BÀI THAM LUẬN HỘI THẢO KHOA HỌC
Tiêu đề bài viết: Phát triển nguồn nhân lực cho kinh tế số Việt Nam
trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Cách mạng công nghiệp lần th(CMCN 4.0) đã làm thay đổi mọi mặt
của đời sống kinh tế - xã hội. Đi cùng với nó, các lĩnh vực mới của đời sống đã ra
đời và phát triển mạnh mẽ. Trong đó, kinh tế số đang là một trong những lĩnh vực
phát triển mạnh mẽ nhất được hầu hết các quốc gia trên thế giới theo đuổi.
Đối với Việt Nam, ngày 27/9/2019 BChính trị đã ban hành Nghị quyết số
52-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng
công nghiệp lần thứ tư. Nghị quyết đã xác định mục tiêu tổng quát: “Tận dụng có
hiệu quả các hội do cuộc Cách mạng công nghiệp lần thđem lại để thúc
đẩy quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, cấu lại nền kinh tế gắn với thực
hiện các đột phá chiến lược và hiện đại hoá đất nước; phát triển mạnh mẽ kinh tế
số; phát triển nhanh và bền vững dựa trên khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo
nhân lực chất lượng cao; nâng cao chất lượng cuộc sống, phúc lợi của người
dân; bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường sinh thái” [1].
Như vậy, Đảng Nhà nước ta đã khẳng định tầm quan trọng của phát triển
kinh tế số và đề ta những mục tiêu cụ thể. Để đạt được những mục tiêu cụ thể đó,
việc phát triển nguồn nhân lực đáp ứng sphát triển của kinh tế slà mt yêu cầu
bắt buộc đối với Việt Nam hiện nay.
1. Tổng quan về kinh tế số và nhân lực số
1.1. Kinh tế số và phát triển kinh tế số
* Kinh tế số
nhiều quan niệm khác nhau về kinh tế số. Thuật ngữ “Kinh tế số” lần
đầu tiên được đề cập ở Nhật Bản giữa thời kỳ suy thoái của Nhật Bản những năm
1990. Đến năm 1995, Don Tapscott đặt tên cho cuốn sách của mình với tự đề
“Kinh tế kỹ thuật số: Hứa hẹn và hiểm họa trong k nguyên của trí thông minh
mạng”. Đây một trong những cuốn sách đầu tiên xem xét Internet sthay đổi
cách thức kinh doanh như thế nào. Năm 2001, Thomas Mesenbourg đưa ra ba
thành phần chính của khái niệm “Kinh tế số”: Kết cấu hạ tầng kinh doanh điện tử,
kinh doanh điện tử, thương mi điện tử.
Theo ch hiểu phbiến nhất hiện nay, kinh tế số bộ phận của nền kinh
tế dựa trên ng nghệ số nền tảng số, với các hoạt động kinh tế về/và bằng ng
nghệ svà nền tảng số, đặc biệt là các giao dịch điện ttiến hành trên Internet.
Theo đó, kinh tế số gồm:
- Kinh tế số lõi, kinh tế số ICT bao gồm công nghiệp công nghệ thông tin,
điện tử, viễn thông, chế tạo phần cứng, dịch vụ thông tin, phần mm vấn
công nghệ thông tin - truyền thông, công nghệ Internet kết nối vạn vật, xử dữ
liệu lớn, điện toán đám mây...
2
- Kinh tế sphạm vi hẹp, kinh tế sInternet bổ sung thêm vào kinh tế số lõi
các hoạt động kinh tế mới dựa trên mạng Internet, các nền tảng số, dịch vụ số, bao
gồm một bphận của kinh tế chia sẻ (Sharing economy), kinh tế gắn kết lỏng
(Gig economy), như thương mại điện tử, thanh toán điện tử, gọi xe công nghệ,
kinh tế dữ liệu, kinh tế thuật toán (Algorithmic economy).
- Kinh tế số ngành, lĩnh vực bao gồm những bộ phận, đơn vị, doanh nghiệp
thuộc c ngành, lĩnh vực kinh tế truyền thống hoạt động sản xuất, kinh doanh
dựa trên nền tảng ng nghệ số, sử dụng mạng internet, công nghệ điện tử, viễn
thông và công nghệ thông tin để tạo ra những mô hình kinh doanh mới, tăng năng
suất lao động và để tối ưu các hoạt động kinh tế.
Phát triển kinh tế số sgia tăng về số lượng, giá trị, tỷ trọng, tốc đ
sự ng cao về chất lượng của các chủ thể, các hoạt động kinh tế dựa trên công
nghệ số nền tảng số trong nền kinh tế; bao gồm gia tăng quy mô, giá trị, t
trọng, tốc độ của kinh tế số ICT (công nghiệp công nghệ thông tin, viễn thông,
điện tử, chế tạo phần cứng, phần mềm, điện toán đám mây, dữ liệu lớn...), kinh tế
số Internet (thương mại điện tử, thanh toán điện tử, gọi xe công nghệ, kinh tế thuật
toán...), kinh tế số ngành, lĩnh vực (công nghiệp thông minh, nông nghiệp thông
minh, vận tải thông minh,...) vào GDP. Để phát triển kinh tế số cần phải gia tăng
mức độ đổi mi chuyển đổi số, áp dụng công nghệ số, áp dụng hình kinh
doanh mới trong doanh nghiệp, tổ chức; gia tăng mức đphát triển của nhân tố,
điều kiện cho phát triển kinh tế số; nâng cao chất lượng của thể chế, chất lượng
nền hành chính cho phát triển kinh tế số; gia tăng mức độ tiếp cận công nghệ số,
phương tiện số, sử dụng dịch vụ số của người dân.
Khác với kinh tế truyền thống, kinh tế số gồm các yếu tố cấu thành nổi bật
là: Thị trường số; Tài nguyên thông tin số, dữ liệu số; Dịch vụ số; Thị trường tiêu
dùng dịch vụ số; Thể chế cho nền kinh tế số; Hạ tầng số; Nhân lực số; Doang
nghiệp số.
Trong những yếu tcấu thành đó, nhân lực số giữ vị trí vai trò hết sức quan
trọng, có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của kinh tế số.
1.2. Nhân lực số và phát triển nguồn nhân lực số
* Nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực luôn được xem một yếu tố tạo nên sự thành công của
mọi tổ chức, quốc gia. Đây nguồn lực quan trọng nhất, quyết định năng suất,
chất lượng, hiệu quả sử dụng các nguồn lực khác trong hệ thống các nguồn lực.
nhiều khái niệm khác nhau vnguồn nhân lực y theo khía cạnh xem
xét. Tuy nhiên, tựu trung lại, các khái niệm này đều thống nhất nội dung cơ bản:
nguồn nhân lực nguồn cung cấp sức lao động cho hội. Con người với cách
là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất giữ vị trí hàng đầu, là nguồn lực cơ bản và
nguồn lực tận của sự phát triển không thể chỉ được xem xét đơn thuần góc
độ số lượng hay chất lượng mà sự tổng hợp của cả số lượng chất lượng;
3
không chỉ bộ phận dân số trong độ tuổi lao động mà là các thế hệ con người với
những tiềm năng, sức mạnh trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội.
Vì vậy, hiểu một cách chung nhất, nguồn nhân lực là tổng thể số lượng và
chất lượng con người với tổng hòa các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm
chất đạo đức - tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người hội đã,
đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ
hội [2].
Phát triển nguồn nhân lực theo Nilsson, Wallo, Rönnqvist Davidson
(HRD – Human Resource Development) là một thuật ngữ chung để chỉ việc phát
triển con người trong cuộc sống làm việc của họ thông qua các hoạt động và quy
trình. Per-Erik Ellström định nghĩa HRD “sự sắp xếp được thực hiện để cải
thiện sự phát triển năng lực của các cá nhân và nhóm trong công việc hàng ngày
của họ”. Hirosata và Kitamura nhấn mạnh tầm quan trọng của hệ thống phát triển
năng lực với trọng tâm chính giáo dục mô tả cải cách hệ thống giáo dục
quản lý giáo dục là quan trọng đối với phát triển năng lực.
Theo Báo cáo Phát triển Con người của UNDP (2011) chứng minh rằng
việc trao quyền cho mọi người tích hợp công bằng vào c chương trình
chính sách sẽ thay đổi các lĩnh vực chính trị và pháp lý [2].
* Nhân lực số và phát triển nguồn nhân lực số
Nhân lực số lực lượng lao động k năng, trình độ tương tác với
nhau trong môi trường số. Lực lượng này tác nghiệp có tính chuyên môn sâu,
thể kết nối tạm thời hình thành các tổ chức ảo để thực hiện các nhiệm vụ chuyên
môn, thậm chí một cá thể thực hiện nhiều nhiệm vụ trong cùng một thời điểm.
Phát triển nguồn nhân lực cho kinh tế số là thuật ngữ chỉ việc phát triển đội
ngũ nhân lực số cả về số lượng và chất lượng. Phát triển về mặt số lượng sgia
tăng số lượng nhân lực số làm việc trong các lĩnh vực của kinh tế số. Về mặt chất
lượng hoạt động giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng, tay nghề, trình độ của
đội ngũ nhân lực số đó.
Nhân lực số đóng vai trò cùng quan trọng trong phát triển kinh tế số. Với
sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, nhân lực số không chỉ là tài nguyên
quan trọng mà còn là trụ cột xây dựng nền kinh tế số.
Vai trò của nhân lực số trong phát triển kinh tế số là cung cấp sự hiểu biết,
k năng và khả năng ứng dụng công nghệ svào các lĩnh vực kinh doanh. Nhân
lực số có khả năng tư duy sáng tạo, phân tích dữ liệu và ứng dụng các công nghệ
mới nhằm tối ưu hóa quy trình tạo ra giá tr kinh tế. Đây là nguồn lực trực tiếp
tham gia vào mọi hoạt động thực hành chuyển đổi, ứng dụng công nghệ chuyển
đổi cũng nhóm nhận được lợi ích từ chuyển đổi số. Chúng ta thực hiện
chuyển đổi số lên một đơn vị bằng cách thay đổi cấu trúc và quy trình làm việc,
nhưng thực tế yếu tố con người mới là thứ cần thay đổi. Khi những cá nhân làm
việc trong tổ chức được chuyển đổi thành nhân lực số thì sự thay đổi cấu trúc và
quy trình sẽ diễn ra một cách tự nhiên. Do đó lực lượng lao động và tính chuyển
4
đổi của nhóm y chìa khóa cho bất kỳ sự thay đổi nào được kích hoạt bởi
công nghệ, do đó chuyển đổi số quá trình chuyển đổi nhân lực số, đây quá
trình thay đổi con người, hoặc tạo điều kiện cho con người thay đổi (chuyển đổi
chủ động hoặc bị động), quá trình y phải diễn ra trước khi triển khai chuyển
đổi số duy trì theo sự chuyển đổi số bền vững. Kinh nghiệm tại Nhật Bản
Thái Lan cho thấy, để chuyển đổi số hiệu quả và bền vững, trước hết phải đào tạo
được một lực lượng lao động số sau đó mới tiến hành chuyển đổi.
Một trong những vai trò quan trọng của nhân lực số thiết kế, triển khai
quản các hệ thống công nghệ thông tin mạng. Họ đảm bảo rằng các hệ
thống này hoạt động ổn định, bảo mật hiệu quả. Nhân lực số cũng trách
nhiệm nghiên cứu áp dụng các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, IoT
blockchain vào các lĩnh vực kinh tế.
Ngoài ra, nhân lực số cũng chịu trách nhiệm về phân tích quản dữ
liệu. Với khối lượng dữ liệu ngày càng lớn và phức tạp, nhân lực số có khả năng
thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu để đưa ra thông tin quan trọng và hỗ trợ quyết
định kinh doanh. Họ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh
thông tin và bảo vệ quyền riêng tư trong môi trường kỹ thuật số.
Nhân lực số cũng góp phần vào việc tạo ra môi trường khởi nghiệp và khả
năng sáng tạo. Những người có kiến thức và k năng k thuật số có thể thúc đẩy
sự đổi mới, phát triển các ứng dụng mới khởi nghiệp trong c nh vực kinh
tế. Họ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra các sản phẩm dịch vụ
công nghệ mới, tăng cường sự cạnh tranh đưa đất nước tiến vào cuộc cách
mạng công nghiệp 4.0.
Tóm lại, nhân lực svai trò quan trọng không thể thiếu trong phát
triển kinh tế số. H đảm bảo sự tiếp cận và sử dụng hiệu quả công nghệ số, tạo ra
giá trị kinh tế và thúc đẩy sphát triển bền vững. Để đạt được mục tiêu này, cần
sự đầu mạnh mẽ vào đào tạo phát triển nhân lực số, làm nền tảng cho
chuyển đổi số.
2. Thực trạng, giải pháp phát triển nguồn nhân lực cho kinh tế số
Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế
2.1. Thực trạng nguồn nhân lực số hiện nay
* Thành tựu
Theo khảo sát của Bộ Thông tin và Truyền thông (TT&TT) năm 2021, tổng
số trường đại học đào tạo CNTT, điện tử, viễn thông trên cả nước giai đoạn
2020-2021 là 242 cơ sở và tỷ lệ thực tế tuyển sinh đại học về CNTT, điện tử, viễn
thông an toàn thông tin chiếm 84%. Nhân lực CNTT năm 2020 đạt 1.030.000
lao động [3].
Nhân lực chất lượng cao của Việt Nam đã không ngừng tăng n cả về số
lượng và chất lượng, một số ngành nghề, lĩnh vực đạt trình độ khu vực và quốc tế
như: y tế, cơ khí, ng nghệ, xây dựng. Theo xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn
cầu (GCI 4.0 - Global Competitiveness Index) năm 2019, năng lực cạnh tranh toàn
5
cầu của Việt Nam vtrí 67/141 quốc gia trên thế giới, vị trí 7/9 quốc gia ASEAN.
So với 2018, Việt Nam đã tăng 3,5 điểm tổng th(từ 58 điểm lên 61,5 điểm), cao
n điểm trung bình toàn cầu (60,7 điểm) và tăng 10 bậc (từ vị trí 77n vị trí 67).
Việt Namquốc gia có điểm số và thứ hạng tăng nhiều nhất trên bảng xếp
hạng GCI 4.0 2019. Sự thăng hạng này cho thấy năng lực cạnh tranh toàn cầu 4.0
của Việt Nam đã được đánh gcải thiện vượt trội so với những lần đánh giá
trước đó. Nhân lực chất lượng cao của Việt Nam tăng cả về số lượng chất
lượng, một số ngành nghề, lĩnh vực đạt trình độ khu vực và quốc tế; chsố phát
triển con người (Human Development Index - HDI) của Việt Nam được xếp hạng
vị trí 110/189 quốc gia được xếp hạng đứng thứ nhì trong khu vực Đông Nam
Á, chỉ sau chỉ số HDI của Singaprore.
Kinh tế số đã tạo ra không gian phát triển mới, mở ra cơ hội cho Việt Nam
phát triển đột phá, nhanh chóng bắt kịp các nước phát triển mới bắt đầu quá trình
chuyển đổi số (CĐS). Theo thống của Cục Thương mại điện t(TMĐT)
Kinh tế số (Bộ Công Thương), kinh tế số Việt Nam trong 10 năm qua đã phát
triển không ngừng về cả nền tảng hạ tầng lẫn thị trường kinh doanh. Tăng trưởng
GDP của Việt Nam năm 2019 đạt kết quả ấn tượng với tốc độ tăng 7,02%.
Năm 2020 mặc dù tăng trưởng GDP chỉ đạt 2,91%, nhưng Việt Nam vẫn
được đánh giá là một trong số ít quốc gia trên thế giới tăng trưởng kinh tế dương
và thuộc nhóm mức tăng trưởng cao nhất thế giới năm 2020 trong bối cảnh tác
động của đại dịch COVID-19. Tổ chức xếp hạng tín nhiệm (XHTN) S&P Global
Ratings (“S&P”) đánh gvề việc giữ nguyên hsố tín nhiệm quốc gia của Việt
Nam, nâng triển vọng từ n định lên tích cực. Việt Nam là quốc gia duy nhất trên
thế giới được cả ba tổ chức xếp hạng tín nhiệm gồm Moody’s, S&P và Fitch đồng
loạt nâng triển vọng lên tích cực.
Nhờ những nỗ lực khởi động chương trình S quốc gia, quy kinh tế
số của Việt Nam đạt 21 tỷ USD (năm 2021), đóng góp hơn 5% GDP và đứng thứ
hai ASEAN về tốc độ tăng trưởng kinh tế số (sau Indonesia). Việt Nam hiện
một trong top 20 nước có số người sử dụng Internet cao nhất thế giới, tỷ lệ người
sử dụng Internet đạt 68,7%, trong khi đó trung bình của thế giới là 51,4%.
Bên cạnh đó, TMĐT Việt Nam cũng đã những bước tăng trưởng phát
triển mạnh mẽ. Theo Bộ Công Thương, doanh số TMĐT bán lẻ B2C (Business to
Customer - từ doanh nghiệp (DN) tới khách hàng) năm 2019 đạt 10,08 tỷ USD,
chiếm 4,9% tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng cả nước.
Tỷ lệ người tham gia mua sắm trực tuyến so sánh trên dân số đạt 42%. m
2020, tốc độ tăng trưởng TMĐT của Việt Nam đạt khoảng 18% với quy mô
khoảng 11,8 tỷ USD, điều này đóng vai trò quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế
cũng như tương lai nền kinh tế số Việt Nam trong bối cảnh bình thường mới.
Năm 2021, TMĐT ngày càng trở thành công cụ hữu ích để c DN vượt
qua khó khăn và nắm bắt hội do nhu cầu mới trên thị trường tạo ra. Người tiêu
dùng trong nước đang chuyển mạnh từ phương thức mua sắm trực tiếp truyền