intTypePromotion=1

Quản lý Nhà nước về đô thị: Tập 2

Chia sẻ: Hoàng Lan | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:11

0
138
lượt xem
48
download

Quản lý Nhà nước về đô thị: Tập 2

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tài liệu Quản lý Nhà nước về đô thị: Tập 2 bao gồm những câu hỏi và trả lời về phân biệt nông thôn - đô thị, bất cập trong quản lý nhà nước về đô thị và nông thôn, phân cấp quản lý đô thị. Mời các bạn tham khảo tài liệu để bổ sung thêm kiến thức về lĩnh vực này.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Quản lý Nhà nước về đô thị: Tập 2

  1. QLNN về đô thị (tập 2) Câu 1: Phân biệt nông thôn­đô thị? Những bất cập trong quản lý nhà nước  về đô thị và nông thôn Sau khi từ bỏ cuộc sống du canh du cư, con người định cư  trong các điểm  dân cư  tập trung như  làng, bản,  ấp…gọi chung là điểm dân cư  nông thôn, do   biết khai thác thiên nhiên mà sản phẩm lương thực ngày càng dư thừa so với nhu   cầu nên xuất hiện nhừng người tách ra khỏi SX nông nghiệp để  thực hiện trao  đổi hàng hóa. Do nhu cầu cuộc sống ngày càng đòi hỏi cao hơn, một bộ  phận   người khác nữa tách ra khỏi sản xuất nông nghiệp để  sản xuất tiểu thủ  công  nghiệp, làm dịch vụ và quản lý XH, những người lao động này và gia đình của  họ đã tập trung lại tại địa điểm thích hợp, thay đổi môi trường định cư thành các   điểm dân cư mơí chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, đó là điểm dân cư đô thị. Sự hình thành và phát triển các điểm dân cư  đô thị  là do sự  phát triển của  phân công lao động xã hội, là do sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ lao động nông  nghiệp sang lao động phi nông nghiệp. Đô thị là các điểm dân cư tập trung với mật độ cao chủ yếu là lao động phi   nông nghiệp, họ sống và làm việc theo phong cách sống văn minh, hiện đại hơn,   khoa học và có hiệu quả kinh tế, văn hóa cao. Đó là phong cách, lối sống thành  thị, lối sống công nghiệp.  Dưới khía cạnh xã hội học đô thị và nông thôn là hai khái niệm về mặt nội   dung có hàng loạt đặc điểm có tính đối lập nhau. Các nhà xã hội học đã đưa ra  rất nhiều cơ sở khác nhau để  phân biệt đô thị  và nông thôn. Sự phân chia đó có  thể  dựa trên cơ  sở  các lĩnh vực hoạt động sống của xã hội như  lĩnh vực công  nghiệp, nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp, giao thông, vận tải, dịch 
  2. vụ,... hoặc dựa trên các thiết chế chủ yếu của xã hội như thiết chế kinh tế, văn  hóa, giáo dục, gia đình.. hoặc theo các nhóm, các giai cấp, tầng lớp xã hội, hay  theo bình diện lãnh thỗ. Cũng có một số nhà quản lý lại cho rằng, để phân biệt giữa đô thị và nông   thôn theo sự  khác biệt giữa chúng về  các mặt kinh tế, xã hội và môi trường.  Như  về  mặt kinh tế  thì giữa đô thị  và nông thôn có sự  khác biệt về  lao động,   nghề nghiệp, mức độ và cách thu nhập về dịch vụ, v.v... Về mặt xã hội thì đó là  sự  khác biệt trong lối sống, giao tiếp, văn hóa, gia đình, mật độ  dân số, nhà ở,   v.v... Về  mặt môi trường thì chủ  yếu  ở  đây là môi trường tự  nhiên, mức độ  ô  nhiễm, v.v... Nhấn mạnh từ  góc độ  xã hội thì cả  đô thị  và nông thôn đều được coi là   những hệ thống xã hội, những cộng đồng xã hội có những đặc trưng riêng biệt  như những xã hội nhỏ  và trong đó có đầy đủ  các yếu tố, các vấn đề  xã hội và  các thiết chế  xã hội. Vì vậy, trước hết đô thị  và nông thôn cần được xem xét  như một cơ cấu xã hội, trong đó có hàng loạt các yếu tố, các lĩnh vực nằm trong  mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Để xác định đô thị và nông thôn dễ dàng được chấp nhận, là việc coi đô thị  và nông thôn như các hệ hệ thống xã hội được phân biệt dưới các đặc trưng cơ  bản sau: (tự kẻ bảng nhé) + Về quy mô dân số Quy mô dân số  của đô thị  lớn hơn, mật độ  dân cư  đông đúc hơn so với   nông thôn.  Ở  nước ta theo quy định tại nghị  định 42/2009/NĐ – CP , các đô thị  chia thành 5 loại, lớn nhất là đô thị  đặc biệt quy mô dân số từ 1,5 triệu trở lên,  mật độ  dân số  15.000 người/km2 trở  lên, nhỏ  nhất là đô thị  loại 5, dân số  từ  4.000 người trở lên, mật độ dân số từ 2.000ng/km2 trở lên. Hiện nay ở nước ta 
  3. thủ đô HN và TPHCM là 2 đô thị đặc biệt có quy mô và mật độ dân số cao nhất.   Về các nhóm giai cấp, tầng lớp xã hội thì ở đô thị đặc trưng chủ yếu là giai cấp   công nhân, ngoài ra còn có các tầng lớp giai cấp khác như tư sản, thợ thủ công,  viên chức, trí thức, v.v...  Còn đối với nông thôn thì đặc trưng chủ yếu ở đây là nông dân, ngoài ra ở  từng xã hội còn có các tầng lớp khác như  nhóm thợ  thủ  công nghiệp, buôn bán  nhỏ, v.v... + Về mật độ dân số Đô thị có mật độ dân số lớn, dân cư tạp trung đông đúc Nông thôn có mật độ dân cư thưa thớt, dàn trải + Về cơ cấu lao động Đô thị có đặc trưng là sản xuất công nghiệp; ngoài ra, còn có các lĩnh vực  khác như dịch vụ, thương nghiệp, sản xuất tinh thần, v.v... ( Lao độg phi nông  nghiệp) Còn đối với nông thôn thì đặc trưng rõ nét nhất là sản xuất nông nghiệp;  ngoài ra, còn phải kể đến cấu trúc phi nông nghiệp bao gồm: dịch vụ, buôn bán,  tiểu thủ  công nghiệp mà có vai trò  rất lớn  đối với lĩnh vực sản xuất nông  nghiệp. + Về cơ sở hạ tầng: cơ sở hạ tầng ở đô thị phức tạp hơn và phát triển hơn  nhiều ở nông thôn (Đơn giản, kém phát triển) + Về lối sống, văn hóa:    Đối với nông thôn thường rất đặc trưng với lối sống văn hóa của cộng   đồng làng xã mà được phân biệt rất rõ ràng với lối sống  thị dân đặc trưng cho  khu vực đô thị. 
  4. Đặc trưng này có rất nhiều khía cạnh để chỉ ra sự khác biệt giữa đô thị  và  nông thôn: từ hệ thống dịch vụ, sự giao tiếp, đời sống tinh thần, phong tục, tập   quán, hệ  giá trị, chuẩn mực cho hành vi,... đến khía cạnh dân số, lối sống gia   đình, sinh hoạt kinh tế,... ngay cả  đến hệ  thống đường xá, năng lượng, nhà  ở  đều nói lên đây là hai cộng đồng có các khía cạnh văn hóa, lối sống tách biệt   nhau. Đây là đặc trưng cơ bản nhất về mặt xã hội học khi phân tích sự khác biệt  giữa đô thị và nông thôn. Chính đặc trưng này đã tạo ra bản sắc riêng, diện mạo   riêng cho ta phân biệt rõ  nét hơn giữa hai hệ thống xã hội đô thị và nông thôn. + Trình độ dân trí Đô thị cao hơn nhiều so với nông thôn + Khả năng sinh lời Đô thị lớn hơn nông thôn * Phân tích những bất cập trong quản lý NN về đô thị và nông thôn: Đô thị và nông thôn là hai loại đơn vị hành chính có nhiều đặc điểm rất  khác nhau ai cũng biết vì rất dễ nhận thấy. Vì thế nếu thiết kế một bộ máy  quản lý hành chính nhà nước cho đô thị và nông thôn giống nhau là một việc vô  cùng phi lý. + QLNN về đô thị: ­Cơ sở pháp lý còn thiếu cụ thể và không đồng bộ, rõ ràng trong phân cấp   quản lý, đồng thời lại thiếu tính thống nhất giữa trung  ương và địa phương,  giữa các ban, ngành có khi lại cồng chéo, mâu thuẫn nhau. ­Bộ máy QLNN về đô thị còn cồng kềnh, chuyển đổi chậm so với sự phát  triển và nhu cầu quản lý kinh tế  thị  trường. Một phần lớn cán bộ  công chức 
  5. quản lý chưa vững nghiệp vụ  và chuyên môn, một bộ  không nhỏ  còn thái hóa,   biến chất ­Chưa có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các cơ quan, ban, ngành cùng  tham gia quản lý đô thị. Thực thi công tác quản lý còn chồng chéo để trống. đối   lập nhau còn xẩy ra trong điều hành, trong thanh tra xử  lý vi phạm. Còn nhiều   biểu hiện dây dưa, đùn đẩy trách nhiệm. ­Thủ tục hành chính còn phiền hà, cửa quyền, độc đoán tham nhũng đã hạn   chế không nhỏ hiệu lực của công tác quản lý NN trong các đô thị. ­Trong công tác tuyên truyền phổ  biến pháp luật để  nâng cao ý thức chấp   hành luật còn yếu, thiếu tính thường xuyên liên tục và rộng rãi trong cộng đồng  dân cư đô thị. + QLNN về nông thôn: Cơ  cấu kinh tế  chuyển dịch chậm, việc  ứng dụng   khoa học công nghệ  nhất là cây, con giống còn hạn chế, công nghiệp chế  biến  và ngành nghề  thủ công kém phát triển, thị trường tiêu thụ  hàng hóa gặp nhiều   khó khăn, khả  năng cạnh tranh của nông sản hàng hóa yếu, lao động dư  thừa  nhiều, cơ  sở  hạ  tầng phục vụ  sản xuất nông thôn và đời sống  ở  một số  vùng  còn rất thấp, quan hệ  sản xuất nông thôn chậm đổi mới, tiềm năng to lớn về  đất đai, rừng biển và lao động một số  vùng còn chưa được khai thác có hiệu   quả, đời sống một số  bộ  phận nhân dân, nhất là vùng sâu, vùng xa còn nhiều  khó khăn. Việc xây dựng nông thôn mới còn tiến hành tự  phát, chưa có quy   hoạch nên còn nhiều bất hợp lý, lãng phí đất đai vật liệu xây dựng. Mặc khác  cũng còn trình trạng xây dựng lộn xộn, phong cách kiến trúc và cảnh quan chẳn   có chất lượng, không những  ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, ăn  ở, nghỉ  ngơi, đi lại, giao tiếp của nhân dân mà còn ảnh hưởng đến vệ sinh môi trường.
  6. Câu 2:Tại sao nhà nước phải phân cấp quản lý đô thị. Hiện nay đô thị Việt  Nam được phân cấp quản lý như thế nào? Thực tiễn cho thấy việc phân loại, phân cấp quản lý đô thị  đã góp phần   thúc đẩy phát triển hệ thống đô thị Việt Nam. Chúng ta phải phân loại, phân cấp  quản lý Nhà nước về đô thị là nhằm mục đích phù hợp với sự phát triển của các  đô thị đang ngày càng gia tăng. Thứ nhất, phân cấp quản lý đô thị  là căn cứ  xác thực để  Nhà nước hoạch   định chính sách đầu tư phát triển đô thị   để có định hướng phát triển và quản   lý thích hợp với mỗi giai đoạn. Phân   cấp   quản   lý   đô   thị   luôn   được   gắn   với   tổ   chức   chính   quyền   địa  phương của mỗi quốc gia, song tuỳ theo kinh nghiệm lịch sử và hệ thống chính  trị  của mỗi quốc gia mà có sự  phân loại, phân cấp đô thị  khác nhau. Việt Nam  ngay từ sau thời kỳ “Đổi mới” đã nhận thấy cần phải chấn chỉnh công tác quản  lý đô thị và đặt ra một số nhiệm vụ cấp bách là: ­ Nhận thức rõ vị trí chiến lược và vai trò quan trọng của hệ thống đô thị. ­ Đổi mới công tác quy hoạch và quản lý đô thị. ­ Huy động mọi nguồn tài chính vào phát triển đô thị, xoá bỏ  bao cấp tràn  lan nhưng phải đảm bảo các chính sách xã hội. ­ Xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của từng đô thị. Thứ hai, quy định thẩm quyền quản lý quy trình thực hiện điêù chỉnh phân  loại đô thị khi có nhu cầu điều chỉnh loại đô thị
  7. UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW tổ chức nghiên cứu lập hồ sơ, đề  án   để phân loại đô thị, trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. + Đối với các đô thị  loại 1,2, đặc biệt tiến trình này được tiến hành theo   quy trình sau:  Trường hợp đô thị là thành phố thuộc TW, thì UBND thành phố giao cho  cơ quan quản lý kiến trúc quy hoạch thành phố chủ trì và lập hồ sơ đề án phân loại đô  thị, trình UBND thành phố  thuộc TW xem xét và trình HĐND cùng cấp thông qua  trước khi trình chính phủ hoặc thủ tướng chính phủ theo quy định tại NĐ72/CP Bộ  xây dựng sau đó sẽ tổ chức thẩm định đề án phân loại đô thị trước khi trình chính phủ  hoặc thủ tướng chính phủ quyết định, công nhận loại đo thị.  Trong trường hợp đô thị là thành phố thuộc tỉnh thì UBND tỉnh giao cho   UBDN thành phố lập hồ  sơ trình duyệt đề án phân loại đô thị, trình hội động ND   cùng cấp thông qua trước khi trình UBND tỉnh. UBND tỉnh xem xét trình HĐND tỉnh  thông qua bằng nghị quyết trước khi trình thủ tướng chính phủ, Bộ xây dựng tổ chức  thẩm định dự án trước khi trình thủ tướng chính phủ xem xét quyết định loại đô thị. + Đối với đô thị  loại 3,4 UBND tỉnh, thành phố  trục thuộc TW giao cho   UBND cấp huyện lập đề  án phân loại đô thị, trình HĐND cùng cấp thông qua  trước khi trình UBND cấp tỉnh. Cơ quan quản lý kiến trúc, quy hoạch cấp tỉnh  tổ  chức thẩm định trước khi trình UBND tỉnh, UBND cấp tỉnh xem xét và trình  HĐND cùng cấp thông qua trước khi trình Bộ  xây dựng, Bộ  xây dựng tổ  chức   thẩm định đề án trước khi quyết định công nhận loại đô thị. + Đối với đô thị loại 4, UBND cấp tỉnh giao cho UBND cấp huyện lập hồ  sơ  trình duyệt đề  án, trình HĐND huyện thông qua trước khi trình UBND cấp 
  8. tỉnh, cơ quan quản lý quy hoạch cấp tỉnh tổ chức thẩm định đề  án trình UBND  tỉnh xem xét quyết định công nhận đô thị. Thứ ba, xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn Thực tiễn trên cho thấy việc phân cấp quản lý đô thị đã góp phần thúc đẩy  phát triển hệ  thống đô thị  Việt Nam, chất lượng đô thị  từng bước được nâng   lên, diện mạo đô thị  có nhiều thay đổi và nhất là khẳng định đô thị  có vai trò  động lực phát triển kinh tế ­ xã hội.  * Việc phân cấp quản lý hành chính đô thị được xác định: ­ Thành phố trực thuộc Trung ương là đô thị đặc biệt hoặc đô thị loại I. ­ Thành phố thuộc tỉnh là đô thị loại I, hoặc II, III. ­ Thị xã là đô thị loại III, IV. ­ Thị trấn là đô thị loại IV, V. Việc phân loại đô thị trước tiên là để phục vụ cho công tác phân cấp quản   lí đô thị, về mặt hành chính Nhà nước được cụ thể hóa như sau : ­ Thành phố  trực thuộc Trung  ương tương đương cấp tỉnh phải là đô thị  loại I hoặc loại II do Trung ương quản lí. ­ Các thành phố  thuộc tỉnh, các thị  xã tương đương với cấp huyện đa số  thuộc đô thị loại III và loại IV, một số ít có thể thuộc loại V và do tỉnh quản lí.
  9. ­ Các thị  trấn tương đương cấp xã thuộc đô thị  loại V chủ  yếu do huyện  quản lí. Do tình hình phát triển không đồng đều giữa các đô thị  trong toàn quốc và  trong từng vùng, cho nên vị trí vai trò và tính chất đô thị đối với từng vùng lãnh  thổ  cũng khác nhau. Trong nhiều trường hợp đặc biệt một số  đô thị  được phân  cấp quản lí cao hơn hoặc thấp hơn một bậc so với quy định trên. Ví dụ có đô thị  loại IV nhưng vẫn là thành phố tỉnh lị và có đô thị thuộc loại V nhưng vẫn là thị  xã do tỉnh quản lí. Việc nâng cấp loại đô thị và cấp quản lí đô thị cũng như việc thành lập các   đô thị  mới phải được tiến hành trên cơ  sở  lập hồ  sơ  và tờ  trình xin phép Nhà   nước phê duyệt. Hồ sơ  chính là luận chứng kinh tế  – kĩ thuật xin thành lập đô   thị mới. Trong luận chứng cần nêu rõ lí do thành lập đô thị mới và việc xác định   tính chất vai trò chức năng, quy mô dân số, tỉ  trọng lao động phi nông nghiệp,  mật độ dân số đô thị … chủ yếu của 5 năm đầu phát triển đối chiếu với các chỉ  tiêu quy định của Nhà nước Phân cấp quản lý đô thị có vai trò quan trọng là động lực để phát triển hoàn   chỉnh hệ  thống đô thị  Việt Nam có chất lượng và để  tạo điều kiện phát triển  kinh tế  ­ xã hội  ở  các địa phương, do vậy rất cần xác định rõ định lượng thích  hợp của từng tiêu chí (như số dân, tỷ lệ % tương ứng…) để  khuyến khích phát   triển các đô thị  vừa và nhỏ  (loại III, IV và V) và đô thị  đặc thù (du lịch, khoa  học, giáo dục…). Câu 3: Vai trò của phát triển đô thị vừa và nhỏ?  Câu 4: Phân tích các yếu tố của đô thị Việt Nam?
  10. Câu 5: Phân biệt  mức độ đô thị hóa và tỷ lệ đô thị hóa? Câu 6: Nguyên nhân hình thành đô thị cực lớn tại các nước đang phát triển.  Định hướng phát triển của Việt Nam để kiểm soát đô thị lớn Câu 7: Những thách thức đối với phát triển kinh tế­xã hội của Việt Nam  trong quá trình đô thị hóa hiện nay? Câu 8: Nhà nước đang làm gì để điều tiết sự gia tăng dân số ở ĐT lớn? Câu 9: Tại sao phát triển đô thị phải phù hợp với nguồn lực? Câu 10: Việt Nam có những lợi thế  và nguồn lực nào để xây dựng và phát  triển đô thị? Câu 11: Phân biệt 3 loại quy hoạch đô thị Câu 12: Khó khăn trong thu hồi đất hiện nay? Câu 13: Quy hoạch treo? Các nhóm nguyên nhân dẫn đến quy hoạch treo? Câu 14: Trình bày về nhũng công trình xây dựng được coi là vi phạm trật  tự xã hội? Vân: 1­2 Xuân: 3­5 Linh: 6­7 Thu: 8­9
  11. Thúy: 10­12 Lan:13­14

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản