
Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư và
sự vận dụng vào công cuộc công nghiệp hóa-
hiện đại hóa của nước ta hiện nay
1

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU..................................................................... 3 U
NỘI DUNG ......................................................................... 4
Cơ sở lý luận của giá trị thặng dư, phương pháp sản xuất
giá trị thặng dư tuyệt đối và tương đối, mối quan hệ giữa
hai phương pháp này........................................................... 4
Giá trị thặng dư. .................................................................. 4
1.2.Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư................... 5
1.2.1. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối. ..... 6
2. Ý nghĩa của việc nghiên cứu các phương pháp sản xuất
giá trị thặng dư:................................................................. 10
3. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và
tương đối được vận dụng vào công cuộc công nghiệp hoá-
hiện đại hoá của nước ta hiện nay. ................................. 11
KẾT LUẬN........................................................................ 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................... 16
2

LỜI MỞ ĐẦU
Trong bài điếu văn của Ăng-ghen đọc trước mộ của Các- Mác, một
trong ba cống hiến vĩ đại của Mác được Ăng-ghen nhắc tới đó là việc tìm ra
quy luật vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hiện nay và
của xã hội tư sản do phương thức đó sinh ra. Phải nói rằng học thuyết giá trị
thặng dư là “hòn đá tảng” trong toàn bộ lí luận kinh tế của C.Mác. Trong
quyển I của bộ tư bản có tựa đề là “Về tư bản”, C.Mác đã trình bày một cách
khoa học hệ thống các phạm trù kinh tế chính trị tư bản mà trước đó, chưa ai
có thể làm được. Một trong số các học thuyết được nêu ra là thuyết giá trị
thặng dư, nhờ có nó mà toàn bộ bí mật của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa
được vạch trần, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được nêu ra một
cách chính xác, mà trong đó hai phương pháp sản xuất chính là phương pháp
sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và tương đối được áp dụng rộng rãi nhất,
nhằm tạo ra tư bản để tích luỹ và tái mở rộng sản xuất, đưa xã hội tư bản
ngày càng phát triển. Hai phương pháp này đã được đưa vào ứng dụng ở
nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Nước ta đang trong công
cuộc công nghiệp hóa- hiện đại hóa, để phù hợp với những vấn đề mà thực
tiễn đòi hỏi chúng ta phải nhận thức lại, bổ sung và phát triển các học thuyết
đặc biệt là học thuyết giá trị thặng dư.
3

Đề tài này nghiên cứu lý luận và thực tiễn về “ Phương pháp sản xuất
giá trị thặng dư và sự vận dụng vào công cuộc công nghiệp hóa- hiện đại hóa
của nước ta hiện nay” để từ đó tìm ra những kết luận mới phục vụ cho
nhiệm vụ phát triển nền kinh tế đất nước.
Bài tiểu luận này không thể tránh khỏi những hạn chế nhất định, vậy em
kính mong các thầy cô đóng góp ý kiến để bài viết được hoàn chỉnh hơn.
NỘI DUNG
Cơ sở lý luận của giá trị thặng dư, phương pháp sản
xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và tương đối, mối quan hệ
giữa hai phương pháp này.
Giá trị thặng dư.
Học thuyết về giá trị thặng dư là một trong những phát kiến lớn nhất mà
Mác đã đóng góp cho nhân loại. Cho đến nay học thuyết giá trị thặng dư của
Mác vẫn giữ nguyên giá trị. Tuy nhiên nó cần được phát triển phù hợp với
thực tiễn ngày nay.
Trước Mác, ngay cả những nhà kinh tế tư bản lỗi lạc như D.Ricardo
cũng không giải thích được vì sao trao đổi hàng hoá theo đúng quy luật giá
trị mà nhà tư bản vẫn thu được lợi nhuận. Nhờ phân biệt được phạm trù lao
động và tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá, C.Mác đã chứng
minh một cách khoa học rằng trong quá trình sản xuất hàng hoá lao động cụ
thể của công nhân chuyển giá trị của tư liệu sản xuất đã được tiêu dùng sang
sản phẩm, đồng thời lao động trừu tượng của người đó thêm vào sản phẩm
một giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động của mình. Khoản lớn hơn đó, tức
4

là số dư ra ngoài khoản bù lại giá trị sức lao động, C.Mác gọi là giá trị thặng
dư mà nhà tư bản chiếm đoạt.
Khi nói đến tư bản người ta thường liên tưởng đến tiền, đến tư liệu sản
xuất, nhưng không phải như vậy, mà tư bản là quan hệ sản xuất hàng hoá, là
mối quan hệ sản xuất giữa giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân làm
thuê, tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao động
không công của công nhân làm thuê. Bởi vậy, cũng dễ hiểu khi mục đích của
giai cấp tư sản là giá trị thặng dư. Nhưng để sản xuất giá trị thặng dư, trước
hết nhà tư bản phải sản xuất ra hàng hoá có giá trị sử dụng, vì giá trị sử dụng
là nội dung vật chất của hàng hoá, là vật mang giá trị và giá trị thặng dư.
Đây cũng là quá trình nhà tư bản tiêu dùng hàng hoá sức lao động và tư liệu
sản xuất để sản xuất giá trị thặng dư. Bởi thế mỗi sản phẩm được làm ra đều
được kiểm soát bởi nhà tư bản và thuộc sở hữu của nhà tư bản. Trong quá
trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, bằng lao động cụ thể của mình công nhân
lao động làm thuê sử dụng tư liệu sản xuất và chuyển giá trị của chúng vào
hàng hoá, bằng lao động trừu tượng công nhân tạo ra giá trị mới lớn hơn giá
trị sức lao động, phần lớn hơn đó là giá trị thặng dư.
Khi thu được giá trị thặng dư nhà tư bản sẽ chia nó làm nhiều phần, sử
dụng vào những mục đích khác nhau, trong đó một phần rất lớn dùng mua tư
liệu sản xuất, để tái mở rộng sản xuất nhằm đem lại nhiều giá trị thặng dư
hơn.
1.2.Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
Đã có nhiều phương pháp được dùng để tạo ra giá trị thặng dư, nhưng
hai phương pháp được sử dụng chủ yếu là phương pháp giá trị thặng dư
tuyệt đối và phương pháp giá trị thặng dư tương đối. Mỗi phương pháp đại
5

