
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
Taåp chñ Nghiïn cûáu khoa hoåc cöng àoaân
Söë 37 thaáng 3/2025
36
1. Đặt vấn đề
Già hóa dân số là một trong những biến đổi
nhân khẩu lớn nhất trên thế giới hiện nay. Khu vực
Đông Nam Á và Đông Á, trong đó có Việt Nam,
đang trải qua thời kỳ già hóa dân số với tốc độ chưa
từng thấy từ trước tới nay. Dự báo đến năm 2030,
người cao tuổi Việt Nam chiếm 17%, và năm 2050 là
25% dân số. Nếu như các nền kinh tế phát triển mất
vài thập kỷ, thậm chí hàng thế kỷ, để chuyển từ giai
đoạn già hóa dân số sang giai đoạn dân số già thì
Việt Nam chỉ mất 22 năm1.
Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, hiện nay
cả nước có khoảng 12 triệu người cao tuổi, chiếm
khoảng 12% dân số. Từ năm 1989 đến năm 2019,
tuổi thọ trung bình của người Việt Nam liên tục
tăng, từ 65,2 tuổi lên 73,6 tuổi2, dự báo đến năm
2030, số người cao tuổi ở Việt Nam chiếm khoảng
17% và đến năm 2050 là 25% dân số3.
Sự gia tăng dân số cao tuổi không phải là gánh
nặng mà là một nguồn lực quý giá, có thể đóng góp
tích cực vào sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên,
một bộ phận không nhỏ người cao tuổi vẫn còn
gặp khó khăn trong quá trình tìm kiếm việc làm và
lao động. Với quan điểm dân số là yếu tố quan
trọng hàng đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
đất nước, Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày
25/10/2017 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành
Trung ương khóa XII về công tác dân số trong tình
hình mới nhấn mạnh: “tiếp tục chuyển trọng tâm
chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang
dân số và phát triển. Công tác dân số phải chú
trọng toàn diện các mặt quy mô, cơ cấu, phân bố,
đặc biệt là chất lượng dân số và đặt trong mối quan
PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NGƯỜI CAO TUỔI
TRONG HOẠT ĐỘNG KINH TẾ
Ngày nhận: 04/3/2025
Ngày phản biện: 20/3/2025
Ngày duyệt đăng: 24/3/2025
Tóm tắt: Quá trình già hóa dân số ở Việt Nam diễn ra nhanh chóng, làm gia tăng đáng kể tỷ trọng người cao tuổi trong cơ cấu dân
số. Với sự gia tăng tuổi thọ và cải thiện chất lượng cuộc sống, người cao tuổi ngày càng có khả năng và mong muốn tiếp tục đóng
góp vào lực lượng lao động. Điều này không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần nâng cao tinh thần và sức khỏe cho chính
họ. Bài viết tập trung tìm hiểu vai trò của người cao tuổi trong hoạt động kinh tế, qua đó đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng sống của người cao tuổi trong thời gian tới.
Từ khóa: Người cao tuổi; già hóa dân số; việc làm.
PROMOTING THE ROLE OF THE ELDERLY PEOPLE IN ECONOMIC ACTIVITIES
Abstract: The population aging process in Vietnam is taking place rapidly, significantly increasing the proportion of the elderly
people in the population structure. With the increase in life expectancy and improvement in the quality of life, the elderly people can
and desire to contribute to the labor force. This issue not only brings economic benefits but also contributes to improving their spirit
and health. The article focuses on understanding the role of the elderly people in economic activities, thereby proposing some
recommendations and solutions to improve the quality of life of the elderly people in the coming time.
Keywords: Elderly people; aging population; employment.
——————
* Trường Đại học Công đoàn
1Hiểu Giang. (17/72017). Hội thảo Quốc tế Thích ứng với Già hóa dân số. Tạp chí
Cộng sản. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/hoat-ong-cua-lanh-
ao-ang-nha-nuoc/-/2018/45928/hoi-thaoquocte--thich-ung-voi-gia-hoa-
dan-so.aspx
2Tổng cục Thống kê: “Thông cáo báo chí kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở
năm 2019”, https://www.gso.gov.vn/su-kien/2019/12/thong-cao-bao-chi-
ket-qua-tong-dieu-tra-dan-so-vanha-o-nam-, ngày 19-12-2019.
3Tổng cục Thống kê: “Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 - Già hóa dân số
và người cao tuổi ở Việt Nam”, Hà Nội, 2021, https://www.gso.gov.vn/wp-con-
tent/uploads/2021/08/Dan-so-gia-hoaVI.pdf
Đỗ an LựC*

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
tapchinckhcd@dhcd.edu.vn
37
hệ hữu cơ với các yếu tố kinh tế, xã hội, quốc
phòng, an ninh, bảo đảm phát triển nhanh và bền
vững. Trung ương Đảng cho rằng, đầu tư cho công
tác dân số là đầu tư cho phát triển”. Do đó, cần tập
trung vào việc nâng cao chất lượng dân số và sự
đóng góp của từng cá nhân, bao gồm cả người cao
tuổi vào quá trình xây dựng và phát triển đất nước.
Đồng thời, phải đảm bảo rằng mọi người dân đều
có cơ hội tiếp cận và hưởng lợi từ các thành tựu
phát triển, không để ai bị bỏ lại phía sau.
Như vậy, với tỷ lệ người cao tuổi ngày càng gia
tăng trong cơ cấu dân số của Việt Nam, cần nhận
thức rõ các tiềm năng, lợi thế của nhóm đối tượng
này trong việc đóng góp cho sự phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước, đi đôi với việc bảo đảm các
quyền lợi chính đáng của người cao tuổi.
2. Khái quát về người cao tuổi ở nước ta
Tính đến thời điểm hiện tại, có rât nhiêu khái
niêm khác nhau về người cao tuổi. Trước đây, mọi
người thường dùng thuât ngữ “người già” đêchỉ
những người có tuôi, còn hiên nay thì thuật ngữ
“người cao tuôi” đã và đang ngày càng được sử
dụng rộng rãi hơn.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện
hành, cụ thể là tại Điều 2 Luật Người cao tuổi
năm 2009 thì “người cao tuổi được quy định trong
Luật này là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở
lên”. Như vậy, ở Việt Nam, những người từ đủ 60
tuổi trở lên sẽ được coi là người cao tuổi.
Biểu 1: Phân bố nơi ở của người cao tuổi theo
khu vực đô thị và nông thôn năm 2024
Nguồn: Tổng cục thống kê năm 2024
Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, tính đến
quí I năm 2024 hiện cả nước có gần 12 triệu người cao
tuổi, chiếm khoảng 12% dân số, trong đó có khoảng
gần 2 triệu người từ 80 tuổi trở lên (chiếm 17% tổng
số người cao tuổi); có khoảng hơn 7 triệu người cao
tuổi sống ở khu vực nông thôn (chiếm 41,9%)4.
Người cao tuổi tham gia hoạt động kinh tế, có
việc làm, tạo ra thu nhập sẽ đóng góp quan trọng
trong bảo đảm cho cuộc sống bản thân và gia đình.
Về mục đích làm việc của người cao tuổi có thể chia
thành 3 nhóm việc làm như sau: Đầu tiên là nhóm
người cao tuổi làm việc vì sở thích và đam mê, vì
mong muốn cống hiến, đóng góp cho xã hội, giúp
đỡ, hỗ trợ con cháu (thu nhập từ việc làm là nguồn
thu nhập thứ yếu, mang tính bổ trợ, đóng góp
thêm vào thu nhập từ nguồn lương hưu hay từ các
nguồn tiết kiệm và đầu tư khác); thứ hai là nhóm
người cao tuổi không có lương hưu, không thuộc
đối tượng trợ giúp xã hội, không có tích lũy hay các
nguồn thu nhập hỗ trợ từ gia đình, thu nhập từ việc
làm là nguồn sống duy nhất, đặc biệt quan trọng.
Thứ ba là nhóm người cao tuổi có lương hưu và các
nguồn trợ cấp xã hội khác làm thêm để tích lũy, hỗ
trợ gia đình.
Biểu 2. Tỷ lệ người cao tuổi đang làm việc
năm 2009 và năm 2109 (%)
Nguồn: Số liệu tổng hợp
——————
4http://danvan.vn/Home/Mat-tran-nhan-dan/18221/Nang-cao-hieu-qua-
cong-tac-cham-soc-phat-huy-vai-tro-cua-nguoi-cao-tuoi-trong-thoi-ky-gia-
hoa-dan-so-o-nuoc-ta-hien-nay

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
Taåp chñ Nghiïn cûáu khoa hoåc cöng àoaân
Söë 37 thaáng 3/2025
38
Số liệu tổng cục thống kê cho thấy, từ năm 2009
và 2019 cho thấy sự thay đổi đáng kể trong tỷ lệ
người cao tuổi (NCT) đang làm việc, đặc biệt khi
phân tích theo độ tuổi và khu vực sinh sống. Ở
nhóm tuổi 60-69, tỷ lệ NCT làm việc tăng nhẹ từ
50,40% năm 2009 lên 51,44% năm 2019, phản ánh
xu hướng tiếp tục tham gia lao động ở độ tuổi này.
Đối với nhóm 70-79 tuổi, tỷ lệ tăng đáng kể từ
19,40% lên 27,22%, cho thấy ngày càng nhiều NCT
ở độ tuổi cao hơn vẫn duy trì việc làm. Đặc biệt,
nhóm 80+ tuổi cũng có sự gia tăng đáng chú ý, từ
4,67% lên 7,84%, điều này cho thấy một bộ phận
nhỏ NCT vẫn tiếp tục làm việc dù ở độ tuổi rất cao.
Khi so sánh giữa khu vực thành thị và nông
thôn, sự khác biệt cũng rõ rệt. Ở nông thôn, tỷ lệ
NCT làm việc giảm nhẹ từ 41,56% năm 2009 xuống
41,36% năm 2019, trong khi ở thành thị, tỷ lệ này
giảm mạnh từ 21,78% xuống còn 18,65%. Sự chênh
lệch này có thể liên quan đến sự thay đổi trong cơ
cấu kinh tế và điều kiện lao động giữa hai khu vực.
Nông thôn vẫn là nơi có tỷ lệ NCT làm việc cao hơn
do tính chất công việc nông nghiệp và lao động tự
do phù hợp với NCT hơn so với các công việc đòi
hỏi kỹ năng chuyên môn cao ở thành thị. Cùng với
đó, tác động của sự di cư ồ ạt của cư dân nông
thôn vào đô thị (đa phần di cư là những người trẻ
tuổi) đã đẩy nhanh quá trình già hóa dân số ở vùng
nông thôn, sự già đi của dân số nông thôn có thể
đã dẫn đến việc thiếu hụt lực lượng lao động ở khu
vực này. Do đó, tạo ra sự gia tăng trong tỷ lệ tham
gia lao động của những người lớn tuổi ở khu vực
nông thôn.
Theo số liệu từ Điều tra Lao động - Việc làm năm
2023 của Tổng cục Thống kê, có đến 78,91% người
cao tuổi là lao động tự làm và lao động hộ gia đình;
54,63% việc làm người cao tuổi trong lĩnh vực nông
- lâm - thủy sản có năng suất thấp và phụ thuộc
nhiều vào điều kiện tự nhiên; 40,47% người lao
động cao tuổi làm các công việc giản đơn. Mức
lương bình quân của người cao tuổi năm 2023 là
khoảng 4,49 triệu đồng/tháng, bằng 70% so với
mức lương bình quân của lao động nói chung trên
thị trường5.
Đến đầu năm 2024 có khoảng hơn 6,5 triệu
người cao tuổi đang trực tiếp tham gia lao động,
sản xuất, kinh doanh, trong đó có gần 100.000
người cao tuổi làm chủ các cơ sở sản xuất, doanh
nghiệp; gần 400.000 người cao tuổi đạt danh hiệu
làm kinh tế giỏi, góp phần đáng kể trong xóa đói,
giảm nghèo6. Sau độ tuổi nghỉ hưu, nhiều người
lao động cao tuổi là nguồn nhân lực quý, có tri
thức, trình độ, kinh nghiệm và vai trò xã hội, có
đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước.
Ở nước ta hiện nay, chỉ có một tỷ lệ nhỏ lực
lượng lao động làm việc trong khu vực chính thức
và nghỉ hưu trong khoảng độ tuổi từ 55 đối với nữ
và 60 tuổi đối với nam và chỉ có khoảng 30% người
cao tuổi sống bằng lương hưu hay trợ cấp xã hội.
Ngược lại, lao động khu vực phi chính thức chiếm
khoảng 70%7họ không được tiếp cận với an sinh
người cao tuổi mà phải đối mặt với nhiều vấn đề
khác nhau của cuộc sống. Đặc biệt khi so với khu
vực nông thôn, thì khu vực thành thị người dân
thường làm việc trong khu vực chính thức cao hơn
và họ mong đợi nhận được lương hưu khi nghỉ và
họ phải đối mặt với việc nghỉ hưu bắt buộc ở độ
tuổi khoảng 60 tuổi, do đó động lực tiếp tục tham
gia làm việc có thể giảm đi. Ngược lại, phần lớn lao
động ở khu vực nông thôn tham gia vào hoạt động
nông nghiệp và phi nông nghiệp đây là những
công việc mang lại thu nhập thấp và không có được
——————
5https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/
953803/bao-dam-an-ninh-thu-nhap-cho-nguoi-cao-tuoi-viet-nam.aspx#:
~:text=V%E1%BB%81%20vi%E1%BB%87c%20l%C3%A0m%20c%E1%BB
%A7a%20ng%C6%B0%E1%BB%9Di,c%E1%BB%A7a%20c%E1%BA%A3%2
0n%C6%B0%E1%BB%9Bc(8).
6http://danvan.vn/Home/Mat-tran-nhan-dan/18221/Nang-cao-hieu-qua-
cong-tac-cham-soc-phat-huy-vai-tro-cua-nguoi-cao-tuoi-trong-thoi-ky-gia-
hoa-dan-so-o-nuoc-ta-hien-nay
7Bùi Tôn Hiến - Lê Thu Huyền, 2024, Bảo đảm an ninh thu nhập cho người cao
tuổi Việt Nam.

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
tapchinckhcd@dhcd.edu.vn
39
bất kỳ sự hỗ trợ hưu trí hay an sinh xã hội nào. Vì
vậy, người cao tuổi ở nông thôn thường có xu
hướng phải tự hỗ trợ bản thân bằng cách tiếp tục
làm việc. Đây có thể là một trong những nguyên
nhân dẫn đến sự khác biệt rõ rệt về tỷ lệ tham gia
làm việc của người cao tuổi giữa khu vực thành thị
và nông thôn Việt Nam. Hơn nữa hoạt động thị
trường lao động của người cao tuổi ở khu vực nông
thôn nhiều hơn có lẽ do khả năng tự lao động của
người cao tuổi trong các công việc lao động như
làm nông. Cùng với đó, tình trạng kinh tế của nông
hộ không thuận lợi hơn so với cư dân thành thị,
người cao tuổi ở khu vực nông thôn họ không có
lương hưu, rất ít khoản tiết kiệm cũng như những
nguồn thu nhập khác đảm bảo cuộc sống khi về già
nên làm việc là cách duy nhất để họ có nguồn thu
nhập duy trì cuộc sống.
Vị thế việc làm của người cao tuổi, trong giai
đoạn từ năm 2009 và 2019 đã có những thay đổi
đáng kể tại nước ta. Năm 2009, phần lớn NCT tập
trung vào các công việc lao động gia đình, chiếm tỷ
lệ cao nhất trong tất cả các nhóm. Tuy nhiên, đến
năm 2019, tỷ lệ này giảm mạnh, nhường chỗ cho xu
hướng gia tăng đáng chú ý ở các công việc tự làm
và làm công ăn lương.
Trong nhóm NCT ở khu vực thành thị, tỷ lệ làm
công ăn lương đã tăng vượt bậc, từ 9,19% năm
2009 lên 23,53% năm 2019. Sự gia tăng này phản
ánh sự chuyển đổi cấu trúc kinh tế, với khả năng
người cao tuổi được tiếp cận với các cơ hội làm việc
ổn định hơn trong môi trường thành thị phát triển.
Ở khu vực nông thôn, mặc dù mức tăng không lớn
bằng, nhưng tỷ lệ làm công ăn lương cũng đã cải
thiện rõ rệt, từ 16,55% lên 26,15%, cho thấy sự mở
rộng cơ hội việc làm đến từ các chương trình phát
triển nông thôn hoặc sự gia tăng các hoạt động
kinh tế địa phương.
Nhóm NCT từ 60-69 tuổi thể hiện khả năng
tham gia thị trường lao động tích cực hơn so với các
nhóm tuổi lớn hơn. Xuất phát từ yếu tố sức khỏe và
năng lực lao động vẫn còn ở mức tốt của nhóm này,
giúp họ dễ dàng thích nghi với các yêu cầu việc làm
hiện đại.
Bảng 3. Vị thế việc làm của người cao tuổi theo
các nhóm đặc trưng năm 2009 và năm 2019
Nguồn: Số liệu tổng hợp
Tuy nhiên, bên cạnh những dấu hiệu tích cực, sự
gia tăng tỷ lệ làm công ăn lương và tự làm cũng đặt
ra những thách thức mới. Đó là nhu cầu đảm bảo
điều kiện làm việc an toàn, chính sách phúc lợi và
bảo vệ quyền lợi cho NCT trong môi trường lao
động ngày càng cạnh tranh.
Có thể thấy rằng vị thế việc làm của NCT không
ngừng biến đổi, phản ánh sự phát triển kinh tế và
xã hội của đất nước. Tuy nhiên, những thay đổi này
cần được theo dõi và điều chỉnh phù hợp, nhằm
đảm bảo rằng NCT luôn nhận được sự hỗ trợ đầy đủ
để thích nghi với những thách thức mới trong bối
cảnh hiện nay.
Thu nhập của người cao tuổi không ngừng tăng
trong những năm gần đây, nhưng tỷ lệ người cao
tuổi có lương hưu còn khiêm tốn. Theo thống kê
của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, đầu năm 2024 có
khoảng 3,1 triệu người cao tuổi hưởng lương hưu,
trợ cấp bảo hiểm xã hội (BHXH) hàng tháng, chiếm

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
Taåp chñ Nghiïn cûáu khoa hoåc cöng àoaân
Söë 37 thaáng 3/2025
40
27,1% tổng số người cao tuổi (trong đó người cao
tuổi hưởng lương hưu là 1,8 triệu người, chiếm
15,8% tổng số người cao tuổi); có khoảng gần 1,7
triệu người cao tuổi được nhận trợ cấp xã hội hàng
tháng (chiếm 14,8% tổng số người cao tuổi), 1,4
triệu người cao tuổi hưởng chính sách người có
công (chiếm 12,3%)8.
Việc không có tích lũy, không có lương hưu
hoặc lương hưu và trợ cấp xã hội thấp là các
nguyên nhân chính để người cao tuổi tiếp tục làm
việc, mưu sinh và sống dựa vào thu nhập từ việc
làm. Tuy nhiên, chất lượng việc làm của người cao
tuổi chưa cao, hầu hết người cao tuổi làm các công
việc có tính chất dễ bị tổn thương.
Có gần 73% không có lương hưu hay trợ cấp Bảo
hiểm xã hội hàng tháng, đang phải đối mặt với
nhiều khó khăn trong cuộc sống và phải sống phụ
thuộc vào con cái. Số người cao tuổi được hưởng
lương hưu, trợ cấp xã hội rất thấp nên nhiều người
cao tuổi sức khỏe kém vẫn phải tự lao động và kiếm
sống hàng ngày. Vì vậy, đời sống của người cao
tuổi, nhất là ở vùng nông thôn còn rất khó khăn, vất
vả, tỷ lệ người nghèo ở người cao tuổi là 23,5%; tuổi
thọ trung bình cao nhưng tuổi thọ khỏe mạnh của
người cao tuổi ở nước ta thấp (64 tuổi), đặc biệt, có
67,2% người cao tuổi có tình trạng sức khỏe yếu và
rất yếu. Tỷ lệ người cao tuổi là dân tộc thiểu số
chiếm gần 10% thuộc hộ nghèo cao hơn bình quân
chung của cả nước9.
3. Kết luận
Hiện nay quá trình già hóa dân số ở nước ta
đang diễn ra với tốc độ nhanh. Người cao tuổi
(NCT) đang đóng một vai trò ngày càng quan
trọng trong hoạt động kinh tế, đặc biệt trong bối
cảnh già hóa dân số gia tăng. Việc người cao tuổi
tham gia làm việc hiện nay là một xu hướng đáng
chú ý trong bối cảnh dân số đang già hóa nhanh
chóng. Hiện nay, người cao tuổi vẫn có khả năng
đóng góp tích cực vào lực lượng lao động nhờ
vào kinh nghiệm và kỹ năng tích lũy qua nhiều
năm. Tỷ lệ người cao tuổi tham gia làm việc cũng
tương đối cao và có xu hướng ngày càng gia tăng
qua các năm. Đa số người cao tuổi vẫn tham gia
làm việc chỉ một phần nhỏ đến từ việc cải thiện
về sức khỏe, do sở thích làm việc. Phần lớn người
cao tuổi, đặc biệt là người cao tuổi ở khu vực
nông thôn với thực tế điều kiện kinh tế của nông
hộ không thuận lợi hơn so với cư dân thành thị,
họ không có lương hưu, rất ít khoản tiết kiệm
cũng như những nguồn thu nhập khác đảm bảo
cuộc sống khi về già nên làm việc là cách duy
nhất để họ có nguồn thu nhập duy trì cuộc sống.
Để giải quyết vấn đề này, cần có những chính
sách cụ thể nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho
người cao tuổi tham gia vào thị trường lao động,
đồng thời nâng cao nhận thức của xã hội về vai
trò của người cao tuổi.
4. Khuyến nghị
Thời gian tới, cần thực hiện đồng bộ một số giải
pháp để bảo đảm nhằm giúp tăng cường sự tham
gia làm việc của người cao tuổi ở Việt Nam trong
quá trình già hóa dân số, cụ thể như sau:
Đối với các cơ quan quản lý nhà nước cần xây
dựng và thực thi các chính sách hỗ trợ NCT tham
gia hoạt động kinh tế. Đồng thời, cần tổ chức các
chương trình đào tạo và tái đào tạo kỹ năng, đặc
biệt là kỹ năng số và công nghệ thông tin, để
NCT có thể thích ứng với yêu cầu của nền kinh tế
hiện đại.
Cải thiện hệ thống an sinh xã hội và bảo hiểm y
tế thông qua phát triển hệ thống an sinh xã hội
——————
8http://danvan.vn/Home/Mat-tran-nhan-dan/18221/Nang-cao-hieu-qua-
cong-tac-cham-soc-phat-huy-vai-tro-cua-nguoi-cao-tuoi-trong-thoi-ky-gia-
hoa-dan-so-o-nuoc-ta-hien-nay
9http://danvan.vn/Home/Mat-tran-nhan-dan/18221/Nang-cao-hieu-qua-
cong-tac-cham-soc-phat-huy-vai-tro-cua-nguoi-cao-tuoi-trong-thoi-ky-gia-
hoa-dan-so-o-nuoc-ta-hien-nay.

