TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 14 2024 520
NGHIÊN CỨU NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN PHÁT TRIỂN KINH TẾ XANH
TẠI VIỆT NAM: NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
STUDENT PERCEPTIONS OF GREEN ECONOMIC DEVELOPMENT IN VIETNAM:
A CASE STUDY OF STUDENTS AT HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY
Nguyễn Thị Hiền1,*, Tô Minh Lý1, Lê Thị Hoài Thương1,
Nguyễn Thị Linh Chi1, Đỗ Hải Hưng2
1Lớp KTDT- K15, Khoa Quản lý kinh doanh, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
2Khoa Quản lý kinh doanh, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
*Email: Hienank19062002@gmail.com
TÓM TẮT
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng trở nên nghiêm trọng, xu hướng phát triển kinh tế xanh đang trở thành ưu
tiên hàng đầu của các quốc gia trên thế giới. Kinh tế xanh không chỉ là một hình kinh tế mới, mà còn là bước nhảy vọt
của nền văn minh nhân loại, hướng tới sự phát triển bền vững thân thiện với môi trường. Trong quá trình chuyển đổi
sang nền kinh tế xanh, việc chuyển đổi lao động "xanh" đóng vai trò vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, không phải ai cũng
có đủ hiểu biết về nền kinh tế này. Nghiên cứu tại Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng
đến nhận thức của sinh viên về kinh tế xanh, bao gồm chuẩn chủ quan, thái độ tích cực, chính sách truyền thông, sự phát
triển khoa học công nghệ và môi trường học tập. Kết quả này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng và triển khai các
chính sách nhằm thúc đẩy sự hiểu biết và ủng hộ của sinh viên đối với nền kinh tế xanh.
Từ khoá: Sinh viên; Kinh tế xanh; nhận thức,Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội.
ABSTRACT
In the context of increasingly severe climate change, the trend of green economic development is becoming a top
priority for countries around the world. Green economy is not only a new economic model, but also a leap forward for
human civilization, towards sustainable and environmentally friendly development. In the process of transitioning to a
green economy, the transition to "green" labour plays a crucial role. However, not everyone has sufficient understanding
of this economy. Research at Hanoi University of Industry has identified factors influencing students' perceptions of the
green economy, including subjective norms, positive attitudes, communication policies, scientific and technological
development, and the learning environment. These findings will make an important contribution to the development and
implementation of policies to promote students' understanding and support for the green economy.
Keywords: Students; Green economy; Perception; Hanoi University of Industry.
1. GIỚI THIỆU
Trong bối cảnh hiện nay, nền kinh tế xanh đang trở
thành một lựa chọn tất yếu cho sự phát triển kinh tế, tạo việc
làm và chống đói nghèo. Tại Việt Nam, "nền kinh tế xanh"
một khái niệm còn tương đối mới, nhưng Chính phủ đã
chú trọng khuyến khích c doanh nghiệp phát triển theo
hướng này, hướng tới một nền kinh tế phát triển bền vững.
Trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu
rộng, nền kinh tế xanh một lĩnh vực mới, không phải ai
cũng hiểu biết nhất định. Do đó, không chỉ các doanh
nghiệp, cả sinh viên đang ngồi trên ghế nhà trường cũng
cần nắm bắt hiểu biết về kinh tế xanh. Việc nghiên cứu
nhận thức của sinh viên về phát triển kinh tế xanh sẽ giúp
các nhà quản lý giáo dục, kinh tế và chính sách có cái nhìn
hơn về khả năng thích ứng ng phó của sinh viên trong
nền kinh tế mới này.
Trên thế giới, từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, mặc
dù kinh tế thế giới đạt được nhiều thành tựu, nhưng các
hình phát triển kinh tế theo kiểu "nền kinh tế nâu" đã gây ra
những tổn hại nghiêm trọng cho môi trường biến đổi khí
hậu, đe dọa cuộc sống con người và hoạt động kinh tế.
Nhằm thay đổi tình trạng này, năm 2008, Chương trình
Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) đã đưa ra Sáng kiến
kinh tế xanh - một hướng tiếp cận mới cho phát triển kinh
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 14 2024 521tế được nhiều quốc gia đồng tình hưởng ứng. Các nghiên
cứu gần đây tại Iraq Oman đều cho thấy nhận thức của
sinh viên về các khái niệm kinh tế xanh còn hạn chế, đặc
biệt trong lĩnh vực kỹ năng và cảm xúc. Điều này cho thấy
cần có những nỗ lực mạnh mẽ hơn trong việc trang bị kiến
thức nâng cao nhận thức về phát triển kinh tế xanh cho
thế hệ trẻ - những người sẽ chủ nhân tương lai của nền
kinh tế.
Các hoạt động ntalkshow, hội thảo, cơng trình giáo
dục về kinh tế xanh doc trường đại học tổ chức đã thu hút
sự quan tâm và tham gia ch cực của sinh viên. Đây những
nỗ lực đáng ghi nhận nhằm trang bị cho thế htrẻ những kiến
thức, kỹ năng và nhận thức cần thiết để họ thtrở thành
những ng n trách nhiệm, đóng góp tích cực vào sự
phát triển bền vững của nền kinh tế trong tương lai.
Tuy nhiên, quan niệm và nhận thức về kinh tế xanh vẫn
chưa thực sự rõ ràng, với nhiều cách hiểu và cách gọi khác
nhau. Nhiều tết quả cho thấy nhận thức về các khái niệm
kinh tế xanh còn hạn chế, đặc biệt trong lĩnh vực kỹ năng
cảm xúc. Các yếu tố như chuyên ngành học và trình độ
học vấn đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành mức
độ nhận thức này. Điều này cho thấy tầm quan trọng của
việc đưa các nội dung liên quan đến kinh tế xanh vào giáo
dục, đặc biệt là ở bậc đại học, nhằm nâng cao nhận thức và
kỹ năng của người học về lĩnh vực này.
1.1. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng nhằm
mục đích kiểm tra, sàng lọc và xác định mối quan hệ giữa
các biến số trong mô hình nghiên cứu đã đề xuất. Ngoài ra,
nghiên cứu định nh giúp nhóm tác giả hiệu chỉnh các thang
đo được kế thừa từ các nghiên cứu trước và điều chỉnh phù
hợp với đối tượng là sinh viên trường ĐHCNHN đồng thời
xác định rõ đối tượng điều tra, khảo sát, nhằm phục vụ cho
quá trình nghiên cứu định lượng tiếp theo.
Nhóm tác giả sử dụng phương pháp PLS-SEM để kiểm
định mô hình nghiên cứu đề xuất; đưa ra các tuyên bố như
vậy đòi hỏi một trọng tâm dự đoán trong ước tính đánh
giá mô hình. PLS-SEM nhấn mạnh và làm sáng tỏ các mối
quan hệ mô hình cấu trúc thông qua đó tạo ra các dự đoán.
Phương pháp PLS đại diện cho cách tiếp cận dự đoán
nhân quả đối với SEM tập trung vào việc giải thích phương
sai trong các biến phụ thuộc của hình. Logic của phương
pháp PLS-SEM là tất cả các phương sai của các chỉ số nên
được sử dụng để ước tính các mối quan hệ hình, đặc biệt
tập trung vào dự đoán các biến phụ thuộc.
1.2. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu
nh thuyết được xây dựng dựa tn cơ sc định
c nhân tố chính có thể ảnh hưởng đến nhận thức của sinh
viên về phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam. Để xây dựng
được một hình phù hợp, nhóm tác giả đã dựa trên các
công trình nghn cứu của các c giả trong và ngoàiớc.
Chuẩn chủ quan mô tả áp lực xã hội được cảm nhận về
những hành vi nhất định thể hoặc không thể thực hiện
được. Chuẩn chủ quan bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi những
người nhân coi quan trọng trong cuộc sống của họ,
chẳng hạn như đồng nghiệp, thành viên gia đình, bạn
cấp trên.
Giả thuyết H1: Chuẩn chủ quan tác động ch cực tới
tới nhận thức của sinh viên Trường Đại học Công nghiệp
Hà Nội về phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam.
Giả thuyết H2: Thái độ bản thân tác động tích cực
tới tới nhận thức của sinh viên Trường Đại học ng
nghiệp Hà Nội về phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam.
Giả thuyết H3: Chính sách truyền thông tác động tích
cực tới tới nhận thức của sinh viên Trường Đại học Công
nghiệp Hà Nội về phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam.
Giả thuyết H4: Môi trường học tập có tác động tích cực
tới tới nhận thức của sinh viên Trường Đại học ng
nghiệp Hà Nội về phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam.
Nghiên cứu của World Economic Forum (WEF) về
tương lai công việc, tập trung vào tác động của các công
nghệ mới như trí tuệ nhân tạo tự động a trên thị trường
lao động. Kết quả cho thấy rằng sinh viên có nhận thức tốt
về khả năng tiếp cận cơ hội việc làm có xu hướng tìm được
việc làm tốt hơn.
Theo các chuyên gia, nhận thức về phát triển kinh tế
xanh có thể mang lại nhiều cơ hội việc làm, ở bất kỳ ngành
nghê nào. Tuy nhiên, các hội việc làm này thể ảnh
hưởng khác nhau đối với các quốc gia và các lĩnh vực khác
nhau. Do đó, việc nghiên cứu cụ thể về nhận thức của sinh
viên về phát triển kinh tế xanh và cơ hội việc làm cần phải
được tiếp tục thực hiện đnhững kế hoạch chính sách
phù hợp.
H5: Nhận thức của sinh viên Trường Đại học Công
nghiệp Nội về kinh tế xanh càng sớm, hội việc làm
càng lớn.
Cuối cùng, nhóm nghiên cứu đề xuất hoàn thiện hình
nghiên cứu “Nhận thức của sinh viên Trường Đại học Công
nghiệp Nội về phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam” như
hình 1.
Hình 1. hình nghiên cứu “Nhận thức của sinh viên Trường
Đại học Công nghiệp Hà Nội vphát triển kinh tế xanh tại Việt Nam”
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 14 2024 522Trong phạm vi nghiên cứu của bài báo, bài báo tập trung
phân tích đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố
tới nhận thức của SV về kinh tế xanh, không đánh giá vai
trò trung gian của biến Nhận thức trong mối quan hệ giữa
các nhân tố và Cơ hội việc làm.
2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
2.1. Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu
Với số phiếu hợp lệ 170 phiếu, nhóm tác giả đã tiến
hành xử phân tích thông qua công cụ Google form,
EXCEL phần mềm SmartPLS 3. Quá trình khảo sát được
thực hiện thông qua phiếu khảo sát được trình bày bảng 1.
Bảng 1. Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu
Tiêu chí Số lượng %
Giới
tính
Nam 81 47,6
Nữ 89 52,4
Tổng 170 100,0
Khóa
K15 69 40,6
K16 47 27,6
K17 39 22,9
K18 15 8,8
Tổng 170 100,0
Ngành
học
Điện – Điện t 28 16,5
Quản lý kinh doanh 56 32,9
Công nghệ ô tô 30 17,6
Công nghệ thông tin 10 5,9
Kế - Kiểm 19 11,2
Cơ khí 9 5,3
Ngoại ngữ - Du lịch 17 10,0
Công nghệ hóa 1 0,6
Tổng 170 100,0
(Nguồn: Thống kê mẫu nghiên cứu của nhóm tác giả)
Thống tần số cho biến Giới nh với 2 giá trị Nam/Nữ,
chúng ta được kết quả trong 170 người trả lời 81 người
là Nam chiếm tỷ lệ 47,6%, còn lại 89 người là Nữ chiếm tỷ
lệ 52,4%.
Trong tổng số 170 người tham gia trlời phiếu khảo sát,
69 người đang sinh viên khóa 15 chiếm tỷ trọng
40,6%, 47 sinh viên khóa 16 chiếm tỷ trọng 27,6%, 39 sinh
viên khóa 17 chiếm tỷ trọng 22,9%, 15 sinh viên khóa 18
chiếm tỷ trọng 8,8% . Từ kết quả này có thể thấy, số lượng
sinh viên tham gia khảo sát nhiều nhất khóa 15 theo
sau khóa 16. Đây khóa sinh viên năm cuối đang theo
học tại trường sinh viên năm 3 của trường .Với ngành
học của sinh viên, nhóm phiếu khảo sát phần lớn thu về từ
khoa Quản kinh doanh với 56 sinh viên, chiếm 32,9%;
theo sau khoa công nghệ ô 17,6% (30 sinh viên tham
gia khảo sát); tiếp sau điện- điện tvới 28 sinh viên chiếm
16,5%; Kế toán Kiểm toán chiếm 19 (11,2%); Khoa
Ngoại ngữ - Du lịch 17 sinh viên (10%); Khoa Cơ khí với
9 sinh viên (5,3%); 1 sinh viên khoa Công nghệ hóa tham
gia khảo sát (0,6%).
2.2. Kết quả phân tích dữ liệu
2.2.1. Kiểm định mô hình đo lường
i) Độ tin cậy của các biến quan sát
Để đánh giá độ tin cậy của các biến quan sát trong
SMARTPLS nên sử dụng hệ số outer loading. Hệ số này
chính là là căn bậc hai trị tuyệt đối giá trị R2 phép hồi quy
tuyến tính từ biến tiềm ẩn mẹ lên biến quan sát con.
Dựa theo kết quả phân tích bảng hệ số tải outer loading,
hệ số tải của biến quan sát cần lớn hơn hoặc bằng 0.708 biến
quan sát đó chất lượng, đánh giá được khả năng đo lường
của biến.
Trong bảng hệ số tải tất cả nhóm biến quan sát đều
hệ số tải lớn hơn 0,7, Cho thấy rằng các biến tiềm ẩn giải
thích được tối thiểu 50% sự thay đổi của biến quan sát.
ii) Giá trị hội tụ ( AVE)
Chúng ta sẽ dựa vào chỉ số phương sai trung bình được
trích AVE (Average Variance Extracted). Mức 0,5 (50%)
này mang ý nghĩa biến tiềm ẩn mẹ trung bình sẽ giải thích
được tối thiểu 50% biến thiên của từng biến quan sát con.
Dựa trên kết quả phân tích, thấy rằng tất cả các giá trị
AVE của các biến đều lớn hơn 0,5.
iii) Đánh giá các giá trị phân biệt
Bảng 2. Bảng giá trị HTMT
CHVL
CSTT MTHT
NT TĐBT
TĐXQ
CHVL 0,845
CSTT 0,773 0,864
MTHT
0,792 0,908 0,862
NT 0,802 0,789 0,807 0,820
TĐBT 0,788 0,822 0,808 0,757 0,804
TĐXQ
0,843 0,748 0,781 0,729 0,849 0,848
(Nguồn: Kết quả xử lý số liệu SMARTPLS)
iv) Đánh giá độ tin cậy nhất quán nội tại
Bảng 3. Construct Reliability and Validity
Cronbach's
Alpha rho_A
Composite
Reliability
Average
Variance
Extracted
(AVE)
CHVL 0,866 0,869 0,909 0,714
CSTT 0,886 0,889 0,922 0,747
MTHT 0,885 0,886 0,921 0,744
NT 0,837 0,841 0,892 0,673
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 14 2024 523TĐBT 0,817 0,816 0,880 0,647
CCQ 0,869 0,880 0,910 0,718
(Nguồn: Kết quả xử lý số liệu SMARTPLS)
Kết quả phân tích Độ tin cậy tổng hợp Composite
Reliability (CR) cho thấy kết quả Thoả mãn điều kiện
Cronbach's Alpha 0,7 (DeVellis, 2012) Composite
Reliability CR ≥ 0,7 ở tất cả các biến độc lập, phụ thuộc.
2.2.2. Kiểm định mô hình cấu trúc
i) Đánh giá vấn đề đa cộng tuyến
Để đánh giá đa cộng tuyến, chúng ta sẽ sử dụng kết quả
của phân tích PLS Algorithm. Theo Hair cộng sự (2019),
nếu VIF từ 5 trở đi, hình có khả năng rất cao xuất hiện
hiện tượng đa cộng tuyến. Ngưỡng đánh giá VIF do nhóm
tác giả đề xuất như sau:
- VIF ≥ 5: Khả năng xuất hiện đa cộng tuyến là rất cao.
- ≤ VIF ≤ 5: Có thể gặp hiện tượng đa cộng tuyến.
- VIF < 3: Có thể không có hiện tượng đa cộng tuyến.
Các giá trị VIF đều khá tưởng nhỏ hơn 3, thể
xuất hiện hiện tượng đa công tuyến quan sát CSTT1
MTHT1 với giá trị nằm trong khoảng từ 3 đến 5.
ii) Đánh giá tác động của các yếu tố ảnh hưởng
Hình 2. Kết quả các đường dẫn của mô hình SEM
(Nguồn: Kết quả xử lý số liệu SMARTPLS)
Xét về mức độ ảnh hưởng, thông qua kết quả kiểm định
mô hình cấu trúc có thể thấy rằng nhân tố “Môi trường học
tập” ảnh hưởng mạnh nhất đến “Nhận thức của sinh viên
trường ĐHCN HN về Kinh tế xanh” = 2,297), tiếp theo
“Chính sách truyền thông = 1,325), “Thái độ bản
thân” = 1,009), cuối cùng “Chuẩn chủ quan” =
0,959) , Nhân tố “Nhận thức về kinh tế xanh” tác động mạnh
mẽ nhất đến hội việc làm của sinh viên ĐHCNHN (β =
3,046) tiếp theo là nhân tố “Chuẩn chủ quan” (β = 3,206) ,
“Chính sách truyền thông” = 0,794), “Môi trường học
tập” (β = 0,794), cuối cùng “Thái độ bản thân” (β = 0,031).
iii) Đánh giá tầm quan trọng sự liên quan của các
mối quan hệ mô hình cấu trúc
Hai cột (1) Original Sample (hệ số tác động chuẩn hóa)
và (2) P Values (giá trị sig so sánh với mức ý nghĩa 0,05).
P Values: Mức ý nghĩa của kiểm định t. Chúng ta sẽ so
sánh mức ý nghĩa này với các ngưỡng so sánh như 0,05; 0,1
hay 0,01 (thường sử dụng là 0,05).
Bảng 4. Bảng giá trị T và P Values
Sample
(O)
Sample
Mean
(M)
Standard
Deviation
(STDEV)
T Statistics
(|O/STDE
V|)
P
Values
CSTT -
>
CHVL
0,101 0,122 0,127 0,794 0,427
CSTT -
>
NT
0,209 0,205 0,158 1,325 0,185
MTHT -
>
CHVL
0,070 0,104 0,158 0,443 0,658
MTHT -
>
NT
0,375 0,398 0,163 2,297 0,022
NT -
>
CHVL
0,313 0,297 0,103 3,046 0,002
TĐBT -
>
CHVL
-0,003 -0,010 0,112 0,031 0,976
TĐBT -
>
NT
0,160 0,177 0,159 1,009 0,313
CCQ -
>
CHVL
0,488 0,453 0,152 3,206 0,001
CCQ -
>
NT
0,144 0,104 0,150 0,959 0,338
(Nguồn: Kết quả xử lý số liệu SMARTPLS)
Trong Kết quả phân tích ta thấy rằng chỉ giá trị P
values của MTHT lên NT, CCQ lên CHVL NT lên
CHVL ý nghĩa thống kê thống với điều kiện P values
< 0,05 với mức ý nghĩa 5%.
Trong biến tác động lên NT MTTH giá trị 0,022;
biến NT tác động lên CHVL giá trị 0,002 biến CCQ
tác động lên CHVL có giá trị P là 0,001.
iv) Đánh giá khả năng giải thích của mô hình
Để đánh giá mức độ tác động của một hoặc các biến độc
lập lên một biến phụ thuộc trong hình SEM, chúng ta sẽ
sử dụng tới chỉ số R bình phương hoặc R bình phương hiệu
chỉnh.
Bảng 5. Bảng giá trị R
R Square R Square Adjusted
CHVL
0,794 0,787
NT 0,693 0,686
(Nguồn: Kết quả xử lý số liệu SMARTPLS)
Thấy rằng, R bình phương hiệu chỉnh của NT bằng
0.686, như vậy các biến độc lập tác động vào gồm CCQ,
MTHT đã giải thích được 68,6% sự biến thiên (phương sai)
của biến NT.
R bình phương hiệu chỉnh của CHVL bằng 0,787, như
vậy biến độc lập NT tác động vào đã giải thích được
77,8% sự biến thiên (phương sai) của biến CHVL.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 14 2024 524v) Đánh giá sức mạnh dự đoán của mô hình
f Square < 0,02: mức tác động cực kỳ nhỏ hoặc
không có tác động.
0,02 ≤ f Square < 0,15: mức tác động nhỏ.
0.15 ≤ f Square < 0,35: mức tác động trung bình.
f Square ≥ 0,35: mức tác động lớn.
Bảng 6. Bảng giá trị kiểm định f
CHVL
CSTT
MTHT
NT TĐBT
TĐXQ
CHVL
CSTT 0,007
0,022
MTHT
0,003
0,070
NT 0,145
TĐBT 0,000
0,017
CCQ 0,285
0,017
(Nguồn: Kết quả xử lý số liệu SMARTPLS)
Kết quả phân tích kiểm định F cho thấy biến độc lập
CCQ (f = 0,285) tác động trung bình đến biến độc lập
CHVL, biến NT (f = 0,145) mức tác động nhỏ lên biến
CHVL. Biến MTHT (f = 0,007) biến CSTT (f = 0,022)
tác động nhỏ đến biến độc lập NT.
2.3. Thảo luận về kết quả phân tích dữ liệu
Trong 9 giả thuyết nghiên cứu sau khi kết quả phân
tích số liệu cần loại bỏ các giả thuyết chưa có số liệu thuyết
phục phục ta thu được kết quả như sau:
Các giả thuyết được chấp nhận và lý giải thảo luận:
Dựa trên kết quả phân tích, có thể đưa ra các giả thuyết
sau:
1. Môi trường học tập tác động tích cực lên nhận thức
của sinh viên về kinh tế xanh:
Kết quả nghiên cứu cho thấy môi trường học tập, bao
gồm các hoạt động, chương trình và tài liệu giảng dạy liên
quan đến kinh tế xanh, ảnh ởng tích cực đến nhận thức
của sinh viên về lĩnh vực này. Điều này phù hợp với các
nghiên cứu trước đây trong nước quốc tế, nhấn mạnh vai
trò của giáo dục trong việc nâng cao nhận thức về phát triển
bền vững.
2. Chính sách truyền thông của nhà trường có tác động
tích cực lên nhận thức của sinh viên về kinh tế xanh:
Kết quả phân tích cho thấy các chính sách truyền thông
thông tin của nhà trường, như các hoạt động tuyên
truyền, sự kiện và tài liệu, có ảnh hưởng tích cực đến nhận
thức của sinh viên về kinh tế xanh. Điều này tương đồng
với các nghiên cứu trước đây, nhấn mạnh tầm quan trọng
của truyền thông trong việc nâng cao nhận thức về các vấn
đề liên quan đến môi trường và phát triển bền vững.
3. Chuẩn chủ quan tác động tích cực lên hội việc làm:
Kết quả nghiên cứu cho thấy chuẩn chủ quan, như sự
ủng hộ kỳ vọng của gia đình, bạn hội, ảnh
hưởng tích cực đến cơ hội việc làm của sinh viên. Điều này
phù hợp với các nghiên cứu trước đây, nhấn mạnh vai trò
của các yếu tố hội trong việc định hình hội nghề
nghiệp của cá nhân.
4. Nhận thức sinh viên về kinh tế xanh tác động dương
lên cơ hội việc làm:
Kết quả phân tích cho thấy nhận thức của sinh viên về
kinh tế xanh, như hiểu biết về các công nghệ, sản phẩm
dịch vụ xanh, ảnh hưởng tích cực đến hội việc làm
của họ. Điều này tương đồng với các nghiên cứu trước đây,
nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức và
kỹ năng liên quan đến lĩnh vực kinh tế xanh trong việc tạo
ra cơ hội việc làm.
Tóm lại, kết quả nghiên cứu này phù hợp với các giả
thuyết đưa ra tương đồng với các nghiên cứu trong
ngoài nước, nhấn mạnh vai trò của môi trường học tập,
chính sách truyền thông, chuẩn chủ quan nhận thức về
kinh tế xanh trong việc nâng cao nhận thức hội việc
làm của sinh viên.
3. KẾT LUẬN
Nghiên cứu được thực hiện qua phỏng vấn đối với sinh
viên nghiên cứu chính thức. Kết quả khảo sát, phỏng vấn
đối với sinh viên sở để tác giả hoàn thiện hình
nghiên cứu chính thức, thang đo chính thức và bảng câu hỏi
khảo sát chính thức về nhận thức của sinh viên phát triển
kinh tế xanh tại Việt Nam: nghiên cứu điển hình sinh viên
Trường đại học Công Nghiệp Nội tnhận thức đó c
động đến hội việc làm của sinh viên. Kết quả nghiên cứu
đã đưa ra 5 yếu tố tác động thuận chiều (tích cực) đến
nhận thức của sinh viên trường ĐHCNHN về kinh tế xanh
đó là (1) Chuẩn chủ quan của sinh viên Trường ĐHCN Hà
Nội ; (2) Thái độ tích cực của sinh viên Trường ĐHCN Hà
Nội; (3) Chính sách truyền thông về kinh tế xanh của trường
ĐHCN HN; (4) Môi trường học tập; các yếu tố tác
động thuận chiều ( tích cực ) đến tìm kiếm cơ hội việc làm
của sinh viên đó là (1) Nhận thức của sinh viên trường Đại
học Công nghiệp Hà Nội về kinh tế xanh càng sớm, cơ hội
việc làm càng lớn.
Do vậy, thông qua kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất
một số giải pháp và kiến nghị đối với nhà trường cũng như
chính bản thân mỗi cá nhân sinh viên cụ thẻ như sau:
i) Đối với nhà trường
Thứ nhất, về chương trình giảng dạy học tập cần
Tích hợp chủ đề kinh tế xanh vào các khóa học liên quan
đến kinh tế, quản môi trường, phát triển bền vững.
Đồng thời, cần cập nhật và điều chỉnh khung chương trình
học để phù hợp với xu hướng và thực tế hiện nay của kinh
tế xanh. Ngoài ra thể tổ chức các buổi thảo luận, hội thảo,
và diễn đàn về kinh tế xanh để sinh viên có cơ hội tìm hiểu
và thảo luận về chủ đề này.
Thứ hai, về hoạt động ngoại khóa thực tế tổ chức thực
hiện các dự án nghiên cứu liên quan đến kinh tế xanh, cho