
PH
PH
PH
PHÂ
Â
Â
ÂN
N
N
N T
T
T
TÍ
Í
Í
ÍCH
CH
CH
CH Ả
Ả
Ả
ẢNH
NH
NH
NH H
H
H
HỞ
Ở
Ở
ỞNG
NG
NG
NG C
C
C
CỦ
Ủ
Ủ
ỦA
A
A
A V
V
V
VẬ
Ậ
Ậ
ẬN
N
N
N ĐỘ
ĐỘ
ĐỘ
ĐỘNG
NG
NG
NG
H
H
H
HÀ
À
À
ÀNH
NH
NH
NH LANG
LANG
LANG
LANG TRONG
TRONG
TRONG
TRONG V
V
V
VỤ
Ụ
Ụ
Ụ KI
KI
KI
KIỆ
Ệ
Ệ
ỆN
N
N
N C
C
C
CÁ
Á
Á
Á TRA,
TRA,
TRA,
TRA,
C
C
C
CÁ
Á
Á
Á BASA
BASA
BASA
BASA C
C
C
CỦ
Ủ
Ủ
ỦA
A
A
A VI
VI
VI
VIỆ
Ệ
Ệ
ỆT
T
T
T NAM
NAM
NAM
NAM
CH
CH
CH
CHƠ
Ơ
Ơ
ƠNG
NG
NG
NG 1:
1:
1:
1: Ả
Ả
Ả
ẢNH
NH
NH
NH H
H
H
HỞ
Ở
Ở
ỞNG
NG
NG
NG C
C
C
CỦ
Ủ
Ủ
ỦA
A
A
A V
V
V
VẬ
Ậ
Ậ
ẬN
N
N
N ĐỘ
ĐỘ
ĐỘ
ĐỘNG
NG
NG
NG H
H
H
HÀ
À
À
ÀNH
NH
NH
NH LANG
LANG
LANG
LANG TRONG
TRONG
TRONG
TRONG V
V
V
VỤ
Ụ
Ụ
Ụ KI
KI
KI
KIỆ
Ệ
Ệ
ỆN
N
N
N
C
C
C
CÁ
Á
Á
Á TRA,
TRA,
TRA,
TRA, C
C
C
CÁ
Á
Á
Á BASA
BASA
BASA
BASA C
C
C
CỦ
Ủ
Ủ
ỦA
A
A
A VI
VI
VI
VIỆ
Ệ
Ệ
ỆT
T
T
T NAM
NAM
NAM
NAM
1.1
1.1
1.1
1.1 T
T
T
TỔ
Ổ
Ổ
ỔNG
NG
NG
NG QUAN
QUAN
QUAN
QUAN V
V
V
VỀ
Ề
Ề
Ề V
V
V
VỤ
Ụ
Ụ
Ụ KI
KI
KI
KIỆ
Ệ
Ệ
ỆN
N
N
N C
C
C
CÁ
Á
Á
Á TRA,
TRA,
TRA,
TRA, C
C
C
CÁ
Á
Á
Á BASA
BASA
BASA
BASA C
C
C
CỦ
Ủ
Ủ
ỦA
A
A
A M
M
M
MỸ
Ỹ
Ỹ
Ỹ ĐỐ
ĐỐ
ĐỐ
ĐỐI
I
I
I V
V
V
VỚ
Ớ
Ớ
ỚI
I
I
I VI
VI
VI
VIỆ
Ệ
Ệ
ỆT
T
T
T NAM
NAM
NAM
NAM
Việt Nam bắt đầu xuất khẩu cá tra, cá basa sang thị trờng Mỹ vào năm 1996. Năm 1998,
lợng cá
l
át catfish không xơng đông lạnh của Việt Nam xuất sang đây mớ
i
ch
ỉ
có 260 tấn.
Nhng đến cuối năm 2001, con số ấy đã vọt lên 7.746 tấn. Với giá thành rẻ hơn từ 0,08 đến
1USD/pound và chất lợng không thua kém catfish Mỹ, cá Việt Nam đã gây ảnh hởng
không nhỏ tới việc tiêu thụ catfish của Mỹ, bằng chứng là tổng giá trị catfish bán ra của
Hiệp hội các nhà nuôi cá nheo Mỹ(CFA) giảm mạnh, từ 446 triệu USD năm 2000
xuống còn 385 triệu USD năm 2001. Dới sự cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ từ các sản
phẩm cá của Việt Nam, CFA đã phả
i
hành động nhằm đánh bật con cá của Việt Nam ra
khỏ
i
th
ị
trờng Mỹ.
9/2001 vụ kiện bắt đầu nổ ra bằng việc Mỹ mở cuộc chiến về tên gọ
i
catfish đối với sản
phẩm cá tra, cá basa của Việt Nam xuất khẩu sang th
ị
trờng này. CFA dựa vào Luật Ngân
sách nông nghiệp 107-76 của Mỹ để cấm loạ
i
cá này của Việt Nam đợc nhập vào nớc này
với tên gọ
i
catfish và đạo luật HR.2646 cấm hoàn toàn việc dùng tên catfish cho các loạ
i
cá tra, cá basa của Việt Nam trong tất cả các khâu bán
l
ẻ, bán sỉ, nhà hàng, thông tin,
quảng cáo... trong vòng 5 năm. Cha dừng ở đây, CFA vin tiếp vào điều khoản 10806 của
đạo luật An ninh nông trại và Đầu t nông thôn mới nhất để xác lập chủ quyền tuyệt đối
trên thơng hiệu catfish. Tháng 12/2001, bất chấp sự phản đối từ phía Việt Nam, Quốc hội
Mỹ đã thông qua lệnh cấm tạm thời (có hiệu lực tớ
i
ngày 30/9/2002), theo đó, chỉ có

catfish của Mỹ mớ
i
đợc gọi là catfish, còn cá của Việt Nam phải đợc gọ
i
bằng tên basa hay
tra. Sau khi dự luật đợc thông qua, nó đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ không ch
ỉ
của d
luận Mỹ mà còn chịu sự phản đối của d luận thế giới. Thợng nghị sĩ Phil Gramm, bang
Texas khẳng định: “ Những ngời kiếm sống trong ngành khoa học nuôi cá gọi nó
l
à catfish,
vậy cớ sao chúng ta(Quốc hộ
i
Mỹ) lạ
i
muốn gọ
i
nó khác đ
i
”. Ông Gramm cùng thợng nghị
s
ĩ
John Mccain đa ra một đ
i
ều khoản bổ xung nhằm bác bỏ dự luật cấm Việt Nam sử dụng
nhãn catfish, tuy nhiên, đề nghị của hai ông đã bị bác bỏ (theo báo Washington Post ngày
27/122001).
Sau khi giành chiến thắng về tên gọi catfish, Hiệp hội các nhà nuôi cá nheo Mỹ(CFA)
tiếp tục mở một cuộc tấn công khác: khở
i
kiện các doanh nghiệp Việt Nam bán phá giá cá
tra, cá basa. Theo Timothy R. Brown, tác giả bài viết “Ngành nuôI cá catfish Mỹ tiếp tục
chiến đấu” đăng trên AP ngày 26/2, khơI mào chiến d
ị
ch mới chính
l
à những ng dân ở
thành phố Indianola (bang Mississipi, nơ
i
đóng đô của CFA và chiếm tớ
i
94% sản phẩm
catfish của toàn bộ miền Nam nớc Mỹ). Nhóm ng dân này sẽ thuê hẳn một vài chuyên gia
tầm cỡ từ Washington hỗ trợ cho các văn phòng t vấn luật của bang, nhằm nỗ lực chuẩn b
ị
cho đòn trừng phạt đối với cá giá rẻ của Việt Nam. Phó chủ tịch điều hành CFA Hugh
Warren quy chụp cho những lô cá xuất khẩu của Việt Nam là những sản phẩm rẻ tiền, kém
chất lợng mà ngờ
i
ta không thể t
ì
m thấy ở một xởng sản xuất cỡ gia đình nh các trại cá của
Mỹ. Ông này cho rằng, mặc dù sản phẩm rẻ tiền của Việt Nam đang chiếm tới 20% thị
phần và hấp dẫn những nhà hàng, khách sạn, nhng “ những nhà hàng, khách sạn này chỉ
quan tâm tới giá cả chứ chẳng để ý đến chất lợng của sản phẩm”. Phóng viên Timothy
nhận xét một cách khách quan rằng, những ngời nuôI cá catfish Mỹ không thể chạy đua về
giá với sản phẩm nhập khẩu từ Việt Nam bở
i
chi phí đầu vào (đặc biệt là về nhân công và
thuế ) quá cao. Trớc sức ép của cá da trơn đến từ Việt Nam, giá catfish Mỹ đã rớt thê thảm,
từ 0.74 USD/ pound năm 2000 xuống còn 0.58 USD, thậm chí có
l
úc chỉ khoảng 0.2 USD/
pound. Theo Phó chủ tịch Warren: “ Mức giá nh vậy không đủ bù cho chi phí sản xuất. ít
nhất phải bán đợc 65-70 cent/ pound, may ra ngời nuôi cá mớ
i
có thể hoà vốn”.
Ngày 28/6/2002, CFA đã đệ đơn kiện lên Uỷ ban hiệp thơng Quốc tế Mỹ (ITC). Họ đã
tính toán rất kĩ
l
ỡng trong cuộc đ
i
kiện lần này, bằng chứng đợc thể hiện ngay từ cách nộp
đơn kiện của họ: nộp đơn vào đúng lúc 4 giờ chiều ngày làm việc cuố
i
cùng trong tuần
(thứ 6, ngày 28/6). Theo luật Mỹchỉ sau 20 ngày nhận đơn kiện, bên bị kiện sẽ phả
i
điều
trần trớc ITC. Nh vậy, phía Việt Nam đã mất đI 3 ngày để chuẩn bị. Là đơn kiện nhng
khố
i
lợng rất đồ sộ với hơn 200 trang kèm theo 37 phụ
l
ục, trong đó phân t
í
ch chi tiết về

tình hình thị trờng cá nheo Mỹ, thị phần cá da trơn filê đông lạnh của Việt Nam tại Mỹ
cũng nh ảnh hởng của sản phẩm “rẻ tiền” (theo cách gọi của CFA) đối vớ
i
ngành sản xuất
trong nớc.
Cha dừng lạ
i
ở đó, CFA tiếp tục chiến d
ị
ch của mình bằng cách nộp đơn lên Bộ Thơng
mạ
i
Mỹ (DOC) cho rằng, đã xuất hiện “tình trạng khẩn cấp”.để chứng minh điều đó CFA
đã đa ra các luận đ
i
ểm:
+ Các nhà xuất khẩu Việt Nam biết cá tra, cá basa filê đông lạnh bị bán phá giá.
+ Các nhà xuất khẩu có thông tin về việc áp thuế chống phá giá đối với công ty của
mình vớ
i
mức 25% hoặc cao hơn nữa trong giai đoạn đ
i
ều tra ban đầu của DOC.
+ Các nhà xuất khẩu Việt Nam đã tăng số lợng hàng sang Mỹ sau khi CFA nộp đơn
yêu cầu đ
i
ều tra chống phá giá .
+ Tính từ ngày 28/6/2002, số lợng hàng xuất khẩu sang Mỹ tăng ở mức 15% hoặc cao
hơn nữa so vớ
i
thờ
i
gian trớc ngày nộp đơn yêu cầu đ
i
ều tra chống phá giá.
+ Cần áp dụng hồ
i
thuế chống phá giá để đảm bảo hiệu quả của thuế chống phá giá sẽ
đợc ban hành vào ngày 24/1/2003.
Tháng 11/2002 bất chấp sự phản đối từ phía Việt Nam, DOC đã kết luận Việt Nam là
nớc có nền kinh tế phi thị trờng, việc kết luận này dựa trên đánh giá theo các tiêu ch
í
của
Mỹ nó đặt cơ sở cho việc xem xét áp dụng mức thuế chống bán phá giá đối với mặt hàng
cá tra, cá basa của Việt Nam. Ngày 28/1/2003, DOC tạm thờ
i
xác định mức thuế chống
bán phá giá đối với cá tra, cá basa của Việt Nam trong khoảng từ 31,45% - 63,88% tuỳ
theo nhóm mặt hàng và doanh nghiệp xuất khẩu cá tra, cá basa của nớc ta. Cụ thể nh sau:
T
T
T
Tê
ê
ê
ên
n
n
n c
c
c
cô
ô
ô
ông
ng
ng
ng ty
ty
ty
ty M
M
M
Mứ
ứ
ứ
ức
c
c
c thu
thu
thu
thuế
ế
ế
ế
Agifish 31,45%
Cataco 41,06%
Nam Việt 38,09%
Vĩnh Hoàn 37,94%
Các công ty khác
có tham gia vụ
kiện
36,76%
Các công ty
không tham gia
vụ kiện
63,88%

Tháng 3/2003, DOC đã cử đoàn quan chức sang Việt Nam để nghiên cứu điều tra tình
hình sản xuất cá tra, cá basa tại các tỉnh vùng DBSCL của Việt Nam để xác định lần cuố
i
mức thuế xuất chống bán phá giá. Các doanh nghiệp Việt Nam đã đáp ứng đầy đủ các yêu
cầu của đoàn điều tra và chứng minh năng
l
ực cạnh tranh dựa trên quy trình tổng hợp khép
kín, từ sản xuất con giống, nuôi cá thơng phẩm, đến chế biến và xuất khẩu các sản phẩm
cá tra, cá basa. Tuy nhiên, đoàn đ
i
ều tra của DOC đã bác bỏ các tài liệu từ phía các doanh
nghiệp đa ra và không công nhận quy trình khép kín trong việc sản xuất cá tra, cá basa. Họ
chỉ chấp nhận tính giá thành sản phẩm này từ khâu chế biến và đem so sánh nó với nớc thứ
3 là Bangladesh một nớc không có quy trình sản xuất khép k
í
n nh Việt Nam.
Đầu tháng 5, Bộ Thơng mại Mỹ đã gợ
i
ý Bộ Thơng mại hai bên sẽ tiến hành đàm phán
“ về một thoả thuận về đình chỉ vụ kiện” này. Từ 2-9/5/2003, hai bên đàm phán, nhng do
quan điểm của hai bên rất khác nhau, cả về phơng pháp luận và mức độ tiếp cận thị trờng
Mỹ cho mặt hàng cá tra, cá basa filê đông lạnh của Việt Nam nên hai bên đã không đạt
đợc thoả thuận cuối cùng.
Ngày 17/6/2003, ITC mở phiêu điều trần vể vụ kiện cá tra, cá basa . Trong buổ
i
điều
trần này, đại diện của chính phủ Việt Nam và đại diện của VASEP đã phát biểu trớc ITC
về vụ kiện này và yêu cầu Mỹ xem xét vụ kiện một cách khách quan. Tuy nhiên, đến ngày
23/7/2003 ITC đa ra phán quyết cuối cùng về vụ kiện cá tra, cá basa. Theo đó, cơ quan này
đã khẳng định các doanh nghiệp Việt Nam bán cá tra, cá basa vào thị trờng Mỹ thấp hơn
giá thành, gây tổn hạ
i
tới ngành sản xuất cá da trơn của Mỹ và ấn định mức thuế suất bán
phá giá rất cao, từ 36.84-63.88%.Cụ thể nh sau:
T
T
T
Tê
ê
ê
ên
n
n
n c
c
c
cô
ô
ô
ông
ng
ng
ng ty
ty
ty
ty M
M
M
Mứ
ứ
ứ
ức
c
c
c thu
thu
thu
thuế
ế
ế
ế
Agifish 44,76%
Cataco 45,55%
Nam Việt 52,90%
Vĩnh Hoàn 36,84%
Các công ty khác
có tham gia vụ
kiện
44,66%
Các công ty
không tham gia
vụ kiện
63,88%

Sau khi đa ra phán quyết thiếu công bằng, đến ngày 7/8/2003, Bộ Thơng mại Mỹ ch
í
nh
thức công bố áp đặt thuế chống bán phá giá đối với 11 doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu
mặt hàng filê đông lạnh cá tra, cá basa vào th
ị
trờng này.Về phía Việt Nam, sau khi
l
ấy ý
kiến, các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra, basa của Việt Nam đều nhất trí tiếp tục theo đuổi
vụ kiện. VASEP sẽ nộp đơn kiện lên toà án quốc tế thơng mạ
i
Mỹ.
1.2
1.2
1.2
1.2 QU
QU
QU
QUÁ
Á
Á
Á TR
TR
TR
TRÌ
Ì
Ì
ÌNH
NH
NH
NH V
V
V
VẬ
Ậ
Ậ
ẬN
N
N
N ĐỘ
ĐỘ
ĐỘ
ĐỘNG
NG
NG
NG H
H
H
HÀ
À
À
ÀNH
NH
NH
NH LANG
LANG
LANG
LANG TRONG
TRONG
TRONG
TRONG V
V
V
VỤ
Ụ
Ụ
Ụ KI
KI
KI
KIỆ
Ệ
Ệ
ỆN
N
N
N
Năm 1998, lợng cá tra, cá basa filê đông lạnh của Việt Nam xuất khẩu sang thị trờng
Mỹ chỉ có 260 tấn, nhng đến năm 2001 con số này đã tăng vọt
l
ên 7.746 tấn. Lo ngạ
i
trớc
sự cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ đó, hiệp hội nuôi catfish ở các tiểu bang Mississipi,
Lousiana, Askansa, Alabama đã sử dụng vận động hành lang (Lobby) để bảo vệ quyền lợi
kinh tế của mình, dới áp lực của các lobby của CFA buộc các ngh
ị
s
ĩ
ở các tiểu bang miền
Nam phải có tác động tớ
i
Quốc hội Mỹ ra nghị quyết cản trở nhập cá tra, cá basa của Việt
Nam vào Mỹ. Tờ Washington Post ngày 10/9/2001 viết: “ Việt Nam đang bán phá giá
sang Mỹ hàng ngàn tấn cá basa trong năm nay, gây thiệt hạ
i
cho các nhà nuôi cá nộ
i
địa.
Nhiều nghị sĩ muốn Quốc hộ
i
yêu cầu gắn nhãn
sản phẩm Việt Nam
cho mặt hàng này”.
Hai hạ ngh
ị
sĩ Dân chủ, Marion Berry và Mike Ross của bang Arkansar(nơi có nguồn cung
cấp cá basa
l
ớn thứ 3 ở Mỹ, sau Mississipi và Alabama) yêu cầu các hãng bán buôn không
chỉ xác định rõ xuất xứ của cá basa Việt Nam, mà còn gắn cho sản phẩm này mác “basa
Mekong”, “cá trê” hoặc “cá trê basa” để phân biệt vớ
i
cái mà họ gọ
i
là cá basa Mỹ “thứ
thiệt”. Hạ nghị sĩ Berry đã theo đuổi vấn đề này vớ
i
giới chức thơng mạ
i
của Tổng thống
Mỹ và cũng có dịp đề cập vớ
i
các quan chức Việt Nam. Ông Berry tuyên bố, sẽ t
ì
m cách
đa các điều khoản trên vào dự luật khi nó đợc tr
ì
nh trớc Hạ viện hoặc đợc đa ra thảo luận
tại Thợng viện Mỹ tớ
i
đây. Duới sự tác động mạnh mẽ của lobby, tháng 9/2001 các đạ
i
biểu miền Nam nớc Mỹ đã tr
ì
nh lên Quốc hộ
i
để tránh dùng từ catfish cho việc mua bán cá
tra, cá basa trên th
ị
trờng Mỹ. Không những thế, ch
í
nh quyền liên bang còn quyết định chi
6 triệu USD để mua catfish cho chơng trình ăn tra ở các trờng học, chiêu bài này đã làm
tăng hình ảnh về thơng hiệu catfish cho cá da trơn của Mỹ. Đến tháng 12/2001 Quốc hội
Mỹ thông qua lệnh cấm tạm thời, theo đó, chỉ có catfish của Mỹ mớ
i
đợc gọi là catfish,
còn cá của Việt Nam phải đợc gọi bằng tên basa hay tra. Vậy do đâu lại có lệnh cấm oá
i
ăm về tên gọi nh vậy? Các nhà vận động hành lang cho ng dân Mỹ
l
ập luận rằng, cá của
Việt Nam không hẳn
l
à catfish và ngời Việt Nam đang
l
ợ
i
dụng thành quả tiếp thị của
những ngời nuôi cá Mỹ.

