96
PHÂN TÍCH NHỮNG RỦI RO VÀ HẠN CHCA MÔ HÌNH LUÂN
CANH TÔM LÚA ĐANG ÁP DỤNG TRÊN VÙNG BÁN ĐẢO CÀ MAU
ANALYSIS OF RISKS AND BOTTLENECKS OF RICE-SHRIMP FARMING SYSTEM
CURRENTLY PRACTISED IN CA MAU PENINSULA
Nguyễn Công Thành1*; Nguyễn Văn Hảo2; Lê Xuân Sinh3 & Đặng Thị Phượng3
1 Phân Vin Nghiên Cứu Thuỷ Sn Minh Hi
2 Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thuỷ Sản II
3 Khoa Thy sản - Đại học Cần Thơ
Email: ncthanh444789@yahoo.com
ABSTRACT
This study was conducted from May to November 2011 aiming to analyze the current
status of rice-shrimp farming system in coastal districts of three provinces: Bac Lieu, Ca Mau
and Kien Giang through interviewing 170 rice-shrimp farmers. The results showed that the
average yield of cultured shrimp was 172.82 kg/ha/crop with a total cost of 17.3 million
VND/ha/crop and a total income from aquaculture of 37.2 million VND/ha/crop (cultured
shrimp accounted for 69.1%), brought about a profit of 19.88 million VND/ha/crop and
77.65% of farms obtained positive profit. The average yield of rice was 1.21 tons/ha/crop
with 36.7% of farms had total loss while the total production cost for rice was 8.14 million
VND/ha/crop that provided a profit of 0.44 million VND and 40.29% of farms gained
positive profit. Overall, from 139 farms with enough data for both shrimp and rice, the
whole system of rice-shrimp farming helped to produced 181.8 kg of shrimp and 848.5 kg
of rice per ha per year while cultured shrimp shared 75.40% of total production cost and made
up 97.44% of total profit. Major difficulties for shrimp cultured included: (1) difficulties in
water management; (2) diseases; and (3) shrimp seed quality. For difficulties of rice were:
(1) soil salinity; (2) rice low resistance of seed to salinity and diseases; and (3) irrigation for
rice strongly depended on weather. Main solutions consisted of: (1) more technical trainings
on both shrimp and rice; (2) better supply and use of high quality shrimp/rice seed; (3)
improvement of the linkages/cooperation among the farmers; and (4) better preparation of
pond/field before stocking post larvae or spreading/tranplanting of rice seed.
Key words: Cost, profit, rice - shrimp, salinity, yield.
TÓM TẮT
Nghiên cứu y được thực hiện từ tháng 05 đến 11/2011 thông qua khảo sát 170 hộ
nhằm phân ch hiện trạng kỹ thuật và kinh tế-xã hội của hình sn xut Tôm - Lúa (T-
L) các huyn giáp biển của ba tỉnh Bạc Liêu, Mau Kiên Giang. Kết qu cho thấy
năng suấtm nuôi đạt 172,82 kg/ha/vụ vi tổng chi phí trung bình 17,3 tr.đ/ha/v, thu nhập
tthủy sản đạt 37,2 tr.đ/ha/v (tôm nuôi chiếm 69,1%), mang lợi nhuận đạt 19,88 tr.đ/ha/vụ
77,65% shộ lời từ thủy sản. Năng suất lúa trung bình đạt 1,21 tấn/ha gieo s/v với
t lệ thất mùa ti 36,7% trong khi tng chi psản xuất lúa bình quân 8,14 tr.đ/ha/v, đạt
li nhuận khong 0,44 tr.đ/ha/vụ và ch có 40,29% số hộ lời. Tổng hp toàn hình T-L
vi 139 hộ đy đủ thông tin cho thy: bình quân mi ha hằng năm thu đưc 181,8 kg tôm
và 848,5 kg lúa. Nuôi tôm cần tới 75,40% tổng chi phí sản xuất, mang lại 82,05% tổng thu
nhập và 97,44% tổng lợi nhuận của toàn mô hình T-L . Khó khăn chính đối vi tôm nuôi
trong mô nh y : (1) khó qun nước; (2) dịch bệnh nhiều; và (3) cht lưng m
giống chưa đảm bảo yêu cầu. Đối với lúa, c trngại chính gm: (1) đt nhiễm mặn; (2)
sức chịu mặn và kháng bnh chưa tốt của các loi ging a; và (3) nguồn nước tưới cho lúa
còn ph thuộc nhiều thời tiết. Những gii pháp cơ bản được quan tâm gm có: (1) tăng cường
tập huấn kỹ thuật nuôim và trng lúa; (2) cung cấp và sử dụng giống tôm/lúa có chất lượng
97
tt hơn; (3) tăng cường s liên kết/hợp tác gia các hsản xuất; và (4) làm tt hơn nữa khâu
cải tạo ruộng/ao trước khi xung/th ging.
Từ khóa: Chi phí, độ mặn, li nhuận, năng suất, tôm - lúa.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đồng bng sông Cửu Long được xem là vựa a va thy sản của cả nước; là một
trong những nơi sản sinh ra những mô hình nông nghiệp kết hợp luân canh với các đối tượng
ni thu sản khác nhau. Năm 2010, ĐBSCL có 558.74 ha ni tôm mặn lợ, trong đó mô hình
luân canh Tôm lúa (T-L) chiếm khoảng 25% (SNN&PTNT các tỉnh ĐBSCL, 2011). Tổng
diện tích T-L ĐBSCL biến động nhiều qua các năm do tình hình th trường tiêu th tôm, lúa,
dịch bệnh trên tôm cũng như thi tiết hăng năm. Tuy nhiên, hiện nay chưa mô hình nghiên
cu cụ thể nào vcác bộ ging lúa có khả năng thích ứng với các vùng sinh thái nhiễm mặn,
nhiễm phèn chuyên biệt và c giải pp thiết kế, canh tác nuôi m nhằm ổn định năng suất và
sn lượng tôm và lúa cho tng vùng sinh thái chuyên biệt khác nhau của vùng bán đo Cà Mau.
Chuyên đđiều tra, đánh giá Hiện trạng kỹ thuật kinh tế - hi của hình luân
canh T-L các huyn gp biển ng bán đảo Cà Mau” được xem là ớc đệm, là sở d
liệu ban đu để xác đnh được nhng rủi ro, hạn chế của mô hình luân canh Tôm-Lúa đang
đuợc áp dụng hiện nay đxuất các giải pp hoàn thiện theo hướng thiết kế lại hệ thống
nuôi cho phợp với sinh m nuôi, an toàn sinh học, giảm rủi ro trong sản xuất đảm
bảo ngun nước ngọt cho canh tác lúa, cân bằng diện tích trồng lúa vào mùa mưa, và hướng
tới khai thác tính bền vững của mô hình địa bàn nghiên cu và mở rộng cho toàn ĐBSCL.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu y được thực hiện từ tháng 5 ti tháng 11/2011 tại các địa bàn huyện
Đông Hải - tnh Bc Liêu, huyện Cái Nước - tỉnh Cà Mau huyn An Biên - tỉnh Kiên
Giang. Đây nhng nơi đã và đang gặp nhiều bất lợi hơn so vi những địa bàn khác trong
cùng tỉnh. S liệu thứ cấp liên quan tới nh T-L được thu thập t các sở, phòng
NN&PTNT ca các tỉnh nghiên cứu các trường viện trong vùng. Sliệu cấp được thu
thông qua việc sử dụng bảng phng vấn được soạn sẵn đ phỏng vấn trực tiếp 170 hsản xuất
T-L (Kiên Giang: 57 hộ; Cà Mau: 53 hvà Bạc Liêu: 60 hộ).
Sliệu đưc mã hóa nhập o máy nh, sau đó được kiểm tra và tính toán các ch
tiêu cần thiết thông qua việc sử dụng phần mềm SPSS for Windows và Microsoft Excel. Kết
qu nghiên cứu được trình bày chyếu dưới dạng thống kê tcác đặc điểm chung của
nông hộ và các chỉ tiêu kinh tế-k thuật ch yếu của mô hình T-L, sdụng kết hợp trung bình
và đ lệch chuẩn với tần suất và phần trăm. Thống kê nhiều chọn la và phân tích bng chéo
được áp dụng cho pn tích nhận thức của nông dân.
Phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính đa biến đượcng để phân tích mối quan hệ
cùng một lúc của các biến độc lập (Xi) được giả định ảnh hưởng đối vi biến ph thuộc Y
(năng suất tôm/ha/vụ năng suất a/ha/vụ của hình) (Lê Xuân Sinh, 2010). c yếu tố
đồng thời ảnh hưởng mức ý nghĩa thống kê trong hình hồi quy đa biến sau đó
được phân tích chi tiết hơn đcó những kết luận và đxuất hợp lý. Với a là hằng s và Bn
hsố tương quan tương ng của từng Xn ε là sai sước lượng thì mô hình hồi quy tuyến
tính đa biến có dng sau:
Y = Ai + B1.X1 + B2.X2 + .…+ Bn.Xn + ε
Cuối cùng, phân tích SWOT được sử dụng đgiúp xác định các điểm mạnh, yếu, cơ
hi và mi nguy của mô hình T-L ở đa bàn nghiên cứu nhm đ xuất các giải pp phợp.
KẾT QUẢ VÀ THO LUẬN
Thông tin chung về nông hộ canh tác Tôm-Lúa
98
Kinh nghiệm ca người dân trong canh tác hình T-L dao động lớn t1-11 năm,
nhưng trung bình tương đương giữa các tỉnh (7,07±2,90 năm). tới 61,74% trong số họ
tham dcác lớp tập huấn về NTTS/nuôi tôm, trong đó số trình đtrung cấp về NTTS
2,56%. n lại tới 41,67% không chuyên n vNTTS (kcả không tham gia bất cứ tập
huấn nào về nuôim hoặc canh tcá T-L), t lnày rất cao Bạc Liêu và Kiên Giang.
Mi hộ tng din tích đất trung bình 19.230±11.738 m2, nh nhất là 2.300 m2 và
ln nhất là 21.561 m2 đều Kiên Giang. Trong đó, diện ch trung bình ca khu vc canh
c T-L là 15.957±10.066 m2 chiếm 82,98% tng diện tích đất của hộ, nh nhất là 11.830 m2
Bạc Liêu ln nhất là 60.000 m2 Kiên Giang. Trung bình mt h 1,61 ao/ruộng
thc hiện hình T-L chyếu 1 ao/vuông canh c T-L (57,06%), Kiên Giang t lệ 1
ao cao hơn, trong khi số hộ 2 ao là 31,18%. Ch1,18% số hộ tới 5 ao, số hộ 4-5
ao ch thấy hiện diện Bạc Liêu Mau. Vthiết kế, diện tích trng chiếm 71,85% và
phần còn li ơng chứa nước (28,15%). T lệ mương chứa trung bình đều khá lớn Cà
Mau Bạc Liêu (32-33%) trong khi Kiên Giang ch22,5%. Mương chứa nước ch
yếu là dạng mương bao xung quanh rung (77,65% s hộ), còn lại các trường hợp x
thêm một số đường mương trong ruộng.
Hiện trạng nuôi tôm trong mô hình Tôm-Lúa năm 2011
Ci tạo ao/vuông nuôi tôm
Thi gian cần thiết để ci tạo ao/rung nuôi tôm trước khi thả tôm ging trong mô
hình luân canh T-L là 2-3 tun, tp trung vào khoảng cui tháng 10 tới tháng 12. Cũng có một
shộ thực hiện việc sên vét/tu sửa bổ sung vào dịp tháng 7-8, kết hợp với cải tạo đất cho vụ
lúa.
Khong 76,2% số hộ định kng giới đtu sửa lại b bao; 96,5% thực
hin việc sên vét sình bùn. 65,9% s hộ đưa mt phần sình bùn lên b; 28,1% rải
nh bùn n trảng. Nhưng vẫn còn 2,4% shộ bơm sình bùn t sên t ơng/ao đ ra
ng/rch ng cộng. Lê Quang Trí, Võ Th Gương & Nguyn Hữu Kiệt (2009) đã lưu ý việc
chất lượng đất bị thoái hóa khi canh tác kết hợp T-L.
Chcó 8,9% số h cho rằng họ không khó khăn gì trong khâu cải tạo ao/ruộng cho
nuôi m. Ba khó khăn bản trong khâu này gm (1) Thiếu vn cho cải tạo với 23,76% s
h; (2) Khó vận chuyn vật với 16,83% và (3) Thiếu lao động với 10,89%; cũng cần chú ý
tới sự gia tăng giá vật tư/vật liệu nói chung (9,90%).
Tôm ging
Tôm giống thnuôi ch yếu nguồn gốc từ các trại SXG địa phương (60,59%);
Ch 9,41% số hộ mua m giống đã được ương từ hầm đất. 36,47% s người nuôi
không quan tâm kiểm tra chất lượng tôm giống. 50,59% s người nuôi dựa vào cảm quan;
trong khi sốc độ mặn và sốc formarlin chỉ được 6,47% và 0,59% số hộ áp dụng.
Mật độm giống thả nuôi lần đầu trung bình 5,14 con/m2, thưa nhất là Cà Mau với 3,55
con/m2 dày nhất Kiên Giang (7,88 con/m2) trong khi Bạc Liêu 3,96 con/m2. Trung
bình trong một v nuôi các hộ thả m giống 4,06 lần, ít nhất Kiên Giang với 3,54 ln và
nhiều nhất ở Bạc Liêu với 4,90 lần.
Cua giống được thbsung bởi 100% số hộ Kiên Giang, trong khi 50-60% s h
hai tỉnh kia thả bsung cua giống và s hộ còn lại thả nuôi ghép ctôm, cua và cá. Trong
khâu cung cấp và th m giống, các khó khăn bản người nuôi quan tâm là: (i) Cht
ng tôm ging kém (45,93%); (ii) Tôm ging không ngun gc (16,30%) và (iii) Không
kim dch/không rõ chất lượng tôm ging (11,85%). Ngi ra, thiếu tin mua tôm ging cũng
là khó khăn cho 7,1% số h.
Tuy nhiên, 11,25% s hộ không giải pháp gì vi m giống, trong khi hai giải
pháp bn Nhà nước/ban ngành cần h trkhâu kiểm dịch m giống (66,25%) và chn
99
nơi cung cấp giống uy n (7,50%). Vic thêm trm kiểm dịch được đề xuất bởi 3,75%
shộ vì hiện nay h phải đi khá xa đ thể kim dch tôm giống. Ngoài ra, mua thiếu m
giống và chọn bắt tôm giống đều cỡ hơn cũng được quan tâm bởi 5,0% và 2,5% sh.
Nguồn nước và qun nước trong nuôi tôm
20.86% s h ly c cho nuôi m t kinh thy li nội đồng; 63.19% t
kinh/rch t nhiên và còn li 15.95% là trc tiếp t các sông chính.
Nước ng cho v nuôi m độ mn thay đi theo thi gian trong năm. Trong vụ
nuôi, độ mn bình quân 3,0%; thp nht th 1,5% lúc mn nht lên ti 4,5% vào
tháng 2-3.
Mực nước bình quân trong mương 116.47±18.12 cm, trong đó trên trng khong
37.8±11.9 cm. Đáng quan tâm là khoảng 62% s hthay nước không s dụng i/lưới lc
hoc ao lng và ch có 4,9% s h s dng ao lng.
92,4% s h thc hin vic dit tp, ch yếu bng dây thuc (59,5%)
Saponin (32,9%), hiu qu dit tạp cao đối vi 86,7% s h s dng. 30,6% s h dit
khuẩn, nhưng hiệu qu dit khun ch tt vi 71,3% s h. Trong s các h s dng thuc dit
khun thì Decis 25,5%; thuốc tím và BCK đu23,5%. Ch có khong 6% s h nuôi tôm áp
dng vic diệt giápc, trong đó 40% sử dng Chlorine.
Ch 3% s hnuôi m không thay nước (Kiên Giang và Mau), trong khi vic
tn dng thy triều là 44% và bơm là 18,7%, các h còn li áp dng c thy triều và bơm. Tần
suất thay c theo mi con c tng 3,9±1,9 ny vi t l thay 30,4±14,6%/ln.
Theo người dân thì việc thay nước được thc hiện là do: (i) Tôm chm ln cn thay nước đ
tôm khe/mau lt xác (10,6%); (ii) c trong ao/rung xu (16,25%); (iii) Thy c tt thì
thay (48,75%); (iv) Nước trong ao/rung bi cn (12,50%). Cần lưu ý rng ti 62,5% s h
phn nh vic ao/rung b mi/thm lu vi mức bay hơi/thẩm lu khong 2,2±2,6 cm/ny.
Bnh và phòng trị bệnh trên tôm nuôi
2,44% s h không quan tâm tới việc theo dõi sức khỏe tôm nuôi, trong khi
59,15% theo i cban ngày ban đêm; số còn lại tuy quan tâm nhưng không tng
xuyên. Bnh đóm trắng, bệnh đu vàng, bệnh đỏ thân, bệnh đen mang/đóng rong và bệnh gan
ty, là nhng loi bệnh mà ngưi nuôi tôm nhận biết được thì đu có t lệ xuất hiện trên 40%
s h.
Với tất cả các loại bệnh y, người nuôi đu nhấn mạnh tới 3 nguyên nhân chính là:
giống, nguồn nước và thời tiết. Tuy nhiên, để phòng tr bệnh m thì người nuôi thường gặp
phải một số khó khăn như: (i) Thiếu kiến thức phòng trị bệnh; (ii) Chất lượng tôm giống chưa
đảm bảo; (iii) Ngun nước xấu; (iv) thuốc không đảm bo về chất ng; (v) thời tiết không
ổn định; và (vi) Chí phí phòng trị bnh tôm khá tốn kém.
Để phòng trcác loại bệnh trên tôm, tới 15,38-22,9% sh không động thái gì.
Sh còn lại chủ yếu có các gii pháp như sau: (i) nếu nhẹ thì thay nước và vớt tôm chết; (ii)
nếu khá nặng mà m thbán được thì h thay nước và thu hoạch sớm; (iii) nếu khá nặng
tôm còn nh thì h dùng thuốc rồi xả bhoặc chỉ đơn gin là xbỏ. Nhưng nhìn chung,
các hộ cho biết: chưa có giải pháp nào mang lại hiệu qu đáng kể.
Thu hoạch tôm nuôi
Tôm nuôi được thu hoạch lần đầu khong 99,7±21,6 ngày sau khi thging, chủ yếu
là 3-4 tháng sau thging. Kích cỡ bình quân tôm thu hoạch khoảng 30-40 con/kg. Sn ợng
tôm thu hoạch bình quân đạt 257,1±259,6 kg/hộ/v, tương đương với mức ng suất trung
bình khong 172,8±157,1 kg/ha/vụ; cao nhất là Kiên Giang vi 237,0 kg/ha/vụ và thấp nhất
Bạc Liêu với 116,6 kg/ha/vụ. Gbán bình quân m nuôi khoảng 146,4 ngàn đ/kg với
cua 147,1 ngàn đ/kg, nhưng giá bán bình quân ch là 30,6 ngàn đ/kg. th thy rng
100
năng sut tôm nuôi tương đương vi c nghiên cu trước đây v mô hình T-L (S
NN&PTNT các tnh ven bin ĐBSCL, 2009 và 2010).
Năng suất cua thu hoạch được từ hình T-L bình quân là 74,1±80,5 kg/ha/v và
230,5±329,2 kg/ha/vụ. Cả hai đối ợng này đều năng suất rất biến động giữa các địa
bàn và giữa các hộ ng địa bàn (cao hơn Kiên Giang). Vic đa dng loài nuôi cũng được
xem gii pháp gim ri ro trong NTTS, nht vi cua bin (Lê Xuân Sinh, 2009; Hoàng
Văn Long, 2011).
Các chỉ tiêu tài chính chủ yếu trong nuôi tôm
Tổng chi phí cho nuôi m bình quân khong 17,31 tr.đ/ha/v và dao động khá ln,
nhiều nhất là Kiên Giang (23,2 tr.đ) và ít nhất là Mau (12,01 tr.đ). Trong tổng chi phí
thì bình quântới 95,51% là chi phí biến đổi cho hằng vụ hay hằng năm.
Trong tổng chi phí biến đổi 16,53 tr.đ/ha/v thì các khoản chi phí biến đổi ch yếu
gm : Tôm ging (30,39%); Ci tạo ao/vuông (20,76%); Ước g tr lao động gia đình
17,29%); B sung ging thy sn/v (11,97% bao gm cua cá). Ngoài ra, tng hai khon
chi phí v thuc thy sn nhiên liu cũng lên ti 8,32%. Do hu hết các h ch s dng
công gia đình nên việc thuê lao động thường xuyên cho nuôi tôm là không đáng kể.
Tổng doanh thu hay thu nhập tthủy sản ca hình T-L 37,19 tr.đ/ha/vụ, trong
đóKiên Giang cao hơn gấp đôi so với ở Bạc Liêu (59,1 tr.đ so với 21,6 tr). Trong cấu
thu nhập từ thy sản thì tôm nuôi đóng góp nhiều nhất vi 69,1%, kế đó là cua (28,6%) và sau
cùng là cá (2,3%).
Tổng lợi nhuận từ thy sản bình quân đt mức 19,88 tr.đ/ha/vụ, nhưng biến động rất
lớn giữa các địa bàn giữa các h trong từng địa bàn (±29,7 tr.đ/ha/vụ) vì ti 22,35% số
h nuôi tôm b thua lỗ vthủy sản (tôm, cua, cá) trong mô hình T-L. T lệ thành ng cao
nhất là Kiên Giang (91,23% shộ), kế đó là Cà Mau (80,02%) saung là Bạc Liêu với
ch 50,0% số hộ có li nhun dương.
Các yếu t nh hưởng đến năng suất và lợi nhuậnm nuôi
Sau khi thực hiện các ớc cần thiết, hình hi quy tuyến tính đa biến đối với biến
phthuộc năng suất m nuôi (Y kg/ha/vụ) trong hệ thng T-L được thiết lập với ch 5
biến độc lập có tác động đồng thi (cùng lúc) mức có ý nghĩa thng kê, (p< 0,05).hình
hi quy đa biến cuối cùng được viết ở dạng sau:
Y = -43,246 + 0,007 X1 + 6,094 X2 - 9,281 X3 + 2,472 X4 + 1,547 X5
Kết luận và đề xuất đối với các biến độc lập quan trọng này như sau:
- Làm k hơn khâu cải tạo và dit tạp/xử lý nước trước khi thả tôm giống sẽ mang lại
kết quả tt vì tăng chi phí cho việc này thêm 1 triệu đ/ha/v so vi mc bình quân hin nay
th giúp tăng 7,0% năng suất tôm. Tuy nhiên, với cách cải tạo như hiện nay thì khi chi phí cải
tạo vượt mức 5,0 tr.đ/ha/năm làm cho lợi nhuận từ nuôim bị giảm.
- Mật độ tôm ging còn thtăng thêm vì khi tăng 1% vmật độ giúp tăng 6,94%
năng suất, nhưng không nên vượt 15 con/m2, tt nhất là 8-14 con/m2c chưa thu tỉa.
- S lần thả tôm giống đáng quan tâm với nuôi QCCT bao gồm cả mô hình T-L. S
ln thả tôm giống bình quân/v hiện nay đã tác động xấu. Chỉ nên th 1-2 lần/vụ vì khi th
hơn 2 lần/v ảnh ng xấu tới cả năng suất và lợi nhuận.
- Tăng thêm mực nước bình quân trên trng khi nuôi còn giúp n định i trường và
giúp tôm phát triển tốt hơn (tăng 1,0cm so vi mực nước bình quân hiện nay có thgiúp tăng
2,47% vnăng suất). Tuy nhiên, do điều kiện thiết kế/công trình như hiện nay, mực nước phù
hp nhất cho nuôim trong mô hình T-L tại c địa bàn nghiên cứu là 40-50cm.