
QUY TRÌNH KỸ THUẬT CHĂM SÓC LAN MOKARA
GIAI ĐOẠN HẬU CẤY MÔ
I. Giới thiệu tổng quan
1. Phạm vi áp dụng mô hình: Áp dụng cho tất cả các vùng trồng lan Mokara
trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Tây Ninh và các tỉnh khác có điều kiện tự
nhiên tương tự.
2. Đối tượng áp dụng: Hoa lan Mokara
3. Các yêu cầu của mô hình
Yêu cầu về nhà ươm cây
Nhà ươm cây con được thiết kế theo kiểu mái vòm hoặc chữ A, có chiều cao từ 4 –
5 m, xung quanh che lưới chắn gió (nhưng đảm bảo sự thoáng mát), che lưới cắt nắng
(che 2 lớp lưới 50% sáng, tương đương ánh sáng từ 4.000 – 6.000 lux), tuyệt đối không
để ánh sáng chiếu trực tiếp vào cây con và đồng thời che thêm một lớp nilon để tránh
mưa.
Tùy điều kiện kinh tế mà quy mô nhà ươm Mokara có thể khác nhau, tuy nhiên
cần đảm bảo tối thiểu các yêu cầu sau:
- Vườn phải có mái che mưa, lưới cắt nắng hai lớp trong đó lớp phía dưới có thể
di chuyển để điều chỉnh ánh sáng.
- Vườn phải thoáng mát, nhiệt độ trong nhà ươm không được cao hơn nhiệt độ
bên ngoài.
- Giàn ươm cây nên thiết kế cách mặt đất tối thiểu 70 – 80 cm về chiều cao; chiều
rộng từ 1 – 1,4 m; chiều dài tùy thuộc chiều dài của vườn ươm. Vật liệu làm giàn có
thể là tre, gỗ, hoặc bằng sắt, … tùy vào điều kiện kinh tế nhưng phải đảm bảo chắc
chắn.
- Phía dưới giàn ươm tạo các rãnh nước để tăng độ ẩm và làm mát không khí
trong vườn ươm.
Tùy vào điều kiện mà nhà ươm có thể thiết kế thêm lưới chống côn trùng xung
quanh, hệ thống tưới phun, hệ thống phun sương làm mát không khí trong nhà, hệ
thống tưới phun làm mát trên mái,…
Yêu cầu về nguồn nước tưới
1

Nước tưới cho lan Mokara yêu cầu không mặn, phèn, không cứng (chứa Ca2+,
Mg2+,…), độ pH từ 5,5 - 6,8.
Yêu cầu cây con khi ra khỏi chai mô
- Chiều cao cây từ 5-6 cm trở lên (đo theo chiều cao vuốt lá).
- Cây có 3-4 lá trở lên.
- Số rễ : có ít nhất 3 rễ, chiều dài 2-3 cm trở lên. Rễ khỏe, không có rễ hư.
+ Lá có màu xanh mướt, cây khỏe mạnh, chất lượng và kích thước cây phải đồng
đều, cây không bị biến dạng và đột biến.
4. Tổng quan ở Việt Nam, thế giới và tại TP.HCM
4.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ
4.1.1 Tình hình sản xuất hoa lan trên thế giới
Hiện nay, tình hình sản xuất hoa trên thế giới đang phát triển một cách mạnh mẽ
và đã thành một ngành thương mại có lợi cho nền kinh tế các nước trồng và xuất khẩu
hoa. Diện tích trồng hoa trên thế giới ngày được mở rộng và không ngừng tăng lên,
nhiều tập chí về hoa lan được xuất bán, nhiều cuộc hội thảo về lan được tổ chức.
Trước đây việc nuôi trồng và xuất khẩu chủ yếu là lan rừng nên nguy cơ khoảng 13
loài tuyệt chủng , ngày nay việc trồng lan dần theo quy mô công nghiệp, việc xuất
khẩu lan đã đạt tới số lượng hàng trăm ngàn giò, hàng vạn lan trong năm nhằm đáp
ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường.
Hoa lan đóng vai trò lớn nhất trong thương mại hoa, cây kiểng ở Mỹ. Năm 1985,
số lượng thương mại toàn cầu về các loài lan rừng và lai tạo vượt trên 3 triệu cây trong
có khoảng 1,5 triệu lan rừng, nhỉnh hơn các loại lan trồng một ít. Hoa Kỳ nhập khẩu
690.000 cây và cũng có khoảng ½ là lan rừng. Mặc dù Hà Lan cung cấp ¼ lan cho thị
trường Mỹ nhưng các nước khác như Thái Lan, Ấn Độ, Nhật, Brazil, Guatemala và
Hondurat cũng là những nhà cung cấp quan trọng (Phạm Thanh Hải).
Theo Bộ Nông nghiệp Mỹ tại Hoa Kỳ, giá trị bán hoa phong lan trong chậu tăng
từ 47 triệu USD vào năm 1996 đến 139 triệu USD trong năm 2005 (USDA, 2007).
Cây lan Dendrobium được thống kê trong các giống lan là giống có giá trị đứng thứ
hai tại Nhật Bản vào năm 2002, chỉ đứng sau Phalaenopsis (Yen, 2008).
Nhật Bản được đánh giá là một trong những nhà sản xuất, nhập khẩu và tiêu thụ
hoa cắt cành đứng thứ ba trên thế giới sau Hà Lan và Mỹ. Nhật Bản nhập khẩu hoa cắt
cành từ 35 nước trên thế giới đứng đầu là Hà Lan và Thái Lan (chiếm 45%). Nhập
2

khẩu của Nhật bản từ Thái Lan đầu tiên là hoa lan và hiện nay hoa lan đã trở nên loại
hoa thông dụng ở Nhật, và người trồng hoa cạnh tranh nhau trên cở sở kỹ thuật trồng.
Vì vậy hoa lan được nhập khẩu đều đặn với con số không đổi nhằm cung cấp cho nhu
cầu trong nước (Phạm Thanh Hải).
Trong giai đoạn 2006 - 2010 ở các nước EU, hàng năm số lượng nhập khẩu
phong lan giảm 2,7 %. Trong phương hướng nhập khẩu, phong lan được cung cấp từ
các nước đang phát triển đã cho thấy giai đoạn 2006 - 2008 tăng 3,9 % và giảm 9,1 %
trong giai đoạn 2008 - 2010. Vào năm 2010, các nước nhập khẩu phong lan dẫn đầu
trong EU là Ý (41 %), Pháp (19 %), Hà Lan (12 %), Đức (6,5 %), vương quốc Anh
(3,7 %), Ba lan (3,7 %). EU nhập khẩu từ các nước đang phát triển trực tiếp chính đến
nước Ý (65 %), Hà Lan (18 %). Cung cấp phong lan cắt cành đến EU chủ yếu bởi 2
quốc gia chính là Hà Lan và Thái Lan. Hà Lan dẫn đầu trong cung cấp phong lan ở
EU, chiếm 70 % vào năm 2009. Ở Hà Lan sản phẩm chính là Cymbium và
Phalaenopsis ngoài ra còn Paphiopedilum và Oncidium. Tuy Hà Lan nhập khẩu từ
Thái Lan hoa lan cắt cành nhưng Hà Lan là nước xuất khẩu lớn nhất trên thế giới về
hoa lan cắt cành nhiệt đới và đứng thứ hai cung cấp đến EU chiếm 23 %. Thái Lan có
sản phẩm thế mạnh và đặc trưng là Dendrobium. Gần 90 % phong lan Dendrobium tại
Hà Lan là nhập khẩu (Setapong, 2010).
Khu vực Đông Nam Á phát triển rất mạnh về sản xuất hoa lan. Thái Lan là nước
xuất khẩu lan nhiều nhất thế giới (có đến 1.000 giống hoa lan). Năm 2009 tổng diện
tích hoa kiểng của Thái Lan đạt 12.160 ha. Trong đó, cây kiểng chiếm diện tích cao
nhất là cây lan với diện tích 3.718 ha chiếm 30,6%. Sản lượng lan cắt cành của Thái
Lan được xuất khẩu đến 38 nước trên thế giới chiếm 60% - 70%, đạt giá trị 104 triệu
USD năm 2009. Riêng xuất khẩu sang Việt nam với số lượng như sau:
Lan cắt cành:+ Dendrobium: 22.917.059 cành,
+ Mokara: 153.288 cành,
+ Oncidium: 33.160 cành.
Lan chậu: + Dendrobium: 2.502.178 chậu,
+ Mokara: 444.910 chậu,
+ Lan khác: 174.256 chậu.
(Bộ Nông nghiệp và HTX Thailand, 2009)
4.1.2 Tình hình sản xuất hoa lan ở trong nước
3

Hoa sản xuất tại trong nước chỉ đáp ứng 15 % nhu cầu, 35 % đưa từ Đà Lạt vào
và 50 % nhập từ nước ngoài như Thái Lan, Đài Loan. Theo Đàm Minh Đức, thời gian
gần đây, thị trường Thái Lan có vẻ như đang giảm dần việc trồng và cung cấp lan
giống Mokara. Vì theo họ, giống Mokara đang trồng ở thành phố Hồ Chí Minh và cả
khu vực Đông Nam bộ như Tây Ninh, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu có điều kiện về
thời tiết, thổ nhưỡng phù hợp hơn so với trồng ở Thái Lan, nên về lâu dài Việt Nam sẽ
có lợi thế cạnh tranh hơn (Hiếu Giang, 2012).
Qua kết quả điều tra tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa lan trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh năm 2005 và điều tra bổ sung năm 2007, cho thấy:
- Diện tích trồng hoa lan ở ngoại thành tập trung chủ yếu ở huyện Củ Chi, tiếp
đến là Hóc Môn, quận 12, Bình Chánh, Bình Tân. Về quy mô diện tích vườn lan có
đến 67,5 % số hộ có diện tích vườn dưới 1.000 m2.
Theo số liệu thống kê của vụ kế hoạch thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn nếu trồng lan cắt cành Dendrobium và Mokara 1 ha có thể cho doanh thu 500
triệu - 1 tỉ đồng/ha/năm (Nguyễn Sa, 2006).
Theo ý kiến của ông Nguyễn Văn Lanh, nhà vườn tại Củ Chi (thành phố Hồ Chí
Minh) sau khi áp dụng “Mô hình sản xuất hoa cắt cành và nhân giống hoa lan Mokara”
thì“Cắt cành và nhân giống hoa lan Mokara mang lại hiệu quả kinh tế gấp 1,5 lần so
với việc chỉ thu hoạch cành hoa”(Dương Hoa Xô, 2012).
Vào năm 2003, theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thành
phố Hồ Chí Minh doanh số kinh doanh hoa lan cây kiểng chỉ đạt 200 - 300 tỉ đồng
nhưng đến năm 2005 đã tăng đến 600-700 tỉ đồng và ngay từ đầu năm 2006 doanh số
đạt được là 400 tỉ đồng (Nguyễn Sa, 2006).
Theo khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu khoa học kỹ thuật và Khuyến nông,
mỗi tuần thành phố Hồ Chí Minh phải nhập hơn 20 ngàn cành lan từ Thái Lan, như
vậy hàng năm thành phố Hồ Chí Minh phải nhập hơn một triệu cành lan với giá nhập
khoảng 4.000 đồng/cành, tính ra mỗi năm phải chi hơn 4 tỷ đồng chỉ để nhập lan cắt
cành (Nguyễn Sa, 2008).
Theo các nhà kinh doanh trong ngành hoa tươi, hiện việc sản xuất hoa lan ở
thành phố Hồ Chí Minh chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu thị trường. Từ năm 1998
đến 2003 đạt khoảng 90.000 - 100.000 USD/năm (Nguyễn Thiện Tịch và ctv, 2006).
4

Trong mục tiêu quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2015 của tỉnh Bình
Dương là phát huy lợi thế của từng loại đất; khai thác đất nông nghiệp chủ yếu vào
thâm canh tăng năng suất cây lâu năm, chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất trồng cây hàng
năm để đáp ứng nhu cầu phát triển đô thị, công nghiệp. Vì vậy, nhận thấy trồng lan
Mokara cho hiệu quả kinh tế cao, tận dụng đất đai quanh nhà, phù hợp với chủ trương
nên ban chủ nhiệm câu lạc bộ trang trại hoa lan tỉnh đã quyết định xây dựng các mô
hình trồng lan theo công nghệ mới để đánh giá, rút kinh nghiệm phục vụ nhu cầu nhân
rộng (Thanh Lê, 2012).
Theo mục tiêu của Chương trình phát triển hoa, cây kiểng trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh giai đoạn 2011 - 2015, ban hành theo Quyết định số 3330/QĐ-UBND
ngày 04/07/2011 của Ủy ban nhân dân thành phố. Trong đó cây hoa lan được lựa chọn
ưu tiên đưa vào các vùng đang xây dựng đề án chuyển dịch cơ cấu kinh tế sản xuất
nông nghiệp trên địa bàn thành phố với chủ trương phát triển nông nghiệp đô thị của
thành phố Hồ Chí Minh (Trần Quang Vinh, 2012).
4. 2 Giới thiệu về lan Mokara
4.2.1 Nguồn gốc lan Mokara
Lan Mokara được lai từ ba giống Arachnis (lan bò cạp), Ascoentrum và Vanda;
loài lan này mang các đặc tính nổi trội từ bố mẹ là: dạng hoa và màu sắc đẹp từ Vanda,
tăng trưởng nhanh từ Ascocenda (Ascocentrum x Vanda) (Nguyễn Công Nghiệp,
2006).
4.2.2 Phân bố lan Mokara
Mokara là giống lan lai nhân tạo đầu tiên từ Singapore và được lan rộng đến Thái
Lan, Philippines, Nam Á, Hawaii (Nguyễn Thiện Tịch và ctv, 2006).
4.2.3 Phân loại khoa hKc
Ngành: Magnoliophyta
Lớp: Liliopsida
Bộ: Orchidales
Họ: Orchidaceae
Loài: Vanda Jones
Tên lai: Mokara (Nguyễn Thiện Tịch và ctv, 2006).
4.2.4 Đặc điểm hình thái
5

