
Quy trình nhân giống hoa Lan
bằng phương pháp nuôi cấy in-
vitro

Lan là loại hoa vương giả, với vẻ đẹp vương giả, quý phái nên khắp
nơi trên thế giới ngày càng có nhiều người thích chơi hoa Lan.
Chính vì vậy, hoa Lan là sản phẩm trồng trọt luôn có giá trị kinh tế
cao. Bắt kịp thị hiếu này, ngày nay đã xuất hiện nhiều cơ sở kinh
doanh hoa Lan với nhiều chủng loại, giá cả khác nhau. Do đó, việc
nhân giống bằng kỹ thuật nuôi cấy mô in-vitro tạo ra hàng loạt cây
con ổn định về mặt di truyền và đáp ứng giá cả phải chăng là vô
cùng hữu ích.
Lan là loại hoa vương giả, với vẻ đẹp vương giả, quý phái nên khắp nơi
trên thế giới ngày càng có nhiều người thích chơi hoa Lan. Chính vì vậy,
hoa Lan là sản phẩm trồng trọt luôn có giá trị kinh tế cao. Bắt kịp thị
hiếu này, ngày nay đã xuất hiện nhiều cơ sở kinh doanh hoa Lan với
nhiều chủng loại, giá cả khác nhau. Do đó, việc nhân giống bằng kỹ
thuật nuôi cấy mô in-vitro tạo ra hàng loạt cây con ổn định về mặt di
truyền và đáp ứng giá cả phải chăng là vô cùng hữu ích. Sau đây, chúng
tôi xin giới thiệu quy trình cơ bản nhân giống Lan bằng phương pháp
nuôi cấy mô in-vitro:

Quy trình trên được tiến hành qua các giai đoạn sau:
1. Chọn mẫu và khử trùng mẫu cấy:
Tách các vảy hành ra từ cây, bóc lần các lá già cho đến khi xuất hiện các
mầm chồi bên mang đỉnh sinh trưởng. Cắt bỏ gốc của mỗi mầm, sau đó
khử trùng bằng cách ngâm trong cồn 70% trong 30 giây, rửa sạch bằng
nước cất vô trùng ngâm trong dung dịch Ca(OCl)2 2% trong 25 phút,
việc khử trùng được tiến hành trong tủ cấy. Mô được rửa lại với nước
cất vô trùng 4 - 5 lần.
Mỗi mầm được đặt trong đĩa petri vô trùng và cẩn thận tách các lá non.
Sau mỗi lần tách, nhúng mầm vào cồn 700 trong 1 giây và rửa với nước
cất vô trùng. Chuyển sang một đĩa petri vô trùng khác, tách các lá mầm
bằng dao nhọn vô trùng. Dùng kìm nhọn tách các lớp lá, cắt đỉnh sinh
trưởng ra khỏi mô và cấy vào môi trường nhân giống ban đầu.
2. Nhân giống:
Môi trường nhân giống thường là môi trường MS (Murashige Skoog,
1962) có bổ sung các chất điều hoà tăng trưởng (auxin, cytokinin,…) với
tỷ lệ phù hợp tùy loài nhằm tạo điều kiện cho quá trình nhân chồi. Nồng
độ các chất điều hoà sinh trưởng nên giảm dần trong các lần cấy chuyền
sau đó. Các chất chiết trái cây cũng được đề nghị dùng như nước cốt cà
chua, nước dừa, nước chuối, nước khoai tây... nhưng chúng chỉ có hiệu
quả trong các lần cấy chuyền và thể tích cũng không quá 10% thể tích
môi trường.
Nhiệt độ lý tưởng để nhân giống Lan là 220C - 260C và tuỳ vào mỗi
loài.

Sau 4-8 tuần, đỉnh sinh trưởng chuyển sang màu xanh lục và tạo ra các
khối tròn gọi là thể chồi. Thể chồi được lấy ra khỏi môi trường cấy ban
đầu, dùng dao nhọn cắt làm 4-6 miếng tuỳ kích thước của chồi. Lát cắt
được chuyển vào môi trường duy trì (môi trường phát triển chồi). Mỗi
đỉnh sinh trưởng sẽ phát triển ra một thể chồi mới sau khoảng 4 tuần, có
thể cắt tiếp và cấy chuyền sang môi trường mới.
3. Tái sinh cây hoàn chỉnh in-vitro:
Khi đạt đến số cây giống cần thiết, ta chuyển thể chồi sang môi trường
tạo rễ (môi trường có lượng auxin tăng lên để kích thích ra rễ). Sau 4 -5
tháng, các thể chồi sẽ phát triển thành cây con.
4. Chuyển cây ra vườn ươm:
Cây con cao 5-7 cm và có từ 3-4 lá có thể chuyển sang cấy vào bầu đất
mùn vô trùng có bổ sung các chất dinh dưỡng. Sau một thời gian cây
phát triển ổn định ta đem chuyển vào chậu. Sau khi chuyển chậu khoảng
một tuần mới được bón phân, lúc này cây đã có đủ sức chống chọi với
bệnh tật.
Như vậy, từ một mô hoa Lan được chọn nuôi cấy cho đến ra cây con có
3-4 lá chuyển ra vườn trồng mất thời gian khoảng từ 8 đến 11 tháng.
Với phương pháp nhân giống vô tính như trên sẽ đảm bảo tạo ra cây con
mang đặc tính giống hoàn toàn với cây cha mẹ (cây con ổn định về mặt
di truyền), cây con không nhiễm bệnh và tạo được một số lượng lớn cây
con trong thời gian ngắn. Tuy nhiên, việc cấy mô phải được thực hiện
thật nghiêm túc và tỉ mỉ theo đúng quy trình, phải có điều kiện về trang
thiết bị đầy đủ, môi trường nhân tạo thích hợp, đặc biệt là điều kiện vô
trùng phải được đảm bảo nghiêm ngặt. Cần chú ý thêm, đối với các loài

không phải là cây bản địa, phải được thuần hoá tại vùng mới chọn mẫu
đem nuôi cấy, có như vậy mới đảm bảo hiệu quả từ khâu nuôi cấy trong
phòng thí nghiệm đến trồng ngoài vườn ươm.

