30 Trần Nguyễn Ngọc Hương
PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH TIẾNG TRUNG
SỬ DỤNG SAI HOẶC HẠN CHẾ SỬ DỤNG QUÁN NGỮ TIẾNG TRUNG
TRONG GIAO TIẾP
AN ANALYSIS OF REASONS WHY CHINESE-MAJORED STUDENTS MAKE WRONG OR
LIMITED USE OF CHINESE IDIOMS IN COMMUNICATION
Trần Nguyễn Ngọc Hương
Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Đà Nẵng; tnnhuong@ufl.udn.vn
Tóm tắt - Quán ngđược người Trung Quốc sử dụng rộng i trong
cuộc sống hàng ngày, có từ ngđơn giản dễ dùng, khả năng diễn
đạt cũng khá phong phú, đa dạng. Nhưng quán ngữ lại trở thành
chướng ngại của sinh viên Việt Nam học tiếng Trung, sinh viên
thường sử dụng sai, thậm chí là tránh né sử dụng. Bài viết chủ yếu
chỉ ra nguyên nhân những lỗi sai của sinh viên chuyên ngành tiếng
Trung sử dụng sai hoặc hạn chế sử dụng quán ngữ trong giao tiếp
xuất phát từ u góc độ: bản chất quán ngữ, sự ảnh hưởng từ nền
n hóa và ngôn ngữ tiếng Việt, kiến thức ngôn ngữ đích đã nắm,
phương pháp học tập của sinh viên, phương pháp giảng dạy của
giáo viên và nội dung biên soạn giáo trình, từ đó đưa ra một số kiến
nghị liên quan đến việc dạy và học quán ngữ.
Abstract - Idioms are widely used by Chinese people in everyday
life, for they are composed of simple and easy-to-use words and
characterized by rich and diverse capability to express ideas.
However, idioms remain obstacles for Vietnamese students
learning the Chinese language: they often misuse idioms, or even
avoid using idioms. This article focuses on indicating errors made
by Chinese-majored students due to wrong or limited use of idioms
in communication, which originate from six angles: the nature of
idioms, influence from the Vietnamese language and culture,
acquired target language knowledge, students’ learning methods,
teachers’ teaching methods and contents for compilling
coursebooks, whereby some recommendations are proposed for
the sake of teaching and learning idioms.
Từ khóa - quán ngữ; sinh viên Việt Nam; nguyên nhân lỗi sai;
giảng dạy; biên soạn giáo trình.
Key words - idioms; Vietnamese students; causes of errors;
teaching; coursebook compilation.
1. Đặt vấn đề
Quán ngữ được xem là một phần quan trọng trong tiếng
Trung, quán ngữ từ ngữ đơn giản dễ dùng, kết cấu cố
định, mang đậm nét của văn nói. Hơn nữa khả năng diễn
đạt của quán ngữ khá phong phú, đa dạng nên được sử dụng
khá rộng rãi trong cuộc sống hàng ngày. Từ những năm 50
của thế kỷ 20, các học giả đã bắt đầu chú ý nghiên cứu về
quán ngữ, nhưng chỉ mới những nghiên cứu liên quan
đến bản chất của quán ngữ mà bỏ qua vấn đề quán ngữ đối
với việc dạy và học, đặc biệt là dạy cho người nước ngoài.
Có thể nói rằng, thế kỷ 20 trở về sau mới chính là giai đoạn
khai của nghiên cứu về lĩnh vực dạy học quán ngữ
tiếng Trung cho người nước ngoài.
Liên quan đến bài nghiên cứu về phương pháp giảng
dạy, phổ biến nhất là nhng bài xuất phát từ việc phân tích
lỗi sai tìm ra nguyên nhân, từ đó đưa ra đối sách trong việc
dạy học quán ngữ tiếng Trung. Những nghiên cứu về
phân tích nguyên nhân lỗi sai trong việc sử dụng quán ngữ
tiếng Trung của người học thể chia thành hai thể loại,
loại thứ nhất cho rằng nguyên nhân lỗi sai do bản chất
của quán ngữ, như Ma Xiaona (2008) đã viết một bài về
“phân tích lỗi sai và đối sách trong việc sử dụng quán ngữ
tiếng Trung của lưu học sinh”. Tác giả chỉ ra rằng lưu học
sinh trong quá trình sử dụng quán ngữ thường phạm lỗi sai,
dnhư, thường không hiểu sắc thái tình cảm của quán
ngữ, sử dụng nghĩa của chữ làm nghĩa của quán ngữ khiến
nghĩa không ràng, ngoài ra còn Wang Yanfang (2009)
trong bài “Lỗi sai về mặt ngữ nghĩa và nguyên nhân khi u
học sinh sử dụng sai quán ngữ”. Loại thứ hai cho rằng
nguyên nhân do những kiến thức của ngôn ngữ mẹ đẻ,
văn hóa của nước nhà, những kiến thức tiếng Trung
1 Lu Jianji. (1987).
外国人学习汉语的词语偏误分析
. 语言教学与研,
sinh viên đã học sẽ khiến cho quá trình sử dụng quán ngữ
của sinh viên xảy ra sai sót, như Lu Qihang (2009) trong
bài “Quán ngữ tiếng Trung trong nghiên cứu dạy hc tiếng
Trung cho người nước ngoài”, Ding Liping (2013) trong
bài “Phân tích lỗi sai của quán ngữ trong việc dạy học
tiếng Trung cho người nước ngoài”.
Trong q trình ging dy ti Khoa Tiếng Trung,
Trường Đại hc Ngoi ng - Đại học Đà Nẵng, tác gi đã
thấy được rng sinh viên khi nói rt hn chế s dng quán
ng tiếng Trung, thm chí n tránh né không dùng, và nếu
có dùng cũng sẽ mc li sai. T đó, tác giả bắt đu nghiên
cu tìm hiu, phân tích nguyên nhân và đưa ra nhng bin
pháp nhằm giúp người hc s dng chun xác hơn, linh
hoạt hơn. Thông qua đó ngưi dy cũng sẽ linh hoạt hơn
trong vic ging dy quán ng tiếng Trung.
Trong bài nghiên cứu này ng chủ yếu xuất phát từ
việc phân tích nguyên nhân, từ đó đưa ra những kiến nghị
trong vấn đdạy học quán ngữ tiếng Trung cho sinh
viên Việt Nam. Nhưng bài báo o bước đột phá mới
khác với những nghiên cứu khác là đã tìm ra được nguyên
nhân của việc sinh viên Việt Nam sử dụng sai hoặc ít sử
dụng quán ngữ tiếng Trung xuất phát từ cả hai loại: do
bản chất của quán ngữ và do nguyên nn chquan từ phía
người học, ngoài ra n phải kể đến phương pháp giảng
dạy của giáo viên và biên soạn giáo trình.
2. Giải quyết vấn đề
Giáo Lu Jianji1 cho rằng: “Theo luận của ngôn
ngữ liên giao, nguyên nhân dẫn đến lỗi sai trong quá trình
thụ đắc ngôn ngữ thứ hai bao gồm: bản chất của ngôn ngữ;
4.
ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 10(131).2018 31
văn hóa ngôn ngữ của tiếng mẹ đẻ; kiến thức về ngôn ngữ
đích người học đã nắm trước đó; thái độ học tập của
người hc; việc giảng dạy của giáo viên cũng nnội dung
biên soạn giáo trình”, báo cáo chủ yếu lấy lý luận này làm
cơ sở nghiên cứu.
2.1. Phương pháp nghiên cứu
2.1.1. Phương pháp thu thập tài liệu
Thông qua việc thu thập các bài nghiên cứu, các luận
văn, các sách tham khảo, từ điển, giáo trình đxác định
phạm vi nghiên cứu của bài viết.
2.1.2. Phương pháp đối chiếu
Vận dụng phương pháp đối chiếu sonh phân tích sự
giống nhau và khác nhau giữa quán ngữ tiếng Việt và quán
ngữ tiếng Trung, từ đó xác định đặc trưng của quán ngữ
tiếng Trung.
2.1.3. Phương pháp tổng hợp phân tích
Thông qua liệu thu thập được tiến hành phân tích
tổng hợp những lỗi sai trong việc sdụng quán ngữ tiếng
Trung của sinh viên Việt Nam, tìm ra nguyên nhân và đưa
ra kiến nghị trong vấn đề dạy và học.
2.2. Nội dung nghiên cứu
2.2.1. Bản chất quán ngữ tiếng Trung
Quán ngữ phần lớn tính cố định, ít thay đổi về mặt
kết cấu. Tuy nhiên, một số quán ngữ bên cạnh tính cố định
còn thể có cả tính linh hoạt, có nghĩa là giữa các từ trong
quán ngữ có thể chen các thành phần khác vào. Như 白日
(Nằm giữa ban ngày) th thêm các thành phn
khác vào 白日做梦, trong quán ng này đã thêm vào
động t ” (làm) mà nghĩa ca quán ng vn không thay
đổi, tương tự còn 打主意 (nghĩ cách)---打谁的
”; 闹笑话 (làm trò cười)---闹出笑话”; 拍马屁
(nnh b)---拍谁的马屁. Ngoài ra, tính linh hot ca
quán ng còn được biu hin vic các t trong quán ng
th thay đi trt t, hơn nữa s thay đổi này li không
tuân theo mt quy lut c th nào. Như “穿小 (gây khó
d) còn th nói thành 谁小鞋穿; 开夜车 (cày
đêm)--- 谁开夜车开到几”; 拖后腿 (cn tr)---
他的后腿. Các t trong quán ngth dùng t khác đ
thay thế, đây cũng là mt trong các biu hin tính linh hot
ca quán ngữ. Như “拖后腿 (cn tr) có th thay động t
bằng động t ”, nói thành 拉后腿”, tương tự
泼冷水 (dội gáo nước lnh)--- 泼凉水; 碰钉子 (gp
phi trc tr)--- 一鼻”. Tính linh hoạt không
theo quy lut ca quán ng đã tr thành chướng ngại đối
với người nước ngoài hc tiếng Trung nói chung sinh
viên Vit Nam hc tiếng Trung nói riêng. Đây có thể đưc
xem mt trong nhng nguyên nhân dẫn đến vic sinh
viên dùng sai quán ng hoc ngại dùng, người hc mun
vn dụng đúng quán ngữ cn phi nh đưc hết các hình
thc biến đổi ca quán ng.
thể nói rằng nghĩa của quán ngữ ph thuộc vào
nghĩa của cả cụm từ, chứ không phụ thuộc vào nghĩa của
từng chữ một trong quán ngữ. Nghĩa của quán ngữ không
thể hiện trên mặt chữ mà ẩn trong cả cụm từ, hơn nữa nghĩa
thực tế của quán ngữ lại hoàn toàn khác xa với nghĩa của
mặt chữ. Như trong quán ng 炒鱿鱼 (b sa thải) thì động
t mang nghĩa “xào”, còn 鱿鱼 có nghĩa “con mực”,
khi sinh viên dịch nghĩa của tng t s không hiểu được rt
cuc quán ng y mang nghĩa gì? Ti sao li có liên quan
đến “bị sa thải”? Nguồn gc ca quán ng này có th gii
thích rằng ngày xưa người m công b ông ch đui s xếp
đồ ca mình cun vào trong tay ni mang theo, hình nh
này ging vi hình nh con mc sau khi b xào nấu cũng s
cun tròn lại, nên nghĩa thực tế ca quán ng này lại là “bị
sa thi, b đui việc”. Hay như 穿小”, động t 穿
nghĩa “mang”, 小鞋nghĩa “giày nhỏ”, vậy liên
quan đến nghĩa thực tế “gây khó dễ” của quán ng?
Bn thân quán ng mang hai tầng ý nghĩa, thông qua các
bin pháp tu t như ẩn d, hoán d mi có th hiểu được ý
nghĩa thực s ca quán ngữ, nhưng sinh viên Vit Nam
trong quá trình tiếp thu quán ng tiếng Trung li không th
hiểu được hết ý nghĩa của , đây cũng là mt trong nhng
nguyên nhân ca vic dùng sai quán ng ca sinh viên.
2.2.2. Sự ảnh hưởng từ nền văn hóa, ngôn ngữ tiếng Việt
Sự ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ chủ yếu xuất phát từ nền
văn hóa, đây được xem nhân tố quan trọng ảnh hưởng
đến việc sinh viên Việt Nam dùng sai quán ngữ tiếng
Trung. Quán ngữ tiếng Trung bao hàm cả một nền lịch sử
văn hóa đồ sộ của người Trung Quốc, ghi chép lại lối
sống, giá trị sống, phong tục tập quán của người dân Trung
Quốc. Điều y khiến cho sinh viên Việt Nam dễ dàng tiếp
thu quán ngữ tiếng Trung và nắm bắt những kiến thức gần
với tiếng mẹ đẻ, nhưng ngược lại chính sự tương đồng này
lại y khó hiểu cho sinh viên. Như trong tiếng Trung, quán
ngữ 白日做梦 cũng hình thức tương ng trong tiếng
Việt “nằm giữa ban ngày” nên sinh viên Việt Nam
rt d hiu vn dụng đúng quán ngữ y, tương tự
开绿灯---“bật đèn xanh”, 交白卷---np giy trắng”;
泼冷水---“dội gáo nước lạnh”; 眼中钉---“gai trong
mắt”... Bên cạnh đó, cũng rt nhiu quán ng tiếng
Trung li hoàn toàn không hình thức tương ng trong
tiếng Vit, như quán ngữ 闭门羹 (b sp ca vào mt)
trong tiếng Vit không hình thức tương ng. Hơn nữa t
lại có nghĩa là “canh”, mà “canh” trong tiếng Vit nói
là “ăn canh” cũng có thể nói là “uống canh”, nên sinh viên
Vit Nam s dùng sai quán ng này, nói thành 喝闭门羹.
Có th thy cùng mt t ng nhưng trong bi cảnh n hóa
khác nhau thì li có hàm ý khác nhau. Vì vy, do bi cnh
văn hóa, sự khác nhau v quan nim sng s dẫn đến vic
khi sinh viên Vit Nam s dng quán ng tiếng Trung s
cm thấy lúng túng, mơ hồ.
Nhưng cũng th nói rng, khi sinh viên Vit Nam
tiếp thu quán ng tuy chu ảnh hưởng ca tiếng m đẻ dn
đến vic hay mc li sai, nhưng do kiến thc tiếng m đẻ
là tiếng Vit li không có s khác bit ln vi tiếng Trung,
hơn nữa do địa lý và lch s nên s nh hưởng ca tiếng m
đẻ không hn là nhân t ảnh hưng ln nht.
2.2.3. Kiến thc v ngôn ng đích người hc đã nắm
trước đó
Quán ng tiếng Trung ch đưc ging dy trình đ
trung cp tr lên, nên trình độ cấp sinh viên hu như
chưa được tiếp xúc vi quán ngữ. Khi được hc quán ng,
32 Trần Nguyễn Ngọc Hương
sinh viên s gặp khó khăn trong việc nm bt và vn dng,
sinh viên s s dng nhng kiến thc v t để gii thích
quán ng không hiu rằng nghĩa của quán ng không
nm nghĩa ca t s dng bin pháp tu t n d,
hoán dụ. Như quán ngữ 开夜(cày đêm), sinh viên đã
hc t 开车 nghĩa “lái xe”, “” có nghĩa “đêm”, vậy
nghĩa của 开夜车sẽ đưc sinh viên hiểu thành “lái xe
đêm”. Tương tự quán ng 拍马屁(nnh b), sinh viên
đã học t nghĩa “dùng tay vỗ, đánh vào vật nào đó”,
马屁nghĩa “mông ngựa”, vậy 拍马屁sẽ đưc
sinh viên hiểu thành “vỗ mông nga”.
2.2.4. Thái đ và phương pháp hc tp của người hc
Để tiếp thu mt kiến thc ca ngôn ng đích, ngoài sự
truyn th kiến thc của giáo viên thì thái độ phương
pháp hc tp của người học cũng đóng một vai trò quan
trng không kém. Quán ng tiếng Trung cũng không ngoại
l, nếu sinh viên không thái đ hc tp nghiêm túc
phương pháp học đúng đắn thì khó th vn dụng được
chính xác quán ng tiếng Trung.
2.2.5. Kh năng và phương pháp truyn th ca giáo viên
Sinh viên Vit Nam hc quán ng tiếng Trung ch yếu
thông qua quá trình hc trên lp, vì vy quá trình dy hc
trên lp mt trong nhng nhân t quan trng, s nh
ng trc tiếp đến quá trình tiếp thu quán ng ca sinh
viên. Nhưng trên thc tế, quá trình truyn th kiến thc v
quán ng tiếng Trung lại không được giáo viên coi trng.
Khi giáo viên ging dy v quán ng thường ch da vào
nhng ni dung giáo trình biên son, không dy đến
nhng kiến thc v ý nghĩa tương cận tương quan của
quán ng, thm chí đôi khi giáo viên s sinh viên không
hiểu nên đã cố ý tránh s dng quán ng dùng nhng
t ng ý nghĩa gần giống để thay thế. Giáo viên làm như
vy tuy có th khiến sinh viên d hiểu bài nhưng li không
li cho việc tích lũy những kiến thc v quán ng ca
sinh viên. Khi giáo viên dy v quán ng 出洋相 thì ch
đơn giản giải thích nghĩa của quán ng “làm trò i;
làm trò hề” không giới thiu sc thái tình cm ca
(nghĩa xấu, nghĩa tốt hay trung tính). Trong giáo trình tuy
đã đưa ra năm dụ ca quán ng y, nhưng nếu giáo viên
không phân tích k thành phn câu cho sinh viên, thì sinh
viên rt d quên đi cách dùng. Tương tự nvậy, đối vi
quán ng 大块头”, giáo viên cũng chỉ da vào giáo trình
gii thích mt ch sài v ý nghĩa ca quán ng
“người thân th cao lớn, hơi mập” b qua sc thái
tình cm, t loi, kết cu ca quán ng này. Bên cnh đó,
đôi khi giáo viên cũng giảng gii v nghĩa ng của quán
ng cho sinh viên nhưng li b qua nhng kiến thc v ni
hàm văn hóa liên quan, làm nvậy s dẫn đến vic sinh
viên s không hiu hết được ý nghĩa ca quán ng, thm
chí không nm được cách dùng ca quán ng. d như,
khi giáo viên ging gii v quán ng 炒鱿鱼”, thì lại gii
thích nghĩa của tng t ”, “鱿鱼trước rồi sau đó mới
giải thích nghĩa bóng “bị sa thải” của nó. Nhưng lại không
h ging gii nội hàm văn hóa, ngun gc ca quán ng,
dẫn đến vic sinh viên d quên đi ý nghĩa và cách dùng. Có
th thy rng, giáo viên khi ging gii v quán ng thường
gặp đâu giảng đó thiếu đi sự gii thích mt cách
h thng, t đó nh hưởng không nh đến s tiếp thu ca
sinh viên v kiến thc quán ng.
2.2.6. Giáo trình biên son không c th, rõ ràng
Khi đọc mt cun giáo trình dành cho sinh viên t năm
th nhất đến năm thứ có th thy rng, quán ng không
đưc chú trng nhiu. Phải đến năm thứ ba sinh viên mi
bắt đầu được tiếp cn mt vài quán ngữ, nhưng li thông
qua bài khóa ch không phi trong phn gii thích t mi,
nếu có thì ch giải thích sơ sài về ý nghĩa, không nhắc đến
kết cu ng pháp, t loi, thm chí c trường hp vn
dng ca quán ng. d trong cuốn giáo trình 发展汉
语:中级汉语(下)”, trong các bài khóa xuất hin rt
nhiu quán ngữ, nhưng phn t mi li không thy gii
thiệu, như “人见人爱(ai nhìn cũng thích), 拍桌子p
bàn đập ghế). Hay như trong giáo trình “发展汉语:高级
汉语(下)”, 翻白眼(hai mắt trắng dã) cũng chỉ xut
hin trong bài khóa mà không thy gii thích cho sinh viên
ý nghĩa, cách dùng. Cũng một s quán ng tuy đã xuất
hin trong phn gii thiu t mới nhưng lại dùng tiếng Anh
để gii thích mt cách rất sài, thm chí là gii thích sai.
Như quán ngữ 守财奴 (nô l của đồng tin) đưc gii
thích bng tiếng Anh là “miser” (người keo kit, bn xn);
败家子(phá gia chi t) đưc gii thích bng tiếng Anh
spendthrift; black sheep (người ăn tiêu hoang phí;
những đứa tr khác bit trong gia đình). Tác gi Liu Xun
cho rằng: “Trình độ cao thp ca giáo trình không ch phn
ánh độ chuyên sâu ca nghiên cu giáo hc pháp và lý lun
giáo dc, còn quyết định hiu qu ca vic dy
học”. Từ quan điểm y th thy rng, nguyên nhân ch
yếu ca vic biên son giáo trình thiếu s coi trng quán
ng do tính phiến din, ch chú trng v mt ng nghĩa
ch viết mà thiếu đi sự coi trng v mt khu ngữ, điều y
cũng ảnh hưởng đến vic dy và hc ca giáo viên và sinh
viên.
3. Kết quả nghiên cứu và bình luận
Người hc trong quá trình tiếp thu quán ngữ tiếng
Trung mắc phải lỗi sai điều không thể tránh khỏi, hơn
nữa, việc này sẽ xảy ra thường xuyên trong quá trình tiếp
thu. Có thể thấy rằng nguyên nhân dẫn đến lỗi sai này chủ
yếu do nhân tố dạy học, thông qua bài viết thể giúp
cho giáo viên và sinh viên có phương pháp dạy và học hợp
lý hơn, giảm bớt số lần mắc lỗi sai của sinh viên, đồng thời
nâng cao trình độ tiếp thu quán ngữ của sinh viên.
3.1. Phương pháp giảng dạy của giáo viên
Giáo viên trong quá trình giảng bài trên lớp nên chú
trọng giảng ít luyện nhiều, chỉ truyền thụ những kiến thức
quan trọng nhất, cần thiết nhất cho sinh viên nhưng vẫn
khái quát được kiến thức bản của quán ngữ. dụ, khi
giảng giải về quán ngữ “爱面子”, giáo viên cần chú ý đến
nghĩa “sĩ diện hão”, cũng như sắc thái tình cảm (nghĩa xấu)
kết cấu ngữ pháp (động tân), từ loại (động từ m vị ngữ)
của nó. Sinh viên sau khi nắm được kiến thức của quán ngữ
này, giáo viên cần kịp thời đưa ra các bài tập củng cố, nâng
cao cho sinh viên. dụ, khi giảng giải xong về quán ngữ
爱面子”, giáo viên thể yêu cầu sinh viên dùng 爱面
để hoàn thành câu: ______________而故意说那
ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 10(131).2018 33
些话。” (Anh ta _________ nên cố ý nói ra những lời đó).
Sinh viên sau khi luyn tp xong, giáo viên th đưa ra
yêu cu cao hơn, như yêu cầu sinh viên đặt câu với 爱面
”. Trên lớp, giáo viên cũng nên để sinh viên ch động
trong quá trình dy hc, nên khuyến khích tinh thn t hc
ca sinh viên bằng cách đặt câu hi và yêu cu sinh viên s
dng nhng kiến thc va hc để tr li câu hi. Ngoài ra
giáo viên cũng thể thông qua việc đưa ra những ng
cnh c th để sinh viên th vn dng nhng quán ng
va hc. quán ng đa dng, ng nghĩa phức tp li
nội hàm văn hóa phong phú, do đó, khi dy hc giáo viên
nên s dng nhiu kiểu phương pháp giảng dy. Mi
phương pháp đều có ưu và nhược điểm riêng, giáo viên có
th da vào kh năng tiếp thu, trình độ kiến thc, ni dung
bài học đ vn dng. Các loại phương pháp y thể dùng
độc lp, hoặc cũng có th kết hp với nhau đ phát huy hơn
na hiu qu ca chúng. C th như:
3.1.1. Phương pháp giảng gii kiến thc liên quan
d như khi giảng gii quán ng 出洋相thì trước
tiên phi làm cho sinh viên hiểu được nghĩa của t 洋相”.
洋相” là chỉ ng mo của người phương Tây, ch hình
dáng k l không th tin được, trước đây người Trung Quc
nghĩ rằng người phương Tây đều là do mèo, chó và các loi
động vật khác đu thai thành ch không phải do người đầu
thai cho nên b ngoài của người phương Tây rất k quái,
rt xu xí. Ging giải nthế sinh viên s d hình dung
đưc quán ng 出洋相” dùng để ch những người hình
dng, c ch xu b ngưi khác cười chê, t đó nghĩa
bóng ch nhng người hành động không bình thường,
khác với thường ngày khiến cho người khác cm thy hài
c mà bật cười.
3.1.2. Phương pháp giảng dạy trực quan
Giáo viên th s dng các giáo c trực quan để sinh
viên th cm nhn được chính c, kích thích s hng thú
thái độ tích cc ca sinh viên, ví d như: tranh nh, hin
vt, phim hot hình, bng viết, đon phim ngắn. Nhưng trong
quá trình la chn giáo c trc quan giáo viên cần cý đến
ba nguyên tc: hình thc để phc v cho ni dung, ngn
gn mà súc tích, cần được h thng hóa mt cách logic.
d: khi ging gii v quán ng 冰山一角”, giáo viên có
th đưa ra hìnhnh mt c ca tảng băng nổi phía dưới
phn ln tảng băng đang chìm, từ đó giáo viên dẫn dt
sinh viên đi từ nghĩa đen đến nghĩa bóng của quán ng, giúp
sinh viên d dàng hiu đưc và nh lâu hơn.
3.1.3. Phương pháp dựo li
Giáo viên trong quá trình ging dy s thường xuyên phát
hiện được li sai ca sinh viên, t đó ch lũy được mt s
kinh nghim ging dy. Nên khi dy v quán ng có th tn
dng nhng kinh nghim này để nhc sinh viên v nhng li
sai d mc phi. d, khi dy quán ng 有两下子 (có
bản lĩnh), giáo viên cần nhn mạnh ý nghĩa ch “có bản lĩnh
hoc biện pháp”, thường dùng để ch ngưi khác, giáo
viên cn nhc sinh viên v hình thc ph định ca quán ng
này, th nói 我哪有这/那两下子 (tôi làm được
bản lĩnh này), 我没有这/那两下子 (tôi làm được
bản lĩnh này). Còn đối vi quán ng 半边天(nửa thế gii),
giáo viên cn nhn mnh vi sinh viên, quán ng y ch
dùng để nói v địa v ca n gii, không được dùng để ch
nam gii.
3.1.4. Phương pháp đối chiếu so sánh vi tiếng Vit
Giáo viên th tiến hành so sánh đối chiếu quán ng
ca tiếng Trung vi các hình thức tương đương trong tiếng
Vit, giúp cho sinh viên d dàng hình dung hơn về ý nghĩa
ca quán ngữ, cũng như cách s dng. Ví d, quán ng
汗钱, trong tiếng Việt cũng có cách nói tương t “đồng
tiền xương máu, đồng tin m hôi nước mt”, quán ng
手起家 trong tiếng Việt “tay trng dựng đồ”, giống
nhau c v mt t nghĩa. Nhưng cũng một s quán
ng v mặt ý nghĩa thì giống nhau, v t ng li hoàn toàn
khác nhau, ví d 吹牛皮” hình thức tương ng trong tiếng
Việt là “nói khoác, chém gió”, trong tiếng Trung dùng nh
ảnh (thổi phng) 牛皮(da bò), tiếng Vit li dùng
“chém” “gió”.
3.2. Biên soạn giáo trình
Vic biên son giáo trình nên chú trọng đến tính thc
dng tính phc tp ca quán ng. Sinh viên ch yếu
trình độ trung cao cp mi tiếp cn nhiu vi quán ng,
trình độ này sinh viên đã hiểu biết cơ bản v quán ng,
các bài khóa trong giáo trình nên s dng quán ng mt
độ dày hơn. Quán ngữ ng một đơn vị t vng trong
tiếng Trung, vì vy quán ng nên xut hin phn t mi
ca mi bài khóa, không nhng gii thích v mt nghĩa mà
cn b sung thêm phn t loi, sc thái tình cm, các loi
t đi kèm cho một vài dụ. Ngoài ra giáo trình cũng
cần chú ý đến đ khó ca quán ng, cần đi từ d đến khó,
s dng quán ng thông dng d hiu, gần gũi với cuc
sng. Ví d:
摆架子 có kết cấu động tân, có nghĩa “tự cao, t đại,
ra v ta đây”, mang nghĩa xấu, cách dùng:
A. Là quán ng mang tính c định, không th chen vào
các thành phn khác. th làm v ng, tính cht ca
một động từ, phía trước thường thêm trng ng. Ví d:
(1)
他是个势利鬼,经常摆架子。
(Anh ta kiu
ngưi thy sang bt quàng làm họ, thường xuyên ra v ta
đây)
(2)
他和群众打成一片,从来不摆架子。
(Anh y
luôn hòa đồng vi mọi người, chưa bao giờ t v ta đây)
(3)
我受不了小明,他老摆架子,因为他自以为比
别人好。
(Tôi chng thích Tiu Minh chút nào, anh ta lúc
nào cũng t v ta đây)
B. Là một động t không th trc tiếp mang tân ng, d:
(1)
你听着,王丽,别跟我摆架子。
(Vương Lệ,
hãy nghe đây, đừng bao gi ra v ta đây với tôi)
(2)
她最好不要对我摆架子,我不喜欢那一套。
(Cô
ta tt nhất đừng t v ta đây với tôi, tôi không thích kiu
người như vậy)
C. ” có thể đưc lp li, ví d:
(1)
别理他们,他们不过是摆摆架子罢了。
ng
để ý đến bn h, bn h chng qua ch ra v ta đây thôi)
(2)
只要她摆摆架子,做一个权威的手势就能使任
何人在她面前屈服。
(Ch cn ta đừng quá t cao, t
34 Trần Nguyễn Ngọc Hương
đại thì ch cn vi quyn lực trong tay ta đã th
khiến người khác chu khut phc ri)
D. Đôi khi có thể làm tân ng, đnh ng
(1)
我不
照顾我。
(Tôi không thích i kiu t cao, t đại, ng
không thích bắt người khác quan tâm i quá mc) (Tân
ng)
(2)
(Đó kiểu người nho nhã l phép, ch không phi kiu
ngưi t v ta đây) nh ng)
Bên cạnh đó, giáo trình cần chú trng ging dy nghĩa
cách ng ca quán ng, chú ý b sung lượng bài tp
liên quan. Bài tp không nhng giúp sinh viên cng c, ôn
tp li phn kiến thc va hc mà còn giúp giáo viên hiu
rõ mức độ tiếp thu ca sinh viên v kiến thc va hc, phát
hiện được nhng kiến thc thiếu hụt để kp thi b sung.
Bài tp v quán ng không nhng yêu cu v s ng
còn cn c v hiu qu. Bài tp ch yếu s dng các hình
thức như: chọn t đin ch trng; tr li u hi; dùng quán
ng đặt câu; vn dng hi thoi...
4. Kết luận
Quán ngữ tiếng Trung phần không thể thiếu trong
cuộc sống giao tiếp thường ngày, phản ánh quan điểm,
duy sống của người Trung Quốc. Do ngữ nghĩa, hình
thức phức tạp của quán ngữ, cũng như do ảnh hưởng của
ngôn ngữ mẹ đẻ và các nhân tố trong quá trình dạy học đã
dẫn đến việc sinh viên Việt Nam hay dùng sai quán ngữ.
Để khắc phục tình trạng này, không những đòi hỏi giáo
viên cần chú ý hơn về phương pháp cũng như nội dụng
giảng dạy của mình, ngay cả bản thân sinh viên cũng
cần linh hoạt, chủ động hơn trong quá trình tiếp thu quán
ngữ. Bên cạnh đó, việc biên soạn giáo trình cũng cần
những bổ sung hợp lý, hiệu quả hơn về mặt giải thích cũng
như phần bài tập.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] 刘洵,
对外汉语教育学引论
Dn lun giáo dc hc Hán ng cho
người nước ngoài, 北京: 北京语言大学出版社, 2000.
[2] 钱理,
现代汉语惯用语研究
Nghiên cu quán ng tiếng Trung hin
đại, 苏州大学硕士学位论文, 2005.
[3] 温端政,
中国惯用语大全
Bách khoa toàn thư quán ng tiếng
Trung, 上海: 上海辞书出版社, 2005.
[4] 吕霁航,
现代汉语惯用语研究及对外汉语教
Nghiên cu quán
ng hiện đại và ging dy Hán ng cho người nước ngoài, 东北师
范大学硕士学位论文, 2009.
[5] 丁丽萍,
惯用语在对外汉语教学中的偏误分析
Phân tích li sai
trong quá trình ging dy quán ng tiếng Trung cho người nước
ngoài, 西北师范大学硕士学位论, 2013.
[6] 言佳佳,
基于对外汉语教学的惯用语研究
Nghiên cu quán ng
trong vic dy tiếng Trung cho người nước ngoài, 南京师范大学硕
士学位论文, 2013.
[7] ,
惯用语在对外汉语教学中的难点与应对策略
Khó
khăn phương pháp khc phc trong vic dy hc quán ng
tiếng Trung cho người nước ngoài,
语言文字应
, 2, 2006.
[8] 马晓娜,
留学生使用汉语惯用语的偏误分析及对策
Phân tích
lỗi sai và sách lược khc phc trong vic lưu hc sinh s dng quán
ng tiếng Trung,
淮北煤炭师范学院学报
, 2, 2008.
[9] 王艳芳,
留学生运用惯用语的语义偏误及成因
Nhng li sai
v mt ng nghĩa khi sinh viên vận dng quán ng và nguyên nhân,
理论界
, 6, 2009.
[10] 谭宏,
汉语惯用语特征分析与对外汉语教学
Phân tích những
đặc trưng của quán ng tiếng Trung và vấn đề dy tiếng Trung cho
người nước ngoài,
齐齐哈尔师范专科学校学报
, 1,
2009.
[11] 吴青,
浅议语境理论在对外汉语惯用语教学中的运用
c v vic vn dng lun ng cnh trong ging dy quán ng
tiếng Trung cho nời nước ngoài,
科技致富向
,第 29 , 2011.
[12] 李莉,
惯用语的特征和对对外汉语的启示
” Đặc trưng ca quán
ng và nhng gi ý v ging dy tiếng Trung cho người nước ngoài,
语文学刊
,第 15 , 2011.
(BBT nhận bài: 08/10/2018, hoàn tất thủ tục phản biện: 25/10/2018)