1
MỞ ĐẦU
Trong thời đại ngày nay “mở cửa”, “hội nhập” với thế giới để phát triển
kinh tế đang là chiến lược của nhiều quốc gia. Bí quyết thành công của các nước
đó nhận thức được mối quan hệ hữu giữa phát triển kinh tế trong nước
mở rộng quan hệ kinh tế với bên ngoài.
Đối với Việt Nam từ khi tiến hành cuộc đổi mới đến nay, kinh tế đt nước
sự phát triển vượt bậc, đời sống vật chất, tinh thần nhân dân được nâng cao,
bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Để có được những thành
tựu đó, sự đóng góp cùng quan trọng của hoạt động kinh tế đối ngoại,
trong đó sự phát triển của thương mại quốc tế làm nền tảng. Để nghiên cứu sâu
hơn, hiểu rõ hơn bản thân đi nghiên cứu sự phát triển thương mại quốc tế Việt
Nam hiện nay. Do đó tôi lựa chọn vấn đề: “Phát triển thương mại quốc tế ở Việt
Nam hiện nay. Thực trạng giải pháp” làm chủ đviết tiểu luận môn Quan hệ
kinh tế quốc tế của mình.
Bài tiểu luận tập trung nghiên cứu thương mại quốc tế Việt Nam trọng
tâm xuất nhập khẩu hàng hóa, trên sở đó đánh giá thực trạng, đề ra biện
pháp bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam hiện nay cho hoạt động xuất nhập
khẩu nói riêng phát triển thương mại quốc tế nói chung. Qua đó, góp phần
y dựng, củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước
về các chiến lược, kế hoạch chương trình phát triển thương mại quốc tế
nước ta hiện nay.
2
NỘI DUNG
CHƯƠNG I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
1. Hot động thương mại quc tế và vai trò của nó trong nền kinh
tế quốc n
1.1. Khái niệm thương mại quốc tế
Năm 1621 Anh một tác giả chủ nghĩa trọng thương Thomas Mun đã nói
“thương mại một hòn đá thử vàng với sự phồn thịnh của một quốc gia
“không phép lạ nào dkiếm tiền trthương mại”. Chủ nghĩa trọng thương
cho rằng “thương mại quốc tế là sự trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia mà trong
trao đổi phải có bên thua và bên kia được”.
Ban đầu, thương mại quốc tế được hiểu theo nghĩa hẹp, là hoạt động buôn
bán, trao đổi hàng hóa hữu hình giữa các nước nhằm mục đích mang lại lợi ích
hoạt động buôn bán, trao đổi trong nước không hoặc không bằng. Cùng
với sự phát triển của quan hệ kinh tế quốc tế, đặc biệt là trong những thập kỉ gần
đây, thương mại quốc tế ngày càng được coi trọng và được hiểu theo nghĩa rộng
hơn, không chỉ buôn bán hàng hóa hu hình còn bao gồm cả các hoạt
động mua bán, trao đổi hàng hóa hình, dịch vụ hay đầu mục đích sinh
lợi... nhiều tác giả khác định nghĩa thương mại quốc tế sự mở rộng hoạt
động mua bán, trao đổi hàng hvượt ra khỏi phạm vi biên giới của một quốc
gia, hay i cách khác thương mại quốc tế sự mở rộng của thương mại trong
nước trên phạm vi quốc tế.
Theo ủy ban của Liên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL),
thương mại quốc tế được hiểu theo nghĩa rất rộng, bao gồm các hoạt động kinh
doanh trên thị trường quốc tế, theo đó bao gồm c hoạt động thương mại đầu
quốc tế, từ mua bán hàng hóa hữu nh đến các dịch vụ như bảo hiểm, tài
chính, tín dụng, chuyển giao công nghệ, thông tin, vận tải, du lịch...
Theo khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005, hoạt động
thương mại hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa,
cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại các hoạt động nhằm mục đích
3
sinh lợi khác. Như vậy, nếu tiếp cận theo khái niệm y, thương mại quốc tế
cũng sẽ được hiểu với nghĩa rất rộng. Theo nghĩa đó, thương mại quốc tế là hoạt
động thương mại yếu nước ngoài (hay hot động thương mại vượt ra
khỏi biên giới quốc gia hoặc lãnh thổ hải quan) sẽ bao gồm cmua bán hàng
hóa, cung ứng dịch vụ giữa các nước, hoạt động đầu quốc tế, xúc tiến thương
mại quốc tế và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.
Mặc nhiều khái niệm khác nhau vthương mại quốc tế, tuy nhiên,
thể hiểu: Thương mại quốc tế là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa các quốc
gia thông qua hành vi mua bán. Sự trao đổi đó một hình thức của mối quan
hệ hội phản ánh s phụ thuộc vkinh tế giữa các nhà sản xuất hàng h
riêng biệt của các nước.
nhiều cách tiếp cận về c loại hình thương mại quốc tế. Trước đây,
khi nói về thương mại quốc tế, dưới góc độ quốc gia, người ta thường phân
thành hai luồng hàng hóa: xuất khẩu nhập khẩu. Tuy nhiên, trong điều kiện
thương mại hiện đại, xuất hiện những hình thức thương mại quốc tế mới như:
xuất khẩu tại chỗ, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập...; đặc biệt còn xuất hiện
thương mại về dịch vụ. Nên cách phân loại về hình thức thương mại quốc tế này
trở nên kém phù họp.
Trong khuôn khổ bài tiểu luận này, bản thân tiếp cận thương mại quốc tế
với loại hình: Thương mại quốc tế về hàng hóa, tập trung vào nội dung xuất,
nhập khẩu hàng hóa (kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá).
Thương mại quốc tế vhàng hóa bao gồm: Thương mi quốc tế về hàng
hóa hữu hình và thương mại quốc tế về hàng hóa vô hình. Trong đó, thương mại
quốc tế về hàng hóa hữu hình bao gồm tất cả các hoạt động thương mại quốc tế
liên quan đến hàng hóa nhìn thấy được, đo đếm được, từ máy móc thiết bị, đến
nông sản, thực phẩm, nguyên, nhiên, vật liệu... Thương mại quốc tế về hàng hóa
hình bao gồm thương mại quốc tế liên quan đến các hàng hóa không nhìn
thấy được như phát minh, sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp,
quyn tác giả, độc quyn nhãn hiệu...
4
Hàng hóa thế được cung ng ra thị trường quốc tế thông qua các
phương thức sau:
Xuất, nhập khẩu hàng hóa:
Xuất khẩu là hoạt động đưa hàng hóá được sản xuất ở trong nước ra nước
ngoài tiêu thụ. Nhập khẩu là quá trình đưa hàng hóa được sản xuất ở nước ngoài
vào trong nước tiêu thụ.
Trong hoạt động xuất khẩu, thể bao gồm cả hoạt động xuất khẩu tại
chỗ. trường họp xuất khẩu tại chỗ, hàng a có thể chưa vượt ra ngoài biên
giới quốc gia nhưng ý nghĩa kinh tế của nó tương tự như hoạt động xuất khẩu.
dụ, việc cung cấp hàng hóa cho c khu ngoại giao đoàn, khách du lịch quốc tế...
Gia công quốc tế:
Hoạt động y bao gồm cả hoạt động gia công thuê cho nước ngoài (Việt
Nam hiện hay thực hiện hình thức này đối với mặt hàng dệt may da giầy) và
thuê nước ngoài gia công (trên thế giới hiện nay, các nước công nghiệp phát
triển thường thuê các nước đang phát triển gia công thuê các hàng hóa cho minh
và trả cho họ một khoản phí gia công, phí gia công chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ trong
quá trình sinh lời của sản phẩm).
Tái xuất khẩu và chuyển khẩu:
Trong hoạt động tái xuất khẩu: hàng hóa được nhập khẩu tạm thời từ thị
trường nước ngoài vào, sau đó lại tiến hành xuất khẩu sang một nước thứ ba với
điều kiện hàng hóa đó không qua gia công, chế biến.
Trong hoạt đng chuyển khẩu: không hành vi mua bán hàng hóa, mà
đây thực hiện các dịch vụ như vận tải quá cảnh, lưu kho, lưu bãi hàng hóa...
Kinh doanh việc thực hiện một, một số hay tất ccác công đoạn của
quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hay thực hiện một dịch vụ
trên thtrường nhằm thu li nhuận. Kinh doanh xuất nhập khẩu nội dung
bản của kinh doanh thương mại quốc tế.
Như vậy kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá việc đầu công sức,
tiền của thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ nhằm thu lợi
5
nhuận. Kinh doanh xuất nhập khẩu, hàng hoá được thực hiện theo quy luật cung
cầu thị trường, người mua người bán hay người xut khẩu người nhập
khẩu gặp nhau trên thị trường quốc tế để thoả thuận v gcả số lượng chất
lượng của hàng hoá, dịch vụ.
1.2. Đặc trưng của hoạt động thương mại quốc tế
Thương mại quốc tế có ba đặc trưng cơ bản sau:
Kinh doanh thương mại quốc tế được thực hiện bởi người mua người
bán quốc tịch khác nhau, các nước khác nhau, hàng hoá được di chuyển
vượt qua phạm vi biên giới của một quốc gia. Với đặc trưng y thì phân biệt
giữa kinh doanh thương mại quốc tế với kinh doanh thương mại trong nước. Đối
với kinh doanh thương mại trong nước, dòng lưu chuyển của dòng hàng hoá bị
giới hạn trong phạm vi biên giới của một nước.
Dòng tiền thanh toán trong kinh doanh thương mại quốc tế thể đồng
tiền một trong các nước (nhiều hơn hai nước) tham gia vào hoạt đng xuất nhập
khẩu cũng thể một đồng tiền của nước khác. Sử dụng đồng tiền nào
trong thanh toán hợp đồng xuất nhập khẩu phụ thuộc vào sự thoả thuận giữa các
bên tham gia hợp đồng. Đồng tiền được sử dụng thường các đồng tiền mạnh
có sức mua lớn trên thị trường thế giới.
Kinh doanh thương mại quốc tế chịu ảnh ởng của nhiều yếu tố phức
tạp liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau, quốc tịch giữa c chủ thể tham gia
vào hoạt động thương mại quốc tế như: ngôn ngữ, tôn giáo, pháp luật, n
hoá... , s khác nhau về ngôn ngữ đòi hỏi phải ngôn ngữ thống nhất được
c bên cùng hiểu, cùng chấp nhận đồng thời các bên cũng cần thothuận rõ
vcác quy phạm pháp luật áp dụng trong kết, thực hiện và giải quyết tranh
chấp trong hợp đồng.
1.3. Vai trò của hoạt động thương mi quốc tế
Như đã trình bày trên, thương mại quốc tế sự trao đổi hàng hgiữa
các ớc thông qua hành vi mua bán. Đây hình thức trao đổi tích cực vừa
biểu hin mối quan hệ hội vừa phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế