộ luật này, pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp
luật có liên quan.
Việc thực hiện hợp đồng về quyền sử dụng đất phải đúng trình tự, thủ tục theo
quy định của pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan”.
“Điều 503. Hiệu lực của việc chuyển quyền sử dụng đất
Việc chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký theo
quy định của Luật Đất đai.”
Qua nghiên cứu quy định của Bộ luật dân sự 2015 về hiệu lực của hợp
đồng, nhóm tác giả thấy rằng Điều 401 Bộ luật dân sự 2015 về hiệu lực của hợp đồng
cơ bản giữ nguyên quy định tại Điều 405 Bộ luật dân sự năm 2005, chỉ chỉnh sửa về
kỹ thuật và bổ sung thêm quy định tại khoản 2. Cụ thể Điều 401 Bộ luật dân sự 2015
quy định như sau: “Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao
kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác. Từ thời
điểm hợp đồng có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau
theo cam kết. Hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa thuận của các bên
hoặc theo quy định của pháp luật.” Theo quy định tại Điều 689 BLDS 2005 và Điều
502 BLDS 2015, Điều 167 Luật Đất đai 2013 thì hình thức của Hợp đồng chuyển
nhượng QSDĐ phải được công chứng, chứng thực và theo quy định của Điều 692
BLDS 2005 và Điều 503 BLDS 2015, Điều 188 Luật Đất đai 2013 thì việc chuyển
nhượng QSDĐ có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính. Thêm vào đó,
Điều 5 Luật Công chứng năm 2014 quy định “Văn bản công chứng có hiệu lực kể từ
ngày được công chứng viên ký và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng”. Việc
xác định thời điểm hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ có hiệu lực trong thực tiễn áp
dụng pháp luật còn có nhiều quan điểm khác nhau, đó là sự khác nhau giữa thời điểm
có hiệu lực của hợp đồng và thời điểm việc chuyển nhượng có hiệu lực. Đây là vấn đề
36
rất quan trọng trong việc xác định hợp đồng vô hiệu hoặc có hiệu lực, đặc biệt là
những giao dịch xảy ra trước thời điểm BLDS 2015 có hiệu lực.
Quan điểm 1: Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ vi phạm điều kiện về hình thức,
không được công chứng, chứng thực thì vô hiệu (trừ trường hợp đã thực hiện 2/3 nghĩa
vụ và được áp dụng quy định tại Điều 129 của BLDS 2015). Trước khi BLDS 2015 có
hiệu lực thì không có quy định hết thời hiệu yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu do vi
phạm về hình thức thì giao dịch có hiệu lực. Đây là một đường lối giải quyết tương đối
nhiều trong thực tiễn.
Quan điểm 2: Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ chỉ có hiệu lực kể từ khi được
đăng ký vào sổ địa chính.
Quan điểm 3: Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ không có công chứng, chứng
thực mà đã hết thời hiệu yêu cầu tuyến bố giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm về hình
thức thì sẽ có hiệu lực.
Tại Điều 129 BLDS 2015 về Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ về
hình thức “Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định
bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện xong hai
phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án
ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó”. Quy định này chỉ đề cập đến
trường hợp giao dịch không được công chứng, chứng thực sẽ phát sinh hiệu lực mà
không đề cập đến yếu tố “đăng ký”. Do đó, theo nhóm tác giả, có thể hiểu ý chí lập
pháp ở đây là xác định tại thời điểm hợp đồng có công chứng, chứng thực là đã có hiệu
lực, không phải từ thời điểm đăng ký. Việc xác định hợp đồng có hiệu lực không đồng
nghĩa với việc việc chuyển quyền đã có hiệu lực. Tại thời điểm hợp đồng có hiệu lực
(được công chứng, chứng thực) thì giữa các bên mới phát sinh quyền và nghĩa vụ với
nhau, trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ chuyển nhượng thì bên nhận chuyển nhượng
có quyền yêu cầu bên chuyển nhượng thực hiện nghĩa vụ hoàn tất việc chuyển
nhượng. Đồng thời, Tòa án chỉ xác định hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều kiện về
công chứng, chứng thực khi có yêu cầu của đương sự và trong trường hợp đã hết thời
hiệu (có yêu cầu áp dụng thời hiệu) yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì hợp
đồng phải có hiệu lực.
Điều này sẽ dẫn đến việc có ý kiến cho rằng sẽ mâu thuẫn với những trường
hợp chuyển quyền khác, ví dụ như giao dịch về thế chấp QSDĐ. Theo quy định của
37
pháp luật thì điều kiện có hiệu lực và thời điểm việc thế chấp có hiệu lực cũng tương
tự như giao dịch chuyển nhượng QSDĐ. Đồng thời, thực tiễn áp dụng pháp luật cũng
tương đối đồng nhất về việc xác định hiệu lực của việc thế chấp, đó lại tại thời điểm
đăng ký, khi giao dịch thế chấp có công chứng, chứng thực nhưng chưa được đăng ký
mà phát sinh tranh chấp thì Tòa án sẽ xác định thỏa thuận về quyền ưu tiên xử lý tài
sản để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ không có giá trị pháp lý.
Việc xác định thỏa thuận thế chấp tài sản không có giá trị pháp lý khi chưa đăng
ký sẽ cho chúng ta cảm giác thấy mâu thuẫn với quan điểm cho rằng hiệu lực của hợp
đồng phát sinh tại thời điểm công chứng, chứng thực. Tuy nhiên, theo nhóm tác giả thì
hợp đồng thế chấp vẫn có hiệu lực tại thời điểm công chứng, chứng thực, phát sinh
quyền và nghĩa vụ. Khi xảy ra tranh chấp, đây là trường hợp tranh chấp về quyền và
nghĩa vụ của giao dịch có hiệu lực, các bên có quyền yêu cầu bên kia thực hiện các
nghĩa vụ để thực hiện việc đăng ký giao dịch bảo đảm, quyền yêu cầu hủy bỏ các giao
dịch khác liên quan đến tài sản thế chấp và những tranh chấp khác liên quan đến hợp
đồng thế chấp (chưa đề cập đến việc có được chấp nhận hay không)… Tuy nhiên, khi
phát sinh tranh chấp, việc Tòa án xác định thỏa thuận về quyền ưu tiên xử lý tài sản
không có giá trị pháp lý trong trường hợp không có đăng ký giao dịch bảo đảm xuất
phát từ tính chất pháp lý của việc đăng ký này là để đảm bảo quyền xử lý tài sản và chỉ
khi hoàn tất thủ tục đăng ký, có nghĩa là được cơ quan quản lý Nhà nước xác nhận
hoàn tất việc chuyển quyền, thì việc thế chấp mới có hiệu lực và tại thời điểm giải
quyết tranh chấp, giữa các bên không có thiện chí để thực hiện việc đăng ký giao dịch
đảm bảo nên không thể thực hiện.
Với việc phân tích các quy định trên, nhóm tác giả cho rằng hoàn toàn
không có sự mâu thuẫn hay chồng chéo trong các quy định của pháp luật về thời điểm
có hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi pháp luật quy định
phải công chứng, chứng thực. Theo quy định của pháp luật dân sự thì “hợp đồng là sự
thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân
sự”. Sau khi các bên đã giao kết hợp đồng dưới một hình thức nhất định phù hợp với
pháp luật và hợp đồng đó đáp ứng đầy đủ các điều kiện mà pháp luật yêu cầu thì hợp
đồng có hiệu lực bắt buộc đối với các bên. Điều đó có nghĩa là từ thời điểm hợp đồng
có hiệu lực, các bên trong hợp đồng bắt đầu có quyền và nghĩa vụ đối với nhau. Khi
thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, các bên bao gồm chuỗi các
38
hành vi: giao kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng (các bên thực hiện các quyền và nghĩa
vụ được xác định trong hợp đồng), đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và cơ quan có
thẩm quyền ghi vào sổ địa chính. Như vậy, cần phải hiểu việc chuyển nhượng quyền
sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai, có hiệu lực kể từ thời điểm đăng
ký vào sổ địa chính tức là việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã hoàn thành chứ
không phải có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký này.
Tuy nhiên, hiện nay, việc yêu cầu công chứng chứng thực các hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất đang là nguyên nhân của nhiều giao dịch bị tuyên bố vô
hiệu mặc dù ý chí của các bên đã hoàn toàn tự nguyện và rất rõ ràng. Theo khoản 3,
điều 167 Luật đất đai 2013 quy định:
Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người
sử dụng đất được thực hiện như sau:
a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng
đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng
thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;
b) Hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài
sản gắn liền với đất, hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài
sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động
kinh doanh bất động sản được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên;
Thế nhưng, nhóm tác giả cho rằng công chứng, chứng thực bắt buộc hiện nay
gây ra quá nhiều bất cập nên việc chuyển công chứng, chứng thực bắt buộc thành công
chứng, chứng thực tự nguyện (quyền công chứng, chứng thực) nên được phát triển.
Thực tiễn xét xử đã chứng minh đôi khi Tòa án đã phải "bỏ qua” quy định yêu cầu
phải công chứng, chứng thực giao dịch về quyền sử dụng đất. Xin đưa ra một giả
thuyết để cho thấy điều vừa nêu: Trước khi chết, A chuyển nhượng 600m2 đất cho ông
V và bà H với giá 36 cây vàng. Bên bán đã nhận 22 cây vàng và chưa hoàn tất thủ tục
chuyển nhượng. Đối chiếu khoản 2, điều 129, Bộ luật dân sự 2015 “Giao dịch dân sự
đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng
thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao
dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu
lực của giao dịch đó”. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công
39
chứng, chứng thực theo quy định của Luật đất đai 2013. Như vậy, hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất không được công chứng, chứng thực nhưng vẫn được công
nhận để ổn định các quan hệ, tôn trọng ý chí của người đã khuất.
Bên cạnh đó, một vấn đề vướng mắc trong thực tiễn giải quyết tranh chấp nữa
là trong trường hợp tranh chấp về tài sản là QSDĐ bị cưỡng chế thi hành án dân sự,
người chuyển nhượng và người nhận chuyển nhượng không có tranh chấp về hợp đồng
chuyển nhượng (việc chuyển quyền chưa có hiệu lực), chỉ có người thứ ba là người
được thi hành án khởi kiện yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu do vi phạm điều kiện về
công chứng, chứng thực mà thời hiệu yêu cầu đã hết và có yêu cầu áp dụng thời hiệu.
Nếu theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 217 BLTTDS thì sẽ đình chỉ giải quyết vụ
án, khi đó trong quyết định đình chỉ không xác định được giá trị pháp lý của việc
chuyển nhượng, tài sản đang bị cưỡng chế thuộc về người nào để làm cơ sở cho Cơ
quan THA dân sự tổ chức thi hành. Theo chúng tôi, trong trường hợp này, mặc dù chỉ
có yêu cầu khởi kiện của người được thi hành án nhưng khi giải quyết, Tòa án phải
giải quyết vấn đề chính đó là xác định tài sản bị cưỡng chế thi hành án thuộc về bên
nào nên phải xem xét, đánh giá tính hợp pháp của giao dịch, không riêng gì vấn đề vi
phạm điều kiện công chứng, chứng thực nên vụ án không được đình chỉ giải quyết vì
lý do hết thời hiệu mà phải giải quyết bằng một bản án trong đó đối với yêu cầu tuyên
bố giao dịch vô hiệu sẽ được đình chỉ giải quyết và phải xác định tài sản thuộc về chủ
thể nào.
BLDS 2005 và 2015 đều quy định về thời hiệu yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô
hiệu do không tuân thủ về hình thức, thời hiệu là 02 năm kể từ ngày xác lập hợp đồng.
Điểm khác của BLDS 2015 đó là việc khẳng định rõ “Hết thời hiệu quy định tại khoản
1 Điều này mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân
sự có hiệu lực”. Có quan điểm cho rằng BLDS 2005 không quy định nên không thể
mặc nhiên xác định giao dịch xác lập tại thời điểm BLDS 2005 có hiệu lực khi hết thời
hiệu yêu cầu tuyên bố vô hiệu do vi phạm công chứng, chứng thực. Theo nhóm tác giả
thì tại một thời điểm, một thỏa thuận không thể nằm ngoài hai thuộc tính là có hiệu lực
hoặc không có hiệu lực (vô hiệu).
Cần phân biệt rõ thời hiệu yêu cầu tuyên bố giao dịch chuyển nhượng QSDĐ vô
hiệu khác với tranh chấp về QSDĐ (không tính thời hiệu). Vì tranh chấp về QSDĐ là
tranh chấp xác định ai là người có QSDĐ, còn yêu cầu tuyên bố vô hiệu không phải là
40
tranh chấp xác định chủ thể có QSDĐ mà việc xác định giá trị pháp lý của giao dịch là
có hiệu lực hay vô hiệu.
Đồng thời, cần xác định rõ thời điểm để tính thời hiệu, tại Điều 136 của BLDS
2005 và Điều 132 của BLDS 2015 đã xác định rõ thời điểm để tính thời hiệu là 02 năm
kể từ ngày xác lập giao dịch, không phải là ngày biết được quyền và lợi ích bị xâm
phạm. Tuy nhiên, thực tiễn vẫn có Tòa án xác định thời điểm để tính thời hiệu là ngày
các bên thỏa thuận gia hạn nghĩa vụ trả nợ.
Thực tiễn xét xử, có rất nhiều bản án xác định hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ
không được công chứng, chứng thực bị vô hiệu mà không xem xét đến thời hiệu yêu
cầu. Thời điểm áp dụng BLDS 2005, thông thường Tòa án sẽ yêu cầu các bên phải
thực hiện hình thức của hợp đồng, trong trường hợp không thực hiện thì sẽ tuyên hợp
đồng vô hiệu theo quy định tại Điều 137 BLDS 2005. Theo chúng tôi, chỉ trong trường
hợp các bên có yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu về hình thức và phải
trong thời hạn 02 năm kể từ ngày xác lập (không phải là ngày vi phạm) thì Tòa án mới
buộc các bên phải thực hiện hoàn thiện về hình thức (và điều này là khó khả thi trên
thực tiễn khi đã phát sinh tranh chấp do đó BLDS 2015 đã bỏ quy định này).
Trường hợp đã hết thời hiệu theo BLTTDS 2004 hoặc hết thời hiệu và có yêu
cầu áp dụng thời hiệu theo BLTTDS 2015 thì giao dịch phải có hiệu lực, các bên phải
thực hiện quyền và nghĩa vụ đã thỏa thuận. Tóm lại, theo nhóm tác giả thì khi giải
quyết yêu cầu tuyên bố giao dịch chuyển nhượng QSDĐ vô hiệu do không tuân thủ
quy định về công chứng, chứng thực thì trước hết phải xem xét đến thời hiệu yêu cầu;
nếu đã hết thời hiệu (có yêu cầu áp dụng thời hiệu) thì phải xác định giao dịch đó có
hiệu lực, bên nhận chuyển nhượng được quyền thực hiện thủ tục hoàn tất thủ tục đăng
ký QSDĐ (nếu không thuộc những trường hợp vô hiệu khác, ví dụ như không thể thực
hiện được do đối kháng với người thứ ba mà giao dịch với người thứ ba có giá trị pháp
lý đảm bảo hơn như đã đăng ký thế chấp hoặc đã đăng ký vào sổ địa chính, thực hiện
xong việc chuyển quyền…); trường hợp còn thời hiệu thì tùy trường hợp để xác định
hợp đồng vô hiệu hoặc không vô hiệu theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2004/NQ-
HĐTP ngày 10/8/2004 hoặc Điều 129 BLDS 2015.
2.1.2. Các quy định pháp luật về thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất
Thứ nhất, Luật đất đai 2013 thiếu quy định cụ thể về khái niệm “Hợp đồng
41
chuyển nhượng quyền sử dụng đất” gây khó khăn cho các chủ thể khi thực hiện hợp
đồng. Như đã đề cập ở phần trên, Bộ luật dân sự 2015 đã bỏ quy định các hợp đồng cụ
thể về quyền sử dụng đất như chuyển nhượng, tặng cho, chuyển đổi, thế chấp ... thay
vào đó là quy định “hợp đồng về quyền sử dụng đất” nói chung. Tuy nhiên, quy định
hợp đồng về quyền sử dụng đất tại Điều 500 BLDS 2015 mới chỉ mang tính chất liệt
kê các quan hệ chuyển quyền sử dụng đất theo pháp luật đất đai hiện hành, chưa nêu
được những đặc trưng pháp lí của từng hình thức chuyển quyền sử dụng đất. Về mặt
thực tiễn, việc thiếu vắng quy định về khái niệm “chuyển nhượng quyền sử dụng đất”
này sẽ có thể làm người áp dụng luật bị nhầm lẫn. Ví dụ nhầm lẫn giữa hợp đồng
chuyển nhượng với chuyển quyền sử dụng đất, hay như không phân biệt được sự khác
nhau giữa hợp đồng chuyển nhượng với hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất.
Thêm vào đó, về mặt kỹ thuật xây dựng văn bản pháp luật, người ta luôn yêu cầu các
khái niệm (thuật ngữ) phải được hiểu theo một nghĩa, nhằm tránh tình trạng mỗi
người, mỗi nơi hiểu và vận dụng một cách khác nhau. Yêu cầu này được thể hiện rõ
trong Điều 5 Luật Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật: “Ngôn ngữ sử dụng
trong văn bản phải chính xác, phổ thông, cách diễn đạt phải đơn giản, dễ hiểu. Đối với
thuật ngữ chuyên môn cần xác định rõ nội dung, thì phải được định nghĩa trong văn
bản”.
Khái niệm “ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” không được Bộ luật
dân sự 2015 và Luật đất đai 2013 đề cập nhưng có thể được tìm thấy trong văn bản
luật chuyên ngành khác là Luật kinh doanh bất động sản và Luật nhà ở. Vấn đề ở chỗ,
Luật kinh doanh bất động sản 2014 tuy có đề cập đến Hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất, nhưng quy định này chỉ áp dụng riêng với các hợp đồng thuộc phạm vi
điều chỉnh của pháp luật kinh doanh bất động sản. Tương tự, quy định về hợp đồng
mua bán nhà ở chỉ áp dụng riêng với các hợp đồng thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật
nhà ở. Xét tính chất phức tạp của các hợp đồng về quyền sử dụng đất, cá nhân tôi cho
rằng đây là điểm hạn chế cần khắc phục. Bởi hợp đồng là cơ sở để đảm bảo cho việc
thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên, giải quyết tranh chấp, tránh xảy ra sai sót và
hạn chế rủi ro. Đối với một loại tài sản chịu sự điều chỉnh của nhiều ngành luật như
quyền sử dụng đất, việc xây dựng một khái niệm pháp lý hoàn chỉnh thống nhất chung
trong hệ thống văn bản pháp luật là yếu tố cần thiết để hoạt động áp dụng và thực hiện
pháp luật được thông suốt, hiệu quả.
42
Thứ hai thuật ngữ tranh chấp đất đai thiếu cụ thể, dễ dẫn đến khó khăn khi
thực hiện giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất. Khi quyền sử dụng đất có tranh chấp đồng nghĩa với việc tại thời điểm đó giá trị
quyền sử dụng đất vẫn đang thuộc một đối tượng cụ thể, nhưng khả năng định đoạt
chuyển nhượng quyền sử dụng đất của đối tượng này có thể bị ảnh hưởng bởi tình
trạng kiện tụng tranh chấp. Bởi vì, để bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng cho các chủ
thể khác có liên quan, đồng thời, nhằm tránh tình trạng tranh chấp về sau này, pháp
luật thường không cho phép các chủ thể chuyển nhượng các giá trị quyền sử dụng đất
đang có tranh chấp. Tuy nhiên, cần phải xác định như thế nào là đất có tranh chấp, bản
chất của tranh chấp đó là để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người đang tranh
chấp hay việc “tranh chấp” đó chỉ với mục đích làm cho người có quyền sử dụng đất
không thể chuyển nhượng được quyền sử dụng đất đó cần phải được xem xét.
Khái niệm “tranh chấp đất đai” được ghi nhận tại khoản 23 Điều 3 Luật Đất
đai 2013: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất
giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”. Nội dung tranh chấp trong tranh chấp
đất đai là quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, tuy nhiên, “quyền và nghĩa vụ của
người sử dụng đất” là một khái niệm quá rộng và sự quy định thiếu tính cụ thể này đã
dẫn đến tình trạng việc gì liên quan đến đất đai đều được coi là tranh chấp đất đai. Cho
tới nay đã có nhiều định nghĩa về tranh chấp đất đai, chẳng hạn: “Tranh chấp đất đai là
sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể
khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai”6 hoặc “Tranh chấp đất đai là sự bất đồng
mâu thuẫn giữa các chủ thể (sử dụng đất) trong việc xác định ai là người có quyền sử
dụng đối với một (hoặc những) thửa đất nhất định … Tranh chấp đất đai có thể bao
hàm cả các tranh chấp về địa giới giữa các đơn vị hành chính”7. Tuy nhiên, các định
nghĩa trên vẫn chưa chỉ ra nội hàm bản chất của tranh chấp đất đai. Trên thực tế, có
quá nhiều nguyên nhân dẫn đến tranh chấp đất đai như: Tranh chấp ranh giới, mốc
giới, quyền địa dịch; quyền sử dụng đất, tranh chấp các giao dịch chuyển quyền sử
dụng đất với các thủ tục tranh chấp khác nhau. Trong một số tranh chấp đất đai, quyền
sử dụng đất được chuyển nhượng vẫn không ảnh hưởng đến quyền của người đang
tranh chấp vì theo quy định của pháp luật, chủ thể nhận chuyển nhượng quyền sử dụng
6 Giáo trình Luật đất đai, Trường Đại học Luật Hà Nội (2008, tr.455)
7 Giáo trình Luật đất đai, Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh (2012, Tr.357-358)
43
đất sẽ là người tiếp tục phải thực hiện các nghĩa vụ như người chuyển nhượng. Ví dụ
như quyền địa dịch “là quyền của chủ sở hữu hoặc chủ sử dụng bất động sản đối với
bất động sản của người khác hình thành và phát triển trên cơ sở đảm bảo cho việc sử
dụng đất đai hiệu quả và mang lại lợi ích chung cho xã hội và lợi ích riêng cho chủ sở
hữu hoặc người sử dụng đất” 8. Cụ thể như không được xây nhà quá cao (trên mảnh
đất cách xa sân bay) mà làm ảnh hưởng đến đường bay của máy bay hoặc không được
xây nhà quá cao trên mảnh đất A làm mất tầm nhìn của ngôi biệt thự thuộc mảnh đất
B. Tức là, theo thỏa thuận về quyền địa dịch mà ở đó nhà trên mảnh đất A không được
xây cao để nhằm làm cho ngôi biệt thự trên mảnh đất B có tầm nhìn đẹp. Chủ sở hữu
mảnh đất B có quyền địa dịch đối với mảnh đất A. Nếu chủ sở hữu B chuyển nhượng
nhà, biệt thự cho chủ sở hữu C thì C vẫn được quyền khai thác đối với tài sản của A
giống như chủ sở hữu B. Vì vậy, về mặt lý luận, tranh chấp giữa A và B có xảy ra
cũng không làm mất đi quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất của B.
Pháp luật về đất đai hiện hành cũng quy định rằng, khi có tranh chấp đất đai
thì khuyến khích các bên tự hòa giải, khi các bên tranh chấp không hòa giải được thì
gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải 9. Trường hợp
đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì các bên có quyền
khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng
dân sự. Khi các bên có sự bất đồng về quyền và nghĩa vụ đối với nhau nhưng sau đó
“tự hòa giải” và không có bên nào gửi đơn yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền
giải quyết thì có gọi là tranh chấp được không? Về mặt thực tiễn, tranh chấp đất đai
chính là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ giữa các bên đương sự nên thủ tục giải quyết
tranh chấp này phải thông qua con đường tố tụng. Do vậy, chúng ta vẫn hiểu rằng chỉ
khi nào một bên đã gửi đơn yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp cơ sở giải quyết tranh chấp
quyền và nghĩa vụ liên quan đến đất đai mới bị coi là đất đang có tranh chấp. Mặt
khác, người sử dụng đất chỉ không được chuyển nhượng quyền sử dụng đất nếu tranh
chấp đó đang được Tòa án có thẩm quyền thụ lý để giải quyết. Trong khi đó, về mặt lý
luận, mặc dù đã được giải thích: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ
của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai” nhưng quyền và
nghĩa vụ gì, cần phải có sự xác định rõ ràng.
8 TS. Phạm Công Lạc, Quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề, Nxb. Tư Pháp, Hà Nội (2006), tr. 86
9 Điều 202, Luật đất đai 2013
44
2.1.3. Các quy định về hình thức, thủ tục xác lập hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất
Thứ nhất, một trong các yêu cầu tiên quyết khi xác lập HĐCNQSDĐ là chủ thể
chuyển nhượng phải có quyền sử dụng, nhưng trên thực tế quy định và quy trình đăng
ký quyền sử dụng đất còn rất nhiều vướng mắc. Khoản 3, Điều 191 Luật Đất đai năm
2013 quy định về trường hợp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền
sử dụng đất như sau: “Hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp
không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trồng lúa.” Đồng
thời quy định này được hướng dẫn tại Điều 3, Thông tư 33/2017/TT-BTNMT ngày
29/9/2018 quy định chi tiết Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 sửa đổi Nghị
định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 hướng dẫn việc xác nhận hộ gia đình, cá nhân
trực tiếp sản xuất nông nghiệp. Theo đó, rất nhiều đối tượng được hướng dẫn là không
có điều kiện trực tiếp canh tác đất như “Không thuộc đối tượng được hưởng lương
thường xuyên; đối tượng đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ
cấp xã hội;” hoặc “Có nguồn thu nhập thường xuyên từ sản xuất nông nghiệp trên
diện tích đất đang sử dụng quy định tại Điểm a Khoản này, kể cả trường hợp không có
thu nhập thường xuyên vì lý do thiên tai, thảm họa môi trường, hỏa hoạn, dịch
bệnh”… Như vậy, về nội dung áp dụng quy định nêu trên một mặt đảm bảo nhu cầu
của cơ quan quản lý nhà nước về đất đai, phục vụ nhu cầu đảm bảo an ninh lương thực
phát triển bền vững nền kinh tế, nhưng xét trong một khía cạnh khác đã vi phạm quyền
tự do định đoạt của người sử dụng đất trong việc quyết định chuyển nhượng quyền sử
dụng đất thuộc phạm vi mình đang quản lý và sử dụng. Trên thực tế hiện nay, trong
quá trình sử dụng nhiều trường hợp các ông bố, bà mẹ đã quá tuổi lao động và không
thể tiếp tục canh tác phần đất nông nghiệp hiện đang quản lý, có ý muốn tặng cho các
con nhờ trông coi quản lý thay (thực sự các phần đất nông nghiệp đều cho thuê và có
người canh tác các ông, bà chỉ là người nhận tiền thuê đất đây được xem là phần thu
nhập “trực tiếp” từ việc canh tác đất). Tuy nhiên, các con đều là công chức nhà nước
và đều có thu nhập ổn định, do vậy theo quy định trên các con đều không thuộc đối
tượng được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất nông nghiệp trong
khi về quy định phần đất đó họ không thể chuyển mục đích khác để canh tác. Như vậy
các bậc cha, mẹ phải làm gì với quyền sử dụng mình được ghi nhận trong khi không
còn đủ sức để canh tác và không thể chuyển nhượng, tặng cho các con trong khi họ
45
không muốn chuyển nhượng, tặng cho cho người khác… Song song đó, với quy trình
đăng ký thủ công, tồn tại nhiều sai sót, dễ dẫn đến tình trạng nhũng nhiễu từ phía cán
bộ đăng ký. Thủ tục đăng ký tài sản rườm rà, thiếu minh bạch, chưa đáp ứng được mục
tiêu cải cách thủ tục hành chính, trong khi việc đăng ký trái quy định của pháp luật vẫn
tiếp diễn và có biểu hiện ngày càng tinh vi, khó phát hiện, gây bức xúc cho người dân,
gây dư luận xã hội. Thực tế cho thấy việc xác nhận người trực tiếp canh tác đất được
giao về cho Ủy ban nhân dân cấp xã, trong đó người tiến hành xác nhận là cán bộ địa
chính xã, phường trong nhiều trường hợp còn ít tuổi hoặc ở địa phương khác làm cho
việc xác nhận rất nhiều trường hợp mang tính hình thức và khái niệm “trực tiếp canh
tác” được hiểu như thế nào cho đúng vẫn còn mang nhiều tranh cãi thì rất khó để có
được một sự xác nhận mang tính chính xác, đúng đắn và trung thực. Bên cạnh đó, phải
kể đến một số trường hợp vướng mắc khác như việc thông tin về quyền sử dụng đất,
tài sản gắn liền với đất trong một số trường hợp đã không phản ánh chính xác về tình
trạng của đất trên thực tế, từ đó dẫn đến tranh chấp, khiếu nại kéo dài, gây bức xúc
trong xã hội là những khó khăn vướng mắc không nhỏ của hệ thống đăng ký quyền sử
dụng đất của nước ta hiện nay. Ví dụ: Quyền sử dụng đất được cấp cho vợ - chồng,
nhưng trên giấy chứng nhận lại ghi người sử dụng đất là hộ gia đình, hoặc quyền sử
dụng đất bị hạn chế quyền, nhưng trên giấy chứng nhận lại không ghi nhận tình trạng
đó... Trong đó, rất nhiều trường hợp quyền sử dụng đất được cấp theo Luật Đất đai
năm 1993 thì hầu hết quyền sử dụng đất nông nghiệp đều được ghi nhận cấp cho người
sử dụng đất với tư cách quyền sử dụng đất của hộ gia đình, trong khi nguồn gốc hình
thành tài sản là tài sản riêng của cá nhân thì khi đó việc xác định người có quyền
chuyển nhượng, tặng, cho các quyền sử dụng đất trên đều gặp rất nhiều khó khăn và vì
như thế nhiều tranh chấp không được giải quyết hoặc giải quyết kéo dài, không thỏa
đáng gây bức xúc trong nhân dân.
Trong khi đó, kinh nghiệm cho thấy, thiết chế đăng ký bất động sản muốn vận
hành hiệu quả đòi hỏi phải xây dựng được một hệ thống cơ quan đăng ký thực sự hiện
đại, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ trong quá trình giải quyết hồ sơ của người dân,
doanh nghiệp. Điều này thực sự gây ra rất nhiều khó khăn cho cơ quan quản lý hành
chính nhà nước về đất đai trong việc thực thi quyền sử dụng đất của người sử dụng
đất, mặt khác lại giới hạn quá nhiều về quyền tài sản của người sử dụng đất trong việc
quyết định quyền sử dụng đất của mình. Ngoài ra, thực tế còn cho thấy, ngay chính
46
mối liên hệ của các cơ quan đăng ký hoặc giữa cơ quan đăng ký với tổ chức hành nghề
công chứng, thuế cũng chưa có sự kết nối, chia sẻ thông tin về tình trạng pháp lý của
tài sản. Việc thiếu dữ liệu thông tin về tài sản đã và đang dẫn đến những khó khăn cho
người dân, doanh nghiệp, cũng như cho chính các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Không những thế, quy trình chuyển nhượng quyền sử dụng, đặc biệt là nhóm
đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp còn
phức tạp, gây khó khăn trong quá trình tiếp cận. Thủ tục nhận chuyển nhượng quyền
sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh phi nông
nghiệp được quy định ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Luật Đất đai năm
2013, Luật Đầu tư năm 2014, Luật Nhà ở năm 2014, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP
ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai,
Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số
quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai, Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày
12/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của
Luật Đầu tư, Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà ở, Thông tư số 24/2014/TT-
BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ địa
chính, Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi
trường quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ
sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai và sửa đổi,
bổ sung một số điều của các Thông tư hướng dẫn thi hành Luật Đất đai… Như vậy, có
thể thấy để thực hiện được đầy đủ các thủ tục nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất
nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp thì nhà
đầu tư cần phải tiếp cận với rất nhiều các quy định nằm ở các văn bản pháp luật khác
nhau. Về cơ bản thủ tục nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực
hiện dự án đầu tư có thể được khái quát như sau:
Bước 1: Thực hiện việc chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối
với tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện
dự án sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp theo quy định tại Điều 193 Luật Đất đai.
Tại khoản 1 Điều 193 Luật Đất đai đã quy định: Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân
được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư
sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp phải có văn bản chấp thuận của cơ quan nhà
47
nước có thẩm quyền. Như vậy, để thực hiện quyền nhận chuyển nhượng quyền sử
dụng đất để thực hiện dự án đầu tư thì nhà đầu tư cần phải có chấp thuận của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền. Đây là bước khởi đầu và là tiền đề pháp lý quan trọng để nhà
đầu tư tiến hành các hoạt động thương lượng, thỏa thuận với người sử dụng đất nông
nghiệp và tiến hành các bước tiếp theo.
Bước 2: Việc thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp
giữa người sử dụng đất và chủ đầu tư: Trình tự, thủ tục này được quy định tại Khoản 2
Điều 9 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi
trường quy định về hồ sơ địa chính được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 2 Điều 7 Thông tư
số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định
chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung
một số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai và sửa đổi, bổ sung một số
điều của các Thông tư hướng dẫn thi hành Luật Đất đai. Cụ thể ở bước 2 này nhà đầu
tư cần phải nộp những giấy tờ sau:
- Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất;
- Hợp đồng, văn bản về việc chuyển nhượng;
- Bản gốc Giấy chứng nhận đã cấp;
- Văn bản chấp thuận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với tổ chức
kinh tế nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư
(văn bản này nhà đầu tư phải có từ bước 1);
Ở khâu này, nhà đầu tư sẽ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ thể nhận
chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Để đảm bảo đầy đủ các hồ sơ, giấy tờ nộp cho cơ
quan nhà nước khi chuyển nhượng thì nhà đầu tư phải chủ động liên hệ với người sử
dụng đất để thỏa thuận chuyển nhượng theo giá cả do hai bên thương lượng. Đây
chính là điểm khác biệt cơ bản của việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất để
thực hiện dự án so với các hình thức được giao đất để thực hiện dự án thông qua đấu
giá và đấu thầu. Nếu như với cách thức được giao đất thông qua đấu giá và đấu thầu,
nhà đầu tư sẽ được giao trực tiếp từ cơ quan nhà nước còn việc thu hồi đất là trách
nhiệm của cơ quan nhà nước thì ở hình thức này chủ đầu tư được tự chủ động liên hệ
và thỏa thuận mức giá chuyển nhượng cho người sử dụng đất nông nghiệp. Điều này
sẽ tạo nên tính linh động và tích cực cho hoạt động đầu tư.
Bước 3: Sau khi đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp thì chủ
48
đầu tư mới được thực hiện quy trình đầu tư theo pháp luật đầu tư và pháp luật có liên
quan. Ở giai đoạn này, chủ đầu tư cần phải thực hiện theo Điều 22 Nghị định số
118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của Luật Đầu tư như sau:
- Quyết định chủ trương đầu tư, cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư;
- Thành lập tổ chức kinh tế đối với nhà đầu tư nước ngoài đầu tư theo hình thức
thành lập tổ chức kinh tế;
- Thực hiện thủ tục cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của
pháp luật về đất đai;
- Thực hiện thủ tục về xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng (nếu
dự án có hoạt động xây dựng).
Như vậy, sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp nhà đầu
tư phải thực hiện một loạt các hoạt động như: quyết định chủ trương đầu tư, thành lập
tổ chức kinh tế đối với nhà đầu tư nước ngoài đầu tư theo hình thức thành lập tổ chức
kinh tế, thực hiện thủ tục cho phép chuyển mục đích sử dụng đất... Có thể thấy
khâu này là sự tổng hợp của rất nhiều thủ tục khác nhau yêu cầu nhà đầu tư phải thực
hiện đầy đủ thì mới có cơ sở pháp lý để triển khai và thực hiện dự án.
Qua 3 bước trên cho thấy việc thực hiện thủ tục nhận chuyển nhượng quyền sử
dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp
khá phức tạp. Trong quá trình thực hiện có một số vướng mắc, bất cập như sau:
Thứ nhất, chưa có một văn bản thống nhất được toàn bộ thủ tục nhận chuyển
nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh
phi nông nghiệp mà việc thực hiện phải tuân theo nhiều văn bản khác nhau dẫn đến
việc tiếp cận và hiểu các quy định rất khó khăn.
Thứ hai, một số quy định của pháp luật chưa rõ ràng khiến cho cả nhà đầu tư và
cơ quan nhà nước đều lúng túng trong quá trình thực hiện. Ví dụ như ở bước 1 là thực
hiện xin chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với tổ chức kinh tế nhận
chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án sản xuất, kinh
doanh phi nông nghiệp thì hiện nay không có quy định cụ thể cho hoạt động này như
hồ sơ cần phải nộp, trình tự của thủ tục chấp thuận…
Thứ ba, trong quá trình thực hiện toàn bộ thủ tục thì chưa có cơ quan nhà nước
nào là đầu mối thống nhất thực hiện. Qua phần khái quát trên cho thấy việc thực hiện
49
thủ tục lại được chia thành những quy trình nhỏ, mỗi quy trình nhỏ do các cơ quan nhà
nước khác nhau tiếp nhận và giải quyết. Cụ thể, nếu liên quan đến đất đai sẽ do Sở Tài
nguyên và Môi trường tiếp nhận hồ sơ và giải quyết, nếu liên quan đến đầu tư sẽ do Sở
Kế hoạch và Đầu tư tiếp nhận hồ sơ và giải quyết, nếu liên quan đến xây dựng sẽ do
Sở Xây dựng tiếp nhận hồ sơ và giải quyết... Việc phải thực hiện rất nhiều các thủ tục
với các cơ quan nhà nước khác nhau sẽ khiến cho nhà đầu tư gặp khó khăn vì không
biết phải làm thủ tục nào trước, thủ tục nào sau, không biết thắc mắc, kiến nghị với cơ
quan nào.
Thứ tư, hệ thống hồ sơ nhà đầu tư phải nộp và chuẩn bị tương đối nhiều và
phức tạp, có sự chồng chéo giữa các luật. Ví dụ như tại khoản 2 Điều 6 Nghị định số
118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số
điều của Luật Đầu tư quy định: “Cơ quan đăng ký đầu tư không được yêu cầu nhà đầu
tư nộp thêm giấy tờ khác ngoài các giấy tờ trong hồ sơ đăng ký đầu tư theo quy định
tại Luật Đầu tư và Nghị định này”. Tuy nhiên, tại điểm b khoản 2 Điều 171 Luật Nhà
ở năm 2014 quy định: "Đối với trường hợp quyết định chủ trương đầu tư theo Luật đầu
tư thì ngoài hồ sơ đề nghị chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của Luật đầu tư
còn phải có các giấy tờ sau đây: Văn bản đề nghị chấp thuận chủ trương dự án xây
dựng nhà ở, trong đó nêu rõ cơ sở pháp lý, các nội dung cần chấp thuận và lý do đề
nghị chấp thuận; Bản vẽ quy hoạch chi tiết khu vực có dự án đã được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền phê duyệt. Như vậy, các quy định này cho thấy sự chồng chéo
của pháp luật dẫn đến khó khăn trong triển khai thực hiện. Như vậy, việc hoàn thiện hệ
thống pháp luật là hết sức cần thiết để hướng một hành lang pháp lý thông suốt, minh
bạch cho các nhà đầu tư thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình
thực hiện thủ tục nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự
án đầu tư sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp.
Một vấn đề trên thực tiễn nữa có thể ảnh hưởng tới quá trình xác lập hợp đồng
chuyển nhượng phải kể đến là, khi hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ không có công
chứng, chứng thực hoặc đã được công chứng, chứng thực (theo nhóm tác giả là đã có
hiệu lực) nhưng chưa hoàn tất thủ tục đăng ký lại phát sinh yêu cầu áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản từ người thứ ba hoặc bị Cơ quan thi hành án dân
sự kê biên để cưỡng chế thi hành án thì việc giải quyết tranh chấp. Có quan điểm xác
định giao dịch chuyển nhượng vô hiệu do vi phạm điều cấm hoặc vô hiệu do có đối
50
tượng không thực hiện được hoặc vô hiệu do trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba
hoặc công nhận hợp đồng, xác định QSDĐ đã được chuyển nhượng và quyền đăng ký
quyền sử dụng của người nhận chuyển nhượng. Theo nhóm tác giả thì việc phát sinh
biện pháp phong tỏa, hoặc kê biên sau khi giao kết hợp đồng chuyển nhượng thì giao
dịch vẫn đảm bảo điều kiện để phát sinh hiệu lực, bởi lẽ tại thời điểm xác lập giao dịch
không có quy định của pháp luật nào ngăn cấm chủ thể thực hiện quyền của người sử
dụng đất (nếu thửa đất đảm bảo điều kiện chuyển nhượng). Chỉ trong trường hợp có
căn cứ rõ ràng để xác định giao dịch này nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ với người
thứ ba mới dẫn đến vô hiệu.
Liên quan đến vấn đề này, nhóm tác giả không đồng nhất với quy định tại Điều
24 Nghị định 62/2015/NĐ-CP hướng dẫn Điều 75 của Luật THA về việc giải quyết
tranh chấp, yêu cầu hủy giấy tờ, giao dịch liên quan đến tài sản THA thì “Kể từ thời
điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, nếu người phải THA chuyển đổi, tặng
cho, bán, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố tài sản cho người khác mà không sử dụng
khoản tiền thu được để THA và không còn tài sản khác hoặc tài sản khác không đủ để
đảm bảo nghĩa vụ THA thì tài sản đó vẫn bị kê biên, xử lý để THA, trừ trường hợp
pháp luật có quy định khác”. Bởi lẽ, quy định này lại mâu thuẫn với những quy định
của pháp luật về quyền, điều kiện chuyển giao quyền sở hữu tài sản, QSDĐ10, theo đó
thì pháp luật không cấm, hạn chế người phải THA thực hiện giao dịch chuyển quyền
đối với tài sản và người nhận chuyển quyền được quyền xác lập quyền sở hữu, quyền
sử dụng, chỉ trừ trường hợp giao dịch đó vô hiệu do giả tạo, nhằm trốn tránh nghĩa vụ
đối với người thứ ba [3]. Đồng thời, điều này sẽ gây khó khăn, ảnh hưởng lớn đến
quyền lợi của người tham gia giao dịch chuyển quyền có căn cứ pháp luật, rất khó để
họ đảm bảo yếu tố ngay tình khi ngoài việc tìm hiểu tài sản đó có đủ điều kiện giao
dịch, thì còn phải xác định chủ sở hữu tài sản có phải đang thi hành nghĩa vụ dân sự
của bản án, quyết định nào của Tòa án hay không. Mặt khác, đó là chúng ta chưa tính
đến yếu tố giá trị tài sản chuyển quyền lớn hơn nhiều so với nghĩa vụ phải THA hoặc
người chủ sở hữu tài sản đã sử dụng khoản tiền thu được để thực hiện những nghĩa vụ
cho những người khác. Mặc dù quy định này đảm bảo hiệu lực thi hành bản án, quyết
định của Tòa án, tuy nhiên trong trường hợp này việc bảo vệ quyền lợi của chủ thể này
10 Tham khảo các điều 129, 161 BLDS 2015, Điều 188 Luật đất đai 2014; Điều 122 Luật nhà ở 2014; các điều 5, 7 Luật công chứng 2014
51
sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của chủ thể khác. Theo nhóm tác giả việc người chuyển
nhượng không sử dụng tiền nhận chuyển nhượng để thực hiện nghĩa vụ theo bản án,
quyết định có hiệu lực có thể được xem xét xử lý nếu có đủ căn cứ về hành vi vi phạm
quy định về gây thiệt hại đến tài sản của người khác “Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ
trốn để chiếm đoạt tài sản của người khác” hoặc về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản với tình tiết “có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả”11.
2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất trong giai đoạn 2010 – 2020 ở Việt Nam
2.2.1. Đánh giá tổng quan những thuận lợi và khó khăn trong việc giải quyết
tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong giai đoạn 2010 –
2020 ở Việt Nam
* Thuận lợi:
Trong những năm qua, nhờ chính sách và đường lối phát triển phù hợp của
Đảng, Nhà nước trong lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai, đến nay trên 90,25% diện tích
tự nhiên của cả nước được khai thác đưa vào sử dụng cho các mục đích phát triển kinh
tế - văn hóa – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Diện tích đất dành cho phát triển
đô thị tăng nhanh, trong giai đoạn 2001 – 2010, diện tích đất đô thị tăng 531 nghìn ha,
bình quân tăng 53 nghìn ha/ năm, đã hình thành hệ thống mạng lưới đô thị phân bổ
tương đối hợp lý trên các vùng lãnh thổ của cả nước. Thị trường quyền sử dụng đất
vận hành đã góp phần tạo nguồn thu cho ngân sách và trở thành một trong những
nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Nguồn thu từ đất đai
cho ngân sách nhà nước tăng qua các năm (năm 2002 là 5.486 tỷ đồng, chiếm 4,4%
tổng thu ngân sách nhà nước, năm 2010 là 67.000 tỷ đồng, chiếm 11,21% tổng thu
ngân sách nhà nước). Cùng với sự vận hành và phát triển của các quan hệ xã hội, các
quy định về quyền sử dụng đất cũng được nhìn nhận và đánh giá đúng bản chất trong
quan hệ kinh tế thị trường và giao dịch dân sự [29]. Từ thời điểm LĐĐ 2003, Luật
Kinh doanh bất động sản năm 2006, Luật Nhà ở năm 2005, BLDS 2005, Luật Công
chứng năm 2006, ... có hiệu lực, tranh chấp liên quan đến việc xác lập, thực hiện
HĐCNQSDĐ có xu hướng giảm. Qua nghiên cứu tình hình giải quyết Giám đốc thẩm
đối với các bản án/ quyết định về quyền sử dụng đất từ năm 2013 trở lại đây, chúng tôi
11 Điểm b khoản 1 Điều 175 BLHS 2015, sửa đổi, bổ sung 2017.
52
nhận thấy tranh chấp từ những năm 2003 trở về trước có tính chất phức tạp, kéo dài và
khó giải quyết dứt điểm hơn so với thời điểm sau này.
Những thuận lợi cơ bản của pháp luật đối với HĐCNQSDĐ bao gồm: (1) Quy
định pháp luật về HĐCNQSDĐ tạo nên hành lang pháp lý được các chủ thể xác lập,
thực hiện nghiêm túc. Đối với thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động
sản, LĐĐ 2003 và các pháp luật có liên quan được ban hành đã làm thay đổi căn bản
thị trường bất động sản nói chung, thị trường quyền sử dụng nói riêng, tạo lập được cơ
chế để thị trường bất động 114 sản hoạt động và phát triển tương đối nhanh, đồng bộ.
Giao dịch về quyền sử dụng đất từng bước đi vào nề nếp. Tổ chức phát triển quỹ đất,
Văn phòng đăng ký đất đai, Quỹ phát triển đất, tổ chức môi giới, định giá, tư vấn pháp
lý, ... được hình thành và hoạt động ngày càng chuyên nghiệp, hỗ trợ tích cực cho thị
trường bất động sản [29]. Đối với HĐCNQSDĐ, hành lang pháp lý được xây dựng
tương đối đồng bộ, đầy đủ, từ căn cứ xác lập quyền sử dụng đất, điều kiện có hiệu lực
của hợp đồng, yêu cầu đối với việc thực hiện hợp đồng, biện pháp xử lý khi vi phạm
hợp đồng, hợp đồng vô hiệu, ... (2) Các quy định pháp luật về hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất là cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp, xác định trách
nhiệm pháp lý các bên khi phát sinh tranh chấp: Quy định pháp luật là cơ sở để xác
định trách nhiệm của các bên trên cơ sở quyền và nghĩa vụ quy định trong hợp đồng
hoặc/ và pháp luật. Khi giải quyết tranh chấp, cơ quan tài phán sẽ căn cứ vào quy định
pháp luật, đối chiếu với thoả thuận của các bên trong hợp đồng, việc tuân thủ quy định
pháp luật và thực hiện thoả thuận của các bên, các chứng cứ để nhận định, xác định
quan hệ tranh chấp, trách nhiệm, lỗi, ... của các bên là cơ sở để ban hành phán quyết.
Xác định trình tự, thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp: Chủ thể, đối
tượng, bản chất của quan hệ pháp luật là một trong những căn cứ quan trọng để xác
định trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp. (3) Quy định pháp luật cụ thể, rõ ràng, đầy
đủ góp phần đảm bảo sự minh bạch trong việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của các bên
trong hợp đồng, thực hiện các nghĩa vụ với Nhà nước, các bên liên quan.
* Khó khăn trong quá trình áp dụng pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất:
Bên cạnh thuận lợi kể trên, thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất vẫn gặp nhiều khó khăn, xuất phát từ những nguyên nhân
cơ bản sau: (1) Sự phức tạp về cơ chế và chính sách pháp luật đất đai qua các thời kỳ.
53
Chính sách pháp luật đất đai qua các thời kỳ phức tạp, chưa ổn định, thường xuyên
thay đổi. Việc xác lập quyền sử dụng đất ở mỗi thời kỳ, theo hình thức nào phải do
luật nội dung có hiệu lực pháp luật vào thời điểm đó điều chỉnh, trừ trường hợp ngoại
lệ và đặc thù, do vậy, việc xác định tính hợp pháp của căn cứ xác lập quyền sử dụng
đất, chủ thể sử dụng đất hoặc các quyền năng của chủ thể sử dụng đất trong đó phải kể
đến hoạt động chuyển nhượng QSDĐ trên thực tế gặp rất nhiều khó khăn (2) Điều kiện
kinh tế, xã hội: Từ Đại hội Đảng lần thứ VI, Đảng ta chủ trương phát triển nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thay cho nền kinh tế kế hoạch tập trung, với
nền kinh tế mở cửa đã làm cho các mối quan hệ xã hội nói chung và các quan hệ đất
đai vận hành theo một cơ chế mới. Cho phép quyền sử dụng đất vào thị trường chuyển
nhượng, những quy luật kinh tế làm cho tài sản này phát sinh nhiều vấn đề phức tạp
khi tham gia vào thị trường. Giá trị quyền sử dụng đất luôn biến đổi không ngừng có
lúc tăng, lúc giảm, gây nhiều rủi ro cho những người tham gia việc chuyển nhượng. Có
người tham gia vào quan hệ chuyển nhượng mà có thể giàu lên nhanh chóng, đồng
thời cũng có những người tham gia quan hệ chuyển nhượng có thể bị mất một khoản
lợi lớn. Hệ quả của sự biến động về giá là việc Tòa án nhân dân các địa phương đã
nhận được rất nhiều đơn yêu cầu hủy HĐCNQSDĐ. Một trong các bên muốn hủy các
HĐCNQSDĐ đã giao kết trước đây nhằm giành lại quyền sử dụng đất ở hoặc khoản
tiền để thực hiện các giao dịch khác. Ngoài ra, còn phải kể đến một số nguyên nhân
dẫn đến tranh chấp trong HĐCNQSDĐ là do chiến tranh, lịch sử để lại. (3) Hoạt động
tổ chức và thực hiện pháp luật: Về phía cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, hoạt động
tổ chức và thực hiện pháp luật còn thể hiện tinh thần trách nhiệm chưa cao, buông lỏng
việc quản lý, xác minh, dẫn đến sai phạm trong lĩnh vực cấp GCNQSD đất, đăng ký
đất đai, ... vẫn xảy ra khá phổ biến. Bên cạnh đó, việc quản lý sổ sách, giấy tờ liên
quan đến quyền sử dụng đất còn nhiều bất cập, thiếu chặt chẽ, trên thực tế hiện tượng
mất các phôi GCNQSD đất xảy ra rất nhiều, ... gây khó khăn trong việc xác minh, đối
chiếu chứng cứ và quản lý hoạt động sử dụng đất trên địa bàn. Một số cán bộ, công
chức thực hiện công vụ liên quan đến đất đai còn thiếu gương mẫu, tuỳ tiện trong quản
lý, vi phạm chế độ quán lý và sử dụng đất đai. Quy định pháp luật về HĐCNQSDĐ
chưa đầy đủ và phù hợp. Biểu hiện của nguyên nhân này xuất phát từ những điểm
chưa hợp lý của quy định pháp luật, mặc dù trong thời gian gần đây các quy định về
hợp đồng này luôn được sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện. Nhưng trên thực tế thì vẫn
54
còn nhiều quy định chưa cụ thể, rõ ràng gây ra nhiều khó khăn cho cơ quan nhà nước
có thẩm quyền khi thực thi pháp luật. Đây là nguyên nhân vừa do yếu tố “lịch sử để
lại”, vừa xuất phát từ hệ thống pháp luật hiện hành. Để giải quyết những hậu quả pháp
lý do lịch sử để lại, pháp luật hiện hành đã ban hành các văn bản hướng dẫn theo
hướng linh hoạt hơn, nhằm đảm bảo quyền lợi cho người sử dụng đất. Tuy nhiên,
chính vì sự “linh hoạt” này đã tạo ra sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa căn cứ pháp lý và
cơ sở thực tiễn, khiến nhiều vụ án giải quyết tranh chấp gần như “bế tắc”. Có những
vụ án trải qua thời gian tố tụng hơn 20 năm với hàng chục cấp xét xử vẫn chưa được
giải quyết thỏa đáng bởi sự chênh vênh của quy định pháp luật. Ví dụ, người dân đi
“đòi lại quyền sử dụng đất” theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu đất (Luật Cải cách
ruộng đất 1953). Trong thời gian chiến tranh, người này đã giao nhà đất cho người
khác quản lý. Sau này, người được giao quản lý nhà đất cố tình không trả và đã làm
thủ tục xin cấp GCN QSDĐ. Người chủ thực sự của khu đất đã có rất nhiều đơn từ đến
cơ quan Nhà nước yêu cầu trả lại đất, vì họ vẫn có giấy tờ hợp pháp theo Luật Cải
cách ruộng đất năm 1953 và đất của họ không thuộc vào các trường hợp bị thu hồi
theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, pháp luật hiện nay lại có hướng dẫn về việc
công nhận quyền sử dụng đất thực tế dựa trên thời gian sử dụng đất “ổn định, lâu dài,
đã xây dựng các công trình kiên cố, ...” trên đất. Trong những vụ án như trên, rất khó
để xác định “ai” là người thực sự có quyền sử dụng đất. Hoặc có trường hợp tranh
chấp về HĐCNQSDĐ được xác lập từ những năm 1960, các bên đều không đưa ra
được các giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất từ thời kỳ đó, nhưng một bên chứng
minh được có tài sản trên đất (nhà thờ, mộ phần của tổ tiên), một bên chứng minh
được mình đã quản lý, sử dụng đất một thời gian dài và đã kê khai, nộp thuế sử dụng
đất. Trên thực tế, qua xác minh thì bên có tài sản trên đất đã nhiều lần khiếu nại, đòi
đất nhưng không được giải quyết. Cùng với những vướng mắc trên, giấy tờ, tài liệu
chứng minh người có quyền sử dụng đất qua nhiều thời kỳ không thể hiện rõ ai là
người sử dụng đất, hình thức xác lập là gì (tặng cho, chuyển nhượng, cho ở nhờ, ủy
quyền quản lý, ...), diện tích, ranh giới đất, ... Trong khi đó việc quản lý Nhà nước về
đất đai qua nhiều thời kỳ chưa tốt, việc quản lý hồ sơ, tài liệu địa chính đối với từng
thửa đất chưa chặt chẽ, dẫn đến khó khăn trong việc xem xét, đánh giá các chứng cứ,
tài liệu. (4) Nhận thức pháp luật của các chủ thể tham gia quan hệ HĐCNQSDĐ: Khi
tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng, một hoặc các bên không nhận thức và tìm hiểu
55
đầy đủ các quy định pháp luật có liên quan, vi phạm các điều kiện chuyển quyền hoặc
điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, không lưu giữ các chứng cứ cần thiết (giấy biên
nhận, thanh toán, biên bản bàn giao, ...). Ý thức pháp luật của các bên khi tham gia ký
kết hợp đồng: Khi tham gia HĐCNQSDĐ, có thể các bên đều có ý thức được việc
chuyển nhượng của mình cần phải tuân thủ các điều kiện bắt buộc mà pháp luật quy
định, nhưng lại không tuân thủ. Điều này xuất phát từ nhiều lý do khác nhau, có thể là
do việc phải thực hiện các thủ tục hành chính, hoặc cũng có thể là do các bên muốn
trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước. Điều này có thể thấy được trong
thời gian gần đây, giá trị quyền sử dụng đất ở không ngừng biến động, giao kết
HĐCNQSDĐ vẫn diễn ra thường xuyên, khi nhận thấy hợp đồng chưa có hiệu lực
pháp lý, nếu giá đất tăng cao hơn so với thời điểm giao kết thì bên chuyển nhượng sẽ
không muốn thực hiện hợp đồng và ngược lại nếu giá đất thấp hơn so với thời điểm
giao kết thì bên nhận chuyển nhượng cũng sẽ yêu cầu hủy bỏ hợp đồng... Đây cũng là
lý do chính dẫn đến tình trạng tranh chấp HĐCNQSDĐ xảy ra. Tuy nhiên, vấn đề này
sẽ được giải quyết dễ dàng khi các bên tham gia quan hệ chuyển nhượng nghiêm chỉnh
tuân thủ các quy định của pháp luật. Công nhóm tác giải quyết tranh chấp, khiếu kiện
về đất đai ở nhiều địa phương nhìn chung hiệu quả chưa cao, chưa kịp thời, còn nhiều
đơn thư chưa giải quyết. Các tranh chấp dân sự, nhất là tranh chấp liên quan đến đất
đai rất phức tạp do tập quán chuyển nhượng, cho thuê, cho mượn, thừa kế thường thỏa
thuận miệng, không có người làm chứng, không có xác nhận của chính quyền địa
phương, công chứng, …. dẫn đến khi có tranh chấp, Tòa án không đủ chứng cứ, tài
liệu để thừa nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu của đương sự. Việc giải quyết tranh
chấp đất đai ở một số nơi còn mang tính nể nang, chủ quan, không đúng pháp luật và
thiếu công bằng, gây giảm sút lòng tin của người dân. Số lượng các vụ án dân sự để
quá thời hạn giải quyết còn nhiều, còn có những bản án tuyên không rõ, gây khó khăn
cho công tác thi hành án dân sự. Việc này xuất phát từ cả nguyên nhân chủ quan và
khách quan. Trong đó, nguyên nhân vì sự thiếu thống nhất trong các quy định pháp
luật chiếm số lượng không nhỏ, dẫn đến ảnh hưởng trực tiếp đến việc đánh giá chứng
cứ, xác định quan hệ pháp luật có tranh chấp, mức độ lỗi của các bên, hậu quả pháp lý
của hợp đồng vô hiệu, … [53, năm 2012]. Công tác tuyên truyền, giải thích, tư vấn
pháp luật về đất đai vẫn còn nhiều hạn chế và chưa được quan tâm đúng mức. Công
tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật đất đai chưa thật sự được coi trọng, vì thế trình độ
56
hiểu biết pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật trong nhân dân còn hạn chế. Nhiều
văn bản pháp luật đất đai chưa thực sự đi vào cuộc sống. Việc điều tra, xem xét giải
quyết tranh chấp đất đai còn yếu kém, hiệu lực thấp, chưa thật sự quan tâm đến những
giải pháp mang tính quần chúng.
Tình hình công tác xét xử tại Toà án Những năm gần đây, thông qua Báo cáo
tổng kết của TAND các cấp, tranh chấp đất đai vẫn là một trong những nội dung nổi
cộm và được nhắc tới nhiều nhất trong số 118 các vụ án dân sự. Trong các tranh chấp
dân sự, tranh chấp về đất đai qua các năm vẫn chiếm tỷ lệ cao, phức tạp. Ví dụ, theo
Báo cáo tổng kết ngành Tòa án năm 2013, các tranh chấp về đất đai năm 2013 tăng
1.417 vụ so với năm 2012. Báo cáo tổng kết của toàn ngành tòa án các năm 2014,
2015 không đề cập cụ thể đến tranh chấp dân sự về quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, các
tranh chấp này vẫn là một trong những tranh chấp nổi cộm và được đề cập đến trong
báo cáo tổng kết của TAND các địa phương. Tính riêng TP. Hồ Chí Minh: Theo các
Báo cáo tổng kết của TAND TP. Hồ Chí Minh, tranh chấp dân sự chủ yếu vẫn là tranh
chấp thừa kế về nhà, đất, hợp đồng mua bán nhà (BC tổng kết của TAND TP. HCM
năm 2010). Án dân sự năm 2011, số vụ thụ lý và giải quyết toàn ngành tăng. Tại Tòa
án thành phố, án dân sự sơ thẩm giảm so với năm 2010 nhưng án dân sự phúc thẩm
tăng, trong đó các tranh chấp về hợp đồng vay tài sản, tranh chấp quyền sở hữu nhà,
đất, thừa kế chiếm tỷ trọng cao trong số án giải quyết [55]. Đây là những dạng tranh
chấp rất phức tạp, nhiều khó khăn trong việc đánh giá, thu thập chứng cứ, đương sự
không hợp tác khi tiến hành đo vẽ, định giá, nhận thức pháp luật còn hạn chế nên việc
cung cấp chứng cứ bảo vệ quyền lợi của đương sự chưa được đầy đủ. Nhiều trường
hợp phải làm văn bản gửi cơ quan chuyên môn, Ủy ban nhân dân để thu thập chứng
cứ, xác định nguồn gốc, quá trình sử dụng nhà, đất, nhưng các cơ quan chuyên môn
chậm trả lời, hoặc có trả lời nhưng không đầy đủ phải yêu cầu bổ sung, dẫn đến kéo
dài vụ án. Trong thời gian gần đây, phát sinh tranh chấp quan hệ vay tài sản nhưng
việc vay này các đương sự không lập hợp đồng vay mà lập hợp đồng mua bán nhà
hoặc đất. Quá trình giải quyết loại án này rất phức tạp do tính chất phức tạp về chứng
cứ của vụ án. Hoặc các vụ án tranh chấp tài sản sản là nhà đất giữa cha mẹ với con cái
hoặc tranh chấp tài sản giữa vợ chồng. Đối với các vụ án bị cấp giám đốc thẩm hoặc
phúc thẩm giao cấp sơ thẩm giải quyết lại gặp rất nhiều khó khăn trong việc thu thập
chứng cứ, có trường hợp đương sự đã thi hành án, có trường hợp bên được thi hành án
57
đã bán nhà cho người khác nên khi tiến hành giải quyết lại việc mời đương sự, thu
thập chứng cứ rất khó khăn. Bên cạnh đó, ở Hà Nội, theo báo cáo tổng kết của Tòa án,
các tranh chấp dân sự chủ yếu là tranh chấp đất đai, hợp đồng vay tài sản, về quyền sở
hữu, đặc biệt xuất hiện tranh chấp hợp đồng giữa chủ đầu tư, Ban quản lý và người dân
trong khu chung cư (BC số 1592/BC-TA ngày 12/11/2015 của TAND TP. Hà Nội).
Năm 2014, hai cấp TAND TP. Hà Nội thụ lý 3.307 vụ án dân sự, tăng 185 vụ, đã giải
quyết 2.940 vụ, tăng 129 vụ so với năm 2013, đạt tỷ lệ 89% số vụ án đã thụ lý. Các vụ
án dân sự chiếm tỷ lệ cao là tranh chấp đất đai, hợp đồng vay tài sản, tranh chấp về
quyền sở hữu (BC số 2158/BC-VP ngày 3/11/2014 của TAND TP. Hà Nội), ... [54].
Tại một số địa phương khác: Theo Báo cáo tổng kết của TAND tỉnh Sơn La, trong
năm 2015, việc giải quyết tranh chấp về HĐCNQSDĐ tại cấp sơ thẩm còn sai chiếm tỷ
lệ không nhỏ. Các tranh chấp này khi bị kháng cáo lên TA cấp phúc thẩm tại Sơn La
phải ra quyết định sửa bản án, quyết định do cấp sơ thẩm sai chiếm 50% tổng số tranh
chấp về HĐCNQSDĐ (9/18 vụ án); hủy bản án, quyết định sơ thẩm để đình chỉ chiếm
16,7% (3/18 vụ án); hủy bán án, quyết định sơ thẩm để xét xử lại chiếm 11.1% (2/18
vụ án); còn lại là giữ nguyên bản án, quyết định thẩm 22,2% (4/18 vụ án). Con số
thống kê trên cho thấy, Tòa án sơ thẩm giải quyết tranh chấp còn chưa được triệt để và
hiệu quả, dẫn đến tranh chấp vẫn còn xảy ra [100]. Ngoài ra còn có nguyên nhân khác
là do Tòa án cấp sơ thẩm khi tuyên HĐCNQSDĐ vô hiệu nhưng lại không giải quyết
hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Điều này chưa thực sự bảo đảm bảo được quyền, lợi
ích hợp pháp của các đương sự, dẫn đến tranh chấp kéo dài, gây tốn kém về tiền bạc và
bức xúc cho người dân [52]. Theo Báo cáo số 48/2015/BC-TA ngày 30/6/2015 của
TAND thị xã Sông Cầu, Phú Yên, tranh chấp quyền sử dụng đất trong 6 tháng đầu
năm 2015 là 32 vụ, chiếm tỷ lệ 31,7% số án thụ lý, tranh chấp đòi lại tài sản liên quan
đến đất đai là 09 vụ, chiếm 9% số án thụ lý. Báo cáo tổng kết của TAND TP. Cần Thơ
(BC số 92-BC/2013/TA ngày 5/11/2013) các tranh chấp liên quan đến đất đai năm
2012 là 863 vụ, năm 2013 là 940 vụ. Nhiều vụ tranh chấp xảy ra trong thân tộc. Theo
đánh giá của ngành Toà án, nguyên nhân sâu xa dẫn đến tranh chấp là do giá trị đất
ngày càng biến động, nguyên nhân trực tiếp là do có thể trước đây cấp giấy đại trà, đo
đạc không chính xác, ranh giới, mốc giới giữa các khu đất liền kề không phân định rõ,
bị lấn chiếm, hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cho thuê, cho tặng, cho mượn
không chặt chẽ, rõ ràng. Hợp đồng vi phạm một trong các điều kiện trên đều có thể
58
dẫn đến hậu quả pháp lý hợp đồng vô hiệu. Tuy nhiên, có một số trường hợp hợp đồng
vi phạm các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, nhưng căn cứ thực tiễn và đảm bảo
quyền lợi cho người sử dụng, tôn tạo tài sản trên đất, Toà án vẫn xem xét công nhận
hợp đồng có hiệu lực trên thực tế. Tại Đồng Nai, trong 10 tháng (từ tháng 12-2018 đến
tháng 9-2019), số vụ án dân sự tòa án nhân dân 2 cấp thụ lý mới gần 3,3 ngàn vụ (tăng
gần 800 vụ so với cùng kỳ năm 2019). Trong đó, có khoảng 2,2 ngàn vụ án dân sự liên
quan đến đất đai. Tuy nhiên mới có 500/khoảng 2,2 ngàn vụ án dân sự liên quan đến
đất đai đã được giải quyết [101]. Tình hình thi hành án Theo Báo cáo số 4043/BTP-
TCTHADS ngày 3/11/2015 của Tổng Cục thi hành án dân sự, năm 2015, toàn quốc có
737 bản án, quyết định Tòa án tuyên không rõ, có sai sót tương ứng với 775 quyết định
thi hành án với số tiền phải thi hành án là hơn 479 tỷ đồng và có 216 trường hợp thực
hiện nghĩa vụ liên quan đến tài sản là hiện vật, hành vi 126 như: Trả lại nhà, quyền sử
dụng đất, buộc thực hiện hoặc không thực hiện hành vi, bản án tuyên không rõ về đối
tượng thực hiện nghĩa vụ hoặc nội dung nghĩa vụ phải thực hiện. Thông qua việc rà
soát, thống kê lại kết quả tổng hợp về các bản án tuyên không rõ, có sai sót, khó thi
hành án, chúng tôi nhận thấy ¾ trong số này liên quan đến quyền sử dụng đất, trong đó
½ các bản án có liên quan đến quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở. Để khắc
phục tình trạng án tuyên không rõ ràng, gây khó khăn cho công tác thi hành án dân sự,
các Tòa án đã chủ động tăng cường sự phối hợp với Viện kiểm sát và Cơ quan thi hành
án dân sự cùng cấp rà soát các bản án dân sự chưa thi hành. Ví dụ, năm 2012, với việc
thu thập chứng cứ, xem xét kỹ thực địa trong quá trình giải quyết và chú trọng việc rà
soát bản án trước khi ban hành, số lượng các bản án tuyên không rõ ràng, gây khó
khăn cho công tác thi hành án dân sự đã giảm rõ rệt (600 trường hợp). Năm 2013, các
Tòa án đã giải thích, đính chính 650 bản án, kháng nghị 12 bản án do tuyên không rõ
ràng, giảm gần 40% so với năm 2012. Những năm tiếp theo, các thiếu sót trên đã được
khắc phục cơ bản và hầu như không được đề cập trong báo cáo tổng kết của ngành
Tòa. Năm 2016, theo Báo cáo số 4489/BTP-TCTHADS ngày 16/12/2016 của Tổng
Cục Thi hành án dân sự, toàn quốc có 583 bản án, quyết định Tòa án tuyên không rõ,
khó thi hành tương ứng với 637 quyết định thi hành án với số tiền phải thi hành là
1.820 tỷ đồng và có 145 trường hợp thực hiện nghĩa vụ liên quan đến tài sản là hiện
vật, hành vi như: Trả lại nhà, quyền sử dụng đất, buộc thực hiên hoặc không thực hiện
hành vi, bản án tuyên không rõ về đối tượng thực hiện nghĩa vụ hoặc nội dung nghĩa
59
vụ phải thực hiện, ... So với năm 2015, tổng số bản án, quyết định của Tòa án tuyên
không rõ, có sai sót, khó thi hành đã giảm đi đáng kể. Tính đến thời điểm 30/9/2016,
có 12 tỉnh không còn bản án, quyết định Tòa án tuyên không rõ, khó thi hành.
*Nguyên nhân gây khó khăn trong quá trình áp dụng pháp luật về hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất:
Nguyên nhân khách quan: Tranh chấp đất đai ở nước ta phát sinh có nguồn gốc
sâu xa do lịch sử để lại. Ở miền Bắc, sau Cách mạng tháng 8 và sau năm 1953, Đảng
và Chính phủ đã tiến hành cải cách ruộng đất, xóa bỏ chế độ chiếm hữu ruộng đất của
thực dân, phong kiến, thiết lập quyền sở hữu ruộng đất cho người nông dân. Năm
1960, thông qua con đường hợp tác hóa nông nghiệp, ruộng đất của người nông dân
được đưa vào làm tư liệu sản xuất chung trở thành sở hữu tập thể, do đó tình hình sử
dụng đất đai tương đối ổn định. ở miền Nam, sau hai cuộc kháng chiến chống ngoại
xâm tình hình sử dụng đất đai có nhiều diễn biến phức tạp hơn.
Trong chín năm kháng chiến, Chính phủ đã tiến hành chia ruộng đất cho người
nông dân hai lần vào các năm 1949 – 1950 và năm 1954, nhưng đến năm 1957, ngụy
quyền Sài gòn đã thực hiện cải cách điền địa, thực hiện việc “truất hữu” nhằm xóa bỏ
thành quả của cách mạng, gây ra những xáo trộn về quyền quản lý ruộng đất của người
nông dân. Sau khi thống nhất đất nước, năm 1975, Nhà nước đã tiến hành hợp tác hóa
nông nghiệp, đồng thời xây dựng hàng loạt các lâm trường, nông trường, trang trại.
Những tổ chức đó bao chiếm quá nhiều diện tích đất nhưng sử dụng lại kém hiệu quả.
Đặc biệt, qua hai lần điều chỉnh ruộng đất vào các năm 1977 – 1978 và năm 1982-
1983, với chính sách chia cấp đất theo kiểu bình quân, “cào bằng” đã dẫn tới những
xáo trộn lớn về ruộng đất, về ranh giới, số lượng và mục đích sử dụng đất đai.
Khi đất nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường với sự thay đổi cơ chế quản
lý làm cho đất đai thì đất đai ngày càng trở nên có giá trị.
Dưới góc độ kinh tế, đất đai được coi như một loại hàng hóa trao đổi trên thị
trường theo quy luật cung cầu, quy luật giá trị. Đây là quy luật tự nhiên, nhưng đối với
đất lại không được thừa nhận một cách dễ dàng ở nước ta trong một thời gian khá dài.
Do vậy Nhà nước chưa kịp thời có các chính sách để điều tiết và quản lý có
hiệu quả. Từ khi nhà, đất trở nên có giá trị cao đã tác động đến tâm lý của nhiều người
dẫn đến tình trạng tranh chấp, đòi lại nhà, đất mà trước đó đã bán, cho thuê, cho mượn,
đã bị tịch thu hoặc giao cho người khác sử dụng hoặc khi thực hiện một số chính sách
60
về đất đai ở các giai đoạn trước đây mà không có các văn bản xác định việc sử dụng
đất ổn định của họ.
Nguyên nhân chủ quan có thể nhắc đến như:
- Về cơ chế quản lý đất đai
Trong thời gian qua, công tác quản lý nhà nước về đất đai còn bị buông lỏng,
nhiều sơ hở, có khi phạm sai lầm, giải quyết tùy tiện, sai pháp luật.
Trong cơ chế quản lý tập trung, kế hoạch hóa cao độ, Nhà nước phân công,
phân cấp cho quá nhiều ngành, dẫn đến việc quản lý đất đai thiếu chặt chẽ, nhiều sơ
hở.
Có thời kỳ mỗi loại đất do một ngành quản lý dẫn đến việc tranh chấp về đất
thuộc quyền quản lý của nhiều ngành khác nhau.
Trong cơ chế thị trường, Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch
chung, có sự phân công, phân cấp trách nhiệm quản lý đất đai khá rõ.
Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn tồn tại nhiều sai phạm, non kém về trình độ
quản lý của đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý đất đai. Điều này góp phần làm xuất
hiện nhiều tranh chấp đất đai phức tạp, khó giải quyết.
- Về công tác cán bộ công chức thực hiện công vụ liên quan đến đất đai
Một bộ phận cán bộ, công chức được giao nhiệm vụ quản lý đất đai đã thực
hiện không tốt nhiệm vụ được giao, thiếu gương mẫu, lạm dụng chức quyền, vì lợi ích
riêng tư, bị kẻ xấu lợi dụng để “đục nước béo cò”, thực hiện những âm mưu đen tối,
gây mất ổn định xã hội.
Lợi dụng chủ trương điều chỉnh ruộng đất, tổ chức lại sản xuất theo cơ chế mới,
một số cán bộ, đảng viên lợi dụng sơ hở trong các chế độ, chính sách đất đai của Nhà
nước và dựa vào chức quyền để chiếm dụng đất đai trái phép, gây bất bình trong nhân
dân.
Đặc biệt, ở những nơi nội bộ mất đoàn kết thì lại lấy vấn đề đất đai làm phương
tiện để đấu tranh với nhau, một số phần tử xấu lợi dụng cơ hội này để bao chiếm đất
đai hoặc kích động gây chia rẽ nội bộ và gây mất ổn định về tình hình chính trị- xã hội,
làm mất uy tín của tổ chức Đảng và chính quyền.
- Về công tác lãnh đạo, chỉ đạo
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc giải quyết tranh chấp đất đai ở nhiều nơi, nhiều
lúc còn hữu khuynh, mất cảnh giác. Chẳng những hồ sơ đất đai không đầy đủ, mà việc
61
đăng ký nhân khẩu, hộ khẩu ở nông thôn cũng chưa chặt chẽ, kẻ xấu có điều kiện để
hoạt động dễ dàng.
- Về đường lối chính sách, pháp luật về đất đai
Chính sách đất đai và các chính sách khác có liên quan đến đất đai chưa đồng
bộ, có mặt không rõ ràng và đang còn biến động.
Thực tế áp dụng các chính sách đất đai còn tùy tiện dẫn đến tình trạng: Người
có khả năng sản xuất nông nghiệp thì thiếu ruộng đất, ngược lại, người có ruộng lại
không có khả năng hoặc nhu cầu sản xuất, để đất đai hoang hóa hoặc sử dụng đất kém
hiệu quả.
Bên cạnh đó, việc Nhà nước chia, tách, nhập hoặc thành lập mới những đơn vị
hành chính trong những năm gần đây dẫn đến việc phân địa giới hành chính không rõ
ràng, cụ thể làm cho tình hình tranh chấp đất đai ngày càng phức tạp và gay gắt hơn.
- Về công tác tuyên truyền, giáo dục và phổ biến pháp luật
Công tác tuyên truyền, giáo dục và phổ biến pháp luật đất đai chưa được coi
trọng, làm cho nhiều văn bản pháp luật đất đai của Nhà nước chưa được phổ biến sâu
rộng trong nhân dân.
Tuy nhiên, việc tranh chấp đất đai ở mỗi địa phương khác nhau còn có những
nguyên nhân đặc thù và việc tìm ra những nguyên nhân đó phải căn cứ vào thực tế sử
dụng đất, và phong tục tập quán của từng địa phương để xây dựng được những giải
pháp tốt nhất nhằm giải quyết có hiệu quả từng vụ tranh chấp. Song trên thực tế khía
cạnh này chưa được các cơ quan nhà nước chú trọng, xem xét
2.2.2. Một số khó khăn vướng mắc cụ thể đối với tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong giai đoạn 2010 – 2020 ở Việt Nam
Để làm sáng tỏ các nội dung phân tích thực trạng vướng mắc của pháp luật hiện
hành về HĐCNQSDĐ, nhóm tác giả xin đưa ra một số vụ án cụ thể như sau:
Vụ việc thứ nhất:
Theo đơn khởi kiện ngày 01/4/2016 và quá trình giải quyết vụ án ông Trần Văn
H và bà Cao Thị Q trình bày: Vào ngày 09/02/2005, vợ chồng ông Trần Văn H có
nhận chuyển lại của bà Lâm Thị C một thửa đất khoảng 8000m2 với số tiền là
30.000.000đồng, khi mua bán có viết giấy tay sang nhượng, thửa đất chuyển nhượng
nằm trong diện tích 13.000m2 thuộc GCNQSDĐ số 115 cấp ngày 02/01/1997, đứng
tên ông Quách Đại V (ông V là người bán đất cho ông Quách Xuân H, sau đó ông H
62
bán cho bà C). Do ông V đang thế chấp GCNQSDĐ tại Ngân hàng để vay vốn nên bà
C không tách sổ cho vợ chông ông H được, vì khi bán đất bà C thỏa thuận khi nào ông
V lấy GCNQSDĐ ra thì bà C sẽ làm thủ tục, tách sổ sang tên cho vợ chồng ông H.
Bị đơn bà Lâm Thị C trình bày: Vào năm 1999 ông Quách Xuân H chuyển
nhượng thửa đất khoảng 8000m2 cho bà C với giá 04 cây vàng, khi chuyển nhượng có
làm giấy tay, hiện giấy đã bị thất lạc, bà C đã nhận đất và canh tác, nhưng do khi đó
GCNQSDĐ đứng tên ông Quách Đại V đang thế chấp tại Ngân hàng nên chưa sang
tên cho bà C. Đến năm 2005 bà C sang nhượng lại thửa đất trên cho ông Trần Văn H
và bà Cao Thị Q, khi mua bán có làm giấy viết tay thỏa thuận khi nào ông V lấy được
GCNQSDĐ ra thì bà C sẽ làm thủ tục tách số cho ông H và bà Q. Nhưng đến nay ông
V đã lấy sổ ra nhưng không đưa cho bà C nên chưa tách sổ sang tên cho ông H và bà
Q được.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Quách Xuân H trình bày: Vào năm
1997, ông nhận chuyển nhượng lại thửa đất từ ông Quách Đại V (ông V là em ruột của
ông H) với số tiền là 03 cây vàng, khi nhận chuyển nhượng có một số cây ăn trái đang
cho thu hoạch. Năm 1999 ông chuyển nhượng lại cho bà C. Khi chuyển nhượng
GCNQSDĐ của ông V đang thế chấp tại Ngân hàng nên chưa sang tên được. Hai bên
có làm giấy tay nhưng đã bị thất lạc. Đến năm 2005 bà C sang nhượng lại cho vợ
chồng ông H, bà Q, tại phiên tòa ông Quách Xuân H nhất trí với đơn khởi kiện của ông
H và bà Q.
Ông Quách Đại V và bà Nguyễn Thị H có đơn phản tố trình bày: Vợ chồng ông
V và bà H có một thửa đất đã được cấp GCNQSDĐ có diện tích 13.000m2. Vào năm
1997 vợ chồng ông đi làm ăn xa không thể canh tác nên có cho ông Quách Xuân H
mượn khoảng 8000m2 để cách tác và không có thỏa thuận thời hạn trả đất. Sau đó, ông
Quách Xuân H sang nhượng cho bà C; bà C sang nhượng lại cho ông H bà Q thì ông
không có biết. Đến năm 2015 ông Quách Đại V bà H lấy GCNQSDĐ từ Ngân hàng ra
và ký hợp đồng chuyển nhượng diện tích đất trên cho bà Bùi Thị H thì mới biết ông H
và bà Q đang canh tác trên đất. Do ông H bà Q đang sử dụng phần đất 8000m2 của ông
nên nay ông yêu cầu ông H bà Q trả lại phần đất trên cho ông, không công nhận giao
dịch CNQSDĐ giữa bà C với ông H và bà Q, về hậu quả pháp lý ông đồng ý xử lý
theo quy định của pháp luật.
Qua vụ việc nêu trên có hai ý kiến không thống nhất:
63
Ý kiến thứ nhất cho rằng, Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông H, bà Q,
bị đơn bà C, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Quách Xuân H đều thống
nhất nội dung vào năm 2005, vợ chồng ông H, bà Q có nhận chuyển nhượng của bà
Lâm Thị C diện tích đất tranh chấp có diện tích đo thực tế là 8000m2, với số tiền
30.000.000đồng. Thửa đất chuyển nhượng nằm trong tổng diện tích 13.000m2 thuộc
GCNQSDĐ số 115 do UBND huyện P cấp ngày 02/01/1997 đứng tên ông Quách Đại
V. Nguồn gốc đất này do ông Quách Xuân H nhận chuyển nhượng của ông V vào
khoảng năm 1997, đến năm 1999 ông Quách Xuân H sang nhượng thửa đất này cho bà
C. Do ông Quách Đại V đã thế chấp tại Ngân hàng để vay vốn nên bà C không thể
tách sổ sang tên cho vợ chồng ông H và bà Q được, bà C thỏa thuận khi nào ông
Quách Đại V lấy GCNQSDĐ ra thì bà C sẽ tách sổ sang tên cho vợ chồng ông H. Tuy
nhiên, theo lời trình bày của vợ chồng ông Quách Đại V thì vợ chồng ông V đi làm ăn
xa nên năm 1997, ông V có cho anh trai là Quách Xuân H mượn diện tích đất nêu trên
để canh tác. Khi cho mượn đất không làm giấy tờ gì, cũng không thỏa thuận trả. Sau
khi mượn đất thì ông Quách Xuân H tự ý sang nhượng thửa đất trên cho bà C, và bà C
sang nhượng lại cho vợ chồng ông H, bà Q thì ông V không biết. Như vậy, về nguồn
gốc diện tích đất tranh chấp có diện tích thực tế là 8000m2 nằm trong tổng số diện tích
năm 2006 đo chính quy với tổng diện tích là 12.000m2. Việc ông Quách Đại V và ông
Quách Xuân H thỏa thuận mua bán không có lập biên bản với giá 03 cây vàng vào
năm 1997. Ông Quách Xuân H nhận đất và quản lý, sử dụng cho đến khi chuyển
nhượng lại cho bà C vào năm 1999 với giá 04 cây vàng. Vợ chồng ông Quách Đại V
cho rằng chỉ cho ông Quách Xuân H mượn đất chứ không phải chuyển nhượng vì vợ
chồng ông Quách Đại V đi làm ăn xa không canh tác được và việc ông Quách Xuân H
chuyển nhượng cho bà C, bà C chuyển nhượng lại cho vợ chông ông H bà Q không
biết là không đúng. Vì theo kết quả xác minh tại địa phương thì từ năm 2010 cho đến
nay thì vợ chồng ông Quách Đại V không có đăng ký tạm vắng hay chuyển khẩu đi
khỏi địa phương. Ngoài ra, vợ chồng ông V cũng không cung cấp được chứng cứ gì về
việc đi làm ăn xa từ năm 1997 cho đến năm 2015. Hơn nữa, thời gian bà C canh tác và
sau này vợ chông ông H bà Q cũng canh tác trên phần đất giáp ranh với đất của ông V.
Đến năm 2015 ông V thanh lý các cây trên đất. Như vậy, phần diện tích còn lại trong
thửa đất vẫn do vợ chồng ông Quách Đại V quản lý, sử dụng nên ông V cho rằng
không biết việc ông Quách Xuân H chuyển nhượng đất cho bà C và bà C chuyển
64
nhượng lại đất cho vợ chồng ông H bà Q là không hợp lý. Do đó, có đủ cơ sở xác định
vào năm 1997, vợ chồng ông Quách Đại V có chuyển nhượng cho ông Quách Xuân
H diện tích 8000m2, đến năm 1999, ông Quách Xuân H chuyển nhượng lại cho bà C.
Năm 2005, bà C chuyển nhượng lại cho vợ chồng ông H, bà Q. Nhưng về hình thức
hợp đồng mặc dù tại thời điểm CNQSDĐ giữa ông Quách Đại V với ông Xuân H, ông
Quách Xuân H với bà C, giữa bà C với vợ chồng ông H, bà Q đều không lập thành văn
bản hoặc lập văn bản nhưng không có công chứng, chứng thực theo quy định là vi
phạm quy định tại các Điều 400, Điều 691 BLDS năm 1995; Điều 106 Luật đất đai
năm 2003. Về nội dung mặc dù thời điểm ông Quách Xuân H, bà C, ông H, bà Q nhận
chuyển nhượng thì GCNQSDĐ đứng tên ông V và đang thế chấp tại Ngân hàng là vi
phạm về nội dung. Đến năm 2015 thì ông V mới lấy lấy CNQSDĐ từ Ngân hàng về.
Nhưng sau khi nhận chuyển nhượng đất ông Quách Xuân H đã quản lý, sử dụng từ
năm 1997. Sau đó, chuyển nhượng lại cho bà C năm 1999; năm 2005 bà C chuyển
nhượng lại cho ông H và bà Q. Phía ông Quách Xuân H, bà C, ông H bà Q đều quản
lý, sử dụng ổn định, trồng cây lâu năm mà không có ai tranh chấp. Ông Quách Đại V
có mặt tại địa phương và biết việc này nhưng không có ý kiến phản đối. Nên cần căn
cứ điểm b.3 tiểu mục 2.3 Nghị quyết số 02/2004 ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao (gọi tắt là Nghị quyết 02) để công nhận hợp đồng
CNQSDĐ giữa ông Quách Đại H với bà C; bà C với ông H bà Q.
Ý kiến thứ hai cho rằng, bởi vì, khi nhận CNQSDĐ ông Quách Xuân H không
có bất cứ các giấy tờ hay chứng cứ gì để chứng minh việc mình đã sang nhượng phần
đất trên của ông Quách Đại V. Như vậy, hợp đồng CNQSDĐ giữa ông Quách Xuân H
và vợ chồng ông Quách Đại V là vi phạm trình tự, thủ tục về CNQSDĐ được quy định
tại điểm a.6, tiểu mục 2.3 mục 2 Nghị quyết số 02 và Điều 75 Luật Đất đai năm 1993,
Điều 106 Luật Đất năm 2003, Điều 10, Điều 11 Nghị định số 17 ngày 27/3/1999 của
Chính phủ quy định việc công nhận quyền sử dụng đất và Điều 691, 692 BLDS năm
1995. Do đó, hợp đồng CNQSDĐ giữa ông Quách Xuân H và vợ chồng ông Quách
Đại V, hợp đồng CNQSDĐ giữa ông Quách Xuân H và bà C, hợp đồng CNQSDĐ
giữa bà C với vợ chồng ông H bà Q là vô hiệu.
Ý kiến của nhóm tác giả đồng ý với ý kiến thứ hai, bởi lẽ, phần diện tích
8000m2, ông Trần Văn H, bà Cao Thị Q cho rằng là nhận chuyển nhượng lại của bà
Lâm Thị C là vi phạm về trình tự thủ tục CNQSDĐ. Vì, phần diện tích 8000m2 đất
65
nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 115 do UBND huyện P cấp ngày
02/01/1997, đứng tên ông Quách Đại V. Nhưng ý kiến thứ nhất lại cho rằng cần căn cứ
điểm b.3 tiểu mục 2.3 Nghị quyết số 02 để công nhận hợp đồng CNQSDĐ đất giữa
ông Quách Xuân H với vợ chồng ông V là không đúng.
Bởi vì, điểm b.3 tiểu mục 2.3 Nghị quyết số 02 quy định: “Đối với hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất vi phạm điều kiện được hướng dẫn tại điểm a.4 và
điểm a.6 tiểu mục 2.3 mục 2 này, nếu sau khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng, bên
nhận chuyển nhượng đã trồng cây lâu năm, đã làm nhà kiên cố... và bên chuyển
nhượng không phản đối và cũng không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi
phạm hành chính theo các quy định của Nhà nước về xử lý vi phạm hành chính trong
lĩnh vực đất đai, thì Toà án công nhận hợp đồng. Nếu bên nhận chuyển nhượng chỉ
làm nhà trên một phần đất, thì Toà án công nhận phần hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng phần đất có nhà ở và hủy phần hợp đồng đối với diện tích đất còn lại,
buộc bên nhận chuyển nhượng giao trả phần đất đó cho bên chuyển nhượng, trừ
trường hợp việc giao trả không bảo đảm mục đích sử dụng cho cả hai bên giao kết
hợp đồng, đồng thời buộc các bên thanh toán cho nhau phần chênh lệch”. Như vậy,
đây chỉ là hướng dẫn về trường hợp hợp đồng CNQSDĐ vi phạm 2 điều kiện về giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất và điều kiện hợp đồng được lập thành văn bản nhưng
chưa được công chứng hoặc chứng thực của cơ quan có thẩm quyền. Chỉ áp dụng
trong trường hợp như: “Đất của bà C đứng tên quyền sở hữu mà CNQSDĐ cho vợ
chồng ông Trần Văn H bà Cao Thị Q nhưng hợp đồng không có công chứng, chứng
thực”. Nhưng trong trường hợp này ông Quách Xuân H cho rằng năm 1997 sang
nhượng của ông Quách Đại V nhưng không có giấy tờ để chứng minh cho việc sang
nhượng; còn ông Quách Đại V không thừa nhận sang nhượng mà chỉ cho ông Quách
Xuân H mượn đất. Do vậy, hợp đồng CNQSDĐ giữa ông Quách Xuân H và ông
Quách Đại V đã vi phạm Điều 75 Luật Đất đai năm 1993, Điều 691, 692 BLDS năm
1995 quy định về trình tự, thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất;
Điều 75 Luật đất đai năm 1993 quy định:“Việc chuyển nhượng phải được cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép. Người nhận đất phải sử dụng đúng mục
đích”.
Điều 691, 692 BLDS năm 1995 quy định về hình thức chuyển quyền sử dụng
đất: “Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp quyền sử dụng đất theo quy
định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai được thực hiện thông qua hợp đồng. Hợp
đồng chuyển quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản có chứng thực của Uỷ
66
ban nhân dân cấp có thẩm quyền…. Thủ tục chuyển quyền sử dụng đất. Việc chuyển
quyền sử dụng đất phải được làm thủ tục và đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm
quyền”.
Như vậy, hợp đồng CNQSDĐ giữa ông Quách Đại V và ông Quách Xuân H đã
vi phạm dẫn đến việc ông Quách Xuân H sang nhượng lại cho bà Lâm Thị C (không
có giấy tờ) là vi phạm; bà C sang nhượng lại cho ông Trần Văn H bà Cao Thị Q (chỉ
có giấy viết tay, không có công chứng, chứng thực) lại tiếp tục vi phạm Điều 75 Luật
Đất đại năm 1993, Điều 106 Luật Đất đai năm 2003, Điều 691,692 BLDS năm 1995
và Điều 10,11 Nghị định số 17/NĐ-CP ngày 27/3/1999 của Chính phủ quy định về
CNQSDĐ.
Do vậy, không thể tuyên công nhận hợp đồng CNQSDĐ giữa bà Lâm Thị C với
vợ chồng ông Trần Văn H và bà Cao Thị Q ngày 09/02/2005 (thể hiện bằng giấy sang nhượng đất viết tay) đối với diện tích 8000m2. Bởi vì, phần diện tích đất chuyển
nhượng nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 115 do UBND huyện P cấp
ngày 02/01/1997, đứng tên ông Quách Đại V nên không thể vi phạm điều kiện được
hướng dẫn tại điểm a.4, tiểu mục 2.3 mục 2 của Nghị quyết số 02 để công nhận hợp
đồng.
Điểm a.4, tiểu mục 2.3 mục 2 của Nghị quyết số 02 quy định: “Đất chuyển
nhượng đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo
Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003”.
Nhưng ông Quách Xuân H không có bất cứ các giấy tờ hay chứng cứ gì để
chứng minh việc ông đã sang nhượng phần đất trên của ông Quách Đại V. Và hợp
đồng CNQSDĐ giữa ông Quách Xuân H với bà C và hợp đồng bà C chuyển nhượng
QSDĐ cho vợ chồng ông H bà Q đã vi phạm điều kiện tại điểm a.6, tiểu mục 2.3 mục
2 Nghị quyết số 02.
Điểm a.6, tiểu mục 2.3 mục 2 Nghị quyết số 02 quy định: “Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất được lập thành văn bản có chứng nhận của Công chứng
nhà nước hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền”.
Như vậy, ý kiến thứ nhất cho rằng cần căn cứ điểm b.3 tiểu mục 2.3 Nghị quyết
02 để công nhận hợp đồng CNQSDĐ giữa ông Quách Xuân H và vợ chồng ông Quách
Đại V và từ đó làm căn cứ để công nhận hợp đồng CNQSDĐ giữa ông Quách Xuân H
với bà C và giữa bà C với vợ chồng ông H bà Q là áp dụng không đúng pháp luật. Vi
phạm Điều 75 Luật Đất đai năm 1995, Điều 106 Luật Đất đai năm 2003; Điều 10,
Điều 11 Nghị định số 17/NĐ-CP ngày 27/3/1999 của Chính phủ quy định việc công
67
nhận quyền sử dụng đất và Điều 691, 692 BLDS năm 1995 quy đình về trình tự, thủ
tục CNQSDĐ.
Ngoài ra, từ khi sang nhượng cho đến khi tranh chấp thì ông Quách Xuân H
không có ý kiến gì để cho ông Quách Đại V làm thủ tục tách sổ. Đồng thời, bà Lâm
Thị C, ông Trần Văn H, bà Cao Thị Q đều biết phần diện tích đất chuyển nhượng của
ông Quách Đại V đang đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và
GCNQSDĐ ông Quách Đại V đang thế chấp tại Ngân hàng để đảm bảo cho việc vay
tiền từ ngày 24/08/2004, đến hạn ngày 24/6/2007. Đến ngày 28/9/2012 ông Quách Đại
V tiếp tục thế chấp GCNQSDĐ để đảm bảo cho việc vay tiền tại Ngân hàng nhưng
ông Quách Xuân H, bà C và vợ chông ông H bà Q đều biết đất của ông Quách Đại V
đang cầm cố, thế chấp tại Ngân hàng. Nhưng khi sang nhượng bà Lâm Thị C, ông
Trần Văn H, bà Cao Thị Q cũng không hỏi ý kiến của ông Quách Đại V có đồng ý để
cho ông Quách Xuân H sang nhượng không để ông Quách Đại V có đồng ý làm thủ
tách sổ hay không? nhưng vẫn sang nhượng. Đến ngày 30/9/2013, đến hạn ông V đã
thanh toán hết số tiền vay. Như vậy, hợp đồng CNQSDĐ giữa ông Quách Đại V với
ông Quách Xuân H, giữa ông Quách Xuân H với bà Lâm Thị C, giữa bà Lâm Thị C
với vợ chồng ông Trần Văn H bà Cao Thị Q là vi phạm pháp luật các bên đều có lỗi
nên cần phải tuyên vô hiệu.
Vụ việc thứ 2: A nhận chuyển nhượng của B một phần đất có diện tích 100m2 (loại đất trồng
cây lâu năm, tại đô thị thuộc tỉnh Hậu Giang). Hai bên đã làm thủ tục công chứng theo
quy định nhưng chưa đăng ký sang tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các
bên đã nhận đủ tiền và giao đất. Nay A khởi kiện ra Tòa án và yêu cầu công nhận hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. B cũng thống nhất với yêu cầu của A. Theo
Điều 6 của Quyết định số 01/2018/QĐ-UBND ngày 11/01/2018 của UBND tỉnh Hậu
Giang ban hành quy định diện tích tối thiểu được phép tách thửa đối với đất nông
nghiệp, đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, hạn mức công nhận quyền sử dụng
đất nông nghiệp do tự khai hoang cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thì diện tích tối thiểu được phép tách thửa trong trường hợp này là 200m2. Vấn đề đặt
ra là do diện tích nhận chuyển nhượng nhỏ hơn diện tích tách thửa tối thiểu theo quy
định của UBND tỉnh[2] thì Tòa án có được công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất theo sự thống nhất của các bên đương sự hay không, khi hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất đã đảm bảo các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo
quy định tại Điều 117 của Bộ luật dân sự năm 2015.
68
Hiện nay, vấn đề này vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau nên thực tiễn
áp dụng không thống nhất, cụ thể như sau:
Quan điểm thứ nhất: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị vô hiệu.
Bởi lẽ, khoản 2 Điều 29 của Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ
quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai quy định: “Không được công
chứng, chứng thực, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất và không được làm thủ tục thực hiện các quyền của người
sử dụng đất đối với trường hợp tự chia tách thửa đất đã đăng ký, đã được cấp Giấy
chứng nhận thành hai hoặc nhiều thửa đất mà trong đó có ít nhất một thửa đất có diện
tích nhỏ hơn diện tích tối thiểu theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.”
Điều 123 BLDS năm 2015 quy định về Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm
điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội như sau: “Giao dịch dân sự có mục đích, nội
dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu. Điều cấm của luật là
những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất
định”. Như vậy, đối chiếu các quy định trên, trường hợp diện tích chuyển nhượng nhỏ
hơn so với quy định về diện tích tối thiểu được tách thửa thuộc trường hợp vi phạm
điều cấm của pháp luật được quy định tại Điều 123 BLDS năm 2015. Do đó, hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất sẽ bị vô hiệu theo quy định tại Điều 122 BLDS năm
2015.
Quan điểm thứ hai: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có hiệu lực.
Bởi vì, hợp đồng chuyển nhượng đảm bảo các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo
quy định tại Điều 117 của BLDS năm 2015. Hơn nữa, theo Điều 4 của Quyết định số
01/2018/QĐ-UBND ngày 11/01/2018 của UBND tỉnh Hậu Giang ban hành quy định
diện tích tối thiểu được phép tách thửa đối với đất nông nghiệp, đất sản xuất, kinh
doanh phi nông nghiệp, hạn mức công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp do tự khai
hoang cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thì có quy định các trường
hợp không áp dụng hạn mức tối thiểu được phép tách thửa theo Quy định này. Trong
đó, tại khoản 2 Điều 4 của Quyết định có quy định không áp dụng trong trường
hợp: “Tách thửa khi thực hiện: Quyết định giải quyết tranh chấp về đất đai, kết quả
hòa giải thành về tranh chấp đất đai được cơ quan có thẩm quyền công nhận; việc xử
lý nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp, bảo lãnh; quyết định giải quyết khiếu
nại, tố cáo về đất đai; Bản án hoặc Quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực;
quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án đã được thi hành; văn bản công nhận
kết quả trúng đấu giá quyền sử dụng đất phù hợp theo quy định của pháp luật.”
69
Như vậy, Quyết định của UBND cấp tỉnh quy định về giới hạn tách thửa chỉ
áp dụng trong quá trình hoạt động của UBND các cấp trong tỉnh đó, không ảnh hưởng
đến phán quyết trong các Bản án hoặc Quyết định của TAND. Nói cách khác, Tòa án
vẫn có quyền công nhận sự thỏa thuận hoặc chấp nhận yêu cầu của đương sự nếu việc
chuyển nhượng có diện tích nhỏ so với quy định của UBND. Khi Tòa án đã ban hành
Bản án hoặc Quyết định có hiệu lực thì UBND sẽ căn cứ vào Bản án hoặc Quyết định
đó để làm căn cứ tách thửa và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đương sự.
Nhóm tác giả thống nhất với quan điểm thứ nhất. Bởi lẽ, nếu Tòa án giải quyết
theo quan điểm thứ hai, tức là Tòa án được quyền công nhận hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất có diện tích nhỏ hơn diện tích tối thiểu theo quy định của UBND
cấp tỉnh thì quy định của UBND sẽ không còn có giá trị nữa. Khi đó, nếu người dân
muốn tách thửa với diện tích nhỏ hơn so với quy định thì chỉ cần thỏa thuận chuyển
nhượng quyền sử dụng đất với diện tích nhỏ và khởi kiện ra Tòa án để Tòa án công
nhận hợp đồng chuyển nhượng. Đây sẽ là căn cứ để UBND cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đối với phần đất có diện tích nhỏ hơn quy định.
Nói cách khác, đây sẽ là một cách lách luật để người dân được công nhận quyền
sử dụng đất có diện tích nhỏ. Do đó, để đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của
các bên đương sự cũng như đảm bảo tính thống nhất trong quá trình vận dụng pháp
luật, nhóm tác giả thiết nghĩ cần có văn bản hướng dẫn cụ thể về vấn đề, cụ thể như
sau: đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nếu diện tích chuyển nhượng
nhỏ hơn diện tích tách thửa tối thiểu theo quy định của UBND tỉnh thì thuộc trường
hợp vi phạm điều cấm của pháp luật, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị
vô hiệu theo quy định tại Điều 122 và 123 BLDS năm 2015; Đồng thời, quy định rõ
trường hợp loại trừ theo quy định tại Điều 4 của Quyết định số 01/2018/QĐ-UBND
ngày 11/01/2018 của UBND tỉnh có nghĩa là Tòa án chỉ công nhận trường hợp có diện
tích nhỏ hơn trong các vụ án tranh chấp chia tài sản khi ly hôn hoặc chia thừa kế, chia
tài sản chung của hộ gia đình.
70
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG
QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật
Cơ sở hoàn thiện pháp luật phải xuất từ nhu cầu cần được sửa đổi, bổ sung của
chế định pháp luật đó để phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế và định hướng phát
triển triển kinh tế, xã hội của đất nước. Các cơ sở để đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp
luật về HĐCNQSDĐ bao gồm:
Một là, đường lối chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách phát
triển đất nước: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản
Việt Nam nhấn mạnh “tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách để thị
trường bất động sản vận hành thông suốt, phù hợp quy luật cung cầu nhằm khai thác,
sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả nguồn lực từ đất đai và tài sản, kết cấu hạ tầng trên đất,
ngăn ngừa đầu cơ, lãng phí ”. Quan điểm chỉ đạo của Đảng được cụ thể hóa trong các
quy định [99] pháp luật về thị trường bất động sản nói chung, giao dịch chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ở nói riêng. Trong giai đoạn hiện nay, thị trường quyền sử
dụng đất là một trong những mục tiêu khuyến khích phát triển, bao gồm cả thị trường
sơ cấp và thị trường thứ cấp trong chính sách phát triển kinh tế đất nước của Đảng,
Nhà nước ta.
Hai là, đảm bảo mối quan hệ giữa luật chung với luật chuyên ngành, giữa luật
chuyên ngành với nhau. Theo đó, những vấn đề thuộc lĩnh vực điều chỉnh của luật
chung (BLDS), sẽ do BLDS quy định. Những vấn đề thuộc lĩnh vực điều chỉnh của
luật chuyên ngành, sẽ do pháp luật chuyên ngành quy định. Kết cấu và nội dung các
quy định pháp luật về HĐCNQSDĐ trong các văn bản QPPL hiện hành đang thể hiện
sự chồng chéo, đi ngược lại với kết cấu của các ngành luật khác. Theo đó, hợp đồng về
quyền sử dụng đất – đối tượng điều chỉnh của pháp luật đất đai, kinh doanh bất động
sản lại được quy định trong BLDS năm 2015. Bên cạnh đó, quyền sử dụng đất lại là
đối tượng điều chỉnh của nhiều ngành luật khác nhau, mỗi ngành luật có thể đề cập
đến những quan hệ pháp luật hoặc khía cạnh riêng nhưng về cơ bản vẫn khó tránh khỏi
sự trùng lặp, xung đột.
Ba là, các quy định pháp luật về HĐCNQSDĐ phải xuất phát từ bản chất của
“quyền sử dụng đất ở” trong giao dịch dân sự. Có nghĩa, cần có sự tách biệt giữa
71
“quyền sử dụng đất ở” với tư cách là “tài sản” với “hoạt động khai thác, sử dụng đất”.
Có như vậy, đối tượng hợp đồng mới được định hình cụ thể, quy định pháp luật áp
dụng đối với quyền sử dụng đất mới đảm bảo sự minh bạch, chặt chẽ và trọng tâm.
Trên cơ sở đó, quy định pháp luật liên quan đến chế độ quản lý, sở hữu quyền sử dụng
đất ở, chủ thể, quyền và nghĩa vụ của các bên trong HĐCNQSDĐ sẽ được xây dựng
phù hợp và hiệu quả hơn.
Bốn là, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn. Thông qua phân tích một số vụ án liên
quan đến HĐCNQSDĐ, xác định những tranh chấp điển hình thường gặp, những
vướng mắc trong thực tiễn xét xử và áp dụng quy định pháp luật vào việc giải quyết vụ
án, đã đặt ra các yêu cầu cần phải hoàn thiện pháp luật . Thực tiễn xét xử, vụ án kéo
dài không chỉ về thời gian, mà còn về tố tụng, phức tạp về nội dung, tình tiết, diễn
biến, ... Quy định pháp luật chỉ là hành lang pháp lý được áp dụng chung cho các tình
huống có tính chất tương tự nhau, còn mỗi vụ án gắn với quyền, lợi ích, nghĩa vụ của
mỗi cá nhân cụ thể. Do vậy, đòi hỏi hội đồng xét xử phải nhận diện được bản chất của
từng vấn đề, từng quan hệ pháp luật, chứng cứ chứng minh, ... kết hợp giữa quy định
pháp luật, thực tiễn trong quá trình giải quyết vụ án để đưa ra các phán quyết hợp lý,
hợp tình. Đối với một số vụ án tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất, phán quyết
của tòa án các cấp chưa giải quyết dứt điểm vì nhiều nguyên nhân (cả chủ quan và
khách quan), ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các bên đương sự. Điều này
cho thấy quy định pháp luật liên quan đến quan đến căn cứ xác lập quyền sử dụng đất
129 vẫn đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện, đảm bảo sức sống, sự ứng dụng và minh bạch
hơn để đảm bảo hiệu quả thực thi và áp dụng trong thực tiễn.
Năm là, xuất phát từ nhu cầu hội nhập, thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt
Nam. Trong bối cảnh kinh tế hội nhập, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức
của nhiều Tổ chức thương mại quốc tế, Hiệp định thương mại song phương và đa
phương như WTO, TPP, ASEAN, ... Xu hướng toàn cầu hoá về thương mại đang dần
dần xoá bỏ rào cản về biên giới, lãnh thổ. Do vậy, chính sách đất đai và thị trường
quyền sử dụng đất cũng cần được điều chỉnh theo hướng vừa đảm bảo giá trị tài
nguyên thiên nhiên của đất nước, vừa tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư,
trong đó có việc đảm bảo một nơi sinh sống ổn định khi các nhà đầu tư muốn hợp tác,
gắn bó lâu dài với Việt Nam. Chính sách quản lý và sử dụng đất ở vì thế cũng cần
được điều chỉnh linh hoạt phù hợp với phát triển kinh tế đất nước.
72
Xuất phát từ các cơ sở trên, đặt ra yêu cầu cần phải hoàn thiện hệ thống pháp
luật theo định hướng như sau:
- Cần phải rà soát toàn bộ các văn bản là cơ sở để thực hiện thủ tục nhận chuyển
nhượng quyền sử dụng đất để từ đó có hướng dẫn thống nhất trong cả nước, trường
hợp thiếu quy định cần phải bổ sung cho rõ ràng, tránh việc suy diễn, hiểu sai dẫn đến
áp dụng khác nhau ở mỗi địa phương.
- Cần tổ chức đầu mối liên thông các thủ tục để đảm bảo thực hiện thông suốt,
liên tục. Có thể quy định một cơ quan đầu mối tiếp nhận và luân chuyển hồ sơ giữa các
cơ quan nhà nước với nhau tạo điều kiện cho nhà đầu tư dễ liên hệ và phản ánh. Cần
nghiên cứu rút ngắn và lồng ghép các thủ tục cho nhà đầu tư. Hiện nay quy trình thủ
tục rất phức tạp, gồm nhiều bước, mỗi bước lại bao gồm nhiều hoạt động. Do đó, cần
phải nghiên cứu giảm bớt các bước thực hiện, tiết kiệm thời gian, nguồn lực cho nhà
đầu tư.
- Các quy định về thành phần hồ sơ cần nộp phải đảm bảo tính thống nhất, tránh
chồng chéo giữa các văn bản pháp luật. Do đó, cần phải sửa đổi các quy định pháp lý
hiện hành đảm bảo không làm phát sinh thêm các giấy tờ không cần thiết trong quá
trình chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất
Thứ nhất, Luật Đất đai năm 2013 phải đưa ra quy định không cho phép bên thuê
lại QSDĐ có quyền định đoạt QSDĐ khi bên cho thuê lại chưa nộp tiền thuê đất cho
Nhà nước, như đã phân tích ở trên, đây lại là quy định không hợp lý vì không thể bắt
bên thuê lại chịu trách nhiệm cho nghĩa vụ của người khác. Vì vậy, ý nghĩa của việc
đặt ra quy định này không còn. Để khắc phục các hạn chế nêu trên, theo chúng tôi, cần
chỉnh sửa Điều 149 Luật Đất đai năm 2013 theo hướng loại bỏ các quy định về việc
cho phép bên thuê lại QSDĐ có quyền định đoạt QSDĐ khi đã trả tiền thuê một lần
cho bên cho thuê lại. Thay vào đó, cho phép bên cho thuê lại nói chung và chủ đầu tư
xây dựng kết cấu hạ tầng trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu
công nghệ cao nói riêng SDĐ theo hình thức thuê đất của Nhà nước trả tiền thuê đất
hàng năm có quyền chuyển nhượng QSDĐ và các giao dịch khác như một chủ thể
SDĐ. Trong trường hợp cần khuyến khích người SDĐ theo hình thức thuê đất trả tiền
thuê một lần cho cả thời gian thuê, có thể sử dụng các biện pháp tài chính, thuế…
73
Thứ hai, bổ sung quy định khái niệm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất. Như đã phân tích ở trên, nhóm tác giả cho rằng cần nghiên cứu khôi phục lại quy
định đối với từng loại hợp đồng về quyền sử dụng đất, trong đó có “Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất”. Đồng thời, để phù hợp với các quy định pháp luật về các
loại hợp đồng chuyên ngành, hợp đồng về chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên được
quy định trong luật đất đai.
Thứ ba, Luật đất đai cần xác định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các bên trong
tranh chấp đất đai là gì để tránh làm cản trở quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Việc quy định cụ thể này sẽ giúp giải quyết tình trạng khó khăn trong việc xác định
như thế nào là đất không có tranh chấp và không ảnh hưởng rất lớn đến quyền chuyển
nhượng quyền sử dụng đất của người có quyền sử dụng đất.
Thứ tư, cần hoàn thiện các quy định về hình thức, thủ tục xác lập hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Qua thực tiễn cho thấy, nhiều người dân đã gặp
không ít rắc rối khi đến cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục chuyển quyền sử
dụng đất vì mỗi nơi hiểu và áp dụng một cách khác nhau. Thông thường, sau khi Bên
chuyển nhượng và Bên nhận chuyển nhượng thực hiện hoàn tất thủ tục công chứng,
hoăc chứng thực Hợp đồng thì tiếp tục thực hiện việc đăng ký trước bạ, sang tên quyền
sử dụng đất đứng tên Bên nhận chuyển quyền tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng
đất. Vậy thời điểm có hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là khi
nào là câu hỏi không ít người thắc mắc trong quá trình thực thi pháp luật.Luật đất đai
nên quy định “việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền
của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được thực hiện theo nhu cầu
của các bên” là thuyết phục hơn vì đã khắc phục được các hạn chế trên, đồng thời
giảm chi phí (vì phí công chứng không nhỏ) cũng như rườm rà cho người dân (vì còn
phải tiến hành đăng ký nữa). Chúng ta không thể phủ nhận của việc công chứng bắt
buộc hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là cần thiết. Về mặt quy định của
pháp luật thì các giao dịch về bất động sản được công chứng sẽ đảm bảo về hình thức
theo quy định tạo điều kiện để các giao dịch đó tiếp tục được các cơ quan có thẩm
quyền thực hiện các bước tiếp theo. Việc công chứng các giao dịch về bất động sản
mang lại lợi ích cho các bên không chỉ về pháp lý mà còn về kinh tế, thương mại, hạn
chế được những ảnh hưởng, thậm chí là phá sản do những hợp đồng, giao dịch dân sự,
thương mại tiềm ẩn những rủi ro do không được công chứng. Hợp đồng, giao dịch
74
được công chứng có giá trị chứng cứ, những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao
dịch được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là
vô hiệu. Các hoạt động giao dịch được kiểm soát, hạn chế thất thu về thuế cho Nhà
nước, các tranh chấp, khiếu kiện ít xảy ra hơn, giảm gánh nặng cho Tòa án và giúp thị
trường bất động sản ổn định hơn rất nhiều. Thực ra, không có giải pháp nào mang lại
ưu điểm tuyệt đối, nhưng việc quy định công chứng, chứng thực bắt buộc như hiện nay
có nhiều nhược điểm hơn việc chuyển sang công chứng, chứng thực tự nguyện. Khi
người tham gia giao dịch có sự nghi ngờ đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất mà họ muốn xác lập, họ vẫn có thể yêu cầu sự trợ giúp của công chứng viên
bằng cách yêu cầu công chứng giao dịch của họ. Bởi lẽ, Luật Công chứng đã quy định
rõ “công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của
hợp đồng, giao dịch khác bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công
chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”. Hơn nữa, nếu có sự gian
lận trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì hiện nay chúng ta đã có cơ
chế để bảo vệ người ngay tình vì pháp luật dân sự đã có chế tài cho người gian lận
thông qua quy định về giao dịch vô hiệu do nhầm lẫn, do lừa dối hay do giả tạo.
Thứ năm, Luật đất đai nên quy định cụ thể điều kiện đối với từng phương thức
trong chuyển quyền sử dụng đất. Việc tách riêng các điều kiện đối với từng phương
thức chuyển quyền sử dụng đất khỏi các quy định về quyền và nghĩa vụ chung sẽ đảm
bảo người sử dụng đất có thể dễ dàng nắm được quy định mà tuân thủ thực hiện.
Ngoài ra, trong các điều kiện để quyền sử dụng đất có thể được chuyển nhượng tại
Luật đất đai thì điều kiện phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một trong
những điều kiện gây ra những khó khăn cho sự phát triển của thị trường quyền sử dụng
đất. Kể cả khi tất cả các thửa đất ở Việt Nam đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất thì điều kiện này vẫn gây ra những khó khăn nhất định. Đó là các trường hợp
chuyển nhượng một phần thửa đất, hoặc đang trong quá trình chờ lấy giấy chứng nhận
nhưng lại có nhu cầu chuyển nhượng ngay, các bên không thể công chứng để thực hiện
các giao dịch. Do đó, về điều kiện chuyển nhượng trong Luật đất đai cần tính đến cả
những tiến bộ trong tương lai của ngành địa chính đó là việc số hóa việc quản lý các
thông tin địa chính trong đó có cả việc đăng ký quyền sử dụng đất. Khi đó thì người sử
dụng đất cũng không cần phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cơ quan đăng
ký chỉ cần đối chiếu thông tin trong hợp đồng và đăng ký trên hệ thống điện tử. Do đó
75
nhóm tác giả mạnh dạn đề nghị Luật đất đai sửa đổi điều kiện chuyển nhượng này
thành “có quyền sử dụng đất hợp pháp”.
Thứ sáu, tại Việt Nam, không cho phép giao dịch đối với đất, mà chỉ được giao
dịch với quyền sử dụng đất. Do vậy, quyền sử dụng đất có ý nghĩa lớn đối với chủ thể
sử dụng đất và sự phát triển của thị trường bất động sản. Vì vậy, theo chúng tôi, cần
sửa đổi Điều 169 Luật Đất đai theo hướng mở rộng quyền xác lập QSDĐ của các chủ
thể và chỉ nên hạn chế quyền xác lập QSDĐ của các đối tượng này vì lý do an ninh,
quốc phòng hoặc đảm bảo an toàn lương thực..Cụ thể: cần bổ sung trường hợp tổ chức
kinh tế SDĐ nhận thừa kế vào các trường hợp có quyền giao dịch QSDĐ; cho phép
người Việt Nam định cư ở nước ngoài và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có
quyền sử dụng tất cả các phương thức để xác lập QSDĐ.
3.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Thứ nhất, đối với Nhà nước, phải xây dựng và quản lý hệ thống thông tin cá
nhân đầy đủ toàn diện, trên cơ sở đó giữa ngành thuế và ngành tài nguyên - môi trường
kết nối mạng thông tin thống nhất trên phạm vi toàn quốc để quản lý được việc sở hữu
bất động sản chi tiết của từng cá nhân. Từ đó, chống được sự man khai là tài sản duy
nhất trong chuyển nhượng bất động sản để được miễn thuế. Nhà nước ta cần đổi mới
và tăng cường hiệu lực của hoạt động quản lý nhà nước về đất đai. Trong điều kiện
khoa học kỹ thuật phát triển như hiện nay, việc ghi nhận thông tin về đất đai cần được
công nghệ hóa và có sự kết nối thông suốt về dữ liệu thông tin địa chính trên toàn
quốc. Việc thực hiện nghiêm túc pháp luật và xử lý nghiêm minh những hành vi vi
phạm pháp luật đất đai, nhất là với các giao dịch bất hợp pháp, là biện pháp thiết thực
nhất để ngăn chặn hành vi đầu cơ đất đai. Các thông tin về đất đai và thị trường bất
động sản cần phải tiếp cận nhanh chóng và minh bạch. Các hộ gia đình, cá nhân có thể
tiếp cận một cách dễ dàng hơn, đặc biệt là thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất đến từng thửa đất kịp thời. Để làm được điều này, chúng ta cần phải nâng cao khả
năng lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Bên cạnh đó, thông tin về tình trạng pháp
lý của từng thửa đất cần phải được tìm hiểu dễ dàng hơn. Đây là điều kiện để tạo sự an
tâm, mạnh dạn đầu tư cho các doanh nghiệp, các hộ gia đình, cá nhân góp phần làm
nâng cao chất lượng, phong phú hàng hóa cho thị trường bất động sản, Chính sách tài
chính về đất đai cần đảm bảo các vấn đề xã hội, chống lãng phí đất đai thì còn phải có
76
tác dụng hạn chế đầu cơ đất đai. Trong đó, thuế là công cụ hữu hiệu nhất để hạn chế
những người đầu cơ. Chẳng hạn, đối với đất ở mà người sử dụng đất tích tụ vượt quá
nhu cầu bình thường thì phải chịu một mức thuế chống đầu cơ cao hơn mức bình
thường, theo cách tính lũy tiến. Cách làm này đã được thực hiện ở một số nước phát
triển trên thế giới, mà Hàn Quốc, Nhật Bản là những ví dụ điển hình. Để giảm nạn đầu
cơ đất đai, Chính phủ các nước này đã quy định thuế lũy tiến đánh vào giá trị của đất
đai, tùy thuộc vào thời gian nắm giữ đất đai đã tích tụ. Việc làm này được thực hiện
với sự hỗ trợ của khoa học kỹ thuật, và thu thuế đối với bất động sản. Đây là việc
không dễ dàng đối với điều kiện của Việt Nam, nhưng không phải không thực hiện
được nếu chúng ta có thiện chí và quyết tâm thực sự.
Thứ hai: Nâng cao trình độ chuyên môn, trách nhiệm công vụ của một số bộ
phận cán bộ trong lĩnh vực đất đai. Nhiều cán bộ chưa nắm vững được các quy định
của pháp luật, thiếu kiến thức về quản lý kinh tế, xã hội, lại còn chủ quan không thực
hiện đầy đủ quy trình nghiệp vụ nên chưa hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Nguồn
nhân lực phục vụ thực hiện các thủ tục hành chính phải được đào tạo, có trình độ
chuyên môn sâu, am hiểu về bất động sản. Nhân viên phải sử dụng thành thạo các
công cụ, phương tiện quản lý, có năng lực tốt, có thể kiểm tra, xác minh được tính
chính xác của các thông tin về bất động sản tham gia giao dịch.
Thứ ba, tích cực tuyên truyền, phổ biến pháp luật đất đai về thủ tục hành chính
trong lĩnh vực chuyển quyền sử dụng đất đối với các chủ thể trong xã hội. Để những
chính sách pháp luật đất đai có thể đi vào trong thực tiễn đời sống của quảng đại quần
chúng nhân dân thì công tác tuyên truyền giáo dục, phổ biến pháp luật đất đai luôn
đóng vai trò quan trọng. Chính từ việc thông qua công tác tuyên truyền, giáo dục nâng
cao nhận thức pháp luật đất đai của người dân thì ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật
đất đai của cộng đồng từng bước có nhiều thay đổi và dần đi vào nề nếp. Chúng tôi
mạnh dạn đề xuất giải pháp Nhà nước ta cần phải tiến hành để việc phổ biến pháp luật
đất đai về thủ tục hành chính trong lĩnh vực chuyển quyền sử dụng đất của hộ gia đình
cá nhân ngày càng có hiệu quả hơn: Một là: Cần bổ sung cụ thể các quy định về việc
tổ chức, hoạt động của Trung tâm tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đất đai
thuộc Tổng cục Đất đai (Bộ Tài nguyên và Môi trường) có chức năng và lượng nhân
lực có trình độ có thể tham mưu, giúp Bộ Tài nguyên và Môi trường trong việc xây
dựng và thực hiện thường xuyên. Hoạt động của Trung tâm này nghiệp vụ chuyên môn
77
có thể phối hợp, hỗ trợ với Vụ tuyên truyền pháp luật của Bộ Tư pháp hoạt động để có
quy mô và chất lượng phục vụ nhân dân tốt hơn. Hai là: Trong quá trình triển khai, sau
mỗi đợt tuyên truyền, Trung tâm tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đất đai cần
tổng kết, đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật. Thông qua đó, các cơ quan hành chính
Nhà nước có thể phát hiện ra những bất cập để sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện thủ tục
hành chính trong lĩnh vực chuyển quyền sử dụng đất. Đứng trước những thay đổi của
tốc độ đô thị hóa và lượng dân số ngày càng tăng ở các trung tâm kinh tế, thương
mại... đã kéo theo nhu cầu sử dụng nhà và đất ngày càng tăng. Đây là vấn đề xuất phát
từ đòi hỏi của thực tiễn khách quan.
78
KẾT LUẬN
Trên cơ sở tiếp thu giá trị, đồng thời phân tích những nội dung mà các công
trình khoa học đã công bố chưa đề cập hoặc chưa làm rõ, đề tài đã xây dựng định
hướng nghiên cứu tổng quan, toàn diện về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất. Những vấn đề lý luận về đất đai và quyền sử dụng đất được phân tích, đánh giá
làm tiền đề để xây dựng các quy định pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất. Những vấn đề về việc xác lập, thực hiện hợp đồng nói chung được xem xét,
nhận định trên cơ sở đặc thù của quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, giúp cho
đề tài vừa thể hiện được những vấn đề về hợp đồng nói chung, nhưng vẫn làm nổi bật
những nét riêng có của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Từ những kết quả
nghiên cứu được trình bày trong các Chương nhóm tác giả nhận thấy: 1) Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất là hợp đồng dân sự nhưng nằm trong sự điều chỉnh
của nhiều ngành luật và chịu sự tác động, chi phối của nhiều chủ thể, trong đó nổi bật
nhất là sự can thiệp của Nhà nước. Sự tác động của Nhà nước vừa với tư cách đại diện
chủ sở hữu về đất đai, vừa với tư cách là cơ quan quản lý hành chính, thể hiện rõ nét
trong các quy định pháp luật về đất đai, quyền sử dụng đất, quyền, nghĩa vụ của người
sử dụng đất, quyền chuyển nhượng, ... Thông qua quy định pháp luật, Nhà nước thể
hiện ý chí của mình trong việc điều chỉnh, tác động đến thoả thuận của các bên trong
hợp đồng. 2) Đất ở và quyền sử dụng đất ở là các khái niệm có tính lịch sử, pháp lý.
Quy định pháp luật về đất và quyền sử dụng đất chi phối quyền, nghĩa vụ của người sử
dụng đất và thoả thuận của các bên trong hợp đồng. Xuất phát từ nhu cầu, mục đích sử
dụng của đất, pháp luật cần có quy định cụ thể về chế độ sở hữu, quyền sở hữu đối với
chủ sở hữu và quyền sở hữu đối với đất. 3) Quyền sử dụng đất trong giao dịch dân sự
phân biệt với hoạt động khai thác, sử dụng đất ở. Mục đích sử dụng đất phân biệt với
mục đích xác lập, thực hiện hợp đồng. Cơ chế kiểm soát và giải quyết tranh chấp đối
với giao dịch về quyền sử dụng đất và hoạt động sử dụng sử dụng đất ở độc lập với
nhau. Đây là những vấn đề cần làm sáng tỏ về mặt lý luận để làm tiền đề cho việc xây
dựng và thực thi pháp luật. Quy định pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất ở mang những đặc trưng riêng so với pháp luật của các quốc gia khác vì bị
chi phối bởi chế độ sở hữu và quản lý đất đai của Nhà nước ta. 4) Hệ thống pháp luật
hiện hành về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã chạm đến hầu hết các
vấn đề cần điều chỉnh, nhưng được phân bổ thiếu tập trung, chỗ thừa, chỗ thiếu nên
79
chưa đáp ứng được nhu cầu tiếp cận pháp luật của người dân. Để xác lập, thực hiện
hợp đồng, tránh rủi ro pháp lý, các bên cần phải đọc và tìm hiểu ở nhiều văn bản luật
khác nhau, điều này sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của việc thực thi pháp luật. Do vậy,
phù hợp với mục tiêu của Đảng, Nhà nước ta là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa, hệ thống pháp luật nói chung, từng lĩnh vực, từng chế định pháp luật nói
riêng cần được xây dựng đồng bộ, khoa học, để phục vụ và đảm bảo tiêu chí “dân biết,
dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. 5) Nghiên cứu, phân tích quy định pháp luật hiện
hành về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có ý nghĩa đối với các giao dịch
được xác lập kể từ thời điểm quy định pháp luật đó có hiệu lực. Tuy nhiên, trong hoạt
động giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất, đòi hỏi thẩm phán, những người
tham gia tố tụng khác phải am hiểu toàn bộ các quy định pháp luật có liên quan qua
các thời kỳ lịch sử. Những vấn đề phức tạp, khó giải quyết dứt điểm hầu hết xuất phát
từ những hợp đồng được xác lập từ những năm 2003 trở về trước. Do biến động của
lịch sử, chiến tranh, chính sách quản lý đất đai của Nhà nước, sự khó khăn trong việc
thu thập, xác minh chứng cứ. ... nên việc xác định tính hợp pháp của giao dịch hoặc ai
là người có quyền sử dụng đất gặp nhiều khó khăn. Cho đến thời điểm này, quy định
pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở được đánh giá là tương đối
đầy đủ, khắc phục cơ bản những hạn chế của những văn bản quy pháp luật trước kia
nhưng cũng không thể lấp đầy những lỗ hổng pháp lý do “lịch sử để lại”. Để xây dựng
hệ thống pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở đồng bộ, hạn chế
tranh chấp, cần có sự nghiên cứu, đánh giá tổng quát từ lý luận, thực trạng pháp luật
đến hoạt động áp dụng và thực thi pháp luật. Phạm vi đề xuất các giải pháp hoàn thiện
pháp luật của đề tài tập trung khắc phục những tồn tại, bất cập về pháp luật trong các
nội dung nghiên cứu mà không nêu các giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hoặc
giải pháp có tính kỹ thuật, tổ chức, ... khác. Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất có vai trò bình ổn các giao dịch dân sự, thúc đẩy sự phát
triển của thị trường quyền sử dụng đất và bất động sản.
80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. Văn kiện Đại hội Đảng, văn bản luật
1. Bộ luật Dân sự năm 1995
2. Bộ luật Dân sự năm 2005
3. Bộ luật Dân sự năm 2015
4. Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011)
5. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
6. Công ước Montevideo về quyền và nhiệm vụ của các quốc gia năm 1933
7. Hiến pháp năm 2013
8. Luật Cải cách ruộng đất năm 1953
9. Luật Đất đai năm 1987
10. Luật Đất đai năm 1993 (sửa đổi, bổ sung năm 1998, 2001)
11. Luật Đất đai năm 2003 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
12. Luật Đất đai năm 2013
13. Luật Đất đai Liên bang Nga năm 2001
14. Luật Đầu tư năm 2014
15. Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014
16. Luật Nhà ở năm 2014
17. Luật Thi hành án dân sự năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2014)
18. Luật Thương mại năm 2005
19. Luật Xây dựng năm 2014
20. Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/ 10/ 2004 về thi hành Luật Đất đai
năm 2003
21. Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/ 11/ 2013 về quản lý hoạt động kinh
doanh vàng
22. Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một
số điều của Luật Đất đai năm 2013
23. Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/ 7/2015 quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự
24. Pháp lệnh ngoại hối năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2013)
25. Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và
81
Môi trường quy định về GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất
II. Sách tham khảo, công trình NCKH liên quan đến đề tài
26. Nguyễn Mạnh Bách (1974), Dân luật Việt Nam: Nghĩa vụ, Nxb. Trường
Thọ, Sài Gòn
27. Nguyễn Mạnh Bách (năm 1997), uật Dân sự Việt Nam lược giải: Các hợp
đồng dân sự thông dụng, NXB Chính trị Quốc gia
28. Nguyễn Mạnh Bách. (1995), Pháp luật về hợp đồng, Nxb. CTQG, H. 1995
29. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012), Báo cáo số 193/BC-BTN T về việc
“Tổng kết tình hình thi hành Luật Đất đai 2003 và định hướng sửa đổi luật Đất đai”
ngày 6/9/2012
30. Bộ Tư pháp (1996), Những nội dung cơ bản của BLDS nước CHXHCN
Việt Nam, Tài liệu nghiên cứu
31. Bộ Tư pháp (2015), Những nội dung cơ bản của Phần thứ ba “Nghĩa vụ và
hợp đồng” – Dự thảo BLDS (sửa đổi) (Nguồn: Hội thảo “Góp ý về chế định hợp đồng
trong Dự thảo BLDS (sửa đổi)” tổ chức ngày 18/3/2015 tại Khách sạn Fortuna Hà Nội
do USAID, Bộ Tư Pháp và VIAC tổ chức)
32. Chính phủ (2014), Tờ trình số 287/TTr-CP ngày 15/8/2014 vờ trình số
287/TTr-CP ngày 15/8/20
33. Nguyễn Hồng Anh (2006), một số vấn đề pháp lý về chuyển nhượng tài sản
gắn liền với đất, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp điện tử - 16/01/2006
34. Vũ Thị Lan Anh (năm 2011), Tìm hiểu hệ thống pháp luật Cộnng hòa liên
bang Đức, Tạp chí Luật học – đặc san 9/2011
35. Ngô Huy Cương (2009), Những bất cập về khái niệm tài sản, phân loại tài
sản của BLDS 2005 và định hướng cải cách, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 9/2009
36. Nguyễn Văn Cường, Nguyễn Minh Hằng (2011), Giao dịch về quyền sử
dụng đất vô hiệu – Pháp luật dân sự và thực tiễn xét xử, NXB Thông tin và truyền
thông
37. Nguyễn Thị Dung, Bảo đảm tính minh bạch của thị trường bất động sản
pháp luật một số nước trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí Luật học số
8/ 2010
38. Đỗ Văn Đại (2006), Thực hiện hợp đ ng bị tuyên bố vô hiệu, Tạp chí Khoa
82
học pháp lý số 5/2006
39. Đỗ Văn Đại (2010), Các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp
đồng trong pháp luật Việt Nam”, NXB Chính trị quốc gia
40. Đỗ Văn Đại (2010), Luật hợp đồng Việt Nam: bản án và bình luận bản án,
NXB Chính trị quốc gia.
41. Đỗ Văn Đại (2013), Hình thức bắt buộc của hợp đồng trong pháp luật dân
sự Việt Nam, Tạp chí Luật học số 2/ 2013
42. Đỗ Văn Đại (2015), Điều chỉnh hợp đ ng khi hoàn cảnh thay đổi, tham luận
tại Hội thảo chế định hợp đồng trong Dự thảo BLDS (sđ), ngày 18/3/2015
43. Nguyễn Ngọc Điện (2012), Đăng ký bất động sản ở Việt Nam – Những vấn
đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 6/2012
44. Nguyễn Ngọc Điện (2001), Bình luận các hợp đ ng thông dụng trong luật
dân sự Việt Nam, NXB Trẻ - TP. Hồ Chí Minh.
45. Phạm Hoàng Giang (2007), Ảnh hưởng của điều kiện hình thức hợp đồng
đến hiệu lực hợp đồng, Tạp chí Nhà nước và pháp luật. Viện Nhà nước, số 03/2007
46. Nguyễn Ngọc Khánh (2003), Giao kết hợp đồng – một số vấn đề lý luận và
thực tiễn, trong quyển “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật hợp đồng ở
Việt Nam” (Nguyễn Như Phát và Lê Thu Thủy – Chủ biên), NXB CAND, Hà Nội.
47. Lê Hồng Hạnh (2015), Sử dụng khái niệm quyền tài sản thay cho vật quyền
trong dự thảo B luật dân sự (sửa đổi), Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 4/2015
48. Nguyễn Minh Hằng (chủ biên) (2012), Pháp luật đất đai trong hoạt động
nghề luật sư, NXB Thông tin và truyền thông
49. Lê Minh Hùng (2010), Đề tài tiến sĩ “Hiệu lực của hợp đồng theo quy định
của pháp luật Việt Nam”, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
50. Trần Quang Huy (2009), Pháp luật đất đai hiện hành – Nhìn từ góc độ bảo
đảm quyền của người sử dụng đất”, Tạp chí Luật học số 8/2009
51. Nguyễn Thị Hồng Nhung (2012), Đề tài tiến sĩ Luật học “Pháp luật về
chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong kinh doanh bất động sản ở Việt Nam”, Đại
học Luật Hà Nội
52. Đào Thị Thiết (2016), Thực hiện pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất tại tỉnh Sơn La – Thực trạng và giải pháp, Tạp chí Dân chủ và Pháp
luật điện tử (30/9/2016)
83
53. Toà án nhân dân tối cao (2010, 2011, 2012, 2013, 2014, 2015), Báo cáo
tổng kết ngành Toà án
54. Toà án nhân dân TP. Hà Nội (2010, 2011, 2012, 2013, 2014, 2015), Báo cáo
tổng kết của Toà án hai cấp TP. Hà Nội
55. Toà án nhân dân TP. Hồ Chí Minh (2010, 2011, 2012, 2013, 2014, 2015),
Báo cáo tổng kết của Toà án hai cấp TP. H Chí Minh
56. Tổng Cục thi hành án dân sự (2015, 2016) Báo cáo số 4043/BTP-
TCTHADS ngày 3/11/2015, Báo cáo số 4489/BTP-TCTHADS ngày 16/12/2016 về
việc rà soát, thống kê, lập danh sách bản án, quyết định của Tòa án tuyên không rõ, có
sai sót và khó thi hành
57. Nguyễn Thùy Trang (2016), Căn cứ xác lập quyền sử dụng đất ở và một số
vướng mắc trong các quy định pháp luật hiện hành, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số
6/2016
58. Nguyễn Thùy Trang (2016), Hoàn thiện một số khái niệm liên quan đến hợp
đồng chuyển quyền sử dụng đất ở”, đăng trên Tạp chí Dân chủ pháp luật điện tử ngày
31/3/2016
59. Nguyễn Thùy Trang (2016), Quyền sử dụng đất – một số quan điểm tiếp
cận và đề xuất hướng giải quyết trong khoa học pháp lý của Việt Nam, Tạp chí Khoa
học pháp lý số 4/2016
60. Nguyễn Thùy Trang (2016), Hợp đồng về quyền sử dụng đất trong Bộ luật
Dân sự năm 2015, Tạp chí Luật học số 7/2016
61. Nguyễn Quang Tuyến (2007), Hệ thống pháp luật đất đai trong 20 năm đổi
mới (1986 – 2006), Tạp chí Luật học số 1/2007
95. Nguyễn Như Ý (chủ biên) (2011), Đại từ điển Tiếng Việt (tái bản lần thứ
12), NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
III. Các trang thông tin điện tử
96. Dictionary.reference.com
97. http://baodientu.chinhphu.vn
98. http://canhosieunho.batdongsan.com.vn/
99. http://hn.24h.com.vn. /Đ /p://hn.24h.com.vnbatdongsan.com.vn/
100. https://opic.com.vn/vi/blog/tranh-chap-ve-hop-dong-chuyen-nhuong-cho-
thue-cho-thue-lai-quyen-su-dung-dat-va-cac-giai-phap-khac-phuc
101. http://www.baodongnai.com.vn/phapluat/201910/van-con-nhieu-vu-an-
dan-su-tranh-chap-dat-2971235/index.htm

