
Ốc gió
TRUYỆN NGẮN CỦA TRẦN CHIẾN
Phá tân một chàng binh nhất lính đảo là việc chẳng khó, nhưng phá tân chàng về mặt tâm
lý, về tình yêu như là tín ngưỡng thì cô cave này thật cao thủ. Và nhà văn cũng thật cao
thủ, truyện đọc nhuyễn như không hề xếp đặt…
1.
- Nhớ tận hưởng cuộc đời, an toàn và trả đúng phép. Đi nha!
Anh Đích đập vào mấy bàn tay giơ cao, giống đám cầu thủ thường làm trên ti vi sau khi
ghi bàn. Anh sẽ về xứ bán sơn địa ôm vợ, đọc “thứ nhất rượu say ngà ngà, thứ nhì công
tác đường xa mới về”. Trường dặm vào những cồn cát ven biển, với mẹ từ lúc sinh ra đến
giờ chả nhìn thấy gì ngoài cát. Sang có ít ngày cùng ông bố hậm hụi trong xưởng sửa ô
tô, ngồi đến khuya với bạn cũ chỉ một chai pép si, nếu có con gái thì thêm khô mực.
Niềm vui đơn giản, cụ thể lắm, dù ba trăm sáu mươi đêm rồi chỉ ao ước phép tắc sẽ làm
gì. Phấn thì càng tù mù. Tận hưởng cuộc đời thế nào đây khi mà ta vừa có tự do vừa có
tiền, không vung vinh nhưng không đến nỗi phải tằn tiện quá?
Đảo Mang Mang rộng hơn trăm mét, công binh gầy lên ụ bê tông từ đá san hô, bên trong
có hầm vũ khí, lương thực, máy thông tin. Chỗ sinh hoạt bên trên ngất ngưởng, đã thưng
kính mà lúc nào cũng phừng phừng gió, ban ngày chói chang. Đóng một tiểu đội nhưng
chỉ huy tận trung úy. Anh Đích “đảo trưởng” tốt nghiệp sĩ quan hải quân coi sóc ra lối
nửa gia đình, sáng ra khua cả bọn dậy thể dục, thét “Thằng Trường thẳng người lên. Sáng
ra đã “đi tìm chổi” thế à?”. Giờ cơm sáng nhắc Sang ăn chậm thôi, đừng áp dụng chiến
thuật “đầy đầy mặn” hết suất thằng khác. Nhưng cũng chuyên nghiệp ra phết, nghĩa là lúc

nào cũng lo cho quân có đủ việc, không cảnh giới thì lau vũ khí hay xới xáo mấy mảnh
vườn bé bằng manh chiếu, tối đến nhất tề xem thời sự ti vi rồi hát. Lính, để rỗi rãi nó sinh
lắm chuyện. May là lúc rút đi, công binh vứt lại những mảnh tôn, đem quây chắn gió cho
cây rau mọc lên, không thì chỉ huy đến phải bắt chiến sĩ bê đảo đi lại cho đỡ rồi việc. Và
có Ky, Quýt, Bống, ba con chó cái ôm đồm đủ các chức năng như chó nhà quê, kiêm
thêm tha cá từ ngoài xa vào bờ. Để chơi thôi, chứ cá thiếu quái gì.
Ngoài biển và mặt trời rất thực, đảo tồn tại một tình trạng khác như là ảo mà rất khó chịu:
chả ra thời chiến chả ra thời bình. Đang tranh chấp mà. Cách hơn cây số là nhà giàn đối
phương ba tầng, có lẽ đóng cả đại đội. Pin mặt trời tha hồ nạp, ban đêm sáng trưng một
vùng. Trang bị ác, chắc thế. Và tàu nó cứ lượn lờ, lắm lúc đang lượn thì xầm xầm đâm
vào đảo ta, khiêu khích thôi nhưng thần kinh không lỳ không được. Bắn trước là “xong”
với nó ngay. Mang Mang là tiền tiêu rồi, nên lính tráng phải toàn loại “chuẩn không cần
chỉnh”. Nhưng chuẩn thế nào thì cũng vẫn con người, lỳ quá cũng có lúc rão ra lâu lâu
mới hồi lại, như bị đùa dai đùa nhả.
Phấn năm thứ hai đại học thì đi nghĩa vụ, được anh Đích dành cho vài biệt lệ. Ngày ra
đảo, người khác bộn bề đồ nghề bắt cá thì cậu lễ mễ hòm sách, nào truyện ngắn, tiểu
thuyết, nào từ điển, giáo khoa, lại cuốn nhật ký. Sự riêng tư không nhiều, ghi chép hàng
ngày khí dị biệt, có khi còn bị đem ra “soi” chung, nên sổ thành cuốn vở học ngoại ngữ là
chính. Ngày đôi tiếng, Phấn được phép ngồi dưới gốc bàng vuông đã cưa ngọn để không
chắn góc bắn, giở giấy vở ra. Đôi lúc Phấn thừ người nhìn theo khúc củi đang hụp lặn
giữa sóng xanh, anh Đích đi qua lơ đi rồi quay lại dậm dộ Sang: “Mầy choành chọe thì
đừng hỏi nó sao con cò có sức vượt mấy trăm cây số ra đảo nữa nha”. Giờ đi ngủ, anh bắt
Phấn đọc sách dưới ngọn đèn sạc cho cả tiểu đội nghe. Khi sách hết thì đọc lại, đến nỗi
Phấn thuộc làu tiểu thuyết “Ba người bạn” của ông nhà văn Đức. Khi nào chán nghe chán
cả đọc, bèn chuyển qua từ điển, nó có tác dụng ru ngủ nhanh kinh khủng, mà vốn liếng
tiếng Anh của Phấn càng dồi dào.
Nhưng cũng có những đêm dài ra phết. “Tao nhớ cái đít vợ quá, sao mà nó nhẵn còn hơn
da em bé”, Đích bảo. Tiểu đội kêu rinh sao những Hoa Hạnh Hồng Đào báo Tiền Phong

cho địa chỉ dạo này không viết thư cho chiến sĩ biển nữa hay đã lấy chồng cả rồi. Đảo
trưởng hét “Ngủ đi, không lơ mơ lung tung nữa. Ngày mai thằng Tấc nấu cá cóc nhớ bỏ
cái mật, nghe không?”, vẫn trằn trọc. Phấn không viết thư cho Hạnh Hoa Đào Hồng nào,
cũng chán món canh cá cóc lắm rồi, nhưng vẫn phải nghĩ về phụ nữ. Dáng hình nào thì
cũng giống mẹ với chị Nếp cả, sao cứ là mật ngọt cho đời, để ta phải tơ tưởng thế này thế
nọ.
2.
Nhà tàu báo sáng mai có chuyến ra Bắc. Phấn không thích xe khách, ti vi đưa rất lắm
hàng “cơm tù” dọc đường, nhưng cái chủ yếu là chả đi đâu mà vội. Quê hương chắc còn
cũ hơn hai năm trước, đàn ông đi tiệt, đàn bà lo hết việc cầy bừa, ruộng không phân cho
người mới thì vào hết dự án, còn bao nhiêu đâu. Phấn cũng chưa báo cho mẹ và chị Nếp,
muốn dành sự bất ngờ. Vậy là còn hai mươi tiếng, sẽ lững thững một tý, ăn ngon mồm rồi
tìm nhà trọ đừng xập xệ. Cậu có tiền, phụ cấp binh nhất mười hai tháng đâu ít, nhưng
cũng không thể ở khách sạn. Sau mười hai tháng không tiêu pha, rất nên tự cho phép thè
lưỡi ra nếm cảnh người ta tận hưởng cuộc đời thế nào. Mình đã ở bên ngoài cái cuộc đời
này mười hai tháng kia mà, để canh giữ cho nó, như thủ trưởng tuyên huấn quân chủng
đã dặn, và anh Đích nhắc lại hàng tinh mơ.
Thị trấn du lịch, giờ mới biết rất to, và đẹp lắm. Quân cảng gần đấy nhả ra những quân
nhân đen nhẻm, chắc nịch, nên anh lính đảo về, khoác ba lô đi trong dòng du lịch chả
mấy ai để ý. Ngoài ga có dẫy phố bán đồ nghề đi biển, người ta mời mua. Hôm sắp đi
đảo, cả trung đoàn lính mới túa ra đây mua lưới, cước, kính lặn có ống thở, mỗi người
được tặng cái lấy ráy tai. Kể cũng phí phạm, ngoài ấy không khí sạch sẽ, đâu ra ráy tai
mà ngoáy lắm, sao không tặng ti vi hay cái điện thoại, hơn không.
Xôn xao trò cò quay, túm tụm cờ thế, gã thua rũ túi chửi “Toàn một lũ bịp bợm”. Qua
dãy biệt thự tinh tươm ngoài vườn có chảo ăng ten trắng toát, những khách sạn cũng tinh
tươm, trắng toát, Phấn gặp biển. Dọc bãi nườm nượp người, xanh đỏ ô dù trắng tím phao

bơi bóng bay. Đàn ông ôm điện thoại tách ra, lúc hùng dũng giơ tay chém đứt đôi ngọn
gió, lúc hạ giọng ướt rượt, đàn bà ngầy ngậy lo thay xống váy hơn xuống nước. Khó nhìn
nhất là đám gái trẻ. Những thịt da chân cẳng trắng đến rức mắt, nhưng đâu phải dành cho
mình, nên cậu tìm cái ghế đá chỗ khuất một tý ngả ba lô. Bữa sáng khá muộn ngoài ga để
lại vị đậm trong mồm, khiến cậu nhớ thuốc lá. Điếu Ngựa mua lẻ, hơi đầu tiên sao mà tê
mê cuộc đời. Cái gì cũng như là gặp lại lần đầu, như lần đầu hút thuốc, lần đầu uống
rượu, đều “phê” khủng khiếp. Anh Đích bảo cưới ba năm mà về phép gặp vợ cứ như lần
đầu, khiếp thật. Chả biết mình gặp người con gái để yêu thì sẽ “dậy” đến đâu. Nhưng tính
đến đấy xa quá. Tôi đang ở bên lề, tôi xem các người thế nào, và tôi kể cho các người
nghe cái tôi đã trải qua mười hai tháng qua, mười hai tháng Lê Văn Phấn đóng binh nhất,
sau kì nghỉ phép này lên tiếp hạ sĩ, ngài hạ sĩ ra ngoài biển rất khơi xa, ngoài tầm nhìn
của các vị du lịch và đợi tầu ngoài ga, để bảo vệ các vị. Thi vị không? Thi vị đấy chứ!
Phấn lôi con ốc gió từ ba lô, đưa lên miệng. To bằng nắm tay người lớn, trắng ngà, nó có
những vệt nâu, thổi thật khéo bật ra tiếng u u như còi tầu ngoài kia, thật xa, vọng vào.
Sang có thể động đậy ngón tay tạo nên những tiếng thanh tu huýt, tiếng trầm như tù và,
rất linh hoạt. Nhưng Phấn chỉ tạo ra tiếng u ơ thôi. Kể rằng trong chỗ hơn trăm mét
vuông nhô lên từ lòng biển ấy mặt trời rất chói, mở mắt to quá sẽ lòa mất, nên lại phải
nhìn xuống nước. Mà nước không có bờ thì lúc nào cũng vòi vọi, lúc dễ gần lúc hung
hiểm. Rằng ti vi chỉ xem vê một, rất chóng bị mặn ăn, nên lính tráng phải đi xuồng qua
chòi hải đăng xem nhờ, có khi chỉ nói chuyện. Mỗi lần vậy lại dán mắt vào đám ảnh dán
trên vách, đa phần con gái, tuy không lõa thể cả nhưng đêm không thể không nghĩ tới.
Những giấc mơ đẹp ấy thường gắn với chiến trận. Cách có một giờ bơi, nhà giàn đối
phương sáng lòa, súng ống đâm tua tủa, phát hỏa có dễ nhận chìm cả tiểu đội mình. Kể
rằng… Mà các người cứ tí tởn trắng toát thế kia, những lời tôi tai nọ tuột sang tai kia thôi.
Tôi, từ vùng biển tranh chấp trở về…
Nhưng mà lại có người chăm chú vào. Cô bé ba tuổi ôm búp bê, tay mân mê cái ba lô của
cậu, đôi mắt đen láy chằm chặp nhìn, dễ thương không thể tả.
- Cháu tên gì?

- Em có dép.
- Cháu thích ốc à?
- Em bật đèn.
Những hỏi đáp âu yếm bay lượn, đỗ xuống. Ghế đá bên kia có cặp mắt ấm cúng gửi sang.
Người mẹ, chắc thế, nhan sắc trung bình, đủ để đi qua quay lại nhìn một lần nếu ở chỗ
đông đúc. Nhưng gương mặt níu giữ ở đôi mắt có quầng, như một vệt đậm dán vào. Ốc
gió thổi lần nữa thì cô sang. “Con để yên cho chú ngồi”, miệng nhắc nhưng không dời đi.
- Không sao đâu, tôi thích cháu mà.
Phấn nói, bỏ ba lô xuống đất. Người mẹ trẻ chần chừ rồi ngồi xuống, cười tươi tắn. Tiếng
ốc gió dịu hẳn, không còn hờn trách thiên hạ, mà vấn vít như cho mẹ con chị Nếp nghe.
- Chắc anh ngoài đảo về phép, đang đợi tàu Bắc?
- Vâng. Chị cũng đợi tàu à?
- Em cũng chưa biết có nên ra. Việc chưa xong, ở lại mệt quá.
- Chưa xong thì việc gì mà ra – Phấn ái ngại. – Kể thì mẹ con đi lâu cũng vất. Chị nhà
đâu?
- Em Phú Thọ, về phải đáp hai lần tàu, bà ngoại cháu đang ốm mà chưa ra được.
- Tôi có thằng bạn ngoài đảo, bảo có thì giờ về thăm nhà nó trên Phú Thọ, cũng chưa biết
thế nào. Mà ông xã đâu mà chị phải mang con đi xa?
Có cái gì trôi ra, như thể thở dài, làm Phấn phải quay sang. Đôi mắt bên ấy thăm thẳm ra
biển, mi rất cong, làn phấn đánh nhẹ che không hết nốt tàn hương. “Biển có đẹp không
anh?”.
- Thì nó cũng lúc đẹp lúc không. Vui nhất là buổi chiều, trừ người gác, cả đảo nhảy
xuống tắm.
- Có người viết lính đảo tắm như một lũ trẻ, em đọc đâu đấy.

