ĐỔI MỚI NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TRIẾT HỌC
VŨ TRỌNG DUNG(*)
Hiện nay, qtrình đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại h
cũng nsự phát triển mạnh m của khoa học, ng nghệ…ớc ta
đang đặt ra những yêu cu mới rất cao đối với nhiệm vphát triển go
dc và đào tạoi chung; đào to, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản
i riêng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần th X của Đảng đã khng định
rng, cng ta phải "Đổi mới côngc giáo dục luận chính trị, tư
ởng trong Đảng, trước hết cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo và qun lý
chchốt các cấp; đổi mới nội dung, phương pháp học tập và giảng dạy
trong h thống trường chính tr, nâng cao tính thiết thực và hiu quả của
chương trình"(1).
Vì vậy, việc tiếp tục đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy triết
học ở Học viện Chính trị khu vực I, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học là
nhiệm vụ thường xuyên. Tuy nhiên, theo cngi, đổi mới nội dung
và phương pháp giảng dạy triết học phải tuân thủ c nguyên tắc sau
đây:
Mt là, phi tính đến đặc thù của môn triết học.
Đặc thù ca khoa học triết học là ở chỗ, trong sự phản ánh hiện thực,
tri thức triết học có nh ki quát hoá, trừu tượng hoá cao và được biểu
đạt bằng hệ thống các ki niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật. Hơn
na, triết học là môn khoa học lý thuyết, chứ không phải môn khoa học
ng dụng. Chính vì vậy, môn học này thiên về nhng kiến thức hàn
lâm và hu như không có những mô hình thc nghiệm, ứng dụng, trực
quan, nên không th sơ đa i giảng mt cách máy móc. Môn triết
hc chức ng cơ bản là trang b thế giới quan và phương pháp luận
cho người học. Vì thế, việc giảng dạy triết học Mác - Lênin phải đạt
được mục đích là giúp người học xác lập cho mình thế giới quan và
phương pháp luận khoa học cả trong nhận thức lẫn hoạt động thực tiễn.
Vi một chuyên đề, một bài ging của môn triết học Mác - Lênin mà
giảng viên ch giảng trong phạm vi một nửa thời gian, nửa thời gian
n li dành cho hc viên t đọc, nghiên cu tài liu n mt số môn
hc khác, theo chúngi, là kng phù hợp. Cách làm y không
nhng không gp nâng cao mà ngược lại, còn làm giảm sút chất
ợng, hiệu quả go dục và đào tạo.
Hai , phi tính đến đặc thù của đốiợng giảng dạy.
Đối ợng giảng dạy những học viên của Học viện Chính trị khu vc
I, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh là cán bộ lãnh đạo, quản
ch chốt cấp huyện, quận, thị, các ban, ngành Trung ương, tỉnh,
thành và các doanh nghiệp nớc(2). Hkhông chỉ trình độ
chuyênn t cử nhân trở lên, còn vốn sống thực tiễnơng đối
u rng vàn b làm công tác Đảng lâu năm. Họ có nhu cầu nâng
cao trình độ lý luận, nâng cao năng lực duy khoa học và hoạch định
chiến lược. Nhìn chung, các học viên ca Học viện Chính trị khu vực I
kiến thức chuyên môn và thc tiễn sâu rộng, cóng lực và kinh
nghiệm quản cao, k toàn din. Đó là những điều kiện thuận lợi cho
việc học tập, nghiên cu và tiếp thu lý luận. Tuy nhn, điểm hạn chế
chung của họ là ở chỗ, họ kng sự đồng đều về kiến thức triết học.
Mt số ít học vn đã học tập môn triết học qua chương trình đào tạo
cao hc và nghn cu sinh kng chuyên triết. Với các đốing này,
việc học tập triết học đối với họ rất thuận lợi. Nhưng đa số học viên
vốn trước đây là sinh viên c khoa kng chuyên triết; do đó, việc
hc triết học đối với họ chỉ là “cưỡi ngựa xem hoa”, đối với học viên là
người n tc thiểu số lại càng khó khănn. Do ca có đủ tri thức
bc đại học và kinh nghiệm thực tiễn cần thiết nên khi nói đến triết học,
h chỉ kính nhi viễn chi”. Vì vậy, họ chưa thy đưc tính thiết thc ca
vic hc tp triết hc. Tuy nhiên, cũng phi nói rng, vic ngưi hc chưa
thy đưc tính thiết thc ca vic hc tp triết hc, mt phn còn là do
người dy triết hc. H Chí Minh đã có ln k mt câu chuyn, rng:
Hồi kháng chiến chống Pháp, một lầnc đi công tác v, thấy một
s đồng chí đang ngh ở một gốc cây đa to, ng mát. Bác hỏi:
- c cô,c c đi đâu về?
- Chúng cháu đi học về.
- Hc cái gì?
- Hc Các Mác.
- hay không?
- Hay lắm!
- hiểu không?
Hp úng trả lời:
- Thưa Bác, nhiu cái khó q, không hiểu được.
Như vậy là hc không thiết thực”(3). đây, nguyên nhân dẫn đến “học
không thiết thựclại là do người dạy: thể giảng viên rt nhiệt tình,
rt say sưa, nhưng i nhiều q hoặc dùng t ngữ cao xa cộng với
ch dạy mang tính áp đặt, go điều…; nga là nời giảng chưa
phương pháp giảng dạy thích hợp, cho nên người học không hiểu.
thi mộtch khái quát rằng, đa shọc viên tham dhọc tập
luậnHọc viện Chính trị khu vực I kng còn nhnhững kiến thức cơ
bn về triết học đã được học ở các trường đại học không chuyên ngành
triết học trước đây. Nếu cho rằng, ở c tờng đại học, học viên đã
biết triết học cả rồi, n chương trình cao cp lý luận chính trị không
cn phải giảng klưỡng triết học nữa là mt sai lầm, là cắtn triết học
mácxit. Bởi vì, như mi người đều biết, cơng trình triết học ở các
trường đại học chcấp v luận. Chương trình cao cấp lý luận
chính trị cao hơn rất nhiều lần so với chương trình triết học ởc
trường đại học không chuyên triết học. Người học phải nắm chắc lịch
sng như nội dung của mỗi khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy
luật; phải hiểu sâu tưởng của các nhà kinh điển mácxít về các vấn đề
và sphát triển của các vấn đề đó trong giai đoạn hiện nay, t đó mà
ng cao năng lực tư duy lý lun cho mình. thế, kiến thức triết học
đối với phần lớn học viên vẫn n mới. Thêm na, do nh trừu
ợng của môn học, nên vic học tập đối với học viên vn là rt k
khăn. Mặt khác, cng ta cần phải thấy điểm yếu chung của học viên là
ở chỗ, hlà nhng nhà lãnh đạo, quản trực tiếp chỉ đạo hoạt động
thc tiễn, quen với kinh nghiệm, nhưng lại thiếu hiểu biết đầy đủ về lý
luận. Được tập trung về Học viện học tập, hcần nắm bắt lý luận một
ch tương đối hệ thống để có sở làm vic tốt hơn, khoa học hơn.
Vn đề đặt ra là, thông qua ging dạy các học phần của môn triết học
c - Lênin, giảng viên phải giúp người học có tri thức triết học và biết
vận dụng những tri thức đó vào côngc quản lý kinh tế, quản nhà
ớc, quản xã hi một cách có hiệu quả; hình thành bảnnh chính
trị vững ng và tư duy khoa học trong lãnh đạo, quản lý.c bài giảng
triết học phải thiết thực cả v luận lẫn thực tiễn, tạo cho học viên
niềm hứng khởi học tập và n tượng tốt đẹp về môn học; gp họ chủ
động, ham tíchy tri thức luận, nắm được bản chất của vấn đề và
khắc phụcch học đối phó chỉ nhằm mục đích trả bài thi.
Để giảng dạy triết học hiệu quả, tớc hết phải đổi mới nội dung
giảng dạy và hc tập. Cần khẳng định rằng, giảng dạy và nghiên cứu
khoa học là hai mặt hoạt động cơ bản của nhiệm vụ chính trị trong nhà
trườngbậc đại học, kết hợp giảng dạy với nghiên cu khoa học là
hoạt động thường nhật của Học viện. Chúng tôi xác định nhiệm v
ng đầu của nghiên cứu khoa học là tập trung biên son giáo trình. Vì
vậy, từ chỗ chưa sách phục vụ dạy và hc, từ năm 1994 đến năm
2004, Khoa Triết học, Học viện Chính trị khu vực I đã biên soạn đầy
đủ bộ go trình vi 8 cuốnch và đã được Nhà xuất bản Chính trị
Quốc gia ấn hành cho cả 6 học phần của môn học. Nội dung từng cuốn
giáo tnh được biên son nghiêm c, bo đảm tính khoa học, tính tư
ởng và tính thc tiễn; trang bị cho người học nhng kiến thức bản,
hệ thống về Lch sử triết học, Triết học Mác - Lênin, gíc học, M
hc c - Lênin và Đạo đức họcc - Lênin, góp phn tích cực trong
việc bồiỡng thế giới quan khoa học và nhân sinh quan cộng sản chủ
nghĩa cho người học.
Việc đổi mới nội dung ging dạy của Khoa Triết học còn biểu hiện ở
chỗ, từng học phần, từng chươngch, từng bài giảng đã được giảng
viên đi sâu làm rõ lch s của từng vấn đề và tính khoa học củac khái
niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật; gắn luận với thực tiễn mới của
thời đại, thc tiễn của công cuộc đổi mới,y dựng và bo vệ Tquốc
Việt Nam; thực tiễn của công tác lãnh đạo, quản lý; thực tiễn của công
c ởng, lý luận của Đảng ta. Những thành tựu mới của khoa học,
nhng vấn đề thực tiễn mới nảy sinh đã được đưa vào bài giảng triết
hc, mang lại choc khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy lut những
ni dung mới, làm cho chúng mềm dẻo, linh hoạt, đápng được nhng
nhu cu mới của cuộc sống. Trong các bài giảng, tuỳ ở mức độ vận
dng, người giảng đã chú ý gắn đường lối, quan điểm của Đảng, tình
nh nhiệm vcủa cách mạng với nhiệm vụ của người cán bộ lãnh đạo,
quản lý, góp phần bồiỡng bản lĩnh chính trị, niềm tin, tưởng cộng