
KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC
--------
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
Số: 476/QĐ-KTNN Hà Nội, ngày 21 tháng 3 năm 2019
QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC BAN HÀNH ĐỀ CƯƠNG KIỂM TOÁN CHUYÊN ĐỀ VIỆC THỰC HIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ
ĐỐI VỚI CÁC BỆNH VIỆN CÔNG LẬP GIAI ĐOẠN 2016-2018
Căn cứ Luật Kiểm toán nhà nước;
Căn cứ Quyết định số 08/2016/QĐ-KTNN ngày 23 tháng 12 năm 2016 của Tổng Kiểm toán nhà nước
ban hành Quy trình kiểm toán của Kiểm toán nhà nước;
Căn cứ Quyết định số 06/2016/QĐ-KTNN ngày 02 tháng 11 năm 2016 của Tổng Kiểm toán nhà nước
ban hành Hệ thống mẫu biểu hồ sơ kiểm toán; Công văn số 1254/KTNN-CĐ ngày 05/9/2018 của
KTNN về việc hướng dẫn thực hiện và sửa đổi tạm thời một số mẫu biểu hồ sơ kiểm toán;
Xét đề nghị của Vụ trưởng Vụ Chế độ và Kiểm soát chất lượng kiểm toán và Kiểm toán trưởng Kiểm
toán nhà nước Chuyên ngành III,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành Đề cương kiểm toán chuyên đề việc thực hiện cơ chế tự chủ đối với các bệnh viện
công lập giai đoạn 2016-2018 kèm theo Quyết định này.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.
Điều 3. Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Kiểm toán nhà nước, các tổ chức và cá nhân có liên quan
chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
Nơi nhận:
- Như Điều 3;
- Lãnh đạo KTNN;
- Lưu: VT; CĐ.
TỔNG KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC
Hồ Đức Phớc
ĐỀ CƯƠNG KIỂM TOÁN
CHUYÊN ĐỀ VIỆC THỰC HIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ ĐỐI VỚI CÁC BỆNH VIỆN CÔNG LẬP GIAI
ĐOẠN 2016-2018
(Ban hành kèm theo Quyết định số 476/QĐ-KTNN ngày 21/3/2019 của Tổng Kiểm toán nhà nước)
PHẦN THỨ NHẤT
NHỮNG VẤN ĐỀ TỔNG QUAN CHUNG VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ ĐỐI VỚI CÁC
BỆNH VIỆN CÔNG LẬP
I. Chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước
Đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hội hóa một số loại hình
dịch vụ sự nghiệp công là chủ trương, chính sách lớn, của Đảng và Nhà nước, điều đó đã được
khẳng định qua các kết luận số 37-TB/TW ngày 26/5/2011 của Bộ Chính trị, Kết luận số 63-KL/TW
ngày 27/5/2013 của Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI…và tiếp tục được
khẳng định tại Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 hội nghị lần thứ VI Ban chấp hành Trung
ương khoá XII về việc tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả
hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập với mục tiêu: “Đổi mới căn bản, toàn diện và đồng bộ hệ
thống các đơn vị sự nghiệp công lập, bảo đảm tinh gọn, có cơ cấu hợp lý, có năng lực tự chủ, quản trị
tiên tiến, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; giữ vai trò chủ đạo, then chốt trong thị trường dịch vụ sự
nghiệp công; cung ứng dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu có chất lượng ngày càng cao. Giảm
mạnh đầu mối, khắc phục tình trạng manh mún, dàn trải và trùng lắp; tinh giản biên chế gắn với cơ
cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, viên chức. Giảm mạnh tỉ trọng, nâng cao hiệu quả chi
ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập để cơ cấu lại ngân sách nhà nước, cải cách tiền
lương và nâng cao thu nhập cho cán bộ, viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập. Phát triển thị
trường dịch vụ sự nghiệp công và thu hút mạnh mẽ các thành phần kinh tế tham gia phát triển dịch vụ
sự nghiệp công”.
Trong đó một số nhiệm vụ và giải pháp được đề ra như:

- Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về mục tiêu, ý nghĩa, yêu cầu, Nội dung đổi mới cơ chế
quản lý, cơ chế tài chính và tổ chức lại hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập nhằm nâng cao nhận
thức, tạo đồng thuận ở các ngành, các cấp, các đơn vị sự nghiệp và toàn xã hội trong việc thực hiện
chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu
quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hội hoá dịch vụ sự nghiệp công.
- Sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập: Hoàn thiện các quy định của pháp luật về Nội
dung phân loại, điều kiện thành lập, sáp nhập, hợp nhất, giải thể các đơn vị sự nghiệp công lập theo
từng ngành, lĩnh vực. Trên cơ sở đó, sắp xếp, tổ chức lại đơn vị sự nghiệp công lập của từng ngành,
lĩnh vực theo nguyên tắc: (1) Pháp luật chuyên ngành không quy định việc thành lập tổ chức bộ máy
các đơn vị sự nghiệp công lập; (2) Trường hợp cần thiết phải thành lập mới đơn vị sự nghiệp công
lập, thì đơn vị đó phải tự bảo đảm toàn bộ về tài chính (trừ trường hợp phải thành lập mới để cung
ứng dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu); (3) Một đơn vị sự nghiệp công lập có thể cung ứng
nhiều dịch vụ sự nghiệp công cùng loại nhằm giảm mạnh đầu mối, khắc phục chồng chéo, dàn trải,
trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ; (4) Cơ cấu lại hoặc giải thể các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt
động không hiệu quả; (5) Đẩy mạnh xã hội hoá, chuyển các đơn vị sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp
khác đủ điều kiện thành công ty cổ phần.
- Việc sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập - đối với lĩnh vực y tế:
+ Tổ chức các cơ sở y tế theo hướng toàn diện, liên tục và lồng ghép theo 3 cấp: Chăm sóc ban đầu,
chăm sóc cấp 2, chăm sóc cấp 3. Sắp xếp lại các đơn vị làm nhiệm vụ kiểm nghiệm, kiểm định, kiểm
chuẩn thành đơn vị kiểm soát dược phẩm, thực phẩm và thiết bị y tế;
+ Xây dựng một số bệnh viện hiện đại ngang tầm khu vực và quốc tế. Sớm hoàn thành việc sắp xếp
các đơn vị làm nhiệm vụ y tế dự phòng cấp tỉnh và Trung ương thành trung tâm phòng ngừa và kiểm
soát dịch bệnh cùng cấp trên cơ sở sáp nhập các tổ chức, đơn vị có cùng chức năng, nhiệm vụ và
hoạt động lồng ghép;
+ Thực hiện thống nhất mô hình mỗi cấp huyện chỉ có một trung tâm y tế đa chức năng (trừ các
huyện có bệnh viện đạt hạng II trở lên), bao gồm y tế dự phòng, dân số, khám bệnh, chữa bệnh, phục
hồi chức năng và các dịch vụ y tế khác; trung tâm trực tiếp quản lý trạm y tế xã và phòng khám đa
khoa khu vực (nếu có). Rà soát, sắp xếp hợp lý các phòng khám đa khoa khu vực. Nơi đã có cơ sở y
tế trên địa bàn cấp xã thì có thể không thành lập trạm y tế xã;
+ Điều chỉnh, sắp xếp lại các bệnh viện bảo đảm mọi người dân đều có thể tiếp cận thuận lợi về mặt
địa lý. Chuyển dần các bệnh viện thuộc Bộ Y tế và các bộ, cơ quan nhà nước ở Trung ương về địa
phương quản lý (trừ các bệnh viện thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an; một số ít bệnh viện chuyên
khoa đầu ngành, bệnh viện của các trường đại học).
Có thể khẳng định chủ trương và định hướng đúng đắn của Đảng và Nhà nước đối với cơ chế tự chủ
y tế đã và đang được các Bộ, cơ quan Trung ương, địa phương và các bệnh viện công lập thực hiện
và từng bước hoàn thiện. Tuy nhiên trong quá trình triển khai thực hiện còn một số vướng mắc, cần
được làm rõ và khắc phục.
II. Cơ chế tự chủ đối với các bệnh viện công lập
Đơn vị sự nghiệp công lập được hiểu là tổ chức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập và
quản lý theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản và tổ chức bộ máy kế
toán theo quy định của pháp luật về kế toán để thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công hoặc phục
vụ quản lý nhà nước trong các lĩnh vực chuyên môn. Khái niệm về cơ chế tự chủ đã được quy định tại
các Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16/1/2002 về chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp
có thu; Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về
thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập; Nghị
định số 85/2012/NĐ-CP ngày 15/10/2012 cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự
nghiệp y tế công lập và giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
công lập; Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 15/2/2015.
1. Cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp y tế công lập
Cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập: quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong
việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính của đơn vị sự nghiệp công. Cụ thể:
Tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập:
(i) Tổ chức bộ máy
Nghị định 85/2012/NĐ-CP quy định về tự chủ trong tổ chức bộ máy như sau: Trên cơ sở Quy chế tổ
chức và hoạt động đã được phê duyệt, đơn vị được quyết định thành lập hoặc tổ chức lại các khoa,
phòng và tổ chức khác trực thuộc để thực hiện kế hoạch hoạt động chuyên môn đã đăng ký hoặc
được cơ quan quản lý cấp trên giao. Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ hướng dẫn cơ cấu viên
chức theo chức danh nghề nghiệp và số lượng viên chức làm việc tương ứng theo các lĩnh vực
chuyên môn y tế. Căn cứ vào các văn bản hướng dẫn có liên quan; căn cứ chức năng, nhiệm vụ, kế
hoạch hoạt động chuyên môn, nhu cầu công việc, vị trí việc làm, quỹ tiền lương của đơn vị, hằng năm

đơn vị xây dựng kế hoạch tuyển dụng viên chức. Thủ trưởng đơn vị có quyền tiếp nhận viên chức
ngạch bác sỹ chính và tương đương trở xuống.
(ii) Tự chủ tài chính
- Về tự chủ về giá, phí: Đối với loại dịch vụ sự nghiệp công không sử dụng kinh phí NSNN thì đơn vị
được tự xác định giá dịch vụ theo nguyên tắc thị trường. Đối với loại dịch vụ sự nghiệp công sử dụng
kinh phí NSNN thì Nhà nước ban hành danh mục và định giá. Giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh
được tính theo từng dịch vụ, kỹ thuật y tế hoặc tính theo trường hợp bệnh. Đối với những hoạt động
liên doanh, liên kết đơn vị được quyết định các khoản thu, mức thu theo nguyên tắc bảo đảm đủ bù
đắp chi phí và có tích lũy. Lộ trình tính giá dịch vụ y tế như sau: Đến năm 2016 sẽ tính đủ chi phí tiền
lương, chi phí trực tiếp (chưa tính chi phí quản lý và chi phí khấu hao tài sản cố định); Đến năm 2018
sẽ tính đủ chi phí tiền lương, chi phí trực tiếp và chi phí quản lý (chưa tính chi phí khấu hao tài sản cố
định); Đến năm 2020 sẽ tính đủ chi phí tiền lương, chi phí trực tiếp, chi phí quản lý và chi phí khấu
hao tài sản cố định.
- Về chi tiền lương và thu nhập tăng thêm: Các đơn vị sự nghiệp chi trả tiền lương theo lương ngạch,
bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp do Nhà nước quy định đối với đơn vị sự nghiệp công. Khi Nhà
nước điều chỉnh tiền lương cơ sở, đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư và đơn vị tự bảo
đảm chi thường xuyên phải tự bảo đảm tiền lương tăng thêm từ nguồn thu của đơn vị; NSNN không
cấp bổ sung. Đối với đơn vị chưa tự bảo đảm chi thường xuyên và đơn vị được Nhà nước bảo đảm
chi thường xuyên, chi tiền lương tăng thêm từ các nguồn theo quy định, bao gồm cả nguồn NSNN
cấp bổ sung (nếu thiếu). Căn cứ Quỹ thu nhập tăng thêm để quyết định mức chi trả thu nhập tăng
thêm trong Quy chế chi tiêu nội bộ, theo nguyên tắc người nào có năng suất, chất lượng, hiệu quả
công tác cao, đóng góp nhiều cho việc hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn của đơn vị được chi trả cao
hơn, có mức thù lao thỏa đáng để khuyến khích, thu hút các chuyên gia, thầy thuốc giỏi làm việc tại
đơn vị, không khống chế mức thu nhập tối đa của cá nhân người lao động.
- Về trích lập các Quỹ: Hàng năm, sau khi hạch toán đầy đủ các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản
nộp NSNN khác (nếu có) theo quy định, phần chênh lệch thu lớn hơn chi, đơn vị được sử dụng để
trích lập các quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp; quỹ bổ sung thu nhập; quỹ khen thưởng và quỹ phúc
lợi. Ngoài ra, các đơn vị được trích lập các quỹ khác theo quy định của pháp luật; mức trích các Quỹ
căn cứ vào mức độ tự chủ tài chính của đơn vị.
- Về tự chủ trong giao dịch tài chính: Đơn vị được mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng thương mại
hoặc Kho bạc Nhà nước để phản ánh các khoản thu, chi hoạt động dịch vụ sự nghiệp công không sử
dụng ngân sách nhà nước. Lãi tiền gửi đơn vị được bổ sung vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp
hoặc bổ sung vào Quỹ khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành (nếu có), không được bổ sung
vào Quỹ bổ sung thu nhập. Đơn vị sự nghiệp công lập được huy động vốn, vay vốn để đầu tư, xây
dựng cơ sở vật chất theo quy định của pháp luật và phải có phương án tài chính khả thi để hoàn trả
vốn vay; chịu trách nhiệm về hiệu quả của việc huy động vốn, vay vốn. Ngoài ra, đơn vị sự nghiệp
công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư được vận dụng cơ chế tài chính như doanh
nghiệp (công ty TNHH một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ), khi đáp ứng đủ các
điều kiện theo quy định.
- Tự chủ về các hoạt động liên doanh, liên kết, dịch vụ
Đơn vị được góp vốn, huy động vốn, liên doanh, liên kết theo quy định của pháp luật để mở rộng cơ
sở, phát triển các dịch vụ, kỹ thuật; triển khai các kỹ thuật ngoài danh mục kỹ thuật và nhiệm vụ
chuyên môn được giao; tổ chức các hoạt động dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của xã hội nhưng phải
phù hợp với lĩnh vực chuyên môn, khả năng của đơn vị và đúng với quy định của pháp luật. Việc góp
vốn, huy động vốn, liên doanh, liên kết phải được hạch toán theo dõi riêng hoặc thành lập cơ sở hạch
toán độc lập.
Trường hợp thành lập cơ sở hạch toán độc lập trong khuôn viên hiện có của đơn vị: Đơn vị phải xây
dựng Đề án báo cáo cơ quan quản lý cấp trên phê duyệt; cơ sở hạch toán độc lập phải là đơn vị kế
toán cấp dưới của đơn vị, do đơn vị trực tiếp quản lý, điều hành, hoạt động theo nguyên tắc tự bảo
đảm toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên và kinh phí đầu tư và được giao quyền tự chủ, tự chịu
trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính theo quy định
hiện hành.
- Về quản lý, sử dụng tài sản: Các đơn vị sự nghiệp y tế công lập được giao tài sản theo quy định của
Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật.
(iii) Nhiệm vụ
Các đơn vị tự chủ trong xây dựng kế hoạch phù hợp với chức năng, nhiệm vụ năng lực của đơn vị; tự
chủ trong việc thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch của cơ quan quản lý giao đảm bảo chất lượng và
tiến độ.
2. Phân loại đơn vị sự nghiệp y tế công lập
Đơn vị sự nghiệp y tế được đăng ký và phân loại theo các nhóm sau đây:

a) Nhóm 1: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm được toàn bộ kinh phí hoạt động thường
xuyên và kinh phí đầu tư phát triển;
b) Nhóm 2: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm được toàn bộ kinh phí hoạt động thường
xuyên;
c) Nhóm 3: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần kinh phí hoạt động thường xuyên;
d) Nhóm 4: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp hoặc không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường
xuyên theo chức năng, nhiệm vụ được giao do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ.”
Đối với đơn vị đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phân loại và giao thực hiện cơ chế tự chủ
theo nhóm 1 và nhóm 2 thì không được điều chỉnh phân loại sang nhóm 3 hoặc nhóm 4. Nhóm 1 thí
điểm thành lập Hội đồng quản lý để quyết định những vấn đề quan trọng của bệnh viện.
Việc đăng ký, phân loại được ổn định trong thời gian 03 năm, sau thời hạn 03 năm sẽ xem xét phân
loại cho phù hợp. Trường hợp đơn vị có biến động về nguồn thu hoặc nhiệm vụ chi làm thay đổi cơ
bản mức tự bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên thì được xem xét điều chỉnh việc phân loại
trước thời hạn.
Các đơn vị xây dựng phương án tự chủ tài chính năm đầu của thời kỳ ổn định, báo cáo cơ quan chủ
quản, cơ quan chủ quản phân loại, báo cáo cơ quan tài chính thẩm định, căn cứ kết quả thẩm định
của cơ quan tài chính, cơ quan chủ quản quyết định việc phân loại và giao dự toán hàng năm.
III. Trách nhiệm quản lý Nhà nước trong việc thực hiện cơ chế tự chủ đối với các bệnh viện
công lập
1. Trách nhiệm của các Bộ, cơ quan Trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
- Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ và các Bộ, cơ quan liên quan xây dựng và trình
Chính phủ sửa đổi, ban hành Nghị định quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp y tế công lập.
- Bộ Y tế xây dựng và ban hành các hướng dẫn về chuyên môn và quy trình kỹ thuật; quy định về
phân tuyến chuyên môn kỹ thuật đối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; quy định các nhiệm vụ
chuyên môn chủ yếu đối với các đơn vị y tế thuộc các lĩnh vực còn lại theo tuyến chuyên môn; quy
định các nội dung, chỉ tiêu cơ bản trong kế hoạch hoạt động chuyên môn; xây dựng và ban hành các
nội dung đánh giá kết quả hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn.
- Các Bộ, các cơ quan Trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: căn cứ phạm vi quản lý, chức năng,
nhiệm vụ theo thẩm quyền được giao rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các tiêu chí, tiêu
chuẩn chất lượng, cơ chế giám sát, đánh giá, kiểm định chất lượng các dịch vụ y tế công; hiệu quả
hoạt động của đơn vị sự nghiệp y tế công lập; thực hiện thanh tra, kiểm tra, xử phạt vi phạm trong
hoạt động cung ứng dịch vụ sự nghiệp y tế và tổ chức thực hiện các nội dung khác về trách nhiệm
quản lý nhà nước đối với dịch vụ sự nghiệp y tế và đơn vị sự nghiệp y tế công lập theo quy định tại
Nghị định 16/2015/NĐ-CP.
2. Trách nhiệm của thủ trưởng đơn vị
- Chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp và trước pháp luật đối với các quyết định
thực hiện quyền tự chủ về nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính của đơn vị.
- Bảo đảm chất lượng dịch vụ sự nghiệp công theo các tiêu chí, tiêu chuẩn do cơ quan nhà nước có
thẩm quyền quy định.
- Xây dựng và tổ chức thực hiện quy chế chi tiêu nội bộ, quy chế sử dụng tài sản, quy chế dân chủ cơ
sở, quy chế công khai tài chính, kiểm toán nội bộ theo quy định.
- Tổ chức, thực hiện quản lý, sử dụng viên chức theo quy định của pháp luật về viên chức.
- Quản lý, bảo toàn và phát triển vốn, tài sản của Nhà nước giao, thực hiện chế độ hạch toán kế toán,
thống kê, thông tin, báo cáo hoạt động, kiểm toán theo quy định.
- Trình cơ quan có thẩm quyền quyết định thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ
cấu tổ chức của Hội đồng quản lý theo quy định.
- Thực hiện quy định công khai, trách nhiệm giải trình hoạt động của đơn vị theo quy định của pháp
luật.
- Hàng năm, căn cứ vào Quy chế tổ chức và hoạt động, chức năng, nhiệm vụ và tình hình thực tế,
đơn vị xây dựng kế hoạch hoạt động chuyên môn. Đơn vị sự nghiệp y tế được chủ động quyết định
các biện pháp để tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động chuyên môn theo quy định bảo đảm các điều
kiện về nhân lực, chuyên môn nghiệp vụ, cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy định để thực hiện và
cung cấp các dịch vụ đạt tiêu chuẩn, chất lượng.
- Đơn vị sự nghiệp y tế chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền
về toàn bộ các mặt hoạt động của đơn vị.
IV. Thực trạng, bất cập trong triển khai thực hiện cơ chế tự chủ đối với các bệnh viện công lập

1. Kết quả thực hiện tự chủ
Trong thời gian qua, cơ chế hoạt động, tài chính của các đơn vị sự nghiệp y tế công lập đã từng bước
được đổi mới, được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP. Kết
quả thực hiện tự chủ của các đơn vị hiện nay cho thấy:
- 100% đơn vị sự nghiệp y tế công lập đã được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về nhiệm vụ,
tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính theo 3 mức: (i) Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên; (ii) Đơn vị
tự bảo đảm một phần chi thường xuyên; (iii) Đơn vị do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường
xuyên1.
TỔNG HỢP TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH 43/2006/NĐ-CP
TRONG NGÀNH Y TẾ
TT
Mức độ tự chủ
của các đơn vị
sự nghiệp y tế
(Không có
trung tâm dân
số)
Giai đoạn 2013-2017
Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017
Số
lượng Tỷ lệ Số
lượng Tỷ lệ Số
lượng Tỷ lệ Số
lượng Tỷ lệ Số
lượng Tỷ lệ
I Tổng cộng 2130 100% 2137 100% 2145 100% 2146 100% 2120 100%
Tự đảm bảo chi
hoạt động
thường xuyên 28 1,30% 34 1,6% 36 1,7% 40 1,9% 89 4,2%
Tự đảm bảo một
phần chi hoạt
động thường
xuyên 1424 67% 1433 67,1% 1468 68,4% 1463 68,2% 1441
68,0
%
Đơn vị do NSNN
đảm bảo chi
hoạt động
thường xuyên 678
31,80
% 670 31,4% 641 29,9% 643 30,0% 592
27,9
%
II Trung ương 60 100% 59 100% 59 100% 68 100% 75 100%
Tự đảm bảo chi
hoạt động
thường xuyên 6
10,00
% 10 16,9% 10 16,9% 12 17,6% 19
25,3
%
Tự đảm bảo một
phần chi hoạt
động thường
xuyên 49
81,70
% 45 76,3% 45 76,3% 50 73,5% 50
66,7
%
Đơn vị do NSNN
đảm bảo chi
hoạt động
thường xuyên 5 8,30% 4 6,8% 4 6,8% 6 8,8% 6 8,0%
III Địa phương 2070 100% 2078 100% 2086 100% 2078 100% 2047 100%
Tự đảm bảo chi
hoạt động
thường xuyên 22 1,10% 24 1,2% 26 1,2% 28 1,3% 70 3,4%
Tự đảm bảo một
phần chi hoạt
động thường
xuyên 1375
66,40
% 1388 66,8% 1423 68,2% 1413 68,0% 1391
68,0
%
Đơn vị do NSNN
đảm bảo chi
hoạt động
thường xuyên 673
32,50
% 666 32,1% 637 30,5% 637 30,7% 586
28,6
%
Nguồn: Vụ Kế hoạch - Tài chính - Bộ Y tế
Theo số liệu báo cáo của các đơn vị sự nghiệp y tế trực thuộc Bộ Y tế và 63 tỉnh, thành phố, số lượng
các đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên ngày càng tăng: từ 28 đơn vị (chiếm 1,3%) năm 2013 lên 89
đơn vị, (chiếm 4,2%) năm 2017; Số lượng các đơn vị do ngân sách đảm bảo chi hoạt động thường
xuyên giảm, từ 678 đơn vị (chiếm 31,8%) năm 2013 xuống 592 đơn vị (chiếm 27,9%) năm 2017.
Các đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên chủ yếu là các bệnh viện, đối với khối dự phòng chỉ có một
số trung tâm kiểm dịch biên giới (10 Trung tâm) tại các cửa khẩu là bảo đảm được chi thường xuyên.
1 Nguồn: Vụ Kế hoạch - Tài chính - Bộ Y tế.

