Những bệnh mà hoa hồng thường mắc phải
a. Bệnh đốm đen (Black spot).
- bnh khó trị, bệnh lan rộng nhanh c
khí hậu m ướt sau các trận mưa vào mùa
thu. Lúc đầu là những chm nâu, về sau
chuyển thành đen xuất hiện trên các b
mặt những chấm này tròn hoặc không
đều làm cho cây rụng sớm dần, các chồi
non cũng bị lây bệnh. Giai đoạn từ 6 đến
14 ngày sau khi trồng rất dễ nhiễm bệnh
này.
- Nguyên nhân: do nm Marssonina rosae Lib. Thuộc nấm bất toàn, nhiệt độ thích
hợp nhất từ 22-26oC, m đ>85%. nm tồn tại trong đất và lan truyền qua c
hoạt động khác của con người.
- Phòng trừ: làm vsinh xung quanh vườn, tránh đọng nước lại trên lá, nên tưới
vào buổi sáng nắng.
Đốt hủy lá bệnh, lá già gần mặt đất.
Trồng một số giống kháng như: David Thompson, bebe Lum, Odorata... Phun
thuốc Anvil, Benomyl, Topsin M, Folpet, Maneb... định kỳ một tuần/lần.
b. Bệnh rỉ sắt (Rust).
- Hại trên lá, ban đầu là những chấm nhvàng trong hoặc màu nâu, vsau các ô
này màu vàng cam i đỏ, hại mặt dưới lá, bệnh che phủ toàn bmặt dưới
đôi khi những mụn riêng lẻ. Giai đoạn bào thại u đỏ cam tồn tại 10-
14 ngày trong điều kiện môi trường thuận lợi, đôi khi hại cả hoa.
- Nguyên nhân: do nm Phragmidium mucronatum. Bào tlan truyền tỏng không
khí, trên tàn dư cây bệnh còn sót lại, nhiệt độ cho nấm phát triển là 18-21oC.
- Phòng trừ: thu dọn n dư bệnh đem đốt. Tưới nước vừa phải. Phun thuốc
Plantvax, Bavistin, Zinneb, Topsin M....
c. Bệnh phn trắng (Downy mildew).
- Hại lá, thân, cuống hoa, đài hoa nh hoa, trên những phần non của cây đang
tăng trưởng, phủ một lớp nấm trắng như bột làm cho bkhô héo và rụng hàng
loạt.
- Nguyên nhân: Peronospora sparsa.
Nấm thích hợp ẩm độ 85%, nhiệt độ 18oC, nếu nhiệt độ 27oC nấm sẽ chết sau
24 giờ.
- Phòng trừ: dùng thuốc Kasuran, Derosal, Ridomil... rất hiệu quả.
Cắt hủy cành lá bị bệnh, bón K tăng sức chống chịu cho cây.
d. Bệnh héo Verticillium.
Trên các ngọn bị héo nhưng vẫn còn xanh, các thấp dưới bị vàng, ban đêm
thhồi phục nhưng sau vài ngày cả phần ngọn cũng chuyển sang màu vàng sau
cùng màu nâu, tàn úa chết, thường bắt đầu chết từ ngọn đi xuống. Trên hoa
bị những vệt đen dọc theo chiều dài của cánh hóa.
Bệnh hại nặng trong mùa hè khi thi tiết bị khô hạn, hoa hồng trồng ngoài trời ít bị
bệnh này hơn hoa hồng được trồng trong nhà kính.
- Nguyên nhân: do nm Verticillium albo-atrum Berth, bào tđính là một tế bào
trong suốt dạng hình cầu được đính trên các cành bào tphân sinh. Nấm này
truyền được qua các mô, mắt ghép trong quá trình cấy mô.
Các giống mẫn cảm bệnh là: Rose odanata, Ragged Robin.
Các giống rất kháng bệnh là: Rose Multiflora, Rose Manetti.
- Phòng trừ: do nguồn bệnh tồn tại trong đất rất lâu nên trước khi trồng cần khử
trùng bằng hóa chất như formol 3% hoặc bằng một số thuốc trừ sâu như Basudin...
Tuy nhiên bệnh này rất khó phòng trcho hoa hồng trồng ngoài đồng với diện tích
lớn.
e. Bệnh chết khô.
Cây bệnh nụ không nở được, bên ngoài phmột lớp nấm màu xám nâu làm cho n
hoa b gẫy gục xuống, bên trong n bị rỗng., mong manh, yếu ớt. Khi bệnh nặng
các vết bệnh lan dần xuống cuống làm có màu thâm tím.
Trên hoa xut hiện những đốm nhmàu nâu, mọc riêng lhay liên kết lại với
nhau thành đám phồng lên, các giống hoa màu trắng rất dễ bị hại (hoa bị khô
cháy).
Bệnh lây nhiễm qua vết cắt, vết thương trong khi chăm sóc, tỉa cành. Khi điều kiện
môi trường thuận lợi thì hại cả thân cây làm cây bđổ gãy hoặc thân cây bị sần
sùi.
- Nguyên nhân: do nm Botrytis cinerea Pers ex Fr. Nhiệt độ thích hợp cho nấm
phát triển là 15oC.
- Phòng trừ: cắt bỏ và tiêu hủy các bộ phận bị bệnh như nụ, hoa, cuống, thân.
Dùng một số thuốc hóa học Kasuran, Daconil, Carbenzim... định kỳ 1 tuần/lần.
f. Bệnh thán thư (Spot anthracnose).
Thường hại trên hoa hồng nhất là hồng dại, ban đầu trên những đốm lưa
thưa hoặc hợp lại thành đám bắt đầu từ rìa mép lan vào bên trong theo đường