BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

---o0o---

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

PHÒNG NGỪA RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂNNÔNG THÔN VIỆT NAM

CHI NHÁNH LÁNG HẠ

SINH VIÊN THỰC HIỆN

: PHẠM ĐỨC HUẤN

MÃ SINH VIÊN

: A16308

CHUYÊN NGÀNH

: NGÂN HÀNG

HÀ NỘI – 2014

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

---o0o---

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

PHÒNG NGỪA RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂNNÔNG THÔN VIỆT NAM

CHI NHÁNH LÁNG HẠ

Giáo viên hƣớng dẫn

: Ths. Trần Thị Thùy Linh

Sinh viên thực hiện

: Phạm Đức Huấn

Mã sinh viên

: A16308

Chuyên ngành

: Ngân hàng

HÀ NỘI – 2014

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn và chỉ bảo nhiệt tình của cô giáoTrần Thị Thuỳ Linh, trong suốt thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp. Bên cạnh

đó, em xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể các thầy cô trong Khoa Kinh tế Quản lý -

trường Đại học Thăng Long cũng như Ban lãnh đạo nhà trường đã tạo những điều kiện

tốt nhất để em có thể hoàn thành bài khóa luận này.

Em cũng xin chân thành cảm ơn các anh, chị tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát

triển nông thôn Việt Nam nói chung và các anh chị tại Phòng Tín dụng của ngân hàng

nói riêng đã tận tình giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện bài khóa luận này.

Do còn nhiều hạn chế về kiến thức cũng như những kinh nghiệm thực tiễn nên

bài khóa luận khó có thể tránh khỏi những sai sót, em rất mong nhận được sự đóng

góp, chỉ bảo của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên để bài khóa luận được hoàn

thiện hơn.

Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên

Phạm Đức Huấn

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có

sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu

của người khác. Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có

nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng.

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!

Sinh viên

PHẠM ĐỨC HUẤN

MỤC LỤC

CHƢƠNG 1. PHÒNG NGỪA RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG

THƢƠNG MẠI .............................................................................................................. 1

1.1. Rủi ro tín dụng của ngân hàng thƣơng mại ................................................... 1

1.1.1. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng ....................................................... 1

1.1.2. Một số dấu hiệu cơ bản để nhận biết rủi ro tín dụng ................................ 6

1.1.3. Hậu quả của rủi ro tín dụng .................................................................... 12

1.2. Phòng ngừa rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng thƣơng mại 13

1.2.1. Khái niệm phòng ngừa rủi ro tín dụng .................................................... 13

1.2.2. Vai trò của công tác phòng ngừa rủi ro tín dụng .................................... 14

1.2.3. Nội dung phòng ngừa rủi ro tín dụng...................................................... 15

1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác phòng ngừa rủi ro tín dụng ....... 17

CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH

NHNO&PTNT LÁNG HẠ ......................................................................................... 20

2.1. Sơ lƣợc về tình hình hoạt động và phát triển của Chi nhánh NHNo &

PTNT Láng Hạ......................................................................................................... 20

2.1.1. Giới thiệu khái quát về Chi nhánh NHNo & PTNT Láng Hạ ............... 20

2.1.2. Khái quát tình hình hoạt động của Chi nhánh ....................................... 22

2.2. Thực trạng rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNT Chi nhánh Láng Hạ. ......... 28

2.2.1. Thực trạng nợ quá hạn. ............................................................................ 28

2.2.2. Thực trạng nợ xấu .................................................................................... 31

2.3. Thực trạng phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và

Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Láng Hạ ............................................ 34

2.3.1. Mô hình phòng ngừa rủi ro tín dụng ....................................................... 34

2.3.2. Cơ chế và chính sách tín dụng đối với khách hàng ................................ 34

2.3.3. Quy trình nghiệp vụ tín dụng ................................................................... 35

2.3.4. Hệ thống chấm điểm và xếp hạng khách hàng ....................................... 36

2.3.5. Kiểm tra, kiểm soát tín dụng..................................................................... 38

2.3.6. Thông tin phòng ngừa rủi ro tín dụng ..................................................... 39

2.3.7. Phương thức cho vay và cơ chế tín dụng nông nghiệp - nông thôn ...... 42

2.3.8. Trích lập dự phòng rủi ro và xử lý rủi ro tín dụng ................................. 43

2.4. Đánh giá thực trạng phòng ngừa và xử lý rủi ro tín dụng trong Chi nhánh

NHNo & PTNT Láng Hạ trong thời gian qua ...................................................... 45

CHƢƠNG 3. CÁC GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM PHÒNG NGỪA VÀ

HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH NHNO&PTNT LÁNG HẠ . 51

3.1. Định hƣớng về phòng ngừa rủi ro tín dụng của Chi nhánh NHNo&PTNT

Láng Hạ. ................................................................................................................... 51

3.2. Một số giải pháp nhằm phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Chi nhánh NHNo & PTNT Láng Hạ .................................................................................................... 52

3.2.1. Giải pháp hoàn thiện công tác phân tích đánh giá khách hàng ............ 52

3.2.2. Kiểm tra chặt chẽ quy trình phát tiền vay, sử dụng vốn vay. .................. 53

3.2.3. Giải pháp nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ tín dụng ........................... 54

3.2.4. Các giải pháp phân tán rủi ro .................................................................. 56

3.2.5. Tổ chức phân tích tín dụng theo định kỳ ................................................. 57

3.2.6. Cần có biện pháp phát hiện và xử lý kịp thời đối với các khoản nợ quá

hạn .................................................................................................................... 57

3.2.7. Cần thay đổi quan điểm: Thế chấp là sự đảm bảo vững chắc cho khoản

tiền vay mà phải là hiệu quả sử dụng vốn vay của khách hàng ........................ 59

3.2.8. Tăng cường công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ ...................................... 59

3.2.9. Kiểm tra chỉ đạo điều hành hoạt động tín dụng của Giám đốc và Ban

lãnh đạo ................................................................................................................. 60

3.2.10. Trích lập dự phòng và xử lý rủi ro đúng qui định .................................. 60

3.2.11. Áp dụng lãi suất thỏa thuận. .................................................................... 61

3.2.12. Một số kiến nghị ........................................................................................ 61

DANH MỤC VIẾT TẮT

CBTD

: Cán bộ tín dụng

CIC

: Trung tâm thông tin tín dụng

CIH

: Trung tâm điều hành

DNNN

: Doanh nghiệp nhà nước

DPC

: Dự phòng chung

DPCT

: Dự phòng cụ thể

HĐQT

: Hội đồng quản trị

HSX CN

: Hộ sản xuất cá nhân

NHNN

: Ngân hàng Nhà nước

NHNNo&PTNT VN

: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam

RRTD

: Rủi ro tín dụng

TCTD

: Tổ chức tín dụng

XLRR

: Xử lý rủi ro

CBTD

: Cán bộ tín dụng

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ, CÔNG THỨC

Bảng 2.1: Kết quả huy động vốn ................................................................................... 23

Bảng 2.2: Kết quả cho vay của chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ ............................. 25

Bảng 2.3: Doanh số một số dịch vụ của chi nhánh ....................................................... 27

Bảng 2.4: Kết quả hoạt động kinh doanh NHNNo& PTNT Láng Hạ .......................... 28

Bảng 2.5: Nợ quá hạn phân theo nhóm nợ .................................................................... 29

Bảng 2.6: Nợ quá hạn phân theo ngành kinh tế ............................................................ 30

Bảng 2.7: Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ .................................................................. 31

Bảng 2.8:Tỷ trọng nợ xấu trên tổng dư nợ .................................................................... 31

Bảng 2.9:Tỷ trọng nợ xấu phân theo từng nhóm nợ...................................................... 32

Bảng 2.10:Tình hình nợ xấu trên nợ quá hạn tại NHNNo&PTNT VN Chi nhánh Láng Hạ.. 33

Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức ........................................................................................... 21

Sơ đồ 2.2Hệ thống thông tin rủi ro tín dụng .................................................................. 41

CHƢƠNG 1. PHÒNG NGỪA RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG

THƢƠNG MẠI

1.1. Rủi ro tín dụng của ngân hàng thƣơng mại

Hoạt động kinh doanh của ngân hàng rất đặc biệt và nhạy cảm, đóng vai trò trung

gian, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế và cũng chịu khá nhiều

ảnh hưởng bởi những yếu tố khách quan và chủ quan. Ngoài ra ngân hàng thường có đặc điểm là có hệ số nợ cao, do đó trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng tiềm ẩn

khá nhiều rủi ro, nhất là rủi ro tín dụng.

Có nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro tín dụng, tuy nhiên, trong khuôn khổ đề

tài có thể định nghĩa rủi ro tín dụng là rủi ro về sự tổn thất tài chính (trực tiếp hoặc

gián tiếp) xuất phát từ việc người đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn

theo cam kết hoặc mất khả năng thanh toán. Điều này có ý nghĩa là rủi ro tín dụng phát

sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ gốc, lãi hoặc cả gốc lẫn lãi

của khoản vay; hoặc việc thanh toán khoản vay của khách hàng không đúng kỳ hạn.

Trong tài liệu “ Công nghệ ngân hàng dành cho các nước đang phát triển”, rủi ro

tín dụng được định nghĩa là thiệt hại kinh tế của ngân hàng do một khách hàng hoặc

một nhóm khách hàng không hoàn trả được nợ vay ngân hàng.

Theo Thomas P.Fitch thì rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người vay không

thanh toán được nợ theo thoả thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ, rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay ngân hàng.

Còn theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN, “Rủi ro tín

dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt

động ngân hàng của TCTD khi khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng

thưc hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.”

Như vậy, việc khách hàng không trả hoặc trả không đầy đủ các khoản nợ vay sẽ

làm giảm thu nhập của ngân hàng, không những thế ngân hàng vừa phải trả tiền gốc và lãi khi huy động cho vay vừa phải mất chi phí để huy động nguồn khác bù đắp. Chưa

kể ngân hàng cũng phải trích lập dự phòng rủi ro tín dụng khi khách hàng không trả nợ đúng hạn, điều này cũng làm tăng chi phí cho ngân hàng. Nói chung, rủi ro tín dụng lúc nào cũng gây cho ngân hàng nhiều tổn thất về mặt tài chính.

1.1.1. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng

A. Rủi ro tín dụng do nguyên nhân khách quan

 Rủi ro do môi trường kinh tế không ổn định:

 Sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường thế giới

1

Nền kinh tế Việt Nam còn lệ thuộc quá nhiều vào sản xuất nông nghiệp và công nghiệp phục vụ nông nghiệp (nuôi trồng, chế biến thực phẩm và nguyên liệu…) vốn

rất nhạy cảm với rủi ro thời tiết và giá cả thế giới nên dễ bị tổn thương khi thị trường

thế giới biến động xấu.

 Rủi ro tất yếu của quá trình tự do hoá tài chính, hội nhập quốc tế

Quá trình tự do hoá tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm cho nợ xấu gia tăng

khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các doanh nghiệp, những

khách hàng thường xuyên của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật

chọn lọc khắc nghiệt của thị trường. Bên cạnh đó, bản thân sự cạnh tranh của các NHTM trong nước và quốc tế trong môi trường hội nhập kinh tế cũng khiến cho các

ngân hàng trong nước với hệ thống quản lý yếu kém gặp phải nguy cơ rủi ro nợ xấu

tăng lên bởi hầu hết các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn sẽ bị ngân hàng nước

ngoài thu hút.

 Sự tấn công của hàng nhập lậu

Việt Nam với hàng trăm km biên giới trên bộ và trên biển cùng địa hình phức tạp

và tình hình đời sống nghèo khó của dân cư vùng biên giới, cuộc chiến buôn lậu đã

kéo dài dai dẳng từ nhiều năm nay mà kết quả là hàng lậu vẫn tràn lan tại các thành

phố lớn, làm điêu đứng các doanh nghiệp trong nước và các ngân hàng đầu tư vốn cho

các doanh nghiệp này. Các mặt hàng kim khí điện máy, gạch men, vải vóc, quần áo,

mỹ phẩm, thiết bị điện tử,.. là những ví dụ tiêu biểu cho tình hình buôn lậu ở nước ta.

 Thiếu sự quy hoạch, phân bổ đầu tư một cách hợp lý đã dẫn đến khủng

hoảng về đầu tư trong một số ngành

Nền kinh tế thị trường tất yếu sẽ dẫn đến cạnh tranh, các nhà kinh doanh sẽ tìm

kiếm ngành nào có lợi nhất để đầu tư và rời bỏ những ngành không đem lại lợi nhuận cho họ. Do đó, sự chuyển dịch vốn từ ngành này qua ngành khác là một hiện tượng

khách quan. Tuy nhiên, ở nước ta những nằm gần đây, sự cạnh tranh đã phát triển một

cách tự phát, hoàn toàn không đi kèm với sự quy hoạch hợp lý, phân công lao động, chuyên môn hoá lao động, sự bất lực trong vai trò của hiệp hội nghề nghiệp và sự điều

tiết vĩ mô của Nhà Nước. Điều này dẫn đến sự gia tăng quá nhiều vốn đầu tư vào một

số ngành, dẫn đến khủng hoảng thừa, lãng phí nguồn tài nguyên quốc gia.

 Rủi ro do môi trường pháp lý chưa thuận lợi

 Sự kém hiệu quả của cơ quan pháp luật cấp địa phương

Trong những năm qua, Chính phủ, Quốc hội và Ngân hàng Nhà nước đã ban

hành nhiều luật, văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành luật liên quan đến hoạt động tín dụng của ngân hàng. Tuy nhiên, luật và các văn bản đã có song việc triển khai vào

2

hoạt động ngân hàng lại hết sức chậm chạp và còn nhiều vướng mắc bất cập như một số văn bản cưỡng chế thu hồi nợ. Những văn bản này đều có quy định: Trong trường

hợp khách hàng không trả được nợ, NHTM có quyền xử lý tài sản đảm bảo nợ vay.

Trên thực tế, các NHTM không làm được điều này vì ngân hàng là một tổ chức kinh

tế, không phải là cơ quan quyền lực nhà nước, không có chức năng cưỡng chế buộc

khách hàng bàn giao tài sản đảm bảo cho ngân hàng để xử lý hoặc chuyển tài sản đảm bảo nợ vay để Toà án xứ lý qua con đường tố tụng…cùng nhiều các quy định khác dẫn

đến tình trạng NHTM không thể giải quyết được nợ tồn đọng và tài sản tồn đọng.

 Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của NHNN

Bên cạnh những cố gắng và kết quả đạt được, hoạt động thanh tra ngân hàng và

đảm bảo an toàn hệ thống chưa có những sự cải thiện căn bản về chất lượng. Thanh tra

tại chỗ vẫn là phương pháp chủ yếu, khả năng kiểm soát toàn bộ thị trường tiền tệ và

giám sát rủi ro còn yếu. Thanh tra ngân hàng còn hoạt động một cách thụ động theo

kiểu xử lý vụ việc đã phát sinh, ít có khả năng ngăn chặn và phòng ngừa rủi ro vi phạm. Mô hình tổ chức của thanh tra ngân hàng còn nhiều bất cập. Do vậy mà có

những sai phạm của các NHTM không được thanh tra NHNN cảnh báo, có biện pháp

ngăn chặn từ đầu, để đến khi hậu quả nặng nề đã xảy ra rồi mới can thiệp.

 Hệ thống thông tin quản lý còn bất cập

Hiện nay, Việt Nam chưa có một cơ chế công bố thông tin đầy đủ về doanh

nghiệp và ngân hàng. Trung tâm thông tin tín dụng (CIC) của NHNN đã hoạt động

hơn một thập niên và đã đạt được những kết quả bước đầu rất đáng khích lệ trong việc

cung cấp thông tin kịp thời về tình hình hoạt động tín dụng nhưng chưa phải là cơ

quan định mức tín nhiệm doanh nghiệp một cách độc lập và hiệu quả. Đó cũng là

thách thức cho hệ thống ngân hàng trong việc mở rộng và kiểm soát tín dụng cho nền

kinh tế trong điều kiện thiếu một hệ thống thông tin tương xứng. Nếu các ngân hàng cố

chạy theo thành tích, mở rộng tín dụng trong điều kiện môi trường thông tin không

cân xứng thì sẽ gia tăng nguy cơ nợ xấu cho hệ thống ngân hàng.

B. Rủi ro tín dụng do nguyên nhân chủ quan

 Rủi ro do các nguyên nhân từ phía khách hàng vay là tổ chức:

 Sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ vay: Đa số các doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng đều có các phương án kinh doanh

cụ thể, khả thi. Số lượng doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích, cố ý lừa đảo ngân hàng để chiếm đoạt tài sản không nhiều. Tuy nhiên, khi vụ việc

phát sinh lại hết sức nặng nề, liên quan đến uy tín của các cán bộ, làm ảnh hưởng xấu đến các doanh nghiệp khác.

3

 Khả năng quản lý kinh doanh kém: Khi các doanh nghiệp vay tiền ngân hàng để mở rộng quy mô kinh doanh, đa phần là tập trung vốn đầu tư vào

tài sản vật chất chứ ít doanh nghiệp nào mạnh dạn đổi mới cung cách quản

lý, đầu tư cho bộ máy giám sát kinh doanh, tài chính, kế toán theo đúng

chuẩn mực. Quy mô kinh doanh phình ra quá to so với tư duy quản lý là nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của các phương án kinh doanh đầy khả thi

mà lẽ ra nó phải thành công trên thực tế.

 Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch: Thói quen ghi chép đầy đủ, chính xác, rõ ràng các sổ sách kế toán vẫn chưa được các doanh nghiệp tuân thủ nghiêm chỉnh và trung thực. Do vậy, sổ sách kế toán mà các doanh nghiệp cung cấp cho ngân hàng nhiều khi chỉ mang tính chất hình thức hơn là thực tế. Đây cũng là nguyên nhân vì sao mà ngân hàng vẫn

luôn xem nặng phần tài sản thế chấp như là chỗ dựa cuối cùng để phòng

chống rủi ro tín dụng. Chính điều này đã gây tác động lớn và ảnh hưởng

làm hạn chế đến khả năng cung ứng và tiếp cận nguồn vốn của các NHTM.

 Rủi ro do các nguyên nhân đến từ khách hàng vay là cá nhân:

Mặc dù quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng là cá nhân đơn giản hơn nhiều so

với các doanh nghiệp, song trên thực tế, số lượng khách hàng cá nhân lại rất lớn, phân

tán trong khi giá trị các món vay lại nhỏ nên việc tìm hiểu nguyên nhân từ phía khách

hàng này có ý nghĩa hết sức quan trọng.

Với khách hàng là cá nhân, nguyên nhân rủi ro có thể là:

 Hoạt đông kinh doanh không thuận lợi, gặp khó khăn, khả năng quản lý yếu

kém.

 Nguồn hoàn trả chính từ thu nhập cơ bản bị mất hoặc suy giảm do mất việc,

chuyển sang công việc kém hơn hoặc không còn khả năng lao động….

 Cá nhân gặp những chuyện bất thường trong cuộc sống, vì vậy họ phải sử

dụng một số tiền lớn ảnh hưởng tới khả năng hoàn trả nợ ngân hàng.

 Đạo đức cá nhân không tốt; cố tình lừa đảo ngân hàng, sử dụng tiền vay bừa

bãi…

 Rủi ro do các nguyên nhân đến từ phía ngân hàng cho vay

 Lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ các ngân hàng

Kiểm tra nội bộ có điểm mạnh hơn thanh tra NHNN ở tính thời gian vì nó nhanh

chóng, kịp thời ngay khi vừa phát sinh vẫn đề và tính sâu sát của người kiểm tra viên, do việc kiểm tra thường xuyên cùng với công việc kinh doanh. Nhưng trong thời gian trước đây, công việc kiểm tra nội bộ của các ngân hàng hầu như chỉ tồn tại trên hình 4

thức, bố máy, con người và cơ cấu chưa phù hợp… Kiểm tra nội bộ cần phải được xem như một hệ thống “thắng” của cỗ xe tín dụng. Cỗ xe càng lao đi với vận tốc lớn

thì hệ thống này càng phải an toàn, hiệu quả thì mới tránh được cho cỗ xe khỏi đi vào

những ngã rẻ rủi ro vốn luôn luôn tồn tại thường trực trên con đường đi tới.

 Bố trí cán bộ thiếu đạo đức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ

Một số vụ án kinh tế lớn trong thời gian qua có những liên quan nhiều đến cán bộ

NHTM, đều có sự tiếp tay của một số cán bộ ngân hàng cũng với khách hàng làm giả

hồ sơ vay, hay nâng giá tài sản thế chấp, cầm cố lên quá cao so với thực tế để rút tiền

ngân hàng.

Đạo đức cán bộ là một trong những yếu tố tối quan trọng để giải quyết vẫn đề

hạn chế rủi ro tín dụng. Một cán bộ kém về năng lực có thể bồi dưỡng thêm, nhưng

một cán bộ tha hoá về đạo đức dù có giỏi về mặt nghiệp vụ thì thật vô cùng nguy hiểm

khi được bố trí trong công tác tín dụng.

 Thiếu giám sát và quản lý sau khi cho vay

Các ngân hàng thường có thói quen tập trung nhiều công sức cho việc thẩm định

trước khi cho vay mà lơi lỏng quá trình kiểm tra, kiếm soát đồng vốn sau khi cho vay.

Khi ngân hàng cho vay thì khoản vay cần phải được quản lý một cách chủ động để

đảm bảo sẽ được hoàn trả đúng hạn. Theo dõi nợ là một trong những trách nhiệm quan

trọng nhất của cán bộ tín dụng nói riếng và ngân hàng nói chung. Việc theo dõi hoạt

động của khách hàng vay nhằm tuân thủ các điều khoản hợp đồng tín dụng giữa khách

hàng và ngân hàng nhằm tìm ra những cơ hội kinh doanh mới và mở rộng cơ hội kinh

doanh. Điều này một phần do yếu tố tâm lý ngại gây phiền hà cho khách hàng của cán

bộ ngân hàng, một phần do hệ thống thông tin quản lý phục vụ kinh doanh tại các

doanh nghiệp quá lạc hậu, không cung cấp được kịp thời, đẩy đủ các thông tin mà

NHTM yêu cầu.

 Sự hợp tác giữa các ngân hàng thương mại quá lỏng lẻo, vai trò của thông

tin tín dụng chưa thực sự hiệu quả

Kinh doanh ngân hàng là một nghề đặc biệt huy động vốn để cho vay hay nói

cach khác là đi vay để cho vay, do vây, vấn đề rủi ro trong hoạt động tín dụng là không

thể tránh khỏi, các ngân hàng cần phải hợp tác chặt chẽ với nhau nhằm hạn chế rủi ro. Sự hợp tác này sinh ra do nhu cầu quản lý rủi ro đối với khách hàng khi khách hàng này vay tiền tại nhiều ngân hàng. Trong quản trị tài chính khi khách hàng, khả năng trả nợ một khách hàng là một con số cụ thể, có giới hạn của nó. Nếu do sự thiếu trao đổi thông tin, dẫn đến việc nhiều ngân hàng cùng cho vay một khách hàng đến mức vượt quá giới hạn tối đa này thì rủi ro chia đều cho tất cả chứ không chừa một ngân hàng

nào.

5

Như vậy, rủi ro tín dụng có thể phát sinh do rất nhiều nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan. Các biện pháp phòng chống rủi ro có thể nằm trong tầm tay của các

NHTM nhưng cũng có những biện pháp vượt ngoài khả năng của riêng từng ngân

hàng, liên quan đến vấn đề nội tại của bản thân nền kinh tế nhất là các nền kinh tế

đang trong quá trình chuyển đổi.

1.1.2. Một số dấu hiệu cơ bản để nhận biết rủi ro tín dụng

Hoạt động ngân hàng nói chung và rủi ro tín dụng nói riêng luôn tiềm ẩn những

rủi ro tiềm tàng có thể bùng phát bất kỳ khi nào, việc chuẩn hóa và đưa ra những đánh

giá để nhận biết dấu hiệu rủi ro tín dụng của các NHTM luôn là một bài toán cần phải

có lời giải đáp. Quan điểm của Ủy ban Basel cho rằng sự yếu kém trong hệ thống ngân

hàng của một quốc gia, dù là quốc gia phát triển hay đang phát triển đều có thể đe dọa

đến sự ổn định về mặt tài chính trong cả nội bộ quốc gia và trên thị trường quốc tế.

Nhu cầu cần nâng cao sức mạnh của hệ thống tài chính đòi hỏi bản thân các NHTM

phải đưa ra những giải pháp để phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng trong đó có việc

nhận biết phát hiện sớm những rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động tín dụng luôn đóng một

vai trò tiên quyết.

A. Phát hiện sớm các dấu hiệu:

Đối với một ngân hàng không chỉ là vấn đề làm sao để quản lý tốt mà còn là việc

sẽ đối mặt với những vấn đề về cấp tín dụng trong một số giai đoạn như thế nào.

Các khoản tín dụng và nợ có vấn đề sẽ gia tăng khi khách hàng vay không thể

thực hiện đầy đủ những điều khoản đã cam kết hoặc thường xuyên xảy ra việc những

người vay thiếu trách nhiệm, cố ý không trả nợ, vi phạm nghiêm trọng kỷ luật tài

chính.

Kiểm soát hiệu quả các khoản tín dụng có vấn đề phụ thuộc vào hai yếu tố cơ bản

sau:

 Phát hiện sớm vấn đề

 Ngay lập tức tiến hành điều chỉnh thực hiện dung

Hầu hết các sai phạm được phát hiện sớm nhờ vào những dấu hiệu báo trước.

Các dấu hiệu báo trước thông thường có những biểu hiện sau:

 Nhóm dấu hiệu báo trước từ rủi ro về ngành nghề kinh doanh – đặc điểm phân

tích ngành nghề kinh doanh:

 Lượng hàng bán trước đây và lợi nhuận;

 Độ bền (nghĩa là sẽ kéo dài được bao lâu?);

 Chính sách của Chính phủ;

6

 Các điều kiện lao động;

 Các điều kiện cạnh tranh;

 Chu kỳ của ngành nghề kinh doanh;

 Nhóm dấu hiệu báo trước từ rủi ro trong kinh doanh (rủi ro về cơ cấu chiến

lược và hoạt động)

 Kế hoạch chiến lược và sự không đồng nhất trong việc lập kế hoạch;

 Việc mua và bán với quy mô lớn;

 Cơ cấu lại qui mô lớn, mở rộng hay thu hẹp công ty;

 Sụt giá cổ phiếu trên thị trường;

 Những thay đổi trong nhu cầu thị trường, cổ phiếu bị ảnh hưởng bởi công

nghệ hay các qui chế hoặc việc bỏ qui chế;

 Giới thiệu hay hủy bỏ sản phẩm và dịch vụ chính;

Không có sự phân biệt về sản phẩm có cơ cấu chi phí cao;

 Chất lượng sản phẩm giảm;

 Những điều chỉnh quan trọng của luật pháp ảnh hưởng tới tính cạnh tranh;

 Việc giao hàng không hiệu quả;

 Hệ thống phân phối không hiệu quả trong điều kiện thị trường biến động;

 Sự thay đổi của giá đầu vào, giá hàng bán và cầu bán hàng;

 Khả năng điều chỉnh giá đầu ra theo những thay đổi giá đầu vào;

 Đòn bẩy hoạt động (tỷ lệ chi phí cố định)

 Nhóm dấu hiệu báo trước thông qua thông tin tài chính:

 Kiểm soát tài chính yếu kém và không thống nhất trong báo cáo

 Báo cáo muộn hoặc không đầy đủ về thong tin tài chính;

 Trì hoãn việc chuẩn bị các báo cáo tài chính;

 Những dấu hiệu hạch toán sáng tạo hay tô vẽ tài chính

 Thay đổi đơn vị kiểm toán;

 Giảm các khả năng tài chính;

 Tỷ lệ nợ trên vốn cổ phần ( vốn khả dụng, luồng tiền, giới hạn, tỷ lệ chi phí

xấu đi);

 Lỗ và các khoản dự phòng quá lớn, ngoài dự kiến;

 Tài khoản rút có quá số dư không?

7

 Tổng số dư của khách hàng có tình trạng rút quá triền miên

 Số dư có thay đổi bất thường hay có sự gia tăng số dư gốc không?

 Doanh số trên tài khoản đối vói các nghiệp vụ: Chuyển tiền, thu nợ, thư tín

dụng thực hiện qua ngân hàng có giảm xuống không?

 Có hiện tượng sai phạm hay thanh toán chậm các nghĩa vụ không?

 Giá trị các khoản đảm bảo có được kiểm tra thường xuyên không?

 Ngân hàng có nhận được kịp thời các thông tin về hàng trong khi và các tài

khoản phải thu không?

 Có sự chậm trễ quá mức nào trong việc nhận báo cáo tài chính, đặc biệt nếu hợp đồng vay có điều khoản yêu cầu giao hàng phải thực hiện trong một khoản thời gian nhất định?

 Những giải thích về sự chậm trễ của khách hàng thường là những dấu hiệu

báo trước về bản thân khách hàng;

 Đổ lỗi cho các nhân viên kiểm toán của công ty trong việc trì hoãn (có thể là những khác biệt không thể hòa hợp được giữa khách hàng và nhân viên

kiểm toán).

 Nhóm dấu hiệu báo trước thông qua thông tin cá nhân/Công tác quản lý:

 Lối sống phung phí của các vị giám đốc

 Việc né tránh của các nhà quản lý công ty;

 Những yêu cầu xin miễn khoản đảm bảo;

 Những yêu cầu xin miễn bảo lãnh cá nhân;

 Sức ép thanh toán của nhà cung cấp;

 Tinh thần nhân viên kém;

 Những thay đổi bất thường trong cán bộ quản lý hoặc cán bộ chủ chốt;

 Ban quản lý bị chi phối bởi một người sáng lập,v..v..

 Năng lực của ban quản lý không đủ;

 Thông tin quản lý chậm và thiển cận;

 Các chỉ tiêu không đạt được mà không có sự phản hổi của ban quản lý;

 Không có hệ thống quản lý chi phí.

 Nhóm dấu hiệu báo trước thông qua thông tin bên ngoài:

 Thông tin về thị trường và ngành nghề kinh doanh không đủ;

 Ngành nghề kinh doanh đang gặp khó khăn gì?

8

 Thông tin từ các ngân hàng khác cho thấy tình hình không mấy thuận lợi;

 Công ty có gia tăng các khoản vay không?

 Chú ý tới dư luận xã hội

B. Nhận diện rủi ro qua các dấu hiệu cảnh báo

Nhận diện rủi ro, qua đó có những giải pháp tối ưu giúp ngăn ngừa và xử lý các

tín dụng có rủi ro là khâu quan trọng quyết dịnh đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Sau khi khoản vay phát sinh và được phân loại, cán bộ tín dụng phải theo dõi,

giám sát vay để nhận diện rủi ro thông qua các dấu hiệu cảnh bảo sau:

 Nhóm dấu hiệu phát sinh từ phía khách hàng:

 Nhóm các dấu hiệu có liên quan đến mối quan hệ với ngân hàng–biểu hiện

cụ thể:

 Trì hoãn hoặc gây khó khăn, trở ngại với ngân hàng trong quá trình kiểm tra định kì (đột xuất) tình hình sử dụng vốn vay, tình hình tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng mà không có sự giải thích minh bạch,

thuyết phục;

 Có dấu hiệu không thực hiện đầy đủ các quy định, vi phạm pháp luật trong

quá trình quan hệ tín dụng;

 Chậm gửi hoặc trì hoãn gửi các báo cáo tài chính theo yêu cầu mà không có

sự giải thích minh bạch, rõ ràng;

 Đề nghị gia hạn, điều chỉnh kỳ hạn nợ nhiều lần không rõ lý do hoặc thiếu căn cứ thuyết phục mang tính khách quan về gia hạn hay điều chỉnh kỳ hạn

nợ;

 Sự sụt giảm bất thường số dư tài khoản tiền gửi tại ngân hàng; xuất phát những thay đổi bất thường ngoài dự kiến và không giải thích được về tổng

mức lưu chuyển tiền gửi thanh toán của khách hàng;

 Chậm thanh toán các khoản lãi đến hạn;

 Thanh toán các khoản nợ gốc không đầy đủ, đúng hạn;

 Xuất hiện nợ quá hạn do khách hàng không có khả năng hoàn trả hoặc khách hàng không muốn trả nợ hoặc do việc tiêu thụ, thu hồi công nợ chậm hơn dự tính;

 Mức vay thường xuyên gia tăng, yêu cầu các khoản vay vượt quá nhu cầu

dự kiến;

9

 Tài sản đảm bảo không đủ tiêu chuẩn, giá trị tài sản bị giảm sút so với định giá khi cho vay, có dấu hiệu tài sản đã cho người khác thuê, bán hay trao

đổi hoặc đã biến mất, không còn tồn tại;

 Có dấu hiệu cho thấy khách hàng trông chờ các nguồn thu nhập bất thường khác không phải từ hoạt động sản xuất kinh doanh chính hoặc từ hoạt động

được đề xuất trong phương án vay vốn để đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán;

 Có dấu hiệu sử dụng nguồn vốn với giá cao với mọi điều kiện

 Có dấu hiệu sử dụng nhiều tài khoản tài trợ ngắn hạn cho các hoạt động đầu

tư dài hạn.

 Nhóm các dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lý, tình hình tài chính

và hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng:

Cũng như nhóm dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với ngân hàng, nhóm các

dấu hiệu này có tác động trực tiếp tới chất lượng khoản tín dụng nhưng tốc độ chậm

hơn. Các dấu hiệu này xuất phát từ chính hoạt động sản xuất kinh doanh của khách

hàng và không dễ nhận diện nếu thiếu sự quản lý chặt chẽ, sâu sắc của cán bộ tín dụng.

Nó cũng đòi hỏi các giải pháp và chiến lược xử lý có tính dài hạn hơn. Biểu hiện cụ thể:

 Có chênh lệch lớn giữa doanh thu hay dòng tiền thực tế so với mức dự kiến

khi khách hàng đề nghị cấp tín dụng;

 Những thay đổi bất lợi trong cơ cấu nguồn vốn, tỷ lệ thanh khoản hay mức

độ hoạt động của khách hàng;

 Xuất hiện ngày càng nhiều các khoản chi phí quảng cáo, tiếp khách, tập trung quá mức chi phí để gây ấn tượng như thiết bị văn phòng rất hiện đại, phương tiện giao thông đắt tiền;

 Thay đổi thường xuyên tổ chức của ban điều hành;

 Xuất hiện bất đồng và mâu thuẫn trong quản trị điều hành, tranh chấp trong

quá trình quản lý;

 Xuất hiện hội chứng hợp đồng lớn: sẵn sang từ bỏ các hợp đồng nhỏ và vừa nhưng có khả năng thu được tỷ suất lợi nhuận cao để tìm kiếm các hợp đồng có giá trị lớn với các bạn hàng có “tên tuổi” dù lợi nhuận thu về có khả năng đạt thấp hơn; sẵn sàng cắt giảm lợi nhuận để đạt được các hợp đồng lớn, theo đuổi chiến lược “mượn thương hiệu nổi”.

 Xuất hiện dấu hiệu hội chứng sản phẩm đẹp mắt: mải mê theo đuổi một sản phẩm không thích hợp về mặt thời gian và năng lực hiện tại mà không chú ý đến các yếu tố khác;

10

 Có dấu hiệu phát hiện ra quá trình khảo sát, thẩm định dự án sai dẫn đến

việc đầu tư dự án không hiệu quả;

 Những thay đổi từ chính sách của Nhà nước; đặc biệt là tác động của các chính sách thuế, xuất nhập khẩu, thay đổi các biến cố kinh tế vĩ mô: tỷ giá, lãi suất; thay đổi công nghệ kỹ thuật sản xuất, thị hiếu tiêu dùng; mất nhà

cung ứng hoặc khách hàng lớn; thêm đối thủ cạnh tranh tác động bất lợi đến

chiến lược và kế hoạc sản xuất, kinh doanh của khách hàng;

 Do áp lực nội bộ dẫn tới tung ra thị trường các sản phẩm dịch vụ quá sớm khi chưa hội đủ các điều kiện chín muồi hoặc đặt ra các hạn mức thời gian

kinh doanh, doanh số không thực tế, tạo mong đợi trên thị trường không

đúng lúc;

 Khó khăn trong phát triển sản phẩm, dịch vụ mới.

 Nhóm dấu hiệu xuất phát từ chính sách tín dụng của ngân hàng, cụ thể gồm:

 Sự đánh giá và phân loại không chính xác về mức độ rủi ro của khách hàng, ví dụ: đánh giá quá cao năng lực tài chính của khách hàng so với thực tế;

đánh giá khách hàng chỉ thông qua thông tin “tĩnh” do khách hàng cung cấp

mà thiều đi thông tin “động” và các thông tin nhạy cảm từ những kênh

thông tin khác; bỏ qua các “nghi ngờ” được phản ánh qua cấu trúc và cơ

cấu số liệu khi phân tích dữ liệu tài chính, có dấu hiệu che giấu việc “đảo

nợ” của khách hàng thông qua việc cấp đều đặn, thường xuyên và liên tục

các khoản vay mới hay che giấu “nợ quá hạn” thông qua việc điều chỉnh kỳ

hạn và gia hạn nợ tràn lan thiếu căn cứ xác thực;

 Cấp tín dụng dựa trên các cam kết không chắc chắn và thiếu tính bảo đảm của khách hàng về việc duy trì một khoản tiền gửi lớn hay các lợi ích do

khách hàng đem lại từ khoản tín dụng được cấp;

 Tốc độ tăng trưởng tín dụng quá nhanh, vượt quá khả năng và năng lực

kiểm soát cũng như nguồn vốn của ngân hàng;

 Cho vay dựa trên các sự kiện bất thường xảy ra, chẳng hạn như sáp nhật, thay đổi địa vị pháp lý từ chi nhánh lên công ty “con” hạch toán độc lập;

 Các điều kiện ràng buộc trong hợp đồng tín dụng mập mờ, không rõ ràng; không xác định rõ lịch hoàn trả đối với từng khoản vay; cố ý thỏa hiệp các nguyên tắc tín dụng với khách hàng mặc dù biết có tiềm ẩn rủi ro;

 Chính sách tín dụng quá cứng nhắc hoặc lỏng để kẽ hở cho khách hàng lời

dụng;

11

 Cung cấp tín dụng với khối lượng lớn cho khách hàng không thuộc phân

đoạn thị trường tối ưu của ngân hàng;

 Hồ sơ tín dụng không đầy đủ, thiếu sự tuân thủ không đầy đủ các quy định

hiện hành về phê duyệt tín dụng;

 Có khuynh hướng cạnh tranh thái quá: giảm thấp lãi suất cho vay, phí dịch vụ hay thực hiện chiến lược “giữ chân” khách hàng bằng các khoản tín dụng khác mặc dù biết rõ các khoản tín dụng sẽ cấp tiềm ẩn nguy cơ rủi ro

cao.

1.1.3. Hậu quả của rủi ro tín dụng

Đối với nền kinh tế

Rủi ro tín dụng tác động đến nền kinh tế một cách gián tiếp thông qua các hoạt động của ngân hàng. Do ngân hàng là kênh huy động vốn, trung gian của nền kinh tế;

ngân hàng nhận tiền gửi từ dân cư và các tổ chức kinh tế để cho vay và đầu tư vào nên

kinh tế, cho nên một khi xảy ra rủi ro tín dụng làm mất khả năng thanh toán của ngân

hàng khiến cho việc hạn chế việc cho vay đối với các doanh nghiệp, hộ sản xuất kinh

doanh. Dẫn tới làm giảm luồng tiền chảy vào nền kinh tế, kìm hãm sự tăng trưởng và

phát triển kinh tế do những doanh nghiệp không có vốn để sản xuất hay bị phá sản.

Việc hạn chế tín dụng, cũng ảnh hưởng tới các cá nhân trong xã hội, do nhu cầu vay

vốn để phục vụ đời sống cũng gặp khó khăn. Ngoài ra việc mất thanh khoản cũng

khiến cho hiện tượng dân cư ồ ạt đến rút tiền có thể lan sang ngân hàng khác, gây ra sự

bất lợi cho hệ thống ngân hàng, dễ xảy ra khủng hoảng tài chính.

Nếu không có NHTW như là một cứu cánh cuối cùng đứng ra đảm bảo khả năng

thanh toán cho ngân hàng một khi ngân hàng lâm vào tình trạng mất khả năng thanh

toán khi xảy ra rủi ro tín dụng, thực tế là tất cả những người gửi tiền, cho vay ngân hàng sẽ có khả năng không lấy lại được những khoản tiền gửi, tiền cho vay, đời sống

cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh trở nên khó khăn. Như vậy những hậu quả

của rủi ro tín dụng không chỉ xảy đến cho ngân hàng, người đi vay mà ngay cả bản thân những người cung cấp vốn cho ngân hàng.

Tín dụng cũng là một công cụ điều hành hoạt động vĩ mô nền kinh tế của chính

phủ. Khi ngân hàng bị phá sản, gặp khó khăn hay hoạt động đình trệ thì hiệu quả của chính sách tiền tệ của chính phủ bị giảm xuống, gây xáo trộn vĩ mô nền kinh tế.

Đối với ngân hàng

 Làm tăng chi phí và giảm lợi nhuận

Có thể nói thu nhập của ngân hàng từ lãi cho vay chiếm tỷ lệ cao trong tồng thu

nhập của ngân hàng, một khi xảy ra rủi ro tín dụng, ngân hàng không những không thu

12

hồi được khoản nợ gốc và lãi mà còn bị giảm lợi nhuận tín dụng. Ngoài ra việc không thu hồi được vốn cũng khiến cho ngân hàng mất đi lợi nhuận vì không thể tái đầu tư

vốn vào phương án đầu tư khả thi khác. Khi khoản vay gặp rủi ro ngân hàng buộc phải

trích lập dự phòng rủi ro và tìm kiếm nguồn huy động vốn khác khiến cho chi phí hoạt

động của ngân hàng tăng lên.

 Giảm khả năng thanh toán và nguy cơ phá sản

Không những thế rủi ro tín dụng còn dẫn tới khả năng mất thanh khoản của ngân

hàng với việc khách hàng ồ ạt rút tiền ra khỏi ngân hàng. Tình thế này khiến ngân

hàng có khả năng phải buộc đóng cửa và tuyên bố phá sản nếu như ngân hàng mất khả năng thanh toán. Không những thế một ngân hàng bị khó khăn về thanh khoán sẽ chịu

những quy định kinh doanh hạn chế của NHNN.

Rủi ro tín dụng làm gia tăng chi phí hoạt động của ngân hàng, để đảm bảo lợi

nhuận không bị giảm, ngân hàng buộc phải giảm chi phí khác như tiền lương, giảm lao

động, giảm đầu tư vào công nghệ, hạn chế việc mở rộng mạng lưới chi nhánh… Điều này phần nào ảnh hưởng không tốt tới mặt nhân sự, công nghệ, thị phần hoạt động và

nhất là uy tín của ngân hàng trên thương trường.

 Giảm uy tín và năng lực canh trạnh khả

Khi ngân hàng rơi vào tình trạng rủi ro tín dụng và mất khả năng thanh toán thì

bắt buộc phải đi vay nhiều nguồn khác nhau, uy tín của ngân hàng trên thị trường tài

chính sẽ bị suy giảm đáng kể. Hơn thế nữa tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ cao khiến

cho việc huy động vốn trở nên khó khăn do ảnh hưởng tâm lý của các đối tác cho vay

vốn và gặp nhiều sự cạnh trạnh từ các ngân hàng khác.

Nói chung, rủi ro tín dụng của một ngân hàng xảy ra ở mức độ khác nhau: nhẹ

nhất thì ngân hàng bị giảm lợi nhuận, không thu hổi được lãi cho vay, nặng nhất khi

ngân hàng không thu được cả vốn và lãi, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị

lỗ và mất vốn. Nếu trình trạng kéo dài không khắc phục được, ngân hàng sẽ bị phá sản,

gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng.

1.2. Phòng ngừa rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng thƣơng mại

1.2.1. Khái niệm phòng ngừa rủi ro tín dụng

Hoạt động tín dụng của ngân hàng luôn tiềm ẩn những rủi ro, phát sinh nợ quá hạn, nợ xấu khiến ngân hàng gặp khó khăn trong việc thu hồi nợ và chịu tổn thất. Do đó việc chấp nhận rủi ro để có những biện pháp phòng ngừa và xử lý rủi ro là việc làm cần thiết và mang lại hiệu quả trong hoạt động tín dụng ngân hàng nói chung và hoạt động cho vay nói riêng.

13

Phòng ngừa rủi ro tín dụng là những biện pháp được xây dựng và thực thi những chính sách hạn chế rủi ro trong quá trình cho vay nhằm đảm bảo mục tiêu an toàn, hiệu

quả và phát triển bền vững của ngân hàng.

1.2.2. Vai trò của công tác phòng ngừa rủi ro tín dụng

Rủi ro trong kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng trong nền kinh tế thị trường

luôn luôn là vấn đề cần được quan tâm, do hoạt động ngân hàng có tính nhạy cảm cao, ảnh hưởng mạnh đến sự ổn định kinh tế - xã hội. Nếu một ngân hàng nào đó gặp rủi ro,

lâm vào tình trạng thiếu khả năng thanh toán, có nguy cơ hoặc thực sự đi đến phá sản,

dễ gây tâm lý hoảng loạn, khiến mọi nguời đổ xô đi rút tiền gửi của mình thật nhanh

chóng để tránh bị tổn thất, gây đổ vỡ hệ thống.

Lịch sử hoạt động ngân hàng trên thế giới đã chứng kiến không ít các ngân hàng

lớn bị phá sản, mà hậu quả của nó thậm chí không giới hạn trong phạm vi một quốc

gia mà lan ra cả nhiều nước trong khu vực hay toàn cầu.

Cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ tại Châu Á năm 1997 đã làm cho nhiều ngân

hàng, tổ chức tín dụng tài chính của các nước trong khu vực bị phá sản. Nhiều ngân

hàng nhỏ ở Thái Lan, Nhật Bản, Indonesia phải sáp nhập hoặc bị các ngân hàng lớn

mua lại, nhiều công ty tài chính, môi giới chứng khoán bị phá sản.

Tương tự như vậy cuộc khủng hoảng tín dụng thứ cáp nhà ở tại Mỹ cuối năm

2008 đã ảnh hưởng đến hàng loạt nền kinh tế khác và gây nên khủng hoảng tài chính toàn cầu, được ví như cuộc khủng hoảng lớn nhất từ sau năm 1933 đến nay. Nếu

những tổn thất trong rủi ro tín dụng gây ra ở mức kiểm soát được thì xử lý tương đối

dễ dàng trong giới hạn cho phép của quỹ dự phòng rủi ro của TCTD. Nhưng khi tổn

thất lớn, gâuy hậu quả nghiêm trọng, khó lường không những cho chính TCTD đó, mà

còn cho cả những TCTD và doanh nghiệp khác có liên quan, ảnh hưởng tới quyền lợi

người gửi tiền và cuối cùng, ảnh hưởng tới toàn bộ kinh tế, là nguy cơ tiềm ẩn cho

khủng hoàng tài chính.

Tóm lại, công tác phòng ngừa rủi ro trong hoạt động ngân hàng nói chung và trong hoạt động tín dụng nói riêng có vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại của

mỗi ngân hàng. Nếu công tác phòng ngừa rủi ro tín dụng được thực hiện tốt, sẽ hạn chế được những rủi ro xảy ra đồi với ngân hàng, làm tăng thu nhập của ngân hàng. Ngoài ra, công tác phòng ngừa rủi ro nếu được thực hiên tốt còn tạo điều kiện cho sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế nói chung, Vì khi rủi ro được hạn chế, tức là ngân hàng đã cung cấp vốn một cách có hiệu quả cho nền kinh tế và đó chính là động lực

phát triển nền kinh tế.

14

1.2.3. Nội dung phòng ngừa rủi ro tín dụng

Nội dung công tác phòng ngừa rủi ro tín dụng có thể được hiểu là những giải pháp được các ngân hàng thực hiện nhằm phòng ngừa, hạn chế những tổn thất và khả

năng xảy ra tổn thất trong hoạt động cho vay của ngân hàng. Do ảnh hưởng tiêu cực

của rủi ro tín dụng, mỗi ngân hàng đều tìm những biện pháp riếng biệt nhằm hạn chế

rủi ro tín dụng, khắc phục những tổn thất trong hoạt động cho vay của ngân hàng. Nội dung công tác phòng ngừa rủi ro tín dụng là:

Chính sách tín dụng : Hoạt động tín dụng của ngân hàng rất phong phú, đa dạng

nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro, xây dựng một chính sách tín dụng

nhất quán và hợp lý, phù hợp với đặc điểm của từng ngân hàng sẽ giúp phát huy được

các thế mạnh của mỗi ngân hàng, từ đó giúp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng,

kiểm soát rủi ro tín dụng ngân hàng.

Quy trình tín dụng: Quy trình tín dụng là những bước quy định cụ thể các bước

nghiệp vụ từ khi nhận hồ sơ tín dụng cho đến khi quyết định cho vay, thu nợ. Xây

dựng một quy trình tín dụng hợp lý sẽ giúp cho công tác quản lý tín dụng được thống

nhất, khoa học, đồng thời nâng cao trách nhiệm của từng cán bộ thực hiện quy trình tín

dụng thường được quy định trách nhiệm của từng bộ phận tham gia thực hiện công tác

tín dụng.

Chấm điểm khách hàng: Chấm điểm khách hàng là quá trình xếp hạng khách hàng theo các cấp độ khác nhau dựa trên các yếu tố định tính và định lượng. Việc

chấm điểm khách hàng sẽ giúp ngân hàng sang lọc được những khách hàng không tốt,

từ đó có những chính sách cụ thể đối với mỗi loại khách hàng (chính sách cấp tín

dụng, lãi suất).

Nhận diện rủi ro liên quan đến khách hàng vay: Thông qua quá trình kiểm tra

trước, trong và sau khi cho vay bằng các kênh thông tin, cán bộ tín dụng phải luôn

bám sát, theo dõi khoản vay để kịp thời nhận diện rủi ro, từ đó có những biện pháp tối

ưu để khắc phục. Các dấu hiệu có thể gây ra rủi ro tín dụng từ phía khách hàng như: khách hàng trì hoãn, gấy khó khăn cho ngân hàng trong việc kiểm tra định kì hoặc

kiểm tra đột xuất tình hình sử dụng vốn vay, tình hình tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng; chậm gửi hoặc trì hoãn gửi báo cáo tài chính; chậm thanh toán các khoản nợ đến hạn…

Vấn đề kiểm tra, kiểm soát trong hoạt động tín dụng: Kiểm tra, kiểm soát tín dụng là một công việc vô cùng quan trọng để phòng ngừa rủi ro tín dụng. Nó không

những giúp cho nhà quản trị rủi ro nhận ra được những vấn đề một cách nhanh chóng, mà còn biết được xem cán bộ tín dụng có chấp hành đúng chính sách tín dụng của

ngân hàng hay không? Bộ phận kiểm tra tín dụng là bộ phận độc lập, tách rời khỏi bộ

15

phận tín dụng cho vay nhằm đảm bảo tình khách quan và chính xác trong quá trình thực hiện. Việc thực hiện kiểm tra, kiểm soát tín dụng giúp cho ban lãnh đạo đánh giá

được tình hình rủi ro tín dụng đối với ngân hàng, từ đó đề ra các biện pháp phòng

ngừa, hạn chế tổn thất do rủi ro tín dụng có thể gây ra.

Chính sách trích lập dự phòng và xử lý rủi ro tín dụng: Tỷ lệ trích lập quỹ dự

phòng rủi ro thường được quy định ở mỗi nước khác nhau. Tỷ lệ này thường được đưa ra dựa trên cơ sở thống kê hiện tại về mức độ rủi ro của các ngân hàng. Ở những nước

có hệ thống pháp luật cho việc quản lý các khoản nợ phát triển thi áp dụng tỷ lệ trích

lập thấp hơn. Điển hình như ở Mỹ thì quy định mức trích lập dự phòng khoảng 10%

đối với các khoản tín dụng không đủ tiêu chuẩn, 50% đối với các khoản nợ khó đòi và 100% với những khoản tín dụng mất mát, thua lỗ. Còn ở những nước đang phát triển

như Thái Lan thì mức độ trích lập vào khoảng 20-25% đối với những khoản nợ không

đủ tiêu chuẩn, 50-75% đối với những khoản nợ khó đòi và 100% với khoản nợ mất

mát. Quỹ dự phòng là nguồn bù đắp chủ yếu của những khoản tín dụng bị tổn thất.

Quỹ thường được trích lập từ lợi nhuận sau thuế. Với việc lập quỹ dự phòng rủi

ro khi xảy ra, việc mất vốn cho vay sẽ không gây ảnh hưởng nhiều tác động tới ngân

hàng.

Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN và Thông tư 18/2007/NHNN: Dự phòng

rủi ro bao gồm dự phòng cụ thể và dự phòng chung thì tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với các nhóm nợ 1,2,3,4 và 5 lần lượt là 0%, 5%, 20%, 50% và 100%.

Trong đó dự phòng cụ thể được trích lập theo công thức sau:

R= max[0;(A-C)*r]

R: Số tiền cụ thể phải trích

A: là giá trị khoản nợ

C: Giá trị taì sản đảm bảo

r: Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể tương ứng từng nhóm nợ

Còn tỷ lệ trích lập dự phòng chung được tính toán bằng việc trích lập và duy trì

bằng 0,75% tổng giá trị của các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4 được quy định tại Điều 6 và Điều 7.

Bảo hiểm và mua bán nợ trong hoạt động tín dụng: Ngân hàng mua bảo hiểm tín dụng, nếu rủi ro xảy ra thì công ty bảo hiểm sẽ chịu trách nhiệm bồi thường cho ngân hàng theo quy định.

Vấn đề bảo hiểm áp dụng trong hoạt động tín dụng ngân hàng khá quan trọng trong cho vay hiện đại , chủ yếu là bảo hiểm tài sản đảm bảo nhằm tránh tổn thất trong

hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hộ sản xuất kinh doanh và quản lý tài sản

16

đảm bảo tiền vay. Ngoài ra thì việc mua bán nợ cũng là một giải pháp hữu hiệu để thu hồi nợ nhanh, tăng vòng quay vốn đầu tư tín dụng cho ngân hàng khi ngân hàng

chuyển giao các khoản nợ cho công ty mua bán nợ.

1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác phòng ngừa rủi ro tín dụng

Hoạt động kinh doanh của ngân hàng luôn tiềm ẩn những rủi ro, đặc biệt là rủi ro

tín dụng. Vì thế nên ngân hàng cần có những biện pháp phòng ngừa để giảm khả năng xảy ra rủi ro tín dụng và những tổn thất của nó gây nên. Tuy nhiên công tác phòng

ngừa rủi ro tín dụng có được nhiều hay ít lại phụ thuộc vào một số yếu tố sau:

 Chính sách quản lý rủi ro tín dụng

Chính sách quản lý rủi ro là một hệ thống các quy định nhằm điều hành hoạt

động tín dụng noi chung và cho vay nói riêng phù hợp với chiến lược kinh doanh của

ngân hàng theo từng thời kỳ. Chính sách quản lý rủi ro giúp ngân hàng điều hướng

phát triển hoạt động cho vay trên cơ sở chấp nhận một mức độ rủi ro nhất định, đồng

thời cũng sẽ tác động trực tiếp đến việc xây dựng các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay.

Việc nới lỏng hay thắt chặt chính sách quản lý rủi ro đều phải luôn tuân theo mức

độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng. Khi tỷ lệ rủi ro tín dụng gia tăng thì ngân hàng sẽ

có được ngay những biện pháp hữu hiệu để hạn chế xảy ra tổn thất và thực hiện phòng

ngừa trong tương lai để tránh tiếp diễn.

 Quy trình cho vay

Mỗi ngân hàng khi triển khai hoạt động cho vay thì đều có những quy trình

hướng dẫn cụ thể về cách thức thực hiện. Việc ban hành quy trình cho vay chi tiết, rõ

ràng có tác dụng như là một biện pháp phòng ngừa giúp cho nhân viên ngân hàng hiểu

và thực hiện nghiệp vụ có hiệu quả, tránh được những sai sót, vi phạm không chủ đích,

gây ảnh hưởng tới chất lượng khoản vay và làm khoản vay của ngân hàng bị rủi ro.

 Nhân tố con người trong đó có cán bộ Ngân hàng thương mại

Trình độ của cán bộ ngân hàng các cấp là một yếu tố rất quan trọng quyết định

hiệu quả của công tác phòng ngừa rủi ro tín dụng. Công tác phòng ngừa rủi ro tín dụng chỉ có thể đạt được hiệu quả nhất định khi có một đội ngũ lãnh đạo ngân hàng có trình

độ cao, tầm hiểu biết sâu, có khả năng tổng hợp phân tích và tầm nhìn dài hạn.

Trên cơ sở năng lực của đội ngũ lãnh đạo, nhân viên, ngân hàng sẽ xây dựng được những chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng phù hợp.Với một đội ngũ nhân viên giàu kinh nghiệm, trình độ chuyên môn tốt trong thẩm định cho vay, thì ngân hàng sẽ có những biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro ở mức bình thường và ngược lại nếu

17

đội ngũ nhân viên có chất lượng chuyên môn chưa tốt, thì các biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng được xây dựng chặt chẽ, kiểm tra giám sát liên tục.

 Nhân tố công nghệ ngân hàng

Công nghệ ngân hàng hiện đại là một trong những đòi hỏi quan trong hàng đầu

để hỗ trợ hoạt động phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng. Với sự hỗ trợ của các hệ thông phần mềm tổng hợp và phân tích thông tin một cách nhanh chóng, chính xác

giúp cho các CBTD có thể ra được những quyết định đúng đắn và hợp lý, khoa học

dựa trên những kết quả xử lý thông tín.

 Sự biến động của môi trường vĩ mô như bất ổn chính trị, thiên tai, chiến tranh

Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô luôn có sự ảnh hưởng nhất định đến công tác phòng ngừa rủi ro, do đặc thù kinh doanh của ngân hàng rất nhạy cảm. Vì vậy một ngân hàng hoạt động trong điều kiện môi trường kinh doanh thường biến động nhiều

thì yêu cầu đối với hoạt động quản trị rủi ro tín dụng càng cao, đặc biệt là công tác

phòng ngừa rủi ro tín dụng .

 Tính hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ ngân hàng

Hệ thống kiểm soát đóng vài trò quan trọng đối với công tác phòng ngừa rủi ro

tín dụng nói riêng và quản trị rủi ro tín dụng nói chung. Nó quyết định tính chính xác

và tin cậy của thông tin trong nội bộ ngân hàng. Một ngân hàng có hệ thống kiểm soát

nội bộ được tổ chức một cách có hệ thống và có sự phân quyền giữa các bộ phận quản

lý và bộ phận điều hạnh, đảm bảo tính độc lập trong hoạt động thì sẽ giúp ích rất nhiều

cho công tác quản trị và phòng ngừa rủi ro tín dụng.

 Nhân tố khách hàng

Nhân tố khách hàng cũng là một nhân tố khá quan trọng ảnh hưởng rất nhiều đến

việc phòng ngừa rủi ro tín dụng.

Đối với nhóm khách hàng doanh nghiệp thì rủi ro tín dụng sẽ được đo lường dựa

trên những phân tích về tính hình tài chính, tính pháp lý của hoạt động kinh doanh,

quan hệ đối tác, đặc điểm hoạt động kinh doanh. Từ đó đưa ra được những đánh giá để

có thể lường trước phòng ngữa những rủi ro xảy ra trong tương lai và tìm cách hạn chế nó.

Đối với khách hàng cá nhân thì việc đo lường rủi ro tín dụng sẽ dựa trên tình hình tài chinh cá nhân ( khoản thu nhập như lương, đầu tư chứng khoán, góp vốn kinh doanh..) các mối quan hệ họ hàng, tài sản đảm bảo, người bảo lãnh…

18

KẾT LUẬN CHƢƠNG 1

Rủi ro tín dụng có thể phát sinh do nhiều nguyên nhân chủ quan hoặc khách

hàng. Hiện nay các ngân hàng thương mại Việt Nam hoạt động như một ngân hàng tập

hợp các chi nhánh, chưa kinh doanh đa năng; sản phẩm dịch vụ chưa phong phú; công

nghệ còn lạc hậu; chưa kết nối với nhau và liên kết với khách hàng dẫn đến rủi ro gia

tăng. Những loại rủi ro này ngân hàng nếu chú trọng đều có thể xác định được thông

qua các công cụ đo lường, các chỉ tiêu đánh giá. Do đó để thực hiện công tác phòng

ngừa rủi ro tín dụng và có được những mô hình phòng ngừa rủi ro tín dụng cho riêng

mình thì các NHTM cần phải có được các mô hình đánh giá và đo lường rủi ro tín

dụng cả theo phương pháp truyền thống lẫn hiện đại. Có như vậy mới tránh được tổn

thất phát sinh, chi phí trích lập dự phòng rủi ro và tăng được lợi nhuận.

19

CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH

NHNO&PTNT LÁNG HẠ

2.1. Sơ lƣợc về tình hình hoạt động và phát triển của Chi nhánh NHNo & PTNT

Láng Hạ

2.1.1. Giới thiệu khái quát về Chi nhánh NHNo & PTNT Láng Hạ

a. Quá trình hình thành và phát triển.

Theo quyết định số 280/QĐ-NHNN ngày 15/01/1996 của Thống đốc NHNN

Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ uỷ quyền đổi tên Ngân hàng Nông nghiệp Việt

Nam thành Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (NHNo &

PTNT Việt Nam). NHNo & PTNT Việt Nam có đầy đủ những chức năng, nhiệm vụ

của một NHTM, đặc biệt trên địa bàn hoạt động của NHNo & PTNT Việt Nam chủ

yếu trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn.

Để mở rộng mạng lưới hoạt động trên địa bàn thủ đô Hà Nội và nhiệm vụ xây dựng một NHTM đa năng, ngày 01/8/1996, Tổng giám đốc NHNo & PTNT đã ký

quyết định số 334/QĐ-NHNN-02, thành lập Chi nhánh Láng Hạ và Chi nhánh chính

thức đi vào hoạt động từ ngày 17/3/1997.

NHNo & PTNT Láng Hạ là Ngân hàng cấp I, trực thuộc NHNo & PTNT Việt

Nam, hoạt động theo luật các TCTD và điều lệ của NHNo & PTNT nhưng có quyền tự

chủ trong kinh doanh và có con dấu riêng. Tuy mới thành lập nhưng ngân hàng đã có quan hệ với nhiều ngân hàng trên cùng địa bàn đồng thời mở rộng thị trường và có

quan hệ mật thiết với các tổng công ty lớn và các doanh nghiệp lớn khác.

Sau 10 năm đi vào hoạt động NHNo & PTNT Láng Hạ đã xác định rõ mục tiêu

giải pháp trong điều hành và có những kết quả đáng khích lệ; luôn hoàn thành vượt

mức kế hoạch, thu hút ngày càng đông số lượng khách hàng, đáp ứng nhanh nhu cầu

với các doanh nghiệp. Với các bước đi đúng hướng Chi nhánh luôn được Đảng uỷ,

Ban lãnh đạo NHNo & PTNT Việt Nam đánh giá cao và được coi là lá cờ đầu của ngành. Năm 2002, Ngân hàng đã đón nhận Huân chương lao động Hạng ba.

b. Tổ chức và nhiệm vụ của Chi nhánh NHNo & PTNT Láng Hạ.

* Cơ cấu tổ chức

 Ban giám đốc:

 Giám đốc phụ trách chung và trực tiếp phụ trách các phòng: Tổ chức cán bộ, Tổ kiểm toán nội bộ, định hướng kế hoạch, chiến lược hoạt động kinh doanh.

 Phó giám đốc: 3 phó giám đốc

20

Một phó giám đốc phụ trách kinh doanh bao gồm: phòng kế hoạch, phòng thẩm

định và phòng tín dụng.

Một phó giám đốc phụ trách: Phòng Kế toán ngân quĩ, phòng tin học, và phòng

Hành chính quản trị.

Một phó giám đốc phụ trách: phòng kinh doanh ngoại tệ và thanh toán quốc tế,

Tổ nghiệp vụ thẻ, tổ tiếp thị.

 Cơ cấu chi nhánh cấp II và các phòng giao dịch trực thuộc:

Ngoài các phòng, tổ tại trụ sở chính chi nhánh còn có têm hai chi nhánh cấp II

và 10 phòng giao dịch trực thuộc, các đơn vị này chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Giảm đốc và các phòng nghiệp vụ có liên quan.

Đến ngày 31/12/ 2011 tổng số cán bộ viên chức của chi nhánh là 216 người.

Trong đó số cán bộ có trình độ trên đại học là 6 người, có trình độ đai học, cao đẳng là

160 người, còn lại là trình độ trung, sơ cấp.

Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức

Phó giám đốc

Phó giám đốc

Phó giám đốc

Phòng

Phòng

Phòng

Phòng

Phòng

Phòng

Phòng

Tổ

Phòng

Phòng DV

h.chính

TCCB

KD ngoại

KTKT

KTKTN

tin

tín dụng

KHTH

Marketing

kế toán

quản trị

& ĐT

hối

nội bộ

B

học

NQ

GD số 2

GD số 3

GD số 5

GD số 7

GD số

GD số 8

11

Giám đốc

(Nguồn : Phòng nhân sự chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ)

21

Những hoạt động kinh doanh chính của Chi nhánh được ghi cụ thể trong điều 9

chương 2, quyết định số 169/QĐ-HĐBT-02 ngày 07/9/2000.

 Khai thác và nhận tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, không kỳ hạn, tiền gửi thanh toán của các tổ chức cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế và nước ngoài bằng

VNĐ hoặc ngoại tệ.

 Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, kỳ phiếu Ngân hàng và thực hiện các

hình thức huy động vốn theo quyết định của NHNo & PTNT.

 Tiếp nhận các nguồn vốn tài trợ, vốn uỷ thác của Chính phủ và các tổ chức kinh tế, cá nhân trong và ngoài nước theo quyết định của NHNo & PTNT.

 Được phép vay vốn các tổ chức tài chính tín dụng trong nước khi Tổng giám

đốc NHNo & PTNT cho phép.

 Cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn bằng VNĐ và ngoại tệ đối với tổ chức

kinh tế, cá nhân hộ gia đình thuộc mọi thành phần kinh tế.

 Kinh doanh ngoại hối: Huy động vốn, mua bán ngoại tệ, thanh toán quốc tế và các dịch vụ ngoại hối theo chính sách quản lý ngoại hối của Chính phủ, NHNo

& PTNT Việt Nam.

 Kinh doanh dịch vụ: Thu chi tiền mặt, mua bán vàng bạc, máy rút tiền tự động, két sắt, nhận cất giữ, chiết khấu các loại giấy tờ có giá, các dịch vụ khác

được NHNo & PTNT Việt Nam cho phép.

 Thực hiện đầu tư dưới các hình thức: Hùn vốn liên doanh, mua cổ phần và các hình thức đầu tư khác với các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế khác khi được

NHNo & PTNT cho phép.

 Làm dịch vụ cho Ngân hàng phục vụ cho người nghèo.

2.1.2. Khái quát tình hình hoạt động của Chi nhánh

a. Hoạt động huy động vốn.

Với tầm quan trọng của nguồn vốn huy động trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, Chi nhánh NHNo & PTNT Láng Hạ đã tích cực huy động vốn tại chỗ, mở

rộng mạng lưới huy động tới khắp địa bàn dân cư, đa dạng hoá các hình thức huy động vốn, áp dụng nhiều biện pháp nhằm đưa nguồn vốn tăng nhanh.

22

ảng 2.1: Kết quả huy động vốn

(Đơn vị: Tỷ đồng)

Năm 2012 Năm 2013

Năm Tăng/ Cơ cấu nguồn vốn Tăng/ Số Số 2011 giảm tiền tiền giảm(+/-) (+/-)

Tổng nguồn vốn huy động 5.180 6.463 24,77% 7.072 9,42%

Theo kì hạn

Nguồnvốn không kì hạn 1.982 985 -50,30% 2.326 136,14%

Nguồn vốn có kì hạn 3.198 5.478 71,29% 4.746 -13,36%

Theothành phần kinh tế

Tiền gửi dân cư 1.828 2.075 13,51% 2.465 18,80%

Tiền gửi của các tổ chức 3.144 4.068 29,39% 4.080 0,29%

kinh tế

Vay các tổ chức tín dụng 208 320 53,85% 527 64,69%

khác

(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2011, 2012, 2013)

Qua số liệu trên ta thấy, công tác huy động vốn đã được quan tâm và đạt kế

hoạch của NHNo & PTNT giao. Năm 2012, nguồn vốn huy động là: 6463/5405 tỷ kế

hoạch, đạt 120% tăng 24,77% so 2011, phù hợp với sự tăng trưởng kinh tế. Năm 2013, mặc dù thị trường vốn không ổn định nhưng chi nhánh đã chủ động tích cực đảm bảo ổn định nguồn vốn và tăng trưởng, tăng 9,42% so với năm 2012.

Năm 2012, tiền gửi không kỳ hạn chiếm 15,24%, có kỳ hạn là 84,75%. Với xu thế tăng trưởng về cơ cấu như vậy là tốt, phù hợp với cơ cấu đầu tư tín dụng vì nguồn vốn ngắn hạn tuy lãi suất thấp nhưng không ổn định, khách hàng có thể lĩnh bất cứ lúc nào mà Ngân hàng không kế hoạch hoá được, ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của

23

Chi nhánh. Năm 2013, tiền gửi không kì hạn tăng cao với 2326 tỷ đồng, vươt 1341 tỷ đồng so với năm 2012; giữ vững được tiền gửi thông qua các đợt huy động như tiết

kiệm dự thưởng mừng Xuân, 10 năm thành lập chi nhánh, AGRIBANK CUP và huy

động chứng chỉ tiền gửi; các hoạt động huy động tiền gửi có giải thưởng, quay số

trúng thưởng, giảm số dư tiền gửi có kì hạn của tổ chức tín dụng theo chỉ đạo của

NHNo&PTNT Việt Nam.

Ngân hàng chú trọng huy động vốn tại địa phương thể hiện qua nguồn tiền gửi

của dân cư cao. Năm 2012 tăng 13,51% so với năm trước, 2013 tăng trưởng 18,80% so

với năm trước, với nhiều hình thức huy động như chương trình tiết kiệm dự thưởng và

cơ chế lãi linh hoạt nhằm vào thị hiếu người dân nên đã giúp tăng trưởng cao nguồn vốn này, đây là nguồn vốn ổn định nhất. Nguồn tiền gửi của các tổ chức kinh tế năm

2012 đã tăng 29,39% so với 2011, năm 2013 tăng 0,29% so với 2012. Sở dĩ năm 2013

nguồn vốn tiền gửi của các tổ chức kinh tế tăng không đáng kể là do tình hình kinh tế

có nhiều khó khăn, cá doanh nghiệp, tổ chức kinh tế chủ yếu tập trung vốn nhàn rỗi

vào sảm xuất kinh doanh. Mặc dù đây chỉ là nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong thanh

toán, nhưng Chi nhánh đã huy động được như vậy là tốt vì đây là nguồn vốn có lãi suất

thấp song khó huy động.

b. Hoạt động cho vay.

Nhờ nguồn vốn huy động dồi dào, Chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ đã tiến hành đa dạng hoá các mặt nghiệp vụ kinh doanh dịch vụ ngân hàng trong đó chủ yếu là

hoạt động tín dụng, chiếm khoảng 90% tổng số vốn được sử dụng. Hoạt động tín dụng

là hoạt động nghiệp vụ quan trọng quyết định hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, vì

thế chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ luôn đặt ra mục tiêu mở rộng tín dụng, đồng

thời hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất.

Trong những năm qua, với quyết tâm cao, Chi nhánh đã vận dụng kịp thời, linh

hoạt các chủ trương, chính sách của Nhà nước, của Ngành, bám sát từng đơn vị kinh tế

và có những giải pháp tích cực nên kết quả hoạt động tín dụng của nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ đạt được những kết quả tốt cả về tốc độ tăng trưởng lẫn chất

lượng các khoản đầu tư. Ngân hàng đã thực hiện cho vay với các thành phần kinh tế khác nhau, hoạt động trong nhiều lĩnh vực của nền kinh tế, trong đó tăng cường đầu tư cho khu vực kinh tế quốc dân, các ngành kinh tế trọng điểm, kinh tế mũi nhọn, sản xuất kinh doanh lớn như: viễn thông, dầu khí, công nghiệp, dịch vụ giao thông vận tải, ưu tiên đầu tư cho các dự án lớn, khả thi, có hiệu quả. Cùng với hoạt động kinh doanh

tín dụng đơn thuần, chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ còn thực hiện các chương trình

tín dụng ưu đãi, tín dụng chính sách như chương trình tín dụng tạo việc làm hay cho vay sinh viên. Các chương trình này đều thực hiện với lãi suất ưu đãi, tuy số dư không

24

nhiều nhưng nó mang ý nghĩa xã hội sâu sắc được mọi tầng lớp nhân dân ủng hộ, nâng cao uy tín của ngân hàng.

ảng 2.2: Kết quả cho vay của chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ

giai đoạn 2011-2013

(Đơn vị: tỷ đồng)

Chênh lệch (%)

Chỉ tiêu 2012/2011 2013/2012 Số tiền Số tiền Số tiền Năm 2011 Tỷ trọng (%) Năm 2012 Tỷ trọng (%) Năm 2013 Tỷ trọng (%)

2.802 100% 2.996 100% 3.246 100% 106,92% 108,34%

1707,5 60,93% 1890,2 63,08% 1980,2 61% 110,70% 104,77%

1.095 39,07% 1106,3 36,92% 1266,1 39% 101,04% 114,44%

2.802 100% 2.996 100% 3.246 100% 106,92% 108,34%

1432,3 51,11% 2134,1 71,22% 2992,1 92,17% 149,00% 140,21%

1370,1 48,89% 862,38 28,78% 254,19 7,83% 62,94% 29,47%

2.802 100% 2.996 100% 3.246 100% 106,92% 108,34%

3,69% 178,91% 6,17% 5,79% 185 188 101,62% I- Dƣ nợ phân theo thời gian 1- Dư nợ ngắn hạn 2- Dư nợ TDH II- Dƣ nợ theo loại tiền 1- Dư nợ về nội tệ 2- Dư nợ về ngoại tệ III- Dƣ nợ phân theo chất lƣợng TD Nợ xấu

103 (Nguồn: Báo cáo tổng kết hot động kinh doanh năm 2011, 2012, 2013)

25

Qua số liệu trên ta thấy: Tổng dư nợ năm 2013 đạt 3246 tỷ kế hoạch, vượt 145,16% kế hoạch năm, tăng 108,34%so với năm 2012. Trong đó dư nợ cho vay ngắn

hạn tăng trong 3 năm. Năm 2012 tăng 10,7% so với 2011, năm 2013 tăng4,77% so với

năm 2012. Để đảm bảo cân đối nguồn vốn-sử dụng vốn và khả năng thanh toán, ngăn

ngừa lạm phát, NHNN đã áp dụng chính sách thắt chặt tiền tệ, khống chế tăng trưởng

dư nợ tín dụng, do đó dư nợ cho vay ngắn hạn của chi nhánh trong 3 năm tăng không đáng kể. Cũng do tình hình kinh tế tài chính khó khăn số dư nợ cho vay trung-dài hạn

cũng không ổn định qua các năm. Năm 2012 tăng nhẹ 1,44% so với năm 2011, năm

2013 tăng 14,44% so với năm 2012. Sở dĩ năm 2013 dư nợ cho vay trung-dài hạn tăng

đột biến do trong năm cơ cấu dư nợ thay đổi từ cho vay phụ thuộc vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cho vay tiêu dùng, cầm cố dư nợ trong món nhỏ sang các Tổng

công ty lớn với từng lần dư nợ rất lớn.

Do tăng trưởng tín dụng không ổn định nên nợ xấu cũng biến đổi theo từng

năm. Năm 2012 là 6,17%, tăng78,91% so 2011; Năm 2013 chiếm 5,79% tăng nhẹ

1,62% so với năm 2012. Năm 2012 tỷ lệ nợ xấu cao chủ yếu là do các doanh nghiệp

ngoài quốc doanh gặp khó khăn trong vấn đề tài chính, làm ăn thua lỗ không thu được

tiền hàng và do chi nhánh chuyển nợ quá hạn theo cơ cấu.

c. Các dịch vụ của chi nhánh

Một xã hội phát triển, một ngân hàng hiện đại thì dịch vụ là một phần không thể thiếu của ngân hàng, đó là công cụ cạnh tranh và thu hút khách của mỗi ngân hàng.

Chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ có đa dạng các dịch vụ như: kinh doanh ngoại tệ,

dịch vụ thanh toán trong nước và quốc tế, dịch vụ bảo lãnh, dịch vụ kho quỹ, dịch vụ

thẻ, kiều hối đã và đang phát triển mạnh là một nguồn thu lớn của chi nhánh.

26

ảng 2.3:Doanh số một số dịch vụ của chi nhánh

Năm Năm Năm Năm STT ĐV tính 2011 2012 2013 Chỉ tiêu

01 Mua bán ngoại tệ Triệu USD

Mua vào 366 449,1 304

Bán ra 380 452,7 304

02 Chuyển tiền Triệu USD 79 44 85

03 Mở L/C Triệu USD 459 608 603

43,2 45 04 Thẻ Tỷ VNĐ 0,255

10,3 10,3 05 Bảo lãnh Tỷ VNĐ 14

(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh )

d.Kết quả kinh doanh

Trong những năm vừa qua tuy hoạt động kinh doanh diễn ra trong bối cảnh hết

sức khó khăn , song Chi nhánh cũng đã nhất trí, kiên trì thực hiện đúng định hướng

của Hội đồng quản trị và Ban giám đốc. Do đó Chi nhánh cũng đạt được những kết

quả đáng khích lệ, thể hiện qua những kết quả tài chính như sau :

27

ảng 2.4: Kết quả hoạt động kinh doanh NHNNo& PTNT Láng Hạ

(Đơn vị: Tỷ đồng)

Năm2012 Năm 2013 Năm Chỉ tiêu Chênh Chênh 2011 Số tiền Số tiền lệch lệch

697 771 10,62% 693 -10,12% Tổng thu

620 662 6,77% 574 -13,29% Tổng chi

77 109 41,56% 119 9,17% Lợi nhuận

(Nguồn:Báo cáo thu nhập – chi phí NHNo&PTNT Láng Hạ 2011 – 2013)

Lợi nhuận trong các năm tăng đều, năm 2012 tăng 41,56% so với năm

2011.Thu nhập năm 2013 đạt 119 tỷ đồng đạt 157% kế hoạch tăng 9,17% so với năm

2012, do cạnh tranh giữa các NHTM ngày càng ngay gắt, khiến cho việc huy động các

nguồn vốn có lãi suất rẻ, đặc biệt là nguồn vốn không kỳ hạn từ các thị trường chứng

khoán trở nên khó khăn hơn, dẫn tăng chi phí đầu vào. Vì vậy, lợi nhuận năm 2013 tăng không cao so với năm 2012. Tuy nhiên, đây là tình trạng chung của các NHTM

nếu coi hoạt động tín dụng và huy động vốn là hoạt động mang lại thu nhập cho Ngân

hàng mà không tính đến phát triển các dịch vụ Ngân hàng hiện đại khác. Năm 2013,

lợi nhuận tăng đạt kế hoạch đề ra là do Chi nhánh đã phát triển các dịch vụ Ngân hàng

truyền thống như: bảo lãnh, thanh toán quốc tế. Đồng thời mở rộng thêm các dịch vụ

mới như: phonebanking, chi trả kiều hối, giúp tăng trưởng nguồn thu.

2.2. Thực trạng rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNT Chi nhánh Láng Hạ.

2.2.1. Thực trạng nợ quá hạn.

Theo quy định hiện hành của NHNN để đánh giá khả năng xử lý, thu hồi các

khoản nợ quá hạn, trong đó có vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết là phân loại nợ quá hạn theo thời gian. Tổng quan về nợ quá hạn của Chi nhánh NHNo & PTNT Láng

Hạ phân theo thời gian bằng số liệu phân tích tại bảng sau:

28

ảng 2.5:Nợ quá hạn phân theo nhóm nợ

(Đơn vị: Tỷ đồng.)

Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Chênh lệch

2012/2011 2013/2012 Nhóm nợ

Tuyệt đối Tuyệt đối Tƣơng Dƣ nợ Dƣ nợ Dƣ nợ Tƣơng đối đối (%) (%)

2.802 2.996 3.246 194 6,92 250 8,34

(Nguồn báo cáo phân loại nợ của NHNNo&PTNT VN chi nhánh Láng Hạ giai đoạn 2011 – 2013)

Tổng dư nợ Nhóm 1 Nhóm 2 Nhóm 3 Nhóm 4 Nhóm 5 2.298 401 25 19 60 2.385 426 33 52 100 2.604 454 42 31 115 87 25 8 33 40 3,78 6,27 32,78 178,48 67,79 219 28 8 -21 15 9,19 6,62 25,27 -39,73 14,70

Nợ nhóm 1: Nợ nhóm 1 là các khoản nợ trong hạn hoặc mới quá hạn 10 ngày,

đây là các khoản nợ đủ tiêu chuẩn, luôn chiếm tỷ lệ cao nhất trong 5 nhóm nợ. Qua

bảng 2.5 cho thấy, tỷ lệ nợ nhóm 1 qua các năm 2011, 2012, 2013 luôn chiếm tỷ trọng

cao nhất trong tổng dư nợ cho vay của Ngân hàng NHNNo&PTNT VN, giữ ở mức

hơn 79% đến 81%. Sang đến năm 2013, nhận thấy tình hình nợ đủ tiêu chuẩn trong

năm 2012 có xu hướng giảm xuống, nên NHNNo&PTNT VN chi nhánh Láng Hạ đã

có những biện pháp mạnh để nâng cao chất lượng tín dụng với hy vọng nâng mức nợ

đủ tiêu chuẩn lên trên 80% như kế hoạch đề ra. Kết quả là số dư nợ nhóm 1 năm 2013

đã đạt mức 2.604 tỷ đồng, tăng lên 219 tỷ đồng tương đương với 9,20%, chiếm tỷ

trọng 80,21% tăng lên so với năm 2012 là 0,63%.

Nợ nhóm 2: Nợ nhóm 2 là nhóm nợ có xu hướng gia tăng qua các năm. Sự tăng lên trong thời gian qua của dư nợ nhóm 2 là do việc nền kinh tế Việt Nam đã bị ảnh

hưởng mạnh mẽ từ cơn khủng hoảng tài chính thế giới, khiến cho các hoạt động sản xuất kinh doanh bị trì chệ, nhiều doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ, không có nguồn để trả nợ cho ngân hàng đúng hạn.

Nợ nhóm 3: Dư nợ nhóm 3 có chiều hướng tăng lên từ năm 2011 đến năm 2013. Dư nợ nhóm 3 chủ yếu được hình thành từ dư nợ nhóm 2 bị quá hạn từ 91 – 180 ngày,

phần lớn là nợ nhóm 2 của năm 2012 chuyển sang. Việc mở rộng cho vay đem lại thu nhập cho ngân hàng những cũng kèm theo những rủi ro tín dụng mà ngân hàng phải gánh chịu, nhất là khi nền kinh tế đang trong giai đoạn khó khăn như hiện nay.

29

Nợ nhóm 4: Số dự nợ nhóm 4 có dấu hiệu tăng lên mạnh từ năm 2011đến năm 2012, số dự nợ từ 19 tỷ đồng năm 2011 đã tăng lên 33 tỷ đồng tương đương 178,48%

trong năm 2012, đạt mức 52 tỷ đồng. Đây là nguyên nhân vì sao tỷ lệ nợ xấu trong

năm 2012 của NHNNo&PTNT VN chi nhánh Láng tăng lên mức hơn 6%, rất nhiều

trong số này là các khoản cho vay kinh doanh bất động sản, chứng khoán, mà thời

điểm 2011 – 2012 là thời điểm mà thị trường bất động sản đóng bằng, thị trường chứng khoán lao dốc không còn ở thời kỳ cứ mua vào là lãi như trước đây. Nhưng đến

năm 2013 sau những nỗ lực thu hồi vốn, cơ cấu lại các khoản nợ, cho vay vốn thêm để

giúp các doanh nghiệp vượt qua khó khăn, thì số dự nợ nhóm 4 chỉ còn 31 tỷ đồng,

giảm 21 tỷ đồng tương đương 39.73%. Một kết quả khá tốt cho những cố gắng của NHNNo&PTNT VN chi nhánh Láng trong năm 2013 đẩy lùi nợ xấu.

Nợ nhóm 5: Đây là những khoản nợ có khả năng mất vốn, gây thiệt hại lớn cho

ngân hàng một khi phát sinh nhiều. Tuy vậy trong năm 2011 – 2013 thì số dư nợ nhóm

5 lại liên tục có chiều hướng gia tăng, cụ thể năm 2012 tăng lên 40 tỷ đồng, tương

đương mức tăng 67,79% so với năm 2011, năm 2013tăng lên 15 tỷ đồng tương ứng

14,70% so với năm 2013. Chưa kể tình hình kinh tế khó khăn do ảnh hưởng của khủng

hoảng kinh tế thế giới, đã khiến nhiều khoản nợ trở nên đầy rủi ro, nhất là nợ cho vay

kinh doanh bất động sản, thì việc mất vốn rất cao từ khoản nợ bắt buộc phải cho vay

theo chỉ đạo của Chính phủ cho 2 tập đoàn nhà nước Vinalines và Vinashin, đã khiến cho NHNNo&PTNT VN không thể giảm được lượng nợ có khả năng mất vốn xuống

mà còn tăng lên.

ảng 2.6: Nợ quá hạn phân theo ngành kinh tế

(Đơn vị: tỷ đồng)

Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

Chỉ tiêu Số tiền Số tiền Số tiền

Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%) Tỷ trọng (%)

504 100 612 100 642 100

454,9 49,5 90,18 9,82 503,25 108,38 82,28 17,72 579,43 62,81 90,22 9,78 Tổng NQH KTQD KTNQD

( nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh)

Qua bảng số liệu ta thấy nợ quá hạn của chi nhánh chủ yếu rơi vào các doanh nghiệp quốc doanh do các doanh nghiệp này trong thời gian qua kinh doanh không có hiệu quả,cùng với tình hình nền kinh tế khó khăn hiện nay. Do đó chi nhánh cần đưa ra

30

các giải pháp tháo gỡ nhằm thu hồi các khoản nợ đến hạn, đặc biệt đối với các doanh nghiệp quốc doanh hạn chế thấp nhất khả năng không thu hồi được vốn.

ảng 2.7: Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dƣ nợ

Chỉ tiêu

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

Nợ quá hạn

504

612

642

Tổng dư nợ

(Đơn vị: tỷ đồng)

17,99

20,43

19,78

Tỷ lệ (%)

2.802 2.996 3.246

Tỷ lệ nợ quá hạn trong 3 năm không ổn đinh, năm 2012 tỷ lệ này tăng khá

cao(Từ 17,99% lên 20,43%), điều này là do một số khách hàng lớn của chi nhánh

trong năm 2012 không đủ khả năng tài chính để trả nợ đúng hạn. Năm 2013 tỷ lệ này

giảm nhẹ xuống 19,78 %.

2.2.2. Thực trạng nợ xấu

Nợ xấu bao gồm các khoản nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5 dựa trên cơ sở phân loại

nhóm nợ theo quyết định 636/QĐ-HĐQT-XLRR của NHNNo&PTNT VN. Theo đó

việc phân loại nợ theo nhóm trong thời gian 20101-2013 tại chi nhánh Láng Hạ như

sau:

ảng 2.8:Tỷ trọng nợ xấu trên tổng dƣ nợ

Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

Nợ xấu (%) 3,69 6,19 5,78

(Nguồn: Báo cáo thường niên của NHNNo&PTNT Việt Nam năm 2011 – 2013)

Nhìn vào bảng 2.8 trên đây ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng tỷ lệ nợ xấu của NHNNo&PTNT VN đã tăng mạnh từ năm 2011 đến năm 2012, (từ 3,69% đã tăng lên

tới mức 6,19% ). Sau thời kì tăng trưởng tín dụng nóng những năm 2009 – 2011 thì đến năm 2012 khi mà mức độ dư nợ cho vay tín dụng của NHNNo&PTNT VN vẫn tăng trưởng khá tốt, thì phải đối mặt với một thực tế là khi tình hình kinh tế Việt Nam bị ảnh hưởng mạnh bởi sự suy thoái kinh tế Mỹ và toàn cầu, hoạt động sản xuất kinh doanh của nhiều tổ chức, doanh nghiệp trở nên khó khăn do chi phí sản xuất đầu vào

quá cao ( ảnh hưởng của tình trạng lạm phát), còn đầu ra tiêu thụ hàng hoá lại chậm chạp, không có nguồn thu nhập ổn định để trả lãi vay cho ngân hàng. Chính vì điều đó đã làm phát sinh một lượng lớn nợ xấu cho ngân hàng. Nếu loại trừ nợ xấu của 31

Vinashin, Vinaline (220 tỷ đồng) và nợ xấu của 2 Công ty ALC I, ALC II (4.183,8 tỷ đồng) thì nợ xấu còn là 23.042 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu còn là 5,17%/tổng dư nợ.

Sang đến năm 2013 tình hình vẫn chưa cải thiện là mấy, nhưng NHNNo&PTNT

VN chi nhánh Láng Hạ cũng đã ý thức được việc nợ xấu quá lớn ảnh hưởng tới uy tín

ngân hàng và thu nhập của ngân hàng, do đó đã có những biện pháp thắt chặt chính

sách tín dụng cho vay đối với những đối tượng khách hàng nhất định, bên cạnh đó tìm mọi cách để thu hồi nợ xấu, nên tỷ lệ nợ xấu trong năm 2013 đã giảm 0,41% chỉ còn ở

mức 5,78%.

ảng 2.9:Tỷ trọng nợ xấu phân theo từng nhóm nợ

Đơn vị tính: Tỷ đồng

Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Chênh lệch Nhóm nợ 2012/2011 2013/2012

Tƣơng đối Tuyệt Dƣ nợ Dƣ nợ Dƣ nợ Tuyệt đối đối (%) Tƣơng đối (%)

Nhóm 3 Nhóm 4 Nhóm 5 25 19 60 33 52 100 8 33 40 32,78 178,48 67,79 8 (21) 15 42 31 115 25,27 (39,73) 14,70

(Nguồn: Báo cáo thường niên của NHNNo&PTNT Việt Nam năm 2011, 2012, 2013)

Theo như quyết định 636/QĐ-HĐQT-XLRR, quyết định 493/2005/QĐ-NHNN

và Thông tư 18/2007/QĐ-NHNN, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ

các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 được xếp hạng

vào nhóm 3, chủ yếu là là các khoản nợ đưuọc gia hạn nợ . Các khoảnnợ đưuọc miễn

hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng cũng

được đưa vào nhóm 3. Như vậy với sự thay đổi này thì có thể thấy từ năm 2011 thì nợ

nhóm 3 có xu hướng tăng lên, cụ thể là năm 2013 nợ nhóm 3 ở mức 42tỷ đồng, với tỷ lệ 1,28% tổng dư nợ toàn hệ thống, tăng lên nhẹ so với năm 2012 là 0,17%.

Trong khi đó nợ nhóm 4 trong năm 2013 chỉ còn 31tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 0,97% tổng dư nợ toàn hệ thống, giảm đi 21tỷ đồng so với năm 2012. So với thời điểm 2011 – 2012 nợ nhóm 4 tăng lên ở mức chóng mặt, từ 19 tỷ đồng, đã tăng lên 33 tỷ đồng, ở mức 52 tỷ đồng trong năm 2011. Đây là nhóm nợ có khả năng gây ra tổn thất cao cho

ngân hàng, chính vì lẽ đó với mục tiêu giảm thiểu nợ xấu thì Ngân hàng đã xử dụng

những biện pháp xử lý và thu hồi nợ rủi ro hợp lý để cố gắng thu hồi lại khoản vay, tránh tình trạng mất trắng.

32

Nợ nhóm 5 là nợ có khả năng mất vốn trong năm 2013 lại có chiều hướng tăng lên từ 2,13% lên 3,34% trong năm 2012 tương ứng mức tăng 40 tỷ đồng, đến năm

2013 tỷ lệ nợ nhóm này đã đạt 3,53% năm với mức tương ứng là 115 tỷ đồng, nhiều

hơn 15 tỷ đồng so với năm 2012. Phần nhiều trong số đó là các khoản nợ của doanh

nghiệp hoạt động yếu kém như Vinashin, Vinalines. Trong năm 2013 NHNNo&PTNT

VN đã phát sinh nhiều khoản nợ xấu ngoại tệ do phải cho vay bắt buộc với các khoản bảo lãnh bằng ngoại tệ cho các doanh nghiệp thuộc hai tập đoàn trên. Ngoài ra việc

giải quyết các khoản nợ của ALC 1 cũng đã làm cho tăng dư nợ xấu thêm cho

NHNNo&PTNT VN

ảng 2.10:Tình hình nợ xấu trên nợ quá hạn tại NHNNo&PTNT VN Chi nhánh Láng Hạ

Đơn vị tính: Tỷ đồng

Chênh lệch

2012/2011 2013/2012

Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Tuyệt đối Tuyệt đối Tƣơng đối (%) Tƣơng đối (%)

82 79,34 2 1,29 103 185 188

504 612 642 108 21,25 30 5

20,52 30,30 29,26 9,82 (1,07) Nợ xấu Nợ quá hạn Nợ xấu / Nợ quá hạn (%)

(Nguồn: Báo cáo phân loại nợ năm 2011-2013của NHNNo&PTNT VN Việt Nam)

Qua bảng 2.10 ta có thể thấy tình hình nợ xấu trên nợ quá hạn đã tăng mạnh

trong năm 2011 – 2012 và có xu hướng giảm xuống trong năm 2013. Nguyên nhân của sự gia tăng mạnh đó là do năm 2012 NHNNo&PTNT VN chi nhánh Láng Hạ vẫn có

mức tăng trưởng tín dụng cao nhưng lại không kiểm soát được các khoản cho vay, khiến cho tình trạng nợ quá hạn tăng lên 108 tỷ đồng tương đương 21,25% trong năm

2012. Những nguyên nhân khách quan từ khủng hoảng kinh tế đã khiến cho các khách hàng của NHNNo&PTNT VN Chi nhánh Láng Hạ không thực hiện việc trả nợ đúng hạn, nhiều doanh nghiệp trong số đó thua lỗ nặng nề nhất là doanh nghiệp bất động sản, xây dựng, chứng khoán đã làm trầm trọng thêm nợ xấu của ngân hàng, khiến nợ xấu trong năm 2012 tăng lên 79,34% tương đương 82 tỷ đồng. Tới năm 2013 NHNNo&PTNT VN chi nhánh Láng Hạ đã có những sự quản lý nợ xấu hợp lý, nên tỷ lệ nợ xấu chỉ tăng lên rất ít chỉ ở mức 2 tỷ đồng tương ứng 1,29% nhưng tình trạng

33

khách hàng có nợ quá hạn vẫn còn chiều hướng tăng lên thêm 5,0% tương đương 30 tỷ đồng

Nhìn chung hiện nay tỷ lệ nợ xấu của NHNNo&PTNT VN chi nhánh Láng vẫn ở

mức cao, tuy chỉ là mấy phần trăm nhưng nếu xét trên tổng dư nợ cho vay của ngân

hàng thì lại thấy đây là những khoản nợ không hề nhỏ, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi

nhuận của NHNNo&PTNT VN. Trong thời gian tới nhiệm vụ trọng tâm của ngân hàng là làm sao để có thể xử lý và thu hồi được những khoản nợ xấu nói trên, như vậy

mới tăng được uy tín của ngân hàng trên thương trường.

2.3. Thực trạng phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát

triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Láng Hạ

2.3.1. Mô hình phòng ngừa rủi ro tín dụng

Trong những năm gần đây mô hình phòng ngừa rủi ro tín dụng của

NHNNo&PTNT VN không ngừng đổi mới theo yêu cầu hoạt động bền vững, an toàn

và hội nhập với khu vực cũng như trên toàn thế giới. Trách nhiệm giữa hội sở chính

hay trung tâm điều hành với các chi nhánh và đơn vị trực thuộc được phân định rõ

ràng. Hiện nay, ban tín dụng NHNNo&PTNT VN (bao gồm cả ban tín dụng doanh

nghiệp và ban tín dụng hộ sản xuất) chịu trách nhiệm xây dựng các chính sách va quy

tắc quản trị chung cho công tác quản lý tín dụng trong toàn hệ thống dựa trên những

chính sách và quy tắc đó trực tiếp thực hiện các giao dịch tín dụng, quản lý và kiểm soát, phòng ngừa rủi ro tín dụng.

Tại mỗi chi nhánh trong đó có chi nhánh Láng Hạ đều có phòng kiểm tra kiểm

soát nội bộ thực hiện các chương trình công tác theo sự điều hành chuyên môn trực

tiếp từ Ban kiểm tra kiểm soát nội bộ tại Trung tâm điều hành. Phòng kiểm tra kiểm

soát nội bộ tại các chi nhánh có chức năng kiểm tra kiểm soát việc tuân thủ quy trình

tín dụng, phòng ngừa và cảnh báo rủi ro. Ban Kiểm tra kiểm soát nội bộ xây dựng quy

trình kiểm soát hoạt động tín dụng, xây dựng chương trình công tác kế hoạch kiểm tra

theo yêu cầu từng thời kỳ, đảm bảo hạn chế và phòng ngừa rủi ro ở mức chấp nhận.

Trung tâm phòng ngừa rủi ro là trung tâm xử lý và cung cấp thông tin khách

hang phục vụ công tác phòng ngừa rủi ro tín dụng, giám sát việc phân loại nợ, xử lý rủi ro và công tác tu hồi nợ tại các chi nhánh.

2.3.2. Cơ chế và chính sách tín dụng đối với khách hàng

Cho đến nay chính sách tín dụng của chi nhánh Láng Hạ đều thực hiện theo

những quy chế và căn bản mà NHNNo&PTNT VN đã ban hành phù hợp với quy định

của pháp luật và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cụ thể:

34

 Quyết định số 666/QĐ-HĐQT-TDNH, ngày 15/06/2010 của Hội đồng quản trị NHNNo&PTNT VN ban hành quyết định cho vay đối với khách hàng

trong hệ thống của ngân hàng.

 Quyết định 1434/QĐ-HĐQT-TDDN ngày 22/10/2010 về việc quy định cho vay đối với tổ chức tín dung phi nông nghiệp trong hệ thống

NHNNo&PTNT VN .

 Văn bản số 3582/NHNo-TD ngày 26/11/2001 của Tổng giám đốc NHNNo&PTNT VN về việc “hướng dẫn cho vay người lao động làm việc

có thời hạn ở nước ngoài,,

 Quyết định về bảo lãnh, QĐ cho vay bằng ngoại tệ, QĐ về bao thanh toán; QĐ 130/QĐ-HĐQT-TD về quy tắc bảo đảm tiền vay; QĐ số 1476/NHNo-

TD ngày 29/05/2007 về việc hướng dẫn xây dựng mới, cải tạo, sừa chữa,

mua nhà ở và kinh doanh bất động sản.

 Quyết định 2473/NHNNo-TDHo ngày 9/08/2007 về hướng dẫn cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán; Công văn 1410/NHNo-TD ngày

23/05/2007 hướng dẫn cho vay người lao động đi làm việc ở nước ngoài,…

Có thể nói các quy trình tín dụng, các quy trình nội bộ khác liên quan trực tiếp

đến hoạt động tín dụng được NHNNo&PTNT VN ban hành kịp thời, đầy đủ, phù hợp

với thực tiễn hoạt động của ngân hàng và dựa trên các quyết định của Thống đốc Ngân

hàng Nhà nước Việt Nam, các quy định khác của pháp luật.

2.3.3. Quy trình nghiệp vụ tín dụng

Hiện tại NHNNo&PTNT VN ủy quyền phê duyệt cấp tín dụng cho các chi nhánh

trên cơ sở xếp hạng tín dụng của khách hàng và xếp hạng của từng chính chi nhánh

tương ứng

Đối với các món vay trong quyền phán quyết, CBTD tại chi nhánh là người tiếp

nhận hồ sơ vay vốn, thẩm định xét duyệt các điều kiện vay vốn và đưa ra các ý kiến của

mình về việc cấp tín dụng sau đó trình lãnh đạo phòng tín dụng. Lãnh đạo phòng tín dụng tái thẩm định (nếu cần thiết) và ghi ý kiến đồng ý hoặc không đồng ý cấp tín dung. Nếu

đồng ý, CBTD sẽ trực tiếp giải ngân, quản lý khoản vay và thu nợ. Nếu không đồng ý, Giám đốc (hoặc người được ủy quyền) sẽ thông báo bằng văn bản tới khách hàng.

Đối với những món vay vượt quyền phán quyết, chi nhánh NHNNo&PTNT thẩm định và trình NHNNo&PTNT VN thông qua Ban tín dụng (Ban Tín dụng Doanh nghiệp và Ban Tín dụng Hộ sản xuất). Ban Tín dụng tái thẩm định hồ sơ vay vốn và

đưa ra ý kiếm tha mưu Tổng Giám đốc. Tổng Giám đốc sẽ ra thông báo về việc đồng ý

35

hoặc từ chối cấp tín dụng. Các chi nhánh thực hiện việc cho vay, thu nợ theo đúng thông báo của Tổng Giám đốc.

2.3.4. Hệ thống chấm điểm và xếp hạng khách hàng

Năm 2008, NHNNo&PTNT Việt Nam đã hoàn thành và thử nghiệm hệ thống

xếp hạng tín dụng nội bô RMS ( Risk Management System). Hệ thống này có ý nghĩa

quan trong trong công tác quản trị tín dụng, hỗ trợ phân loại nợ. Ngoài việc đánh giá xếp hạng khách hàng theo đúng quy định của NHNN Việt Nam, phù hợp với các tiêu

chuẩn quốc tế mà các tổ chức tài chính lớn như Standard & Poor, JP Morgan … đang

sử dụng, NHNNo&PTNT VN cũng đã hoàn thành xây dựng module phân loại nợ trên

hệ thống Hiện đại hoá hệ thống thanh toán và kế toán khách hàng ( IPCAS), đáp ứng

yêu cầu của quyết định 493/2005/QĐ-NHNN và Thông tư số 18/NHNN. Module này

đã góp phần tích cực trong việc phòng ngừa rủi ro tín dụng nhờ vào việc phân loại nợ

được thực hiện hàng ngày và thông tin phân loại nợ được tham chiếu tự động đối với

tất cả khách hàng có quan hệ tín dụng với nhiều chi nhánh của NHNNo&PTNT VN.

Hệ thống mã ngành kinh tế cũng được NHNNo&PTNT VN xác lập khá hoàn chỉnh

đáp ứng yêu cầu theo dõi, quản trị danh mục khoản vay theo từng ngành kinh tế.Hệ

thống xếp hạng tín dụng nội bộ của NHNNo&PTNT VN đã chính thức được NHNN

Việt Nam chấp thuận tài quy định 5811/NHNN-TTGSNH ngày 27/02/2011. Theo đó

mọi khách hàng là tổ chức kinh tế đều được NHNNo&PTNT VN thực hiện phân loại nợ và sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng theo Điều 7 của quyết định 493 trên cơ sở báo

cáo tài chính đơn vị cung cấp kết hợp với thông tin NHNNo&PTNT VN thu thập. Hệ

thống chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng của NHNNo&PTNT VN là một

quy trình đánh giá xác xuất khách hàng tín dụng không thực hiện được các nghĩa vụ tài

chính của mình đối với ngân hàng nhu không trả được lãi và gốc nợ vay khi đến hạn

hoặc vi phạm điều kiện tín dụng khác.

Các tình huống này là rủi ro tín dụng trong hoạt động cấp tín dụng. Mức độ rủi ro

tín dụng thay đổi theo từng khách hàng và được xác định thông qua quá trình đánh giá

bằng thang điểm, dựa vào các thông tin tài chính và phi tài chính do khách hàng cung cấp và ngân hàng thu thập được tại thời điểm chấm điểm tín dụng.

NHNNo&PTNT VN xếp các khách hàng là doanh nghiệp thành 10 hạng có mức

độ rủi ro từ thấp đến cao: AAA, AA, A, BBB, BB, B, CCC, CC, C, D

( xem phụ lục số 1)

Quy trình CĐTD khách hàng doanh nghiệp được thực hiện theo các bước sau:

Bước 1: Thu thập thông tin

Cán bộ tín dụng tiến hành điều tra, thu thập thông tin tổng hợp về khách hàng và

phương án sản xuất kinh doanh / dự án đầu tư từ các nguồn:

36

 Hồ sơ do khách hàng cung cấp: giấy tờ pháp lý và các báo cáo tài chính

 Phỏng vấn trực tiếp khách hàng

 Đi thăm thực địa khách hàng

 Báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng

 Trung tâm thông tin tín dụng của NHNN VN

 Phòng thông tin kinh tế tài chính ngân hàng của NHNo & PTNT Việt Nam

 Các nguồn khác

Bước 2: Xác định ngành nghề lĩnh vức sản xuất kinh của doanh nghiệp

NHNNo&PTNT VN áp dụng biểu điểm khác nhau cho 4 loại ngành nghề / lĩnh

vực sản xuất kinh doanh khác nhau, gồm:

 Nông, lâm và ngư nghiệp

 Thương mại và dịch vụ

 Xây dựng

 Công nghiệp

Việc phân loại doanh nghiệp theo ngành nghề kinh doanh doanh và lĩnh vực sản

xuất căn cứ vào ngành nghề trong giấy phép đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp.

Trường hợp doanh nghiệp hoạt động đa ngành thì phân loại theo ngành nghề / lĩnh vực

nào đem lại doanh thu lớn nhất cho doanh nghiệp.

Bước 3: Chấm điểm quy mô doanh nghiệp

Quy mô doanh nghiệp được xác định dựa vào các tiêu chí: vốn kinh doanh, lao

động, doanh thu thuần và giá trị nộp ngân sách nhà nước. Căn cứ vào thang điểm, các

doanh nghiệp được xếp loại thành: quy mô lớn, vừa và nhỏ.

Bước 4: Chấm điểm các chỉ số tài chính

Trên cơ sở xác định quy mô và ngành nghề / lĩnh vực doanh nghiệp, CBTD chấm

điểm các chỉ số tài chính của doanh nghiệp bằng cách nhập số liệu báo cáo tài chính năm do doanh nghiệp cung cấp vào hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, theo các chỉ

tiêu ( xem phụ lục số 2)

Bước 5: Chấm điểm các chỉ tiêu phi tài chính

Sau khi hoàn tất việc chấm điểm theo các bảng trên, CBTD tiếp tục nhập các chỉ tiêu phi tài chính, hệ thống xếp hạng tín dụng sẽ tự động chấm điểm theo bảng trọng số

(xem phụ lục 3).

37

Bước 6: Tổng hợp điểm và xếp hạng doanh nghiệp

Trên cơ sở dữ liệu được nhập, hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ sẽ tự động

chấm điểm (xem phụ luc 4).

Bước 7 : Trình phê duyệt kết quả chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng

CBTD vào hệ thống xêp hạng tín dụng nội bộ để in báo cáo xếp hạng khách hàng

trình giám đốc chi nhánh phê duyệt kết quả. Dựa trên báo cáo xếp hạng tín dụng ngân hàng có chính sách tín dụng phù hợp.

2.3.5. Kiểm tra, kiểm soát tín dụng

 Mục đích của việc kiểm tra, kiểm soát tín dụng độc lập là:

Ngày càng nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng ngân hàng, đảm bảo tuân thủ

các chiến lược tín dụng, chính sách phê duyệt tín dụng và cơ cấu dư nợ tín dụng theo

quy định của ngân hàng.

Tài sản đảm bảo nợ vay phải được thực hiện đầy đủ tính pháp lý và phù hợp với

quy định của ngân hàng. Các khoản nợ gốc lãi, phí tiền vay phải được tính toán và

hạch toán đầy đủ theo từng hợp đồng tín dụng và thời hạn đã thoả thuận. Các khoản nợ

xấu / nợ khó đòi phải được phân loại và dự phòng đầy đủ theo quy định của pháp luật.

Hiện nay hệ thống kiểm tra – giám sát tín dụng độc lập của NHNNo&PTNT VN

được tổ chức từ trung tâm điều hành tới các chi nhánh trong hệ thống

NHNNo&PTNT VN. Để đảm bảo tính chính xác, kịp thời giám sát các hoạt động tài

chính và cho vay trong hệ thống ngân hàng.

 Phân cấp thực hiện và trách nhiệm của từng cấp

Bộ phận kiểm tra và giám sát tín dụng độc lập tại Trung tâm điều hành

NHNNo&PTNT VN có trách nhiệm:

Kiểm tra và giám sát hoạt động tín dụng tại Trung tâm điều hành; Giám sát và định kỳ hoặc đột xuất kiểm tra hoạt động tín dụng tại trung tâm điều hành. Yêu cầu,

tiếp nhận và quản lý báo cáo về kiểm tra hoạt động tín dụng tại các chi nhánh trong hệ thống NHNNo&PTNT VN;

Xây dựng quy chế, quy trình cho toàn hệ thống NHNNo&PTNT VN và giải đáp những thắc mắc, kiến nghị về kiểm tra và giám sát tín dụng của các chi nhánh. Thực

hiện công tác báo cáo, thống kê về hoạt động kiểm tra và giám sát tín dụng cho ban

Tổng giám đốc và HĐQT theo quy định và khi được yêu cầu.

38

Kiểm tra va giám sát hoạt động TD tại Chi nhánh NHNNo&PTNT VN có trách

nhiệm:

Kiểm tra và giám sát hoạt động tín dụng tại chi nhánh của mình; Giám sát và

định kỳ hoặc đột xuất kiểm tra hoạt động tín dụng tại các chi nhánh NHNNo&PTNT

VN cấp dưới. Yêu cầu, tiếp nhận và quản lý báo cáo về kiểm tra hoạt động tín dụng do

các chi nhánh cấp dưới chuyển lên. Thực hiện công tác báo cáo, thống kê về hoạt động kiểm tra và giám sát tín dụng cho Ban giám đốc và Trung tâm điều hành theo quy định

và khi được yêu cầu.

Công tác kiểm tra và giám sát tín dụng độc lập phải được tiến hành thường xuyên

tại từng đơn vị NHNNo&PTNT VN. Ngoài ra, Trung tâm điều hành, các chi nhánh

cấp trên và đồng cấp phải tổ chức các cuộc kiểm tra tín dụng xuống các chi nhánh cấp

dưới theo định kì hàng năm ( 1lần/năm).

Công tác kiểm tra tín dụng được thực hiện theo phương pháp:

Yêu cầu CBTD cung cấp báo cáo mới nhất về khách hàng và các khoản vay của

khách hàng;

Kiểm tra toàn bộ các hồ sơ tín dụng của các khách hàng / khoản vay đang dư nợ

hoặc đã trả hết nợ;

Kiểm tra thông qua phỏng vấn CBTD nhằm đánh giá bằng cảm tính về trình độ

chuyên môn, kỹ năng và hiệu biết của CBTD về hoạt động tín dụng.

2.3.6. Thông tin phòng ngừa rủi ro tín dụng

 Hoạt động thông tin tín dụng trong hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát

triển Nông thôn

Thông tin tín dụng (TTTD) là những thông tin về tài chính, quan hệ tín dụng, bảo

đảm tiền vay, tình hình hoạt động và thông tin pháp lý của khách hàng có quan hệ với

NHNNo&PTNT VN. Do đó hoạt động thông tin tín dụng được hiểu là việc thu thập,

tổng hợp, cung cấp, lưu trữ, phân tích xếp loại, dự báo, trao đổi, khai thác và sử dụng

thông tin tín dụng nhằm góp phần bảo đảm an toàn hoạt động tín dụng của NHNNo&PTNT VN chi nhánh Láng Hạ.

Tại NHNNo&PTNT VN thì hệ thống thông tin tín dụng được thiết lập nhằm hình thành nên cơ sở dữ liệu tập trung về khách hàng để phục vụ cho quá trình cấp tín dụng, phân tích và quản lý tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng thông qua việc tạo ra một cơ chế thu thập, tổng hợp, xử lý và chia sẻ thông tin tín dụng trong nội bộ hệ thống NHNNo&PTNT VN. Thông tin tín dụng đầy đủ, chính xác và có hệ thống về khách hàng sẽ góp phần ngăn ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng, rủi ro lựa chọn nghịch do thiếu thông tin hay thông tin bất đối xứng về khách hàng và đối tượng đầu tư. Mục đích

39

quan trọng nhất của hệ thống thông tin rủi ro tín dụng là tìm kiếm và phát hiện sớm các khoản tín dụng có vấn đề và đánh giá đúng mức độ rủi ro của các khoản nợ, đồng

thời tiên liệu trước khả năng một khoản tín dụng có thể chuyển sang nợ xấu.

Hệ thống thông tin phòng ngừa rủi ro tín dung đã tạo cơ sở nhằm thực hiện đầy

đủ các quy chế hoạt động thông tin tín dụng, chế độ thông tin, báo cáo và quy chế

quản lý, cung cấp và khai thác, sử dụng TTTD điện tử do NHNN ban hành. Ngoài ra còn giúp HĐQT và Ban điều hành NHNNo&PTNT VN có căn cứ xây dựng chiến

lược, chính sách tín dụng và chiến lược quản lý rủi ro trong từng thời kì đối với từng

nhóm khách hàng.

 Cơ cấu tổ chức và phân cấp trách nhiệm quản lý hệ thống TTTD tại Ngân

hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam

Hiện nay hệ thống TTTD tại NHNNo&PTNT VN được tổ chức thành mạng lưới

thống nhất từ trung ương đến các cơ sở theo hình thức tập trung kết hợp với phân tán.

Tức là toàn bộ thông tin tín dụng về khách hàng có quan hệ với bất cứ sở giao dịch, chi nhánh của NHNNo&PTNT VN tại Trung tâm điều hành (CIH) của ngân hàng, đồng

thời tại nơi khách hàng có quan hệ.

Các cán bộ làm việc trong bộ máy tổ chức TTTD đều là cán bộ chuyên trách có

am hiểu về hoạt động NHTM, quản trị rủi ro và có hiểu biết về công nghệ thông tin.

40

Sơ đồ 2.2Hệ thống thông tin rủi ro tín dụng

Trung tâm thông tin tín dụng NHNN

Chi nhánh Chi nhánh Trung tâm TTTD tại NHNN NHNN Trung tâm điều hành

Chi nhánh NHNo Chi nhánh NHNo

(bộ phận TPR) (Bộ phận TPR)

Sở giao dịch

Bộ phận TPR

Khách hàng Khách hàng

Khách hàng

(Nguồn: Ban Tín dụng – NHNNo&PTNT Việt Nam)

 Trung tâm Phòng ngưà và Xử lý rủi ro tín dụng tại Trung tâm điều hành của

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam

Trung tâm TTTD hay CIH (bổ sung) được đặt tại Trung tâm điều hành của NHNNo&PTNT VN nhằm thực hiện tiếp nhận, tổng hợp, xử lý và lưu trữ ( bằng văn bản hay dưới dạng điện tử) toàn hệ thống và cung cấp TTD của khách hàng cho các

chi nhanh, sở giao dịch và các đơn vị liên quan trong toàn hệ thống NHNNo&PTNT VN. Nói cách khác, CIH là kho lưu trữ dữ liệu TTTD tập trung của tất cả các khách hàng của NHNNo&PTNT VN. Nhiệm vụ cụ thể của Trung tâm tín dụng (CIH) hiện nay như sau:

Đóng vài trò điều hành, quản lý tâp trung toàn diện hoạt động thông tin tín dụng

trong toàn hệ thống NHNNo&PTNT VN

Nhiệm vụ phân tích, cảnh báo: Nghiên cứu, tính toán, phân tích và tổng hợp thông tin, báo cáo từ hai luồng: Thông tin sau xử lý và thông tin phi tài chính từ bên 41

ngoài, để đưa ra các ý kiến tham vấn và cảnh báo cho người sử dụng trong cả 2 quá trình: Hoạch đinh, xây dựng mục tiêu, kế hoạch và tổ chức thực hiện các chiến lược:

khách hàng; phát triển và tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ; cạnh tranh; quảng cáo…và dự

phòng các nguy cơ tiềm ẩn rủi ro.

Nhiệm vụ lưu trữ TTTD: Chịu trách nhiệm lưu trữ toàn bộ TTTD của toàn hệ

thống NHNo, bao gồm thông tin đầu vào, đầu ra; thông tin ở dạng văn bản hay điện tử; Thông tin ban đầu hay dẫn xuất; Thông tin tài chính hay phi tài chính…

Thực hiện nghiêm túc thời gian lưu trữ theo chế độ qui định đối với cả hai dạng TTTD

văn bản và điện tử; An toàn, bảo mật thông tin lưu trữ; Đối chứng các tranh chấp, nếu

xảy ra giữa bên cung cấp thông tin và bên được cung cấp

Nhiệm vụ phân phối TTTD: Nghiên cứu, xây dựng danh mục thông tin, báo cáo

dạng văn bản và điện tử; danh sách người sử dụng.

 Bộ phận phòng ngừa và xử lý rủi ro tín dụng tại các chi nhánh, sở giao dịch

Tại các sở giao dịch và chi nhánh của NHNNo&PTNT VN thiết lập hệ thống thông tin tín dụng và cơ sở dữ liệu khách hàng có quan hệ tín dụng trực tiêp với chi

nhánh gọi là hệ thống TTTD cơ sở. Hệ thống TTTD cơ sở có trách nhiệm thu thập,

tổng hợp, phân loại và cung cấp TTTD cho trung tâm điều hành TTTD. Đây là mạng

lưới TTTD cơ sở đóng vai trò hỗ trợ hạt động của CIH cũng như hoạt động TTTD tạ

các chi nhánh. Nhiệm vụ cụ thể như sau:

Thu thập thông tin tín dụng của khách hàng và hoạt động tín dụng tại chi nhánh;

Hỗ trợ kịp thời người sử dụng TTTD tại chi nhánh giải quyết khó khăn, vướng

mắc trong quá trình truy cập, khai thác TTTD;

Quản lý chặt chẽ danh sách người sử dụng. Kịp thời bổ sung hoặc loại bỏ những

đối tượng sử dụng TTTD không phù hợp; Phát hiện kịp thời hành vi vi phạm quy định

về an toán, bảo mật, sử dụng TTTD để có biện pháp xử lý.

2.3.7. Phương thức cho vay và cơ chế tín dụng nông nghiệp - nông thôn

Bên cạnh hoạt động tín dụng đối với các doah nghiệp, các hộ kinh doanh và hộ

gia đình ở đô thị, thì tín dụng đối với hộ sản xuất và tín dụng đối với nông nghiệp - nông thôn có thể coi là thị trường tín dụng lớn nhất của NHNNo&PTNT VN chi nhánh Láng Hạ. Bởi vậy, trong phòng ngừa rủi ro tín dụng, NHNNo&PTNT VN chi nhánh Láng Hạ có phương thức cụ thể và thực hiện cơ chế riêng đối với tín dụng trong lĩnh vực này.

NHNNo&PTNT VNchi nhánh Láng Hạ đã kết hợp cho vay trực tiếp - giải ngân khoản vay tại trụ sở giao dịch - cùng với hình thành các ngân hàng lưu động nhằm đáp ứng kịp thời, nhanh chóng nhu cầu vay vốn, gửi tiền tiết kiệm của người dân. Đến

42

31/12/2013, có 300 tổ vay vốn và trên 7,8 ngàn thành viên (khách hàng vay) còn dư nợ NHNNo&PTNT VN chi nhánh Láng Hạ với tổng số tiền trên 500 tỷ đồng. Mặc khác,

NHNNo&PTNT VNchi nhánh Láng Hạ đã phối hợp tốt với chính quyền địa phương

các cấp để cho vay và thu hồi nợ một cách có hiệu quả, đặc biệt đối với những hộ cho

vay không có tài sản đảm bảo.

Ngoài ra, NHNNo&PTNT VN chi nhánh Láng Hạ thực hiện hiệu quả Quyết định 67/TTg của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản pháp lý có liên quan. Theo đó, các

hộ sản xuất được vay vốn đến 10 triệu đồng không phải thế chấp tài sản. Các hộ làm

kinh tế trang trại được vay 20 triệu đồng và nuôi trồng giống thủy hải sản được vay

dưới 50 triệu đồng cũng không cần phải có tài sản thế chấp. Các DNVVN hoạt động ở nông thôn, DN hoạt động cưng ứng vật tư, dịch vụ hay tiêu thụ sản phẩm, chế biến

nông sản thực phẩm,...cũng được vận dụng cơ chế cho vay thích hự trên cơ sở đảm bảo

tiền vay là tài snar hình thành từ vốn vay, từ đánh giá hiệu quả của dự án.

2.3.8. Trích lập dự phòng rủi ro và xử lý rủi ro tín dụng

 Trích lập dự phòng rủi ro

Chi nhánh Láng Hạ NHNo & PTNT Việt Nam phải thực hiện việc phân loại tài

sản có, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý trong hoạt động kinh doanh. Việc xử lý

rủi ro được thực hiện một quý một lần sau khi đã thực hiện việc trích lập dự phòng rủi

ro và chỉ được xử lý rủi ro trong phạm vị dự phòng hiện có của đơn vị mình.

Không được thông báo cho khách hàng biết về việc xử lý rủi ro không điều chỉnh

giảm nợ trong hồ sơ cho vay và tiếp tục theo dõi đôn đốc thu nợ. Mọi khoản thu hồi nợ

được từ những khoản rủi ro đã được xử lý sau khi trừ chi phí hợp lý được hạch toán

vào thu nhập của đơn vị. Những khoản cho vay bằng nguồn vốn tài trợ uỷ thác đầu tư

cho hiệp định không phải trích lập rủi ro theo qui định.

 Trích lập để xử lý rủi ro

Định kỳ hàng quí Giám đốc chi nhánh thực hiện phân loại tài sản Có và dự kiến

số tiền phải trích lập dự phòng , trình những khoản rủi ro đủ điều kiện xử lý và lập

phương án thu hồi nợ.

Nợ chuyển sang nợ quá hạn được phân loại vào nhóm II, sau đó nợ chuyển sang nợ quá hạn nếu chưa được hoàn trả thì TCTD căn cứ vào thời gian quá hạn thực tế để chuyển sang nhóm III, nhóm IV tương ứng.

Khi khách hàng vay đã trả hết nợ của các kỳ hạn nợ quá hạn và hết hạn phải trả ( nếu có), nợ chuyển sang nợ quán hạn còn lại của các khoản vay đo được chuyển về nợ trong hạn và phân loại nhóm 1.

 Phương pháp trích lập dự phòng rủi ro tín dụng

43

 Trích theo quý

Trong thời hạn 15 ngày làm việc đầu của tháng thứ 3, mỗi quý các đơn vị căn cứ

vào số dư tại thời điểm ngày cuối cùng của tháng thứ 2 quý đó thực hiện phân loại và

trích lập dự phòng rủi ro.

So sánh số phải trích với số dự phòng hiện có:

Nếu số phải trích lớn hơn: Phải trích thêm phần thiếu

Nếu số phải trích nhỏ hơn: Không phải trích tiếp

Dự phòng chung: TCTD thực hiện việc trích lập dự phòng và duy trì dự phòng

chung bằng 0,75% tổng giá trị của các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4.

Tính đến ngày 30/12/2013 thì NHNNo&PTNT VN đã thực hiện việc trích lập dự

phòng rủi ro tín dụng theo phân loại nợ là 1301,91 tỷ đồng, trong đó trích lập: dự

phòng rủi ro cụ thể là 1278,42 tỷ đồng và dự phòng chung là 23,49 tỷ đồng. So với

năm 2012 thì đã tăng lên110 tỷ đồng tương đương mức tăng 8,5%, năm 2011 Agriank

đa thực hiện việc trích lập dự phòng rủi ro là 1140 tỷ đồng.

 Xử lý rủi ro tín dụng

Năm 2013, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục chịu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh

tế thế giới, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh và thị trường

bất động sản tiếp tục trầm lắng đã ảnh hưởng rất lớn đến khả năng trả nợ ngân hàng

nhưng với sự chỉ đạo quyết liệt của HĐQT, Ban điều hành và sự cố gắng của tất cả các

nhân viên trong toàn hệ thống NHNNo&PTNT VN thì bằng nhiều các biện pháp

nghiệp vụ linh hoạt tháo gỡ khó khăn như cơ cấu lại các khoản nợ, miễn giảm lãi, xử

lý tài sản đảm bảo, sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng để xử lý rủi ro góp phần không

nhỏ vào việc thực hiện chỉ tiêu kế hoạch về nợ xấu, trích lập, xử lý rủi ro và thu hồi nợ

đã xửi lý rủi ro. Một số biện pháp xử lý rủi ro và kết quả đạt được:

Một số biện pháp xử lý rủi ro:

- Hướng xử lý tổ chức khai thác

 Bổ sung tài sản đảm bảo: Khoản vay có biểu hiện bất ổn, nguồn thu là không rõ ràng, tài sản đảm bảo có độ khả mại thấp, thấp hơn giá trị khoản vay , ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng bổ sung tài sản đảm bảo.

 Khoanh nợ, xoá nợ: Trường hợp khi áp dụng biện pháp thu hồi được nợ, trên cơ sở những văn bản quy định, hướng dẫn của Nhà nước về khoanh nợ, xoá nợ, cán bộ tín dụng(CBTD) theo dõi, rà soát điều kiện tập hợp khoanh

nợ, xoá nợ, báo cáo Trường phòng Tín Dụng để trình lãnh đạo xem xét quyết định hoặc trình cấp có thẩm quyền quyết định. Nếu được phê duyệt

44

CBTD sẽ chuyển hồ sơ cho phòng hạch toán kế toán và thông báo cho khách hàng.

 Xử lý các tài sản bảo đảm tiền vay:

- Ngân hàng có quyền xử lý tài sản đảm bảo tiền vay:

- Trực tiếp bán cho người mua

- Uỷ quyền cho tổ chức, cá nhân đấu giá

- Nhận chính TSĐB tiền vay thay thế cho nghĩa vụ trả nợ

- Nhận tiền hoặc tài sản của bên bảo lãnh

 Hướng sử dụng các biện pháp thanh lý

 Nợ đọng có TSĐB

 Nợ không có TSĐB và không còn đối tượng để thu

 Nợ tồn đọng không có TSĐB và con nợ còn tồn tại, hoạt động

Kết quả đạt được trong năm 2013 là NHNNo&PTNT VN Chi nhánh Láng Hạ đã

xử lý rủi ro trong toàn hệ thống đạt mức 14.107 tỷ đồng, tăng lên 11.548 tỷ đồng

tương ứng tăng lên 451,3% so với năm 2011 là 2.559 tỷ đồng. Đây là một kết quả khả

quan cho thấy sự cố gắng nỗ lực của ngân hàng trong việc xử lý rủi ro để giảm tỷ lệ nợ xấu, trong khi nhiều NHTM CP khác lại không có được kết quả khả quan như vậy.

2.4. Đánh giá thực trạng phòng ngừa và xử lý rủi ro tín dụng trong Chi nhánh

NHNo & PTNT Láng Hạ trong thời gian qua

a. Những kết quả đạt được.

Trong những năm qua Chi nhánh NHNo & PTNT Láng Hạ đã thực hiện các

giải pháp nhằm chủ động kiểm soát mức độ tăng trưởng tín dụng, đảm bảo thực hiện

nghiêm túc các giới hạn tín dụng NHNo & PTNT giao, kiểm soát được rủi ro tín dụng.

Đồng thời Chi nhánh nghiêm túc thực hiện việc chuyển nợ quá hạn theo quyết định số

127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005 của Thống đốc NHNN, thực hiện phân loại nợ

và trích lập dự phòng rủi ro theo đúng quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN của Thống đốc, từ đó đánh giá chính xác hiệu quả và xây dựng các biện pháp nâng cao hiệu quả

của công tác tín dụng, đảm bảo an toàn hệ thống. Năm 2011 nợ xấu trong toàn Chi nhánh là 103 tỷ đồng , chiếm 3,6% trên tổng dư nợ. Năm 2012 tỷ đồng lệ nợ xấu là 185 tỷ đồng chiếm 6,1%. Năm 2013 nợ xấu 188 tỷ đồng chiếm 5,79% dư nợ.

Chi nhánh đã thực hiện tốt công tác thông tin tín dụng CIC, thực hiện nghiêm túc việc phân loại khách hàng để lựa chọn cho vay những khách hàng có tín nhiệm và phân quyền phán quyết cho từng Chi nhánh cấp II, phòng giao dịch, từng loại khách hàng cụ thể để đảm bảo an toàn vốn và hạn chế rủi ro ngay từ khi mới cho vay.

45

Do làm tốt công tác kiểm tra trước khi cho vay, trong khi cho vay nên vốn tín

dụng đầu tư mang lại hiệu quả cao.

b. Những tồn tại và nguyên nhân.

* Những tồn tại.

Thứ nhất: Chi nhánh chưa quan tâm đúng đến công tác thông tin tín dụng, chưa

bố trí cán bộ phù hợp và ổn định, trình độ tin học của cán bộ làm công tác tín dụng còn bất cập và chưa quán triệt về sự cần thiết và khả năng khai thác sử dụng nguồn thông

tin thu được, chưa có sự phối hợp giữa cán bộ làm tín dụng và cán bộ vi tính và kế

toán. Vì vậy chất lượng thông tin thu thập chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiều nơi còn

mang tính hình thức.

Thứ hai:Công tác trích lập và xử lý rủi ro chưa thực sự hoàn hảo. Trong hai

năm 2011, 2012 thì NHNNo&PTNT VN đã thực hiện việc phân loại nợ theo quyết

định 493/2005/QĐ - NHNN, tuy nhiên việc phân loại nợ theo quyết định này lại chỉ có

mô hình định lượng, mà lại chưa có định tính, do đó việc phân loại nợ là chưa được

chính xác, nhiều khoản nợ có thể bị bỏ qua không phân loại và dẫn đến tình trạng trích

lập dự phòng không đủ, gây ra tổn thất sau này cho ngân hàng nếu phát sinh vấn đề.

Việc xử lý rủi ro hiện nay cũng đã được NHNNo&PTNT VN quan tâm chỉ đạo, tuy

nhiên việc thực hiện vẫn còn nhiều bất cập, không có những biện pháp mạnh, triệt để

khiến công việc thu hồi nợ đã qua xử lý rủi ro chỉ đạt từ 75% - 80% kế hoạch đề ra hàng năm.

Thứ ba:Hệ thống xếp hạng và chấm điểm tín dụng chưa thực sự được hoàn

thiện, đánh giá đúng khả năng của khách hàng, việc áp dụng còn mang nặng tính hình

thức. Hiện NHNNo&PTNT VN thực hiện việc chấm điểm và xếp hạng tín dụng theo

công văn số 1406/NHNo – TD ngày 23/05/2007 của Tổng giám đốc NHNNo&PTNT

VN thông qua 5 tiêu chí: Lợi nhuận, tỷ suất tự tài trợ, khả năng thanh toán ngắn hạn, tỷ

lệ nợ xấu tín tại NHNNo&PTNT VN, tình hình chấp hành pháp luật. Tuy nhiên thì mô

hình mới áp dụng cho các khách hàng vay trên 500 triệu đồng, đối với các khách hàng vay dưới 500 triệu đồng thì lại do chi nhánh tiến hành đánh giá theo bộ xếp hạng và

chấm điểm riêng, như vậy thì vẫn sẽ xảy ra tình trạng làm sai trái của cán bộ tín dụng để trục lợi, tuy khoản vay dưới 500 triệu đồng nhỏ nhưng với số lượng lớn thì sẽ tạo thành những khoản nợ quá hạn lớn đối với ngân hàng một khi phát sinh. Thêm vào đó việc phát hành sổ tay tín dụng cũng chưa thực sự đem lại nhiều lợi ích, việc thực hiện áp dụng sổ tay tín dụng mới chỉ thí điểm ở một vài chi nhánh, chưa được mở rộng do

bản thân sổ tay tín dụng còn bộc lộ nhiều khuyết điểm, chưa có những chương trình tập huấn cho cán bộ để có thể hiểu và nắm bắt những quy trình, quy định trong cho

vay mà sổ tay tín dụng đề cập đến.

46

Thứ tư: Hiện nay chi nhánh NHNNo&PTNT VN Láng Hạ hiện đang thiếu đội ngũ cán bộ quản lý rủi ro tín dụng được đào tạo bài bản, thiếu các chuyên gia phân tích

tình hình biến động của từng lĩnh vực hay ngàn, phần lớn cán bộ đào tạo theo kiến

thức mở ra đến đâu đào tạo đến đó. Chưa có chiến lược đào tào nhân lực dài hạn, trong

đó : chưa đánh giá đúng thực trạng cán bộ; xác định rõ nhu cầu đào tạo; đề xuất kế

hoạch đào tạo cụ thể;…Việc xác định nhu cầu đào tạo, đặc biệt là trong lĩnh vực tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng thì chưa được nghiên cứu đánh giá theo thực tế, phần

lớn xuất phát từ những đề xuất mang tính chủ quan của các đơn vị trong hệ thống cũng

như của Trung tâm đào tạo. Các kế hoạch đào tạo chỉ được thực hiện ngắn hạn, chưa

giúp cho nhân viên tiếp thu được kiến thức và có thời gian để ngân hàng kiểm tra kiến thức của họ trong khi ở những lĩnh vực như tín dụng, quản trị RRTD luôn cần những

nhân viên, cán bộ tín dụng nắm rõ được quy trình cho vay, thẩm định và đánh giá được

chính xác về khách hàng cũng như các văn bản quy định của NHNo, NHNN và CP.

Chưa có được chương trình đào tạo khoa học và cụ thể dẫn đến chất lượng cán bộ

chưa đồng đều, thiếu chuyên nghiệp.

Thứ năm: Mở và khai thác các dịch vụ Ngân hàng còn yếu, chưa có nhiều sáng

kiến cải tiến lề lối làm việc, cải tiến quy trình tác nghiệp để nâng cao năng suất lao

động.

*Nguyên nhân.

Nguyên nhân nợ quá hạn hiện nay của Chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ tồn

tại dưới hai dạng, nợ quá hạn do chủ quan ngân hàng và nợ quá hạn nguyên nhân từ

phía khách hàng. Để tìm hiểu, khắc phục và hạn chế nợ quá hạn Chi nhánh đã phân

loại nợ quá hạn theo các nguyên nhân cụ thể (xem phụ lục 5)

Qua bảng số liệu có thể thấy nguyên nhân nợ quá hạn ở chi nhánh chủ yếu là do

nguyên nhân từ phía khách hàng, mà chủ yếu là do khách hàng kinh doanh thua lỗ

không có khả năng trả nợ (năm 2011 chiếm 46,91%, năm 2012 51,07%, đến năm 2013

tăng lên 74,04%), do sử dụng vốn sai mục đích(năm 2012 23,19% , đến năm 2013 đã giảm đáng kể chiếm 6,86%) và do chưa thu được công nợ( năm 2012 chiếm 24,46%,

năm 2013 là 15,88%).

 Nguyên nhân về phía khách hàng:

Một là: Kỹ thuật, trình độ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chưa cao, tính toán chọn phương án kinh doanh thiếu thông tin, thiếu chính xác dẫn đến hiệu quả đầu tư thấp, lợi nhuận thấp có khi còn thua lỗ gây khó khăn cho việc trả nợ cho Ngân hàng.

Hai là: Khả năng tài chính của doanh nghiệp còn non yếu, nên chỉ một rủi ro

nhỏ cũng làm mất khả năng thanh toán không trả được nợ Ngân hàng.

47

Ba là: Tư cách đạo đức của người đi vay, mặc dù đa số người vay có ý nghĩ tốt đẹp với mong muốn trả nợ đúng hạn cho Ngân hàng từ hiệu quả sản xuất kinh doanh

của mình, nhưng trong số đó có một số khách hàng lại không có thiện chí như vậy.

Đến hạn trả nợ lãi họ không chịu trả trong nhiều tháng liền khiến cho các khoản vay

đều bị chuyển nợ quá hạn. Chỉ đến khi cán bộ tín dụng đến tận nơi nhắc nhở mới chịu

trả, gây khó khăn và mất thời gian cho cán bộ tín dụng khi mà lúc nào cũng phải lo đi thúc đãi.

Bốn là: Sử dụng vốn sai mục đích như dùng vốn của Ngân hàng để kinh doanh

những ngành nghề không hợp pháp như: Buôn lậu, đầu tư bất động sản nhưng lại làm

phương án kinh doanh về ngành nghề khác, dẫn đến mất vốn, gây khó khăn cho việc trả nợ Ngân hàng

 Nguyên nhân về phía Ngân hàng:

Một là: Khâu thẩm định khách hàng ban đầu chưa đầy đủ, chính xác trước khi

cho vay nên có những khách hàng vay trong khi đó nguồn trả nợ của họ không có. Mặt khác do tư tưởng muốn tăng nhanh dư nợ, cạnh tranh khách hàng, có một số trường

hợp vận dụng hạ thấp tiêu chuẩn và bỏ qua nguyên tắc tín dụng. Vì vậy, muốn nâng

cao chất lượng tín dụng đòi hỏi khả năng hết sức nhạy bén của cán bộ tín dụng trong

công tác thẩm định khách hàng ngay từ đầu.

Hai là: Việc đánh giá tài sản thế chấp của khách hàng chưa chặt chẽ. Ngân hàng

đã không thực hiện tốt công tác kiểm tra, đánh giá đúng giá trị tài sản hoặc giấy tờ

mang tính hợp pháp của tài sản thế chấp. Đến khi khách hàng không trả nợ được buộc

Ngân hàng phải đem tài sản thế chấp đó phát mại thì khó khăn trong việc thu hồi vốn.

Ba là: Công tác kiểm soát chưa chặt chẽ. Từ đó, không phát hiện được khách

hàng sử dụng vốn sai mục đích, hoặc kinh doanh thua lỗ để có biện pháp xử lý kịp

thời.

Bốn là: Cán bộ tín dụng chưa năng động trong thu thập thông tin nên có những

thông tin sai lệch về khách hàng, không đánh giá đúng năng lực tài sản chính của khách hàng nên đã cho họ vay số tiền lớn hơn khả năng hoàn trả của họ dẫn đến rủi ro

cho Ngân hàng.

Năm là: Vấn đề thẩm định các dự án liên quan đến kỹ thuật, công nghệ, thiết bị, nguyên vật liệu cho dự án còn gặp nhiều khó khăn hạn chế do trình độ của cán bộ tín dụng còn non trẻ, hầu hết mới ra trường chưa có nhiều kinh nghiệm, chưa được hoàn toàn đào tạo chuyên sâu để bắt kịp với cơ chế mới nên đã ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của Ngân hàng

48

Công tác phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong kinh doanh tín dụng đã được quan tâm song do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan mang lại nên tỷ lệ nợ quá hạn

cũng tăng dần theo tỷ lệ tăng trưởng của dư nợ tín dụng để giải quyết vấn đề này

NHNo & PTNT phải thực hiện biện pháp trích lập và xử lý rủi ro hàng năm làm trong

sạch tình hình tài chính

49

KẾT LUẬN CHƢƠNG 2

Chi nhánh Láng Hạ của NHNNo&PTNT Việt Nam đang áp dụng nhiều phương thức đề phòng ngừa rủi ro tín dụng. Tuy nhiên trong xu thế hội nhập toàn câu hoá hiện

này, việc mở rộng hoạt động kinh doanh, tăng thêm nhiều gói sản phẩm dịch vụ ngân

hàng mới cả trong và một số thị trường ngoài nước đòi hỏi phải phát triển hệ thống

quản trị rủi ro và nhất là mô hình phòng ngừa rủi ro theo hướng hiện đại, phù hợp với các thông lệ quốc tế. Với tiêu chí “phát triển phải bền vững, bền vững để phát triển”

NHNNo&PTNT VN cần nâng cao khả năng phòng ngừa và chống đỡ rủi ro thông qua

việc xác định nhu cầu vốn và mức độ rủi ro của từng ngành, từng lĩnh vực và tường

loại đối tượng khách hàng.

Trên cơ sở thực trạng hoạt động tín dụng và phòng ngừa rủi ro tín dụng của

NHNNo&PTNT VN thì những khó khăn hiện nay của ngân hàng đang phải đối đầu đó

là sự biến động phức tạp của thị trường kinh tế, nguồn lao động chất lượng cao thiếu

hụt, hệ thống thông tin quản lý đổi mới hiện đại nhưng chưa đồng bộvà hoàn thiện, các

chính sách, văn bản tín dụng chưa thực sự phù hợp với sự thay đổi nhanh chóng của xã

hội. Trong chương 3 tiếp theo, dựa trên những phân tích về khó khăn trên của

NHNNo&PTNT VN đã đề ra một số giải pháp nhằm giúp cho hoạt động phòng ngừa rủi ro tín dụng được nâng cao hiệu quả.

50

CHƢƠNG 3. CÁC GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM PHÒNG NGỪA RỦI

RO TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH NHNO&PTNT LÁNG HẠ

3.1. Định hƣớng về phòng ngừa rủi ro tín dụng của Chi nhánh NHNo&PTNT

Láng Hạ.

Mục tiêu trong năm 2014.

Với mục tiêu ổn định- An toàn và phát triển Chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ đã đề ra định hướng chiến lược cho hoạt động tín dụng cho năm 2014 với các nội

dung:

1. Tập trung các biện pháp để đẩy mạnh huy động vốn, tích cực tiếp thị để khai

thác các nguồn tiền gửi của các tổ chức kinh tế -xã hội trên địa bàn, đảm bảo đủ vốn để

cho vay các thành phần kinh tế và nhu cầu thanh toán của khách hàng.

2. Chủ động nắm diễn biến lãi suất, phí dịch vụ trên thị trường để điều chỉnh kịp

thời đảm bảo cạnh tranh lành mạnh và có hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu tăng

trưởng huy động vốn và cho vay nền kinh tế.

3. Tiếp tục mở rộng và tăng trưởng tín dụng, tập trung đầu tư vào các doanh

nghiệp làm ăn có hiệu quả,có tín nhiệm với Ngân hàng.

4.Thực hiện nghiêm túc việc hạch toán dự thu, dự chi hàng tháng để phản ánh

đúng kết quả tài chính , bám sát kế hoạch lợi nhuận được giao, triệt để tận thu và tiết

kiệm chi phí đảm bảo hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch lợi nhuận được

giao.

5. Tăng cường kiểm tra và kiểm soát nội bộ, nâng cao ý thức chấp hành cơ chế

chính sách của ngành và của NHNN. Tăng trưởng dư nợ nhưng không hạ thấp điều

kiện tín dụng và lãi suất. Xử lý nghiêm đối với cán bộ vi phạm.

Mục tiêu:

 Phấn đấu tăng trưởng nguồn vốn và dư nợ trong phạm vi kế hoạch được

NHNo&PTNT Việt nam phê duyệt.

 Tỷ lệ nợ xấu dưới 1%.

 Tỷ lệ thu dịch vụ/thu nhập ròng: 20%.

 Tài chính: Tăng thu tiết kiệm chi, đảm bảo quỹ thu nhập đạt và vượt kế hoạch, tăng trưởng tối thiểu 10% so với năm 2013, đảm bảo quỹ thu nhập để đạt hệ số lương V1 + V2 và có 4 tháng lương năng suất, ít nhất bằng năm 2013.

51

3.2. Một số giải pháp nhằm phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Chi nhánh NHNo &

PTNT Láng Hạ

3.2.1. Giải pháp hoàn thiện công tác phân tích đánh giá khách hàng

Trong hoạt động tín dụng phải tích cực kiểm tra kỹ các điều kiện, nguyên tắc tín

dụng, chấp hành nghiêm chỉnh quy trình cho vay, món vay phải được thẩm định để

đảm bảo an toàn cho vốn vay. Ngân hàng cần phải thực hiện nghiêm túc, đầy đủ công tác đánh giá khách hàng. Phải coi đây là biện pháp quan trọng nhằm hạn chế rủi ro đối

với mọi khách hàng.

Ngân hàng cần phải luôn luôn có những thông tin đầy đủ và xác thực nhất về

khách hàng của mình để có những biện pháp ứng xử kịp thời. Để làm được việc này,

một mặt Ngân hàng phải coi khách hàng của mình là bạn hàng, bình đẳng với nhau

trong kinh doanh, mặt khác phải xem xét đánh giá khách hàng một cách đúng đắn về

các mặt: Tình hình tài chính, tính khả thi của dự án, uy tín và người đứng đầu của

doanh nghiệp. Từ đó, Ngân hàng mới có thông tin đầy đủ về khách hàng vay vốn.

Việc thường xuyên xem xét, phân tích đánh giá tình hình tài chính của doanh

nghiệp sẽ giúp ngân hàng nắm được thực trạng hoạt động, xác định rõ nguyên nhân,

mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố khác nhau đến tình hình tài chính của doanh

nghiệp. Tình hình tài chính của một khách hàng bao gồm các mặt: Khả năng bảo toàn

phát triển vốn, khả năng thanh toán, tình hình chiếm dụng và bị chiếm dụng vốn, kết quả hoạt động về mặt tài chính, tình hình lỗ lãi trong kinh doanh...Từ đó, đánh giá tình

hình khả năng trả nợ vay Ngân hàng, tình hình chấp hành những qui định, thể lệ,

nguyên tắc vay vốn tín dụng của khách hàng. Thông qua việc đánh giá các mặt hoạt

động tài chính của khách hàng, ngân hàng có thể đưa ra những quyết định đúng đắn

kịp thời trong quan hệ tín dụng với khách hàng.

Bên cạnh đó, Ngân hàng phải đánh giá cả về tính khả thi của dự án kinh doanh.

Mục đích của tín dụng là đầu tư, bổ sung các nhu cầu sản xuất kinh doanh cho khách

hàng, nên trong quan hệ tín dụng với ngân hàng, khách hàng phải giải trình dự án hoặc kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình để vay vốn. Việc đánh giá tính khả thi của dự

án cũng là một việc làm không thể thiếu được đối với ngân hàng trước khi ra quyết định bỏ vốn đầu tư.

Vấn đề cuối cùng đánh giá về khách hàng là tìm hiểu uy tín và trình độ của những người đứng đầu doanh nghiệp hoặc khách hàng vì người này có vai trò rất quan trọng đối với chất lượng và hiệu quả của quá trình kinh doanh. Một người có uy tín, có

kiến thức kinh doanh, biết nhìn xa trông rộng sẽ lãnh đạo công việc kinh doanh thành công, tránh được mọi rủi ro.

52

Tóm lại: Để đảm bảo khoản vay có chất lượng cao nhằm hạn chế rủi ro, ngân

hàng cần tiến hành những bước sau:

Thường xuyên phân tích và đánh giá hoạt động của khách hàng và những yếu tố

liên quan khác tới việc cấp tín dụng tập trung vào một số các mặt sau:

 Nghiên cứu năng lực pháp lý của khách hàng.

 Nghiên cứu khả năng tài chính của khách hàng

Năng lực và phẩm chất của người điều hành: Khả năng kinh doanh, uy tín trên

thị trường và với ngân hàng.

Năng lực kinh doanh: Xem xét chiến lược khách hàng, chiến lược sản phẩm, tổ

chức mạng lưới kinh doanh, khả năng sinh lời.

3.2.2. Kiểm tra chặt chẽ quy trình phát tiền vay, sử dụng vốn vay.

Quá trình giám sát nhằm theo dõi nắm bắt đầy đủ kịp thời mọi diễn biến của

quá trình sử dụng tiền vay và tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng:

 Nội dung sử dụng tiền vay của khách hàng, người thụ hưởng tài khoản thanh toán, tính hợp lý của thời điểm tính toán căn cứ vào các chứng từ: Lệnh

chuyển tiền, uỷ nhiệm chi.

 Xét xem hàng hoá dịch vụ gắn liền với sử dụng tiền vay căn cứ vào hoá đơn,

phiếu nhập kho, thẻ kho.

 Xét xem việc lưu chuyển hàng hoá - tiền tệ: Khi hàng hoá đã chuyển sang trạng thái tiền tệ, thì tiền đang ở đâu: Công quỹ tiền mặt hoặc tài khoản tiền

gửi Ngân hàng căn cứ xem xét vào quá trình hạch toán kế toán.

 Đánh giá lại tài sản thế chấp theo giá trị hiện hành, nếu giảm so với lúc thế

chấp hoặc cầm cố, phải bổ sung tài sản hoặc giảm dư nợ.

 Phân tích các báo cáo tài chính và tình hình sản xuất kinh doanh mới nhất của khách hàng, đối với những khách hàng có số dư nợ lớn thì định kỳ sáu tháng

hay một năm cán bộ tín dụng phải phân tích toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh và tài chính.

 Đánh giá tình hình thị trường và ngành sản xuất kinh doanh của người vay có ảnh hưởng đến vốn vay của Ngân hàng như những yếu tố cung cầu hàng hoá, giá cả sức cạnh tranh và những thay đổi về chính sách với ngành nghề đó.

 Nếu trong quá trình giám sát khách hàng, Ngân hàng nhận thấy những dấu hiệu bất lợi có ảnh hưởng đến vốn vay thì cán bộ tín dụng xem xét và kiến nghị một số biện pháp nhằm bảo vệ lợi ích của Ngân hàng.

53

 Giám sát chặt chẽ hơn đối với những khoản vay khách hàng sử dụng sai mục đích vay ban đầu. Nếu cán bộ tín dụng nhận thấy những đầu tư mới có hiệu

quả hơn so với mục đích vay cũ và đồng ý tiếp tục giải ngân.

 Điều chỉnh kì hạn nợ cho phù hợp đối với những khoản vay mà khách hàng hoàn trả tiền vay cho Ngân hàng chậm hoặc không đầy đủ do chưa phù hợp

với nguồn thu của doanh nghiệp có thể điều chỉnh kì hạn trả nợ gốc hoặc điều

chỉnh kì hạn trả nợ lãi.

 Nếu có sự gia tăng bất thường của hàng tồn kho thì Ngân hàng nên cùng với khách hàng tìm hiểu lý do và tư vấn cho khách hàng những biện pháp tiêu thụ

hàng hoá có hiệu quả hơn, khuyến khích khách hàng thu hồi các khoản đầu tư

chưa đến hạn hoặc các khoản bán chịu cho bạn hàng.

3.2.3. Giải pháp nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ tín dụng

a. Đào tạo cán bộ.

Có nhiều hình thức đào tạo cán bộ đó là đào tạo dài hạn, đào tạo ngắn hạn, tập

huấn nghiệp vụ hàng năm nhằm nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ nhất là cán

bộ tín dụng. Vì những cán bộ này là người thay mặt ngân hàng xem xét phân tích

khách hàng, phân tích dự án, phương án để quyết định cho vay. Nếu quyết định cho

vay đúng, mức cho vay phù hợp thì vốn vay phát huy hiệu quả, ngân hàng thu hồi

được cả nợ gốc và lãi đúng hạn. Nếu giải quyết cho vay sai thì tiềm ẩn rủi ro phát sinh

ngay từ khi vay tiền và trong suốt quá trình sử dụng vốn vay.

b. Tăng cường giáo dục phẩm chất đạo đức nghề nghiệp.

Tăng cường giáo dục phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ tín dụng với

mục đích làm cho cán bộ tín dụng làm việc với năng suất, chất lượng hiệu quả và tinh

thần trách nhiệm cao, có trách nhiệm từ khi cho vay đến khi hết nợ.

c. Bố trí sắp xếp và sử dụng cán bộ tín dụng một cách hợp lý.

Bố trí cán bộ tín dụng phải có trình độ, có kinh nghiệm thực tế, phải năng động sáng tạo có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu kinh doanh đạt ra. Với một khối lượng

công việc lớn, số lượng khách hàng đông, địa bàn rộng, khó khăn đòi hỏi phải có đủ cán bộ để đảm đương công việc, tỷ lệ cán bộ tín dụng phải được bố trí lên 50% số cán

bộ công nhân viên.

d. Quy định thời gian cán bộ đi cơ sở chiếm 2/3 thời gian làm việc trong tháng.

Để nắm bắt tình hình đơn vị huy động vốn, kiểm tra sử dụng vốn vay, đôn đốc thu lãi, thu nợ và xử lý kịp thời khi có các vấn đề xảy ra có nguy cơ dẫn đến rủi ro vốn Ngân hàng.

54

e. áp dụng chế độ giao khoán công việc cho cán bộ tín dụng với một số chỉ tiêu

chủ yếu.

Doanh số cho vay, doanh số thu nợ, nợ quá hạn, tỷ lệ nợ quá hạn, số lượng

khách hàng được kiểm tra sau khi cho vay. Chế độ khoán được áp dụng từng quý phù

hợp với mục tiêu của Chi nhánh. Kết thúc quý, tiến hành quyết toán kết quả khoán làm

cơ sở cho việc chi lương. Việc áp dụng chế độ khoán đến cán bộ tín dụng là cơ sở để động viên cán bộ làm việc với năng suất, chất lượng cao vì người lao động biết trước

được mình sẽ có được thu nhập là bao nhiêu nếu hoàn thành nhiệm vụ.

f. Tổ chức các lớp tập huấn ngắn ngày.

Tổ chức các lớp tập huấn ngắn ngày về thẩm định dự án đầu tư thông qua các

tiểu giáo viên hoặc các hợp đồng ký với các trường đại học như Học viện Ngân hàng,

Đại học Kinh tế Quốc dân, các trung tâm đào tạo của ngành Ngân hàng. Trong quá

trình xét duyệt cho vay, việc thẩm định dự án xem có hiệu quả không, mức cho vay

của Ngân hàng tham gia là bao nhiêu là vấn đề khó nhất, mà cũng là khâu yếu của cán

bộ tín dụng hiện nay.

g. Thực hiện đổi địa bàn tín dụng 2 năm 1 lần.

Nhằm phòng ngừa hiện tượng cán bộ cửa quyền hoặc thông đồng với khách

hàng, nhằm phát hiện những sai sót qua công tác bàn giao.

h. Quan tâm chú trọng phong trào thi đua.

Sự phối hợp với chuyên môn và công đoàn nhằm động viên cán bộ nhân viên

phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ, có tổng kết và đánh giá khen thưởng kịp thời.

i. Hàng năm tổ chức hội thi cán bộ tín dụng giỏi.

Từ các Phòng giao dịch đến các Chi nhánh cấp II, nội dung thi là các kiến thức,

thể lệ chế độ về công tác tín dụng, các chính sách, pháp luật của Nhà nước, của các bộ

ngành có liên quan đến công tác tín dụng. Qua tổ chức hội thi giúp cho cán bộ nắm bắt

chế độ tốt hơn, có kinh nghiệm và kiến thức chuyên môn giúp cho việc hoàn thành

nhiệm vụ tốt hơn. Đây cũng là cơ sơ để có quy hoạch bồi dưỡng, đào tạo cán bộ trong lĩnh vực tín dụng.

55

3.2.4. Các giải pháp phân tán rủi ro

a. Thực hiện đa dạng hoá các hình thức tín dụng.

Đa dạng hoá các hình thức hoạt động tín dụng là tất yếu khách quan vì: Thực

hiện đa dạng hoá hoạt động tín dụng, Ngân hàng sẽ giảm thiểu rủi ro tín dụng, tạo uy

tín thu hút được nhiều khách hàng có cơ sở vững chắc để mở rộng tín dụng. Thực hiện

đa dạng hoá hoạt động tín dụng để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng cũng như những tiến bộ nhanh chóng của kỹ thuật và công nghệ Ngân hàng.

Các giải pháp cụ thể để thực hiện đa dạng hoá các hình thức tín dụng:

Một là: Nắm vững nhu cầu của thị trường để kịp thời đưa ra các hình thức tín

dụng, dịch vụ mới để phục vụ tạo ra sự độc đáo trong kinh doanh.

Hai là: Tận dụng lợi thế của Ngân hàng tiến hành các dịch vụ tư vấn trọn gói.

Trong cạnh tranh, dịch vụ tư vấn của Ngân hàng thường chiếm ưu thế so với các tổ

chức tư vấn khác. Vì thế, để phát huy lợi thế này Ngân hàng phải không ngừng nâng

cao chất lượng tư vấn để củng cố niềm tin và tạo sự tín nhiệm của khách hàng đối với

Ngân hàng.

Ba là: Quản lý chặt chẽ các khoản cho vay nói chung cũng như tài sản có rủi ro

nói riêng, để xác định chính xác mức độ rủi ro hiện tại của Ngân hàng. Trên cơ sở đó

xác định giới hạn và phạm vi đa dạng hoá hoạt động Ngân hàng.

Qua quản lý nợ, Ngân hàng sẽ định lượng được rủi ro trong giới hạn an toàn cho phép, Ngân hàng sẽ thực hiện các khoản vay tốt dưới nhiều hình thức để bù lại khả

năng rủi ro có thể xảy ra đối với khoản vay có chất lượng kém.

b. Đa dạng hoá đối tượng đầu tư.

Cách phân phối tín dụng tốt nhất đối với một khách hàng muốn tránh khỏi rủi

ro là chia nguồn tiền của mình vào nhiều khoản đầu tư, vào nhiều loại khách hàng

khác nhau. Để thực hịên vấn đề này cần quán triệt các vấn đề sau:

Cho vay nhiều đối tượng thuộc các loại hình sản xuất kinh doanh khác nhau, không nên cho vay quá nhiều để sản xuất kinh doanh một loại sản phẩm hàng hoá,

nhất là những hàng hoá không thiết yếu, hoặc nhà nước không khuyến khích. Không thực hiện quá mức cho vay tối đa quá cao đối với một dự án, một đối tượng cho vay cụ thể. Cần nâng cao khả năng vốn tự có của khách hàng và các nguồn vốn khác.

Không đầu tư một số tiền lớn cho một khách hàng mà phải san ra cho nhiều khách hàng trong cùng một ngành sản xuất đó. Đây chính là việc phân tán hệ số rủi ro

trên số món vay.

56

Nên đầu tư vào nhiều địa bàn khác nhau: Chi nhánh nên mở rộng địa bàn đầu tư phân tán vốn vay tới nhiều vùng để có thể tránh dồn vốn cho một vùng có thể có nguy

cơ rủi ro thuần tuý bởi thiên tai như bão lụt, hoả hoạn.

c. Liên kết đầu tư (đồng tài trợ).

Trong thực tế, nhiều doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn rất lớn mà một Ngân

hàng không thể đáp ứng được hoặc khó xác định khả năng mức độ rủi ro có thể có thì các Ngân hàng liên kết đầu tư. Bằng cách này, Ngân hàng cũng đã tự phân tán rủi ro

với các Ngân hàng khác. Trong liên kết đầu tư, các Ngân hàng cũng cần xem xét đánh

giá khách hàng cũng như nhu cầu xin vay vốn của họ một cách kỹ càng nhằm tối thiểu

hoá rủi ro trước khi tiến hành tài trợ. Trong khi đầu tư, các Ngân hàng cũng phải cùng

nhau ký kết hợp đồng đầu tư, thoả thuận rõ ràng trách nhiệm quyền hạn của các bên

trong hợp đồng.

3.2.5. Tổ chức phân tích tín dụng theo định kỳ

Việc phân tích tín dụng hết sức quan trọng nó giúp cho Ngân hàng nhìn nhận

một cách logic tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các khách hàng trong quá

khứ, hiện tại và xu hướng phát triển trong tương lai. Trên cơ sở đó đánh giá chính xác

đối tượng được đầu tư để có những đối sách thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả vốn

đầu tư. Đây là căn cứ để Ngân hàng đánh giá cơ cấu chất lượng tín dụng, khả năng thu

nợ và lập kế hoạch cung cấp tín dụng theo từng đối tượng cho vay cũng như theo từng lĩnh vực đầu tư vốn.

Việc phân tích khả năng mở rộng hay thu hẹp tín dụng trong từng thời kỳ được

thực hiện như sau:

 Phân tích tác động của các chính sách của Đảng và Nhà nước đến hoạt động tín dụng và hoạt động của các ngành kinh tế khác. Điều này có ý nghĩa rất

thiết thực bởi có nhận thức được các tác động này thì mới hạ thấp được các rủi

ro có thể xảy ra, nhất là các rủi ro do thay đổi chính sách.

 Nghiên cứu nhu cầu thị trường, để từ đó có được cái nhìn tổng quát về nhu cầu thị trường đối với sản phẩm của từng ngành sản xuất, kinh tế trong thời điểm hiện tại và những biến động của nó trong tương lai, tránh đầu tư vào những sản phẩm đã quá bão hoà, không có khả năng tiêu thụ chắc chắn, sản phẩm có tính cạnh tranh thấp.

3.2.6. Cần có biện pháp phát hiện và xử lý kịp thời đối với các khoản nợ quá hạn

a. Ngăn ngừa các khoản cho vay dẫn tới nợ quá hạn.

Ngân hàng phải nhận biết được dấu hiệu rủi ro tín dụng có thể gặp phải, tuỳ

từng trường hợp có thể áp dụng như :

57

 Gia tăng khối lượng khoản cho vay đối với các khách hàng có phương án phục hồi sản xuất có tính khả thi cao, giải pháp này chỉ thực sự có hiệu quả khi mà

cả Ngân hàng và khách hàng cùng nỗ lực vực khách hàng đi lên và nếu không

có sự gia tăng các khoản cho vay của Ngân hàng thì món nợ của Ngân hàng sẽ

mất khả năng thanh toán và khi dó rủi ro của Ngân hàng càng lớn.

 Ngân hàng có thể kêu gọi người bảo lãnh cho khách hàng như các cổ đông chủ chốt cung ứng hay tiêu thụ sản phẩm hoặc một vài người cho vay dài hạn.

 Cán bộ Ngân hàng có thể khuyên hoặc tư vấn cho khách hàng tìm ra chiến lược kinh doanh mới. Việc làm này không chỉ giúp cho khách hàng có thể

thoát khỏi khủng hoảng mà còn tăng thêm sự thân thiết trong quan hệ giữa

Ngân hàng - khách hàng.

Những biện pháp này có thể gây thêm chi phí cho khách hàng, nhưng khi thực

hiện mà cứu vãn được các khoản nợ không có khả năng thanh toán thì giảm đượic rủi

ro cho Ngân hàng rất nhiều.

d. Biện pháp xử lý các khoản nợ quá hạn của của Ngân hàng.

Tại các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, môi trường pháp lý gần như

hoàn thiện nên hầu hết các khoản nợ của Ngân hàng đều áp dụng biện pháp khai thác.

Nghĩa là, người vay được phép khắc phục các khó khăn tài chính và hoàn trả các

khoản nợ cho Ngân hàng càng nhanh càng tốt. Dĩ nhiên người vay phải có thái độ

thành khẩn với các khoản vay và chi trả thoả đáng, áp dụng biện pháp khai thác để xử

lý các khoản nợ khó đòi giống như một chương trình phục hồi mà Ngân hàng áp đặt

lên người vay, với sự thoả thuận và cộng tác của họ. Các biện pháp cụ thể là:

 Ngân hàng hướng dẫn người vay trên nhiều khía cạnh nhằm tác động đến khả năng tạo lợi nhuận. Ngân hàng có thể gia hạn, điều chỉnh hợp đồng tín dụng để

giảm quy mô hoàn trả trước mắt, có thể giải pháp cho vay, tiếp vốn để gia tăng

sức mạnh tài chính của khách hàng, khôi phục lại sản xuất kinh doanh.

 Ngân hàng đề nghị người vay quản lý chặt chẽ ngân quỹ, khuyên bán bớt tài sản có giá trị, giảm lượng hàng tồn kho hoặc thanh lý bớt tài sản không sử

dụng.

Biện pháp thanh lý: Trong trường hợp thấy rõ việc tổ chức khai thác là không tiện lợi, không có hy vọng thu hồi được nợ thì Ngân hàng sẽ áp dụng biện pháp thanh lý để xử lý khoản cho vay khó đòi. Biện pháp thanh lý được thực hiện khi người vay không sẵn lòng chi trả, có hành động lẩn trốn, lừa đảo, tình trạng tài chính vô vọng.

58

 Nếu các khoản cho vay có tài sản đảm bảo hoặc thế chấp, Ngân hàng cùng chuyên gia tư vấn pháp luật, nhân viên thanh lý thực hiện bán đấu giá các tài

sản đó theo pháp luật hiện hành.

 Nếu là các khoản cho vay không có thế chấp, đảm bảo thì Ngân hàng phải chịu sự phán quyết của toà án kinh tế mới có biện pháp thu hồi vốn như bán tài

sản của người vay. Nếu người vay không có tài sản thì kết quả đòi nợ vô hiệu

hoá và người vay phải thụ án dân sự.

3.2.7. Cần thay đổi quan điểm: Thế chấp là sự đảm bảo vững chắc cho khoản tiền

vay mà phải là hiệu quả sử dụng vốn vay của khách hàng

Thế chấp tài sản là một công cụ quan trọng trong quản lý tiền vay của Ngân hàng. Tài sản thế chấp là cơ sở pháp lý và kinh tế giúp cho khách hàng có khả năng trả nợ, giúp Ngân hàng giảm mức tối đa sự thiệt hại khi có rủi ro xảy ra. Chúng ta không

phủ nhận vai trò tự giúp đắc lực của tài sản thế chấp đối với Ngân hàng, nhưng cũng

không vì thế mà chúng ta lại tuyệt đối hoá vai trò quan trọng của nó trong cơ chế tín

dụng hiện nay. Mục đích của tín dụng cho vay là giúp cho khách hàng có vốn để duy

trì hoặc mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, mang lại hiệu quả kinh tế cho khách

hàng, cho xã hội và cho chính bản thân Ngân hàng. Một khi đã phải mang tài sản thế

chấp ra phát mại thì mọi chuyện đã rõ ràng. Sản xuất kinh doanh thua lỗ, vốn đã mất

và quan hệ giữa Ngân hàng và khách hàng đã chấm dứt. Mặt khác, không phải tài sản

thế chấp nào cũng có thể bán một cách dễ dàng để Ngân hàng có thể thu lợi một cách

nhanh chóng.

Như vậy tài sản thế chấp còn có một số hạn chế nhất định đòi hỏi Ngân hàng

phải “Trông mặt mà bắt hình dong”, bao hàm nhiều vấn đề như bề dày kinh nghiệm

trong mối quan hệ giữa Ngân hàng và khách hàng như khả năng quản lý, hiệu quả kinh

tế của dự án đang có nhu cầu vay vốn. Tất cả những điều đó giúp chúng ta có cách xử

lý đúng đắn về mức độ rủi ro thấp nhất.

3.2.8. Tăng cường công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ

a. Triển khai thực hiện tốt công tác kiểm tra chuyên đề tín dụng.

Triển khai thực hiện tốt công tác kiểm tra chuyên đề tín dụng của phòng tín dụng Chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ và các phòng tín dụng, Chi nhánh cấp II nhằm phát hiện và chấn chỉnh, sửa chữa kịp thời các sai sót.

b. Sáu tháng, chín tháng, một năm thực hiện đối chiếu công khai.

6 tháng, 9 tháng, 1 năm thực hiện đối chiếu công khai khách hàng, những món vay lớn đối chiếu 100%, những món vay nhỏ đối chiếu theo tỷ lệ hoặc đối chiếu các

59

khoản nợ nếu thấy có vấn đề để phát hiện các trường hợp vay ké, vay hộ hoặc cán bộ Ngân hàng nhờ vay hộ để xử lý kịp thời.

c. Tăng cường công tác của bộ phận kiểm tra kiểm toán nội bộ.

Đây là đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra chuyên trách nên có nhiều kinh

nghiệm hơn, mặt khác không phải là người trực tiếp cho vay nên không có hiện tượng

nể nang, bao che cho nhau. Đội ngũ cán bộ này phải được chuẩn hoá với trình độ cao, có năng lực kinh nghiệm thực tế để kiểm tra, đánh giá, xử lý được độc lập, khách

hàng.

d. Tăng cường công tác của bộ phận kiểm tra kiểm toán nội bộ.

Hàng năm, các NHTM cần thực hiện kiểm toán quốc tế để xác định những mặt

mạnh, mặt tồn tại trong hoạt động kinh doanh để có phương án chấn chỉnh, phòng

ngừa. Đây cũng là một tiêu chuẩn để nước ngoài đầu tư vốn vào qua NHTM.

3.2.9. Kiểm tra chỉ đạo điều hành hoạt động tín dụng của Giám đốc và Ban lãnh

đạo

Trước hết, phải tổ chức triển khai, tập huấn các chủ trương, chính sách, văn bản

của cấp trên liên quan đến công tác tín dụng trong thời gian qua có đúng không. Tiếp

đó, là kiểm tra và xử lý vướng mắc trên cơ sở thể hiện bằng văn bản hoặc biên bản làm

việc. Phải có sự phân công lãnh đạo, cán bộ tín dụng phụ trách theo từng khu vực, loại

doanh nghiệp và địa bàn. Phải kiểm tra đối chiếu công khai với khách hàng còn nợ. Cuối cùng, cần có sự quan hệ với Chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể để

phục vụ cho hoạt động tín dụng tốt hơn.

3.2.10. Trích lập dự phòng và xử lý rủi ro đúng qui định

Chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ cần phải thực hiện tốt cơ chế thông tin phòng

ngừa rủi ro, luôn cập nhật thông tin về thị trường, về khách hàng để tránh việc lợi dụng

của khách hàng vay vốn sử dụng sai mục đích và trái với qui định của Nhà nước. Đồng

thời cán bộ tín dụng cần nâng cao ý thức theo dõi chặt chẽ chất lượng của từng khoản

tín dụng, nâng cao trình độ của mình phù hợp với cách thức phân loại rủi ro mới để không bị bỡ ngỡ và có thể triển khai thực hiện nhanh chóng, hiệu quả. Nợ quá hạn là

chỉ tiêu tất yếu trong hoạt động tín dụng của mỗi ngân hàng, nó luôn tồn tại với hoạt động cho vay. Với nguyên tắc phòng chống hơn xử lý và theo quy định của NHNN, bản thân các ngân hàng luôn trích lập dự phòng rủi ro tín dụng xuống mức thấp nhât có thể.

Theo quyết định số 488 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, NHNo & PTNT

Việt Nam đã ban hành quyết định số 88/QĐ/HĐQT - 03 qui định phân loại tài sản

60

“có” trích lập dự phòng và xử lý rủi ro trong hệ thống NHNo, trên cơ sở phân loại tài sản có thành các nhóm khác nhau và được hạch toán vào chi phí hoạt động

Từ ngày 22/04/05 thực hiện quyết định 493 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước,

NHNo&PTNT Việt Nam đã ban hành quyết định số 636/QĐ/HĐQT quy định phân

loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân

hàng của NHNo&PTNT VN.

Các văn bản chỉ đạo những vấn đề vướng mắc trong quá trình khoanh nợ, trích

lập dự phòng xử lý rủi ro...

Việc luật các tổ chức tín dụng cho phép ngân hàng trích lập rủi ro vào chi phí thể

hiện sự sẵn sàng chia sẻ rủi ro của Nhà nước đối với ngân hàng, đây là điểm tích cực

của một cơ chế hoạt động mới.

3.2.11. Áp dụng lãi suất thỏa thuận.

Từ thực tế, Chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ trong những năm qua, vốn tín

dụng đầu tư cho vay trung dài hạn cao hơn cho vay ngắn hạn. Món vay được chia

thành nhiều kỳ hạn nợ theo chu kỳ của kế hoạch sản xuất kinh doanh, thời gian vay

thường từ 5 đến 8 năm cho nên khả năng rủi ro về lãi suất cho vay sẽ xảy ra. Vì vậy

Chi nhánh đã áp dụng lãi suất cho vay biến đổi từng năm. Khi có chỉ đạo tăng lãi suất

cho vay do lãi suất huy động tăng thì Chi nhánh và khách hàng thoả thuận lại với nhau

về lãi suất. Vấn đề này được ghi rất rõ, cụ thể trong từng hợp đồng tín dụng giữa Chi nhánh và khách hàng. Song việc điều chỉnh lãi suất cho vay trên cơ sở hợp lý được

người vay chấp nhận phù hợp với quan hệ cung cầu vốn trên thị trường và khung lãi

suất theo quy định của Trung ương.

Tóm lại: Chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ đã thực hiện trích lập rủi ro đúng

quy định, hạch toán đầy đủ chi phí giúp Chi nhánh có nguồn để xử lý rủi ro tín dụng.

3.2.12. Một số kiến nghị

- Kiến nghị đối với Nhà nước

a. Những vướng mắc về cơ chế chính sách.

Do đặc điểm của NHNo&PTNT địa bàn hoạt động nông nghiệp nông thôn là chủ

yếu thì mức độ xảy ra rủi ro càng cao.

Những năm qua, Nhà nước đã có nhiều chính sách mở cho ngành Ngân hàng hoạt động kinh doanh nhất là lĩnh vực đầu tư tín dụng. Từ đó, Ngân hàng có thể chủ

động trong việc mở rộng đầu tư vốn song đây cũng là nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng mà vấn đề này Ngân hàng phải chịu trách nhiệm. Có thể nêu ra một số vướng mắc trong hoạt động tín dụng cần đề nghị xem xét chỉnh sửa, cụ thể:

61

Nghị định 85/2002/NĐ-CP ngày 25/10/2002 của Chính phủ về giao quyền định giá đất theo giá thị trường cho Ngân hàng. Mặc dù đã có thông tư 07/2003/TT-NHNN

ngày 19/5/2003 của NHNN VN hướng dẫn thực hiện và công văn số 605/NHNo-TD

ngày 13/3/2003 của NHNo & PTNT VN hướng dẫn tính giá trị quyền sử dụng đất theo

giá thị trường và mức cho vay. Nhưng qua thực tế Chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ

gặp một số khó khăn vướng mắc cần được giải quyết đó là:

 Nếu tính giá trị quyền sử dụng đất theo khung giá của Nhà nước thì rất thấp, thấp hơn giá thị trường thì khách hàng sẽ không vay vì không đáp ứng được

yêu cầu trong khi đó mức độ cạnh tranh giữa các Ngân hàng trên cùng địa bàn là rất gay gắt, Ngân hàng sẽ mất khách hàng.

 Nếu căn cứ vào giá thị trường để tính toán giá trị quyền sử dụng đất thì chưa có chuẩn mực để xác định, mặc khác giá trị thị trường biến động hàng ngày,

nếu biến động xuống thấp hơn khi xác định giá trị để cho vay thì lúc đó Ngân

hàng sẽ gặp rủi ro khi phải sử dụng thanh lý tài sản thu nợ nếu khách hàng

không trả nợ được.

 Việc chậm chễ hoặc thay đổi quy hoạch đất đai của các cấp Chính quyền địa phương cũng là một khó khăn rất lớn khi xem xét cho vay của Ngân hàng.

Trường hợp Ngân hàng cho vay nằm trong vùng quy hoạch thì việc đền bù của

Nhà nước là rất thấp khi đó Ngân hàng sẽ gặp rủi ro không thu được hết nợ

vay.

 Việc tính toán giá trị quyền sử dụng đất không có căn cứ, hướng dẫn cụ thể nên phụ thuộc vào chủ quan của cán bộ tín dụng. Vì thế sẽ xảy ra các trường

hợp: Sợ trách nhiệm định giá cho vay thấp làm mất khách hàng hoặc có trường

hợp lợi dụng, móc ngoặc với khách hàng tăng mức cho vay dẫn đến rủi ro tín

dụng.

 Trong thực tế còn xảy ra trường hợp người vay lừa đảo làm nhiều bộ hồ sơ đất để vay nhiều Ngân hàng trong đó có sự sơ hở, tiếp tay của một số cơ quan Nhà nước mà hậu quả cuối cùng là Ngân hàng phải gánh chịu rủi ro.

Một là: Việc xác định giá trị đất theo giá thị trường tại thời điểm cho vay, do cán bộ Ngân hàng xác định cùng khách hàng mà giá cả thị trường thì biến động liên tục khi đó không có cơ quan nào xác định cho Ngân hàng định giá đất là đúng với giá thị trường tại thời điểm cho vay. Vì vậy rủi ro xảy ra sau thời gian dài cán bộ Ngân hàng bị quy trách nhiệm là cố tình nâng giá trị đất lên để cho vay sai.

Hai là: Trong hoạt động kinh doanh tiền tệ tín dụng, vấn đề rủi ro là tất yếu sẽ xảy ra chỉ có mức độ cao thấp là khác nhau do công tác quản lý của ngành. Chính phủ

62

đã có quyết định xử lý tài chính thông qua việc trích lập và xử lý rủi ro trong ngành Ngân hàng và đây cũng là thông lệ quốc tế. Trong thực tế khi xảy ra rủi ro do khách

hàng mang lại thì việc cán bộ Ngân hàng cho vay lại bị các cơ quan pháp luật hình sự

hoá và xử lý cán bộ Ngân hàng bằng pháp luật.

Ba là: Rủi ro trong hoạt động tín dụng Ngân hàng có nhiều nguyên nhân,

nguyên nhân chủ quan do cán bộ Ngân hàng thì được xử lý theo quy định của ngành Ngân hàng, nếu sai phạm nặng vi phạm pháp luật thì bị pháp luật xử lý, nguyên nhân

khách quan do khách hàng thì khách hàng phải chịu hoàn toàn trách nhiệm vì khi cho

vay thì khách hàng toàn quyền sử dụng đồng vốn vay được việc giám sát của Ngân

hàng đặt ra nhưng không quyết định được việc sản xuất kinh doanh và xử lý tài chính của khách hàng.

Bốn là: Hiện nay một số khách hàng có nhiều khoản nợ trong đó có một khoản

nợ bị chuyển sang nhóm 3 (4, 5) thì toàn bộ dư nợ của khách hàng bị chuyển sang

hạch toán ở nhóm đó, đó là điều không phù hợp giữa văn bản 165 và văn bản hướng

dẫn hạch toán.

b. Kiến nghị về hướng chỉnh sửa.

Từ thực tế những vướng mắc trên đề nghị Nhà nước cần chỉnh sửa một số nội

dung liên quan đến vấn đề quyết định cho vay và xử lý rủi ro trong ngành Ngân hàng

thương mại.

Về định giá đất theo giá thị trường, Chính phủ cần chỉ đạo Uỷ ban nhân dân các

tỉnh, thành phố trong cả nước chỉnh sửa và có những quy định cụ thể kịp thời để Ngân

hàng căn cứ thực hiện và có cơ sở pháp lý khi xử lý thu nợ và giải quyết rủi ro. Nhằm

khắc phục tình trạng lợi dụng, móc ngoặc trong lĩnh vực này. Cơ chế rủi ro đã có việc

xử lý khi có vấn đề rủi ro xảy ra là bình thường theo cơ chế tài chính. Vì vậy nếu Ngân

hàng nào mà xử lý tài chính tốt, kinh doanh hiệu quả thì tồn tại và phát triển, còn Ngân

hàng nào yếu kém thì sẽ dẫn đến phá sản nếu không khắc phục được.

Việc sử dụng vốn sai mục đích, kinh doanh kém hiệu quả hoặc lừa đảo của khách hàng thì khách hàng phải chịu trách nhiệm hoàn toàn trước pháp luật, Ngân hàng là

người bị hại có quyền đề nghị truy tố khách hàng đó để đảm bảo quyền bảo vệ tài sản của Ngân hàng chứ không phải chịu tội cùng khách hàng. Vì vậy, vấn đề thất thoát trong hoạt động tín dụng Ngân hàng là vấn đề tất yếu có thể xảy ra, là vấn đề giải quyết theo hợp đồng dân sự giữa Ngân hàng và khách hàng chứ không phải vấn đề hình sự.

- Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông

thôn Việt Nam.

63

Ban hành kịp thời các văn bản hướng dẫn chi tiết cách thức tiến hành trích lập và sử dụng quỹ dự phòng rủi ro để đưa quỹ dự phòng rủi ro thực sự đi vào vận hành

trong công tác phòng chống rủi ro tại các NHTM.

Không cho các doanh nghiệp mở tài khoản giao dịch và vay vốn tại Ngân hàng

khác khi đang có nợ quá hạn tại một Ngân hàng để ngăn ngừa tình trạng chây ỳ trong

quá trình hoàn trả nợ hay đáo nợ.

Tổ chức tốt đào tạo, tập huấn chuyên môn nghiệp vụ vũng như các lĩnh vực liên

quan đến hoạt động kinh doanh đặc biệt là hoạt động tín dụng.

- Kiến nghị với Chi nhánh NHNo & PTNT Láng Hạ

Chi nhánh NHNo & PTNT Láng Hạ là một NHTM quốc doanh của Việt Nam.

Để tạo điều kiện cho Chi nhánh thực hiện tốt công tác nhằm hạn chế rủi ro tín dụng thì

NHNo & PTNT VN nói chung và Chi nhánh NHNo & PTNT Láng Hạ nói riêng cũng

có một số biện pháp cụ thể như sau:

 Từng bước tiêu chuẩn hóa cán bộ Ngân hàng trước hết là cán bộ tín dụng và cán bộ lãnh đạo điều hành trực tiếp Chi nhánh. Với khối lượng công nhân viên

khá lớn, Chi nhánh NHNo & PTNT Láng Hạ cần có những nhân viên thực sự

lành nghề để mở rộng các quan hệ tín dụng. Không chỉ có cán bộ tín dụng mà

các cán bộ lãnh đạo cũng phải đổi mới tư duy, nâng cao năng lực của mình để

điều hành Chi nhánh được tốt hơn.

 Thực hiện hoàn thiện qui chế quản lý rủi ro: Chú trọng việc phân tích nợ vay,

nợ quá hạn, tài chính của khách hàng.

 Nâng cao chất lượng của hệ thống thông tin phòng ngừa rủi ro gồm: Thu nhập đầy đủ thông tin pháp lý, dư nợ của toàn khách hàng, khai thác các nguồn tin

về kinh tế, thương mại khác phục vụ cho công tác thẩm định dự án.

 Xây dựng hệ thống đo lường rủi ro tín dụng của trung tâm phòng ngừa và xử

lý rủi ro.

 Chi nhánh cần qui định chính sách cụ thể đối với người vay trong trường hợp

có biến động lãi xuất để hạn chế rủi ro.

 Lãi suất biến động sẽ kéo theo sự biến động về nhu cầu vay vốn. Nếu lãi suất cho vay tăng thì nhu cầu vay vốn giảm và ngược lại. Do vậy Chi nhánh cần thiết phải có qui định chính sách cụ thể đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của người đi vay khi lãi suất có biến động.

 Tổ chức phân loại doanh nghiệp để đưa ra quyết định đầu tư đối với từng doanh nghiệp cụ thể, lựa chọn đối tượng cho vay phù hợp nhằm nâng cao tỷ lệ

64

cho vay ngắn hạn, cho vay ngoài doanh nghiệp. áp dụng biện pháp đảm bảo tiền vay đối với 100% các món vay trung, dài hạn

Đồng thời, Chi nhánh cần chủ động phối hợp với Học viện Ngân hàng, Đại học

Kinh tế Quốc dân và các cơ quan nghiên cứu, đào tạo khác, lập chương trình kế hoạch

và đầu tư thích đáng để tăng cường đào tạo một cách toàn diện cho đội ngũ cán bộ

trong hệ thống. Ngoài ra, cần có chính sách đãi ngộ hợp lý đối với đội ngũ cán bộ làm công tác tín dụng như trang bị phương tiện làm việc, qui định phụ cấp trách nhiệm

trong lương, chế độ công tác phí...

Thực hiện tốt những biện pháp trên, Chi nhánh NHNo & PTNT Láng Hạ sẽ xây

dựng được đội ngũ cán bộ vững vàng về nghiệp vụ, tâm huyết với nghề nghiệp, tạo

điều kiện nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh, tín dụng.

Phải có kế hoạch giao chỉ tiêu và phân công cụ thể đến từng đơn vị cá nhân, kiên

quyết thu hồi nợ sau khi xử lý rủi ro, vấn đề này phải được đưa vào kế hoạch hàng năm.

65

KẾT LUẬN

Hiện nay, NHNNo&PTNT Việt Nam đang nằm trong môi trường kinh doanh

đầy biến động, cạnh trạnh khốc liệt và nhiều thách thức. Môi trường đó tác động đến

mọi mặt hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại với cả yếu tố tích cực

lẫn tiêu cực. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng không nằm ngoài ảnh hưởng này.

Tín dụng là tài sản mang lại thu nhập lớn nhất của Ngân hàng cũng như tiềm ẩn

nhiểu rủi ro có thể gây tốn thất cho ngân hàng, đặc biệt khi còn tồn tại những bất cập,

hạn chế trong hoạt động tín dụng.

Đứng trước những thách thức của quá trình hội nhập , cạnh tranh mạnh mẽ trong

ngành, NHNNo&PTNT Việt Nam đã có những nỗ lức đáng kể nhằm nâng cao chất

lượng, hiệu quả hoạt động cho vay vốn. Tuy nhiên, vì nhiều nguyên nhân khác nhau

mà tổn thất tín dụng vẫn xảy ra làm giảm sút hiệu quả hoạt động của Ngân hàng.

Thông qua những giải pháp tăng cường phòng ngừa rủi ro tín dụng, hy vọng sẽ

giúp cho ngân hàng nâng cao được kết quả hoạt động tín dụng trong toàn hệ thống,

giúp ngân hàng củng cố và phát triển vị thế của mình trong lĩnh vực ngân hàng.

Cùng với sự phát triển của đất nước hệ thống Ngân hàng Thương mại nói chung,

Chi nhánh NHNo & PTNT Láng Hạ nói riêng, cũng từng bước đổi mới nhằm thích

nghi và đóng góp tích cực cho sự đổi mới của đất nước. Kết quả đó được thể hiện qua

quy mô và mức độ tăng trưởng của Ngân hàng thương mại trong hoạt động kinh doanh ngày càng lớn mạnh và đa dạng. Trong quá trình kinh doanh không tránh khỏi rủi ro,

thất thoát, không tránh khỏi những yếu kém tồn tại. Việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro

trong kinh doanh tín dụng là nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu dài của NHTM. Muốn

vậy đòi hỏi NHTM phải thực hiện đổi mới nhằm tăng cường năng lực hoạt động, tăng

cường năng lực tài chính, phải có bước phát triển bền vững để đáp ứng và thích nghi

với sự chuyển biến tích cực của nền kinh tế, nhằm hội nhập kinh tế với khu vực và thế

giới. Nhiệm vụ trước mắt và tương lai hết sức nặng nề và đầy thử thách mới nhưng trước những thành công mà Chi nhánh NHNo & PTNT Láng Hạ đã đạt được chúng ta có thể hoàn

toàn tin tưởng vào tương lai của Ngân hàng. Đồng thời, cùng với sự năng động nhiệt tình của Ban lãnh đạo và sự làm việc chăm chỉ của tất cả các đồng nghiệp trong Chi nhánh NHNo & PTNT Láng Hạ, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam có thể vững bước trên con đường phát triển, xứng đáng là một trong bốn Ngân hàng quốc doanh hàng đầu của hệ thống Ngân hàng Việt Nam, phát triển cùng với sự phát triển chung của sự nghiệp công nghiệp

hoá trên toàn đất nước.

Thêm vào đó cần có sự quan tâm của Nhà nước bằng cơ chế chính sách, pháp

luật, phải có sự phối hợp của các ngành, cơ quan hữu quan và cả sự thực hiện của

66

Ngân hàng. Điều quan trọng là Nhà nước có chính sách tạo điều kiện cho phát triển kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá, theo vùng kinh tế, xây dựng các khu công

nghiệp là cơ sở tốt nhất để Ngân hàng đầu tư vốn có hiệu quả, phòng ngừa và hạn chế

rủi ro trong tín dụng.

Mặc dù cố gắng hết sức nhưng do kiến thức còn hạn chế, nên chắc chắn đề tài

của em còn nhiều thiếu sót, em rất mong được sự thông cảm và góp ý của Thầy Cô.

Em xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới ThS. Trần Thị Thùy Linh đã tận tình

hướng dẫn và chỉ bảo cho em hoàn thành khoá luận này.

67

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. “Báo cáo tình hình tín dụng của Chi nhánh Láng Hạ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam”, (năm 2011 – 2013), NHNNo&PTNT VN, Đống

Đa, Hà Nội.

“Báo cáo tình hình huy động vốn của của Chi nhánh Láng Hạ Ngân hàng Nông

2. nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam”, (năm 2011 – 2013), NHNNo&PTNT VN, Hà Nội.

“Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN quy định về phân loại nợ, trích lập dự

3. phòng và sử dụng dự phòng rủi ro trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng”,

(năm 2005), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Hà Nội.

4. “Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro trong hoạt động

ngân hàng của tổ chức tín dụng”, (năm 2007), Ngân hàng Nhà nước, Hà Nội.

5. “Quyết định 636/QĐ-HĐQT-XLRR về phân loại nợ, trích lập dự phòng và xử lý rủi ro trong hệ thống NHNNo&PTNT VN”, (năm 2007), Hội đồng Quản trị

HNNo&PTNT VN, Hà Nội.

6. “Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng”,(Năm 2007) Nguyễn Văn Tiến, NXB Thống Kê, Hà Nội.

7. “Sổ tay tín dụng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam” (năm 2005), NHNNo&PTNT VN, Hà Nội.

WEBSITE

1. http://www.agribank.com.vn

2. http://www.gso.gov.vn

3. http://www.sbv.gov.vn

4. http://www.vietcombank.com.vn

5. http://www.vietinbank.com.vn

PHỤ LỤC

Phụ lục 1 Xếp hạng doanh nghiệp theo mức độ rủi ro

Loại Mức độ rủi ro

Thấp nhất AAA: tối ưu

Thấp nhưng về dài hạn cao hơn khách hàng AA+ AA: ưu

Thấp A: tốt

Trung bình BBB: khá

Trung bình, khả năng trả nợ gốc và lãi trong tương lai ít được đảm bảo

BB: trung bình khá hơn khách hàng loại BB+

Cao, do khả năng tự chủ tài chính thấp. Ngân hàng chưa có nguy cơ

mất vốn ngay nhưng về lâu dài sẽ khó khăn nếu tình hình hoạt động B: trung bình

kinh doanh của khách hàng không được cải thiện.

Cao, là mức độ nhất có thể chấp nhận; xác xuất vi phạm hợp đồng tín

dụng cao, nếu không có những biện pháp kịp thời, ngân hàng có nguy cơ CCC: dưới trung bình mất vốn

Rất cao, khả năng trả nợ ngân hàng kém, nếu không có những biện

CC: xa dưới trung bình pháp kịp thời, ngân hang có nguy cơ mất vốn trong ngắn hạn.

Rất cao, NH sẽ phải mất nhiều thời gian và công sức để thu hồi vốn C: yếu kém cho vay.

Đặc biệt cao, ngân hàng hầu như sẽ không thể thu hồi được vốn cho D: rất yếu kém vay.

(Nguồn: Ban tín dụng NHNNo&PTNT VN Việt Nam)

Phụ lục 3 Hệ thống các chỉ tiêu xếp hạng tín dụng

Chỉ tiêu STT

Chỉ tiêu thanh khoản 1

Khả năng thanh toán ngắn hạn 2

Khả năng thanh toán nhanh 3

Chỉ tiêu hoạt động 4

Vòng quay hàng tồn kho 5

Kỳ thu tiền bình quân 6

Hiệu quả sử dụng tài sản 7

Chỉ tiêu công nợ (%) 8

Nợ phải trả / tổng tài sản 9

Nợ phải trả / nguồn vốn chủ sở hữu 10

Nợ quá hạn / Tổng dư nợ ngân hàng 11

Chỉ tiêu thu nhập (%) 12

Tổng thu nhập trước thuế / Doanh thu 13

Tổng thu nhập trước thuế / Tổng tài sản 14

15 Tổng thu nhập trước thuế / Nguồn vốn chủ sở hữu

((Nguồn Ban tín dụng NHNNo&PTNT VN Việt Nam)

Phụ lục 3 Chấm điểm các chỉ tiêu phi tài chính

STT Tiêu chí DNNN DN Ngoài QD DN ĐTNN

1 Lưu chuyển tiền tệ 20% 20% 27%

2 Năng lực và kinh nghiệm quản lý 27% 33% 27%

3 33% 33% 31% Tình hình và uy tín giao dịch với NHNNo&PTNT VN

4 Môi trường kinh doanh 7% 7% 7%

5 Các đặc điểm hoạt động khác 13% 7% 8%

Tổng cộng 100% 100% 100%

(Nguồn Ban tín dụng NHNNo&PTNT VN Việt Nam)

Phụ lục 4Tổng hợp điểm và xếp hạng doanh nghiệp

Loại Aaa Số điểm đạt đƣợc 92,4 – 100

Aa 84,8 – 92,3

A 77,2 – 84,7

Bbb 69,6 – 77,1

Bb 62 – 69,5

B 54,4 – 61,9

Ccc 46,8 – 54,3

Cc 39,2 – 46,7

C 31,6 – 39,1

D < 31,6

(Nguồn Ban tín dụng NHNNo&PTNT VN Việt Nam)

ảng 5Tình hình nợ quá hạn của Chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ, phân tích theo nguyên nhân

(Đơn vị: tỷ đồng)

Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

Chỉ tiêu Số tiền Số tiền Số tiền Tỷ lệ (%) Tỷ lệ (%) Tỷ lệ (%)

Tổng số nợ quá hạn 504,00 100,00 612,00 100,00 642,00 100,00

503,24 99,85 611,57 99,93 641,29 99,89 1. Nguyên nhân chủ quan

4,68 0,93 4,22 0,69 10,39 1,62 - Về phía Ngân hàng

498,56 99,07 607,35 99,31 630,90 98,38 - Về phía khách hàng vay

Trong đó:

233,88 46,91 254,62 51,07 369,14 74,04 + Do kinh doanh thua lỗ phá sản

8,43 1,69 3,89 0,64 16,40 2,60 +Do hàng hoá chập tiêu thụ

111,33 22,33 140,84 23,19 43,28 6,86 + Do sử dụng vốn sai mục đích

+ Do cố ý lừa đảo 0,70 0,14 0,36 0,06 0,88 0,14

142,14 28,51 148,56 24,46 100,19 15,88 + Do công nợ chưa thu được

2,09 0,42 3,52 0,58 3,09 0,49 + Do nguyên nhân khác

0,76 0,15 0,43 0,07 0,71 0,11 2. Do nguyên nhân khách quan

(Nguồn: Báo cáo hoạt động tín dụng của Chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ.)