BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Văn Phương

PHÁT TRIỂN DU LỊCH MÙA NƯỚC NỔI Ở TỈNH AN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2012

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Văn Phương

PHÁT TRIỂN DU LỊCH

MÙA NƯỚC NỔI Ở TỈNH AN GIANG

Chuyên ngành : Địa lý học (trừ Địa lý tự nhiên) Mã số

: 60 31 95

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : TS. MAI HÀ PHƯƠNG

Thành phố Hồ Chí Minh - 2012

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu,

biểu đồ, hình ảnh và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa được ai

công bố trong bất kỳ công trình nào trước đây.

TP. Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2012

Nguyễn Văn Phương

LỜI CẢM ƠN

Để có thể hoàn thành khóa học và luận văn tốt nghiệp, tôi xin chân thành

cám ơn:

Ban Giám hiệu Trường Đại học Sư phạm TP. HCM, cùng các thầy cô, cán

bộ trong khoa Địa lí và phòng Sau Đại học đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khóa

học.

Trân trọng bày tỏ sự biết ơn chân thành đến TS. Mai Hà Phương đã tận tình

giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm luận văn tốt nghiệp.

Cán bộ UBND tỉnh An Giang, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh An

Giang, Phòng Thông tin Văn hóa Thể thao huyện An Phú, đã giúp đỡ tôi trong quá

trình thu thập số liệu và cung cấp số liệu.

Các anh chị học viên lớp Cao học Địa lí K21 ủng hộ và nhiệt tình giúp đỡ tôi

trong suốt quá trình học tập.

Gia đình đã nuôi dưỡng và không ngừng động viên, khuyến khích tôi trong

suốt quá trình học tập.

Tác giả

Nguyễn Văn Phương

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ

Danh mục hình ảnh

Danh mục bản đồ

MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH MÙA NƯỚC NỔI 7

1.1. Các khái niệm và quan niệm ............................................................................ 7

1.1.1. Du lịch........................................................................................................ 7

1.1.2. Loại hình du lịch ........................................................................................ 7

1.1.3. Tài nguyên du lịch ..................................................................................... 8

1.1.4. Sản phẩm du lịch ....................................................................................... 8

1.1.5. Tính thời vụ trong du lịch .......................................................................... 9

1.2. Một số vấn đề lý luận về du lịch mùa nước nổi ............................................. 10

1.2.1. Khái niệm du lịch mùa nước nổi ............................................................. 10

1.2.2. Đặc trưng của du lịch mùa nước nổi ........................................................ 12

1.2.3. Các điều kiện phát triển du lịch mùa nước nổi ........................................ 13

Chương 2 TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH MÙA

NƯỚC NỔI Ở TỈNH AN GIANG ......................................................................... 21

2.1. Tổng quan về tỉnh An Giang .......................................................................... 21

2.1.1. Lịch sử hình thành ................................................................................... 21

2.1.2. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên ............................................................ 24

2.1.3. Khái quát về kinh tế - xã hội .................................................................... 29

2.2. Tiềm năng phát triển du lịch mùa nước nổi ở An Giang ................................ 33

2.2.1. Tài nguyên du lịch ................................................................................... 33

2.2.2. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch ....................... 59

2.2.3. Các nhân tố kinh tế - xã hội và chính trị .................................................. 64

2.2.4. Đánh giá chung về tiềm năng phát triển du lịch mùa nước nổi ở An

Giang .................................................................................................................. 67

2.3. Thực trạng phát triển DLMNN ở An Giang giai đoạn 2005-2010 ................ 69

2.3.1. Khái quát chung về du lịch An Giang ..................................................... 69

2.3.2. Thực trạng phát triển du lịch mùa nước nổi ở An Giang......................... 73

Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH MÙA

NƯỚC NỔI Ở TỈNH AN GIANG ......................................................................... 97

3.1. Định hướng phát triển du lịch mùa nước nổi ................................................. 97

3.2. Các giải pháp chủ yếu để phát triển du lịch mùa nước nổi .......................... 101

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ....................................................................... 108

TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 111

PHỤ LỤC ................................................................................................................... 1

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

TNDL : Tài nguyên du lịch

HST : Hệ sinh thái

ĐBSCl : Đồng bằng sông Cửu Long

CSVCKT : Cơ sở vật chất kĩ thuật

DLMNN : Du lịch mùa nước nổi

RTTS : Rừng tràm Trà Sư

BBT : Búng Bình Thiên

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1. Diện tích và dân số các huyện thuộc tỉnh An Giang các năm

2009 - 2010 ............................................................................................ 26

Bảng 2.2. GDP và cơ cấu GDP tỉnh An Giang giai đọan 2005-2010 .................... 32

Bảng 2.3. Các di tích lịch sử-văn hóa ở An Giang được công nhận ...................... 47

Bảng 2.4. Khách sạn trên địa bàn tỉnh An Giang .................................................. 61

Bảng 2.5. Danh sách nhà hàng và quán ăn tại TX. Châu Đốc ............................... 62

Bảng 2.6. Danh sách siêu thị và trung tâm thương mại trên địa bàn tỉnh An Giang

............................................................................................................... 63

Bảng 2.7. Số lao động trong lĩnh vực dịch vụ của tỉnh An Giang Giai đọan

2005-2010 .............................................................................................. 64

Bảng 2.8. Số người lao động trong ngành du lịch ở An Giang giai đoạn

2006-2010 .............................................................................................. 65

Bảng 2.9. Thực trạng du khách và doanh thu du lịch tỉnh An Giang, giai đọan

2006 - 2010 ............................................................................................ 69

Bảng 2.10. Số lượng khách du lịch đến rừng tràm Trà Sư (2007 – 2009) .............. 73

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1. Dân số tỉnh An Giang giai đoạn 2000 - 2010 ...................................... 30

Biểu đồ 2.2. Nhiệt độ và lượng mưa các tháng trong năm 2010 ở An Giang ......... 36

Biểu đồ 2.3. Số lượng khách quốc tế và khách nội địa ở An Giang, giai đoạn

2006 - 2010 .......................................................................................... 70

Biểu đồ 2.4. Doanh thu từ các doanh nghiệp du lịch ở An Giang giai đoạn

2006 - 2010 .......................................................................................... 71

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 2.1. Hệ thống thực vật ở RTTS ........................................................................ 82

Hình 2.2.Các phân khu chức năng RTTS ................................................................. 82

Hình 2.3. Các khoảnh trong các phân khu chức năng RTTS .................................... 83

Hình 2.4. Mùa nước nổi ở Láng Linh ....................................................................... 89

DANH MỤC BẢN ĐỒ

Bản đồ 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh An Giang ....................................................... 25

Bản đồ 2.2. Phân vùng ngập lụt tỉnh An Giang ứng với mực nước đỉnh lũ có tần

suất 10% tại Tân Châu ........................................................................ 37

Bản đồ 2.3. Hệ thống tuyến, điểm du lịch tỉnh An Giang ..................................... 72

Bản đồ 2.4. Các điểm DLMNN ở An Giang .......................................................... 81

Bản đồ 2.5. Địa bàn tổ chức hoạt động DLMNN ................................................... 92

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong những thập niên gần đây, trong xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập kinh

tế diễn ra mạnh mẽ, Du lịch – Ngành công nghiệp không khói có tốc độ phát triển

rất nhanh trên toàn thế giới. Nó trở thành nguồn thu ngoại tệ lớn của nhiều nước,

đặc biệt là các nước đang phát triển.

Đối với Việt Nam, ngoài yếu tố thuận lợi cơ bản là nằm trong vùng Châu Á,

nơi mà tổ chức du lịch thế giới và nhiều nhà chuyên môn du lịch có tên tuổi đã

khẳng định và dự báo rằng sẽ thu hút nhiều khách du lịch quốc tế nhất ở thế kỷ 21,

chúng ta còn có những điều kiện về pháp lý, cộng đồng và tiềm năng phát triển du

lịch sinh thái to lớn. Tiềm năng và thế mạnh về sự đa dạng sinh thái của Việt Nam

hấp dẫn du lịch ở nhiều đặc trưng sinh thái. Các đặc trưng đó cũng được thể hiện rất

rõ rệt ở vùng du lịch ĐBSCL. Hội nghị các nước tiểu vùng lưu vực sông MeKong

năm 1996-1997 đã đánh giá ĐBSCL là khu vực có tiềm năng và có thế mạnh loại

hình du lịch văn hóa, tự nhiên. Tổ chức du lịch thế giới (WTO) cũng xác định: Du

lịch sông MeKong nhất là vùng sông nước khu vực hạ lưu thuộc ĐBSCL là một

trong mười điểm du lịch nổi tiếng thế giới vào năm 2000. Đó là một sự thu hút

mạnh mẽ đối với khách du lịch trong và ngoài nước.

Thấy rỏ xu hướng phát triển du lịch hiện nay. An Giang đã mạnh dạn chọn

du lịch là một trong những ngành mũi nhọn phát triển, là ngành đầy triển vọng và

khả năng đóng góp GDP rất lớn cho tỉnh nhà. Vốn là tỉnh thuộc Đồng Bằng Sông

Cửu Long, vốn đã mang trong mình hương vị của một vùng sông nước mênh mông

và tràn ngập phù sa với những cánh đồng bạt ngàn xanh thẩm phù hợp với xu hướng

chung của du lịch thế giới hiện nay đó là trở về với những gì đơn sơ, mộc mạc, trở

về với thiên nhiên cây cỏ với đời sống dân dã vốn đã xa lạ với nếp sống công

nghiệp hiện đại nhưng lại mang lại những giá trị tinh thần thuần thúy và to lớn nhất.

Đặc biệt vào mùa nước nổi khoảng tháng 7 âm lịch những cánh đồng bạt ngàn xanh

thẩm ấy không còn nửa mà thay vào đó là những cánh đồng nước mênh mông len

lỏi vào từng con kênh con gạch, từng đàn cá từ thượng nguồn sông Mekong đổ về

2

đây sinh sôi và phát triển, những hoạt động giản dị nhất đã chính thức bắt đầu. Mùa

nước nổi không chỉ là mùa kiếm sống từ nguồn lợi thủy sản của người dân miền

sông nước, không chỉ là mùa mang đến nhiều khó khăn cho người dân nơi đây mà

còn là mùa du lịch hấp dẫn. Tuy nhiên vấn đề này chưa được nghiên cứu một cách

hợp lý và nghiêm túc, việc khai thác ít nhiều đã mang lại những tốn thất về môi

trường và tự nhiên. Như vậy làm thế nào để tiềm năng ấy trở thành tài sản quý giá?

làm thế nào để người dân miền sông nước có thể tăng thêm thu nhập trong mùa lũ?

Và làm thế nào để bảo tồn được những giá trị thiên nhiên ấy? Đây là một vấn đề rất

cấp bách hiện nay..

Với mong muốn đóng góp phần nào công sức cho việc đáp ứng yêu cầu đó,

tôi đã chọn đề tài luận văn thạc sĩ: “PHÁT TRIỂN DU LỊCH MÙA NƯỚC NỔI Ở

TỈNH AN GIANG”.

2. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích triềm năng và thực trạng hoạt động du lịch mùa nước nổi ở

tỉnh An Giang, đề xuất các định hướng và giải pháp phát triển loại hình du lịch

mùa nước nổi (DLMNN) ở địa phương đến năm 2020.

3. Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan có chọn lọc một số vấn đề lý luận cơ bản về du lịch mùa nước nổi.

- Phân tích các điều kiện phát triển DLMNN ở An Giang.

- Phân tích thực trạng hoạt động DLMNN ở tỉnh An Giang trong giai đoạn 2005-

2010.

- Đề xuất định hướng và giải pháp phát triển DLMNN ở tỉnh An Giang đến năm

2020.

4. Giới hạn nghiên cứu

- Nội dung nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu tiềm năng, thực trạng và định

hướng phát triển DLMN, không mở rộng sang các loại hình du lịch khác.

- Thời gian: Thực trạng phát triển DLMNN giai đoạn 2005-2011; Định hướng

phát triển DLMNN đến năm 2020.

- Không gian: Trên địa bàn tỉnh An Giang

3

5. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

5.1 Các quan điểm nghiên cứu

5.1.1 Quan điểm hệ thống

Theo quan điểm hệ thống, địa lý của một vùng chính là một hệ thống. Trong

đó lại tồn tại các hệ thống cấp thấp hơn, đó là các yếu tố tự nhiên (địa hình, địa

mạo, khí tượng, tài nguyên thiên nhiên,…) và các yếu tố kinh tế - xã hội (con người,

cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ sở hạ tầng, đường lối - chính sách,…). Giữa các hệ

thống có mối quan hệ với nhau và giữa các yếu tố trong cùng một hệ thống cũng

hiện hữu mối quan hệ tác động. Trong cùng hệ thống, giữa các hệ thống, mối quan

hệ này có thể dẫn đến kết quả tích cực hay tiêu cực.

5.1.2 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ

Dựa vào quan điểm này để thấy được bức tranh toàn cảnh của cả đối tượng

nghiên cứu và các yếu tố xung quanh, thấy rõ mối quan hệ qua lại, tác động lẫn

nhau giữa chúng. Thông qua quan điểm tổng hợp lãnh thổ, nét đặc trưng tiêu biểu

của đối tượng nghiên cứu cũng được nêu bật, giúp ta phân biệt, nhận biết được đối

tượng so với các yếu tố khác. Đặc biệt, khi nghiên cứu sự khác biệt về mặt tự nhiên

sẽ phát hiện ra mối quan hệ hữu cơ trong tổng thể, phát hiện các đặc trưng quan

trọng nhất, chuẩn bị cho việc quy hoạch, thiết kế không gian sản xuất và sinh sống

trong các hoạt động của lãnh thổ với một cấu trúc hợp lý nhất.

5.1.3 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh

Dù bất cứ là một đối tượng địa lý nào cũng có nguồn gốc phát sinh, quá trình

tồn tại và phát triển. Các biến động đều diễn ra trong những điều kiện địa lý nhất

định với những xu hướng nhất định. Xu hướng phát triển của chúng đi từ quá khứ,

hiện tại đến tương lai. Trong đó tồn tại một mối quan hệ rất đặc biệt tạo nên một

mối quan hệ khép kín từ quá khứ đến tương lai; hiện tại có bị ảnh hưởng, bị tác

động có kế thừa, có phát sinh cái mới, đôi khi cũng loại bỏ một bộ phận, một yếu tố

của quá khứ và tương tự đối với hiện tại thì tương lai cũng thế.

Với quan điểm lịch sử - viễn cảnh ta sẽ nhìn thấy đối tượng trong quá khứ, liên

hệ đến hiện tại và sau đó phát hoạ bức tranh toàn cảnh cho sự phát triển trong tương

4

lai và có thể đưa ra những định hướng, giải pháp cụ thể để nhằm phát triển và sử

dụng tốt đối tượng.

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1. Phương pháp phân tích tổng hợp và nghiên cứu hệ thống

Đây là phương pháp cơ bản được sử dụng trong đề tài nghiên cứu. Phương

pháp này được sử dụng nghiên cứu những đối tượng có mối quan hệ đa chiều và

biến động trong không gian và thời gian như ngành du lịch.

5.2.2. Phương pháp điều tra thực địa

Nhằm điều tra bổ sung và kiểm tra lại những thông tin cần thiết cho quá trình

phân tích, xử lí số liệu trước khi thực hiện đề tài. Trên thực tế, các số liệu thống kê

của ngành du lịch nói chung còn rất nhiều bất cập và chưa thống nhất.

5.2.3. Phương pháp bản đồ

Trên cơ sở phân tích, đánh giá tổng hợp, đề tài sẽ áp dụng phương pháp bản đồ

nhằm thể hiện một cách trực quan các nội dung nghiên cứu, các số liệu cụ thể trên

biểu đồ cũng như xác định được địa điểm và phân bố theo lãnh thổ của các đối

tượng nghiên cứu trên bản đồ. Xây dựng một số bản đồ mang tính chức năng như:

bản đồ hành chính, bản đồ tài nguyên du lịch, bản đồ tổ chức lãnh thổ du lịch trên

địa bàn. Trên bản đồ cũng thể hiện quy luật của toàn bộ hệ thống trong không gian.

5.2.4. Phương pháp thống kê toán học

Phương pháp này nghiên cứu về mặt định lượng của các chỉ tiêu phát triển

trong hoạt động du lịch. Những thông tin, số liệu có liên quan đến các hoạt động du

lịch ở địa phương sẽ thu thập, thống kê làm cơ sở cho việc xử lí, phân tích và đánh

giá nhằm thực hiện những mục tiêu của đề tài đã đề ra.

5.2.5. Phương pháp dự báo

Để đánh giá và xác định các vấn đề trong nội dung có lien quan, dựa vào các

nguyên nhân, hệ quả và tính hệ thống trong việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ du

lịch, từ đó dự báo các chỉ tiêu phát triển du lịch trong tương lai của tỉnh.

5

5.2.6. Phương pháp khai thác phần mềm của hệ thống thông tin

Các chương trình phần mềm xử lí các thông tin thu được thông qua điều tra

như Excel, Word, Windows, Mapinfo…để xử lý, phân tích kết quả điều tra và thể

hiện qua các bảng thống kê, các bản đồ, biểu đồ, sơ đồ…

5.2.7. Phương pháp chuyên gia

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi đã nhận được các ý kiến của các nhà

quản lý du lịch của tỉnh và một số cán bộ am hiểu về DLMNN để đưa ra các đánh

giá, đề xuất định hướng phát triển DLMNN sát hợp hơn với thực tiễn địa phương.

6. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Du lịch dân dã ngày nay đã trở thành một xu thế chung của du lịch hiện đại ở

Việt Nam cũng như trên toàn thế giới.

Trên địa bàn tỉnh An Giang, cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu

về du lịch nói chung, du lịch sinh thái nói riêng, trong đó có DLMNN. Một số công

trình tiêu biều là:

 Các bài báo

- Mai Bửu Hoàng Hưng - Lễ hội văn hóa mùa nước nổi, năm 2008

- Mai Bửu Minh – An Giang chinh phục lũ, năm 2011

- Đăng nguyên – Du lịch miền tây mùa nước nổi, năm 2011

- Trần Kim Mỹ Xuyên – Về An Giang đi tour mùa nước nổi, năm 2009

- Bành Thanh Hùng – Định hướng phát triển du lịch sinh thái tại rừng tràm Trà

Sư.

- Bành Thanh Hùng – Khu bảo tồn rừng tràm Trà Sư.

- Thanh Bình - Vương Thoại Trung - Đánh thức tiềm năng du lịch sinh thái rừng

tràm Trà Sư-An Giang, năm 2009

- Báo An Giang - Tịnh Biên: tiếp tục đẩy mạnh khai thác tiềm năng du lịch gắn

với du lịch sinh thái cộng đồng mùa nước nổi, năm 2011

 Đề tài

- Võ Ngọc Ánh – Phát huy lợi thế mùa nước nổi ở An Giang, năm 2004

6

- Đào Minh Huệ - Phát triển bền vững khu du lịch sinh thái rừng tràm Trà Sư An

Giang, năm 2010

Tuy nhiên, các công trình này chỉ đề cập DLMNN dưới dạng phản ánh thực

trạng phát triển và quảng bá cho loại hình du lịch nhiều tiềm năng này. Việc nghiên

cứu nhìn chung chưa bài bản, còn trùng lắp về nhiều vấn đề và chưa khoa học.

Trên địa bàn tỉnh An Giang hiện nay có rất nhiều tour du lịch mùa nước nổi

trên địa bàn tỉnh và cũng được sự quan tâm đặc biệt của du khách thế nhưng việc

phát triển và định hướng cho loại hình du lịch này một cách tổng thể vẫn còn ở dạng

tiềm năng.

7. Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận. Luận văn gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển du lịch mùa nước nổi

Chương 2: Tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch mùa nước nổi

Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch mùa nước nổi ở tỉnh An

Giang

7

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH

MÙA NƯỚC NỔI

1.1. Các khái niệm và quan niệm

1.1.1. Du lịch

Theo điều 4, Chương I, Luật du lịch Việt Nam năm 2005 (ban hành ngày

14/06/2005) : du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài

nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải

trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.

Theo Tổ chức Du lịch thế giới : du lịch là hoạt động của con người đến và ở

tại những nơi ngoài môi trường hàng ngày của họ trong một thời gian nhất định với

mục đích giải trí, công vụ hay những mục đích khác.

1.1.2. Loại hình du lịch

Theo tác giả Trương Sỹ Quý thì loại hình du lịch có thể được định nghĩa như

sau : “loại hình du lịch được hiểu là một tập hợp các sản phẩm du lịch có những đặc

điểm giống nhau, hoặc vì chúng thỏa mãn những nhu cầu, động cơ du lịch tương tự,

hoặc được bán cho cùng một nhóm khách hàng, hoặc vì chúng có cùng một cách

phân phối, một cách tổ chức như nhau, hoặc được xếp chung theo một mức gía bán

nào đó”.

Các loại hình du lịch được phân loại như sau :

- Theo phạm vi lãnh thổ của tuyến du lịch :

 Du lịch quốc tế

 Du lịch nội địa

- Theo nhu cầu trong thực hiện hành vi du lịch :

 Du lịch nghĩ dưỡng, giải trí

 Du lịch thể thao

 Du lịch chữa bệnh

 Du lịch vì mục đích văn hóa

8

 Du lịch sinh thái

 Du lịch tôn giáo

 Du lịch về thăm thân nhân, quê hương

 Du lịch thương gia

 Du lịch công cụ

 Du lịch quá cảnh

- Ngoài ra còn phân theo :

 Theo đối tượng đi du lịch

 Theo hình thức tổ chức chuyến đi

 Theo phương tiện sử dụng trong thời gian đi du lịch

 Theo loại hình lưu trú

 Theo thời gian đi du lịch

 Theo vị trí địa lý của nơi đến

1.1.3. Tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch

nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác.

Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí

hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục

đích du lịch.

Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa,

văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao

động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể

được sử dụng phục vụ mục đích du lịch.

Tài nguyên du lịch có thể thuộc sở hữu nhà nước hoặc sở hữu của tổ chức, cá

nhân.

1.1.4. Sản phẩm du lịch

Theo điều 4, Chương I, Luật du lịch Việt Nam năm 2005 (ban hành ngày

14/06/2005), sản phẩm du lịch là một tổng thể phức tạp bao gồm nhiều thành phần

không đồng nhất cấu tạo thành, đó là tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân văn, cơ

9

sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng dịch vụ du lịch và đội ngũ cán bộ nhân viên du

lịch. Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của

khách du lịch trong chuyến đi du lịch.

1.1.5. Tính thời vụ trong du lịch

1.1.5.1. Khái niệm

Thời vụ du lịch được hiểu là những biến động lặp đi lặp lại hàng năm của

cung cầu và các dịch vụ du lịch dưới tác động của một số nhân tố xác định.

1.1.5.2. Đặc điểm của tính thời vụ du lịch

- Thời vụ du lịch có tất cả các nước, các vùng có hoạt động du lịch.

- Một nước hoặc một vùng có thể có một hay nhiều thời vụ du lịch, điều này

phụ thuộc vào các thể loại du lịch được khai thác ở đó.

- Cường độ của thời vụ du lịch không đều nhau ở các tháng khác nhau

- Ở các nước, các vùng du lịch phát triển, thời vụ du lịch kéo dài hơn và

cường độ du lịch chính yếu hơn, ở các nước, các vùng du lịch mới phát triển có

nguồn du lịch chính ngắn hơn và cường độ của mùa du lịch chính mạnh hơn.

- Độ dài thời gian và cường độ của thời vụ không bằng nhau đối với các thể

loại du lịch khác nhau, ví dụ : du lịch chữa bệnh có thời gian dài hơn và cường độ

vào mùa chính yếu hơn, du lịch nghỉ biển có thời vụ ngắn hơn và cường độ mạnh

hơn.

- Cường độ và độ dài của mùa du lịch còn phụ thuộc vào cơ cấu của du

khách đến nước hoặc vùng du lịch, ví dụ : du lịch lứa tuổi thanh thiếu niên thường

có thời vụ ngắn hơn và cường độ của mùa du lịch chính mạnh hơn so với du lịch

của lứa tuổi trung niên và cao niên.

- Cường độ và độ dài du lịch phụ thuộc vào loại hình của cơ sở lưu trú, ở

khách sạn, khu điều dưỡng có mùa du lịch kéo dài hơn và cường độ của mùa du lịch

chính giảm nhẹ, còn ở camping thì mùa du lịch ngắn hơn và cường độ mạnh hơn.

10

1.2. Một số vấn đề lý luận về du lịch mùa nước nổi

1.2.1. Khái niệm du lịch mùa nước nổi

1.2.1.1. Quan niệm về mùa nước nổi

ĐBSCL được biết đến là vùng đất giàu tiềm năng, có mật độ dân cư đông

đúc, được hình thành từ phù sa của phần hạ lưu sông Mê Kông, là một vùng đất trù

phú được thiên nhiên ưu đãi với rất nhiều thuận lợi để phát triển, đặc biệt là nông

nghiệp. Thế nhưng, ĐBSCL chịu ảnh hưởng nặng nề của lũ lụt. Hằng năm, từ tháng

6 đến tháng 12 nước từ thượng nguồn sông Mê Kông đổ về tràn ngập khắp các phụ

lưu và hệ thống kênh gạch chằng chịt của ĐBSCL chảy vào đồng ruộng, gây ra hiện

tượng ngập lụt trên một diện tích rộng lớn, tạo thành một vùng ngập lũ rất rộng, bao

gồm các tỉnh: An Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Long An,

Tiền Giang và Vĩnh Long. Trong đó, An Giang là một trong các tỉnh có toàn bộ

diện tích tự nhiên nằm trong vùng ngập lũ.

Tính chất lũ của sông Cửu Long phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên của một

lưu vực rất rộng và dài, vì vậy khi lũ về đồng bằng thì cường độ giảm đi rất nhiều,

lũ lên và xuống một cách chậm rãi, thời gian lũ kéo dài và cường suất lũ không lớn

lắm. Điều đó được thể hiện ở những đặc trưng cơ bản sau :

- Cường suất lũ ở hạ lưu sông MeKong thuộc loại nhỏ, đầu mùa lũ nước sông

lên nhanh và có cường suất tương đối lớn sau đó giảm dần khi tràn vào các vùng

trũng và sau đó giữ ở mức ổn định khoảng 3-5 cm/ngày. Khi lũ xuống thời gian đầu

có cường suất nhỏ 2-4 cm/ngày, sau đó tăng dần, điều đó trái ngược với thờ kỳ đầu

mùa lũ. Do cường suất và biên độ lũ nhỏ nên sự tàn phá của nó là không lớn.

- Thời gian lũ lên và xuống ở hạ lưu sông Mê Kông khá dài. Những năm lũ

lớn thời gian lũ từ 3-4 tháng và lũ xuống gần tới 3 tháng, còn năm lũ nhỏ thời gian

lũ lên và xuống cũng gần 4 tháng. Điều đó làm ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và

sinh hoạt của nhân dân trong vùng ngập lụt.

- Lũ ở hạ lưu sông Mê Kông là hiện tượng tự nhiên, có chu kỳ thường xuyên

hàng năm, không xuất hiện bất thình lình, đột ngột. Thường từ tháng 6 đến tháng 12

11

hàng năm, lũ lên ở hạ lưu sông Mê Kông khá thú vị khi trùng hợp với mùa mưa ở

ĐBSCl.

- Lũ ở hạ lưu sông Mê Kông không những chảy theo các sông chính mà còn

tràn qua và lấp đầy các khu trũng nhất là hai túi nước khổng lồ vào mùa lũ Đồng

Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên.

Chính vì những đặc trưng cơ bản và riêng biệt của mùa lũ ở hạ lưu sông Mê

Kông, mà người dân An Giang nói riêng và ĐBSCL nói chung có một cách gọi

khác về màu lũ, đó là “mùa nước lên” hay “mùa nước nổi”. Mùa nước nổi là cách

gọi phổ biến nhất và tương đối hợp lý nhất cho mùa lũ ở ĐBSCL vì nó thể hiện

những đặc trưng của lũ, thể hiện được mong ước của người dân vùng lũ, với khả

năng sống chung với lũ. Thay vì gọi là lũ, lụt hay lũ lụt thì không hợp lý vì không

thể hiện được đặc trưng cơ bản của lũ ở hạ lưu sông MeKong, mà chỉ thể hiện ở

khía cạnh thiệt hại, tính chất chung nhất của lũ lụt là khả năng gây tổn thất và thiệt

hại to lớn mà chúng mang lại.

1.2.1.2. Quan niệm về du lịch mùa nước nổi

Du lịch mùa nước nổi (DLMNN) là một trong những loại hình du lịch sinh

thái khá độc đáo. Hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về du lịch sinh thái.

Theo Tổ chức du lịch sinh thái quốc tế: “DLST là chuyến du hành có trách

nhiệm, đến những khu vực tự nhiên, gìn giữ bảo vệ môi trường và góp phần cải

thiện phúc lợi xã hội cho người dân địa phương”. Còn Ủy ban chiến lược du lịch

sinh thái quốc gia Australia cho rằng: “Du lịch sinh thái là chuyến du lịch tự nhiên

bao gồm việc giáo dục, giải thích về môi trường tự nhiên và quản lý bền vững về

phương diện sinh thái”.

Trong luật du lịch năm 2005, có một định nghĩa khá ngắn gọn : “Du lịch sinh

thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương

với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững”.

Theo quy chế quản lý các hoạt động du lịch sinh thái tại các vườn quốc gia,

khu bảo tồn thiên nhiên, do bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành năm

2007, thì Du lịch Sinh thái được hiểu là “Du lịch sinh thái: Là hình thức du lịch dựa

12

vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng

dân cư ở địa phương nhằm phát triển bền vững”.

Từ những vấn đề trên có thể thấy được rằng DLMNN là một loại hình du

lịch sinh thái, dựa vào hệ sinh thái đặc thù của vùng đất ngập nước, góp phần bảo

tồn, phát huy và thưởng thức những cảnh đẹp thiên nhiên cùng với người dân trong

vùng.

Từ những cơ sở ấy có thể đưa ra khái niệm về du lịch mùa nước nổi như sau:

“DLMNN là hình thức du lịch dựa vào hệ sinh thái đặc thù của những vùng

đất ngập nước ở khu vực ĐBSCL, gắn với những hoạt động trong đời sống sinh

hoạt - văn hóa đặc trưng của người dân vùng ngập nước với sự tham gia của cộng

đồng nhằm phát triển bền vững.”

Khái niệm DLMNN theo nghĩa rộng còn được hiểu là các hoạt động du lịch

trong mùa nước nổi. Vì vậy, hoạt động này mang tính thời vụ. Do đó phát triển DL

trong mùa nước nổi cũng được coi là giải pháp để khắc phục tính thời vụ du lịch của

tỉnh An Giang nói riêng và một số tỉnh vùng Tứ giác Long Xuyên nói chung.

1.2.2. Đặc trưng của du lịch mùa nước nổi

DLMNN chỉ hoạt động khi con nước từ thượng nguồn sông Mê Kông đổ về

khoảng tháng 7 âm lịch, đúng vào lúc mùa mưa bắt đầu diễn ra ở ĐBSCL.

DLMNN mang một nét đặc trưng rất riêng vì chỉ hoạt động chủ yếu dựa vào

thiên nhiên vùng ngập nước do đó chỉ sử dụng phương tiện ghe, xuồng, tắc ráng,

thuyền,... là phương tiện vận tải chính.

Đối tượng khai thác của loại hình DLMNN là những hoạt động đời thường

của người dân cùng với hệ thống sinh vật, sống trong vùng ngập nước:

- Về động vật như : Các loại cá, chim, cò, dơi, chuột đồng,...

- Về thực vật như : rừng tràm, bông điên điển, sen, súng,...

- Khám phá cuộc sống bình dị với những dãy nhà dọc theo kênh rạch, cùng

hoạt động chày lười, giăng câu, đặt vó, ...

13

1.2.3. Các điều kiện phát triển du lịch mùa nước nổi

1.2.3.1. Tài nguyên du lịch

 Tài nguyên du lịch tự nhiên:

- Địa hình:

Địa hình là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên phong cảnh

và sự đa dạng của phong cảnh nơi đó. Đối với du lịch, các dấu hiệu bên ngoài của

địa hình càng đa dạng và đặc biệt thì càng có sức hấp dẫn du khách.

Các đơn vị hình thái chính của địa hình là núi, đồi và đồng bằng, chúng được

phân biệt bởi độ chênh cao của địa hình.

Địa hình đồng bằng tương đối đơn điệu về ngoại hình, ít gây cảm hứng cho

khách tham quan du lịch, nhưng trong mùa nước nổi, vùng đồng bằng tạo nên bề

mặt nước rộng lớn, tạo điều kiện thực hiện các họat động du lịch gắn với đối tượng

nước như tham quan, “tắm đồng”, và các loại hình du lịch sinh thái khác.

Địa hình đồi, núi tạo tác động mạnh đến tâm lý của khách ưa thích dã ngoại.

Trong mùa nước nổi, các dạng địa hình đồi, núi thay đổi bởi chúng có thể biến

thành các đảo giữa vùng nước mênh mông, tạo nên phong cảnh sơn thủy hữu tình,

rất hấp dẫn du khách.

Địa hình Karst nước mang lại nhiều vẻ đẹp huyền bí và thu hút du khách

tham quan thám hiểm hang động, tham quan nghiên cứu,...

- Khí hậu:

Tài nguyên khí hậu là sự tổng hợp các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, áp suất không

khí, tốc độ gió, hướng gió, bức xạ nhiệt. Điều kiện khí hậu có ảnh hưởng đến việc

thực hiện các chuyến du lịch hoặc hoạt động dịch vụ du lịch.

Các điều kiện của tài nguyên khí hậu khai thác phục vụ cho các mục đích

phát triển du lịch khá đa dạng như : Tài nguyên khí hậu thích hợp với sức khỏe của

con người ; tài nguyên khí hậu phục vụ cho việc chữa bệnh, an dưỡng ; tài nguyên

khí hậu phục vụ cho các hoạt động thể thao mùa đông ; tài nguyên khí hậu thích hợp

cho du lịch tắm, lặn biển và thể thao biển,...

Nhìn chung, những nơi có khí hậu ôn hoà thường được du khách ưa thích.

14

Những nơi có nhiều gió cũng không thích hợp với phát triển du lịch. Mỗi loại hình

du lịch thường đòi hỏi những điều kiện khí hậu khác nhau. Chẳng hạn du khách đi

nghỉ biển mùa hè thường chọn những dịp ít mưa, nắng nhiều nhưng không gắt, nước

mát, gió vừa phải. Như vậy, ở mức độ nhất định cần phải chú ý đến những hiện

tượng thời tiết đặc biệt làm cản trở đến kế hoạch du lịch.

- Nguồn nước:

Nước được coi là tài nguyên quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển

du lịch nói chung và để phát triển nhiều loại hình du lịch.

Đối với DLMNN, các bề mặt sông, hồ và các vùng ngập nước ngọt kết hợp

với các loại tài nguyên khác như núi non, rừng cây tự nhiên, HST nhân văn tạo ra

những phong cảnh nên thơ hữu tình hấp dẫn du khách.

Các vùng nước mặt có phong cảnh đẹp, không bị ô nhiễm là môi trường

thuận lợi cho triển khai các hoạt động tham quan, bơi lội, du thuyền,... và các họat

động du lịch sinh thái khác.

- Sinh vật:

Tài nguyên sinh vật bao gồm toàn bộ các loài thực vật, động vật sống trên

lục địa và dưới nước vốn có sẵn trong tự nhiên và do con người thuần dưỡng, chăm

sóc, lai tạo.

Đối với DLMNN, nguồn tài nguyên sinh vật quan trọng nhất chính là các hệ

sinh thái ngập nước với độ đa dạng sinh học cao, có các loài sinh vật quý hiếm và

sự đa dạng cá thể loài. Các hệ sinh thái đất ngập nước thường là nơi tập trung kiếm

ăn, cư trú và sinh sản của nhiều loại thủy sản, nhiều loại thú, bò sát, lưỡng cư và các

loài chim nước.

Tài nguyên sinh vật kết hợp với tài nguyên nước và địa hình tạo điều kiện

thuận lợi cho phát triển loaị hình du lịch sông nước - miệt vườn đặc trưng trong các

vùng có mùa nước nổi.

 Tài nguyên du lịch nhân văn:

Mùa nước nổi tạo nên phong cảnh khác với các thời gian khác trong năm ở

các vùng có mùa nước nổi. Tài nguyên du lịch tự nhiên là nền tảng quan trọng để

15

phát triển DLMNN. Tuy nhiên, trong các chuyến đi du lịch trong mùa nước nổi, du

khách còn quan tâm đến các sản phẩm du lịch có liên quan đến nguồn tài nguyên du

lịch nhân văn ở các vùng đó. Các tài nguyên nhân văn chủ yếu bao gồm:

- Di tích lịch sử - văn hóa:

Di tích lịch sử - văn hóa chứa đựng những truyền thống tốt đẹp, những tinh

hoa, tài trí, tài năng, giá trị văn hóa, kiến trúc, mỹ thuật của mỗi địa phương, mỗi

quốc gia. Di tích lịch sử - văn hóa là tài nguyên nhân văn quý giá được hình thành

và bảo tồn, tôn tạo của nhiều thế hệ ở các địa phương và các quốc gia. Vì vậy, nhiều

di tích lịch sử - văn hóa đã trở thành đối tượng tham quan, nghiên cứu thực hiện các

nghi lễ tâm linh của nhiều du khách và là nguồn TNDL quý giá.

Ở Việt Nam, theo Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử và danh lam

thắng cảnh, công bố ngày 4 tháng 4 năm 1984 được quy định:

“ Di tích lịch sử văn hoá là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài

liệu và các tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng như văn hoá

khác, hoặc liên quan đến các sự kiện lịch sử, qua trình phát triển văn hoá - xã hội”.

“ Danh lam thắng cảnh là những khu vực thiên nhiên hoặc có những công

trình cổ nổi tiếng”.

Do đó: Chỉ những di tích nào có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, nghệ thuật

mới được coi là những di tích lịch sử văn hoá.

- Lễ hội:

Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa tập thể của nhân dân sau thời gian

lao động vật vả. Lễ hội là dịp để mọi người thể hiên lòng nhớ ơn tổ tiên, những

người có công với địa phương và với đất nước, có liên quan đến những nghi lễ tôn

giáo, tín ngưỡng ôn lại giá trị văn hóa nghệ thuật truyền thống hoặc hướng về sự

kiện lịch sử - văn hóa, kinh tế trọng đại của địa phương, của đất nước hoặc là những

hoạt động vui chơi giải trí, là dịp để tăng thêm tinh thần đoàn kết cộng đồng.

Các lễ hội thường bao gồm hai phần : phần lễ và phần hội.

- Nghề thủ công truyền thống:

16

Nghề thủ công truyền thống là những nghề mà bí quyết và công nghệ sản

xuất ra các sản phẩm mang những giá trị thẩm mỹ, tư tưởng triết học, tâm tư tình

cảm ước vọng của con người.

Khi du khách đến tham quan, nghiên cứu ở các làng nghề thủ công truyền

thống, họ không chỉ tìm hiểu thưởng thức những giá trị nghệ thuật, sản xuất nghề,

mùa những sản phẩm thủ công quý làm quà cho người thân của mình mà còn là dịp

để du khách tìm hiểu, trải nghiệm, hưởng thụ những giá trị văn hóa tốt đẹp, đặc sắc

của các làng nghề truyền thống.

1.2.3.2. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch

 Cơ sở hạ tầng:

Hệ thống giao thông cùng với hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống cấp điện

và cấp thoát nước, ... là những nguồn lực quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho du

lịch phát triển..

- Mạng lưới và phương tiện giao thông vận tải là những nhân tố quan trọng

hàng đầu vì họat động du lịch gắn liền với việc di chuyển con người. Một địa bàn có

thể có sức hấp dẫn đối với du khách nhưng vẫn không thể khai thác được nếu thiếu

yếu tố giao thông vận tải. Thông qua mạng lưới giao thông thuận tiện, nhanh chóng

du lịch mới trở thành một hiện tượng phổ biến trong đời sống xã hội.

Mỗi loại hình giao thông có những đặc trưng riêng biệt. Đối với DLMNN,

giao thông đường thuỷ có vai trò đặc biệt quan trọng. Các phương tiện giao thông

đường thủy cho phép du khách có thể kết hợp di chuyển với tham quan, giải trí,…

dọc theo sông hay trên các vùng ngập nước..

- Thông tin liên lạc là điều kiện cần thiết để đảm bảo việc vận chuyển tin tức

một cách nhanh chóng và kịp thời, thỏa mãn nhu cầu giao lưu của du khách và các

đơn vị cung ứng du lịch giữa các vùng trong nước và với quốc tế.

- Hệ thống cung cấp điện, nước: khi rời khỏi nơi cư trú thường xuyên đến

một địa điểm khác, ngoài các nhu cầu về ăn, uống, ở, đi lại,… du khách còn có nhu

cầu đảm bảo về điện, nước để cho quá trình sinh hoạt được diễn ra bình thường. Hệ

thống xử lý cấp thoát nước, xử lý chất thải còn góp phần quan trọng tạo ra những

17

điều kiện đáp ứng nhu cầu nước sạch và tạo ra môi trường trong sạch hấp dẫn du

khách.

 Cơ sở vật chất kỹ thuật:

CSVCKT được hiểu là toàn bộ các phương tiện vật chất kĩ thuật được huy

động tham gia vào việc khai thác các tài nguyên du lịch nhằm tạo ra và thực hiện

các dịch vụ và hàng hóa thỏa mãn nhu cầu của du khách.

CSVTKT du lịch bao gồm:

- Các cơ sở lưu trú, ăn uống (motel, hotel, camping, Bugalow, Làng du lịch,

Biệt thự, nhà nghỉ, nhà trọ, nhà hàng, nhà có phòng cho thuê, nhà hàng cafeteria,

night club, snack bar,...)

- Các cơ sở vui chơi giả trí: các công viên giải trí, công viên chủ đề, các sân

thể thao, phòng thể thao, sân vận động, các thiết bị vui chơi giải trí.

- Các phương tiện vận tải dùng chuyên chở khách du lịch như máy bay, ô tô,

tàu thủy, tàu hỏa,... Đối với du lịch mùa nước nổi, cần có các phương tiện giao

thông đường thủy đa dạng, thích hợp với họat động tham quan và thực hiện các dịch

vụ khác.

- Các trạm đón tiếp trên các tuyến du lịch, các trung tâm thông tin du lịch,

các trung tâm mua sắm,... và các cơ sở dịch vụ bổ sung khác như trạm xăng dầu,

thiết bị cấp cứu, hiệu ảnh, bưu điện…

- Các khu du lịch

Ngoài yếu tố tài nguyên du lịch, CSVTKT du lịch góp phần đáng kể vào việc

phát triển bền vững cho hoạt động du lịch ở các địa phương, các quốc gia cũng như

mức độ thu hút khách du lịch, sự thảo mãn trong hoạt động du lịch về điều kiện vật

chất của du khách.

Có 3 tiêu chí để đánh giá hiệu quả của CSVCKT du lịch đó là: Đảm bảo

những điều kiện tốt nhất cho nghỉ ngơi du lịch; Hiệu quả kinh tế tối ưu trong xây

dựng và khai thác; Thuận tiện cho du khách.

1.2.3.3. Các nhân tố kinh tế - xã hội và chính trị

 Nguồn nhân lực du lịch:

18

Lao động du lịch bao gồm toàn bộ năng lực con người trong và ngoài nước,

trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào các hoạt động quản lý, nghiên cứu, khinh

doanh du lịch của các quốc gia, vùng, địa phương. Đây là một trong số các yếu tố

có vai trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển du lịch về tốc độ, chất lượng và tính

đa dạng.

Lao động du lịch bao gồm lao động có trình độ chuyên sâu và khả năng tổng

hợp cao, chuyên nghiệp và lao động truyền thống đơn giản không đòi hỏi tính

chuyên nghiệp cao, lao động du lịch vừa là chủ thể và đối tượng khai thác, không có

sự phân bố đồng đề về không gian và sử dụng thời gian ổn định, số lượng lao động

thường xuyên thay đổi theo thời vụ và tính chất, yêu cầu của các loại hình du lịch.

Hoạt động DLMNN có đặc thù riêng, đòi hỏi hướng dẫn viên am hiểu về

những loại động, thực vật sống trong mùa nước nổi như : sen, súng, bông điên

điển,...các loài cá, cò,… để giải thích và trả lời trước những câu hỏi của khách tham

quan. Bên cạnh đó, họ cũng phải có trình độ ngoại ngữ nhất định để hướng dẫn cho

khách quốc tế.

Ngoài ra, hoạt động DLMNN còn cần khá nhiều lao động phổ thông để bơi

xuồng, chạy máy, chạy ghe, trẹt chở khách tham quan. Những ngư dân chày lưới,

giăng câu, đổ lợp, cắt vó, bắt chuột,... cùng các thợ nấu ăn trong các điểm du lịch

cũng góp phần tạo nên hương vị đặc trưng cho DLMNN ở An Giang.

 Chính sách phát triển du lịch:

Trong những thập kỷ gần đây, du lịch đã trở thành một ngành kinh tế lớn

chiếm vị trí quan trọng trên quy mô toàn cầu và ở nhiều quốc gia. Thực tế cho thấy,

ở mỗi địa phương, vùng lãnh thổ, mỗi quốc gia du lịch có trở thành ngành kinh tế

mũi nhọn và mang lại hiệu quả cao hay không thì ngoài tài nguyên du lịch sẵn có,

nhân tố quyết định là nhân tố con người và cơ chế, chính sách đúng đắn, phù hợp

cho sự phát triển du lịch. Đường lối chính sách ảnh hưởng mang tính quyết định đến

sự phát triển du lịch một quốc gia hoặc một địa phương.

Cơ chế chính sách phát triển du lịch có tác động đến tất cả các hoạt động du

lịch từ khai thác, bảo vệ tài nguyên du lịch, đào tạo nguồn nhân lực, các hoạt động

xúc tiến phát triển du lịch, đầu tư quy hoạch du lịch, các hoạt động kinh doanh du

19

lịch. Một đất nước, một khu vực có tài nguyên du lịch phong phú, mức sống của

người dân không thấp nhưng chính quyền địa phương không yểm trợ cho các hoạt

đọng du lịch thì hoạt động này cũng không thể phát triển được. Một số nước ở Đông

Nam Á từ thập niên 80 của thế kỷ XX như Thái Lan, Malayxia, Xingapo… đã ban

hành và thực hiện nhiều chính sách phù hợp, quan tâm đầu tư phát triển du lịch nên

ngành du lịch đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và mang lại hiệu quả về nhiều

mặt. Ngược lại, ở nhiều nước có nguồn tài nguyên du lịch phong phú, hấp dẫn, đặc

sắc thuận lợi cho phát triển du lịch song do chưa có cơ chế, chính sách phù hợp như

Ấn Độ, Braxin… nên ngành du lịch còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng.

1.2.3.4. Tác động của du lịch mùa nước nổi đến môi trường

 Tác động tích cực

DLMNN góp phần bảo vệ và phát triển cảnh quan tự nhiên của địa phương,

vùng hay khu vực có mùa nước nổi.

Hoạt động du lịch càng ngày làm nâng cao giá trị cuả các yếu tố sinh thái đặc

trưng của vùng, nhất là trong mùa nước nổi. DLMNN không những góp phần bảo

vệ những cảnh quan tự nhiên luôn mang đậm bản sắc thuần túy và đơn sơ như các

hoạt động diễn ra hàng ngày: hái bông điên điển, chày lưới, câu cá, bơi xuồng,....

mà còn làm tăng thêm thu nhập của những cư dân sông ven vùng nước nổi. Bên

cạnh đó, DLMNN còn làm duy trì và phát triển môi trường sống của các loại thực,

động vật như các cây tràm, đước,... và các loài chim, chuột, cá,...một mặt bảo vệ

chúng, mặt khác giới thiệu chúng đến với mọi người trong và ngoài khu vực để

cùng nhau bảo tồn những giá trị tự nhiên mang vẻ đẹp hoang sơ.

Tổ chức tốt các hoạt động du lịch trong mùa nước nổi góp phần nâng cao

nhận thức và ý thức của những người tham gia du lịch, làm cho họ hiểu rõ hơn về ý

nghĩa của sự đa dạng loài và mối quan hệ giữa các loài trong hệ sinh thái đất ngập

nước đối với môi trường xung quanh.

 Tác động tiêu cực

Họat động du lịch nói chung dù ít hay nhiều đều có những tác động tiêu cực

đối với môi trường. Đối với DLMNN, có các tác động tiêu cực chủ yếu sau:

- Làm ô nhiễm nguồn nước:

20

Do dòng nước mang lượng phù sa lớn nên gây khó khăn cho việc xử lý nước

sinh hoạt nhất là vùng nông thôn đã quen sử dụng nước sông để sinh hoạt là chính.

Ngoài ra các chất thải từ nhiều yếu tố hoặc các nơi khác đổ về cũng làm giảm đi

chất lượng của nguồn nước như :

+ Rác thải từ hoạt động du lịch : Rác thải của du khách, Cở sở dịch vụ lưu

trú, nghĩ ngơi,...

+ Rác sinh hoạt của hộ gia đình ven vùng

+ Rác từ hoạt động nông nghiệp : các lọ, chay thuốc trừ sâu đã qua sử dụng,

bao bì,...

+ Các chất thải từ thượng nguồn đổ về

- Làm suy giảm số lượng thủy sản trong vùng ngập nước:

Số lượng cá và các loại thủy sản khác bị đánh bắt khá nhiều khi hoạt động

DLMNN, một phần do nhu cầu của du khách muốn thưởng thức những món ăn đặc

trưng của vùng, một phần do sự khai thác của người dân địa phương trong mùa

nước nổi. Điều đó sẽ càng trở nên nghiêm trọng nếu không có sự quản lý chặt chẽ

trong đánh bắt và nuôi trồng thích hợp.

- Ảnh hưởng đến môi trường sống của các loại động vật sống trong vùng

ngập nước.

Các loài động thực vật sống trong mùa nước nổi chịu tác động khá lớn từ

hoạt động của khách tham quan. Lượng khách càng nhiều thì ảnh hưởng càng lớn,

chẳng hạn như: tiếng nói, cười, tiếng máy chạy, đèn máy ảnh, máy quay phim,...

ảnh hưởng đến tập quán sinh sống bình thường của chúng. Do đó cũng gây khó

khăn nhất định cho việc bảo tồn sự đa dạng của hệ sinh thái đất ngập nước.

21

Chương 2

TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN

DU LỊCH MÙA NƯỚC NỔI Ở TỈNH AN GIANG

2.1. Tổng quan về tỉnh An Giang

2.1.1. Lịch sử hình thành

2.1.1.1. Thời phong kiến

Theo sách Đại Nam nhất thống chí, An Giang xưa kia là vùng đất Tầm

Phong Long của vương quốc Chân Lạp. Vào năm 1757, Quốc vương Chân Lạp là

Nặc Tôn dâng đất này cho chúa Nguyễn Phúc Khoát để đền ơn chúa Nguyễn giúp

mình lên làm vua và dẹp yên nội loạn. Sau đó, chúa Nguyễn đặt làm đạo Châu Đốc.

Đầu triều Nguyễn, thấy đất đai hoang vắng, vua Gia Long mới mộ dân đến ở, gọi là

Châu Đốc Tân Cương, lệ thuộc trấn Vĩnh Thanh.

Năm 1832, vua Minh Mạng lấy đất này gộp với huyện Vĩnh An của tỉnh

Vĩnh Long lập thành tỉnh An Giang. Tỉnh An Giang vào năm 1836 gồm hai phủ

chia thành bốn huyện là: huyện Tây Xuyên và Phong Phú thuộc phủ Tuy Biên;

huyện Vĩnh An và Đông xuyên thuộc phủ Tân Thành. Trương Minh Giảng là vị

tổng đốc đầu tiên trồng coi hai tỉnh An Giang và Hà Tiên. Tỉnh An Giang ngày nay

tương đương với phần đất của phủ Tuy Biên thời bấy giờ.

Đến đời Tự Đức, sau nhiều lần tách, nhập, tỉnh An Giang có 3 phủ với 10

huyện. Cụ thể như sau: Phủ Tuy Biên gồm các huyện: Tây Xuyên, Phong Phú, Hà

Dương, Hà Âm. Phủ Tân Thành gồm các huyện: Vĩnh An, An Xuyên, Đông Xuyên.

Phủ Ba Xuyên gồm các huyện: Phong Nhiêu, Phong Thạnh, Vĩnh Định.

2.1.1.2. Thời Pháp thuộc

 Thời kỳ 1867 – 1945

Ngày 05-10-1876, Thống đốc Dupré ký nghị định bãi bỏ hệ thống Nam Kỳ

lục tỉnh, chia Nam Kỳ thành 4 khu vực là: Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Bassac với

tất cả 19 hạt. Tỉnh An Giang được chia thành 5 hạt: Châu Đốc, Long Xuyên, Cần

22

Thơ, Sóc Trăng, Sa Đéc. Địa bàn An Giang ngày nay nằm trên hai hạt Châu Đốc và

Long Xuyên. Năm 1899, Pháp lại bỏ hạt để lập tỉnh. Tỉnh An Giang lúc đầu được

tách thành hai tỉnh là Châu Đốc và Long Xuyên. Tỉnh Châu Đốc gồm 4 quận: Châu

Thành, Tân Châu, Tịnh Biên, Tri Tôn. Tỉnh Long Xuyên gồm 3 quận: Châu Thành,

Thốt Nốt, Chợ Mới. Năm 1930, tỉnh Châu Đốc nhận thêm quận Hồng Ngự, tỉnh

Long Xuyên thì vẫn như cũ.

 Thời kỳ 1945 - 1954

Thời kỳ này, tỉnh An Giang chịu sự phân chia hành chính theo hai phía: Pháp

và Cách mạng.

Về phía Pháp, vẫn giữ hai tỉnh Châu Đốc và Long Xuyên, nhưng có thêm bớt

các quận. Tỉnh Châu Đốc lúc này bao gồm 5 quận: Tri Tôn, Tịnh Biên, Hồng Ngự,

Tân Châu, Châu Phú. Tỉnh Long Xuyên gồm ba quận là: Chợ Mới, Thốt Nốt và

Châu Thành. Năm 1953, tỉnh Long Xuyên có thêm hai quận mới là Núi Sập và Lấp

Vò. Trong khi đó, chính quyền Cách mạng muốn tiện việc chỉ đạo kháng chiến nên

phân tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc thành hai tỉnh Long Châu Tiền và Long Châu

Hậu. Tỉnh Long Châu Tiền gồm 5 quận: Tân Châu, Hồng Ngự, Chợ Mới, Châu Phú

B và Lấp Vò. Tỉnh Long Châu Hậu gồm 6 quận: Tịnh Biên, Tri Tôn, Thốt Nốt,

Thoại Sơn, Châu Phú A và Châu Thành. Đến năm 1949, chính quyền Cách mạng

cắt quận Thốt Nốt nhập vào tỉnh Cần Thơ, quận Lấp Vò nhập vào tỉnh Sa Đéc (nay

là Đồng Tháp).

Năm 1950, chính quyền Cách mạng nhập hai tỉnh Long Châu Hậu và Hà

Tiên thành tỉnh mới là Long Châu Hà, gồm 8 quận: Tịnh Biên, Tri Tôn, Châu Phú

A, Châu Thành, Thoại Sơn, Thốt Nốt, Châu Giang, Phú Quốc. Năm 1951, nhập tỉnh

Sa Đéc và Long Châu Tiền thành tỉnh mới là Long Châu Sa, gồm 7 huyện là: Châu

Thành (của Sa Đéc), Lai Vung, Cao Lãnh, Tân Hồng, Tân Châu, Phú Châu, Chợ

Mới. Trong đó, hai huyện Tân Hồng, Tân Châu vốn là hai quận Hồng Ngự, Tân

Châu của tỉnh Long Châu Tiền trước đó. Năm 1951, nhập huyện Lấp Vò vào tỉnh

Long Châu Sa.

23

Riêng về phía Pháp thì vẫn giữ nguyên hai tỉnh Châu Đốc và Long Xuyên

như thời điểm 1953. Hai tỉnh Long Châu Hà và Long Châu Sa của phía Cách mạng

tồn tại đến năm 1954.

 Thời Việt Nam Cộng hoà

Năm 1955, tỉnh Châu Đốc có 5 quận: Châu Phú, Tân Châu, Tri Tôn, Tịnh

Biên, Hồng Ngự với tất cả 70 xã. Tỉnh Long Xuyên có 5 quận: Châu Thành, Chợ

Mới, Núi Sập, Thốt Nốt, Lấp Vò, với tổng cộng 47 xã. Ngày 22-10-1956, Tổng

thống Ngô Đình Diệm ký Sắc lệnh 143/VN tuyên bố địa phận Việt Nam Cộng

Hoà gồm Đô thành Sài Gòn và 22 tỉnh. Theo đó tỉnh Châu Đốc và tỉnh Long Xuyên

được sáp nhập thành tỉnh An Giang, tỉnh lỵ đặt tại Long Xuyên. Tỉnh An Giang lúc

này gồm 8 quận là: Châu Thành, Châu Phú, Chợ Mới, Tân Châu, Thốt Nốt, Tịnh

Biên, Tri Tôn, Núi Sập, với 16 tổng và 96 xã. Ngày 06-08-1957, tách 13 xã của

quận Châu Phú để thành lập quận mới An Phú. Ngày 08-09-1964, chính phủ mới

của Việt Nam Cộng Hoà ký Sắc lệnh 246/NV, tách tỉnh An Giang thành hai tỉnh

Châu Đốc và An Giang. Tỉnh An Giang mới tức phần đất của tỉnh Long Xuyên

trước đó.

Về phía chính quyền Cách mạng, năm 1954, cũng lập lại hai tỉnh Long

Xuyên và Châu Đốc. Tỉnh Long Xuyên gồm các quận: Châu Thành, Chợ Mới, Lấp

Vò, Thốt Nốt, Phong Thạnh Thượng. Tỉnh Châu Đốc gồm các quận: Tân Châu,

Hồng Ngự, Tri Tôn, Tịnh Biên, Châu Phú. Năm 1957, hợp nhất hai tỉnh này thành

tỉnh An Giang, gồm 9 quận: Chợ Mới, Thốt Nốt, Núi Sập, Châu Thành, Châu Phú,

An Phú, Tân Châu, Tịnh Biên, Tri Tôn. Trả Hồng Ngự về tỉnh Kiến Phong và Lấp

Vò về tỉnh Sa Đéc. Năm 1963, giao Thốt Nốt về tỉnh Cần Thơ và nhận Hà Tiên từ

tỉnh Kiên Giang. Tháng 8/1971, tỉnh An Giang lại chia thành hai tỉnh là An Giang

và Châu Hà.

- Tỉnh An Giang gồm 5 huyện: Châu Phú, Châu Thành X, An Phú, Tân

Châu, Phú Tân.

- Tỉnh Châu Hà gồm 6 huyện: Tịnh Biên, Tri Tôn, Huệ Đức, Hà Tiên, Phú

Quốc và Châu Thành A (vốn thuộc Kiên Giang)

24

Năm 1974, phía Cách mạng lại phân chia địa bàn các tỉnh An Giang, Châu

Hà và Kiến Phong thành hai tỉnh mới là Long Châu Tiền và Long Châu Hà.

- Tỉnh Long Châu Tiền gồm 6 huyện: Tân Châu, An Phú, Phú Tân A, Phú

Tân B, Hồng Ngự, Tam Nông (nay thuộc tỉnh Đồng Tháp)

- Tỉnh Long Châu Hà gồm các huyện: Châu Thành X, Châu Phú, Tri Tôn,

Tịnh Biên, Huệ Đức, Châu Thành A, Phú Quốc, Long Xuyên, Châu Đốc.

 Từ sau 1975 đến nay

Sau sự kiện 30-04-1975, Việt Nam thống nhất. Ngày 20-12-1975, Bộ Chính

trị Cộng sản Việt Nam ra Nghị quyết số 19/NQ - TW thành lập tỉnh An Giang trên

cơ sở hai tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc thời Việt Nam Cộng Hoà, trừ huyện Thốt

Nốt. Năm 1976, tỉnh An Giang chính thức có 8 huyện là: Châu Thành, Huệ Đức,

Chợ Mới, Phú Tân, Châu Phú, Phú Châu, Tri Tôn, Tịnh Biên cùng với hai thị xã là

Long Xuyên và Châu Đốc.

Năm 1977, hai huyện Huệ Đức và Châu Thành hợp nhất thành huyện Châu

Thành, đồng thời hợp nhất hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên thành huyện Bảy Núi.

Năm 1979, huyện Bảy Núi tách thành huyện Tri Tôn và huyện Tịnh Biên, đồng thời

tách một phần của huyện Châu Thành để thành lập huyện Thoại Sơn. Tỉnh An

Giang lúc này có 8 huyện và 2 thị xã. Năm 1991, huyện Phú Châu tách thành hai

huyện Tân Châu và An Phú.

Ngày 12-11-1994, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 669/TTg về việc

xác định ranh giới giữa hai tỉnh An Giang và Kiên Giang. Năm 1996, hoàn tất việc

xác định ranh giới giữa An Giang và các tỉnh lân cận. Ngày 01-03-1999, thị xã

Long Xuyên được nâng lên thành thành phố Long Xuyên. Tỉnh An Giang có 11 đơn

vị hành chánh trực thuộc, trong đó có 1 thành phố, 1 thị xã và 9 huyện với tổng

cộng 140 đơn vị cơ sở, trong đó có 11 phường, 11 thị trấn và 118 xã.

2.1.2. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

2.1.2.1. Vị trí địa lý

An Giang là tỉnh nằm trong vùng ĐBSCL. Phía Bắc và Tây Bắc tiếp giáp với

Campuchia với đường biên giới dài 104 km, chạy dọc theo kênh Vĩnh Tế. Phía Tây

25

Nam giáp tỉnh Kiên Giang với đường ranh giới dài 69,789 km. Phía Nam có 44,734

km đất đai tiếp giáp với thành phố Cần Thơ. Phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh

Đồng tháp, ngăn cách bởi sông Tiền và rạch Cái Tàu Thượng với chiều dài đường

ranh giới là 107,6 km.

Bản đồ 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh An Giang

Nguồn: UBND tỉnh An Giang

Lãnh thổ An Giang bao gồm hai vùng: dãy cù lao nằm giữa sông Tiền - sông

Hậu, bao gồm các huyện: An Phú, Tân Châu, Phú Tân, Chợ Mới; dãy đất nằm dọc

bên hữu ngạn sông Hậu, thuộc vùng Tứ giác Long Xuyên, bao gồm các

huyện: Châu Phú, Châu Thành, Tịnh Biên, Tri Tôn, Thoại Sơn, thị xã Châu

Đốc và thành phố Long Xuyên. Chiều dài nhất theo hướng Bắc - Nam là 86 km,

Đông - Tây là 87 km.

- Điểm cực Bắc: 10057’B, thuộc xã Khánh An, huyện An Phú.

26

- Điểm cực Nam: 10012’B, thuộc xã Thoại Giang, huyện Thoại Sơn. - Điểm cực Tây: 104046’Đ, thuộc xã Vĩnh Gia, huyện Tri Tôn. - Điểm cực Đông: 105035’Đ, thuộc xã Bình Phước Xuân, huyện Chợ Mới. Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 3.536,67 km2, bằng 1,05% diện tích toàn

quốc và bằng 8,7% diện tích toàn vùng ĐBSCL (đứng thứ 4 trong vùng). Tỉnh có

11 đơn vị hành chính trực thuộc bao gồm Thành phố Long Xuyên, 2 thị xã (Châu

Đốc, Tân Châu) và 8 huyện là An Phú, Châu Thành, Châu Phú, Chợ Mới, Phú Tân,

Thoại Sơn, Tri Tôn, Tịnh Biên; với 120 xã, 20 phường, 16 thị trấn.

Bảng 2.1. Diện tích và dân số các huyện thuộc tỉnh An Giang các năm 2009 - 2010

Diện tích (Km2) TÊN HUYỆN

2009

2010 115 105 226 177 313 451 355 600 355 369 469

Tp Long Xuyên Tx. Châu Đốc An Phú Tx. Tân Châu Phú Tân Châu Phú Tịnh Biên Tri Tôn Châu Thành Chợ Mới Thoại Sơn Tổng Dân số (Nghìn người) 2010 2009 279,8 279,8 111,9 111,9 179,8 178,0 172,1 153,0 209,5 229,3 245,7 245,8 121,1 122,0 132,6 132,6 170,6 170,6 345,3 345,3 181,0 181,0 3.535 2.149,3 2.149,4 Mật độ dân số (Người/km2) 2010 2009 2.426 2.424 1.063 1.069 794 817 974 897 668 699 545 545 341 343 221 221 480 480 935 934 386 386 608 608 115 105 218 170 328 451 356 600 355 370 469 3.538

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh An Giang 2010

Vị trí địa lý là một trong những lợi thế quan trọng để An Giang phát triển

thương mại và các ngành dịch vụ, du lịch.

Nằm trong vùng Kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL, liền kề với trung tâm kinh

tế lớn của vùng là Thành phố Cần Thơ, An Giang có cơ hội tạo lập các quan hệ kinh

tế thương mại với các khu vực thị trường năng động, được tác động lôi kéo và tiếp

thu ảnh hưởng lan tỏa từ sức phát triển của các địa phương liền kề trong vùng.

Với tuyến biên giới dài gần 104 km với hệ thống cửa khẩu (trong đó có 2 cửa

khẩu quốc tế, 1 cửa khẩu quốc gia), Khu kinh tế cửa khẩu An Giang - một trong

27

các Khu kinh tế trọng điểm quốc gia - là những lợi thế đặc biệt để An Giang trở

thành cầu nối trung chuyển hàng hoá giữa thị trường trong nước với thị trường

Campuchia và các nước ASEAN. Đây là điều kiện thuận lợi để hình thành và phát

triển các hệ thống phân phối hàng hóa không chỉ cho các sản phẩm của An Giang

mà còn cho hàng hóa của các địa phương trong nước, mà trước hết là các địa

phương thuộc vùng ĐBSCL, vùng Đông Nam bộ với thị trường Campuchia và các

nước khác.

Hoạt động du lịch ngày càng đa dạng với sự hợp tác với các tỉnh lân cận như

thành phố Cần Thơ, Đồng Tháp, Kiên Giang,…tạo nên một sự nối kết trong các

hoạt động của ngành du lịch được thuận lợi và phát triển hơn.

2.1.2.2. Khái quát về tự nhiên

 Địa hình:

An Giang có 2 dạng địa hình chính là đồng bằng và đồi núi.

Vùng đồng bằng do phù sa sông Mê Kông trầm tích tạo nên, bao gồm đồng

bằng phù sa khá bằng phẳng, có độ nghiêng nhỏ và độ cao tương đối thấp; đồng

bằng ven núi có nhiều bậc thang ở những độ cao khác nhau. Đất đai vùng đồng

bằng An Giang rất màu mỡ, phù hợp cho phát triển nông nghiệp.

Vùng đồi núi chia thành hai dạng chính: Dạng núi cao, có dốc lớn trên 25° và

dạng núi thấp thoải, độ dốc nhỏ dưới 15°. Vùng đồi núi phân bố theo vành đai cánh

cung, bao trùm lên gần hết diện tích 2 huyện Tịnh Biên và Tri Tôn, nhìn chung

không thuận lợi cho phát triển sản xuất nhưng có tiềm năng về khoáng sản, có nhiều

danh lam thắng cảnh và di tích văn hóa lịch sử, phù hợp cho phát triển du lịch.

Nằm giữa hai con sông lớn là Sông Tiền, Sông Hậu và hệ thống kênh rạch

chằng chịt không chỉ cung cấp phù sa và các nguồn lợi thủy sản mà còn tạo thành

những tuyến giao thông đường thuỷ quan trọng nối liền các địa bàn trong tỉnh với

các tỉnh vùng ĐBSCL, với các nước Campuchia, Lào, Thái Lan và khu vực Biển

Đông, rất thuận lợi cho vận chuyển hàng hoá đường dài, cho phép tiết kiệm chí phí

lưu thông.

28

 Khí hậu:

Tỉnh An Giang nằm trong khu vực mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió

mùa, có nền nhiệt độ cao, ổn định, lượng ánh sáng và mưa, ẩm dồi dào,… Có hai

mùa rõ rệt trong năm: mùa khô và mùa mưa. Chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam

và gió mùa Đông Bắc, do năm sâu trong đất liền nên ít bị ảnh hưởng của gió bão.

Tuy nhiên, lượng mưa trong năm lớn, tập trung vào mùa mưa (chiếm 90% tổng

lượng mưa trong năm) lại trùng vào mùa nước lũ của sông Mê Kông dồn về hạ lưu

nên thường gây ra tình trạng úng tổ hợp với ngập lụt. Hiện tượng này xảy ra theo

chu kỳ hàng năm, một mặt, gây ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất, kinh

doanh và đời sống dân cư, mặt khác lại tạo nên các nguồn lợi đặc trưng của mùa

nước nổi, có khả năng khai thác để phát triển thương mại – du lịch – dịch vụ.

 Đất:

Tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh năm 2010 là 353.667 ha trong đó diện

tích đất nông nghiệp chiếm 84,1%, đất phi nông nghiệp chiếm 15,4%, đất chưa sử

dụng chiếm 0,5%. Tỷ trọng đất nông nghiệp khá lớn trong tổng diện tích đất tự

nhiên nhưng hệ số diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người của An Giang ở

mức thấp nhất vùng ĐBSCL (0,14ha), trên 70% diện tích đất là đất phù sa hoặc đất

có nguồn gốc phù sa do được sông ngòi bồi đắp hàng năm, địa hình tương đối bằng

phẳng thích nghi với nhiều loại cây trồng đặc biệt là cây lúa và hoa màu.

 Nguồn nước:

An Giang có hệ thống sông ngòi, kênh rạch dày đặc là một lợi thế lớn về

nguồn nước ngọt dồi dào, cung cấp trực tiếp cho các hoạt động sản xuất và đời sống

dân cư. Ngoài ra, còn có nguồn nước ngầm với chất lượng tốt và trữ lượng lớn,

phục vụ cho phát triển công nghiệp và khu đô thị. Nguồn nước khoáng có chất

lượng tại huyện Tri Tôn cũng có thể khai thác và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Đặc

biệt vào mùa nước nổi, với diện tích mặt nước lớn có thể khai thác nuôi thủy sản,

trồng các loại thực vật đặc trưng trong mùa nước nổi.

 Sinh vật:

An Giang có nguồn tài nguyên thực vật và động vật thuộc loại phong phú và

đa dạng.

29

Thực vật: Trong các nguồn tài nguyên thực vật, cây lúa là thế mạnh được ưu

tiên phát triển hàng đầu, là nguồn sống của phần lớn người dân trong tỉnh. Đặc biệt

là những giống lúa cao sản ngắn ngày có chất lượng cao phục vụ xuất khẩu. Gần

đây, nhiều cây trồng khác như khoai mỳ, bắp lai, bắp non, đậu nành rau, nhiều loại

rau màu, cây thực phẩm, cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả cũng được chú

trọng phát triển phục vụ xuất khẩu và đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm của

nhân dân. Bên cạnh đó, An Giang còn có các loại thực vật làm vật liệu xây dựng,

sản xuất đồ mộc dân dụng, nguyên liệu phát triển các ngành tiểu thủ công nghiệp và

nhiều loài cây, cỏ là nguồn dược liệu để phòng trị bệnh, tập trung phần lớn ở vùng

đồi núi.

Động vật: ở An Giang chủ yếu là nuôi cá, tôm, vịt, gà, bò, heo, …Gần đây

phát triển thêm ếch, lươn, cá sấu, rắn, ba ba... Thủy sản được xác định là thế mạnh ở

An Giang, nên nghề nuôi cá bè, nuôi cá hầm và nuôi cá trong chân ruộng lúa, trong

ao vườn đã và đang phát triển với các giống cá nước ngọt. Các loài thủy sản mặc dù

có trữ lượng còn hạn chế nhưng lại khá đa dạng về chủng loại, cộng với lợi thế diện

tích mặt nước lớn của tỉnh, nên có thể khai thác được quanh năm (trừ các mùa bão,

lũ…).

Nguồn tài nguyên, sản vật phong phú, dồi dào tạo nguồn cung có quy mô lớn

cho hoạt động thương mại, đặc biệt cho xuất khẩu. Với sản lượng lúa hàng năm

khoảng 3,6 triệu tấn (năm 2010) - xuất khẩu trên 500 nghìn tấn, sản lượng thủy sản

hơn 315 nghìn tấn (năm 2010) - xuất khẩu 150 nghìn tấn, An Giang là một trong các

địa phương đứng đầu cả nước về sản xuất và xuất khẩu lúa gạo và thủy sản.

2.1.3. Khái quát về kinh tế - xã hội

2.1.3.1. Về xã hội

Tổng số dân của tỉnh An Giang năm 2010 là 2.149.457 người. Như vậy, An

Giang là tỉnh đông dân nhất Vùng ĐBSCL và đứng thứ 6 trong số những tỉnh đông

dân nhất của nước ta. Số người sống ở khu vực thành thị năm 2010 là 640.431

người, chiếm 29,8% và ở khu vực nông thôn là 1.509.206 người, chiếm 70,2% tổng

dân số.

30

2,160

2,149

2,147

2,142

2,134

2,140

2,125

2,120

2,100

2,080

2,061

2,060

2,040

2,020

2,000

2000

2006

2007

2008

2009

2010

Biểu đồ 2.1. Dân số tỉnh An Giang giai đoạn 2000 - 2010

Nguồn: Niên giám thông kê tỉnh An Giang năm 2010

Mật độ dân số bình quân của tỉnh năm 2010 là 608 người/km2 thuộc loại cao

trong vùng ĐBSCL và so với mức trung bình của cả nước.

Dân cư ở An Giang phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở thành thị và

vùng ven sông Tiền, sông Hậu, còn vùng đồi núi phía Tây và Tây Nam dân cư thưa thớt hơn: Thành phố Long Xuyên - mật độ 2.426 người/km2, thị xã Châu Đốc - mật độ 1.063 người/km2, huyện Tri Tôn - 221 người/km2,….

Dân cư sống trải dài theo trục lộ giao thông, dọc theo hai bên bờ sông, kênh,

gạch, quy tụ ở các trung tâm kinh tế - hành chính – văn hóa lớn. Một số khác sống

trên các ghe, xuồng, bè hợp thành làng nổi trên sông – một loại hình cư trú độc đáo

ở khu vực ĐBSCL nói chung và An Giang nói riêng.

Hiện nay trên toàn tỉnh có 29 dân tộc cùng chung sống, trong đó có 4 dân tộc

có số dân đông nhất:

- Người Kinh chiếm 94,92% dân số, cư trú khắp nơi trên địa bàn tỉnh.

- Người Khơ Me chiếm 3,85% dân số, tập trung đông đúc ở hai huyên Tri

Tôn và Tịnh Biên.

- Người Chăm chiếm 0,61% dân số, cư trú rãi rác ở các huyện như An Phú,

Châu Phú, Tân Châu, Phú Tân, Châu Thành.

31

- Người Hoa chiếm 0,55% dân số, sống chủ yếu ở các thành phố, thị xã, thị

trấn.

Ngoài ra còn có các dân tộc khác sinh sống trên địa bàn tỉnh nhưng với số

lượng không đáng kể như: người Tày, Mường, Nùng, Thái,…

Các tôn giáo chính ở tỉnh An Giang là: đạo Phật, đạo Hòa Hảo, đạo Cao Đài,

đạo Công giáo, đạo Tứ Ân Hiếu Ngjĩa và đạo Hồi. Ngoài ra còn một số ít theo đạo

Bửu Sơn Kỳ Hương, đạo Tin Lành.

Nhìn chung mỗi một dân tộc mang một nét văn hóa đặc sắc riêng, phong tục

tập quán riêng và có một tôn giáo riêng nhưng lại có một mối quan hệ gắn bó với

nhau về nhiều mặt của đời sống kinh tế xã hội cũng như địa bàn cư trú. Họ có cùng

truyền thống đoàn kết, cần cù lao động, yêu quê hương đất nước điều đó là một sự

gắn kết tốt đẹp nhất cho sư phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nhà.

2.1.3.2. Khái quát về kinh tế

Tổng GDP của An Giang tính đến năm 2010 là 16,9 nghìn tỷ đồng (theo giá

so sánh 1994), gấp 1,5 so với năm 2006; còn tính theo giá thực tế là 45.533 tỷ đồng.

Như vậy, quy mô nền kinh tế của tỉnh đã được mở rộng khá nhanh và từng bước

tăng khả năng đóng góp vào cho tăng trưởng của cả nước.

Tốc độ tăng trưởng bình quân thời kỳ 2006-2009 là 11,32%, cao hơn 1,24 lần

so thời kỳ 2001-2005. Ngoại trừ ngành nông, lâm, thủy sản đạt mức tăng trưởng thấp

hơn so với thời kỳ trước (3,44% so với 5,18%), còn lại ngành công nghiệp - xây dựng

và ngành dịch vụ đều đạt mức tăng trưởng cao hơn, tương ứng là 13,34% và 15,48%.

So với cả nước, tốc độ tăng trưởng của hai ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ của tỉnh cũng cao hơn mặt bằng chung của cả nước.*

Cơ cấu kinh tế của tỉnh đang chuyển dịch tích cực theo hướng giảm dần tỷ

trọng ngành nông – lâm - thủy sản và tăng tỷ trọng của ngành công nghiệp - xây

dựng và dịch vụ. Đến năm 2010, tỷ trọng công nghiệp-xây dựng trong GDP là

12,8%, nông-lâm-thủy sản 33,4%, dịch vụ 53,8%. Nhìn tổng thể trong thời gian

qua, về cơ cấu ngành thấy rằng, tỷ trọng của khối ngành nông, lâm, thuỷ sản đã

giảm từ 37,6% (năm 2005) xuống 33,4% (năm 2010), tỷ trọng của khối ngành công

32

nghiệp - xây dựng tăng nhẹ từ 12,1% xuống còn 12,8%; dịch vụ tăng khá nhanh từ

50,3% tăng lên 53,8%.

Bảng 2.2. GDP và cơ cấu GDP tỉnh An Giang giai đọan 2005-2010

Chỉ tiêu 2005 2010 Thay đổi sau 5 năm

GDP (giá hiện hành - tỷ đồng) 18.646 45.533

- Nông, lâm, thuỷ sản 7.172 15.234

- Công nghiệp - xây dựng 2.287 5.836

- Dịch vụ 9.187 24.462

Cơ cấu (%) 100,0 100,0

- Nông, lâm, thuỷ sản 37,57 33,4 - 4,17

- Công nghiệp - xây dựng 12,10 12,8 + 0,7

- Dịch vụ 50,33 53,8 + 0,47

Nguồn: Niên giám thống kê An Giang năm 2010

Có thể thấy được khu vực dịch vụ luôn dẫn đầu về mức đóng góp cho GDP,

khẳng định vai trò quan trọng của ngành dịch vụ đối với quá trình tăng trưởng GDP

của tỉnh.

Đối với sự chuyển dịch về thành phần kinh tế, giai đoạn 2006-2010 không có

nhiều thay đổi đáng kể, khu vực kinh tế trong nước chiếm tuyệt đại đa số. Trong đó,

kinh tế cá thể tiếp tục vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất (chiếm 76,8% năm 2008) tổng

sản phẩm của tỉnh, khu vực kinh tế nước ngoài của tỉnh An Giang gần như không

phát triển. Thành phần kinh tế tập thể với nhiều hình thức đa dạng mà nòng cốt là

hợp tác xã, góp phần tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh và công nghiệp

hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Điều này cho thấy sự phát triển về kinh

tế của An Giang tập trung chủ yếu vào doanh nghiệp tư nhân hoặc hộ gia đình có

quy mô sản xuất nhỏ, thiếu cở sở vật chất kĩ thuật và trình độ quản lý, không thu hút

được nhiều sự quan tâm của các doanh nghiệp ngoài nước. Tuy nhiên An Giang đã

tận dụng khá tốt các lợi thế để phát triển kinh tế, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp và

dịch vụ luôn đóng góp giá trị lớn trong GDP của tỉnh. Điều này đã góp phần thúc

33

đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế vững chắc, là một bước chạy đà tốt

cho sự phát triển kinh tế xã hội trong những năm tiếp theo.

2.2. Tiềm năng phát triển du lịch mùa nước nổi ở An Giang

2.2.1. Tài nguyên du lịch

2.2.1.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên

Địa hình

An Giang có 2 dạng địa hình chính là đồng bằng và đồi núi.

 Vùng đồng bằng: chiếm khoảng 87% diện tích tự nhiên của tỉnh, là nơi

sinh sống của khoảng 89% dân cư toàn tỉnh. Đồng bằng cũng được phân thành hai

loại là đồng bằng phù sa và đồng bằng ven núi.

- Đồng bằng phù sa do phù sa của sông Cửu Long bồi đắp, gồm 2 khu vực:

+ Khu vực 1: là dãy đất nằm kẹp giữa sông Tiền và sông Hậu, bao gồm một

phần huyện An Phú và các huyện Tân Châu, Phú Tân và Chợ Mới. Địa hình có

dạng lòng chảo, cao ở hai bờ sông và thấp dần ở giữa. Độ cao trung bình ở ven sông

là 3 - 4 m, ở khu lòng chảo là 1,5 - 3 m.

+ Khu vực 2: là dãy đất nằm ở hữu ngạn sông Hậu, bao gồm một phần huyện

An Phú, các huyện Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn, thị xã Châu Đốc và thành

phố Long Xuyên. Địa hình hơi nghiêng, thấp dần về phía Tây - Tây Nam. Nơi thấp

nhất chỉ cao khoảng 0,7 - 1,0 m so với mực nước biển.

- Đồng bằng ven núi thuộc kiểu sườn tích (Deluvi) và phù sa cổ. Kiểu sườn

tích hình thành trong quá trình phong hóa và xâm thực từ các núi đá, độ cao trung

bình từ 5 - 10 m, hẹp, độ dốc nhỏ.

 Vùng đồi núi chiếm khoảng 13% diện tích tự nhiên và 11% dân cư toàn

tỉnh. Các dãy núi phân bố thành hình vòng cung kéo dài gần 100 km, khởi đầu từ xã

Phú Hữu, huyện An Phú, qua xã Vĩnh Tế, thị xã Châu Đốc, bao trùm lên gần hết

diện tích huyện Tịnh Biên và huyện Tri Tôn, về tận xã Vọng Thê và Vọng Đông rồi

dừng lại ở thị trấn Núi Sập, huyện Thoại Sơn, gồm các cụm núi chính:

- Cụm núi Sập: gồm 4 núi là núi Sập, núi Nhỏ, núi Bà và núi Cậu đều thuộc

địa bàn huyện Thoại Sơn. Núi Sập có độ cao 85 m với chu vi 3.800 m.

34

- Cụm Ba Thê: có 5 núi cũng nằm trên huyện Thoại Sơn là: núi Ba Thê, núi

Nhỏ, núi Tượng, núi Trọi và núi Chóc. Lớn nhất là núi Ba Thê với độ cao 221 m và

chu vi khoảng 4.220 m.

- Cụm núi Phú Cường: có 13 núi nằm trên địa bàn huyện Tịnh Biên gồm núi

Phú Cường, núi Dài Năm Giếng, núi Két, núi Rô, núi Trà Sư, núi Bà Vải, núi Đất

Lớn, núi Bà Đắt, núi Cậu, núi Đất Nhỏ, núi Mo Tấu, núi Chùa và núi Tà Nung. Cao

nhất là núi Phú Cường 282 m với chu vi khoảng 9.500 m.

- Cụm núi Cấm: có 7 núi nằm giáp ranh giữa huyện Tri Tôn và huyện Tịnh

Biên gồm: núi Cấm, núi Bà Đội, núi Nam Quy, núi Bà Khẹt, núi Tà Lọt, núi Ba

Xoài và núi Cà Lanh. Núi Cấm cao nhất 705 m với chu vi 28.600 m.

- Cụm núi Dài: thuộc huyện Tri Tôn có 4 núi: núi Dài, núi Tượng, núi Nước

và núi Sà Lôn. Trong đó núi Dài cao 554 m và chu vi là 21.625 m .

- Cụm núi Tô: có 2 núi là Cô Tô và Tà Pạ, đều thuộc huyện Tri Tôn. Cao

nhất là núi Cô Tô 614 m với chu vi 14.375 m.

- Núi Nổi: nằm độc lập ở huyện An Phú. Núi có độ cao 10 m và chu vi

khoảng 320m.

- Núi Sam: cũng nằm độc lập ở thị xã Châu Đốc, có độ cao 228 m và chu vi

khoảng 5.200 m.

Trong đó, khu vực Bảy Núi hay còn gọi là Thất Sơn gồm các ngọn núi: núi

Cấm (cụm núi Cấm), núi Dài (cụm núi Dài), núi Dài Năm Giếng (cụm núi Phú

Cường), núi Cô Tô (cụm núi Cô Tô), núi Nước (cụm núi Dài), núi Tượng (cụm núi

Dài). Núi Sam ở thị xã Châu Đốc và núi Nổi ở huyện An Phú là các núi lẻ nổi lên

giữa cánh đồng lúa xanh rờn, tạo nên vẻ đẹp sinh động. Đất đai vùng núi chủ yếu là

đất xám, nghèo dinh dưỡng, giữ nước kém, dễ bị khô hạn và xói mòn. Sản xuất

nông nghiệp chỉ được một vụ vào mùa mưa, chủ yếu là trồng cây ăn quả và trồng

rừng.

Do lượng nước từ thượng nguồn sông Mê Kông đổ về rất lớn nên một lượng

nước lớn đã tràn qua bờ vào những khu vực trũng thấp. Ba vùng ngập lụt nhất ở An

Giang là: vùng phía Tây sông Hậu, vùng giữa sông Tiền và sông Hậu và vùng tả

35

ngạn sông Tiền. Các huyện cù lao của An Giang bị ngập lụt hàng năm là do lượng

nước từ vùng trũng Campuchia tràn về, ban đầu ngập phần lớn diện tích huyện Tân

Châu, sau đó tiếp tục chảy tràn xuống huyện Phú Tân và Chợ Mới. Mặt khác, do địa

hình 3 huyện cù lao có dạng lòng chảo nên khi lũ lên cao thì nước từ sông Tiền và

sông Hậu theo các kênh rạch chảy tràn vào làm ngập lụt cả vùng này. Ngoài ra,

vùng phía Tây sông Hậu do lượng nước nhiều nên chảy tràn qua khu vực tứ giác

Long Xuyên, mặt khác do lượng nước từ sông Hậu chảy theo các kênh Tri Tôn,

Mặc Cần Dưng, Rạch giá - Long Xuyên, Cái Sắn,...cùng góp phân ngập vùng tứ

giác Long Xuyên.

Vùng phía Tây sông Hậu tập trung phần lớn diện tích sản xuất nông nghiệp

của các huyện: Châu Phú, Châu Thành, An Phú, Tịnh Biên. Do đó, hàng năm khi

mùa nước lên làm ngập một diện tích rộng lớn, tạo thuận lợi cho phát triển các loại

hình DLMNN. Những điểm có hệ sinh thái ngập nước phát triển mạnh như: ở Tịnh

Biên có hệ thống rừng Tràm phong phú đa dạng các chủng loại động thực vật; An

Phú có Búng Bình Thiên ngập nước với diện tích rất lớn và mang nét hoang sơ;

Châu Phú với những cánh đồng nước và cuộc sống của người dân địa phương tham

gia mưu sinh theo con nước tạo nên sức hấp dẫn du khách trong mùa nước nổi.

Những cánh đồng nước ở Châu Phú hay khu vực lân cận như Châu Thành cũng

thuận lợi cho các loại hình du lịch như đánh bắt cá, giăng câu thả lưới, tắm đồng,

bắt chuột, hái bông điên điển,… vì nơi đây là nơi thuận lợi cho việc sinh sôi nảy nở

của các loại thủy sản.

Ngược lại ở khu vực giữa sông Tiền và sông Hậu và tả ngạn sông Tiền thuận

lợi hơn cho hình thức du lịch sông nước, du lịch tham quan di tích văn hóa và làng

nghề truyền thống. Điều đó sẽ làm đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, thu hút số

lượng khách đến với An Giang ngày một tăng trong đó có DLMNN.

Khí hậu:

An Giang nằm trong vùng gần trung tâm xích đạo nên mang đậm tính chất

của kiểu khí hậu xích đạo, chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam và gió mùa Đông Bắc. Lượng bức xạ tương đối lớn, tổng nhiệt độ trung bình hằng năm là 10.0000C.

36

Số giờ nắng trung bình trong năm khoảng 2.520 giờ, cao kỷ lục so với cả nước. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 270C, cao nhất là tháng 4 khoảng 29,50C, thấp nhất là tháng 12 khoảng 240C. Biên độ nhiệt giữa các tháng trong năm thấp. Vào mùa khô, biên độ nhiệt từ 1,5 - 30; vào mùa mưa, biên độ nhiệt giữa các tháng chỉ vào khoảng trên dưới 10.

Biểu đồ 2.2. Nhiệt độ và lượng mưa các tháng trong năm 2010 ở An Giang

mm

0C

31,0

450,0

400,0

30,0

350,0

29,0

300,0

28,0

250,0

200,0

27,0

150,0

26,0

100,0

25,0

50,0

0,0

24,0

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12 Tháng

Lượng mưa (mm)

Nhiệt độ (0C)

Nguồn: Niên giám thống kê An Giang năm 2010

Khí hậu phân hóa thành hai mùa rõ rệt. Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến

tháng 4 năm sau, có gió mùa Đông Bắc, thời tiết trong sáng, ít mưa, mưa vào mùa

này chỉ chiếm khoảng 10% lượng mưa cả năm, gây ra tình trạng thiếu nước trầm

trọng cho cây trồng và sinh hoạt. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, có gió

mùa Tây Nam thổi vào, nóng ẩm, mưa nhiều, lượng mưa chiếm khoảng 90% lượng

mưa cả năm, tập trung cao nhất từ tháng 8 - tháng 10, gây nên cảnh ngập lụt trên

diện rộng, ảnh hưởng nhiều đến hoạt động kinh tế và đời sống xã hội.

Nhìn chung, chế độ khí hậu của tỉnh tương đối ôn hoà, nắng nhiều, mưa vừa,

ít thiên tai, thời tiết khá ổn định, hầu như không xảy ra bão và sương muối. Đây là

những thuận lợi để phát triển trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt thủy sản và các ngành

kinh tế khác như du lịch, giao thông. Khó khăn nhất mà khí hậu gây ra cho tỉnh An

Giang cũng như các tỉnh khác ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long là thiếu nước

37

vào mùa khô và ngập lụt vào mùa mưa. Vấn đề đặt ra là cần phải có những giải

pháp đồng bộ để khắc phục, tìm nguồn cung cấp nước vào mùa khô, tận dụng các

nguồn lợi của lũ như: bồi đắp phù sa, khai thác thủy sản....giúp người dân yên tâm

sống chung với lũ.

Bản đồ 2.2.Phân vùng ngập lụt tỉnh An Giang

ứng với mực nước đỉnh lũ có tần suất 10% tại Tân Châu

38

Mùa nước nổi ở An Giang hình thành gắn liền với mùa mưa và các yếu tố

thời tiết khác tác động như: gió mùa, bão, dải hội tụ nhiệt đới, dông,…gây ra. Điều

này ảnh hưởng nhất định đến hoạt động du lịch trong mùa nước nổi. Về chế độ mưa

trong mùa nước nổi ở An Giang được thể hiện như sau: mùa mưa ở An Giang bắt

đầu từ tháng V và kết thúc vào tháng XI chiếm 90% lượng mưa cả năm. Chế độ

mưa và sự phân bố lượng mưa trong các tháng là khá điều hoà. An Giang là nơi

chịu tác động trực tiếp của gió mùa Tây Nam. Gió này hoạt động trùng vào đầu mùa

mưa nên mang đến khu vực Nam Bộ khối không khí ẩm. Bên cạnh đó, do ảnh

hưởng của địa hình dãy Thất Sơn nên lượng mưa khá cao. Tuy nhiên, những trận

mưa có cường độ lớn thường xuất hiện trên diện tương đối hẹp và thời gian của trận

mưa không kéo dài. Điều này không ảnh hưởng nhiều đến hoạt động DLMNN.

Tài nguyên nước:

 Hệ thống sông, kênh, rạch và hồ:

An Giang nằm ở thượng nguồn sông Cửu Long, đoạn hạ lưu của sông Mê

Kông, có nhiều sông lớn chảy qua. Ngoài ra, tỉnh còn có một hệ thống rạch tự nhiên

và các kênh đào nằm rải rác khắp nơi, tạo thành mạng lưới giao thông thủy lợi chằng chịt với mật độ sông ngòi là 0,72 km/km2.

- Các sông chính:

+ Sông Mê kong bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng của Trung Quốc, dài

4800km, chảy theo hướng Nam qua Mianma và đi vào vùng trung lưu, hạ lưu qua

các nước Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam. Từ Phnom Pênh, sông Mê kông

chia ra làm hai nhánh: nhánh phía Đông chảy vào Việt Nam gọi là Sông Tiền,

nhánh phía Tây gọi là Sông Hậu và đổ ra biển Đông bằng 9 cửa. Như vậy, Sông

Tiền và sông Hậu là hai nhánh lớn của sông Mê kông, khi chảy vào Việt Nam còn

có tên gọi là sông Cửu Long.

+ Sông Tiền chảy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam, qua Tân Châu, Sa Đéc

(Đồng Tháp), Vĩnh Long, Trà Vinh, Tiền Giang, Bến Tre rồi đổ ra biển Đông bằng

6 cửa: Cửa Tiểu, Đại, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên và Cung Hầu. Đoạn sông

thuộc An Giang dài 82km qua các huyện Tân Châu, Phú Tân, Chợ Mới, rộng từ

39

1000-2000m tùy nơi, độ sâu trung bình khoảng 20m, có chỗ sâu hơn 45m. Đối với

An Giang sông Tiền là trục giao thông thủy quan trọng nhất, là nguồn cung cấp

nước và phù sa lớn nhất, đồng thời cũng là con sông có chế độ dòng chảy và diễn

biến lòng sông phức tạp nhất.

+ Sông Hậu là sông có hướng chảy song song với sông Tiền, qua Châu Đốc,

Long Xuyên, Cần Thơ, Sóc Trăng rồi đổ ra biển Đông bằng 3 cửa: Cửa Định An,

Tranh Đề và Ba Thắc (Bát Xắc). Đoạn sông thuộc An Giang dài 100km, hữu ngạn

là Tx. Châu Đốc, các huyện An Phú, Châu Phú, Châu Thành và Tp. Long Xuyên

rộng trung bình 800-1200m tùy nơi có chỗ rộng đến 2000m, độ sâu trung bình 13m

có chỗ sâu 45m. Đây là tuyến giao thông thủy quan trọng nối liền trung tâm tỉnh với

các huyện, thị khác, đồng thời là nguồn cung cấp nước và phù sa chủ yếu cho vùng

Tứ giác Long Xuyên.

+ Sông Vàm Nao: chảy ven thị trấn Phú Mỹ, xã Tân Trung, huyện Phú Tân,

xã Kiến An, Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới theo hướng Đông Bắc-Tây Nam. Sông

có chiều dài 7km, rộng trung bình 700m, độ sâu khoảng 17m, nối liến sông Tiền và

sông Hậu theo hình chữ H, có tác dụng làm cân bằng dòng chảy giữa sông Tiền và

sông Hậu.

+ Sông Bình Di: là một nhánh của sông Hậu, tách ra tại xã Khánh

Bình, huyện An Phú, chảy đến xã Vĩnh Hội Đông, dài khoảng 10 km.

+ Sông Châu Đốc là một phụ lưu của sông Hậu, bắt đầu từ xã Vĩnh Hội

Đông, nơi giao nhau giữa sông Tà Keo (chảy từ Campuchia qua) và sông Bình Di,

chảy qua xã Đa Phước, đến thị xã Châu Đốc thì nhập vào sông Hậu, dài khoảng 18

km. Sông ở Bình Di và sông ở Châu Đốc có độ rộng trung bình là 150m, độ sâu

trung bình là 7m, và có chỗ sâu tới 25m như tại khu vực xã khánh Bình và Thị xã

Châu Đốc.

Ngoài các con sông lớn, An Giang còn có hệ thống các kênh, rạch, hồ nằm

rải rác khắp bề mặt lãnh thổ.

- Hệ thống rạch tự nhiên: các rạch có độ dài từ vài km đến 30 km, bề rộng từ

vài m đến 100 m, độ uốn khúc quanh co khá lớn, nằm giữa sông Tiền và sông Hậu

40

thường lấy nước từ sông Tiền chuyển sang sông Hậu. Các rạch ở phía Tây sông

Hậu thì lấy nước từ sông Hậu dẫn vào nội đồng. Một số rạch lớn như: Mương Khai,

Cái Đầm, Cái Tắc (huyện Phú Tân); Ông Chưởng, Cái Tàu Thượng (huyện Chợ

Mới); Long Xuyên (thành phố Long Xuyên); Chắc Cà Đao, Mặc Cần Dưng (huyện

Châu Thành); Cần Thảo (huyện Châu Phú). Trong đó rạch Ông Chưởng và rạch

Long Xuyên là quan trọng nhất.

+ Rạch Long Xuyên: dài 28km, bắt đầu từ sông Hậu tại Tp. Long Xuyên

chảy theo hướng Đông Bắc-Tây Nam, nối kênh Thoại Hà tại xã Vĩnh Trạch, huyện

Thoại Sơn, sông Kiên và đổ ra cửa Rạch Giá (Kiên Giang). Đây là tuyến giao thông

thủy quan trọng và là một trong những trục tưới tiêu chính của An Giang nói riêng

và cả vùng Tứ giác Long Xuyên nói chung.

+ Rạch Ông Chưởng: dài 20km, lấy nước sông Tiền ngay tại đầu thị trấn Chợ

Mới, chảy theo hướng Đông Bắc-Tây Nam chia huyện Chợ Mới thành hai khu vực

Đông và Tây, cuối cùng đổ vào sông Hậu ở cù lao Mỹ Hòa Hưng. Đây là tuyến giao

thông thủy quan trọng quanh năm và là trục tưới tiêu chính của huyện Chợ Mới.

- Mạng lưới kênh đào: được khai mở qua các thời kỳ. Hệ thống kênh trên địa

bàn tỉnh được phân thành 3 cấp, với chiều dài tổng cộng khoảng 5.171 km, đạt mật độ 1,5 km/km2. Năng lực giao lưu nước lớn nhất vào mùa lũ khoảng 7.500 m3/s và nhỏ nhất vào mùa khô khoảng 1.650 m3/s, có tác dụng tích cực trong việc khuếch

tán dòng chảy lũ - phù sa - triều vào sâu nội đồng để tiêu lũ trong mùa mưa, chuyển

tải ngọt đuổi mặn trong mùa khô, thay nhau rửa phèn vào đầu và cuối mùa mưa.

Sau đây là một vài tuyến kênh chính:

+ Kênh Thoại Hà: nối rạch Long Xuyên tại Vĩnh Trạch kéo dài theo hướng

Tây Nam, đổ ra vịnh Thái Lan tại cửa Rạch Giá.

+ Kênh Vĩnh Tế: dài 91 km, bắt đầu từ tả ngạn sông Châu Đốc tới sông

Giang Thành ở thị xã Hà Tiên (tỉnh Kiên Giang).

+ Kênh Vĩnh An: dài 17 km, là trục giao thông nối liền giữa hai trung tâm

thương mại Tân Châu và Châu Đốc.

41

Ngoài ra, trên đại bàn tỉnh còn có nhiều kênh đào lớn khác có giá trị kinh tế

cao như: Kênh Trà Sư, Kênh Thần Nông, Kênh Vàm Xáng…

- Hồ: trên địa bàn An Giang hiện có hai loại hồ là tự nhiên và nhân tạo. Hồ tự

nhiên ở An Giang là dấu tích còn sót lại của quá trình sông - biển tạo lập châu thổ

sông Mê Kông.

+ Hồ tự nhiên:

Búng Bình Thiên còn có tên gọi là Hồ Nước Trời, thuộc huyện An Phú, tỉnh

An Giang. Hồ nằm giữa ba xã biên giới của tỉnh là Khánh Bình, Khánh An và Nhơn

Hội, với chu vi rộng khoảng 300 ha vào mùa khô, tỏa rộng cả ngàn ha vào mùa

nước nổi, và độ sâu trung bình là 4m. Với diện tích như vậy, Búng Bình Thiên được

coi là một trong những hồ nước ngọt rộng nhất miền Tây Nam Bộ, gồm có 2 hồ là

Búng Bình Thiên lớn và Búng Bình Thiên nhỏ. Nguồn nước cung cấp cho hai hồ

là sông Hậu và sông Bình Di. Vào mùa khô, Búng Bình Thiên Lớn có diện tích mặt

nước là 193 ha, độ sâu trung bình khoảng 6 m; Búng Bình Thiên Nhỏ lần lượt là 10

ha và 5 m. Chung quanh hai hồ là các gò đất cao từ 3 - 4 m, có các cửa thông với

sông. Vào mùa mưa, khi lũ lên cao, nước lũ tràn bờ, chảy vào lấp đầy hồ, làm chìm

ngập hai hồ trong biển nước mênh mông. Đây là hồ chứa nước thiên nhiên rộng lớn,

cung cấp nước ngọt sinh hoạt cho cả vùng phụ cận. Bên cạnh đó, nó còn là “túi cá

đồng” tự nhiên rất phong phú, là điểm du lịch lý thú vì cảnh quan hãy còn khá

nguyên sơ, và còn vì những món ăn dân dã mang đậm chất của một thời đi mỡ cõi,

như: Chuột nướng, lẩu mắm, cá linh kho, cá lóc nướng trui...

Hồ Nguyễn Du thuộc phường Mỹ Bình, thành phố Long Xuyên, tỉnh An

Giang. Hồ được hình thành từ một nhánh nhỏ của sông Hậu, bắt đầu từ đoạn cách

đài Viễn thông An Giang khoảng 100 m, kéo dài gần 1.500m xuôi về hạ lưu. Lâu

dần, phù sa bồi đắp tách dần với sông Hậu. Về sau, người ta nạo vét và cải tạo thành hồ với chiều dài 350 m, rộng trên 50 m, diện tích mặt nước khoảng 1.750 m2. Hồ

nằm bên cạnh sông Hậu, ở một gốc đường Lê Lợi - con đường chạy giữa hai hàng

cây xanh rợp bóng, có lẽ đây là con đường mát nhất thành phố Long Xuyên. Bên

kia hồ là đường Nguyễn Du. Hồ nằm giữa hai con đường nhưng khung cảnh lại rất

42

nên thơ và tĩnh lặng.

+ Hồ nhân tạo:

Các hồ nhân tạo được xây dựng ở vùng đồi núi Tri Tôn - Tịnh Biên vào

những năm 1986 - 1994 như: hồ Soài So, hồ Ô Tức Xa, hồ Cây Đuốc. Ngoài tác

dụng cung cấp nước sinh hoạt, các hồ này còn hỗ trợ nước tưới cho hoa màu và các

loại cây trồng khác, phục vụ đắc lực cho công tác trồng rừng phủ kín đồi trọc,

phòng chống cháy rừng và phòng chống sa mạc hóa đất đồng bằng ven núi, góp

phần cải tạo môi trường, tạo cảnh quan hấp dẫn cho du lịch sinh thái.

Hồ Soài So nằm dưới chân núi Cô Tô, thuộc địa bàn xã Núi Tô, huyện Tri

Tôn, tỉnh An Giang. Hồ có chu vi khoảng 5 ha, dung tích 400.000 m3, có chức năng

cung cấp nước sinh hoạt cho người dân trong vùng. Những năm gần đây, Soài So

được đưa vào khai thác du lịch. Với cảnh quan tươi đẹp và khí hậu trong lành, nằm

trong quần thể các khu du lịch nổi tiếng của Tri Tôn, Soài So là một trong những

điểm đến hấp dẫn dành cho du khách trong và ngoài nước.

Hồ Cây Đuốc nằm giữa thung lũng của núi Cấm và Phú Cường được đào sâu 3,9 mét, có dạng hình tròn với diện tích khoảng 1.300m2 hứng và ngăn giữ nước của

mạch nước ngầm tại đây quanh năm suốt tháng phun lên khỏi mặt đất ở cao trình

22m cung cấp nước sinh hoạt cho 3 nghìn dân quanh vùng.

 Chế độ thủy văn:

Chế độ thủy văn của An Giang phụ thuộc chặt chẽ vào chế độ nước sông Mê

Kông. Hằng năm, có khoảng 70% diện tích tự nhiên bị ngập lụt với mức nước phổ

biến từ 1 - 2,5 m, đặc biệt có khu vực ngập tới hơn 3,5m. Lưu lượng nước trung bình trong năm của sông Tiền và sông Hậu rất dồi dào (14 000m3/s), nhưng phân bố không đều trong năm. Mùa cạn là 5000 m3/s (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau), kiệt

nhất vào tháng 3 và 4. Hệ thống sông rạch chịu ảnh hưởng của thủy triều. Mùa lũ là 24 000 m3/s (từ tháng 5 đến tháng 10), cao nhất vào tháng 8,9. Thời gian lũ lên và

xuống thường kéo dài 5-6 tháng trong năm.

Ở An Giang thường có các nhiễu động nhiệt đới gây mưa to và dài ngày vào

đầu mùa mưa, làm xuất hiện lũ đầu mùa. Sau khi đạt tới đỉnh lũ, mực nước trên

43

sông Tiền và sông Hậu xuống chậm trong khoảng 10-15 ngày. Mực nước đỉnh lũ

đầu mùa ở Tân Châu có mức 3,5m xảy ra sau tháng 7. Sau đó tháng 8,9 nước tiếp

tục lên và tạo thành lũ lớn nhất trong năm.

Trong khi dòng chảy mùa lũ chiếm tới 80-90%, thì mùa cạn chỉ có 10-20%

lượng dòng chảy năm. Mùa kiệt nước trong năm xuất hiện vào khoảng tháng 3 hoặc

tháng 4 và chịu ảnh hưởng của thủy triều, nhất là ở 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên.

d/ Sinh vật,

An Giang là tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long, có thời gian ngập lũ hàng năm

khoảng 6 tháng, diện tích đất nông nghiệp chiếm trên 70% tổng diện tích tự nhiên.

Diện tích đất rừng tập trung ở vùng đồi núi và đất phèn nặng thuộc huyện Tri Tôn

và Tịnh Biên, chiếm trên 5% diện tích tự nhiên toàn tỉnh.

Từ năm 1999 đến cuối năm 2008, An Giang đã trồng được 4.426ha, khoanh

nuôi 583ha. Chất lượng rừng trồng được nâng lên hơn trước, loài cây trồng đa dạng,

tỉ lệ cây sống đạt cao trên 90%. Diện tích rừng trồng và khoanh nuôi tái sinh được

giao khoán cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân chăm sóc, bảo vệ. Công tác bảo vệ

rừng từng bước được xã hội hóa, thông qua việc xây dựng và thực hiện quy ước bảo

vệ và phát triển rừng trong cộng đồng dân cư xã, ấp.

 Thực vật:

Trước đây, thảm thực vật tự nhiên của An Giang rất phong phú cả về số

lượng lẫn chủng loại. Qua nhiều thế kỷ, thảm thực vật này đã biến đổi mạnh do tác

động của con người, nhiều hệ sinh thái ngập nước và hệ sinh thái rừng trên đồi núi

đã chuyển dần sang hệ sinh thái nông nghiệp.

- Thảm thực vật ngập nước:

Thực vật chiếm ưu thế là tràm, phát triển ở vùng ngập nước, bưng trũng đất

phèn và than bùn ở huyện Tri Tôn và huyện Tịnh Biên. Cây tràm ở An Giang cao từ

15 - 20 m, có khi đạt tới 25 m. Cách đây gần 1 thế kỷ, tràm mọc thành rừng, phủ kín

cả vùng đồng bằng, song do con người khai thác bừa bãi nên rừng tràm bị thu hẹp

dần. Ngoài tràm, còn có hơn 100 loài thực vật thuộc các họ khác nhau, trong đó

nhiều loài có giá trị phát triển và khai thác như: chà là nước, mốp, trâm sẻ, trâm

44

khế, sộp, mây nước, nắp bình, bòng bòng, choại, bồn bồn.....Thảm thực vật này có

vai trò ngăn cản quá trình oxid hóa khoáng sinh phèn và quá trình khoáng phèn ở

tầng đất dưới, đồng thời góp phần điều hoà khí hậu, độ ẩm, cản dòng chảy, giữ phù

sa. Một số khu rừng tràm có giá trị du lịch là rừng tràm Trà Sư, Bình Minh, Vĩnh

Mỹ, Tấn Tuyến.

Rừng tràm Trà Sư thuộc xã Văn Giáo huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang. Diện

tích là 845ha, với 140 loài thực vật, 11 loài thú, 70 loài chim. Trong đó có 2 loài

chim quý hiếm là Cò lạo Ấn Độ (Giang sen) và Cổ Rắn (Điêng Điểng); 20 loài bò

sát và 5 loài ếch nhái. Trong rừng còn có cả những loài chim không phụ thuộc nhiều

vào đất ngập nước như: Chim Ngói và Sáo đá đuôi hung, 23 loài cá được ghi nhận

trong đó 2 loài cá có gia trị khoa học và có nguy cơ bị đe dọa diệt chủng là cá Còm

và cá Trê trắng.

Ngày 27/5/2005, theo Quyết định số 1530 của UBND tỉnh An Giang, rừng

tràm Trà Sư được công nhận là rừng đặc dụng - bảo vệ cảnh quan nằm trong hệ

thống rừng đặc dụng Quốc gia, có tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn rất phong

phú.

Rừng tràm Bình Minh thuộc địa bàn 2 xã Lương An Trà và xã An Tức,

huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Tuy cũng thuộc hệ sinh thái rừng nước ngập, nhưng

rừng tràm Bình Minh không thu hút nhiều loại đông vật như rừng tràm Trà Sư.

Ngoài ra còn có hệ thống rừng tràm Vĩnh Mỹ và rừng tràm Tân Tuyến. Tuy

nhiên số lượng cá thể là không nhiều như ở Trà Sư, nếu có biện pháp đầu tư hợp lý

sẽ là một tiềm năng lớn cho phát triển du lịch.

- Thảm thực vật đồi núi:

Tập trung chủ yếu ở vùng Bảy Núi thuộc huyện Tri Tôn, huyện Tịnh Biên và

một phần thị xã Châu Đốc, huyện Thoại Sơn. Ngày trước, thảm thực vật ở đây

thuộc kiểu rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới có cấu trúc 3 tầng rõ rệt, phong phú về

chủng loại, có nhiều loại cây quý hiếm. Qua nhiều thế kỷ, do tác động của con

người, thảm thực vật này đã giảm sút nghiêm trọng cả về số lượng lẫn chất lượng.

Cây tái sinh kém và lớp tái sinh không liên tục, cân bằng sinh thái bị phá vỡ. Con

45

người đã trồng tỉa hoa màu, cây ăn quả, tạo nên những thảm thực vật nhân tạo thay

thế các thảm thực vật tự nhiên. Hiện nay, thảm thực vật này còn giữ được một số

loài gỗ quý như: mật, căm xe, giáng hương, dầu, sao, tếch....

Để tạo sự cân bằng sinh thái, điều hoà khí hậu, cải tạo đất, tạo nguồn nước

ngọt và hạn chế lũ lụt, tỉnh cần phải khôi phục lại rừng tràm và phủ xanh đồi trọc ở

vùng Bảy Núi.

 Động vật:

Hệ động vật ở An Giang trước đây rất phong phú. Trịnh Hoài Đức trong Gia

Định thành thông chí đã viết: "Ở núi Nam Vi cây cối um tùm, cấm chặt cây, khe sâu

cỏ rậm, rất nhiều hươu, nai, hổ, báo. Dân núi và người ẩn tụ họp cấy cày ở chân

núi". Còn trong núi Khe Săn ở huyện Hà Dương, cách Vàm Nao 5 dặm về phía

Đông Nam, theo Trịnh Hoài Đức thì "cây tùng, cây trúc tốt tươi, hươu nai tụ tập, có

ruộng để cày cấy, có chằm để chài lưới, nhân dân thường đến núi này để tìm mối

lợi".

Ở các vùng ngập nước thì có nhiều tôm cá và nhiều loài chim cò, đặc biệt có

cả cá sấu, nhiều nhất là ở khu vực sông Vàm Nao. Người ta có thể bắt cá sấu về

nuôi và xẻ thịt bán. Gia Định thành thông chí viết: "Người ta bắt ở nước thì nuôi

trong cái bè, trên đất thì nuôi trong chuồng, rồi đem bán cho hàng thịt, da phơi khô

đem bán, răng làm cán đồ dùng". Ngày nay, cá sấu được liệt vào danh sách những

loài quý hiếm và được nuôi để lấy da xuất khẩu. Cùng loài bò sát với cá sấu, vùng

nông thôn ngập nước ở An Giang còn có nhiều loài rắn như rắn nước, rắn bông

súng, rắn ri voi, ri cá, rắn râu, rắn mối, rắn trun, rắn hổ, rắn lục, rắn máy gầm....

Một loài động vật tự nhiên rất phổ biến ở An Giang là chuột. Chuột có mặt ở

khắp nơi, từ trong nhà đến ngoài đồng, gây thiệt hại không nhỏ cho nghề nông. Các

giống chuột thường thấy ở An Giang là chuột đồng Rattus argetiventer, chuột nhà

Rattus rattus, chuột cống heo hay chuột cống ét Bandicota indica, chuột cống nhum

hay chuột cống cơm Bandicota bengalensis, chuột nhắt Mus musculus. Ngoài ra còn

có loài chuột nhỏ, di chuyển nhanh trên các đọt lúa, rất khó diệt trừ, gọi là chuột bọ

Mus sp. Ở xã Bình Long, huyện Châu Phú có một làng nghề chuyên thu gom và

46

giết thịt chuột, gọi là làng nghề Chuột.

Với những cánh đồng bạt ngàn, An Giang là nơi sinh sống của nhiều loài

chim hoang dã như: sẻ, chào mào, chích chòe, sậu, sáo, cồng cộc, le le, vịt trời, cò

trắng, cò ma, cò bộ, cò lửa, diệc, cuốc, trích....Theo số liệu điều tra vào tháng 07-

1999, ở rừng Trà Sư huyện Tri Tôn có 62 loài chim với hơn 5.000 cá thể. Rừng Trà

Sư thể hiện tính đa dạng sinh học, là nơi có nhiều loài chim trú ẩn và làm tổ. Cũng

trong đợt điều tra này, người ta còn phát hiện một số lượng nhỏ loài điêng điểng

đang sinh sản. Đây là loài quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng. Ngoài ra, còn có

hơn 300 cá thể diệc lửa, điều này cho thấy đây có thể là điểm trú ngụ của các loài

diệc lửa ở đồng bằng sông Cửu Long.

 Nguồn thủy sản:

An Giang là tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long, cùng với hệ thống sông ngòi

dầy đặc đã tạo nên một khu hệ sinh thái đặc trưng vùng nội địa. Hàng năm vào đầu

mùa lũ khoảng tháng 7-8, mực nước sông Cửu Long lên rất nhanh làm ngập một

vùng diện tích rộng lớn đặc biệt là 2 khu vực Tứ Giác Long Xuyên và Đồng Tháp

Mười. Ngoài lượng phù sa bồi đắp hàng năm nước lũ còn đem lại một nguồn lợi

thuỷ sản to lớn rất có ý nghĩa đối với đời sông ngư dân tỉnh An Giang nói riêng,

đồng bằng sông Cửu Long nói chung.

Theo Thống kê của Chi cục Thủy sản An Giang thì sản lượng nuôi trồng

năm 2010 khoảng 105.000 tấn trong đó sản lượng cá tra chiếm tỷ trọng cao nhất

trong các loại thủy sản đạt khoảng 81,17%. Các lọai hình nuôi chủ yếu là: nuôi ao,

nuôi bè, nuôi chân ruộng, nuôi đăng quầng.

Nguồn thủy sản phong phú có ý nghĩa rất quan trọng cho loại hình DLMNN.

Các loại cá như: Cá Linh, cá Lóc, Cá Rô,…là những loài tạo ra các món ăn dân dã

mang hương vị đậm chất đồng quê. Điều này sẽ làm cho DLMNN trở nên hấp dẫn

hơn với du khách. Bên cạnh đó, thủy sản góp phần tạo nên những hình ảnh và sản

phẩm du lịch độc đáo hơn trong mùa nước nổi như: các món ăn đặc sản cá linh kho

mía, cá linh nhúng giấm, cá lóc nướng trui,…các hình thức bắt cá bình dị như giăng

lưới, thả câu, đặt vó,…tạo nên một bức tranh đa dạng hơn trong DLMNN.

47

2.2.1.2. Tài nguyên du lịch nhân văn

Tài nguyên du lịch nhân văn ở An Giang phong phú và đa dạng, đây là các

tài nguyên du lịch chung của tỉnh và góp phần vào việc tạo nên sự phát triển tổng

hợp du lịch của tỉnh. Với các loại hình du lịch khác nhau như du lịch tham quan, leo

núi, viếng chùa, miếu, sinh thái,…trong đó của DLMNN. Tài nguyên du lịch nhân

văn ở An Giang là bước đệm hiệu quả tạo sự đa dạng sản phẩm du lịch và thu hút số

lượng du khách đến với An Giang vào mùa nước nổi. Đó là sự gắn kết chặt chẽ

trong hoạt động du lịch giữa các loại hình du lịch với nhau, các sản phẩm du lịch

khác nhau tạo nên sự hổ trợ lẫn nhau cho sự phát triển chung và cho sự phát triển

của DLMNN.

Sự đa dạng của tài nguyên du lịch nhân văn góp phần tạo nên sự đa dạng cho

các loại hình du lịch được thể hiện sau đây:

Di tích lịch sử - văn hóa:

Bảng 2.3. Các di tích lịch sử-văn hóa ở An Giang được công nhận

Tên Di Tích Địa điểm Công nhận số

Khu lưu niệm thời niên Lịch sử Mỹ Hòa Hưng, 114/VH-QĐ

TP Long Xuyên ngày 30/9/1984

thiếu của Chủ tích Tôn Đức Thắng

Lịch sử và danh thắng Xã Vĩnh Tế, Thị xã Châu Đốc 92/VH-QĐ ngày 10/7/1980

Núi Sam, Chúa xứ Thánh miếu, Lăng Thoại Ngọc Hầu, Chùa Tây An, Chùa phước Điền

Lịch sử

Xã Ba Chúc, huyện Tri Tôn 92/VH-QĐ ngày 10/7/1980

Nhà Mồ Ba Chúc, Chùa Tam Bửu, Chùa Phi Lai

Lịch sử

Chùa Giồng Thành (Long Hưng Tự) Xã Long Sơn, huyện Phú Tân 235/VH-QĐ ngày 12/12/1986

Lịch sử

Đền thờ quản cơ Trần Văn Thành Xã Thạnh Mỹ huyện Tây, 235/VH-QĐ ngày 12/12/1986

Châu Phú

48

Chùa Bà Lê Lịch sử Xã Mỹ Hội An, 235/VH-QĐ

huyện Chợ Mới ngày 12/12/1986

Cột Dây Thép Lịch sử cách Xã Long Điền 34/VH.QĐ

mạng A, huyện Chợ ngày 09/01/1990

Mới

Đồi Tức Dụp Lịch sử cách Xã An Tức, 666/VH.QĐ

mạng huyện Tri Tôn ngày 01/4/1985

Đình Châu Phú trúc Phường Châu 1288/VH.QĐ Kiến

nghệ thuật Phú A, thị xã ngày 16/11/1988

Châu Đốc

Đình Mỹ Phước Kiến trúc Phường Mỹ 2233/QĐ.BT

nghệ thuật ngày 26/6/1995

Long, thành phố Long Xuyên

trúc

Chùa Xà Tón (Xvayton) Kiến nghệ thuật 235/VH-QĐ ngày 12/12/1986

Thị trấn Tri Tôn, huyện Tri Tôn

Chùa Ông Bắc trúc

Kiến nghệ thuật 112/V , ngày 15/6/1987H.QĐ

Mỹ Phường Long, thành phố Long Xuyên

trúc

Thánh đường Hồi giáo MUBARAK Kiến nghệ thuật Xã Phú Hiệp, huyện Phú Tân 235/VH-QĐ ngày 12/12/1986

trúc

Hai bia đá và Tượng Phật bốn tay Kiến nghệ thuật 28/VH.QĐ ngày 18/01/1988

Xã Vọng Thê, huyện Thoại Sơn

Chùa Hòa Thạnh trúc

Kiến nghệ thuật Xã Nhơn Hưng, huyện Tịnh Biên 983/VH.QĐ ngày 28/9/1990

Bia Thoại Sơn Lịch sử

trấn Núi huyện 993/VH.QĐ ngày 28/9/1990

Thị Sập, Thoại Sơn

Đình Thần Đa Phước trúc

Kiến nghệ thuật Xã Đa Phước, huyện An Phú 05/1999/QĐ.BVHTT ngày 12/02/1999

Nguồn: Sở văn hóa thông tin An Giang

49

 Khu lưu niệm thời niên thiếu Chủ tịch Tôn Đức Thắng:

Khu lưu niệm thời niên thiếu Chủ tịch Tôn Đức Thắng nằm trên một cù lao

giữa sông Hậu, có tên là cù lao ông Hổ thuộc xã Mỹ Hòa Hưng, cách trung tâm

thành phố Long Xuyên 3km. Khu lưu niệm được bắt đầu hình thành sau khi Bộ Văn

Hóa Thông Tin có quyết định số 114/VH.QĐ ký ngày 30/8/1984 chính thức công

nhận ngôi nhà ở ấp Mỹ An, xã Mỹ Hòa Hưng (nơi Bác Tôn sinh ra và sống tại đây

trong những năm tháng thời niên thiếu) là di tích lịch sử lưu niệm thời niên thiếu

của Chủ tịch Tôn Đức Thắng.

Khu lưu niệm Bác Tôn là điểm hấp dẫn du khách, là điểm sinh hoạt truyền

thống, về nguồn,...và cũng là tụ điểm sinh hoạt văn hóa, văn nghệ-thể dục thể thao

trong các ngày lễ hội và các ngày lễ lớn của đất nước.

 Di tích khảo cổ Óc Eo:

Những phát hiện khảo cổ trên núi Ba Thê và cánh đồng Óc Eo cho thấy,

vùng đất An Giang từng là một thương cảng lớn, có thành trì, hào nước và nhà cửa

sầm uất. Đặc điểm nổi bật của cư dân văn hóa Óc Eo là lối cư trú trên nhà sàn ven

hệ thống sông rạch tự nhiên và nhân tạo, hoặc chọn các gò, giồng cao xây dựng

những trung tâm sinh hoạt tinh thần, mở rộng khu vực xung quanh làm nơi cư trú,

tiến đến mở rộng địa bàn canh tác. Cư dân cổ đã duy trì và phát triển cuộc sống này,

trở thành một “truyền thống” thể hiện qua hệ thống di tích kiến trúc và những di vật

khảo cổ có niên đại từ đầu Công nguyên đến thế kỷ X - XII. Đặc điểm cư trú này

hiện còn thể hiện rất rõ nét tại nhiều nơi ở tỉnh An Giang.

 Đền thờ quản cơ Trần Văn Thành:

Đền thờ quản cơ Trần Văn Thành, thuộc xã Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú,

nằm giữa cánh đồng Láng Linh, trên bờ kinh xáng Vịnh Tre (kênh Tri Tôn). Từ

thành phố Long Xuyên đi đến di tích khoảng 50km. Đền thờ quản cơ Trần Văn

Thành do ông Trần Văn Nhu, con trai cả của ông Trần Văn Thành đứng ra xây dựng

năm Đinh Dậu (1897), là nơi tưởng nhớ ông quản cơ Trần Văn Thành-người lãnh

đạo cuộc khởi nghĩa Láng Linh-Bảy Thưa (1867-1873) đã hy sinh trong trận quyết

chiến chống thực dân Pháp và là nơi tập hợp nhân dân và tín đồ đạo Bửu Sơn Kỳ

Hương để chờ thời cơ đánh Pháp.

50

 Cột Dây Thép:

Cột dây Thép ở xã Long Điền A, huyện Chợ Mới được xây dựng vào cuối

thế kĩ XIX, là hệ thống thông tin liên lạc của chính quyền thực dân Pháp. Cột dây

thép hình tháp chóp vuông, cao 30m, với 4 chân trụ vững chắc, mỗi chân bằng theo

hình L nối kết không đều.

Tháng 4-1930, Đặc ủy Hậu Giang tiến hành thành lập một chi bộ Đảng xã

Long Điềm gồm 3 đồng chí Lưu Kim Phong, Bùi Trung Phẩm và Đoàn Thanh

Thủy. Để chào mừng sự kiện trên, lá cờ Đảng đầu tiên được treo trên đỉnh Cột dây

thép và tiếp theo là lá cờ lớn hơn được treo và đưa ra dây thép ở vị trí giữa sông do

ông Lê Văn Đỏ một quần chúng tốt, đã lãnh trách nhiệm trực tiếp với sự hỗ trợ tích

cực của quần chúng khác. Cờ búa liềm phất phới tung bay khiến kẻ thù lo sợ, còn

nhân dân phấn khởi.

Cột dây thép là điểm treo lá cờ Đảng đầu tiên của phong trào cách mạng của

tỉnh An Giang, và là điểm tập hợp quần chúng nhân dân đấu tranh của chi bộ Đảng

Cộng Sản năm 1930.

Lễ hội:

 Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam:

Lễ được tổ chức từ ngày 23 đến 27-04 âm lịch tại miếu Bà Chúa Xứ ở

phường Núi Sam, thị xã Châu Đốc. Ban đầu đây chỉ là lễ nhỏ do dân địa phương

cúng tế, dần dần lượng du khách từ khắp nơi trong cả nước về trẩy hội rất đông. Có

thể nói đây là lễ hội dân gian lớn nhất ở vùngđồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt lễ

hội năm 2008 được tổ chức với quy mô cấp quốc gia có tên gọi là Tuần lễ quốc gia

lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam năm 2008. Cũng trong dịp này, Trung tâm sách kỷ

lục Việt Nam đã tiến hành nghi thức trao giấy xác nhận và cúp lưu niệm kỷ lục Việt

Nam đối với “Ngôi miếu lớn nhất Việt Nam” và “Tượng bà bằng đá sa thạch xưa và

lớn nhất Việt Nam” cho đại diện Ban quản trị lăng miếu núi Sam.

 Lễ hội văn hóa mùa nước nổi:

Diễn ra vào mùa nước nổi hằng năm tại các huyện thượng nguồn sông

Tiền, sông Hậu của tỉnh An Giang. Ngày xưa, mỗi khi mùa nước lũ đổ về, người

51

dân vùng An Phú, Tân Châu lại thấp thỏm, lo âu vì những tai họa bất ngờ mà nó có

thể gây ra. Ngày nay, nhờ một loạt chính sách gia cố đê bao, đào kênh thoát lũ của

nhà nước, mùa lũ lớn hung bạo ngày nào giờ trở nên hiền hòa với người dân nơi

đây, cùng nhân dân nơi đây sống chung với nhau như một gia đình. Mùa lũ về mang

theo một lượng thủy sản phong phú như: cá, tôm, rùa, rắn....trở thành đặc sản của

địa phương. Từ đó, khi nước bắt đầu dâng cao, trước mỗi nhà đều giăng một chiếc

lồng đèn để chào đón một lễ hội đang dần trở thành quen thuộc: lễ hội văn hóa mùa

nước nổi. Vào dịp này, người ta tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ và vui

chơi giải trí đặc sắc, mang đậm phong cách miền sông nước.

 Lễ Đôn Ta và hội đua bò dân tộc Khơ – Me:

Lễ hội đua bò kéo bừa truyền thống là nét sinh hoạt văn hoá, môn thể thao

độc đáo và đặc sắc của đồng bào dân tộc Khơ-me vùng Bảy Núi An Giang.Lễ hội

đua bò được tổ chức vào lễ "Đôn ta" (lễ cúng ông bà), từ ngày 9 đến ngày 10 tháng

10 âm lịch hàng năm.

"Đôn-ta" là một trong những lễ hội lớn mang tính truyền thống của người

Khơ-me để biểu lộ lòng tưởng nhớ, biết ơn đối với tổ tiên và công lao của những

người đã khuất. Sau khi đến chùa làm lễ rước vong linh ông bà tổ tiên về cùng

chung vui với gia đình, người Khơ-me thường kết những bè chuối để làm thuyền,

trên thuyền bày đủ các phẩm vật đã cúng, mỗi thứ một ít, sau đó đem thả xuống

dòng nước cạnh nơi ở hoặc ao hồ, sông rạch gần nhà... Cũng vào dịp này, khách đến

thăm phúm, sóc sẽ được bà con Khơ-me đón tiếp nồng hậu, tiếp đãi chu đáo. Vì họ

quan niệm khách là sứ giả của tổ tiên về thăm gia đình, con cháu...

Trong lễ ''Đôn-ta" ngoài tập tục thả thuyền, người Khơ-me còn tổ chức hội

đua bò truyền thống. Để chuẩn bị cho cuộc đua bò, họ chọn một khoảnh ruộng bằng

phẳng, chiều dài chừng 200m, ngang 100m có nước xăm xắp, được “trục” xới nhiều

lần cho có độ trơn của bùn, bốn bên có bờ bao và điểm đích có đoạn đường trống để

làm độ dừng an toàn cho bò. Đoạn đường đua chính chỉ cần 120m theo khoảnh

ruộng cặp sát bờ bao. Nơi xuất phát được cắm 2 cây cờ màu xanh, đỏ mỗi cây cách

nhau 5m, và tại điểm đích cũng vậy. Đôi bò nào đứng ở vị trí cây cờ màu gì thì

điểm đích cũng theo màu của cây cờ đó.

52

Trước khi vào cuộc đua, họ chọn từng đôi bò với nhau hoặc bốc thăm và

thoả thuận một số qui định cần thiết như ai sẽ đi trước, đi sau... Nhưng thông

thường đôi đi sau có phần ưu thế hơn. Nếu trong khi đua, đôi bò nào chạy tạt ra

khỏi đường đua sẽ bị loại và đôi bò sau giẫm lên giàn bừa của đôi bò trước là thắng

cuộc. Còn người điều khiển phải đứng thật vững nếu bị ngã hoặc rơi ra khỏi giàn

bừa coi như thua cuộc.

Từng đôi bò được ách vào một chiếc bừa đặc biệt, gọng bừa là bàn đạp gồm

một tấm gỗ rộng 30cm, dài 90cm, bên dưới là răng bừa. Người điều khiển bò cầm

roi mây hoặc khúc gỗ tròn vừa tay độ 3cm, đầu có tra cây đinh nhọn - cây xà-lul.

Khi bắt đầu lệnh xuất phát của trọng tài, người điều khiển chích mạnh cây xà-lul

vào mông con bò, bò bị đau phóng nhanh về phía trước, quan trọng là phải chích

cho đều cả hai con thì vận tốc của đôi bò mới quyết liệt và hấp dẫn. Điều này có

khác với đua ngựa ở chỗ là mỗi người cưỡi một con, ai về đích trước sẽ thắng cuộc.

Ngày hội đua, từ sáng sớm bà con đã có mặt đông đảo tại địa điểm đua bò. Có

người ở cách xa hàng vài cây số cũng mang theo cả xoong, nồi, mắm, muối nấu ăn

tại chỗ để xem cho trọn vẹn cuộc đua. Chỗ xem cũng không cần cầu kỳ như xem

bóng đá, đua ngựa hay một số môn thể thao khác, chỉ cần đứng ở vị trí hơi cao so

với mặt sân đua hay leo lên bờ bao là đủ. Từ lúc cuộc đua bắt đầu cho đến kết thúc

không khí lúc nào cũng tưng bừng và hào hứng, tiếng vỗ tay, reo hò, sôi nổi cổ

động dành cho những người điều khiển các đôi bò giỏi hoặc những pha về đích gay

go, quyết liệt.

 Hội đền Nguyễn Trung Trực:

Đền Nguyễn Trung Trực (1837-1868) ở xã Long Kiên, huyện Chợ Mới, tỉnh

An Giang thờ Nguyễn Trung Trực là thủ lĩnh nghĩa quân chống Pháp ở Nam Bộ.

Hội đền Nguyễn Trung Trực được tổ chức hàng năm vào các ngày ngày 8 đến 9-12

(tức ngày 18 đến 19-10 âm lịch). Trước hội khoảng một tuần, hàng trăm người từ

các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đã kéo về đền cùng nhau sửa sang, lau chùi lại

đền thờ, dựng trại, đắp lò nấu cơm... thành tâm như con cháu lo cúng giỗ cho ông

bà.

53

Vào ngày hội đền, người ta tổ chức nghi lễ cúng tế và diễn lại trận đánh chìm

tàu Hy Vọng của Pháp trên sông Nhật Tảo. Ngoài ra, còn tổ chức các sinh hoạt văn

hoá truyền thống như đua thuyền, đánh cờ...

Trong và sau lễ giỗ vài ngày, nhân dân tự nguyện làm một khu riêng trong

đền để nấu cơm chay phục vụ miễn phí cho tất cả khách đến dự lễ. Cơm và thức ăn

được dọn lên mâm, ai đói cứ việc ăn, ăn xong lại có người dẹp. Nhà bếp phục vụ bà

con từ 3 giờ sáng đến 12 giờ đêm hàng ngày. Gạo và thức ăn do người dân hỷ cúng

được đem tặng cho người nghèo.

 Lễ Hội Chol ChNam Thmay:

Là lễ năm mới, lễ Tết lớn nhất của người Khmer Nam bộ (tương tự như Tết

Nguyên Đán của người Việt), được tổ chức vào ngày 12, 13, 14 tháng 4 âm lịch tại

chùa và ở gia đình.

Lễ hội có ý nghĩa tống tiễn mùa nắng hạn, bước sang thời kỳ có mưa để làm

mùa. Bà con làm lễ tiễn đưa Têvêda (Thần coi sóc) cũ, đón Têvêda mới. Trong dịp

này, ngoài cúng lễ bà con thăm hỏi còn chúc mừng lẫn nhau. Buổi tối có đốt pháo

thăng thiên, tham dự các trò chơi như thả diều, đánh quay lửa... Trai gái trong làng

múa Roam Vông, hát Dù Kê..

 Lễ hội của người Chăm:

Người Chăm ở An Giang hều hết là tín đồ Hồi Giáo (Islam). Vì vậy thời gian

các lễ hội của người Chăm đã tiến hành theo Hồi lịch và được tổ chức hàng năm tại

các Thánh đường ở mỗi địa phương. Lễ Ramadan là một trong những lễ hội lớn tập

trung nhiều người tại Thánh đường; thu hút thanh niên nhiều nhất là Thánh đường

Mubarak thuộc xã Phú Hiệp, huyện Phú Tân.

Lễ Ramadan còn là tháng Thánh lễ Ramadan, diễn ra từ ngày 1/9 đến 30/9

Hồi lịch. Người Chăm gọi là “pănơh” có nghĩa “tháng nhịn” hay “tháng ăn chay”.

Đây là tháng để tín đồ tự sám hối sửa chữa. Hàng năm còn có lễ hội lớn khác như:

Lễ Roya Phik Trok (1/10 Hồi lịch)- Lễ bố thí cho người nghèo, Lễ Roya Haji

(10/12 Hồi lịch)- Lễ hành hương đến Mecca (Thánh địa Hồi Giáo),…

54

 Lễ hội của người Hoa:

Người Hoa ở An Giang sống tập trung nhiều ở khu vực chợ Long Xuyên và

Châu Đốc. Do đặc điểm tín ngưỡng theo phật giáo Đại Thừa và “Đa thần giáo”,

người Hoa thờ cúng: Quan Đế Thánh Quân, Bà Thiên Hậu, Phật Bà Quan Âm và tổ

tiên ông bà. Tập tục lễ tết và thờ cúng trong gia đình người Hoa có nhiều điểm

giống như người Việt; tuy nhiên có khác một số chi tiết như: Lễ đón giao thừa,

người Hoa cũng món chay và các món chè.

Nghề thủ công truyền thống:

Tỉnh An Giang có 29 làng nghề tiểu thủ công nghiệp theo tiêu chí của tỉnh và

49 địa bàn có nghề tiểu thủ công nghiệp, với 11.642 hộ, giải quyết việc làm cho trên

30.000 lao động. Trong đó, có 19 làng nghề tiểu thủ công nghiệp, làng nghề tiểu thủ

công nghiệp truyền thống đã được UBND tỉnh công nhận.

Những làng nghề truyền thống thường hình thành có bề dày về thời gian lẫn

tay nghề, như Tịnh Biên có làng nghề dệt thổ cẩm Khơ-me Văn Giáo, Chợ Mới có

làng nghề mộc Chợ Thủ, Mỹ Luông, Tấn Mỹ; Tân Châu có làng nghề tơ lụa, làng

nghề thổ cẩm Chăm ở Châu Phong; Châu Đốc có làng nghề chế biến mắm rất nổi

tiếng và được du khách ưa chuộng…

Ngoài ra, thời gian gần đây cũng đã xuất hiện nhiều cơ sở sản xuất thủ công

mỹ nghệ rất đặc sắc như tranh lá thốt nốt của nghệ nhân Võ Văn Tạng, hàng mỹ

nghệ tre bông của cơ sở Viễn Thành, tranh từ hoa cỏ của cơ sở Hoàng Cung, điêu

khắc gỗ của cơ sở Tây Sơn, mộc mỹ nghệ Hồng Mỹ, sản phẩm nội thất từ lục bình

của cơ sở Hoàng Yến, các sản phẩm thêu rua của hợp tác xã Kim Chi v.v… Tất cả

hợp thành một bức tranh đa sắc màu và đều có thể trở thành những điểm đến rất

thích hợp cho ngành Du lịch nếu như có một chiến lược lâu dài về khai thác và phát

triển dịch vụ phục vụ du khách trong khu vực và quốc tế.

 Làng nghề lưỡi câu Mỹ Hòa, Long Xuyên:

Làng nghề lưỡi câu Mỹ Hòa, thành phố Long Xuyên đã có tuổi thọ gần 100

năm với những gia đình 3 đời làm thợ. Làng lưỡi câu Mỹ Hòa hoạt động quanh năm

chứ không chỉ mùa nước nổi, sản xuất cả lưỡi câu cá nước ngọt và lưỡi câu cá đại

55

dương. Toàn phường có hơn 300 hộ hành nghề với gần 1000 lao động, tập trung ở 2

khu: Tây Khánh 2 chuyên sản xuất lưỡi câu đi biển, Tây khánh 3 chuyên sản xuất

lưỡi câu nước ngọt. Sản phẩm của làng nghề có hơn 30 chủng loại, từ cái lưỡi câu

cá rô bá xíu đến các loại câu đúc, câu phược, câu rùa,…lại có những loại câu rất lạ

như: “câu kiều” không có ngạnh, được làm bằng inox để câu cá đuối, “câu phi”

không dập mà uốn tròn, có cả lưỡi câu đặc chủng chỉ dành câu cá mập con,…

Cái lưỡi câu đơn giản vậy nhưng để hoàn thành nó phải trãi qua 12 công đoạn: đầu

tiên là bẻ dây rồi quay, chặt, sau đó cắt mạnh, mài mũi, dập, tôi, xi bóng…Ngày xưa

để làm cái lưỡi câu phải mua dây cáp của tàu biển, xà lan, cần cẩu phế thải về chặt

ra, nay nguyên liệu làm lưỡi câu được các cơ sở ở TP. Hồ Chí Minh làm sẵn, đóng

gói. Hàng làm không chỉ bán cho các tỉnh trong vùng mà còn ngược lên TP. Hồ Chí

Minh, ra các tỉnh miền Trung và xuất sang Campuchia quy tay thương láy.

 Làng nghề mộc Chợ Thủ, Chợ Mới:

Các cụ cao niên ở Chợ Thủ kể rằng: Vào khoảng năm 1982 làn sóng dân di

cư từ các tỉnh phía Bắc vào sinh sống ở các tỉnh Miền Tây Nam Bộ rất nhiều, mới

đầu tập trung ở Gò Công, sau đó từng nhóm đi vào các tỉnh, trong các nhóm đi vào

sinh sống ở Chợ Thủ mang theo nghề thợ mộc và chạm trổ rất tinh xảo. Số gia đình

đến chợ Thủ sinh sống theo từng nhóm. Nhóm có nghề mộc thì truyền lại cho con

cháu mình va dạy cho cả những người có nhu cầu học nghề sống tại địa phương.

Lúc đầu nghề mộc chủ yếu đóng đồ gia dụng phục vụ sinh hoạt gia đình nhưng đều

chạm trổ rất sắc sảo, công phu và tỉ mỉ. Những năm 1960-1970, làng nghề mộc Chợ

Thủ phát triển mạnh nhờ có đội ngủ thương lái khoảng 30 ghe (100 tấn/ghe) từ Tiền

Giang – Mỹ Tho thường gọi là Định Tường lên mua đồ gỗ đi bán khắp các tỉnh

đồng bằng.

Hiện nay, đồ gỗ được người tiêu dùng ưu chuộng, nhất là các mặt hàng cao

cấp phục vụ trang trí nội thất như: tủ, bàn, ghế, sa lon, cửa nhà,…Đáng chú ý là mặt

hàng chạm trổ Long Điền A đã sản sinh ra nhiều nhân tài của làng nghề và nghệ

nhân tiêu biểu. Toàn xã Long Điền A hiện có 2394 hộ có nghề mộc trong tay, trong

đó có 1369 hộ sinh sống bằng nghề mộc, giải quyết việc làm cho gần 700 lao động.

56

 Làng nghề rèn Phú Mỹ:

Trên 80 năm tồn tại, làng nghề rèn Phú Mỹ, huyện Phú Tân được xem là làng

nghề truyền thống nổi tiếng và hoạt động khá hiệu quả hiện nay ở An Giang. Nếu

như trước đây những hộ dân bám nghề thường có cuộc sống khốn khó thì những

năm trở lại đây khi hợp tác xã nghề rèn Phú Mỹ được hình thành đã làm thay đổi

đời sống và thu nhập của người lao động. Bởi lẽ, ngoài việc sản xuất đáp ứng nhu

cầu về dao, búa, lưỡi hái,…trong sinh hoạt, lao động, sản phẩm rèn của Phú Mỹ còn

có mặt tại các hội trợ triễn lãm nông nghiệp trong và ngoài tỉnh.

Làng nghề có khoảng 80 cơ sỡ sản xuất lớn nhỏ, với trên 400 lao động, nằm

trải dọc từ tổ 8 đến tổ 17, trong đó có 25 cơ sở sản xuất và hộ gia đình là thành viên

của hợp tác xã, chiếm 25% số lượng của làng nghề. Hiện làng nghề sản xuất 15 mặt

hàng chính. Các loại dao, búa, lưỡi hái là những mặt hàng truyền thống mang nét

đặc trưng của làng nghề.

Năm 2006, thương hiệu hàng hóa của làng nghề được công nhận. Đây là cơ

sở pháp lý quan trọng để hoạt động của làng nghề ngày càng vững vàng hơn trong

thời kỳ hội nhập.

 Làng nghề đóng ghe xuồng Mỹ Hiệp, Chợ Mới:

Mỹ Hiệp là một trong ba xã cù lao (cùng với Tấn Mỹ, Bình Phước Xuân)

thuộc huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang; phía Đông và Đông Bắc giáp với con sông

Tiền. Nơi đây, có hệ thống sông rạch chằng chịt với hàng ngàn dòng sông, cửa sông

đan xen nhau như mạng nhện tạo điều kiện cho giao thông thủy phát triển. Hằng

năm, mỗi khi lũ kéo về thì việc đi lại, sinh hoạt, giao lưu, buôn bán và lưu thông

hàng hóa của người dân chủ yếu bằng ghe, xuồng. Xuất phát từ nhu cầu trên, làng

nghề đóng ghe, xuồng xã Mỹ Hiệp đã ra đời cách đây khoảng 100 năm. Lúc đầu, do

phương tiện sản xuất thô sơ, lạc hậu, kỹ thuật sản xuất đơn giản nên sản phẩm làm

ra có chất lượng chưa cao. Sau nhiều năm sản xuất chưa đạt hiệu quả, các thế hệ kế

thừa đã đúc kết kinh nghiệm từ thời trước của cha ông, không ngừng học hỏi thêm

kỹ thuật từ nơi khác kết hợp với khả năng sáng tạo của bản thân nên chất lượng ghe

xuồng làm ra ngày càng được cải tiến, mẫu mã của nó cũng ngày càng đa dạng,

phong phú.

57

Làng nghề đóng ghe, xuồng ở xã Mỹ Hiệp tập trung chủ yếu tại ấp Tây

Thượng, từ tổ 5 đến tổ 13, dân số của 9 tổ này là 1.246 người với 180 hộ, số hộ

sống bằng nghề đóng ghe, xuồng là 111 hộ (chiếm 61,6% số hộ của 9 tổ) và giải

quyết việc làm ổn định cho 627 lao động (chiếm 69,6 % số lao động của 9 tổ) trong

khu vực sản xuất ghe, xuồng của ấp Tây Thượng. Trong đó, số lao động trực tiếp

đóng ghe, xuồng trên địa bàn Mỹ Hiệp trên 500 lao động, số lao động dịch vụ và

phục vụ cho ngành đóng ghe, xuồng xấp xỉ 130 người.

Các tài nguyên nhân văn khác:

 Đặc trưng văn hóa người Chăm ở An Giang:

Ở An Giang hiện nay có khoảng 13.000 người Chăm, sống tập trung ở các xã

Khánh Hòa, Vĩnh Trường, Phú Hiệp, Châu Phong, Khánh Bình, Nhơn Hội, Quốc

Thái và Đa Phước thuộc địa bàn 3 huyện: An Phú, Phú Tân và Tân Châu.

Người Chăm ở đây theo đạo Hồi giáo Islam, có những nét sinh hoạt văn hóa

riêng biệt. Họ cư trú trong những ngôi nhà sàn khang trang. Có hai loại nhà sàn:

“nhà sàn tốp” là nhà có 4 kèo tiếp giáp với cột giữa ở trước, “nhà sàn hấp” là loại

nhà có hai kèo tiếp giáp với cột giữa và hai kèo kia gởi phân nửa qua cột giữa, phân

nửa qua kèo. Mái nhà lợp ngói hoặc lá, thường có bốn gian và một nhà bếp riêng.

Hai gian ngoài dùng để tiếp khách nam, hai gian trong dùng để ngủ và tiếp khách

nữ. Giữa hai gian có một vách ngăn, có cửa ra vào và che rèm thêu kết tua rất đẹp.

Trước nhà có hàng ba, có cầu thang, khi lên nhà giày dép của chủ nhà và khách đều

để phía dưới cầu thang. Khi khách đến nhà, chủ nhà trải chiếu mời khách ngồi nói

chuyện, ăn bánh và uống nước trà. Người Chăm không dùng bàn ghế trong nhà.

Ngày xưa, phụ nữ Chăm thường bị cấm cung, không cho tiếp xúc người ngoài.

Ngày nay tập quán này đã được thay đổi dần, phụ nữ Chăm được đi học, mua bán

và giao tiếp với xã hội.

Người Chăm An Giang nổi tiếng với nghề dệt thổ cẩm truyền thống. Con gái

khoảng 11-12 tuổi đã được mẹ và bà truyền nghề cho. Thổ cẩm Chăm hiện nay chủ

yếu dùng nguyên liệu từ sợi công nghiệp, nhưng vẫn giữ được phương pháp nhuộm

58

màu truyền thống từ nước nấu củ, vỏ, lá cây rừng và họa tiết hoa văn độc đáo, mang

bản sắc riêng.

Nét độc đáo của văn hóa người Chăm ở An Giang là lễ hội. Trong đó lễ cưới

và lễ Ramadan là ấn tượng nhất.

 Đặc trưng văn hóa người Khmer ở An Giang:

Người Khmer bắt đầu sinh sống trên địa bàn An Giang cách đây gần ba thế

kỷ, cư trú đông đúc ở một số huyện như Tri Tôn, Tịnh Biên. Người Khmer Nam Bộ

xây dựng phum, sóc của mình quanh các sườn đồi thành từng lớp như hình “vành

khăn” từ chân núi, tiến dần theo hướng ra ruộng đồng và những con mương xunh

quanh. Tại đây, từ trên ba thế kỷ qua, họ đã cùng với người Việt, người Chăm,

người Hoa chung sống hòa thuận bên nhau. Qua quá trình giao lưu và trao đổi văn

hóa tạo nên một sắc thái văn hóa đặc trưng cho vùng An Giang.

Phum, sóc (sróc) là điểm định cư truyền thống của người Khmer. Dưới tán

dừa hay thốt nốt, có từ vài ba đến vài chục nóc nhà quần tụ quanh mái chùa. Phum,

sóc là hình thức xã hội cổ truyền của người Khmer. Trong phum, sóc, chúng ta thấy

vừa có quan hệ huyết thống, vừa có quan hệ láng giềng. Bộ máy tự quản cổ truyền

của các phum, sóc là mê phum, mê sóc (mẹ phum, mẹ sóc). Đó là những thành viên

có tuổi, có kinh nghiệm sản xuất, có uy tín được người dân bầu lên. Tuy hiện nay

mê phum, mê sóc không còn thực hiện quyền quản lý, điều hành xã hội Khmer nữa,

nhưng vẫn còn ảnh hưởng đến tình cảm, huyết tộc của người Khmer.

Người Khmer ở An Giang đa số theo đạo Phật. Phật giáo tiểu thừa được

người Khmer tiếp nhận từ thế kỷ XIII và trở thành tôn giáo độc tôn của họ. Tại các

phum, sóc Khmer, con trai đến gần tuổi trưởng thành đều được cha mẹ gởi vào tu

học tại chùa. Tại đây, họ không chỉ nghe thuyết pháp giáo lý nhà Phật mà còn học

chữ và kiến thức phổ thông. Bởi vậy, chùa đã trở thành trung tâm sinh hoạt văn hóa

truyền thống, tâm linh của người Khmer. Ngay cả đến khi nhắm mắt xuôi tay, người

Khmer cũng gởi nắm tro tàn đã hỏa thiêu vào chùa.

Một trong những sinh hoạt văn hóa tinh thần mang tính cộng đồng tiêu biểu

của người Khmer là múa hát vào các dịp hội hè. Hầu như tất cả mọi người Khmer

59

đều biết múa, biết hát. Các điệu múa truyền thống của đồng bào Khmer ở Tri Tôn,

Tịnh Biên, Châu Thành… như: Dù kê, Lâm vông, Lâm thôn, múa chim công, múa

gáo dừa, múa đám cưới…tuân theo những quy cách nghệ thuật đặc sắc, mang đậm

đà bản sắc dân tộc.

 Đặc trưng văn hóa người Kinh ở An Giang:

Người Kinh bắt đầu đến vùng đất An Giang từ lúc nào, đến nay chưa thấy sử

sách ghi chép rõ ràng. Tuy nhiên theo truyền thuyết dân gian và một số vết tích còn

lại, thì đã có một số nhóm người Kinh gốc miền Trung vào đây từ rất lâu. Mặc dù

cuộc sống ban đầu gặp rất nhiều khó khăn, nguy hiểm nhưng họ vẫn kiên trì tìm đất

sống. Họ ở rải rác dọc theo bờ sông Tiền và sông Hậu.

Người Kinh ở An Giang có tục lệ thờ cúng ông bà tổ tiên và theo nhiều tôn

giáo khác nhau. Người theo đạo Thiên Chúa lánh nạn kỳ thị tôn giáo của vua quan

nhà Nguyễn từ miền ngoài đến khá sớm ở cù lao Giêng (1778), Bò Ót (1779) và

Năng Gù (1845). Những người theo đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, đạo Tứ Ân Hiếu

Nghĩa gồm dân các tỉnh xung quanh (Gia Định, Mỹ Tho, Vĩnh Long…) phần lớn

tập trung khai phá vùng Thất Sơn. Gia tộc Lê Công gốc Thanh Hóa là một trong

những nhóm di dân đến khai phá vùng Châu Đốc (khoảng năm 1785 – 1837), hiện

con cháu đời thứ 7 còn cư ngụ ở đây. Gia tộc thứ 2 cũng có công khai phá vùng

Châu Đốc là dòng Nguyễn Khắc, thuộc con cháu của Nguyễn Văn Thoại.

2.2.2. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch

2.2.2.1. Cơ sở hạ tầng

Hệ thống giao thông:

 Đường bộ:

An Giang có 4.382km đường bộ, trong đó Quốc lộ có 4 tuyến đi qua : Quốc

lộ 91 đi từ Long Xuyên – Châu Đốc – Tịnh Biên tổng chiều dài 93 km, Quốc lộ 91C

chiều dài 35,5 km (chuyển Đường tỉnh 956 lên theo quyết định số 1128/QĐ-

BGTVT ngày 31/5/2011 của Bộ giao thông vận tải), Quốc lộ N1 Châu Đốc – Hà

Tiên dài 23 km và Quốc lộ 80 đi qua xã Phú Nhuận huyện Thoại Sơn dài 1,2 km, 14

tuyến Đường tỉnh tổng chiều dài 394 km và 94 cây cầu có tổng chiều dài 3.499 m,

60

hệ thống giao thông toàn tỉnh 3.871 km, trong đó có đường nhựa 1.778 km, xi măng

326 km, còn lại là đường đất. Những năm qua bằng nhiều nguồn vốn, địa phương

đã xây dựng mới và nâng cấp được 1.177 km đường, trong đó Quốc lộ được 23 km,

đường tỉnh được 56 km, còn lại là đường giao thông nông thôn.

 Đường thủy:

- Các tuyến đường thủy do Trung ương quản lý gồm: tuyến sông Tiền, sông

Hậu và mộ số tuyến khác với tổng chiều dài 372,3 km. Các tuyến trên điều kiện

luồng lạch cho phép tàu trọng tải đến 5.000 tấn hoạt động.

- Các tuyến đường thủy do địa phương quản lý dài khoảng 508,9 km sông,

kênh cho thông thuyền loại 20 - 100 tấn, số còn lại 1561,3 km chủ yếu phục vụ vận

tải nội đồng với loại phương tiện và gia dụng nhỏ.

Hệ thống điện:

Tỉnh An Giang hiện được cấp điện từ nhà máy điện Trà Nóc với công suất sử

dụng 166 MW và lưới truyền tải 229 KV với nguồn điện Phú Mỹ và trạm 500 KV

Phú Lâm, có 02 lưới điện là 220 KV, 110 KV.

Lưới điện cao thế, gồm đường dây 220 KV đoạn đi qua địa bàn tỉnh An

Giang dài 81,5 km, lưới 110 KV với dung lượng là 315 MVA, bao gồm các trạm

như : trạm Long Xuyên, trạm Châu Đốc, trạm Cái Dầu, trạm Phú Tân, trạm Tri Tôn,

trạm An Châu.

Lưới điện trung thế có tổng chiều dài dài 2.799km.

Lưới điện hạ thế có tổng chiều dài 2.397 km.

Hiện nay trên địa bàn tỉnh An Giang hệ thống mạng lưới điện được phủ đầy

trong toàn tỉnh, số hộ có điện 435.585/475.898 đạt tỷ lệ 91,5% ; điện thương phẩm

bình quân/đầu người/năm là 297 kWh ; tổn thất lưới phân phối 7,7% ; phụ tải cao

điểm 133,1 MW.

Hệ thống cấp nước sinh hoạt:

Tỉnh đã đầu tư xây dựng nhà máy cấp nước thành phố Long Xuyên công suất

34.000 m3/ngày, chất lượng nước đạt tiêu chuẩn quốc gia ; các huyện, thị xã và các

thị trấn, khu dân cư đã xây dựng các hệ thống cung cấp nước đáp ứng nhu cầu dùng

61

nước sạch của người dân trong tỉnh.

Tổng số hệ thống cấp nước : 176 hệ thống, tổng công suất 116.000 m3/ngày đêm,

tổng chiều dài mạng lưới đường ống phân phối 1.997 km.

2.2.2.2. Cơ sở VCKT

 Hệ thống cơ sở lưu trú :

Bảng 2.4. Khách sạn trên địa bàn tỉnh An Giang

Số Phân loại sao Số Số khách Địa Bàn Phòng giường 1 2 3 4 sạn

41 TP. Long Xuyên 926 1355 17 5 1

23 TX. Châu Đốc 592 1136 6 5 1

1 Tân Châu 20 24

3 Chợ Mới 71 76 1

1 Châu Thành 17 21

1 Tịnh Biên 8 16

Tổng Số 70 1634 2628

Nguồn : sở kế hoạch và đầu tư tỉnh An Giang

Nhìn chung số lượng khách sạn trên địa bàn tỉnh tương đối ít và phân bố

không đều, tập trung chủ yếu ở thành phố Long Xuyên và thị xã Châu Đốc là hai

nơi có hoạt động kinh tế và du lịch phát triển. Tổng số khách sạn là 70, trong đó lần

lượt là 41 và 23 là ở Long Xuyên và Châu đốc, các huyện còn lại chiếm số lượng rất

thấp và một số huyện chưa có như : Phú Tân, An Phú, Thoại Sơn và Tri Tôn. Lượng

khách sạn hiện có cơ bản đáp ứng được nhu cầu nhưng vẫn còn thiếu ở các điểm du

lịch quan trọng. Theo dự báo, trong những năm tới, lượng du khách đến với An

Giang ngày càng tăng. Do đó, cần đầu tư xây dựng thêm và kiện toàn hệ thống

khách sạn đạt chuẩn nhằm mang lại hiệu quả hơn cho du lịch địa phương.

Một số khách sạn tiêu biểu :

- Khách sạn Đông Xuyên ở TP. Long Xuyên đạt chuẩn 3 sao, có 58 phòng và

109 giường.

62

- Khách sạn Hòa Bình II ở TP. Long Xuyên đạt chuẩn 2 sao, có 39 phòng và

75 giường.

- Khách sạn Victoria Hàng Châu ở TX. Châu Đốc đạt chuẩn 4 sao, có 93

phòng và 167 giường.

 Hệ thống cơ sở ăn uống:

Bảng 2.5. Danh sách nhà hàng và quán ăn tại TX. Châu Đốc

STT Tên Quán ăn Địa chỉ

1 Phở bò Phú Hương 78 Nguyễn Văn Thoại

2 Quán ăn 88 88 Đốc Phủ Thu

3 Quán ăn Bảy Bồng 22 Thượng Đăn Lễ

4 Quán ăn Đồng Quê Trưng Nữ Vương nối dài, Tổ 11, Châu Thới 2

5 Quán ăn Hồng Phát 77 Chi Lăng, Phường A.

6 Quán ăn Trương Vân 15 Quang Trung, Phường A

7 Quán ăn Lưu Luyến Trưng Nữ Vương nối dài

8 Hàng Châu Quán Trưng Nữ Vương, Phường B.

9 Hoa Viên Phương Nam Trưng Nữ Vương, Phương B.

10 Lâm Hưng Ký 71 Chi Lăng, Phường Châu Phú A.

11 Nhà hàng Bến Đá Núi Sam Quốc lộ 91, Phường Núi Sam.

12 Nhà hàng khách sạn Núi Sam Ap Vĩnh Đông I, Vĩnh Tế.

13 Nhà hàng Long Châu Khóm 8, Phường Châu Phú A.

14 Nhà hàng Hoàng Anh Tổ 12, Phường B.

Hệ thống cơ sở ăn uống phát triển mạnh và luôn gắn liền với những địa bàn

có hoạt động du lịch phát triển như Châu Đốc và Long Xuyên. Hiện nay, nhìn

chung các cở sở ăn uống ở An Giang chưa đa dạng, cần được chú trọng phát triển

và phân bố hợp lý hơn nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch của địa phương.

 Khu vui chơi giải trí:

Hoạt động vui chơi giải trí ở An Giang còn khá khiêm tốn chưa đáp ứng

được nhu cầu vui chơi của người dân ở trong vùng và cả khách tham quan, chủ yếu

63

tập trung ở các khu du lịch và thành phố Long Xuyên như : Công viên Mỹ Thới ở

Long Xuyên, khu vui chơi giải trí lâm viên núi Cấm,... gần đây mới hình thành khu

vui chơi Vạn Hương Mai ở Châu Phú.

Khu Du Lịch Vạn Hương Mai nằm trên tuyến Quốc lộ 91, thuộc địa phận xã

Mỹ Đức (Châu Phú) và chỉ cách trung tâm thị xã Châu Đốc 4km về hướng đông

nam.

Khu du lịch Vạn Hương Mai là một dự án phục vụ dịch vụ - du lịch - sinh

thái tại xã Mỹ Đức, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Sau gần 2 năm triển khai thi

công, đến nay dự án đã hoàn thành giai đoạn 1, có quy mô trên 65.000 m2. Các

hạng mục phục vụ chủ yếu bao gồm: Nhà hàng, khách sạn, karaoke, massage, hồ

bơi, công viên nước. Ngoài ra, còn có khu dịch vụ mua sắm và các mô hình mới lạ

như: An Giang thu nhỏ, thạch động ma trận, chèo thuyền, câu cá, v.v…hiện đang

được hoàn thiện để trở thành một trong những khu du lịch hấp dẫn của tỉnh.

 Các cơ sở dịch vụ bổ sung khác:

Bảng 2.6. Danh sách siêu thị và trung tâm thương mại trên địa bàn tỉnh An Giang

STT Tên

1 Trung Tâm Thương Mại Long Xuyên

2 Trung tâm Metro Cash & Carry Long Xuyên (Siêu thị bán buôn)

3 Siêu thị AA

4 Siêu thị Vinatex Long Xuyên

5 Siêu thị Điện máy - Nội thất Chợ Lớn Địa chỉ Số 12 Nguyễn Huệ A, P. Mỹ Long, Thành Phố Long Xuyên, Tỉnh An Giang Số 414 Trần Hưng Đạo, P. Mỹ Phước, Thành Phố Long Xuyên, Tỉnh An Giang Số 34-36 Hai Bà Trưng, P. Mỹ Long, Thành Phố Long Xuyên, Tỉnh An Giang Số 25/4 Trần Hưng Đạo, P.Mỹ Bình, Thành Phố Long Xuyên, Tỉnh An Giang Số 151/1 Trần Hưng Đạo, P. Mỹ Phước, Thành Phố Long Xuyên, Tỉnh An Giang

6 Siêu thị Tứ Sơn Số 942 Quốc lộ 91, Phường B, Thị Xã Châu Đốc, Tỉnh An Giang

Nguồn: phòng quản lý thương mại – dịch vụ TP.Long Xuyên

64

2.2.3. Các nhân tố kinh tế - xã hội và chính trị

2.2.3.1. Nguồn nhân lực du lịch

Theo báo cáo của Cục Thống kê An Giang, dân số trong độ tuổi lao động, thực

tế có tham gia vào lao động của tòan tỉnh năm 2010 là 1.207.207 người, trong đó lao

động trong khu vực nông - lâm - thủy sản là 784.685 người, chiếm 65%; khu vực

công nghiệp - xây dựng là 120.721 người, chiếm 10%; khu vực dịch vụ là 301.802

người chiếm 25%.

Bảng 2.7. Số lao động trong lĩnh vực dịch vụ của tỉnh An Giang

Giai đọan 2005-2010

Đơn vị tính: người

Chỉ tiêu 2005 2010 Tăng/giảm (2010-2005) Tỷ trọng (%)

Tổng số Tỷ trọng (%) 241.283 100 301.802 100 60.519

Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa 80.556 33,39 95.203 31,5 14.646

Dịch vụ lưu trú và ăn uống 52.433 21,73 63.087 20,9 10.654

Vận tải kho bãi 37.047 15,35 45.501 15,1 8.454

Giáo dục, đào tạo 22.730 9,42 25.883 8,6 3.153

Hoạt động của Đảng, đoàn thể, 10.762 4,46 12.254 4,1 1.492 tổ chức

Thông tin và truyền thông 1.427 0,59 2.112 0,7 685

Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm 2.103 0,87 5.766 1,9 3.663

Kinh doanh bất động sản 1.332 0,55 1.883 0,6 551

Khoa học và công nghệ 1.479 0,61 2.626 0,9 1.147

Y tế 7.019 2,91 7.989 2,6 970

Nghệ thuật vui chơi và giải trí 3.704 1,54 8.374 2,8 4.670

Dịch vụ hành chính, hỗ trợ 1.969 0,82 3.172 1,1 1.203

Dịch vụ làm thuê hộ gia đình 2.799 1,16 5.303 1,8 2.504

Dịch vụ khác 15.923 6,60 22.649 7,5 6.725

Xử lý số liệu từ nguồn: Sở văn hóa thể thao du lịch An Giang

65

Tổng số cán bộ công chức viên chức ngành văn hóa, thể thao và du lịch

(VHTTDL) từ tỉnh đến huyện là 745 người (quản lý nhà nước 155 người; sự nghiệp

590 người) trong đó có 02 tiến sĩ (chiếm 0,26%), 09 thạc sỹ (1,2%), 224 Đại học

(30%), 20 cao đẳng (2,6%), trung cấp 101 (13,6%), sơ cấp và trình độ phổ thông

chủ yếu là viên chức năng khiếu nghệ thuật và hướng dẫn viên TDTT, … 389

(52,2%).

Bảng 2.8. Số người lao động trong ngành du lịch ở An Giang

giai đoạn 2006-2010

Đơn vị: người

2006 2010

Lao động ngành du lịch Đại học và trên đại học Cao đẳng, trung cấp Đào tạo khác Chưa qua đào tạo Tổng cộng 120 140 182 658 1100 Tỷ trọng (%) 10,9 12,7 16,6 59,8 100 300 350 500 350 1500 Tỷ trọng (%) 20 23,3 33,4 23,3 100

Xử lý số liệu từ nguồn: Sở văn hóa thể thao du lịch An Giang

Trình độ ngoại ngữ tập trung chủ yếu là Anh văn, gồm: 20 đại học (2,6%),

chứng chỉ A trở lên 167 (22,4%), chưa có bằng cấp, chứng chỉ 558 (74,8%)

Số cán bộ công chức biết sử dụng máy tính trong công việc là 461/745 đạt

61,8%, còn lại 38,2% chưa biết sử dụng máy tính hoặc không có điều kiện sử dụng

máy tính (chủ yếu là cán bộ công chức lớn tuổi và những đơn vị chưa có điều kiện

trang bị đầy đủ máy tính).

Cán bộ VHTTDL - Đài truyền thanh, cán bộ gia đình - trẻ em cấp xã hiện có

516 người trong đó được đào tạo (quản lý VHTDTT, báo chí, hành chính…) 186

trung cấp chiếm 36%, 20 đại học 3,9%, 310 lao động năng khiếu, phổ thông chiếm

60%. [ 7 ]

2.2.3.2. Chính sách phát triển du lịch

An Giang có thế mạnh về phát triển du lịch, hàng năm có khỏang trên 4 triệu

khách du lịch và hành hương đến với các khu/điểm du lịch trên địa bàn tỉnh.

Trong những năm qua, An Giang tập trung phát triển nhanh công nghiệp, mở

66

rộng dịch vụ - du lịch, kinh tế biên giới, ưu tiên cho xuất khẩu...Trong đó, khu vực

dịch vụ - du lịch được xác định là hướng chủ yếu để chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh

tế. An Giang đã và đang có nhiều nổ lực phát triển du lịch nhằm xây dựng An

Giang trở thành một trong những điểm đến hấp dẫn của du khách trong và ngoài

nước.

Ngành du lịch đang được đẩy mạnh xã hội hóa để thu hút vốn đầu tư, kỹ

thuật, tri thức và lao động trong và ngoài nước, đồng thời phải nâng cao chất lượng

sản phẩm du lịch. Địa phương khuyến khích duy trì và phát triển các làng nghề

truyền thống, sản phẩm thủ công mỹ nghệ, nâng cao chất lượng các lễ hội văn hóa

truyền thống của địa phương vốn hấp dẫn khách du lịch,… Doanh thu từ ngành du

lịch, một phần sẽ được tái đầu tư cho công tác tu bổ, tôn tạo các khu du lịch, danh

lam thắng cảnh, các khu di tích văn hóa lịch sử trên địa bàn tỉnh.

Trong năm 2010, ngành đã tiến hành các công việc trọng tâm như: Tham gia

sự kiện du lịch trong khuôn khổ Năm du lịch quốc gia (Hà Nội); gia cố và thay đổi

hình ảnh du lịch của các biển quảng cáo (Tịnh Biên, Vàm Cống, Chợ Mới); tổ chức

đoàn doanh nghiệp và cơ quan báo chí về khảo sát các điểm tham quan du lịch tại

Cù Lao Giêng - Chợ Mới( mô hình du lịch mới); tham gia Hội chợ Du lịch Quốc tế

(TP. HCM); tham gia Hội chợ Du lịch Quốc tế (Campuchia); tiếp tục thực hiện

Chương trình hợp tác với Tp.HCM, Cần Thơ, tỉnh Kiên Giang, Đồng Tháp, Cà Mau

và Hiệp hội Du lịch; thực hiện Chuyên đề Phát triển du lịch trên sóng truyền hình

An Giang, chủ yếu cung cấp thông tin hoạt động du lịch để mời gọi đầu tư; quảng

bá hình ảnh du lịch An Giang, ấn phẩm du lịch, ẩm thực, các hoạt động của doanh

nghiệp du lịch trên các phương tiện thông tin đại chúng, thông qua các buổi hội

thảo, hội chợ, lễ hội..., chú trọng đến các sản phẩm du lịch mới như: du lịch cộng

đồng và du lịch mùa nước nổi; hoàn thành kế hoạch tổ chức hội chợ triển lãm và

liên hoan ẩm thực phục vụ Ngày hội Văn hóa, Thể thao và Du lịch vùng đồng bào

Khmer Nam Bộ lần thứ V tỉnh An Giang năm 2011.

67

2.2.4. Đánh giá chung về tiềm năng phát triển du lịch mùa nước nổi ở

An Giang

2.2.4.1. Thuận lợi

Khi đến với An Giang du khách không chỉ biết đến những dang lam thắng

cảnh đẹp cùng với dãy thất sơn màu nhiệm và đầy huyền bí với những ngôi chùa,

đình, miếu,...đẹp và linh thiêng. Bên cạnh đó, một loại hình du lịch mới chứa đựng

một tiềm năng rất lớn đang cố gắn vươn lên và hòa mình vào dòng du lịch của An

Giang - DLMNN đã và đang thể hiện vị thế của mình trong khu vực với những

thuận lợi vốn có để phát triển.

Thiên nhiên ưu đãi cho con vùng đất và con người nơi đây. An Giang hội đủ

điều kiện về tài nguyên thiên nhiên phong phú cho hoạt động du lịch mà đặc biệt là

DLMNN – một loại hình du lịch mới và hết sức thú vị. Sự có mặt của hai dòng sông

lớn sông Tiền và sông Hậu cùng nhau chảy song song trên lãnh thổ tạo nên cảnh

quan thiên nhiên hết sức độc đáo với bao quanh là những cánh đồng lúa cò bay

thẳng cánh, những cánh đồng thốt nốt xanh thẳm một màu. Và độc đáo hơn khi mùa

lũ về, những cánh đồng lúa ấy được thay thế bằng những cánh đồng nước mênh

mông, đầy vẫy cá tôm. Mùa nước nổi, một đặc trưng của vùng sông nước của miền

Tây Nam Bộ. Cứ theo chu kỳ mỗi năm vào khoảng tháng 7 âm lịch thì nước tè

thượng nguồn sông Mê Kông sẽ dâng ngập cánh đồng từ bên kia biên giới

Campuchia rồi tràn sang Việt Nam. An Giang mùa nước nổi gần như không thấy

đất, chỉ thấy bốn bề là nước, những chùm bông điên điển be bé vàng rực, những

chùm hoa súng, hoa sen hồng thắm lững lờ trên mặt nước, rải rác khắp nơi nông dân

trèo thuyền như trẩy hội. Chỗ thì cất vó, chỗ thì đặt lờ, đặt lọp, chỗ thì giăng câu thả

lưới,...tạo nên một bức tranh quê hương mùa nước nổi hết sức sinh động.

Chính điều đó đã tạo nên một sức hấp dẫn lớn đối với du khách trong và

ngoài nước, với những địa điểm lý tưởng khi mùa nước về đó là : Rừng tràm Trà Sư

(huyện Tịnh Biên), Búng Bình Thiên (huyện An Phú), Đồng Láng Linh (huyện

Châu Thành). Lúc này, ngập trong rừng tràm du khách có thể len lỏi với chiếc

xuồng ba lá thưởng thức hệ sinh thái ngập nước phong phú, đặc sắc, đặc biệt là nơi

68

trú ngụ của những đàn chim lớn, đàn dơi lớn. Thưởng thức những món ăn dân dã,

đậm đà như : Cá lóc nương trui, cá linh nhúng giấm, cua đồng chắm mắm me, gà

nướng muối ớt, lẫu mắm,...bên canh đó, du khách còn thưởng thức được vẻ đẹp

hoang sơ cuả Búng Bình Thiên có làng Chăm bao quanh, với những hoạt động văn

hóa mùa nước nổi đặc sắc và thú vị, du khách có thể cùng ngư dân đi câu cá, chày

cá, hái bông điên điển,...ở cánh đồng Láng Linh đầy nước, hiểu rỏ hơn đời sống của

người dân, hòa mình với thiên nhiên và thưởng thức những vẽ đẹp của thiên nhiên

nơi đây.

Bên cạnh nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên phong phú, An Giang là một

vùng đất huyền bí với biết bao câu chuyện tâm linh của dãy Thất Sơn, khu di tích

văn hóa Óc Eo, Miếu Bà Chúa Sứ,....là nguồn tài nguyên nhân văn quý giá, đóng

góp rất lớn cho sự phát triển du lịch của tỉnh nhà.

Ngoài ra, được sự quan tâm và hổ trợ của chính quyền địa phương, các công

ty du lịch trong tỉnh và ngoài tỉnh nhằm đẩy mạnh phát triển du lịch từng bước trở

thành ngành kinh tế trọng điểm của tỉnh. Du lịch mùa nước nổi đã được khai thác và

mở rộng qui mô ở một số địa điểm như rừng tràm Trà Sư, Búng Bình Thiên, đồng

Láng Linh,...mang lại hiệu quả kinh tế khá cao. Các tour, tuyến du lịch mùa nước

nổi ngày được nối kết và mở rộng với các tỉnh lân cận như Đồng Tháp, Cần Thơ,

Kiên Giang, thành phố Hồ Chí Minh, với vương quốc Campuchia, Thái Lan. An

Giang mang trong mình một tiềm năng rất lớn để phát triển du lịch nói chung và

loại hình du lịch mùa nước nổi nói riêng.

2.2.4.2. Khó khăn

DLMNN là một loại hình du lịch mới phát triển trong những năm gần đây và

còn khá mới mẻ với nhiều người. Khách tham quam tìm đến An Giang du lịch trước

đây chủ yếu là các lễ hội, chùa, miếu với tính chất tâm linh là chủ yếu. Chính vì

vậy, việc phát triển loại hình du lịch mới này còn gặp khá nhiều khó khăn. Điều đó

được thể hiện qua các mặt sau đây :

Công tác quảng bá và đầu tư cho quảng bá về loại hình DLMNN còn quá ít

và không thật sự hấp dẫn đối với du khách.

69

Việc quản lý đối với các điểm hoạt động du lịch mùa nước nổi còn rất hạn

chế. Các sản phẩm DLMNN là một nét rất riêng của An Giang và vùng ĐBSCL. Do

vậy, cần có biện pháp bảo vệ các hệ sinh thái ngập nước trong vùng...để đảm bảo

duy trì được giá trị tự nhiên vốn có và đó cũng chính là yếu tố tiền đề cho phát triển

loại hình du lịch này.

Môi trường nước trong mùa nước nổi thường bị ô nhiễm, đặc biệt là khi nước

tràn đồng mang theo lượng rác thải từ thượng nguồn, các rác thải từ những cánh

đồng lúa như bao bì, chay, vỏ thuốc trừ sâu đã qua sử dụng và kể cả rác thải sinh

hoạt của người dân sống ven vùng, ...ảnh hưởng khá lớn đến hoạt động du lịch này.

Ý thức không tốt về bảo vệ môi trường và gìn giữ những nét đẹp tự nhiên

hoang sơ của các hệ sinh thái ngập nước của một bộ phận khách du lịch và những

người sống trong vùng có hoạt động DLMNN đã làm ảnh hưởng nhất định đến môi

trường du lịch ở An Giang nói riêng và vùng ĐBSCL nói chung.

2.3. Thực trạng phát triển DLMNN ở An Giang giai đoạn 2005-2010

2.3.1. Khái quát chung về du lịch An Giang

Bảng 2.9. Thực trạng du khách và doanh thu du lịch tỉnh An Giang,

giai đọan 2006 - 2010

2006 2007 2008 2009 2010

Tổng số du khách (Lượt người) 249.949 326.306 354.546 367.707 364.454

Khách Quốc tế 37.615 48.842 52.784 45.578 47.555

Khách Nội địa 212.334 277.464 301.762 322.129 316.899

Doanh thu (Tỷ đồng) 93 118 150 172 186

Nguồn: Sở văn hóa thể thao du lịch tỉnh An Giang

Với đầy đủ các điều kiện về tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn thuận

lợi cho phát triển du lịch, An Giang đang nỗ lực phấn đấu để trở thành điểm đến hấp

dẫn của du khách trong và ngoài nước. Trong giai đọan 2006-2010, lượng du khách

đến An Giang tăng đáng kể, doanh thu du lịch cũng tăng từ 93 tỷ đồng (năm 2006)

lên 186 tỷ đồng (năm 2010).

70

Số lượng khách quốc tế và khách nội địa ngày một tăng trong đó khách nội

địa chiếm số lượng khá lớn, đây là một bước tiến quan trọng cho ngành du lịch An

Giang trong những thời gian tới.

Biểu đồ 2.3. Số lượng khách quốc tế và khách nội địa ở An Giang,

giai đoạn 2006 - 2010

Lượt người

350000

322129

316899

301762

300000

277646

250000

212334

200000

150000

100000

52784

48842

47555

45578

37615

50000

0

2006

2007

2008

2009

2010

Năm

Khách Quốc tế

Khách Nội địa

Nguồn: Sở văn hóa thể thao du lịch tỉnh An Giang

Ngành du lịch tập trung phát huy tiềm năng sẵn có của mình như: khu du lịch

núi Cấm, rừng tràm Trà Sư, đồi Túp Dụp, chùa Hang, khu lưu niệm chủ tịch Tôn

Đức Thắng,...qua đó phát triển mạnh mẽ nhiều mô hình du lịch văn hóa tâm linh,

sinh thái, du lịch mùa nước nổi, du lịch cộng đồng, du lịch nông nghiệp có sự hợp

tác của người dân địa phương,...đặc biệt loại hình du lịch tâm linh (cúng bái chùa

chiền, leo núi) chiếm một tỷ trọng khá lớn.

Bên cạnh phát huy tiềm năng du lịch nội địa, du lịch tỉnh nhà còn chủ động

liên kết với tỉnh bạn như: thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Kiên Giang, Đồng

Tháp và các tỉnh giáp ranh Takeo, Kandal, Shihanouk ville, thủ đô Phnom Phenh

(Campuchia) để nối các tour, tuyến du lịch, tổ chức các tour xuôi dòng Mekong

thông qua hai cửa khẩu quốc tế Tinh Biên (huyện Tịnh Biên) và Vĩnh Xương

(huyện Tân Chân) của An Giang bằng nhiều tour đường bộ và đường thủy.

71

Biểu đồ 2.4. Doanh thu từ các doanh nghiệp du lịch ở An Giang

186

172

150

118

93

giai đoạn 2006 - 2010

g n ồ đ ỷ T

200 180 160 140 120 100 80 60 40 20 0

2006

2007

2008

2009

2010 Năm

Nguồn: Sở văn hóa thể thao du lịch tỉnh An Giang

Một số tuyến du lịch chủ yếu đang khai thác trên địa bàn tỉnh An Giang:

- Thành phố Hồ Chí Minh - Cần Thơ - Long Xuyên - Châu Đốc - Phnom

Penh - Siem Riep - Thái Lan.

- Cần Thơ - An Giang - Kiên Giang - Cà Mau - Đồng Tháp; Long Xuyên -

Châu Đốc - Tịnh Biên - Tri Tôn - Thoại Sơn - Long Xuyên - Chợ Mới...

Các tuyến/điểm này đã làm phong phú thêm các sản phẩm du lịch và tăng

khả năng lựa chọn cho du khách khi đến với An Giang.

Để nâng cao chất lượng phục vụ du khách, ngành du lịch An Giang đã tổ

chức các lớp tập huấn về lễ tân cho các doanh nghiệp kinh doanh du lịch, tăng

cường quảng bá hình ảnh du lịch tại khu dân cư, các cửa khẩu, hợp đồng liên kết

với các tỉnh về sản xuất các sản phẩm đặc thù của từng địa phương để không trùng

lắp. Riêng tỉnh An Giang sẽ phát triển mạnh cơ sở làng nghề mắm thái, đường thốt

lốt, sản phẩm cá tra phồng, khô bò, dệt thổ cẩm của đồng bào Chăm, Khơ Me... và

ẩm thực miền sông nước,.... nhằm nâng cao chất lượng phục vụ trong cộng đồng và

đa dạng hóa các sản phẩm du lịch phục vụ khách tham quan, tăng sức thu hút du

khách, đồng thời giữ gìn nét đặc trưng bản sắc văn hóa dân tộc, về làng nghề truyền

thống và văn hóa ẩm thực ở địa phương

72

Tuy nhiên, cở sở vật chất – kĩ thuật cho ngành du lịch còn nhiều hạn chế, số

phòng đạt tiêu chuẩn cấp cao còn ít, giao thông chưa phát triển đồng bộ, sản phẩm

du lịch chưa đa dạng chưa thu hút được du khách lưu trú trong thời gian dài. Các

khu vui chơi giải trí còn quá đơn điệu, ý thức bảo vệ các công trình kiến trúc, văn

hóa còn kém của người dân địa phương.

Bản đồ 2.3. Hệ thống tuyến, điểm du lịch tỉnh An Giang

Nguồn: Sở văn hóa thể thao và du lịch An Giang

73

2.3.2. Thực trạng phát triển du lịch mùa nước nổi ở An Giang

2.3.2.1. Thực trạng du khách

 Tổng số

Theo thông tin của Ban quản lý rừng tràm Trà Sư, nguồn khách đến tham

quan chủ yếu là khách trong nước. Từ năm 2008 du khách nước ngoài tăng đáng kể.

Bảng 2.10. Số lượng khách du lịch đến rừng tràm Trà Sư (2007 – 2009)

Đơn vị: lượt người

Năm 2007 2008 2009

5.135 8.357 11.363 Trong nước Số khách 129 231 311 Ngoài nước

Nguồn Ban quản lý rừng tràm Trà Sư

Theo thống kê từ tháng 1/2010 – tháng 3/2010, lượng khách đến tham quan

trên địa bàn Tịnh Biên ngày càng tăng (gần 1,4 triệu lượt người) với doanh thu 365

tỷ đồng. Trong đó, lượng khách vào chợ Tịnh Biên tham quan mua sắm gần

315.000 lượt, khu du lịch núi Cấm 324.749 lượt, Rừng tràm Trà Sư 2.706 lượt,…

Du khách còn tham quan mua sắm tại Khu thương mại Tịnh Biên khoảng 735.286

lượt, tập trung vào những ngày cuối tuần khoảng 6.500 người/ngày.

Số lượng du khách tham quan tại điểm du lịch Đồng Láng Linh thường hoạt

động theo tour của các doanh nghiệp du lịch như: Công ty cổ phần dịch vụ du lịch

An Giang, công ty khám phá Mê Kông, …mỗi tour khoảng vài chục người số lượng

tùy theo đoàn lớn hay nhỏ. Hiện An Giang đang đang tổ chức hợp tác với trên 20

công ty lữ hành du lịch trong và ngoài nước để tổ chức đưa đón khách du lịch về

vùng nước nổi Châu Đốc, Bảy Núi và vùng thượng nguồn sông Cửu Long.

 Diễn biến

Con nước từ Biển Hồ đổ vể mang theo những nguồn lợi thủy sản phong phú,

tạo nên sự đa dạng về các loại động thực vật ở khu vực hạ lưu sông Mê Kông. Xác

định được tiềm năng và lợi thế hiện có của mùa nước nổi, các công ty du lịch cùng

với chính quyền địa phương đã tiến hành nghiên cứu và khai thác sự đặc sắc của

mùa nước nổi và mang lại khá nhiều thành công.

74

Khách du lịch biết đến An Giang ngoài vẻ đẹp huyền bí của dãy Thất Sơn,

các lễ hội lớn, chùa miếu,... là vẻ đẹp hoang sơ của rừng tràm Trà Sư, Búng Bình

Thiên, những cánh đồng nước mênh mông và cuộc sống giản dị của người dân ở

khu vực Láng Linh. Vào khoảng từ tháng 7 đến tháng 11 âm lịch, con nước đã bắt

đầu đổ về tràn ngập đồng ruồng, sản xuất nông nghiệp bị gián đoạn thay vào đó là

việc kiếm ăn từ mùa nước nổi. Cũng chính lúc này hoạt động du lịch chính thức bắt

đầu, số lượng du khách tham quan ngày một tăng trong đó du khách nước ngoài

chiếm tỷ lệ khoảng 20%. Họ thường đi theo tour, theo đoàn đối với khách nước

ngoài và khách ở vùng khác, tự tổ chức tour cho mình đối với khách địa phương

hoặc vùng lân cận. Tour của khách thường gắn liền với các lễ hội lớn như: Miếu bà

Chúa Xứ, cúng đình chùa, leo núi, lễ hội đua bò và những lễ hội văn hóa của các

đồng bào dân tộc Chăm, Khmer. Sự gắn kết các điểm du lịch tạo nên sự hấp dẫn đối

với du khách. Đối với khách nước ngoài tham quan nghiên cứu các hệ sinh thái

ngập nước, các loại chim, cò, dơi,cá,...tìm hiểu đời sống sinh hoạt của người dân ở

trong vùng nước nổi, tìm hiểu nét văn hóa của dân tộc Chăm ở Búng Bình Thiên,

cùng trải nghiệm loại hình du lịch Homestay ở rừng tràm và Búng Bình Thiên cũng

rất thú vị đối với họ. Ngoài ra thưởng thức những món ăn dân dã sẽ làm cho chuyến

du lịch càng khó quên hơn.

 Tính thời vụ

Mùa nước nổi cũng là lúc mùa mưa ở ĐBSCL bắt đầu, con nước từ từ dâng

lên làm ngập cả một diện tích lớn những cánh đồng lúa mênh mông, diện tích Búng

Bình Thiên được mở rộng do sự cung cấp nước từ sông Hậu và sông Bình Di, và

cuộc sống của đồng bào Chăm nơi đây cũng bắt đầu. Vào lúc này, rừng tràm Trà Sư

cũng ngập trong biển nước, xuống ghe có thể len lỏi vào tận sâu bên trong để khám

phá cuộc sống của động thực vật nơi đây. Cuộc sống của những ngư dân trong vùng

cũng từ đó bắt đầu.

Do tính chất của mùa nước nổi nên hoạt động DLMNN cũng phải tuân theo

quy luật ấy, cứ đợi con nước từ thượng nguồn đổ về mang theo một khối lượng thủy

sản lớn, vì DLMNN gắn liền với sự đa dạng sinh học của vùng ngập nước như:

75

giăng câu, chày lưới, đặt dớn, hái bông điên điển,...nước về thì du lịch mùa nước

mới bắt đầu hoạt động. Thông thường vào khoảng tháng 7 âm lịch mùa du lịch gắn

liền với mùa làm ăn của cư dân sống trong vùng nước nổi.

2.3.2.2. Thực trạng doanh thu

DLMNN còn khá mới mẻ, mới được đưa vào khai thác ở An Giang trong

một số năm gần đây nên chưa có số liệu thống kê riêng về doanh thu của loại hình

du lịch này. Bên cạnh đó, ở các điểm DLMNN chưa có vé bán cho mỗi lượt khách,

chỉ hoạt động theo tour, hoặc du khách tự tổ chức và chi tiêu ở các điểm dịch vụ du

lịch trong các điểm.

2.3.2.3. Các sản phẩm du lịch mùa nước nổi chủ yếu

 Đua Xuồng ở Đồng Láng Linh:

Ngồi trên chiếc xuồng ba lá bé nhỏ ngao du trên những cánh đồng mênh

mông nước ở khu vực Láng Linh mùa nước nổi, thật thú vị làm sao điều đó sẽ càng

thú vị hơn khi tham gia vào một trò chơi “ đua xuồng” ở nơi đây. Tùy teho từng

đoàn khách tham quan có số lượng nhiều hay ít mà chia ra làm nhiều xuồng để đua,

cuộc chơi bắt đầu trên một đoạn đua ở cánh đồng nước, thông thường gồm có 4

thành viên, 2 người ở đầu và mũi và 2 người ở giữa, nhiệm vụ cao nhất thuộc về

người đầu và cuối vì họ là người dìu dắt chiếc xuồng đi đúng hướng để tránh đụng

vào thuyền đối phương. Thật khó cho đội nào, mà không có thành viên nào biết bơi

xuồng, chiếc xuồng sẽ chạy vòng vòng, đôi khi sẽ có người ngã xuống nước trước

những reo hò và cười vui của mọi người, làm cho bầu không khí trở nên sôi nổi vô

cùng.

 Tham quan bằng Tắc Ráng (một loại xuồng sản xuất tại Tắc Ráng - Rạch

Giá) ở rừng tràm Trà Sư:

Khi lạc vào thế giới của rừng tràm Trà Sư quý khách sẽ được ngồi trên chiếc

tắc ráng khá rộng để ngao du cảnh thiên nhiên hoang dả ở nơi đây. Len lỏi vào

những con rạch, ao sen, xung quanh là những cây tràm tươi tốt, quý khách sẽ được

ngắm nhìn từng đàn chim, đàn dơi, nào là cò, lele, còng cọc,...các tổ chim non treo

lơ lững trên cành cây tràm, chúng đang réo rít kêu gọi nhau vang cả một vùng.

76

 Tham quan bằng thuyền ở Búng Bình Thiên:

Ngồi trên chiếc thuyền bồng bềnh trên mặt nước, ngắm nhìn phong cảnh hữu tình

cùng với cô gái chăm xinh đẹp với bộ trang phục truyền thống, du khách sẽ cảm

nhận được những giá trị của chuyến du lịch mùa nước nổi đặc sắc và ấn tượng.

 Homestay:

Một loại hình khá hấp dẫn trong mùa nước nổi mà du khách không thể bỏ

qua đó là hình thức “ Homestay”. Đây là hình thức ở trong nhà dân cùng sinh hoạt

với những thành viên trong gia đình.

Trong phạm vi của khu du lịch rừng tràm Trà Sư, qua khỏi cầu Bưng Tiền là

cái ngã ba, một hướng tẻ ra đường đi thị trấn Nhà Bàn, Tịnh Biên, một hướng tẻ vào

khu du lịch homestay của xã Văn Giáo. Nơi đây còn được gọi là xóm homestay,

thuộc ấp Văn Trà, xã Văn Giáo có khoảng mười hộ có giấy phép cho khách ở đậu

trong nhà. Mùa nước nổi kéo dài 4 tháng là 4 tháng kiếm sống từ dịch vụ. Được ở

chung với những người dân nơi đây du khách sẽ cảm nhận được những cảnh sinh

hoạt đặc biệt của người dân mùa nước nổi, cuộc sống bình dị hàng ngày của họ khá

vất vả khi phải thức khuya dậy sớm để bắt và bán cá. Dân nơi đây chủ yếu làm thuê,

kiếm ăn từ mùa nước nổi. Ngoài hương vị sông nước ruộng đồng, còn hương vị bửa

ăn, đêm đến lại được thưởng thức những câu vọng cổ đầy chất nam bộ, hiền hậu

đảm đang.

 Săn chuột đồng:

Thú vị nhất trong chuyến hành trình của du khách trong mùa nước nổi có thể

kể đến ngay đến việc bắt chuột đồng. Hành trình đi săn chuột là cả một quá trình

hấp dân đối với từng du khách, cùng người dân địa phương săn chuột du khách sẽ

được hướng dẫn và học được nhưng tuyệt chiêu để nhận biết hang nào có chuột hay

không. Hồi hộp nhất là khi du khách tự tay mình bắt chuột và những pha rượt bắt

chuột trên bờ đê, với những cú ngã ê cả người nhưng lại rất thú vị, tiếng cười lẫn

tiếng la hét pha lẫn vào nhau khi bắt được chuột. Dù không bắt được chuột nhưng

người bạn đồng hành là dân địa phương vẫn dành cho du khách một rộng chuột tươi

sống cho bửa ăn sau đó.

77

 Đánh bắt cá:

Đến hẹn lại lên theo chu kỳ hàng năm khi mùa nước nổi tràn về cũng chính

là dịp để người dân An Giang cũng như ĐBSCl lên kế hoạch cho một vụ bội thu về

nguồn thủy sản.

Ngồi trên chiếc xuồng ba lá lênh đênh giữa cánh đồng trắng xóa nước, mênh

mông cùng ngư dân thưởng thức được khung cảnh thiên nhiên tuyệt vời du khách

như được trở về với thời xa xưa, lúc còn nhỏ cùng cha mẹ mưu sinh trên những

chiếc xuồng ghe đánh bắt cá đối với những ai đã từng sinh sống ở vùng ĐBSCL,

còn đối với những vị khách phương xa thì đây có thể là một trãi nghiệm mới.

Không chỉ được xem trên truyền hình hay qua báo chí, internet,...giờ đây du khách

sẽ cùng ngư dân tự tay mình đánh bắt cá.

Khi nước lớn, cá linh cùng vô số cá đồng theo con nước từ biển Hồ tràn về

các nhánh kênh, gạch ở miền tây, đây là dịp để chúng thỏa sức vẫy vùng. Từng đàn

cá lũ lượt kéo về đây sinh sôi nảy nở như một ngày hội lớn. Và đây chũng chính là

dịp để du khách có thể thư thái buông những cây cần câu bé nhỏ, nhàn tản chờ đợi

lũ cá đặc biệt là cá rô non chúng trú trong các hốc cây, tìm mồi. Ngồi trên bờ kênh

thả cần câu xuống là có thể tóm lấy chúng một cách dễ dàng với một mớ tép mồi,

rồi tận hưởng thú giật cần câu và gở cá.

Với những phương tiện đánh bắt thô sơ, truyền thống nhưng hết sức hiệu quả

như: Chày lưới, đặt lọp, giăng câu, đặt dớn, câu cá,...du khách sẽ tìm được những

thú vui đơn sơ mộc mạc nhất nơi đây.

 Hái bông điên điển, bông súng:

Thiên nhiên vùng đồng bằng Nam bộ nổi tiếng với mùa nước nổi, kèm theo

đó là những đặc sản mà chỉ vào đúng dịp nước mới “nổi” lên, đó là bông súng và

bông điên điển. Sau những chiến lợi phẩm mình thu được từ việc đánh bắt cá, nó sẽ

tuyệt vời hơn nửa khi có thêm một gỗ bông súng và bông điên điển. Hai loại bông

này chỉ thích nhô mầm lên khỏi mặt nước khi nước phù sa đổ về, nước càng cao thì

thân bông súng lại càng dài, càng mềm, còn bông điên điển mọc khắp bờ đê, bờ

kênh, khiến nhiều người chạnh lòng khi nhớ lại câu hát “ ...ăn bông mà điên điển

78

nghiên mình nhớ đất quê, chồng xa em khó mà về...” nghe buồn thê thảm. Du khách

sẽ được tận tay hái hai loại bông này về để chế biến chúng thành một bửa ăn dân dã

tuyệt vời.

 Tắm đồng:

Dòng sông Mê Kông mang một hương vị phù sa ngọt ngào, mát dịu không

mặn mà và có vị chát như nước biển trong xanh. Tắm biển đã là một hình thức khá

phổ biến đối với du khách ở các thành phố, nhưng một khi đã đến với những cánh

đồng nước An Giang du khách sẽ có thêm một trãi nghiệm mới nửa đó là tắm đồng.

Tắm đồng hay gọi vui là “ tắm phù sa” được tắm dưới dòng nước hiền hòa của con

sông Cửu Long để hòa huyện vào sông nước nơi đây tìm về với thiên nhiên hoang

dã.

 Một số đặc sản mùa nước nổi

- Cá Linh:

Vào mùa nước nổi, các tỉnh đầu nguồn nơi nào cũng tràn đồng, nhất là vùng

trũng thấp như Đồng Tháp Mười, tứ giác long Xuyên, khắp nơi lênh láng một biển

nước. Đây chính là lúc ĐBSCL đón nhận biết bao là tôm, cá, rùa, rắn, cá đen, cá

trắng từ Biển Hồ ở Campuchia đua nhau đổ về. Nhiều nhất là các loại cá trắng,

nhưng chiếm tỷ lệ áp đảo vẫn là cá linh.

Theo Nguyễn Hữu Hiệp, An Giang sông nước hữu tình. Thì tuy không có số

liệu về trữ lượng nhưng có thể ước độ bằng cảm nhận dân số cá linh chiếm khoảng

6-70% tổng dân số cá trong mùa nước nổi ở An Giang. Cá linh thuộc loại dangila,

họ cá chép (ciprinidae), tên chữ là linh ngư, người Khơ Me gọi Trêy Lênh hoặc

Trêy rial. Vì cá trắng nên chỉ thích hợp môi trường nước chảy. Mùa nước chúng

lăng xăng đồng ruộng, sông dài, kinh to, rạch nhỏ (nhưng lại rất hiếm đối với các

tỉnh vùng hạ lưu).

Cá linh có các loại sau: cá linh non đầu mùa, cá linh ống, cá linh rìa (cá linh

bản, cá linh banh) loại nào cũng có thể chế biến thành món ăn ngon tiêu biểu như:

Cá linh nhúng giấm

Cá linh chiên với trứng

79

Cá linh nướng cặp gắp tre chấm mắm me

Cá linh kho mía

Cá linh kho lạt giằm me

Đặc biệt là làm nước mắn

Hiện nay, cá linh đã được vô hộp dưới dạng “cá linh kho mía”, sản xuất và

đóng gói bởi nhà máy rau quả đông lạnh Bình Khánh, công ty dịch vụ nông ngiệp

An Giang, trở thành đặc sản của An Giang.

- Cá lóc nướng chui

- Cá rô khô tộ

- Lẫu mắm

- Bánh xèo nhân tép và bông điên điển

2.3.2.4. Các tuyến, điểm và địa bàn hoạt động du lịch mùa nước nổi tiêu biểu

Các tuyến du lịch mùa nước nổi:

Thấy được tiềm năng và nguồn lợi rất lớn từ mùa nước nổi, bên cạnh được

sự quan tâm của chính quyền địa phương và các công ty du lịch ở An Giang như:

công ty du lịch Việt Xanh, công ty cổ phần dịch vụ lữ hành An Giang, An Giang

tourimex,...đã khảo sát và tổ chức thành công các tour, tuyến du lịch mùa nước nổi

trên địa bàn tỉnh. Điển hình là các tuyến du lịch chủ yếu sau:

 Tuyến nội địa:

- Long xuyên – Châu Đốc – Rừng Tràm Trà Sư

- Mỹ Hòa Hưng – Búng Bình Thiên – Rừng tràm Trà Sư

- Châu Đốc - Rừng tràm Trà Sư – Cù lao ông Hổ

- Châu Đốc - Rừng tràm Trà Sư – làng chăm Phũm soài

- Búng Bình Thiên - Rừng tràm Trà Sư – Đồng Láng Linh

 Tuyến liên tỉnh:

- TP.HCM - Long Xuyên - Đồng Láng Linh - Rừng tràm Trà Sư - Châu Đốc

- Cần Thơ/ Sài gòn - Đồng Tháp Mười - Cao Lãnh - Châu Đốc - Rừng tràm

Trà Sư.

Ngoài ra còn có các tuyến liên kết với vương quốc Campuchia.

80

Các điểm du lịch mùa nước nổi tiêu biểu:

 Rừng tràm Trà Sư:

Theo chi cục kiểm lâm An Giang, Tịnh Biên là một trong bốn huyện, thị của

tỉnh An Giang, vừa có đồng bằng, vừa có đồi núi, với không ít những danh lam

thắng cảnh chinh phục lòng người từ khắp nơi đến tận hưởng vẽ đẹp kỳ thú của

thiên nhiên. Bức tranh sơn thủy hữu tình. Khu rừng Tràm Sư là một trong những kỳ

thú đó.

Rừng tràm Trà Sư có diện tích 844,4 ha, trong đó diện tích có rừng chiếm

735, 8 ha. Khu rừng này nằm giữa đất trời mênh mông, vắng lặng, bốn bề là nước.

Khu rừng này nằm cách biên giới Việt nam – Campuchia khoảng 10 km về phía

Tây Bắc, và cách sông Mê kông khoảng 15 km về phía Đông bắc. thuộc xã Văn

Giáo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang.

81

Bản đồ 2.4 Các điểm DLMNN ở An Giang

Ngày 27/5/2005 rừng tràm Trà sư được công nhận là khu rừng đặc dụng- bảo

vệ cảnh quan nằm trong hệ thống rừng đặc dụng quốc giá theo quyết định số

1530/QĐ-UBND của UBND tỉnh An Giang.

82

Rừng tràm Trà Sư có 140 loài thực vật đã được xác định và thể hiện theo 5

dạng sống khác nhau. Trong đó có 22 loài cây gỗ, 25 loài cây bụi, 10 loài dây leo,

70 loài cỏ và 13 loài thủy sinh. Về động vật, có 11 loài thú, trong 6 họ và 4 bộ. Khu

hệ chim cũng ghi nhận có 70 loài chim thuộc 13 bộ và 3 họ. Trong đó có 2 loài

chim quý hiếm là Cò lạo Ấn Độ (Giang sen) và Cổ Rắn (Điêng Điểng); 20 loài bò

sát và 5 loài ếch nhái. Trong rừng còn có cả những loài chim không phụ thuộc nhiều

vào đất ngập nước như: Chim Ngói và Sáo đá đuôi hung.

(Nguồn: Tác giả, 2012)

Hình 2.1. Hệ thống thực vật ở RTTS

Ngoài ra, nguồn thuỷ sản khá phong phú, với 23 loài cá được ghi nhận, trong

đó 2 loài cá có giá trị khoa học và có nguy cơ bị đe dọa diệt chủng là cá Còm và cá

Trê trắng.

Hình 2.2.Các phân khu chức năng RTTS

Nguồn: Chi cục kiểm lâm An Giang

83

Nguồn: Sở Tài Nguyên Môi Trường

 Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: có diện tích là 441 ha. Khu gồm các khoảnh

Hình 2.3. Các khoảnh trong các phân khu chức năng RTTS

2a, 2b, 5a và 5b, 6a, 6b.

- Hiện trạng đất đai trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt gồm:

+ Đất có rừng: 373 ha (gồm 32 ha rừng tràm gần thành thục, 295 rừng tràm

trung niên và 46 ha rừng tràm non).

+ Đất trống có bãi cỏ là bãi ăn của chim: 36 ha.

+ Mặt nước: 25 ha.

+ Đất khác: 3 ha.

- Chức năng của phân khu:

+ Khu có tác dụng bảo vệ và tái tạo những cảnh quan tiêu biểu của vùng

đồng bằng ngập lũ.

+ Khu có tác dụng bảo tồn các quần xã thực vật, bảo vệ khu làm tổ, cư trú và

nơi kiếm ăn của các loài động vật hoang dại, đặc biệt là các loài chim nước và các

loài dơi.

+ Ngoài ra khu còn tạo nơi cư trú thích hợp cho các loài thuỷ sinh vật và

cung cấp nguồn giống thuỷ sản tự nhiên cho những vùng lân cận.

+ Một vai trò đặc biệt quan trọng là khu còn cung cấp địa bàn du lịch sinh

thái, giáo dục và bảo vệ môi trường.

84

 Phân khu phục hồi sinh thái: có tổng diện tích là 245 ha. Khu gồm các

khoảnh 1a, 1b, 4a, 4b. Trong đó gồm:

+ Đất có rừng là 186 ha (gồm 56 ha rừng tràm thành thục, 103 ha rừng tràm

trung niên, 3 ha rừng tràm non).

+ Lung - đìa và đồng cỏ: 55 ha.

+ Đất khác: 4 ha.

+ Chức năng phân khu:

+ Đây là những vùng phụ cận của khu bảo vệ nghiêm ngặt có tác dụng cung

cấp những bãi ăn và khu cư trú cho các loài động vật ở vùng lõi.

+ Khu còn là nơi nghiên cứu khôi phục cảnh quan thiên nhiên của hệ sinh

thái đất ngập nước.

 Phân khu dịch vụ - hành chính: tổng diện tích là 159 ha.

- Phân khu này là các khoảnh 3a, 3b gồm có:

+ Đất có rừng: 135 ha (rừng tràm gần thành thục 7 ha, rừng tràm trung niên

127 ha, rừng tràm non 1 ha).

+ Đồng cỏ và mặt nước: 15 ha.

+ Đất khác: 9 ha.

- Chức năng phân khu:

+ Khu cung cấp địa bàn cho các hoạt động dịch vụ du lịch, nghỉ ngơi, giải trí

phục vụ cho nhân dân và du khách.

+ Đây còn là nơi tổ chức các hoạt động quản lý sử dụng bền vững tài nguyên

đất ngập nước như tỉa thưa rừng, khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên thuỷ sản.

+ Ngoài ra tại đây còn có thể tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học về

sử dụng bền vững tài nguyên của đất ngập nước.

 Vùng đệm:

Bao quanh khu bảo vệ cảnh quan Trà Sư, có ranh giới là các kênh: Phía bắc

là kênh đào số 2; Phía đông là kênh ranh số 12; Phía nam là kênh Bốn Mét từ ấp Trà

Múc kéo dài sang ấp 1; Phía tây là kênh Trà Sư.

85

Vùng đệm có diện tích 643 ha, đây là vùng chuyển tiếp giữa khu bảo vệ cảnh

quan trà sư với vùng sản xuất kinh tế nhằm giảm nhẹ những áp lực kinh tế - xã hội

từ vùng kinh tế vào khu bảo bệ.

Hiện trạng sử dụng đất đai hiện nay ở vùng đệm là đất nông nghiệp, trồng

lúa nước, rừng tràm và kênh rạch.

Vào mùa nước nổi, khoảng tháng chín, tháng mười âm lịch, toàn khu rừng

ngập sâu từ 2 đến 3 mét, đi xuồng len lỏi vào các sân chim, xem dơi quạ rộng hàng

chục héc-ta, thấy con lớn đến cả ký treo dày trên ngọn tràm.

Vừa ngắm cảnh đẹp, du khách vừa tự tay hái các loại rau muống, rau dừa,

điên điển… trước khi đi qua các trảng cỏ xen lẫn trong rừng. Đặc biệt, vừa thưởng

thức những món ăn đặc trưng vùng sông nước Nam Bộ như cá linh nướng, món cá

lóc hấp bầu, gà rừng nướng muối ớt, cua đồng chấm mắm me, cá lóc rừng cuốn với

lá sen bẻ trong rừng nướng trui, ăn ngay tại chỗ thì không còn gì ngon bằng… du

khách còn cùng nhau giao lưu bằng những câu chuyện xứ rừng, nghe du dương

tiếng ca vọng cổ ngọt lịm của những cô thôn nữ.

Tất cả không gian ở đây, từ âm thanh, ánh nắng đến món ăn “miệt vườn” dân

dã đều có những hương vị rất riêng mà không phải nơi nào cũng có được. Nếu du

khách muốn nghe bản hợp ca của các loài chim thì nên đi thuyền vào rừng tràm Trà

Sư vào buổi chiều vì từ sau 17h chim mới bắt đầu về rừng. Còn cả ngày ở rừng Trà

Sư thì hãy giải trí bằng thú đi câu.

Đến mới thấy, nếu một lúc nào đó có nhu cầu muốn phiêu lưu trong chốn

rừng hoang với những cảm giác bềnh bồng lo lắng, muốn tạm thời quên hết lo âu

của cuộc sống bộn bề, muốn “có đôi khi” một mình sống với thiên nhiên... có lẽ,

rừng tràm Trà Sư sẽ là nơi mang đến cho những ai có nhu cầu tất cả những cảm giác

thú vị.

 Búng Bình Thiên:

Búng Bình thiên là một hồ nước tự nhiên, cách giồng Cây da 2km, thuộc xã

An Khánh, huyện An Phú, tỉnh An Giang. Búng gồm có hai hồ: Búng Bình Thiên

lớn và Búng Bình Thiên nhỏ, nằm giữa sông Hậu và sông Bình Di, nguồn nước

86

cung cấp cho hai hồ cũng chính là sông Hậu và sông Bình Di. Nơi đây còn khá

hoang sơ với nhiều loại thủy sản nước ngọt, khu rừng nguyên sinh bao quanh hồ có

diện tích khoảng 800ha, có rất nhiều loại thực vật sinh sống và đây cũng chính là

điểm du lịch nổi tiếng của huyện An Phú trong đó DLMNN là một tiềm năng đã và

đang phát huy thế mạnh.

Búng Bình Thiên gắn liền với câu chuyện xưa. Kể rằng: có nhiều truyền

thuyết khác nhau về vị tướng đưa binh sĩ của mình đến vùng này làm căn cứ trú

quân phòng thủ vào thế kỷ 18: Có thể vị tướng của Chúa Nguyễn hoặc nhà Tây

Sơn. Thời đó, khu này là vùng đất trũng đất khô nứt nẻ gây khó khăn trong sinh

hoạt cho nghĩa quân, vị tướng này đã dâng lễ vật, khấn vái trời đất xin ban nguồn

nước. Ông rút gướm cắm xuống lòng đất trũng, cầu thủy dâng lên. và lạ thay, khi

lưỡi gươm vừa động thổ thì có một dòng nước trong xanh cứ trào tuôn mãi, ngập cả

những bờ đất quanh vùng này, biến vùng trũng nứt nẻ thành một hồ rộng lớn, bao la

và ông đã đặt tiên nơi đây là Búng Bình Thiên. Theo tác giả Vương hồng Sển viết

trong quyển “ Tự vị tiếng nói miền Nam“ Búng có nguồn gốc từ chữ “bưng“ nói trại

ra. Từ này gốc Khơ Me “trapeang“ lần hồi được việt hóa thành “bưng“ có nghĩa là

vùng đất sình lầy xấp nước, cá tôm ở nhiều, cỏ lác mọc loạn xạ...

Vào tháng tám hàng năm, dòng sông Mê kông cuồn cuộn đổ từ Campuchia

vào Việt Nam tạo thành những cơn lũ đầu nguồn trên sông Tiền và sông Hậu. khi lũ

lên cao, nước lũ tràn bờ chảy vào lấp đầy hồ và làm chìm ngập hai hồ trong một

biển nước mênh mông. Mặt hồ phủ kín sen và các loài hoa dại, có một điều khá lạ

và thú vị là khi mùa nước nổi nước sông Hậu đục ngầu màu phù sa nhưng khi tràn

vào hồ thì trong một thời gian lập tức trong vắt, đến nổi chúng ta nhìn thấy trong

đục rất rõ giữa hai làn nước. Búng Bình Thiên đẹp nhất vào mùa lũ, ngồi trên du

thuyền dạo quanh búng, nghe vu vương những bài ca cổ và thưởng thức đặc sản

mùa nước nổi như cá Linh nấu canh chua bông điên điển, chả cá Linh, lẩu mắm,

chuột nướng...du khách sẽ cảm nhận được một sự khác biệt thú vị. Mùa nước nổi ở

Búng Bình Thiên còn gắn liền với nhiều hoạt động văn hóa độc đáo của người

Chăm như Roda (lễ mừng Quốc Khánh), tháng chay Ramada, đặc biệt vòng theo

87

con đường quanh búng là những tàn cây xanh rậm mát. Đây là con đường đẹp đi

qua những xóm Chăm, mà người kinh gọi là “Xóm Chà“ hoặc “Chà Châu Giang“,

đến đây ta như lạc bước vào xứ sở ngàn lẻ một đêm với những cô gái, chàng trai

Chăm với y phục đặc trưng của dân tộc mình. Đến với Búng Bình Thiên không chỉ

tham quan cảnh đẹp thiên nhiên mà còn được khám phá đời sống của đồng bào

người Chăm An Giang.

Hàng năm cũng vào tháng tám một hoạt động văn hóa được diễn ra đó là “

liên hoan du lịch mùa nước nổi“ nhằm giới thiệu đến bạn bè phương xa những sản

phẩm du lịch và chiêm ngưỡng cảnh sông nước hữu tình; thưởng thức những món

ăn dân dã tuyệt vời, nghe những bài ca cổ mùi mẫn đến ngây ngất lòng người,...Mùa

nước nổi, nhà sàn của một bộ phận dân cư sống ven hồ núp dưới những rặng cây

xanh xung quanh ngập nước, tựa như bức tranh thủy mặc, với cỏ cây hoa lá được

thêu trên nên trắng xanh thơ mộng của một bức tranh tự nhiên khổng lồ. Du khách

sẽ trãi rộng lòng mình hòa nhập vào với thiên nhiên nơi đây để tận hưởng sự hoang

sơ mộc mạc của một Hồ nước trời với sự đa dạng sinh học của hệ sinh thái đất ngập

nước, bỏ lại tất cả những bộn bề của cuộc sống công nghiệp hiện đại, những vất vả

và ồn ào của của đô thị xa hoa, nơi đây chỉ có thiên nhiên và cuộc sống của những

cư dân bình dị. Búng Bình Thiên đã và đang vươn mình cùng phát triển với kinh tế

xã hội của người dân huyện An Phú nói riêng, An Giang nói chung và là điểm du

lịch hấp dẫn của vùng ĐBSCL.

Ngoài ra Búng Bình Thiên còn được ghi nhận là nơi sinh sản, tái tạo và lưu

tồn thủy sản an toàn nhất so với các tỉnh trong khu vực ĐBSCL, vì vậy năm 2009

các ngư dân tại đây đã chủ động thành lập Chi Hội nghề cá Búng Bình Thiên” với

mục đích đồng quản lý để khai thác hợp lý, sử dụng và phát triển bền vững nguồn

lợi thùy sản trong búng.

Bên cạnh đó tỉnh An Giang cũng tranh thủ xây dựng dự án “Bảo tồn các loài

thủy sản khu vực Búng Bình Thiên” được Chính phủ phê duyệt theo quyết định số

131/2004/QĐ-TTg ngày 16/7/2004, triển khai thực hiện từ năm 2010 - 2015 trên

diện tích bảo tồn 143 ha và vùng đệm 100 ha, từ nguồn kinh phí Trung ương và địa

88

phương trên 41 tỷ đồng. Đây là loại dự án ưu tiên thuộc Chương trình bảo vệ và

phát triển thủy sản của Việt Nam, góp phần tái tạo, phục hồi, bảo vệ an toàn cho đa

dạng thủy sinh vật, đặc biệt trong đó là loài thủy sản quí hiếm, có giá trị khoa học,

giá trị kinh tế cao, bảo vệ nguồn gien thiên nhiên của sông Tiền, sông hậu và sông

Mêkong đang bị đe dọa, có nguy cơ bị tuyệt chủng.

 Đồng Láng Linh:

Vào mùa nước nổi cả vùng châu thổ sông Mê Kông chìm trong biển nước

đến tháng 10 âm lịch, con nước từ từ đổ về không vội vàng như những nơi khác gây

ra nhiều tổn thất. Ngược lại, đây lại là cơ hội cho mọi hoạt động bình dị nhất của

người dân vùng Láng Linh chính thức bắt đầu, báo hiệu cho một mùa bội thu đã

đến, một mùa với đầy cá tôm. Nói đến Láng Linh là nói đến cuộc khởi nghĩa Bảy

Thưa do Trần Văn Thành chỉ huy trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

trong những năm 1867-1873.

Láng Linh ngày xưa: là tên vùng đất thấp, nhiều phèn, không có kênh, rạch

lớn ra vào, suốt năm chỉ gieo gặt một mùa lúa sạ. Phía Bắc giáp vùng biên giới núi

Sam, phía Tây giáp với dãy Thất Sơn hùng vĩ, phía Đông cặp sông Hậu, phía Nam

giáp núi Ba Thê và thành phố Long Xuyên. Hằng năm, vào mùa nước nổi cả vùng

một biển nước mênh mông (vì thế người dân gọi Lánh Linh); còn vào mùa khô,

nước không cạn hẳn mà biến thành những ao đìa, mương rạch, những đầm lầy vô số

đĩa vắt cùng với lau sậy, cỏ dại thi nhau chen chúc, bao trùm khắp nơi... Bảy Thưa

là tên một cánh rừng, nằm tiếp giáp với Láng Linh, nơi đây mọc khá nhiều cây bảy

thưa - một loại cây hiện nay không còn nhiều, tại dinh Sơn Trung chỉ còn 3 bụi cây

non nhỏ nhoi - cũng là một vùng trũng thấp, đầm đìa ứ đọng.

Láng Linh ngày nay: tuy vẫn còn là một vùng quê nghèo khó nhưng cơ sở hạ

tầng đã được đầu tư, không còn là một vùng trũng hoang vu như ngày xưa nửa. Nhà

cửa mọc lên rất nhiều dọc theo những con đường thẳng khang trang, cây cầu tre

ngày nào đã được thay bằng cây cầu dây vững chắc, nào là trường học nào là trạm y

tế được xây dựng, sản xuất lúa ngày một đạt cả về năng suất và giá thành. Bây giờ,

người ta không còn xem Bình Chánh, Bình Phú, Đào Hữu Cảnh, Thạnh Mỹ Tây, Ô

89

Long Vỹ của khu vực Láng Linh - Bảy Thưa là 5 xã vùng sâu, vùng xa nghèo đói

nữa, mà gọi đó là 5 xã “vùng trong” để phân biệt với các xã ven trục quốc lộ 91.

Nay Láng linh thuộc 3 huyện: Châu Thành, Châu Phú, Tịnh Biên.

Đến với Láng Linh vào mùa nước nổi là đến với cuộc sống của người dân

vùng nông thôn nghèo, thật thà chất phát, dọc theo các con kênh bằng thuyền du

khách sẽ tận mắt chứng kiến được những cây cầu khỉ bắt qua bờ kênh, xa xa lại thấy

được một cây, hoặc là những trẻ em đang bơi lội trong dòng nước đục ngầu phù sa.

Dọc hai bên cờ kênh là những rặng bạch đằng xanh thẳm, cuộc sống của người dân

ven hai bên bờ kênh thật bình thường. Thấp thoáng lại thấy những chiếc ghe cào, xa

xa lại thấy những đứa bé đang gở lưới trên chiếc xuồng ba lá, những cây lục bình

trôi nổi mênh mang, đàn vịt đang trắng tinh đang đắm mình dưới nước, nó như đang

hợp thành một bản tình ca đồng quê êm ái, dịu dàng. Trên cánh đồng thì lại càng thú

vị hơn những chiếc thuyền câu đang miệt mài gở lưới, lâu lâu lại bắt gặp một ngư

dân đang quăng chài bắt cá, chiếc chài bung tròn lên sau đó úp xuống mặt nước,

một dụng cụ bắt cá khá phổ biến nửa đó là “ dớn“- một loại bẫy khá lớn làm bằng

tre. Điểm tô thêm cho chút màu cho cuộc sống nơi đây chính là những cây điên điển

mọc khắp nơi, nở ra một màu vàng chói làm sáng bừng lên cả một vùng trời, không

kém bông điên điển hoa súng cũng là biết tự mình khoe sắc thắm làm đỏ ửng. Màu

xanh của mây, màu vàng của bông điên điển, màu đỏ ửng của hoa súng, kết hợp

với con người nơi đây tạo nên một bức tranh thiên nhiên đầy màu sắc.

Hình 2.4. Mùa nước nổi ở Láng Linh

Nguồn: www.metinfo.vn

90

Điều sẽ làm du khách càng nhớ nhung nơi đây hơn là khi được cùng người

dân nơi đây bắt cá, gở lưới và đặt lọp, hái bông điên điển, bông súng, trên những

chiếc thuyền câu bé xíu...rồi sau đó hợp chung thành một bửa ăn đồng quê thơm

ngon do chính tay mình bắt được. Cá linh cũng là một đề tài cho du khách ngạc

nhiên vì cá linh đầu mùa, giữa mùa và cuối mùa nước là khác nhau. Chỉ đến đây

vào đầu mùa lũ du khách mới được thưởng thức cá linh đầu mùa, Lúc ấy con cá chỉ

bằng đầu đũa, rất mềm và thơm ngon. Vào giữa mùa, cá bắt đầu lớn cỡ ngón tay và

có xương. Lúc này người ta nướng chấm với muối ớt dầm me tươi hoặc kho với mía

cho rục là ngon nhất. Cuối mùa, cá đã to cỡ hai ngón tay thì được làm mắm hoặc

nước mắm. Nước mắm cá linh mang hương vị của đồng nội khác hẳn vị biển của cá

cơm.

Còn gì thú vị hơn khi được ăn một bửa thật đồng nội với những chú cá do

mình tự tay bắt được, những trùm bông súng, bông điên điển ngon lành, lồng vào

những cơn gió giữa đồng nội.

Địa bàn tổ chức hoạt động du lịch mùa nước nổi

Du lịch mùa nước nổi ở An Giang hoạt động hiện nay ở ba địa bàn tiêu biểu

sau: Huyện Tịnh Biên, huyện An Phú và huyện Châu Phú.

 Huyện Tịnh Biên

Tịnh Biên là huyện biên giới của tỉnh An Giang; Bắc giáp Campuchia; Tây

và Nam giáp huyện Tri Tôn; Đông giáp thị xã Châu Đốc và huyện Châu Phú.

Huyện có nhiều dân tộc, tôn giáo, di tích lịch sử và phong cảnh núi non hùng vĩ.

Đến Tịnh Biên, du khách có dịp tham quan nhiều di tích lịch sử và cảnh đẹp thiên

nhiên như: núi Cấm, chùa Vạn Linh, rừng Trà Sư....Đặc sản nổi tiếng của huyện là

bò cạp núi, rất được du khách phương xa quan tâm. Ngoài việc chế biến món ăn, bò

cạp còn là một vị thuốc dùng ngâm rượu chữa bệnh nhức khớp xương.

Về địa hình, huyện phân thành 3 vùng rõ rệt: vùng đồi núi, vùng bán sơn địa

và vùng đồng bằng. Vùng đồi núi bao gồm cụm núi Phú Cường và núi Cấm, là hai

cụm núi lớn của vùng Thất Sơn.

91

Rừng tự nhiên thuộc rừng ẩm nhiệt đới với nhiều loại cây quý hiếm. Động

vật trên núi ngày càng phong phú về số lượng và chủng loại. Rừng không chỉ có giá

trị lâm sản mà còn có giá trị du lịch. Rừng tràm Trà Sư và núi Cấm là những điểm

du lịch nổi tiếng của huyện.

Tịnh Biên là huyện biên giới, có cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên là trung tâm

giao thương quan trọng giữa Việt Nam với Campuchia. Chợ cửa khẩu Tịnh Biên

cũng là điểm giao thương mua bán trọng yếu của huyện Tịnh Biên. Mặt hàng chủ

yếu là vải vóc, đồ điện tử, mỹ phẩm có nguồn gốc từ Campuchia và Thái Lan.

Ngoài ra, chợ còn bán nhiều loại đặc sản của khu vực Bảy Núi như thốt nốt, xoài,

bọ cạp, mối chúa...

92

Bản đồ 2.5 Địa bàn tổ chức hoạt động DLMNN

 Huyện An Phú

Bắc và Tây giáp Camphuchia với đường biên giới quốc gia dài 40,5 km;

Đông và Đông Nam giáp huyện Tân Châu; Tây Nam giáp thị xã Châu Đốc. An Phú

nằm án ngữ nơi đầu nguồn của sông Cửu Long - là tuyến giao thông thủy nối liền

các tỉnh miền Tây Nam Việt Nam với Campuchia.

93

Hầu hết diện tích huyện An Phú đều là đồng bằng châu thổ, do phù sa sông

Hậu bồi đắp. Một vài nơi bị ngập úng thường xuyên. Hằng năm vào khoảng tháng 5

- 6 là bắt đầu vào mùa nước lũ, độ ngập trung bình từ 2 - 3 m. Thời gian ngập lụt

thường kéo dài đến cuối năm, có ảnh hưởng rất lớn đến tập quán sinh hoạt, sản xuất

của người dân.

Người Chăm ở An Phú chiếm khoảng một nửa cộng đồng người Chăm tại

tỉnh An Giang, ước tính năm 2007 có khoảng 6.000. Họ có những nét văn hoá riêng,

nhiều lễ hội truyền thống độc đáo.

Khu du lịch sinh thái Búng Bình Thiên cùng với các công trình kiến trúc văn

hoá Chăm ở Đa Phước, Vĩnh Trường, Nhơn Hội là những địa điểm du lịch hấp dẫn

của huyện.

 Huyện Châu Phú

Huyện nằm ở khu vực trung tâm của tỉnh An Giang, Bắc giáp thị xã Châu

Đốc, đường ranh giới dài 14,570 km; Đông giáp sông Hậu ngăn cách với huyện Phú

Tân; Nam giáphuyện Châu Thành, đường ranh giới dài 29,176 km; Tây giáp huyện

Tịnh Biên, chiều dài ranh giới là 20,151 km.

Huyện nằm trên tuyến đường du lịch quan trọng của tỉnh An Giang. Hàng

năm trên tuyến quốc lộ 91 có khoảng bốn triệu lượt khách du lịch và khách hành

hương đi qua địa phận Châu Phú để đến núi Sam – miếu Bà Chúa Xứ, núi Cấm, Hà

Tiên và Vương quốc Campuchia thông qua hai cửa khẩu kinh tế của An Giang là

cửa khẩu Xuân Tô – Tịnh Biên và cửa khẩu Khánh Bình – An Phú.

Hằng năm, trên địa bàn huyện diễn ra nhiều mang sắc thái dân tộc độc đáo

như: lễ rước thần đình Bình Thủy, lễ vía Thầy Tây An....

Do Châu Phú là huyện đầu nguồn sông Cửu Long nên vào khoảng tháng 6

dương lịch hàng năm huyện Châu Phú đều phải đối mặt với mùa lũ. Tình hình lũ ở

An Giang nói chung và ở Châu Phú nói riêng diễn biến phức tạp, đỉnh lũ biến động

bất thường qua các năm khác nhau. Lũ ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế xã -

hội và đời sống nhân dân.

94

Thế nhưng để hạn chế tác hại cũng như tạo ra nguồn thu nhập cho người dân

vùng lũ nơi đây thì DLMNN ở khu vực Láng Linh là một giải pháp hiệu quả và

mang lại nhiều thành công. Cánh đồng lênh láng nước cùng với những hoạt động

sinh hoạt bình dị của người dân trong mùa nước nổi là dấu ấn không thể phai cho

những du khách đến với nơi đây.

2.3.2.5. Tác động của du lịch mùa nước nổi đến môi trường

Tác động tích cực:

- DLMNN góp phần bảo tồn và phát huy giá trị của hệ sinh thái ngập nước

của vùng ĐBSCL nói chung và An Giang nói riêng.

- DLMNN không chỉ mang lại giá trị kinh tế, góp phần khá lớn vào tỷ trọng

GDP của tỉnh nhà mà còn làm tôn vinh vẽ đẹp tự nhiên hoang dã của hệ sinh thái

vùng ngập nước ở An Giang. Hệ thống rừng tràm, các loại động thực vật sống dưới,

trong và trên mặt nước được phát huy và được biết đến nhiều hơn.

Nếu như trước đây hệ sinh thái đất ngập nước bị bỏ quên ở dạng tiềm năng

thì giờ đây đã được vựt dậy vì nó phù hợp với xu hướng du lịch chung trên thế giới,

du lịch sinh thái tự nhiên và dựa vào thiên nhiên, bảo tồn chúng góp phần cho cuộc

sống bền vững. Ngoài ra DLMNN còn bảo vệ các loài động vật quý hiếm sinh sống

trong mùa nước nổi hoặc ở các điểm du lịch mùa nước nổi như rừng tràm Trà Sư.

- Nâng cao ý thức của người dân trong vùng nước nổi và người hoạt động

DLMNN về giá trị của môi trường sinh thái. Hoạt động DLMNN mang lại khá

nhiều mặt lợi. Điều quan trọng là giúp nâng cao ý thức của những người dân địa

phương, của những người đi du lịch và làm du lịch về tầm quan trọng của tự nhiên

đối với môi trường sống của con người. Hình thành ý thức đối với thiên nhiên, góp

phần bảo tồn những giá trị của cuộc sống trong lành

Tác động tiêu cực:

- Góp phần làm cho môi trường bị ô nhiễm: DLMNN phần nào tác động đến

môi trường trong vùng chẳng hạn như việc rác thải từ khách du lịch, từ người dân

địa phương sống ven vùng, từ xác chết của các loại động vật, từ các loại chay nhựa,

95

bao bì của mùa vụ trước còn tồn đọng lại điều đó sẽ ảnh hưởng đến chất lượng

nguồn nước.

- Làm giảm thiểu số lượng thủy sản trong mùa nước nổi: ngoài việc đánh bắt

các loại thủy sản cho cuộc sống mưu sinh hàng ngày của người dân địa phương,

hoạt động DLMNN cũng tác động khá lớn đến số lượng thủy sản trong vùng. Để

phục đầy đủ cho sự hiếu kỳ của khách du lịch thì việc đánh bắt cá là điều thiết yếu

nhưng với số lượng lớn thì sẽ ảnh hưởng đến sau này.

- Ảnh hưởng đến môi trường sống của các loại động vật: DLMNN tác động

khá nhiều đến đời sống hàng ngày của các loại động vật trong các hệ sinh thái ngập

nước. Ví dụ điển hình ở rừng tràm Trà Sư, đời sống hàng ngày của các loại chim,

dơi, cò,...bị ảnh hưởng khi số lượng khách du lịch ngày càng đông, tiếng động là tác

nhân phần nào đến quá trình sinh sống của chúng, nào là tiếng nói, cười, máy chụp

ảnh, tiếng nổ của phương tiện tham quan,...

2.3.2.6. Đánh giá chung về thực trạng phát triển du lịch mùa nước nổi (phân

tích SWOT)

Những thuận lợi và khó khăn ở hiện tại, cơ hội và thách thức trong tương lai

của hoạt động DLMNN được tổng hợp và phân tích như sau:

Thuận lợi:

- Có nhiều loại thủy sản nước ngọt hàng năm theo con nước từ thượng nguồn

sông Me Kông đổ về, đặc biệt là cá linh. Giúp cung cấp nguồn thủy sản phục vụ cho

các món ăn dân dã và các món đặc sản.

- Có hệ sinh thái đất ngập nước đa dạng, phong phú về chủng loại các loại

động thực vật như: hệ thống rừng tràm, các loại chim, dơi, cá, cò, nhang sen,...

- Có những điểm du lịch hấp dẫn như: rừng tràm Trà Sư, Búng Bình Thiên,

Đồng Láng Linh, mang những vẽ đẹp hoang dã.

Khó khăn:

- Thiếu sự đầu tư vào các điểm du lịch mùa nước nổi (như đầu tư đường giao

thông, cơ sở lưu trú, khu vui chơi giải trí,...) và nhất là phải lệ thuộc vào mùa nước

nổi.

96

- Thiếu kinh nghiệm trong việc quản lý cho hoạt động của DLMNN.

- Công tác quảng bá, tạo dựng hình ảnh cho DLMNN còn quá ít, chưa thu

hút được sự chú ý của khách du lịch.

- Nguồn nhân lực phục vụ trong hoạt động DLMNN còn thấp về trình độ

chuyên môn.

- Sản phẩm du lịch đặc trưng trong mùa nước nổi chưa đa dạng và chưa có

hình ảnh cụ thể.

Cơ hội:

- DLMNN là loại hình du lịch mới phù hợp với xu hướng chung của thể giới.

Được sự quan tâm của chính quyền địa phương cùng với những người dân địa

phương sống trong mùa nước nổi.

- Các công ty du lịch trong tỉnh và ngoài tỉnh đang đầu tư vào khai thác du

lịch trong mùa nước nổi ở An Giang. Điển hình là Công ty cổ phần-dịch vụ lữ hành

An Giang, công ty du lịch Việt Xanh, công ty du lịch khám phá Mê Kông, đang mở

các tour du lịch trong mùa nước nổi.

- Nhu cầu của khách du lịch hướng về thiên nhiên, cây cỏ hoang sơ, cuộc

sống bình ngày càng nhiều.

Thách thức:

- Biến đổi khí hậu làm thời tiết thay đổi, lũ hàng năm lên xuống thất thường.

Có năm nước lên cao làm ngập cả hệ thống giao thông đường bộ, có năm mực nước

thấp làm ảnh hưởng đến tổ chức cho DLMNN.

- Đây là loại hình du lịch mới, sức cạnh tranh chưa cao đối với các địa điểm

du lịch khác của tỉnh nhà như: Các chùa miếu, du lịch văn hóa, leo núi,...

- Thiếu sự liên kết giữa nhà du lịch và người dân địa phương sống trong mùa

nước nổi.

- Sản lượng các loại động thực vật sống trong mùa nước nổi có thể giảm do

quá trình khai thác, đánh bắt nhiều sẽ làm ảnh hưởng đến sự đa dạng của hệ sinh

thái vùng đất ngập nước và các món ăn dân dã góp phần tạo nên đặc sản trong mùa

nước nổi

97

Chương 3

ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

DU LỊCH MÙA NƯỚC NỔI Ở TỈNH AN GIANG

3.1. Định hướng phát triển du lịch mùa nước nổi

3.1.1. Cơ sở xây dựng định hướng

3.1.1.1. Chính sách phát triển du lịch của quốc gia

Nhằm tổ chức triển khai thực hiện Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam

đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

tại Quyết định số 2473/QĐ-TTg ngày 30/12/2011 một cách đồng bộ, thống nhất và

đạt kết quả cao, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Chỉ thị về

việc tổ chức triển khai thực hiện “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm

2020, tầm nhìn đến năm 2030”.

Theo đó, trong Quý II/2012, các đơn vị trực thuộc Bộ và Sở Văn hóa, Thể

thao và Du lịch các tỉnh, TP trực thuộc TW tổ chức nghiên cứu, quán triệt nội dung

của “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm

2030”; đặc biệt chú trọng quan điểm phát triển; bám sát mục tiêu và nắm vững nội

dung các giải pháp và chương trình hành động như sau:

- Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, du lịch chiếm tỷ trọng

ngày càng cao trong cơ cấu GDP, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội.

- Phát triển du lịch theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, có trọng tâm trọng

điểm; chú trọng phát triển theo chiều sâu đảm bảo chất lượng và hiệu quả, khẳng

định thương hiệu và khả năng cạnh tranh.

- Phát triển đồng thời cả du lịch nội địa và du lịch quốc tế, chú trọng du lịch

quốc tế đến, tăng cường quản lý du lịch ra nước ngoài.

- Phát triển du lịch bền vững, gắn chặt với việc bảo tồn và phát huy các giá

trị văn hóa dân tộc; giữ gìn cảnh quan, bảo vệ môi trường; đảm bảo an ninh, quốc

phòng, trật tự an toàn xã hội.

98

- Đẩy mạnh xã hội hóa, huy động mọi nguồn lực cả trong và ngoài nước đầu

tư phát triển du lịch; phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế quốc gia và yếu tố tự nhiên

và văn hóa dân tộc, thế mạnh đặc trưng của các vùng, miền trong cả nước; tăng

cường liên kết phát triển du lịch.

3.1.1.2 Định hướng phát triển du lịch chung của Tỉnh

Theo định hướng phát triển các ngành kinh tế của An Giang đến năm 2020,

tỉnh đã xác định: "Phát triển du lịch An Giang trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn

trên cơ sở khai thác có hiệu quả lợi thế và điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống

văn hóa lịch sử. Phát triển mạnh các sản phẩm du lịch và nâng cao chất lượng dịch

vụ phục vụ du lịch, tăng cường hoạt động lữ hành mở rộng tour tuyến để tăng

nguồn thu cho ngành du lịch. Đầu tư cơ sở hạ tầng, nhân lực để phát triển bền

vững". Một số nội dung cụ thể là:

- Tập trung đầu tư và kêu gọi đầu tư vào các khu, điểm du lịch trọng điểm

cũng như các dự án xây dựng khu kinh tế cửa khẩu, đầu tư hệ thống giao thông đến

các các khu, điểm du lịch.

- Tăng cường hơn nữa mối quan hệ hợp tác với ngành du lịch thành phố Cần

Thơ, tỉnh Kiên Giang, tỉnh Đồng Tháp, thành phố Hồ Chí Minh và mở rộng hợp tác,

liên kết với ngành du lịch tỉnh Kandal, tỉnh Takeo (vương quốc Campuchia).Triển

khai cho các doanh nghiệp du lịch kinh doanh lữ hành trong tỉnh mở tour, tuyến

sang Campuchia và ngược lại.

- Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển du lịch cho cán bộ

quản lý du lịch; hỗ trợ đào tạo cho các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ - du lịch

bao gồm: quản trị nhà hàng - khách sạn, nghiệp vụ lễ tân, bàn, buồng, bếp, an ninh

khách sạn, dẫn chương trình hội nghị-đám tiệc, thuyết minh viên, chăm sóc khách

hàng, kỷ năng thu thập thông tin - tuyên truyền và bảo vệ môi trường,…

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền quảng bá về hoạt động du lịch thông qua

các phóng sự, phim tư liệu, website, bản tin, bản đồ, ấn phẩm, tham dự hội chợ,

biển quảng cáo, tổ chức các đoàn Famtrip về An Giang cũng cần được ngành duy trì

và xúc tiến mạnh hơn.

99

- Không ngừng tiếp tục phối hợp với các ngành chức năng trong công tác

quản lý bảo vệ duy tu và tôn tạo các di tích, danh lam thắng cảnh; khu, điểm du lịch

về: vệ sinh môi trường, an toàn vệ sinh thực phẩm, an ninh trật tự và kiên quyết xử

lý nghiêm các tệ nạn xã hội, nhằm xây dựng nếp sống văn minh, an toàn và thân

thiện tại các khu, điểm du lịch, các nhà hàng - khách sạn, trung tâm thương mại, cửa

khẩu,…

- Quan tâm và tập trung đầu tư cho việc tổ chức và duy trì các lễ hội truyền

thống và phát triển các loại hình văn hoá nghệ thuật của các dân tộc Kinh – Hoa –

Chăm - Khơmer; du lịch mùa nước nổi; phát triển và duy trì mô hình du lịch cộng

đồng; nghiên cứu và phát triển thêm một số mô hình du lịch mới.

- Xây dựng kế hoạch cùng với các doanh nghiệp kinh doanh du lịch ở An

Giang và ĐBSCL, Tp. Hồ Chí Minh về chương trình giảm giá các dịch vụ du lịch

như: giá phòng nghỉ, giá tour, ăn uống, đi lại, giá các sản phẩm ẩm thực, các dịch vụ

phụ trợ, quà lưu niệm, ....

- Về tổ chức không gian lãnh thổ:

 Điểm du lịch:

Các điểm du lịch quốc gia: miếu bà chúa Xứ núi Sam, lăng Thoại Ngọc Hầu

- núi Sam, Châu Đốc, khu lưu niệm Bác Tôn – Mỹ Hòa Hưng, TP.Long Xuyên.

Các điểm du lịch có ý nghĩa địa phương: khu di tích Óc Eo, đồi Tức Dụp,

nhà mồ Ba Chúc, chùa Tây An, đền thờ Quản Cơ Thành, chùa Giồng Thành,...

 Cụm du lịch:

Cụm du lịch hạt nhân: cụm du lịch Long Xuyên, cụm du lịch Núi Sam, cụm du

lịch huyện Tri Tôn – Tịnh Biên.

Cụm du lịch phụ trợ như: cụm du lịch núi Cô Tô

 Tuyến du lịch:

Hình thành các tuyến du lịch theo loại hình du lịch như: du lịch tìm hiểu di

tích lịch sử, nghỉ dưỡng, sinh thái, leo núi, lễ hội, làng nghề, thể thao,...bao gồm các

tuyến nội vùng như: Long xuyên – Châu Đốc – Huyện An Phú, Long Xuyên – Chợ

Mới, Long Xuyên – Châu Phú – Châu Đốc – Tịnh Biên, các tuyến liên tỉnh như: An

100

Giang – Kiên Giang – Cần Thơ, Châu Đốc – Long Xuyên – Cao Lãnh – Sa Đéc,

Long Xuyên – Cần Thơ – Sóc Trăng – Cà Mau. Các tuyến quốc tế như: An Giang –

TP. Hồ Chí Minh – Hà Nội – Trung Quốc, Long Xuyên – TP. Hồ Chí Minh – Lào –

Thái Lan.

3.1.2. Định hướng phát triển du lịch mùa nước nổi tại An Giang

DLMNN là một loại hình du lịch khá mới và chưa được sự quan tâm thỏa

đáng của các cấp chính quyền địa phương. Vì thế, để phát triển DLMNN xứng tầm

với tiềm năng vốn có của nó cần phải có định hướng phát triển với những bước đi

đúng đắn và hợp lý.

Căn cứ vào các chủ trương, chính sách về phát triển kinh tế - xã hội nói

chung và phát triển du lịch của nhà nước cũng như của tỉnh An Giang; căn cứ vào

tiềm năng và thực trạng phát triển DLMNN ở địa phương, xin đề xuất một số định

hướng thiết thực để phát triển DLMNN trên địa bàn tỉnh đến năm 2020 như sau:

- Phát triển DLMNN phải gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội của địa

phương.

- Để DLMNN mang về nguồn lợi lớn cho sự phát triển kinh tế xã hội của

tỉnh, trong thời gian tới tỉnh cần tập trung đầu tư và phát triển các điểm DLMNN

điển hình như: Búng Bình Thiên, rừng tràm Trà Sư, đồng Láng Linh.

- Tổ chức liên kết, duy trì hợp tác giữa các tỉnh: Đồng Tháp, Cần Thơ, Kiên

Giang, TP HCM và cả vương quốc Campuchia rong phát triển du lịch.

- Đầu tư nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ cho DLMNN nhất là giao

thông và cơ sở lưu trú.

- Đa dạng hóa các sản phẩm của loại hình DLMNN, đặc biệt là sản phẩm du

lịch mang tính đặc trưng.

- Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, nhất là hướng dẫn viên cho hoạt động

DLMNN.

- Về định hướng tổ chức không gian lãnh thổ:

 Rừng Tràm Trà Sư huyện Tịnh Biên

101

Sản phẩm du lịch: du lịch tham quan các hệ sinh thái ngập nước, các món ăn

dẫn dã.

Đinh hướng:

+ Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật.

+ Khai thác du lịch ở những điểm du lịch tiềm năng trong khu vực rừng tràm.

+ Mở rộng và nâng cấp các tuyến đường đê bao chạy quanh rừng tram

+ Tiếp tục đầu tư phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng.

 Búng Bình Thiên huyện An Phú

Sản phẩm du lịch: du lịch tham quan hệ sinh thái ngập nước, cuộc sống của

đồng bào Chăm.

Định hướng:

+ Đầu tư cơ sở hạ tầng, trồng cây xanh, tập trung khai thác du lịch.

+ Mở rộng và nâng cấp tỉnh lộ 956 đi qua và nối liền cửa khẩu quốc gia

Khánh Bình (An Giang) - Chray Thum (Kandal - Campuchia).

+ Tiếp tục đầu tư và phát triển làng văn hóa Chăm đã sinh sống và định cư

lâu đời ở hai xã Nhơn Hội và Khánh Bình.

 Đồng Láng Linh huyện Châu Phú

Sản phẩm du lịch: du lịch tham quan hệ sinh thái đất ngập nước và cuộc sống

bình dị cùng các món ăn dẫn dã của người dân vùng sông nước.

Định hướng:

+ Tiến hành nghiên cứu các khu vực có tiềm năng hoạt động DLMNN.

+ Nâng cấp hệ thống giao thông hướng vào khu vực hoạt động du lịch.

+ Đa dạng hóa các sản phẩm du lịch trong mùa nước nổi, nhất là các món ăn

dân dã và sản phẩm du lịch đặc trưng như: đánh bắt cá, giăng câu, bắt chuột, đua

xuồng, hái bông điên điển,…

3.2. Các giải pháp chủ yếu để phát triển du lịch mùa nước nổi

3.2.1. Giải pháp về quy hoạch

Để cho hoạt động du lịch đạt hiểu quả cao về kinh tế thì vấn đề quy hoạch là

rất quan trọng, vì quy hoạch không thích hợp, không xứng tầm hoặc có sai sót sẽ

102

ảnh hưởng rất lớn đến các địa điểm du lịch, các dịch vụ du lịch và cả người dân

sống trong vùng du lịch.

Đối với loại hình DLMNN cần thực hiện các giải pháp sau:

- Quy hoạch phải tính đến hiệu quả kinh tế hôm nay và cả mai sau. Tránh vì

lợi ích trước mắt mà để lại những hậu quả nghiệm trọng, khó giải quyết cho địa

phương hoặc quốc gia.

- Quy hoạch phát triển DLMNN phải chú trọng đến bảo vệ môi trường môi

trường, đảm bảo hoạt động sản xuất và nâng cao đời sống của nhân dân của địa

phương.

3.2.2. Giải pháp về vốn

Để có nguồn vốn đầu tư cho các dự án phát triển DLMNN thì cần thiết phải

có những định hướng và chiến lược thu hút vốn từ các doanh nghiệp trong và ngoài

nước. Tuy nhiên, để làm được điều đó, để có được nguồn vốn thực hiện các dự án

thì nhà nước, địa phương cần tạo ra các điều kiện thuận lợi, an toàn để khuyến

khích các nhà đầu tư, mở rộng các hình thức đầu tư để tập trung được tất cả các

nguồn vốn:

- Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách của nhà nước.

- Vốn tự có của địa phương hoạt động du lịch trong mùa nước nổi.

- Vốn của các doanh nghiệp tham gia kinh doanh du lịch, khách sạn, nhà

hàng.

- Vốn vay từ các ngân hàng.

- Vốn đầu tư nước ngoài.

3.2.3. Giải pháp về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật

Hoạt động DLMNN đòi hỏi phải có hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất

kỹ thuật mang đặc điểm riêng, có thể khai thác trong mùa nước nổi, trong các hệ

sinh thái ngập nước. Hiện nay, nhìn chung ở các địa bàn có hoạt động DLMNN đều

là các vùng kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng còn rất hạn chế. Vì

thế, cần phải từng bước hoàn thiện về cở sở hạ tầng và vật chất kĩ thuật một cách

103

hợp lý để tăng khả năng tiếp cận với tài nguyên và khai thác chúng có hiệu quả.

Một số giải pháp cụ thể c ần thực hiện trong thời gian tới là:

- Đảm bảo hệ thống đường giao thông, nhất là đường bộ và đường sông đến

các địa điểm du lịch mùa nước nổi.

- Nâng cấp, cải tạo bến tàu bến xe, đảm bảo yêu cầu chất lượng phục vụ du

lịch. Cơ sở dịch vụ thông tin tư vấn du lịch, hướng dẫn, đại lý, cơ sở dịch vụ vận

chuyển khách du lịch phải được đảm bảo.

- Nâng cấp hệ thống nhà nghỉ, khách sạn, nhà hàng, đặc biệt đầu tư các cở sở

y tế trong các điểm DLMNN. Điều quan trọng là phải đảm bảo chất lượng để thỏa

mản nhu cầu của khách như: tiện nghi, phòng họp, hội thảo, phục vụ ăn nhanh,..

- Trang bị đầy đủ các phương tiện tham gia trong DLMNN như: áo phao,

xuồng, tắc ráng, túi đựng dụng cụ cá nhân,...

- Mở rộng đầu tư cho hoạt động Homestay, đầy đủ tiện nghi nhưng mang

đậm nét truyền thống Nam Bộ.

3.2.4. Giải pháp về sản phẩm

Du lịch ở An Giang nói riêng và nhiều tỉnh ở ĐBSCL có nhiều nét giống

nhau vì cùng là vùng hạ lưu sông Mê Kong, cùng chịu tác động của mùa lũ hàng

năm. Do đó, sản phẩm du lịch tương tự nhau và rất dễ trùng lắp.

Để đảm bảo phát triển du lịch lâu dài và tăng sức hút đối với du khách, sản

phẩm du lịch An Giang cần được đa dạng hóa và tổ chức khai thác hợp lý theo

hướng phát triển các sản phẩm du lịch mang rỏ nét đặc trưng của địa phương. Trên

cơ sở đó cần tập trung ưu tiên đầu tư, phát triển chúng thành hệ thống để tạo khả

năng cạnh tranh cao trong vùng:

- Tập trung theo thứ tự ưu tiên phát triển các sản phẩm DLMNN, các sản

phẩm đặc trưng phải được đầu tư xây dựng thương hiệu.

- Đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, để các sản phẩm du lịch không trùng lập

tranh gây sự nhàm chán đối với khách du lịch.

- Tập trung phát triển các sản phẩm du lịch thế mạnh của An Giang trong

mùa nước nổi là khai thác các hệ sinh thái vùng đất ngập nước còn mang vẻ đẹp

104

hoang sơ, bao gồm các đặc sản trong mùa nước nổi như: Cá linh là đặc sản rỏ nét

nhất cần được quan tâm và xây dựng thương hiệu để tạo nên sức cạnh tranh với các

sản phẩm khác khi khách đến với An Giang. Ngoài ra, hệ thống rừng tràm phong

phú đa dạng các chủng loại động vật cư trú, tìm hiểu đời sống bình dị hàng ngày

như giăng câu, thả lưới, đặt vó,...của người dân trong mùa nước nổi.

- Tạo ra sự liên kết giữa các dòng sản phẩm du lịch bên trong và bên ngoài

của các điểm du lịch mùa nước nổi. Góp phần tăng thêm thu nhập của cộng đồng

dân cư sống ven các điểm du lịch, tạo động lực thúc đẩy họ bảo vệ và phát huy

những giá trị của mùa nước nổi. Kết hợp khai thác các sản phẩm du lịch du lịch sinh

thái và du lịch văn hóa trên các tuyến và điểm du lịch khác trên địa bàn tỉnh và liên

kết với các địa phương khác. Luôn chú trọng đặt hoạt động DLMNN trong bối cảnh

chung của phát triển du lịch địa phương và trong mối quan hệ tương tác với các loại

hình du lịch khác.

3.2.5. Giải pháp về nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực luôn là vấn đề quan trọng trong hoạt động du lịch, do đó

việc nâng cao năng lực, trình độ, của các cán bộ, nhân viên trong ngành du lịch là

rất cần thiết. Nguồn nhân lực cho DLMNN ở An Giang còn khá nhiều hạn chế về

trình độ và số lượng, do đó cần chú trọng công tác đào tạo thông qua một số giải

pháp cụ thể sau:

- Nâng cao trình độ của cán bộ hoạt động trong DLMNN, nhất là hướng dẫn

viên du lịch. Đầu tư cho việc bồi dưỡng và đào tạo lại về cán bộ quản lý, về nghiệp

vụ chuyên môn, ngoại ngữ chuyên ngành.

- Đổi mới công tác quản lý và đào tạo nguồn nhân lực theo chuẩn chung của

quốc gia.

- Bồi dưỡng cơ bản cho các ngư dân tham gia vào hoạt động du lịch trong

mùa nước nổi như: Các ngư dân theo tour giăng câu, thả lưới, bơi thuyền,các đầu

bếp phục vụ các món đặc sản,... về kỹ năng cơ bản trong hoạt động du lịch đồng

thời giải thích cho du khách hiểu biết về các phương tiện đánh bắt cũng như các

món ăn, cách thức đánh bắt và cách chế biến,...

105

- Đào tạo cho các nhân viên du lịch phải am hiểu về tập tính và đặc điểm

hoạt động của các loài động vật hoang dã, hệ sinh thái, các loài thực vật hiên có

trong mùa nước nổi như: từng mùa có chim gì, cá gì ? thuộc sách đỏ không ? thời

gian sinh sản trong năm, mỗi lần sinh sản thế nào,....?

- Tăng cường hợp tác, trao đổi kinh nghiệm tổ chức hoạt động DLMNN với

các tỉnh bạn như: Đồng Tháp, Cần Thơ,...thông qua các chuyến công tác, hội thảo

khoa học.

3.2.6. Giải pháp về liên kết vùng

Chỉ phát triển du lịch trong phạm vi một tỉnh thì sức hấp dẫn và sự lan tỏa

trong du lịch là không cao. Liên kết vùng là vấn đề quan trọng và rất cần thiết cho

hoạt động các tất cả các loại hình du lịch. Đối với DLMNN, vấn đề liên kết vùng là

rất cần thiết và cần thực hiện các giải pháp sau:

- Tăng cường và hợp tác nhiều hơn nửa những vùng đã có trước đây như:

Đồng Tháp, Cần Thơ, Kiên giang.

- Tổ chức các sự kiện khoa học giữa các tỉnh có mùa nước nổi và các hệ sinh

thái mùa nước nổi góp phần tạo ra sự đa dạng cho các loại hình trong mùa nước nổi

và nâng cao hiệu quả hoạt động trong du lịch.

- Tiến hành hợp tác với các tỉnh bạn có mùa nước nổi khác như: Long An,

Tiền Giang, Vĩnh Long, để tạo nên sự liên kết đa dạng. Bên cạnh đó, liên kết hợp

tác với vương quốc Campuchia tạo ra sự hấp dẫn trong các tour mùa nước nổi.

3.2.7. Giải pháp về quảng bá du lịch

Vấn đề xúc tiến và quảng bá du lịch là chiến lược quan trọng trong phát triển

du lịch của nhiều quốc gia trên thế giới. Với An Giang, vai trò của việc quảng bá du

lịch là rất lớn, nhằm giới thiệu và cung cấp thông tin cho các thị trường khách du

lịch, thu hút ngày càng nhiều lượng khách đến với địa phương trong mùa nước nổi.

Trong hoạt động quảng bá cần chú ý các điểm sau:

- Quảng bá du lich phải được thực hiện một cách bài bản, có kế hoạch và

chiến lược cụ thể và phải thông qua nghiên cứu thị trường.

106

- Việc quảng bá cho loại hình DLMNN phải được thực hiện dưới quy mô

lớn, và đặt trọng tâm vào việc xây dựng thương hiệu du lịch. Lấy chiến lược sản

phẩm làm nội dung chính cho việc xây dựng chiến lược quảng bá. Nhằm giới thiệu

về các đặc trưng trong mùa nước nổi ở An Giang đến với khách du lịch. Tạo dựng

được hình ảnh chân thực, cung cấp thông tin đầy đủ làm nổi bật lên các giá trị trọng

tâm trong hoạt động DLMNN.

- Phối hợp hiệu quả trong và ngoài ngành để tiến hành quảng bá DLMNN

mang lại hiệu quả cao nhất.

- Phải mở rộng công nhận các sản phẩm du lịch trong mùa nước nổi.

- Quảng bá hình ảnh mùa nước nổi dưới nhiều hình thức như: Internet, truyền

thông, Tổ chức sự kiện, báo chí, tranh ảnh,...nhằm thu hút sự quan tâm của khách

du lịch.

- Quảng bá hình ảnh mùa nước nổi phải gắn liền với các tour, tuyến nội địa

và liên vùng để du khách trở thành một người quảng bá kế tiếp cho DLMNN.

3.2.8. Giải pháp về bảo vệ môi trường và sử dụng tài nguyên

Bảo vệ môi trường và sử dụng tài nguyên du lịch là vấn đề đặc biệt quan

trọng trong hoạt động du lịch. Đối với DLMNN thì vấn đề về môi trường và sử

dụng tài nguyên càng được quan tâm nhiều hơn, để hạn chế ảnh hưởng đến môi

trường sống của các loại sinh vật và của con người. Các biện pháp sau có thể áp

dụng cho loại hình du lịch này:

- Đẩy mạnh công tác tuyền truyền, nâng cao ý thức cho cộng đồng dân cư

nhất là các dân cư sống ven vùng nước nổi nhận thức tác hại của môi trường và ảnh

hưởng của nó. Góp phần tạo ra môi trường du lịch văn minh, hiện đại, bảo vệ các

cảnh quan trong mùa nước nổi, phòng chống các tệ nạn khai thác trái phép trong các

điểm du lịch.

- Khai thác tài nguyên phục vụ cho hoạt động DLMNN cần phải cẩn thận và

tính toán cụ thể trong tất cả các lĩnh vực có liên quan như ảnh hưởng đến các ngành

kinh tế khác.

- Tổ chức các khóa đào tạo môi trường cho các cán bộ trong DLMNN

107

- Giáo dục cho người dân địa phương và khách tham quan về ý thức trách

nhiệm về việc bảo vệ các loại động thực vật. Ý thức về cuộc sống hoang dã tự nhiên

tạo ra sự đa dạng sinh học, mỗi cá thể đều là một mắc xích liên kết quan trọng cho

tổng thể.

3.2.9. Giải pháp về tổ chức và quản lý

Cần tăng cường năng lực của các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch của

địa phương đủ mạnh để đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch mang lại nhiều lợi nhuận

cho hiện tại và tương lại. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách, luật pháp nhằm tạo

ra môi trường thông thoáng, tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp

hoạt động kinh doanh trong ngành du lịch.

Giải pháp về tổ chức và quản lý cần tập trung vào các nội dung sau:

- Hoàn thiện hệ thống thống kê du lịch. Theo dõi chặt chẽ số lượng khách du

lịch tham quan ở những điểm DLMNN, phân loại khách quốc tế, khách nội địa,

khách trong vùng nước nổi và ngoài vùng nước nổi, khách tham quan nghiên cứu.

- Tiến hành theo dõi, quản lý số chi tiêu của khách du lịch khi tham gia

DLMNN. Số lượng khách lưu trú và số ngày tham quan du lịch của du khách ở từng

điểm hoạt động DLMNN.

- Tổ chức nhiều hoạt động vui chơi giải trí mới trong các chương trình du

lịch mùa nước nổi nhằm thu hút và giữ chân khách được lâu.

- Tiến hành nghiên cứu sự phát triển của các loại động thực vật sống trong

các điểm hoạt động mùa nước nổi để có biện pháp quản lý và bảo vệ chúng một

cách đúng lúc và phù hợp tạo sự lâu dài.

- Phân định rỏ giữa chức năng quản lý và chức năng tổ chức. Thực hiện quản

lý theo quy hoạch của địa phương, của tỉnh.

- Tiến hành kiểm soát chất lượng hoạt động của DLMNN, để nhằm phát triển

du lịch lâu dài và có chính sách phù hợp.

108

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

1. Kết luận:

Thông qua việc nghiên cứu, phân tích tiềm năng và thực trạng phát triển

DLMNN ở tỉnh An Giang có thể đưa ra các kết luận sau:

An Giang là tỉnh có nhiều lợi thế về tài nguyên thiên nhiên như: địa hình, hệ

thống sông ngòi kênh gạch, khí hậu, hệ thống động thực vật đa dạng phong phú, hệ

thống các loại sinh vật sống trong vùng ngập nước mang vẻ hoang sơ rất thuận lợi

cho các loại hình du lịch sinh thái, nhất là DLMNN. Và cả về tài nguyên du lịch

nhân văn như: các di tích lịch sử văn hóa, làng nghề, chùa miếu, lễ hội, có các cửa

khẩu quốc gia thuận lợi cho việc hoạt động kinh tế giữa tỉnh nhà với các nước tiểu

vùng sông Me Kong và các nước Đông Nam Á khác. Điều đó sẽ thuận lợi cho việc

hình thành các tour, tuyến hoạt động du lịch trong tỉnh và với các tỉnh khác tạo nên

sự đa dạng cho loại hình du lịch trong tỉnh thu hút lượng khách đến với An Giang

ngày một tăng trong đó có DLMNN.

Cở sở hạ tầng vất chất kỹ thuật đang ngày được hoàn thiện với những chính

sách ưu đãi góp phần thuận lợi cho việc phát triển kinh tế và du lịch. Tuy nhiên, các

hệ thống vui chơi giải trí, dịch vụ du lịch, nhà hàng khách sạn đạt chuẩn còn quá ít

không đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách tham quan, nhất là đối với

các điểm hoạt động du lịch và DLMNN.

Hoạt động du lịch nói chung và DLMNN nói riêng, thu hút ngày càng đông

số lượng khách tham quan trong đó lượng khách quốc tế cũng tăng, thu hút được

nhiều nguồn vốn đầu tư góp phần khá quan trọng vào việc phát triển kinh tế xã hội

của tỉnh và của địa phương hoạt động vào mùa nước nổi. Tuy nhiên, DLMNN chưa

được quan tâm đúng mức và khai thác xứng với tiềm năng.

Việc quản lý và khai thác tài nguyên du lịch mùa nước nổi còn rất hạn chế,

nhiều khu vực tiềm năng chưa được nghiên cứu, việc thống kê về lượng du khách,

về doanh thu và ý kiến đóng góp của khách tham quan còn hạn chế.

109

Đầu tư cho việc quảng bá, tuyên truyền về loại hình DLMNN còn ít, chưa

thu hút được sự quan tâm của du khách, lực lượng lao động trong ngành còn yếu và

chưa được đào tạo chuyên nghiệp.

Các sản phẩm du lịch còn trùng lắp ở các điểm du lịch mùa nước nổi, chưa

tạo nên sự đặc trưng cho từng điểm và sự mới lạ trong hoạt động mùa nước.

2. Kiến nghị:

 Với Tổng cục Du lịch

Phối hợp với các ngành địa phương kiểm kê và đánh giá tài nguyên du lịch

để có thể tổ chức các loại hình du lịch hợp lý và đạt hiệu quả cho hiện tại và tương

lai.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền quảng cáo du lịch, nhất là các loại hình du

lịch sinh thái, DLMNN, về hình ảnh, sản phẩm du lịch đặc trưng đến với mọi người

trong nước và quốc tế.

Nâng cao năng lực quản lý trong các loại hình du lịch nói chung và đối với

DLMNN nói riêng.

 Với các bộ, ngành liên quan

Đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư ưu tiên xem xét các dự án quy hoạch đầu tư

phá triển DLMNN ở tỉnh.

Đề ghị Bộ Giao thông Vận tải và các doanh nghiệp vận chuyển xây dựng

nhiều tuyến vận tải chất cao phục vụ nhu cầu khách du lịch, DLMNN và người dân

địa phương.

Đề nghị Bộ Văn hóa Thông tin tuyền truyền quảng bá về loại hình du lịch

sinh thái, DLMNN, góp phần phát triển loại hình du lịch mới.

Đề nghị Bộ Tài nguyên Môi trường nghiên cứu, xây dựng các phương án giải

quyết sự cố môi trường trong các hệ sinh thái đất ngập nước.

Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tăng cường công tác giáo dục nâng cao nhận

thức về DLMNN, về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững du lịch.

110

 Kiến Nghị với chính quyền địa phương

Ban hành các chính sách, cơ chế thông thoáng để thu hút các thành phần kinh

tế tham gia đầu tư vào hoạt động du lịch. Tập trung ngân sách đầu tư cơ sở hạ tầng,

vật chất kỹ thuật vào ba điểm DLMNN tiêu biểu như: rừng tràm Trà Sư, Búng Bình

Thiên, Đồng Láng Linh.

Có chính ưu đãi về thế cho các nhà đầu tư vào các địa bàn tổ chức hoạt động

DLMNN.

Sử dụng nguồn lao động nông nhàn cho hoạt động DLMNN đạt hiệu quả và

đáp ứng đủ nhu cầu trong du lịch.

Quản lý tài nguyên và sử dụng tài nguyên du lịch một cách hiệu quả và mang

tính lâu dài.

Lấy ý kiến đóng góp của khách tham quan ở các điểm DLMNN để hoạt động

du lịch đạt hiệu quả hơn.

Phối hợp với các ban nghành có liên quan tiến hành ngiên cứu, kiểm tra đời

sống sinh hoạt của các loại động thực vật sống trong mùa nước nổi để có thể kịp

thời bảo vệ.

111

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Võ Thành An (chủ biên) (2010), Địa Lí Địa Phương An Giang, NXB GD, Bộ

GD – ĐT.

2. Lê Huy Bá (chủ biên) (2009), Du Lịch Sinh Thái, TP. HCM.

3. Cục Thống kê An Giang (2011), Niên giám thống kê 2010.

4. Nguyễn Hữu Hiệp (2011), An Giang Sông Nước Hữu Tình, NXB Lao Động.

5. Phan Văn Kiến (chủ biên) (2012), Lịch Sử Địa Phương An Giang, NXB GD, Sở

GD và Đào Tạo tỉnh An Giang.

6. Phạm Trung Lương (chủ biên) (2002), Du Lịch Sinh Thái Những Vấn Đề Lý

Luận Và Phát Triển ở Việt Nam, NXB GD.

7. Quyết định số 1382/QĐ-UBND về Ban hành Chương trình Phát triển nguồn

nhân lực tỉnh An Giang giai đoạn 2011-2015.

8. Sở VH TT và DL Tỉnh An Giang, Bản Đồ Du Lịch An Giang và các tuyến Du

Lịch.

9. Sở Văn Hóa Thông Tin An Giang. Di Tích Lịch Sử - Văn Hóa An Giang, năm

2001.

10. Bùi Đạt Trâm (1985), Đặc điểm thủy văn tỉnh An Giang, Ủy ban Khoa học - Kỹ

thuật xuất bản.

11. Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ (1988), Tổ Chức Lãnh Thổ Du Lịch, NXB GD,

Bộ GD – ĐT.

12. Tổng cục du lịch, Đề án phát triển du lịch đồng bằng sông Cửu Long đến năm

2020.

13. Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang (2007), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm

2006, An Giang.

14. Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang (2008), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm

2007, An Giang.

15. Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang (2009), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm

2008, An Giang.

112

16. Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang (2010), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm

2009, An Giang.

17. Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang (2011), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm

20010, An Giang.

18. Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang (2003), An Giang Triển Vọng Và Cơ Hội Đầu

Tư.

19. Bùi Thị Hải Yến (chủ biên) (2009), Tài Nguyên Du Lịch, NXB GD.

20. www.angiang.gov.vn

21. www.bungbinhthien.com

22. www.dulichvn.vn

23. www.metinfo.vn

1

PHỤ LỤC Phụ lục 1. Danh sách khách sạn trên địa bàn tỉnh An Giang năm 2012

TÊN

ĐỊA CHỈ - ĐIỆN THOẠI

STT

SỐ PHÒNG

SỐ GIƯỜNG

PHÂN LOẠI SAO

TP LONG XUYÊN

1 Khách sạn Đông Xuyên

3

58

109

09 - Lương Văn Cù, TP. Long Xuyên ĐT: 942260, 942267; Fax: 942268

2 Khách sạn Long Xuyên

1

37

67

3 Nhà khách Thắng Lợi

Chuẩn

26

44

4 Ks. Hòa Bình I

Chuẩn

13

20

5 KS. Hòa Bình II

2

39

75

6 NH-KS, CLB Khải Hoàn

Chưa

27

52

7 KS. Bình Dân II

1

21

42

8 KS. Thái Bình Dương

1

18

22

9 KS. Thái Bình 2

1

26

55

10 KS Thái Bình 3

1

18

26

11 KS Thái Bình 2

1

25

51

12 KS Phát Thành

Chưa

20

32

13 KS Thiên Hương

Chưa

12

12

14 KS Bình Dân

Chưa

12

14

15 KS An Long

1

53

95

16 KS Trường Giang

Chưa

10

14

17 KS Phương Đông

Chuẩn

17

32

18 NH-KS Bảo Giang I

2

24

33

19 KS Cây Bàng

Chưa

25

25

20 KS Thiên An

Chưa

10

10

21 KS Mỹ Lộc

Chuẩn

12

12

22 KS Mỹ Hương

1

25

28

23 KS Thanh Toàn

1

20

24

24 KS Thủy Tiên

19 - Nguyễn Văn Cưng, Long Xuyên ĐT: 841927, 841659 9 - Lê Hồng Phong, TPLX ĐT: 852561 Fax: 852568 130 - Trần Hưng Đạo, TPLX ĐT: 856168, 857225 Fax: 853035 Số 8, Lê Hồng Phong, Tp. Long Xuyên ĐT: 954955 - 954954 (Nhà hàng) Tổ 8 khóm Thạnh An, P.Mỹ Quý, LX ĐT: 835863; 931090; Fax: 835319 25-26-27, Lý Thái Tổ, Tp. Long Xuyên ĐT: 942030 146/7AB, Trần Hưng Đạo, Tp LX ĐT: 841056, 840799 Fax: 840650 1/36, Trần Hưng Đạo, Mỹ Thạnh, LX TL 943, khóm Tây Khánh 6, P. Mỹ Hòa ĐT:921838 4-Nguyễn Huệ A, Tp Long Xuyên ĐT: 841859, 846451 2-Lý Tự Trọng, P.Mỹ Long, LX ĐT: 841708 4 - Lý Tự Trọng, P. Mỹ Long, LX ĐT: 843152 12-Lý Tự Trọng, P. Mỹ Long, LX ĐT: 847657 281A - Trần Hưng Đạo, TPLX ĐT: 843298, Fax: 847845 Tổ 51-Tô Hiến Thành, P. Mỹ Phước ĐT: 847207 96/6E-Trần Hưng Đạo, P. Mỹ Phước ĐT: 843838 Tổ 29 khóm Trung Thạnh, P. Mỹ Thới, Lx ĐT: 833179 Fax: 833033 Khóm Bình Đức 5, P Bình Đức, Lx ĐT: 853862 29-Hàm nghi, P. Bình Khánh, Lx ĐT: 859294 702/31Triệu Quang Phục, Mỹ Lộc, MP ĐT: 834268 QL 91, khóm Bình Đức 1,P Bình Đức, LX ĐT: 956879, 250122, 0913141696 59/8 - Đông Thạnh, P. Mỹ Thạnh, LX ĐT: 831270 209-211-Lý Thái Tổ, P. Mỹ Long, LX

1

16

21

2

25 KS Hoàng Kim

1

28

37

26 KS Kim Anh

2

30

36

27 KS Kim Phát

2

26

51

28 KS Sông Hồng

1

11

22

29 KS Liên Hoa

1

21

24

30 KS Thiên Thanh

1

19

25

31 KS Ngọc Giang

1

21

31

32 KS Gió Sông

1

42

98

33 KS Xuân Hương

2

27

33

34 KS 333

1

11

11

35 KS Hồng Anh

Chưa

18

21

36 KS Phượng Hoàng

Chuẩn

29

29

37 KS An Bình

Chưa

11

14

38 KS 999

Chưa

8

8

39 KS Thái Dương

Chưa

24

48

40 KS Thanh Phong

Chưa

15

18

41 KS Phú Gia

Chưa

21

34

ĐT: 849077 Fax: 849078 132/2-Trần Hưng Đạo, Đông Thịnh 5 P. Mỹ Phước, TPLX - ĐT: 841520 Đường Thi Sách, khóm 6, P. Mỹ Long, LX ĐT: 847616, 952551 Fax: 847616 311/2C-Trần Hưng Đạo, P. Mỹ Long, LX ĐT: 840333 Fax: 847052 31/2A Trần Hưng Đạo, Mỹ Xuyên, LX ĐT:844006 7/40 Trần Hưng Đạo, P. Mỹ Thạnh, LX ĐT: 832909 280, Trần Hưng Đạo, Mỹ Xuyên, LX ĐT: 943891 173/1, Nguyễn Thái Học, Tp. LX ĐT: 956979 Fax: 956779 472/24, Quản Cơ Thành, Lx ĐT: 953049 18/3A, Trần Hưng Đạo, Tp. Long Xuyên ĐT: 956139,859551, 853612 20/4, Lê Văn Nhung, Tp. Long Xuyên ĐT: 859292 Thửa 97, QL91, Bình Đức 5, P.BĐức, LX ĐT: 858979 60/11 QL91, Phường Mỹ Thạnh, LX ĐT:832997 số, Eo Bis Đinh Công Tráng, P.BKhánh, LX ĐT:852523 E9, Dự Định 7, Phường Mỹ Phước, LX ĐT:840455 12,13 Lý Thái Tổ, P.Mỹ Long, ĐT: 945890,212049 J15, Hùng Vương nối dài, P.Mỹ Phước ĐT: 849999 283-284, Trần Hưng Đạo, P. Mỹ Xuyên 843882

THỊ XÃ CHÂU ĐỐC

1 KS Victoria - Hàng Châu

4

93

167

2 KS Hàng Châu II

1

14

25

3 KS. P Vĩ + N. Lan

2

32

59

32-Lê Lợi - TX CĐ ĐT: 865010 Fax: 865020 10 - Nguyễn Văn Thoại, TXCĐ ĐT: 868891 Fax: 865140 QL 91, xã Vĩnh Tế, Châu Đốc ĐT: 861745, 861746, 861747

4 Khách sạn Hoa Cau I

2

22

50

5 Khách sạn Hoa Cau II, III

16

chuẩn

128

2

26

34

6 KS-NH Song Sao

1

26

45

7 KS Thuận Lợi

2

38

60

8 KS Châu Phố

34

74

9 KS Ngọc Phú

Chuẩn

12-13 Nguyễn Hữu Cảnh, Phường A, CĐ ĐT: 866766, Fax: 076 868820 18 - Trần Hưng Đạo, Phường A, CĐ ĐT: 866134 Châu Thới 2, P.Châu phú B, CĐ 564139, Fax: 562669, 0918134031 17- Đốc Phủ Thu, phường A, CĐ ĐT: 868666

3

10 KS Tài Ngân

1

10

16

11 KS Mini Tài Lợi

1

14

28

12 KS Hoàn Châu

Chuẩn

12

20

13 KS Lâm Hưng Ký

1

28

56

14 KS Trung Nguyễn

Chuẩn

15

19

15 KS-NH An Thạnh Hưng

Chuẩn

20

47

16 KS Long Châu

Chưa

27

56

17 KS Hoàng Tuyên

1

30

60

11-Nguyễn Hữu Cảnh, CĐ ĐT: 866435, 865190 Tổ 13-Trưng Nữ Vương (nối dài), Phường B, TXCĐ - ĐT: 560956 333C Thủ Khoa Huân, phường B, CĐ ĐT: 866069 Trưng Nữ Vương nối dài, P. B, CĐ ĐT: 561564, 561981 Fax: 561991 86 Bạch Đằng, khóm 5, P. A, CĐ ĐT: 866158, 561561 Fax: 868674 Đường Công Binh, P Châu Phú A, CĐ ĐT: 862999 Fax: 862888 Khóm 8, P.Châu Phú A, CĐ ĐT: 861249 QL 91, P. Châu phú B, TXCĐ ĐT: 563555, 561888

18 KS Trung Tiến

QL 91, P. Núi Sam, TXCĐ

Chuẩn

12

18

19 KS-NH S.F.O

Chuẩn

17

27

20 KS Ngọc Gia Trang

Chưa

13

20

21 KS Hoàng Mai

Chưa

25

40

22 KS Kỷ An

Chưa

24

35

23 KS Đông Nam

2

44

82

QL91, Khóm Vĩnh Đông I, P. Núi Sam, CĐ ĐT: 0913.970.034 345, Thủ Khoa Huân, P.Châu Phú, CĐ ĐT:868899 Đường số 5, khóm Vĩnh Đông 1, P.Núi Sam ĐT.571279, 0907555909 8/20 QL 91, K.Châu Long, Xã Vĩnh Mỹ ĐT: 866972 Quốc lộ 91, khóm 8, Long Châu A ĐT: 569100

HUYỆN TÂN CHÂU

1 KS Ngân Châu

Chuẩn

20

24

513A Nguyễn Chánh Sắt - H. Tân Châu ĐT: 823259

HUYỆN CHỢ MỚI

1 KS. Huệ Chi

1

43

47

2 KS Mini Kim Phụng

Chưa

ấp Mỹ An, xã Mỹ An, H. Chợ Mới ĐT: 623055, 883174 Ấp thị 1, thị trấn Chợ Mới, Chợ Mới ĐT: 883788

16

17

Ấp Mỹ Trung, Xã Mỹ An, Chợ Mới

Chưa

12

12

3 KS Đan Hồ

HUYỆN CHÂU THÀNH

KS Huỳnh Anh

Chưa

17

21

Hoà Long 3, TTrấn An Châu, CThành ĐT: 651262

1

HUYỆN CHÂU PHÚ

1 KS-NH Hạt Mưa

37/3, ấp Khánh An 1, xã Khánh Hòa ĐT: 673092

HUYỆN TỊNH BIỆN

Chuẩn

8

16

Nhà nghỉ Lâm viên - Núi Cấm

1

73/. KS-NH Núi Cấm

2

Lâm viên - Núi Cấm, H. Tịnh Biên ĐT: 760125, Fax: 760229 Tổ 1, ấp An Hòa, xã An Hảo DT: 0907.236.462

Nguồn : sở kế hoạch và đầu tư tỉnh An Giang

4

Phụ lục 2. Nhiệt độ và lượng mưa các tháng trong năm 2010 ở An Giang

Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12

26,3 27,1 28,7 30,0 30,4 28,6 27,5 27,8 27,9 27,1 26,7 26,3 Nhiệt độ (0C)

Lượng

mưa 6,4 0 5,5 0,9 76,4 151,4 302,3 245,3 217,3 384,6 199,7 148,8

(mm)

Nguồn Niên giám thống kê An Giang 2010

Phụ lục 3. Danh sách quán ăn tại TP. Long Xuyên

STT Tên Quán ăn Địa chỉ

Hoa Viên Ca Dao 151/1 Trần Hưng Đạo, P.Mỹ Phước 1

Quán ăn Đồng Giao Phạm Cự Lượng, P.Mỹ Quí. 2

Quán ăn Đồng Quê Khu chợ Mỹ Thới 3

Quán ăn Hồng Phát 242/3 Lương Văn Cù, P.Mỹ Long 4

Quán ăn Việt Phong II 181/1B Đông Thịnh 5, P.Mỹ Phước 5

Quán ăn Tre Xanh 126/33 Trần Hưng Đạo, P.Bình Khánh 6

Quán ăn Bửu Lộc 243/3 Lương Văn Cù, P.Mỹ Long 7

Quán ăn Hai Thuế 245/3 Lương Văn Cù, P.Mỹ Long 8

5

Đường vào rừng tràm Phụ lục 4. hình ảnh về RTTS Cổng vào rừng tràm

Đài quan sát rừng tràm Hình ảnh từ trên cao

Câu cá và lán trại ăn uống ở RTTS

(Nguồn:Tác giả, 2012)

6

Phụ lục 5. hình ảnh về Búng Bình Thiên

Cuộc sống của đồng bào Chăm ở BBT

Hoạt động đánh bắt cá ở Bùng Bình Thiên

Nguồn: www.bungbinhthien.com

7

Phụ lục 6. Hình ảnh về Đồng Láng Linh

Du khách bắt cá

Phương tiện và dụng cụ bắt cá

(Nguồn: Tác giả, 2012)

Nguồn: www.metinfo.vn