ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ TRƯỜNG MẦM NON TẢ THANH OAI B

BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO GIÁO VIÊN THỰC HIỆN TỐT CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG TAI NẠN THƯƠNG TÍCH CHO TRẺ TRONG TRƯỜNG MẦM NON

Lĩnh vực : Quản lý Cấp học : Mầm non Tên tác giả : Nguyễn Thị Tình Đơn vị công tác : Trường mầm non Tả Thanh Oai B Chức vụ : Phó hiệu trưởng

NĂM HỌC: 2022 - 2023

Mẫu 1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi: Hội đồng Khoa học và Công nghệ Huyện Thanh Trì

Họ và tên Tên sáng kiến Nơi công tác Chức danh Ngày tháng năm sinh Trình độ chuyên môn

13/07/1984 Nguyễn Thị Tình Phó hiệu trưởng Trường MN Tả Thanh Oai B Cử nhân giáo dục mầm non

Biện pháp chỉ đạo giáo viên thực hiện tốt công tác phòng, chống tai nạn thương tích cho trẻ trong trường mầm non

1. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Quản lý 2. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: Ngày

05/9/2022.

3. Mô tả bản chất của sáng kiến: + Mục đích của sáng kiến kinh nghiệm: Đề xuất những biện pháp chỉ đạo đội ngũ giáo viên thực hiện hiệu quả công

tác phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ ở trường, lớp mầm non.

Đánh giá đúng thực trạng việc lồng ghép nội dung giáo dục kỹ năng tự bảo vệ,

kỹ năng sống, kỹ năng phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ trong nhà trường.

Tạo môi trường sống an toàn, lành mạnh cho trẻ. Chủ động phòng ngừa, giảm thiểu và loại bỏ các yếu tố nguy cơ gây tai nạn thương tích cho trẻ trong gia đình, nhà trường và cộng đồng.

+ Về nội dung của sáng kiến: Mục lục, đặt vấn đề, giải quyết vấn đề, kết

luận và khuyến nghị, phụ lục cụ thể như sau:

* Mục lục. * A. Đặt vấn đề * B. Giải quyết vấn đề Nội dung và giải pháp nhằm chỉ đạo giáo viên thực hiện tốt công tác

phòng, chống tai nạn thương tích cho trẻ trong trường mầm non.

* Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch “Trường học an toàn và phòng

tránh tai nạn thương tích cho trẻ”.

Xây dựng kế hoạch chỉ đạo giáo viên thực hiện công tác xây dựng trường học an toàn, phòng, tránh tai nạn thương tích cho trẻ với mục tiêu: Nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ giáo viên, phụ huynh và học sinh, từ đó thay đổi hành vi nếp sống phù hợp để hạn chế những tai nạn thương tích, chú trọng phòng tránh tai nạn giao thông, bạo lực học đường, đuối nước, dị vật đường thở, điện giật, bỏng, ngã trầy da… giảm tối đa tỉ lệ tai nạn thương tích trong và ngoài trường.

Xây dựng kế hoạch trường học an toàn, phòng chống tai nạn

thương tích:

Phối hợp xây dựng kế hoạch “Trường mầm non xanh, an toàn, hạnh phúc” bám sát chủ đề năm học của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Thanh Trì với nhiệm vụ trọng tâm chỉ đạo giáo viên 20 lớp xây dựng môi trường lớp học xanh, sạch, đẹp, đảm bảo an toàn cả về thể chất và tinh thần cho trẻ.

Thành lập Ban chỉ đạo xây dựng trường học an toàn phòng chống tai nạn

thương tích trong trường với đầy đủ các thành phần.

Trực tiếp kiểm tra, giám sát việc thực hiện công tác phòng chống tai nạn

thương tích, xây dựng lớp học xanh, an toàn, hạnh phúc trong từng lớp.

Xây dựng kế hoạch giáo dục năm học, chỉ đạo giáo viên các lớp lồng ghép tích hợp phòng chống chống tai nạn thương tích, giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ vào trong các hoạt động giáo dục phù hợp với chủ đề, sự kiện tháng.

Truyền thông giáo dục nâng cao nhận thức về xây dựng trường học an toàn phòng chống tai nạn thương tích, “Xây dựng trường mầm non xanh, an toàn, hạnh phúc”, “Lớp học xanh, an toàn, hạnh phúc”, “Nhà vệ sinh thân thiện” qua website: http://mamnontathanhoaib.edu.vn; Fanpage trường.

Xây dựng kế hoạch thực hiện chuyên đề “Phòng chống tai nạn thương tích” cấp huyện. Tự đánh giá các nội dung của bảng kiểm trường học an toàn, phòng chống tai nạn thương tích của nhà trường cuối năm học.

Thực hiện kế hoạch xây dựng trường học an toàn, phòng chống tai nạn

thương tích cho trẻ:

Triển khai thực hiện quy chế và kế hoạch cả năm học, hàng tháng có kế

hoạch cụ thể với các nội dung phù hợp với từng thời điểm.

Tổ chức học tập quy chế và kế hoạch tại buổi học tập nhiệm vụ đầu năm học. Phát tài liệu quy chế trường học an toàn và kế hoạch xây dựng trường học an toàn, phòng chống tai nạn thương tích tới 100% cán bộ, giáo viên, nhân viên. Phối hợp với Ban giám hiệu phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng bộ phận

phù hợp với vai trò, vị trí, chức năng nhiệm vụ được giao.

* Biện pháp 2: Tập huấn cho giáo viên kỹ năng phòng tránh, xử lý tai

nạn thương tích và phương pháp giáo dục trẻ kỹ năng tự bảo vệ.

Với cương vị là Phó hiệu trưởng, phó ban chỉ đạo chăm sóc sức khoẻ, phòng, chống tai nạn thương tích của nhà trường. Ngay đầu năm học, tôi đã xây dựng kế hoạch bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cơ bản về phòng chống và xử lý các tình huống khi tai nạn xảy ra cho đội ngũ giáo viên trong trường.

Bồi dưỡng qua tập huấn: Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cơ bản để nâng cao nhận thức cho giáo viên về phòng tránh tai nạn thương tích, giáo dục kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ ngay từ đầu năm học.

Tổ chức tập huấn học tập, bồi dưỡng về khái niệm, nguyên nhân, mục đích, nội dung kiến thức cơ bản về tai nạn thương tích xảy ra với trẻ ở trường, ở lớp cũng như ở nhà và kỹ năng dạy trẻ cách phòng chống và ứng phó, xử lý các tình huống nguy hiểm xảy ra nhằm bảo vệ bản thân.

Tham mưu với Hiệu trưởng để mời 01 đồng chí chuyên gia chăm sóc sức khỏe và hướng dẫn một số kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ, kỹ năng xử lý các tình huống trẻ bị tai nạn thương tích về chia sẻ kinh nghiệm với các đồng chí giáo viên trong trường để giáo viên, nhân viên.

Bồi dưỡng qua tài liệu: Tham mưu với đồng chí Hiệu trưởng mua những cuốn tài liệu có liên quan đến xây dựng môi trường an toàn, phòng chống, xử trí các tai nạn thương tích thường gặp ở trẻ. Ngoài ra, tôi còn phát đĩa CD, gửi các video dạy trẻ các kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho giáo viên và hướng dẫn giáo viên tra cứu tài liệu, thông tin trên internet để giáo viên nghiên cứu tìm hiểu về cách xử lý những tai nạn thương tích thường gặp với trẻ mầm non ở trường, ở lớp.

Bồi dưỡng qua thực hành, kiến tập chuyên đề cấp trường, cấp huyện: Hướng dẫn giáo viên các bài tập Montessori trong cách sử dụng các đồ

dùng, đồ chơi trong các hoạt động an toàn.

Tổ chức các buổi tọa đàm giữa giáo viên với giáo viên về các nội dung giáo dục trẻ kỹ năng tự bảo vệ, kỹ năng phòng chống tai nạn thương tích. Tổ chức cho giáo viên thực hành kỹ năng xử lý các tai nạn thương tích xảy ra, tập thực hành cách xử lý các tình huống dạy trẻ.

Xây dựng và phát huy tác dụng của lớp điểm. Tổ chức kiến tập chuyên đề tại trường, tạo điều kiện cho 100% giáo viên và đại diện phụ huynh trong trường tham gia kiến tập chuyên đề phòng chống tai nạn thương tích và kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ tại lớp điểm.

Tổ chức lên chuyên đề “Phòng chống tai nạn thương tích” cấp huyện.

* Biện pháp 3: Chỉ đạo giáo viên lồng ghép giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân, kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích vào chương trình chăm sóc giáo dục trẻ.

Việc giáo dục kỹ năng tự bảo vệ, kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ theo hướng tích hợp với các hoạt động học, vui chơi, các trò chơi, tình huống giả định trong các hoạt động khác không những phù hợp với tâm lý trẻ mà còn tạo được nhiều cơ hội để giáo viên giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ, góp phần nâng cao hiệu quả chất lượng giáo dục.

Chỉ đạo giáo viên xây dựng ngân hàng, nội dung lồng ghép giáo dục trẻ nhận biết những nguy cơ không an toàn xảy ra với trẻ, kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ thông qua các hoạt động hàng ngày của trẻ một cách cụ thể.

Thông qua giờ đón, trả trẻ: Chỉ đạo giáo viên tổ chức hoạt động trò chuyện

giúp trẻ nhận biết các dấu hiệu gây ra tai nạn thương tích.

Thông qua hoạt động học: Chỉ đạo giáo viên đổi mới tổ chức hoạt động học giáo dục kỹ năng phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ thông qua các hoạt động khám phá, hoạt động làm quen văn học, làm quen với toán, phát triển vận động,… Trong đó, giáo viên cần lựa chọn đề tài đi sâu vào nội dung phòng tránh tai nạn thương tích đưa vào hoạt động khám phá, hoạt động nhận biết phù hợp với chủ đề tháng.

Thông qua hoạt động ngoài trời: Chỉ đạo giáo viên lồng ghép dạy trẻ những kỹ năng cần thiết để an toàn khi chơi, tổ chức các hoạt động giao lưu giữa các lớp, giao lưu giữa các tổ trong lớp về kiến thức tự bảo vệ và cách xử trí các tình huống cô đặt ra.

Thông qua hoạt động vui chơi: Giáo viên cho trẻ trải nghiệm trong môi trường phong phú, tạo cơ hội để trẻ được tiếp cận sâu, rộng hơn với thế giới hiện thực của người lớn.

Thông qua giờ ăn, ngủ: Chỉ đạo giáo viên kể cho trẻ nghe những câu

chuyện có nội dung giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ.

Thông qua hoạt động nêu gương: Đưa một số nội dung kỹ năng tự bảo vệ

vào tiêu chí nêu gương bé ngoan.

Thông qua hoạt động ngoại khóa, vui chơi tập thể: Hướng dẫn giáo viên giáo dục trẻ ý thức tự bảo vệ bản thân, các hành vi văn minh khi tham gia giao thông. * Biện pháp 4: Tạo môi trường xanh, an toàn, hạnh phúc và tổ chức tốt chuyên đề “Phòng chống tai nạn thương tích” nhằm thực hiện hiệu quả nhiệm vụ giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ.

Môi trường giáo dục trong trường mầm non là thực sự cần thiết và quan trọng. Nó được ví như ngôi nhà thứ hai của trẻ, có vai trò quan trọng trong công

tác tổ chức, hướng dẫn cho trẻ nhằm thỏa mãn nhu cầu vui chơi hoạt động, thông qua đó nhân cách của trẻ được hình thành và phát triển toàn diện.

Xây dựng môi trường xanh, an toàn, hạnh phúc để giáo dục trẻ kỹ

năng tự bảo vệ.

Thực hiện hiệu quả việc xây dựng môi trường giáo dục an toàn cả về thể chất lẫn tinh thần để giáo dục trẻ kỹ năng tự bảo vệ, kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích.

Tạo môi trường vật chất xanh, an toàn cho trẻ hoạt động: Chỉ đạo giáo viên xây dựng môi trường giáo dục bên ngoài an toàn, hạnh phúc bám sát các tiêu chí xây dựng môi trường giáo dục an toàn, phòng chống tai nạn thương tích theo Thông tư số 45/2021-BGDĐT ngày 31/12/2021 về Quy định về xây dựng trường học an toàn, phòng, chống tai nạn thương tích trong cơ cơ sở giáo dục mầm non để trẻ cảm thấy an toàn, thân thiện, hạnh phúc mỗi khi đến trường, đến lớp.

Lên kế hoạch rà soát đồ dùng, đồ chơi, học liệu loại bỏ những đồ chơi, đồ dùng gây mất an toàn với trẻ, tham mưu với đồng chí Hiệu trưởng bổ sung cho các lớp các đồ dùng, đồ chơi, nguyên vật liệu, đầu tư loa phát nhạc tự động trong nhà vệ sinh các lớp xây dựng mô hình “Nhà vệ sinh thân thiện” tạo cảm giác thoải mái và dễ chịu mỗi khi đến lớp.

Tạo môi trường tâm lý an toàn, thân thiện, hợp tác, chia sẻ nhằm phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ: Hướng dẫn giáo viên xây dựng môi trường giáo dục đầy tính mời gọi tạo được tâm lí thoải mái khi trẻ đến trường, là nơi cô và trò đều có cảm giác muốn đến, là nơi tạo cho trẻ cảm thấy được an tâm, tin tưởng thoải mái giống như ở nhà và là nơi trẻ được đắm mình trong môi trường an toàn, tràn ngập sự yêu thương giúp trẻ tự tin thể hiện hết khả năng của mình. Tổ chức tốt chuyên đề “Phòng chống tai nạn thương tích” nhằm thực

hiện hiệu quả nhiệm vụ giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ.

Xây dựng kế hoạch tổ chức các chuyên đề trọng tâm trong năm học, trong đó chú trọng đến thực hiện hiện chuyên đề “Xây dựng môi trường giáo dục xanh, an toàn, hạnh phúc – Phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ”, chuyên đề “Giáo dục kỹ năng an toàn giao thông”, chuyên đề “Giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân” và các chuyên đề khác tại các lớp trong trường để lồng ghép hiệu quả nội dung giáo dục phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ trong nhà trường.

Chủ động chỉ đạo, hướng dẫn giáo viên xây dựng môi trường lớp học, lựa chọn đề tài mới, đi sâu vào đề tài thực hành, trải nghiệm nội dung nhận biết nguy cơ gây tai nạn thương tích, kỹ năng tự bảo vệ bản thân và cách xử lý những tình huống tai nạn thương tích phù hợp với lứa tuổi; Hướng dẫn, gợi ý

giáo viên ứng dụng phương pháp giáo dục STEAM, Montessori đổi mới tổ chức hoạt động giáo dục phòng chống tai nạn thương tích. Sắp xếp thời gian dự giờ chuyên đề để đóng góp ý kiến, rút kinh nghiệm cho giáo viên trước khi tổ chức kiến tập toàn trường đến Ban giam hiệu, tổ chuyên môn và đại diện phụ huynh của nhà trường, của lớp đạt hiệu quả cao nhất.

Bên cạnh đó, với nhiệm vụ trọng tâm của năm học tổ chức kiến tập chuyên đề “Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng phòng cháy chữa cháy, cứu nạn cứu hộ cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên trong các cơ sở giáo dục mầm non” do Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Thanh Trì giao đạt kết quả tốt.

* Biện pháp 5: Tăng cường kiểm tra, đánh giá giáo viên thực hiện công

tác phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ.

Để nâng cao hiệu quả công tác phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ tại các lớp cũng như chất lượng bồi dưỡng đội ngũ giáo viên thì khâu kiểm tra, đánh giá, thăm lớp dự giờ đóng vai trò quan trọng.

Tôi thực hiện kiểm tra, đánh giá việc thực hiện công tác xây dựng môi trường lớp học, lồng ghép các nội dung phòng chống tai nạn thương tích, giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ qua tổ chức tốt các hội thi, chuyên đề trọng tâm trong năm học,… hay thăm lớp dự giờ hàng ngày là một biện pháp rất cần thiết và có hiệu quả trong công tác quản lý.

Tôi luôn xác định rõ mục đích yêu cầu, nội dung, phương pháp, hình

thức của từng đợt kiểm tra

Nội dung kiểm tra, đánh giá: Kiểm tra việc thực hiện xây dựng môi trường giáo dục an toàn phòng chống nguy cơ gây thương tích cho trẻ, lồng ghép nội dung nhận biết nguy cơ gây thương tích cho trẻ cũng như nội dung giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ. Kiểm tra việc thực hiện quy chế trường học an toàn, quy chế chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ tại các lớp. Kiểm tra công tác tuyên truyền về chăm sóc sức khoẻ phòng chống dịch bệnh, giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng tự phục cho trẻ tại các lớp.

Hình thức: Kiểm tra đột xuất và kiểm tra báo trước. Phương pháp: Thông qua phiếu dự giờ và xây dựng mẫu phiếu kiểm tra,

đánh giá giáo viên. Đánh giá qua kỹ năng của trẻ trong các hoạt động.

* Biện pháp 6: Chỉ đạo giáo viên làm tốt công tác tuyên truyền, phối hợp với phụ huynh và cộng đồng để phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ.

Công tác đảm bảo an toàn, phòng, chống tai nạn thương tích cho trẻ ở trường mầm non thôi chưa đủ mà cần phải có sự kết hợp hài hòa từ phía gia đình trẻ và cộng đồng để đạt hiệu quả cao hơn, đồng bộ hơn.

Tuyên truyền với các bậc phụ huynh trong các buổi họp ban đại diện phụ huynh của nhà trường về những nguy cơ không an toàn cho trẻ từ phía các bậc phụ huynh như không đi xe vào khu vực trường, không cho trẻ mang đồ chơi hoặc vật dụng không an toàn đến lớp để phụ huynh nắm bắt và truyền thông đến các các bậc phụ huynh của lớp.

Xây dựng phiếu khảo sát, thăm dò nhận thức của phụ huynh về tầm quan trọng của việc dạy trẻ kỹ năng sống cần thiết, kỹ năng tự bảo vệ bản thân để phụ huynh hiểu không nên làm hộ con, phải dạy trẻ tính tự lập từ bé.

Chỉ đạo các lớp xây dựng góc tuyên truyền “Cha mẹ cùng quan tâm” để tuyên truyền cho phụ huynh về các biện pháp phòng tránh tai nạn thương tích có thể xảy ra với trẻ ở lớp cũng như ở nhà.

Tổ chức công tác tuyên truyền với phụ huynh và nhân dân thực hiện tốt các biện pháp an toàn cho trẻ, để phòng tránh những tai nạn cho trẻ có thể xảy ra tại gia đình, trên đường đến trường hoặc đón trẻ từ trường về nhà. * Kết quả triển khai, áp dụng sáng kiến kinh nghiệm. * C. Kết luận và khuyến nghị. - Về khả năng áp dụng của sáng kiến: Sáng kiến kinh nghiệm này, tôi đã áp dụng thành công tại trường mầm non Tả Thanh Oai B năm học 2022- 2023 và đạt kết quả rất cao. Các biện pháp có tính lan toả đến tập thể cán bộ, giáo viên, nhân viên, phụ huynh trong trường cũng như nhân dân địa phương và các trường mầm non trong huyện. Đề tài này có khả năng áp dụng thành công trong phạm vi toàn ngành.

4. Những thông tin cần được bảo mật (nếu có): Không. 5. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Nhà trường luôn nhận được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo đặc biệt là sự chỉ đạo sát sao về chuyên môn của phòng Giáo dục. Cơ sở vật chất khang trang, có hệ thống nhà bếp, phòng y tế, các phòng chức năng, các khu vui chơi được thiết kế kiên cố, có hệ thống phòng cháy chữa cháy theo đúng quy chuẩn; Có hệ thống camera an ninh.

Lớp học khang trang, sạch đẹp, có hiên chơi, phòng để đồ, diện tích đảm bảo số trẻ/ lớp, có hiên chơi, nhà vệ sinh khép kín sạch sẽ đúng quy định, có đầy đủ trang thiết bị hiện đại, đồ dùng, đồ chơi tối thiểu theo thông tư 01.

Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường có trình độ đạt chuẩn và 91.3% giáo viên đạt trình độ trên chuẩn, tâm huyết, có trách nhiệm cao trong công việc. Ban giám hiệu luôn đoàn kết thống nhất trong quản lý, chỉ đạo hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ. Đội ngũ giáo viên trẻ, nhiệt tình, tâm huyết, yêu nghề, mến trẻ, đổi mới sáng tạo trong công tác chăm sóc nuôi

dưỡng, giáo dục trẻ, luôn nhận thức rõ phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ trong trường mầm non là nhiệm vụ cấp thiết.

Làm tốt công tác tham mưu với Hiệu trưởng, lãnh đạo các cấp bổ sung cơ sở vật chất cho các lớp, tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chuyên môn về phòng tránh và xử lý các tai nạn thương gặp ở trẻ.

Tổ chức các hoạt động truyền thông với phụ huynh và nhân dân trên địa bàn xã nâng cao chất lượng hiệu quả các hoạt động phòng chống dịch bệnh, phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở trường cũng như ở nhà.

Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá hiệu quả việc phòng chống tai nạn thương tích, phòng chống cháy nổ góp phần xây dựng môi trường giáo dục an toàn, nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ đáp ứng yêu cầu đổi mới hiện nay.

6. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng

sáng kiến theo ý kiến của tác giả:

Qua một năm áp dụng các biện pháp “Chỉ đạo giáo viên thực hiện tốt công tác phòng, chống tai nạn thương tích cho trẻ trong trường mầm non” cùng với sự nỗ lực phấn đấu của tập thể cán bộ, giáo viên trong trường, tôi đã thu được một số kết quả tốt, rất khả quan. Các biện pháp có tính lan toả tới các đồng nghiệp, đã được triển khai, áp dụng tại nhà trường đạt hiệu quả cao. Kết quả cụ thể như sau:

* Hiệu quả về mặt kinh tế: Các biện pháp chỉ đạo giáo viên thực hiện tốt công tác phòng, chống tai nạn thương tích cho trẻ trong trường mầm non là giải pháp hiệu quả góp phần xây dựng môi trường giáo dục an toàn cho trẻ tại nhà trường, sẽ làm giảm chi phí bổ sung các trang thiết bị phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ, phòng chống cháy nổ, phòng cháy chữa cháy trong nhà trường. Giảm chi phí dành cho công tác bồi dưỡng nâng cao kiến thức, kỹ năng về phòng tránh tai nạn thương tích cho đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường.

Thực hiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh, kịp thời phòng ngừa, tránh lây lan dịch bệnh, vì vậy tiết kiệm được kinh phí cho công tác xây dựng trường học an toàn, phòng, chống tai nạn thương tích cho trẻ đều đạt, nhà trường được công nhận là “Trường học an toàn, phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ”.

* Hiệu quả về mặt xã hội: Việc đảm bảo an toàn, phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu ở trong các cơ sở giáo dục mầm non góp phần đảm bảo sự an toàn tuyệt đối về thể chất cũng như tinh thần cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi. Các biện pháp đưa ra nhằm hạn chế tối đa những tai nạn, rủi ro đáng tiếc xảy ra với

trẻ cung cấp kiến thức, kỹ năng cần thiết cho trẻ tự phòng tránh, bảo vệ bản thân trước nguy cơ không an toàn. Bên cạnh đó, nâng cao ý thức trách nhiệm, kiến thức, kỹ năng phòng tránh và xử lý tai nạn thương tích xảy ra với trẻ cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên cũng như cha mẹ trẻ trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ ở lớp, ở nhà. Tạo dựng niềm tin, sự an tâm và hài lòng của cha mẹ đối với chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ trong nhà trường nói riêng cũng như sự tin tưởng, yên tâm đối với chất lượng giáo dục phát triển toàn diện trẻ mầm non nói chung. Từ đó, sẽ mang lại niềm vui, hạnh phúc cho mỗi gia đình, nhà trường và toàn xã hội.

Đối với đội ngũ cán bộ, giáo viên: 100% cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường luôn phấn đấu học tập, rèn luyện kỹ năng chuyên môn để ngôi trường trở thành nơi học tập, vui chơi an toàn nhất cho trẻ; nghiêm túc thực hiện kế hoạch xây dựng trường học an toàn, phòng, chống tai nạn thương tích cho trẻ trong năm học đạt kết quả tốt. 100% cán bộ giáo viên đã nắm được các nội dung về phòng chống tai nạn thương tích, nội dung giáo dục trẻ kỹ năng tự bảo vệ, xử lý các tai nạn thương tích thường gặp ở trường, ở lớp.

Đối với học sinh: 100% học sinh trong trường được đảm bảo an toàn cả về thể chất lẫn tinh thần, trong năm học không có trường hợp tai nạn đáng tiếc nào xảy ra với trẻ ở lớp, ở trường. Trẻ mạnh dạn, tích cực chủ động tham gia hoạt động.

90% trở lên trẻ nhận biết được các đồ vật, địa điểm nguy hiểm có thể gây tai nạn thương tích. 88% trẻ nhận biết được hành động nguy hiểm và biết cách tránh xa các vật nguy hiểm.

75% trở lên trẻ nhận biết được số điện thoại khẩn cấp, nói được số điện thoại của bố mẹ. Trẻ bình tĩnh, tự tin biết tìm kiếm gọi sự giúp đỡ của người lớn trong các trường hợp nguy hiểm với bản thân.

Đối với phụ huynh: Nâng cao nhận thức, ý nghĩa của việc phối kết hợp với nhà trường trong công tác đảm bảo an toàn phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ. Từ đó, phụ huynh thường xuyên, chủ động tham gia vào các hoạt động phối hợp với giáo viên, với nhà trường trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục trẻ. Tích cực ủng hộ chậu hoa, cây cảnh, cây ăn quả cũng như một số đồ dùng, nguyên vật liệu, đóng góp ý kiến tích cực cùng với tập thể xây dựng “Trường mầm non xanh, an toàn, hạnh phúc” là nơi nuôi dưỡng tâm hồn, cảm xúc yêu thương tích cực, an toàn cho trẻ để mỗi ngày đến trường là một ngày vui.

Đối với bản thân: Bản thân đúc rút, có thêm nhiều kinh nghiệm trong công tác quản lý chỉ đạo các hoạt động chuyên môn trong nhà trường đặc biệt là công tác chỉ đạo giáo viên thực hiện tốt công tác phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ tại trường cũng như nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ tạo nên thương hiệu riêng “Trường học an toàn - hạnh phúc - Nơi ươm mầm nhân cách trẻ thơ” của nhà trường.

7. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu hoặc áp dụng thử nếu có:

Nhà trường đã thực hiện hiệu quả môi trường giáo dục bám sát chủ đề năm học “Xây dựng trường mầm non xanh – an toàn – hạnh phúc” đảm bảo an toàn phòng chống tai nạn thương tích theo Thông tư 13/2010 và Thông tư 51/2021 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về Quy định xây dựng trường học an toàn, phòng chống, tai nạn thương tích trong các cơ sở giáo dục mầm non với chi phí thấp nhờ sự huy động sức sáng tạo cũng như nguồn lực từ cán bộ, giáo viên, nhân viên trong trường, phụ huynh học sinh cũng như nhân dân trên địa bàn đã đóng góp chậu hoa, cây cảnh, cây ăn quả, đồ dùng, phương tiện, nguyên vật liệu phục vụ xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp, an toàn và hạnh phúc cho trẻ.

100% giáo viên trong trường đã nâng cao nhận thức của mình về vấn đề giáo dục trẻ nhận biết, phòng tránh nguy cơ không an toàn, giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ và đã lập kế hoạch giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân phù hợp với lứa tuổi của trẻ; 95% trở lên giáo viên đưa các nội dung phòng chống tai nạn thương tích, kỹ năng tự bảo vệ bản thân lồng ghép vào dạy trẻ một cách linh hoạt, hiệu quả. 100% giáo viên nắm vững các kiến thức, kỹ năng sơ cứu và xử lý ban đầu với những tai nạn thương tích thường gặp với trẻ.

Đa số trẻ có kiến thức, kỹ năng tự bảo vệ bản thân, phòng tránh các nguy

cơ gây thương tích với bản thân và biết cách xử phù hợp với tình huống.

Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật

và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Thanh Trì, ngày 18 tháng 4 năm 2023 Người nộp đơn Nguyễn Thị Tình

MỤC LỤC

A. ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................... 1 1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................. 1 2. Mục đích nghiên cứu ....................................................................................... 3 3. Đối tượng nghiên cứu ...................................................................................... 3 4. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................. 3 5. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu ..................................................................... 3 B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ ................................................................................ 4 I. CƠ SỞ LÝ LUẬN ........................................................................................... 4 II. CƠ SỞ THỰC TIỄN ...................................................................................... 5 1. Đặc điểm chung ............................................................................................... 5 a. Thuận lợi:......................................................................................................... 5 b. Khó khăn: ........................................................................................................ 7 2. Thực trạng ....................................................................................................... 7 III. BIỆN PHÁP THỰC HIỆN ............................................................................ 9 1. Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch “Trường học an toàn và phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ”. ..................................................................................... 9 2. Biện pháp 2: Tập huấn cho giáo viên kỹ năng phòng tránh, xử lý tai nạn thương tích và phương pháp giáo dục trẻ kỹ năng tự bảo vệ. ............................. 15 3. Biện pháp 3: Chỉ đạo giáo viên lồng ghép giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân, kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích vào chương trình chăm sóc giáo dục trẻ. ......................................................................................................... 22 4. Biện pháp 4: Tạo môi trường xanh, an toàn, hạnh phúc và tổ chức tốt chuyên đề “Phòng chống tai nạn thương tích” nhằm thực hiện hiệu quả nhiệm vụ giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ. .................................................... 28 5. Biện pháp 5: Tăng cường kiểm tra, đánh giá giáo viên thực hiện công tác phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ. ............................................................ 34 6. Biện pháp 6: Chỉ đạo giáo viên làm tốt công tác tuyên truyền, phối hợp với phụ huynh và cộng đồng để phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ. ........ 36 IV. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN ................................................................... 39 1. Hiệu quả về mặt kinh tế: ................................................................................. 39 2. Hiệu quả về mặt xã hội:................................................................................... 40 C. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ .............................................................. 44 I. KẾT LUẬN ...................................................................................................... 44 II. KHUYẾN NGHỊ ............................................................................................ 45 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................

A. ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Lý do chọn đề tài

“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai” Trẻ em là niềm hạnh phúc của gia đình, là tương lai của xã hội. Chính vì vậy, trẻ em luôn là đối tượng được gia đình và toàn xã hội quan tâm, chăm sóc, giáo dục phát triển toàn diện cho trẻ về Đức - Trí - Thể - Mỹ và được bảo vệ về sức khỏe, tính mạng, đó là nhiệm vụ hàng đầu của giáo dục mầm non nước ta. Nhưng hiện nay tai nạn thương tích ở trẻ em đang có xu hướng gia tăng, đó là vấn đề bức xúc không chỉ của nước ta mà còn nhiều quốc gia trên thế giới.

Ở Việt Nam, tai nạn thương tích trẻ em cao hơn so với các nước Đông Nam Á và cao gấp 8 lần các nước phát triển. Thống kê gần đây nhất trong bản báo cáo tổng hợp về phòng chống tai nạn thương tích trẻ em Việt Nam của Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) cho thấy bỏng, ngã, ngộ độc, động vật cắn, tai nạn giao thông, ngạt, đuối nước, điện giật...là những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho trẻ. Theo thống kê của Cục quản lý môi trường (Bộ Y tế) cho thấy, mỗi năm ở Việt Nam có hơn 370.000 trẻ bị tai nạn thương tích, trong đó khoảng 6.600 trẻ em/năm bị tử vong do tai nạn thương tích chiếm tỷ lệ 35.5% trong đó số trẻ tử vong do tai nạn thương tích ở lứa tuổi từ 0-5 tuổi chiếm tỷ lệ đáng báo động cụ thể: Cả nước có 6.432 trẻ em bị xâm hại tình dục; có 106 vụ mua bán, bắt cóc, chiếm đoạt trẻ em, có 3.500 trẻ em bị tử vong do đuối nước, trong đó trẻ từ 0-5 tuổi chiểm tỷ lệ cao 36%.

Bởi lứa tuổi mầm non trẻ vô cùng hiếu động, tò mò, ham hiểu biết và luôn sử dụng mọi giác quan để khám phá thế giới xung quanh. Ở lứa tuổi này trẻ còn quá non nớt để tự bảo vệ mình, trẻ thụ động không biết ứng phó trong những hoàn cảnh nguy cấp, không biết cách bảo vệ bản thân trước các tình huống nguy hiểm xảy ra trong cuộc sống hàng ngày, tìm kiếm sự giúp đỡ... nên các nguy cơ xảy ra tai nạn với trẻ là rất cao, để lại những hậu quả thật thương tâm và đáng tiếc ngày càng nhiều cho mọi gia đình, nhà trường và xã hội.

Trong những năm gần đây, việc đảm bảo an toàn, phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ ở độ tuổi mầm non là nhiệm vụ vô cùng quan trọng đã được các cấp, các ngành, các trường mầm non trên địa huyện Thanh Trì quan tâm, chú trọng, là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của cấp học, của trường mầm non Tả Thanh Oai B, nơi tôi đang công tác. Nội dung phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ đã triển khai tới giáo viên các lớp lồng ghép giáo dục kỹ năng tự bảo vệ, giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng phòng chống tai nạn thương tích, phòng chống xâm hại cho trẻ, xây dựng trường mầm non xanh, an toàn, hạnh phúc với Kế hoạch số 2869/KH-TTYT ngày 30/6/2022 của Trung tâm y tế huyện về kế

2

hoạch truyền thông về phòng chống tai nạn thương tích cho cán bộ, giáo viên khối mầm non công lập trên địa bàn huyện; Kế hoạch số 175/KH-PGD&ĐT ngày 30 tháng 3 năm 2020 về thực hiện chuyên đề “Đẩy mạnh phòng chống bạo hành trẻ trong các cơ sở GDMN” trên địa bàn huyện; Đặc biệt là Thông tư số 13/2010/TT-BGD&ĐT ngày 15/4/2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định xây dựng trường học an toàn, phòng chống tai nạn thương tích trong cơ sở giáo dục mầm non; Thông tư số 45/2021-BGDĐT ngày 31/12/2021 của Bộ Giáo dục và Đào tạo Quy định về xây dựng trường học an toàn, phòng, chống tai nạn thương tích trong cơ sở giáo dục mầm non. Dựa trên cơ sở Luật trẻ em 2016 ngày 5/2/2016 Thủ tướng Chính phủ đã Ban hành Quyết định số 1248/QĐ-TTg ngày 19/7/2021 về phê duyệt chương trình phòng chống tai nạn thương tích trẻ em giao đoạn 2021-2030 nhằm góp phần hạn chế tai nạn thương tích, đảm bảo an toàn tính mạng cho trẻ ở cơ sở giáo dục mầm non.

Tuy nhiên, giáo dục trẻ biết cách phòng tránh tai nạn thương tích và biết tự bảo vệ mình là một việc làm không dễ dàng, bởi tâm lý trẻ dễ nhớ nhưng cũng mau quên. Thực tế hàng ngày trẻ được tham gia nhiều hoạt động nhưng trẻ chỉ biết rằng mình học, ăn hoặc chơi theo ý thích của bản thân trẻ, điều này rất nguy hại bởi trẻ cũng là một thành viên tham gia vào cuộc chiến chống lại tai nạn thương tích. Vì vậy, giáo viên mầm non cần tích hợp một cách hợp lý, linh hoạt vào tất cả các hoạt động vui chơi, học tập... cho trẻ đúng lúc đúng yêu cầu và trang bị những kiến thức cần thiết đơn giản về phòng tránh tai nạn thương tích để trẻ biết tự bảo vệ mình khi cần thiết. Nhưng thực tế, nhiều giáo viên chưa linh hoạt, còn ngại trong việc lồng ghép nội dung dạy kỹ năng tự bảo vệ bản thân, kỹ năng phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ, hình thức tổ chức chưa có tính sáng tạo nên không phát huy được tính tích cực của trẻ.

Vậy làm thế nào để phòng ngừa, giảm thiểu tình trạng tai nạn thương tích cho trẻ em lứa tuổi mầm non? Đó là câu hỏi làm tôi với cương vị là một người quản lý đã trăn trở suy nghĩ rất nhiều và làm như thế nào để thực hiện công tác phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ. Với trách nhiệm, vai trò của phó hiệu trưởng phụ trách công tác chuyên môn trong nhà trường, tôi luôn mong muốn xây dựng môi trường giáo dục an toàn, hạnh phúc để 100% trẻ đến trường không có tai nạn thương tích xảy ra, giúp trẻ có thể an toàn và tự tin hơn trước những mối nguy hiểm luôn rình rập trẻ như hiện nay. Vì vậy, năm học 2022 - 2023 tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Biện pháp chỉ đạo giáo viên thực hiện tốt công tác phòng, chống tai nạn thương tích cho trẻ trong trường mầm non” làm sáng kiến của mình và đã triển khai đạt hiệu quả cao góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ trong nhà trường.

3

2. Mục đích nghiên cứu Xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn để đề xuất những biện pháp chỉ đạo đội ngũ giáo viên thực hiện hiệu quả công tác phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ ở trường, lớp mầm non.

Đánh giá đúng thực trạng việc lồng ghép nội dung giáo dục kỹ năng tự bảo

vệ, kỹ năng sống, kỹ năng phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ trong nhà trường.

Tạo môi trường sống xanh, an toàn, lành mạnh cho trẻ. Chủ động phòng ngừa, giảm thiểu và loại bỏ các yếu tố nguy cơ gây tai nạn thương tích cho trẻ trong gia đình, nhà trường và cộng đồng.

3. Đối tượng nghiên cứu Nội dung, biện pháp chỉ đạo đội ngũ giáo viên thực hiện tốt công tác

phòng, chống tai nạn thương tích cho trẻ trong trường mầm non.

4. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu lý luận, trao đổi trực tiếp qua thực tiễn. Phương pháp khảo sát điều tra thực trạng, hội thảo. Phương pháp quan sát sư phạm, dự giờ. Phương pháp kiểm tra đánh giá chất lượng. 5. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu: Giáo viên và trẻ trường mầm non Tả Thanh Oai B. Thời gian tiến hành nghiên cứu: Từ tháng 9 năm 2022 đến tháng 4 năm 2023. Phạm vi ứng dụng: Với đề tài này có thể áp dụng ở các trường mầm non

trên toàn Thành phố Hà Nội.

4

B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I. CƠ SỞ LÝ LUẬN Tai nạn thương tích đang là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu tại các bệnh viện. Vấn đề đảm bảo an toàn, phòng ngừa tai nạn thương tích cho trẻ luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu trong các trường mầm non. Tuy vậy, vẫn có những trường hợp tai nạn đáng tiếc xảy ra gây thương tích cho trẻ, thậm chí một số trường hợp gây tử vong.

Vì vậy, trong sách Hướng dẫn tổ chức thực hiện Chương trình Giáo dục mầm non mới, vấn đề đảm bảo an toàn, phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ đã được quan tâm hơn và đã được biên soạn trong phần chăm sóc, nuôi dưỡng nhằm thực hiện tốt Chương trình Giáo dục mầm non ban hành theo Thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng bộ GD&ĐT và Thông tư số 28/2016/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2016 và Thông tư 51/2020/TT-BGDĐT ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Bộ trưởng bộ GD&ĐT sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Chương trình Giáo dục mầm non ban hành kèm theo Thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT. Phần này cũng đã đề cập đến các tai nạn thường gặp đối với trẻ, cách phòng tránh và cách cấp cứu xử trí ban đầu. Đặc biệt ngày 15/4/2010, Bộ Giáo dục đã ban hành thông tư số 13/2010/TT- BGD&ĐT về Quy định xây dựng trường học an toàn, phòng chống tai nạn thương tích trong cơ sở giáo dục mầm non và đến ngày 31/12/2021, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 45/2021-BGDĐT Quy định về xây dựng trường học an toàn, phòng, chống tai nạn thương tích trong cơ cơ sở giáo dục mầm non.

Trường học an toàn, phòng, chống tai nạn thương tích là trường học mà các yếu tố nguy cơ gây tai nạn thương tích cho trẻ được phòng, chống và giảm tối đa hoặc loại bỏ. Toàn bộ trẻ em trong trường được chăm sóc, nuôi dạy trong một môi trường an toàn. Quá trình xây dựng trường học an toàn cũng như công tác phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ ở trường mầm non cần phải có sự tham gia của trẻ, sự chung tay, góp sức của đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường và phụ huynh phối hợp với nhau, cùng sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban ngành, đoàn thể của địa phương trong công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ, tạo môi trường an toàn cho trẻ được phát triển toàn diện về mặt nhân cách sau này.

Mặt khác, hàng năm trong Chỉ thị hướng dẫn nhiệm vụ năm học của Bộ Giáo dục và Đào tạo; Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục mầm non của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, của Phòng Giáo dục và Đào tạo Huyện Thanh Trì đã chỉ đạo và hướng dẫn các cơ sở giáo dục mầm non thực hiện công tác quản

5

lý, chăm sóc sức khoẻ và đảm bảo an toàn cho trẻ em, giáo dục kỹ năng tự bảo vệ, kỹ năng sống, kỹ năng phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở trường mầm non coi đây là một nhiệm vụ quan trọng trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ, là tiêu chí quan trọng hàng đầu trong đánh giá chất lượng và xếp loại thi đua của các cá nhân và đơn vị.

Tai nạn thương tích có thể xảy ra ở mọi lúc, mọi nơi, mọi lứa tuổi nhưng tập trung nhiều ở lứa tuổi mầm non. Vì ở độ tuổi này trẻ chưa biết tự bảo vệ mình, cơ thể trẻ còn non yếu, sức đề kháng kém, sở thích của trẻ hay tò mò, hiếu động nên việc phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ trong trường mầm non nếu được giáo dục thường xuyên sẽ tạo được nề nếp, thói quen và kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ. Ngoài ra còn hình thành kỹ năng sống cho trẻ ngay từ khi chập chững bước vào đời.

Tai nạn thương tích có thể xảy ra với trẻ, nhưng chúng ta hoàn toàn có thể phòng tránh được thông qua các biện pháp khác nhau, trong đó có nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích và tạo dựng môi trường học tập, vui chơi an toàn là không thể thiếu. II. CƠ SỞ THỰC TIỄN 1. Đặc điểm chung Trường tôi được thành lập từ năm 2016, đạt chuẩn Quốc gia mức độ II vào tháng 12 năm 2021. Trường có 3 cơ sở với tổng diện tích đất xây dựng 8445.7m2. Cơ sở vật chất khang trang, sạch sẽ, sân chơi thoáng mát, đầy đủ các phòng chức năng, các khu vui chơi được thiết kế, sắp đặt hợp lý, tường rào bao quanh kiên cố.

Năm học 2022-2023, trường có tổng số 20 lớp với 642 học sinh trong đó có 17 lớp mẫu giáo và 03 lớp nhà trẻ (24-36 tháng). Trung bình 32 trẻ/1 lớp học. Tổng số cán bộ, giáo viên, nhân viên là 65 đồng chí, cụ thể: 03 đồng chí cán bộ quản lý, 46 đồng chí giáo viên và 16 đồng chí nhân viên. Trình độ chuyên môn đội ngũ giáo viên: Đại học: 42/46 đồng chí đạt 91.3%, cao đẳng: 01/46 đồng chí đạt 2.2%, trung cấp: 3/46 đồng chí đạt 6.5%.

Từ thực tế trên, khi đi vào thực hiện đề tài sáng kiến kinh nghiệm này tôi

đã gặp một số thuận lợi và khó khăn sau:

a. Thuận lợi: Nhà trường luôn nhận được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo đặc biệt là sự chỉ đạo sát sao về chuyên môn của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện đã tổ chức nhiều buổi tập huấn, kiến tập về các chuyên đề kỹ năng sống, kỹ năng phòng chống tai nạn thương tích, cách xử lý một số tai nạn thường xảy ra với trẻ cho cán bộ, giáo viên trong trường nhằm học hỏi kinh nghiệm.

6

Nhà trường có cơ sở vật chất khang trang, có hệ thống nhà bếp, các phòng chức năng, các khu vui chơi được thiết kế kiên cố, có hệ thống phòng cháy chữa cháy theo đúng quy chuẩn với đầy đủ đồ dùng trang thiết bị, phương án, kế hoạch phòng cháy chữa cháy đã được phê duyệt phù hợp điều kiện của nhà trường; Có hệ thống camera an ninh, an toàn trường học; Sân trường rộng rãi, thoáng mát, sạch sẽ, không trơn trượt, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho trẻ khi tham gia các hoạt động ở trường, ở lớp.

Có 3 phòng y tế riêng biệt tại 3 cơ sở đảm bảo theo chuẩn với những trang

thiết bị đồng bộ, hiện đại và có đầy đủ danh mục thuốc theo qui định.

100% lớp học khang trang, sạch đẹp, có hiên chơi, phòng để đồ, diện tích đảm bảo số trẻ/ lớp, có hiên chơi, nhà vệ sinh khép kín sạch sẽ đúng quy định, có đầy đủ trang thiết bị hiện đại kết nối internet, đồ dùng, đồ chơi tối thiểu theo thông tư 01 phục vụ công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ đáp ứng yêu cầu giáo dục mầm non trong giai đoạn hiện nay.

100% cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường có trình độ đạt chuẩn và 91.3% giáo viên đạt trình độ trên chuẩn. Ban giám hiệu luôn đoàn kết thống nhất trong quản lý, chỉ đạo hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ. Hàng năm đều tổ chức và cử giáo viên, nhân viên tham gia tập huấn về công tác phòng tránh tai nạn thương tích, phòng cháy chữa cháy cho trẻ. Tạo điều kiện cho 100% giáo viên tham gia các buổi tập huấn, kiến tập giáo dục trẻ kỹ năng sống, kỹ năng tự bảo vệ bản thân.

Bản thân là phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn, có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy với nhiều năm đạt danh hiệu giáo viên giỏi cấp huyện, chiến sỹ thi đua cơ sở. Đã tham gia đầy đủ các buổi tập huấn về đổi mới hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục, ứng dụng phương pháp giáo dục STEAM, Montessori, chuyên đề “Phòng chống xâm hại bạo hành trẻ em”, “Phòng chống tai nạn thương tích”, “Phòng cháy, chữa cháy trong các cơ sở giáo dục mầm non do Sở Giáo dục, Phòng Giáo dục tổ chức.

Đội ngũ giáo viên trẻ, nhiệt tình, tâm huyết, yêu nghề, mến trẻ, đổi mới sáng tạo trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ, có tinh thần ham học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn, luôn nhận thức rõ phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ trong trường mầm non là nhiệm vụ cấp thiết.

Nhà trường 3 năm liền được Phòng Giáo dục giao làm điểm chuyên đề cấp huyện về “Phòng chống tại nạn thương tích cho trẻ trong các cơ sở giáo dục mầm non”.

Phụ huynh rất quan tâm và tích cực phối hợp với nhà trường trong mọi mặt

hoạt động để nâng cao nội dung đảm bảo an toàn cho trẻ tại trường.

7

b. Khó khăn: Trường có 3 cơ sở cách xa nhau 2-3 km nên khó khăn trong công tác tập huấn, bồi dưỡng chuyên đề tập trung về chuyên môn, nhất là các hoạt động giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng tự bảo vệ, công tác phòng chống tai nạn thương tích. Trường không có nhân viên y tế chuyên trách cho nên việc quản lý, chỉ đạo giáo viên, nhân viên xây dựng trường học an toàn phòng chống tai nạn thương tích, hướng dẫn kỹ năng sơ cấp cứu ban đầu còn gặp một số khó khăn.

Kỹ năng phòng tránh và xử lý các tai nạn thương tích cho trẻ của giáo viên đôi khi còn lung túng chưa linh hoạt và chưa có kinh nghiệm. Một số giáo viên chưa mạnh dạn ứng dụng phương pháp giáo dục tiên tiến vào tổ chức hoạt động giáo dục trẻ nên một số hoạt động giáo dục kỹ năng tự bảo vệ chưa thú hút được trẻ hứng thú tham gia.

Đặc thù trẻ mầm non còn nhỏ dại, chưa nhận thức được việc phòng tránh tai nạn thương tích nên chưa có kỹ năng tự vệ bản thân khi có tình huống xảy ra. Đa số phụ huynh làm nông nghiệp, bán hàng, làm nghề tự do nên ít có thời gian quan tâm đến con, hay để trẻ chơi tự do, chưa chú ý rèn kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng sống, kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ.

2. Thực trạng Từ thực tế về tình hình cơ sở vật chất, thuận lợi, khó khăn trên, tôi luôn trăn trở làm thế nào để thực hiện tốt công tác phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ thông qua các hoạt động giáo dục trẻ ở trường, ở lớp. Chính vì vậy, tôi đã tiến hành khảo sát kiến thức và cách xử lý của đội ngũ giáo viên về tai nạn thương tích xảy ra với trẻ, giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ (Phụ lục I).

Ngoài ra, tôi tiến hành xây dựng phiếu điều tra phỏng vấn trẻ về nhận biết nguy cơ không an toàn và kỹ năng tự bảo vệ trong tình huống cụ thể kèm theo hình ảnh để trẻ nhận biết dễ hơn. Ứng dụng công nghệ thông tin thiết kế phiếu điều tra, phỏng vấn trẻ trên Powerpoint dưới hình thức trò chơi và chỉ đạo giáo viên các lớp thực hiện khảo sát trẻ ở lớp, báo cáo kết quả về Ban giám hiệu. Phối hợp với phụ huynh xây dựng phiếu thăm dò kỹ năng tự bảo vệ, kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích của trẻ (Phụ lục II).

Kết quả khảo sát kiến thức và cách xử lý của giáo viên về phòng tránh

tai nạn thương tích cho trẻ vào tháng 9/2022

STT Nội dung khảo sát Đạt Tỷ lệ % Chưa đạt Tỷ lệ % Tổng số GV

1 46 25 54.3 21 45.7

Hiểu biết về kiến thức, nắm được nội dung phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ.

8

2 46 24 52.2 22 47.8

3 46 22 47.8 24 52.2

4 46 20 43.5 26 56.5

5 46 23 50 23 50

Nhận biết nguy cơ có thể xảy ra tai nạn thương tích với trẻ ở lớp, ở trường Lồng ghép nội dụng giáo dục kỹ năng tự bảo vệ, phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ. Có kiến thức, kỹ năng sơ cứu, xử lý ban đầu phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ. Công tác phối hợp với phụ huynh làm tốt nhiệm vụ phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ

Tổng hợp kết quả khảo sát về nhận biết các nguy cơ không an toàn và kỹ năng tự bảo vệ của trẻ tháng 9/2022 Đạt Chưa đạt

STT Nội dung tiêu chí khảo sát

Tổng số trẻ Số lượng Số lượng Tỷ lệ % Tỷ lệ %

642 308 48 334 52 1.

642 225 35 417 65 2. Trẻ nhận ra các đồ vật, địa điểm nguy hiểm có thể gây tai nạn thương tích. Nhận biết hành động nguy hiểm và biết tránh xa các mối nguy hiểm

57 43 642 367 275 3.

40 255 642 387 60 4.

432 642 210 33 67 5.

437 642 205 32 68 6.

Nhớ và nói đựơc số điện thoại của bố (mẹ). Biết số điện thoại khẩn cấp để báo công an, xe cứu hỏa, xe cứu thương (113-114-115). Bình tĩnh, biết tìm kiếm sự giúp đỡ của người lớn trong một số trường hợp nguy hiểm với bản thân. Biết cách xử lý tình huống khi trong lớp hoặc ở nhà bất ngờ có một đám cháy xảy ra, khi bị ngã, bị lạc, chảy máu, bị bắt nạt. Qua phân tích bảng số liệu về kiến thức, kỹ năng của giáo viên, của trẻ và

phụ huynh, cho thấy:

9

45% trở lên giáo viên chưa có hiểu biết sâu về kiến thức, nội dung phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ cũng như nhận biết nguy cơ có thể xảy ra tai nạn thương tích với trẻ ở lớp, ở trường nên việc lồng ghép nội dung giáo dục kỹ năng tự bảo vệ, phòng, chống tai nạn thương tích cho trẻ chưa phong phú, chưa linh hoạt, hình thức tổ chức chưa có nhiều sáng tạo, chưa đạt hiệu quả cao.

56% trở lên giáo viên chưa có kiến thức, kỹ năng sơ cứu, nhất là kỹ năng xử lý ban đầu phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ. Vì vậy, còn lúng túng khi xử lý các tai nạn thương tích xảy ra với trẻ ở trường, ở lớp. Chưa đi sâu vào thực hành kỹ năng nên không phát huy được tính tích cực của trẻ trong hoạt động.

Tỷ lệ giáo viên làm tốt công tác phối hợp với phụ huynh phòng tránh tai

nạn thương tích cho trẻ ở lớp, ở nhà chưa cao.

Tỷ lệ trẻ nhận biết được các vật dụng nguy hiểm, các nơi nguy hiểm không nên đến gần và các hành động nguy hiểm trong cuộc sống còn thấp. Tỷ lệ trẻ bình tĩnh, biết tìm kiếm sự giúp đỡ của người lớn trong một số trường hợp nguy hiểm với bản thân còn thấp.

57% trẻ không nhớ và không nói được số điện thoại của bố hoặc mẹ, không

nhận biết được số điện thoại trong trường hợp khẩn cấp.

68% học sinh chưa nắm được đầy đủ các kỹ năng tự bảo vệ trong trường

hợp xảy ra cháy, bị lạc, bị bắt cóc, bị đuối nước, bị ngã chảy máu, bị bắt nạt.

Từ thực tế kết quả khảo sát nhận thức của đội ngũ giáo viên cũng như kỹ năng của trẻ, tôi luôn trăn trở làm thế nào để thực hiện tốt công tác phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ trong trường, nâng cao chất lượng tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ kỹ năng tự bảo vệ tại các lớp. Chính vì vậy, tôi đã nghiên cứu và đưa ra một số biện pháp chỉ đạo đội ngũ giáo viên thực hiện tốt công tác phòng, chống tai nạn thương tích cho trẻ trong trường nhằm nâng cao chất lượng các hoạt động giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng tự bảo vệ, hạn chế những tai nạn thương tích đáng tiếc xảy ra cho trẻ đang học ở trường tạo nên môi trường giáo dục an toàn, hạnh phúc, tạo thương hiệu riêng về chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ.

Xuất phát từ khó khăn, thuận lợi trên, tôi đã trăn trở và suy nghĩ tìm ra các

biện pháp cụ thể như sau:

III. BIỆN PHÁP THỰC HIỆN 1. Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch “Trường học an toàn và phòng

tránh tai nạn thương tích cho trẻ”.

Kế hoạch có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với công tác quản lý, chỉ đạo. Kế hoạch được ví như chìa khóa mở đường đi đến mục đích. Kế hoạch có tầm quan trọng đặc biệt, nó như kim chỉ nam, có tác dụng chỉ đạo, chỉ đường cho

10

việc thực hiện theo một con đường đã định sẵn. Xây dựng kế hoạch là một trong các nhiệm vụ của công tác quản lý chỉ đạo việc đảm bảo an toàn, phòng tránh tai nạn cho trẻ trong cơ sở giáo dục mầm non. Vì vậy, nếu xây dựng được kế hoạch đúng coi như ta đã thành công được một nửa công việc của người quản lý. Do đó, ngay từ đầu năm học tôi kết hợp với 02 đồng chí trong Ban giám hiệu xây dựng kế hoạch phòng chống tai nạn thương tích với mục đích, yêu cầu, nội dung thực hiện cụ thể, rõ ràng phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường.

Nhìn vào tình hình thực tế của nhà trường, tôi đã nhận định được những điểm mạnh và những điều còn hạn chế trong vấn đề phòng, tránh tai nạn thương tích cho trẻ. Do vậy, tôi đã xây dựng kế hoạch chỉ đạo giáo viên thực hiện công tác xây dựng trường học an toàn, phòng, tránh tai nạn thương tích cho trẻ với mục tiêu: Nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ giáo viên, phụ huynh và học sinh, từ đó thay đổi hành vi nếp sống phù hợp để hạn chế những tai nạn thương tích, chú trọng phòng tránh tai nạn giao thông, bạo lực học đường, đuối nước, dị vật đường thở, điện giật, bỏng, ngã trầy da… giảm tối đa tỉ lệ tai nạn thương tích trong và ngoài trường.

1.1. Xây dựng kế hoạch trường học an toàn, phòng chống tai nạn

thương tích:

Trước tiên, tôi nhận thức rõ: Xây dựng trường học an toàn, phòng, chống tai nạn thương tích trong cơ sở giáo dục mầm non là xây dựng môi trường giáo dục nơi trẻ em được bảo đảm an toàn về thể chất và tinh thần. Môi trường giáo dục an toàn là môi trường nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong đó trẻ em được bảo vệ, được đối xử công bằng, nhân ái; không bị bạo hành, xâm hại; môi trường giảm thiểu tối đa hoặc loại bỏ hoàn toàn các yếu tố nguy cơ gây tai nạn thương tích và ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý, sức khỏe tinh thần; trẻ em được dễ dàng tiếp cận với môi trường xung quanh, được tạo điều kiện tốt nhất để phát triển toàn diện phù hợp với lứa tuổi. Vì vậy, tôi đã phối hợp xây dựng kế hoạch “Trường mầm non xanh, an toàn, hạnh phúc” bám sát chủ đề năm học của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Thanh Trì với nhiệm vụ trọng tâm chỉ đạo giáo viên 20 lớp xây dựng môi trường lớp học xanh, sạch, đẹp, đảm bảo an toàn cả về thể chất và tinh thần cho trẻ theo hướng hiện đại để trẻ mỗi ngày đến trường là một ngày vui, ngày hạnh phúc.

Tìm hiểu và nắm rõ được các nguyên nhân có thể gây tai nạn thương tích cho trẻ ở trường mầm non để xây dựng kế hoạch một cách cụ thể với những nội dung, biện pháp phòng tránh, cách xử lý phù hợp với thời gian năm học. Qua tìm hiểu, nghiên cứu tài liệu, trao đổi với đồng nghiệp và lấy ý kiến của giáo viên, phụ huynh học sinh, tôi nhận thấy có rất nhiều nguyên nhân gây tai nạn thương tích cho trẻ ở trường mầm non như:

11

Tai nạn thương tích do giao thông: Tai nạn thương tích cho trẻ xảy ra trên đường phụ huynh đưa con đến trường, đến lớp hoặc tránh nhau ở ngay cổng trường hay trong thời gian phụ huynh cho con ăn sáng nhưng trẻ ngồi trên xe và xe chưa tắt máy.

Ngã: Đây là trường hợp trẻ bị tai nạn thương tích nhiều nhất ở các lớp, ở các nhà trường vì trẻ lứa tuổi mầm non thường rất hiếu động, hay tò mò, khám phá, vội vàng, thích chạy nhảy, leo trèo hoặc nô đùa khi đi vệ sinh, khi tham gia các hoạt động vui chơi ngoài trời, hoạt động trong lớp.

Điện giật: Là những trường hợp tai nạn thương tích do tiếp xúc với điện, những ổ điện trong lớp, ngoài hiên vừa tầm với của trẻ hoặc trẻ kê ghế với lên để nghịch, hay trẻ tham gia các hoạt động trải nghiệm với đồ dùng sử dụng điện cũng là nguy cơ rất lớn gây nguy hiểm về tính mạng cho trẻ.

Hóc, sặc dị vật: Là tai nạn thương tích khi trẻ sử dụng đồ dùng, đồ chơi nhỏ nhét vào mũi, tai, họng hoặc cười đùa, khóc khi ăn, uống, hay xúc ăn miếng to nhồi nhét vào miệng cũng dẫn đến trẻ bị hóc, sặc đồ ăn, đồ uống gây nguy hiểm dẫn đến ngạt đường thở của trẻ.

Bị vật sắc nhọn đâm, bị đồ vật ném vào người: Là tai nạn thương tích khi trẻ nghịch, chơi với những đồ dùng, đồ chơi sắc nhọn, xước, hay đồ dùng, đồ chơi bị vỡ, gãy, hỏng mà giáo viên chưa kịp thời loại bỏ cũng sẽ dẫn đến trẻ dễ bị đứt chân, tay hoặc trong quá trình trẻ chơi với bạn bị bạn ném đồ vật, đồ chơi vào đầu, người dẫn đến bị trày xước, đau, thậm chí chảy máu.

Bỏng: Trường hợp này cũng có thể xẩy ra với trẻ trong thời gian ở trường nếu trẻ tiếp xúc với cây nước nóng lạnh, sử dụng bình nóng lạnh mùa đông hoặc trẻ xuống bếp tiếp xúc với lửa, hay trường bị cháy hay trẻ tiếp xúc với các vật nổ, chất phát nổ như: Ga, xăng, dầu…

Đuối nước: Ở trường thường có bể nước khu vực bếp, các xô, chậu nước giáo viên sử dụng giặt khăn mặt, vệ sinh đồ dùng hay bể nước khu vui chơi cát nước, bể nuôi cá, bể hoa súng nếu không để ý trẻ cũng có thể bị đuối nước.

Ngộ độc: Là những trường hợp do hít vào, ăn vào cơ thể các loại độc tố dẫn

đến tử vong hoặc ngộ độc.

Ngoài ra còn các nguyên nhân khác như bạo lực, đánh nhau, động vật cắn, leo trèo. Sau khi đã tìm hiểu các nguyên nhân có thể gây ra tai nạn thương tích cho trẻ ở trường, ở lớp, tôi tiến hành phối hợp với Ban giám hiệu xây dựng kế hoạch phòng, chống tai nạn thương tích cho trẻ với các nhiệm vụ cụ thể như sau: Xây dựng kế hoạch trường học an toàn phòng chống tai nạn thương tích tại nhà trường. Thành lập Ban chỉ đạo xây dựng trường học an toàn phòng chống tai nạn thương tích trong trường với đầy đủ các thành phần. Kiểm tra rà soát trang

12

thiết bị, cơ số thuốc và đề xuất mua sắm bổ sung trang thiết bị y tế, thuốc theo danh mục y tế quy định cần có ở trường mầm non, loại bỏ những vật tư y tế không còn hạn sử dụng tại 3 phòng y tế để sẵn sàng xử trí kịp thời với những tai nạn thương tích không may xảy ra trong nhà trường.

Trực tiếp kiểm tra, giám sát việc thực hiện công tác phòng chống tai nạn thương tích, xây dựng lớp học xanh, an toàn, hạnh phúc trong từng lớp; Kiểm tra rà soát môi trường bên ngoài, các loại đồ chơi ngoài trời hỏng, long ốc ở các khu vui chơi gây mất an toàn cho trẻ, các trang thiết bị tại các phòng chức năng, các khu vực trong trường báo cáo Hiệu trưởng để có kế hoạch sửa chữa kịp thời; Chỉ đạo giáo viên 20 lớp thường xuyên rà soát, loại bỏ đồ dùng đồ chơi gãy, hỏng,... không đảm bảo an toàn cho trẻ; thực hiện tốt công tác vệ sinh lớp, đồ dùng đồ chơi, giáo dục vệ sinh cá nhân của trẻ, kiểm tra thường xuyên trang thiết bị, hệ thống cửa ra vào, cửa sổ của lớp; tăng cường dự giờ, thăm lớp, kiểm tra giờ ăn, giờ ngủ và các hoạt động của trẻ/lớp.

Xây dựng kế hoạch giáo dục năm học, chỉ đạo giáo viên các lớp rèn nề nếp, thói quen vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi trường. Lồng ghép tích hợp phòng chống chống tai nạn thương tích, giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ vào trong các hoạt động giáo dục phù hợp với chủ đề, sự kiện tháng, tổ chức cho trẻ thực hành kỹ năng tự bảo vệ, kỹ năng xử lý nếu có tai nạn thương tích xảy ra.

Truyền thông giáo dục nâng cao nhận thức về xây dựng trường học an toàn phòng chống tai nạn thương tích, xây dựng “Trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm giai đoạn 2”, “Xây dựng trường mầm non xanh, an toàn, hạnh phúc”, xây dựng “Lớp học xanh, an toàn, hạnh phúc”, mô hình “Nhà vệ sinh thân thiện” thông qua trang website: http://mamnontathanhoaib.edu.vn; Fanpage của nhà trường, zalo, các góc tuyên truyền ở lớp và trường để phụ huynh nắm rõ mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường, lớp trong năm học cũng như kiến thức, kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ ở lớp, ở nhà.

Xây dựng kế hoạch thực hiện chuyên đề “Phòng chống tai nạn thương tích” cấp huyện, chỉ đạo giáo viên các lớp xây dựng môi trường lớp học, môi trường bên ngoài thể hiện rõ nội dung phòng chống tai nạn thương tích, phòng cháy chữa cháy trong trường mầm non.

Phối hợp với trạm y tế xã, vận động cha mẹ học sinh và học sinh tham gia tích cực tháng hành động vì trẻ em, tháng an toàn giao thông, hưởng ứng thực hiện tốt chương trình “Cổng trường văn minh, giao thông an toàn”, Chương trình tôi yêu Việt Nam qua ngày hội giao lưu “Chúng em với an toàn giao thông” tại các lớp, các khối trong nhà trường.

13

Xây dựng lịch trình tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng xử lý phòng chống tai nạn thương tích cho đội ngũ cán bộ, giáo viên của nhà trường, được lồng ghép qua buổi kiến tập cấp trường, bồi dưỡng qua sinh hoạt chuyên môn.

Huy động cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường tham gia các hoạt động can thiệp giảm thiểu nguy cơ tai nạn thương tích trong trường học, các cuộc thi trực tuyến về tìm hiểu các vật gây nổ, hậu quả của bom mìn do chiến tranh để lại ở Việt Nam, Tìm hiểu an toàn giao thông,.. để nâng cao kiến thức, ý thức phòng chống tai nạn thương tích.

Rà soát các cây xanh, cây ăn quả cắt tỉa, chặt bớt cành cây xanh, cành khô trong sân trường trước mùa mưa bão để đảm bảo an toàn cho trẻ và giáo viên, nhân viên.

Khắc phục các nguy cơ thương tích trong trường, tập trung ưu tiên các loại thương tích thường gặp do ngã hóc sặc, ngộ độc thức ăn, vật sắc nhọn đâm cắt, xô đẩy nhau, đánh nhau, ngã bị trầy xước, chảy máu,…

Xây dựng quy định về phát hiện và xử lý tai nạn thương tích ở trường học, có phương án khắc phục các yếu tố nguy cơ gây tai nạn như 100% cán bộ, giáo viên, nhân viên và phụ huynh không cho xe đi vào sân trường, đón trả trẻ đúng giờ, quy định khu vực để xe, cử bảo vệ trực hướng dẫn phụ huynh để xe trước cổng trường gọn gàng, đảm bảo an toàn trước giờ đón, trả trẻ hàng ngày.

Thiết lập hệ thống ghi chép theo dõi, giám sát và báo cáo xây dựng trường học an toàn phòng chống tai nạn thương tích, báo cáo kết quả xây dựng trường mầm non xanh, an toàn hạnh phúc và kết quả thực hiện chuyên đề phòng chống tai nạn thương tích cấp huyện.

Tự đánh giá các nội dung của bảng kiểm trường học an toàn, phòng chống tai nạn thương tích của nhà trường cuối năm học để đánh giá kết quả thực hiện tại các lớp trong nhà trường.

1.2. Thực hiện kế hoạch xây dựng trường học an toàn, phòng chống tai

nạn thương tích cho trẻ:

Sau khi đã xây dựng được kế hoạch chỉ đạo xây dựng trường học an toàn, phòng chống tai nạn thương tích năm học thì tổ chức thực hiện là khâu vô cùng quan trọng. Tôi đã tiến hành triển khai thực hiện kế hoạch xây dựng trường học an toàn, phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ như sau:

Triển khai thực hiện quy chế và kế hoạch cả năm học, hàng tháng có kế hoạch cụ thể với các nội dung phù hợp với từng thời điểm. Tổ chức học tập quy chế và kế hoạch tại buổi học tập nhiệm vụ đầu năm học.

Phát tài liệu quy chế trường học an toàn và kế hoạch xây dựng trường học an toàn, phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ năm học 2022-2023 tới

14

100% cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường, chú trọng đến triển khai chỉ đạo giáo viên xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lồng ghép nội dung giáo dục phòng chống tai nạn thương tích vào kế hoạch giáo dục năm học, tháng, tuần, ngày.

Phối hợp với Ban giám hiệu phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng bộ phận

phù hợp với vai trò, vị trí, chức năng nhiệm vụ được giao như:

Với Ban giám hiệu sẽ xây dựng, triển khai, kiểm tra, giám sát việc thực hiện kế hoạch xây dựng trường học an toàn, phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ. Phát động phong trào tháng hành động vì trẻ em. Tổng hợp kết quả thực hiện kế hoạch, Tự đánh giá 50 nội dung theo bảng kiểm trường học an toàn theo thông tư 45/2021/TT-BGD&ĐT ngày 31/12/2021 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Qui định về xây dựng trường học an toàn, phòng, chống tai nạn thương tích trong cơ sở giáo dục mầm non. Báo cáo kết quả về Phòng Giáo dục và Đào tạo. Xây dựng kế hoạch và tổ chức chỉ đạo giáo viên, nhân viên thực hiện tốt lên chuyên đề “Xây dựng trường học an toàn và phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ trong cơ sở giáo dục mầm non” cấp huyện.

Đối với giáo viên các lớp: Xây dựng môi trường lớp học xanh, an toàn, hạnh phúc, xây dựng lịch vệ sinh hàng ngày, hàng tuần. Duy trì tốt, thường xuyên lịch vệ sinh tại lớp, giữ lớp, nhà vệ sinh luôn sạch sẽ phòng chống ngộ độc, dịch bệnh trong nhà trường. Hướng dẫn trẻ một số kỹ năng tự bảo vệ sức khỏe, phòng tránh tai nạn thương tích. Thường xuyên rà soát và loại bỏ toàn bộ đồ dùng, đồ chơi trong lớp có nguy cơ gây thương tích, mất an toàn cho trẻ như đồ chơi xâu hạt, nắp nút nhỏ, hạt vòng. Các ổ cắm điện trong lớp đều phải dán ký hiệu nguy hiểm để trẻ biết đó là nơi nguy hiểm không được chạm vào. Thực hiện giáo dục trẻ các kiến thức về bảo vệ sức khỏe, bảo vệ môi trường, rèn trẻ các kỹ năng vệ sinh cá nhân, cách sử dụng các đồ dùng đồ chơi, tăng cường lồng ghép giáo dục trẻ các kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ qua hoạt động hàng ngày.

Với nhân viên nhà bếp: Xây dựng lịch vệ sinh hàng ngày, hàng tuần. Duy trì tốt, thường xuyên lịch vệ sinh tại bếp, giữ khu vực bếp luôn gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ. Thường xuyên rà soát và loại bỏ toàn bộ đồ dùng, phục vụ trẻ trong giờ ăn. Sắp xếp các đồ dùng, thiết bị nuôi dưỡng gọn gàng theo quy trình bếp một chiều. Khóa nắp các bể nước sạch hàng ngày. Đảm bảo quy trình bếp một chiều, vệ sinh an toàn thực phẩm.

Với Ban giám hiệu phụ trách công tác y tế: Tham gia đầy đủ các khóa tập huấn kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích. Thường xuyên kiểm tra các lớp, bếp, sân chơi để phát hiện các đồ dùng, đồ chơi, lan can, cầu thang... thiết bị

15

hỏng có nguy cơ gây mất an toàn cho trẻ. Đề xuất với đồng chí hiệu trưởng loại bỏ, sửa chữa và thay thế. Thường xuyên kiểm tra hạn sử dụng các loại thuốc ở các phòng y tế, loại bỏ các loại thuốc hết hạn sử dụng, đề xuất bổ sung, thay thế. Sưu tầm, cập nhật kịp thời các bài viết, tranh tuyên truyền về các dịch, bệnh xảy ra trên địa bàn trong từng thời điểm để tuyền ở bảng tin của nhà trường.

Với nhân viên bảo vệ: Bảo vệ toàn bộ cơ sở vật chất của nhà trường và đảm bảo an ninh trật tự trong nhà trường. Thường xuyên kiểm tra các ổ khóa, cánh cửa các lớp, các vòi nước, ổ điện, khóa bể nước quanh khu vực của trường. Thực hiện tốt việc vệ sinh môi trường khu vực sân trường, hành lang và chăm sóc cây. Trong giờ hoạt động học tập, vui chơi của trẻ phải đóng cổng trường, không cho trẻ chạy ra đường chơi.

(Hình ảnh: Trẻ vui chơi an toàn tại lớp, các khu vui chơi ở trường)

Kết quả: Căn cứ vào tình hình thực tế của nhà trường, tôi đã xây dựng được kế hoạch “Xây dựng trường học an toàn, phòng chống nạn thương tích cho trẻ” phù hợp với điều kiện thực tiễn và nhiệm vụ trọng tâm trong năm học 2022-2023 (Phụ lục III ). 100% các lớp đã xây dựng được môi trường lớp học xanh, sạch, đẹp, an toàn, hạnh phúc; 100% nhà vệ sinh các lớp được đánh giá “Nhà vệ sinh thân thiện”; 100% các lớp đã sắp xếp các góc lớp, đồ dùng, đồ chơi hợp lý, an toàn cho trẻ hoạt động. 100% ổ điện các lớp, các phòng chức năng được dán ký hiệu báo hiệu nguy hiểm; 100% đồ chơi ngoài trời sạch sẽ đảm bảo an toàn cho trẻ. 100% trẻ được đảm bảo an toàn tuyệt đối về thể chất và tinh thần, không xảy ra tai nạn thương tích, không xảy ra ngộ độc thực phẩm, dịch bệnh xảy ra trong nhà trường. Đặc biệt, kế hoạch “Xây dựng trường học an toàn, phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ trong trường mầm non” của trường đã được Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện cũng như các trường mầm non trên địa huyện đánh giá cao thông qua thực hiện chuyên đề “Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn cứu hộ cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên các trường mầm non” cấp huyện vào tháng 11/2022. Nhà trường đón đoàn giám sát hoạt động công tác Y tế - Vệ sinh học đường, vệ sinh an toàn thực phẩm của huyện và xã về kiểm tra đánh giá xếp loại tốt.

(Hình ảnh: Môi trường nhà trường đón đoàn về dự kiến tập chuyên đề cấp huyện) (Hình ảnh: Nhà trường đón đoàn kiểm tra y tế học đường, vệ sinh ATTP) 2. Biện pháp 2: Tập huấn cho giáo viên kỹ năng phòng tránh, xử lý tai

nạn thương tích và phương pháp giáo dục trẻ kỹ năng tự bảo vệ.

Giáo viên là người trực tiếp chăm sóc và giáo dục trẻ giúp trẻ có những kiến thức và các kỹ năng cơ bản nhất về cách tự bảo vệ, kỹ năng phòng

16

tránh tai nạn thương tích cho bản thân. Muốn giáo dục trẻ đạt hiệu quả cao đòi hỏi người giáo viên phải nắm chắc kiến thức về những nội dung cũng như những kỹ năng tự bảo vệ bản thân, kỹ năng xử lý các trường tai nạn thương tích xảy ra để dạy trẻ. Chính vì vậy, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, tập huấn kỹ năng phòng tránh và xử lý tai nạn thương tích xảy ra với trẻ cũng như nội dung, phương pháp giáo dục trẻ kỹ năng tự bảo vệ, phòng tránh tai nạn thương tích cho giáo viên là biện pháp quan trọng nhất. Qua đó giúp giáo viên nhận thức đầy đủ tầm quan trọng, nhu cầu cấp thiết phải giáo dục trẻ kỹ năng tự bảo vệ, kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích xảy ra với trẻ đồng thời nắm được các kỹ năng xử lý các tai nạn thương tích thường gặp với trẻ và lựa chọn các biện pháp giáo dục trẻ kỹ năng tự bảo vệ, phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ ở trường, ở lớp đạt hiệu quả cao nhất.

Với cương vị là Phó hiệu trưởng, phó ban chỉ đạo chăm sóc sức khoẻ, phòng, chống tai nạn thương tích của nhà trường. Ngay đầu năm học, tôi đã xây dựng kế hoạch bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cơ bản về phòng chống và xử lý các tình huống khi tai nạn xảy ra cho đội ngũ giáo viên trong trường, trong đó chú trọng nội dung bồi dưỡng kiến thức và phương pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ như: Hiểu về môi trường an toàn đối với trẻ mầm non; Xây dựng trường mầm non an toàn phòng, chống tai nạn thương tích; Môi trường lớp học xanh, an toàn, hạnh phúc; Phòng tránh các tai nạn thương tích thường gặp như phòng tránh các dị vật ở tai mũi họng, tai nạn do ngộ độc, phòng chống đuối nước cho trẻ; Phòng chống cháy, nổ, bỏng, điện giật; tai nạn giao thông dưới nhiều hình thức phong phú thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn, tập huấn bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng phòng chống tai nạn thương tích, cử đội ngũ giáo viên tham gia các lớp bồi dưỡng, tập huấn về xây dựng môi trường giáo dục an toàn, hạnh phúc; tập huấn về phòng cháy, chữa cháy, cách xử lý tai nạn thương tích thường xảy ra với trẻ khi đến trường, đến lớp.

Xây dựng kế hoạch chỉ đạo chuyên môn trong đó chú trọng đến hình thức bồi dưỡng tại trường sẽ góp phần xây dựng tinh thần cộng tác, làm việc theo tổ, nhóm chuyên môn, xây dựng các lớp thực hiện chuyên đề xây dựng môi trường lớp học xanh, an toàn, hạnh phúc, chuyên đề về phòng chống tai nạn thương tích, giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ trong tình huống cụ thể trẻ thường gặp như cách xử lý khi bị đánh, cách xử lý khi gặp đám cháy, khi bị lạc, khi bị xâm hại, cách xử lý khi bị ngã, trầy xước, khi bị bỏng, an toàn với đồ dùng điện.

2.1. Bồi dưỡng qua tập huấn: Bản thân là phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn thì việc bồi dưỡng đội ngũ giáo viên trong nhà trường là việc làm thường xuyên, liên tục theo kế hoạch

17

hàng tháng, hàng tuần. Vì vậy, tôi đã xây dựng kế hoạch bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cơ bản để nâng cao nhận thức cho giáo viên về phòng tránh tai nạn thương tích, giáo dục kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ ngay từ đầu năm học.

Sau khi xây dựng kế hoạch, tôi báo cáo và xin ý kiến phê duyệt của đồng chí Hiệu trưởng về bản kế hoạch đó. Bản kế hoạch đó của tôi được đồng chí đánh giá cao và phân công tôi triển khai tập huấn cho giáo viên.

Tôi đã tổ chức cho 100% giáo viên trong trường được tập huấn học tập, bồi dưỡng về khái niệm, nguyên nhân, mục đích, nội dung kiến thức cơ bản về tai nạn thương tích xảy ra với trẻ ở trường, ở lớp cũng như ở nhà và kỹ năng dạy trẻ cách phòng chống và ứng phó, xử lý các tình huống nguy hiểm xảy ra nhằm bảo vệ bản thân.

Cụ thể tôi đã xây dựng chương trình tập huấn như sau: Mục đích: Giúp giáo viên hiểu được những vấn đề chung về phòng chống tai nạn thương tích, nội dung giáo dục kỹ năng tự bảo vệ, tự phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ. Giáo viên có những kỹ năng xử lý các tình huống, kỹ năng tự bảo vệ bản thân để giáo dục cho trẻ. Giáo viên tích cực tìm hiểu và thực hành giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ, kỹ năng xử lý các tai nạn thương tích xảy ra với trẻ trong những tình huống cụ thể ở lớp.

Nội dung tập huấn: Giới thiệu các khái niệm về tai nạn thương tích đối với

trẻ mầm non, kỹ năng phòng tránh và kỹ năng tự bảo vệ.

Thực trạng hiện nay những vụ việc xảy ra gây hậu quả đáng tiếc cho trẻ, nguyên nhân. Tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân, kỹ năng phòng tránh tai nạn có thể xảy ra cho trẻ trong trường mầm non.

Hình thức, phương pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ. Cách nhận định được những nguy cơ có thể gây nguy hiểm xung quanh trẻ. Cách dạy trẻ xử trí và ứng phó với từng nguy cơ nguy hiểm, gây mất an toàn cho bản thân. Kỹ năng cần thiết để giáo dục trẻ tự đối phó, bảo vệ mình khi có nguy hiểm,

cách phòng tránh tai nạn thương tích xảy ra với trẻ thông qua các hoạt động.

Trước khi tập huấn, tôi đã gửi tài liệu phát đến tay từng giáo viên qua zalo của tổ chuyên môn để giáo viên nghiên cứu trước và cùng nhau trao đổi tọa đàm khi thực hiện tập huấn. Sau buổi tập huấn, tôi tổ chức cho giáo viên tọa đàm, nêu ý kiến phát biểu và giải đáp những thắc mắc cần hỏi. Bên cạnh đó, tôi còn xây dựng bài test trắc nghiệm nhằm kiểm tra kiến thức của giáo viên sau các buổi tập huấn. Việc đánh giá kết quả sẽ thực hiện vào buổi họp toàn trường hoặc buổi tập huấn, sinh hoạt chuyên môn tiếp theo.

Đồng thời tôi đã tham mưu với Hiệu trưởng để mời 01 đồng chí chuyên gia chăm sóc sức khỏe và hướng dẫn một số kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ, kỹ

18

năng xử lý các tình huống trẻ bị tai nạn thương tích về chia sẻ kinh nghiệm với các đồng chí giáo viên trong trường để giáo viên, nhân viên có kiến thức, kỹ năng phòng chống tai nạn thương tích được sâu và hiệu quả hơn. (Hình ảnh: Tập huấn chuyên đề: Phòng chống tai nạn thương tích cho giáo viên) Đặc biệt trước vấn nạn xâm hại thân thể các cháu mầm non đang diễn ra hiện nay, tôi đã tập huấn chuyên đề dạy trẻ mầm non tránh bị xâm hại tình dục cho 100% giáo viên trong trường được tham gia tập huấn.

(Hình ảnh: Tập huấn chuyên đề: Giáo dục kỹ năng phòng tránh bị xâm hại trẻ)

Bên cạnh đó, tôi đã tập trung đi sâu tập huấn cho giáo viên những kỹ năng tự bảo vệ bản thân thông qua các quy tắc như “Quy tắc đồ lót”, “Quy tắc 4 vòng tròn”, “Quy tắc năm ngón tay – Quy tắc bàn tay 5 vệ sĩ an toàn”,... Đồng thời để giáo viên nắm chắc các kỹ năng tự vệ để giáo dục trẻ, tôi đã dựng lại một số tình huống và tự mình thực hiện. Giáo viên cùng quan sát và đưa ra các cách giải quyết.

Để thực hiện tốt công tác phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở trường mầm non, tôi đã tổ chức tập huấn về kiến thức, nghiệp vụ xây dựng môi trường lớp học xanh, an toàn, hạnh phúc theo hướng hiện đại cho trẻ sinh hoạt và học tập ở trường mầm non nhằm giảm thiểu những rủi ro, nguy cơ gây tai nạn thương tích cho trẻ. Đó là môi trường giáo dục mà trẻ luôn thấy an toàn, được bảo vệ, không bị tổn hại về thể chất và tinh thần giúp trẻ đạt được các mục tiêu giáo dục. Vậy, để xây dựng môi trường giáo dục an toàn, hạnh phúc giáo viên cần hiểu rõ, nắm vững các tiêu chí xây dựng môi trường giáo dục an toàn, phòng chống tai nạn thương tích bám sát Thông tư số 45/2021-BGDĐT ngày 31/12/2021 về Quy định về xây dựng trường học an toàn, phòng, chống tai nạn thương tích trong cơ cơ sở giáo dục mầm non để trẻ cảm thấy an toàn, thân thiện, hạnh phúc mỗi khi đến trường, đến lớp.

Chính vì vậy, sau khi được tham gia lớp tập huấn chuyên đề “Xây dựng môi trường theo phương pháp giáo dục tiên tiến hiện nay” của cô giáo Nguyễn Thu Trang - Trường mầm non chất lượng cao 20/10 do Phòng Giáo dục tổ chức. Tại buổi tập huấn tôi đã lĩnh hội được rất nhiều kiến thức về lý thuyết nguyên tắc xây dựng môi trường theo phương pháp giáo dục tiên tiến như STEAM, Montessori; Reggio Emilia; STENDER và tham gia thực hành xây dựng môi trường ngay ở một lớp mẫu giáo và lớp nhà trẻ cùng với cán bộ quản lý, giáo viên các trường mầm non trên địa bàn huyện tại trường mầm non Huỳnh Cung xã Tam Hiệp để đúc rút kinh nghiệm thực tiễn cho bản thân. Tôi đã đề xuất với đồng chí Hiệu trưởng mời cô giáo Nguyễn Thu Trang về tập huấn và hướng dẫn xây dựng môi trường giáo dục theo hướng hiện đại. Trong buổi tập huấn lý

19

thuyết cũng như thực hành, tôi đã mạnh dạn trao đổi, đưa ra ý kiến về những khó khăn, vướng mắc của giáo viên, thực tế nhà trường khi xây dựng môi trường giáo dục an toàn, phòng chống tai nạn thương tích ở các lớp nhưng vẫn phải tạo dấu ấn riêng của nhà trường với môi trường giáo dục theo hướng hiện đại, tiếp cận với phương pháp giáo dục STEAM hiện nay để tạo hứng thú cho trẻ đến trường. Chú trọng bồi dưỡng tình yêu thương của cô giáo tạo cảm giác an toàn cho trẻ mỗi khi đến lớp. Đó là nhiệm vụ quan trọng để xây dựng môi trường tâm lý, môi trường xã hội an toàn đặc biệt được nhấn mạnh ở đây là mối quan hệ và tương tác giáo viên với trẻ, giữa trẻ với trẻ và giữa trẻ với những người xung quanh. (Hình ảnh: Tập huấn xây dựng môi trường giáo dục xanh, an toàn, hạnh phúc)

2.2. Bồi dưỡng qua tài liệu: Để thực hiện được biện pháp này, tôi đã tham mưu với đồng chí Hiệu trưởng mua những cuốn tài liệu có liên quan đến xây dựng môi trường an toàn, phòng chống, xử trí các tai nạn thương tích thường gặp ở trẻ, phô tô các văn bản chỉ đạo của ngành, cung cấp các tài liệu có nội dung giáo dục trẻ kỹ năng tự bảo vệ, kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích hay tài liệu về cách xử trí những tai nạn thương tích thường xảy ra với trẻ ở lớp, ở trường mầm non, tài liệu bồi dưỡng hướng dẫn nâng cao nâng lực chuyên môn về xây dựng môi trường trường học an toàn, phòng chống tai nạn thương tích và phòng chống một số dịch bệnh thường gặp trong cơ sở giáo dục mầm non để giáo viên tham khảo học hỏi trau dồi kiến thức, kỹ năng tổ chức hoạt động dạy trẻ kỹ năng tự bảo vệ bản thân, kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích cũng như cách xử lý tai nạn thương tích thường gặp ở trẻ như: Giúp bé có kỹ năng biết và phòng tránh một số nguy cơ không an toàn (Nhà xuất bản dân trí); Cẩm nang tự vệ an toàn (Nhà xuất bản thanh niên); Bộ sách an toàn cho con yêu, NXB Giáo dục, năm 2020; Sách giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi, NXB Giáo dục, 2008 - 2009; Các tài liệu khác có liên quan đến giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ, các bài báo, tạp chí,...Tài liệu hướng dẫn xây dựng môi trường trường học an toàn, phòng chống tai nạn thương tích và phòng chống một số dịch bệnh thường gặp trong cơ sở giáo dục mầm non, NXB Giáo dục Việt Nam, năm 2022; Sách hướng dẫn xây dựng cộng đồng an toàn về chương trình phòng chống tai nạn thương tích thành phố Hà Nội, NXB Y học, năm 2012; Tài liệu huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy, công an huyện Thanh Trì, năm 2022.

Ngoài ra, tôi còn phát đĩa CD, gửi các video dạy trẻ các kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho giáo viên và hướng dẫn giáo viên tra cứu tài liệu, thông tin trên internet để giáo viên nghiên cứu tìm hiểu về cách xử lý những tai nạn thương tích thường gặp với trẻ mầm non ở trường, ở lớp.

20

2.3. Bồi dưỡng qua thực hành, kiến tập chuyên đề cấp trường, cấp huyện: Thực hành các kỹ năng về cách xử trí tai nạn thương tích cho trẻ cũng như thực hành kỹ năng giáo dục trẻ tự bảo vệ bản thân là một trong những biện pháp hiệu quả, giúp giáo viên tiếp cận kiến thức, kỹ năng nhanh chóng, sâu sát hơn. Vì vậy, thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn, tôi hướng dẫn giáo viên cách đổi mới hình thức hoạt động giáo dục ứng dụng phương pháp giáo dục STEAM, Montessori lồng ghép nội dung giáo dục kỹ năng tự bảo vệ, kiến thức về nguy cơ gây tai nạn thương tích, quy trình, kỹ năng xử lý các thương tích thường gặp gây hứng thú giúp trẻ tích cực tham gia hoạt động và chỉ đạo giáo viên tăng cường tổ chức cho trẻ được thực hành trải nghiệm. Hướng dẫn giáo viên các bài tập Montessori trong cách sử dụng các đồ dùng an toàn như sử dụng kéo an toàn, cách bấm móng tay, cách bê ghê, cất ghế, cách đi cầu tháng, cách mở và đóng cửa, cách cầm dao, kéo, cách cầm cốc.

Tổ chức các buổi tọa đàm giữa giáo viên với giáo viên về các nội dung giáo dục trẻ kỹ năng tự bảo vệ, kỹ năng phòng chống tai nạn thương tích. Tổ chức cho giáo viên thực hành kỹ năng xử lý các tai nạn thương tích xảy ra, tập thực hành cách xử lý các tình huống dạy trẻ.

(Hình ảnh: Giáo viên thực hành kỹ năng xử lý vết thương cho trẻ)

Xây dựng và phát huy tác dụng của lớp điểm về xây dựng môi trường giáo dục an toàn, phòng chống tai tai nạn thương tích là phương thức bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mang lại kết quả cao. Bởi, lớp điểm là nơi đi đầu trong việc thực hiện những nội dung, đổi mới hình thức ứng dụng phương pháp giáo dục tiên tiến để rút kinh nghiệm trước khi thực hiện đại trà. Chính vì vậy, khi lựa chọn giáo viên dạy lớp điểm tôi phải cân nhắc dựa trên khả năng, chuyên môn nghiệp vụ, sự đổi mới sáng tạo trong xây dựng môi trường, tổ chức hoạt động cùng sự tiếp thu nhanh ý kiến đóng góp của Ban giám hiệu, tổ chuyên môn để vận dụng linh hoạt các tình huống vào dạy trẻ. Dựa vào nhiệm vụ năm học của nhà trường, năng lực của giáo viên, tôi đã xây dựng lịch trình chuyên môn, lớp điểm thực hiện chuyên đề “Xây dựng môi trường lớp học xanh, an toàn, hạnh phúc – Phòng chống tai nạn thương tích” tại lớp mẫu giáo lớn A1, mẫu giáo nhỡ B3, mẫu giáo bé C1, nhà trẻ D1; Chuyên đề giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng tự bảo vệ tại lớp mẫu giáo lớn A5, A6, lớp mẫu giáo nhỡ B6 và các chuyên đề khác trong năm học để lồng ghép nội dung giáo dục phòng chống tai nạn thương tích được đồng chí Hiệu trưởng đánh giá cao. Sau đó, tôi tổ chức kiến tập chuyên đề tại trường, tạo điều kiện cho 100% giáo viên và đại diện phụ huynh trong trường tham gia kiến tập. Qua các chuyên đề sẽ nâng cao hiệu quả bồi dưỡng về nội dung, phương pháp giáo dục phòng chống tai nạn thương tích và kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ tại lớp điểm.

21

Đồng thời, để thực hiện tốt nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường, tổ chức lên chuyên đề “Phòng chống tai nạn thương tích” cấp huyện với nội dung “Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng phòng cháy chữa cháy, cứu nạn cứu hộ trong trường mầm non, tôi kết hợp với Ban giám hiệu cử giáo viên, nhân viên tham gia kiến tập chuyên đề “Kỹ năng phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ” tại trường mầm non Tương Mai, quận Hoàng Mai do Phòng Giáo dục cử đi. Từ đó nâng cao kiến thức, kỹ năng cho đội ngũ giáo viên, nhân viên nhà trường nhằm thực hiện nhiệm vụ đón đoàn kiến tập chuyên đề “Phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở trường mầm non” theo kế hoạch của Phòng Giáo dục đạt kết quả tốt. (Hình ảnh: Giáo viên tham gia tập huấn tại trường mầm non Tương Mai)

Bên cạnh đó, tôi tổ chức bồi dưỡng kiến thức nội dung phòng tránh tai nạn thương tích và cách xử lý khi có tai nạn thương tích xảy ra thông qua các buổi tuyên truyền giáo dục cho học sinh, giáo viên, nhân viên của trường qua ngày hội ngày lễ trong năm học như ngày hội “Bé với an toàn giao thông”, tập huấn kỹ năng phòng cháy chữa cháy. Nhà trường phối hợp với trung tâm y tế về tập huấn cho các cô giáo với nội dung: Cách phòng và xử lý ban đầu một số tai nạn thương tích thường gặp của trẻ trong trường mầm non.

(Hình ảnh: Giáo viên, học sinh tập huấn phòng cách phòng cháy chữa cháy) (Hình ảnh: Giáo viên, học sinh, phụ huynh tham dự ngày hội “Bé với ATGT”)

Kết quả: Từ những buổi tập huấn, bồi dưỡng rất bổ ích, thiết thực và những tài liệu nhà trường cung cấp cũng như tham dự các buổi kiến tập bồi dưỡng chuyên môn do nhà trường, phòng Giáo dục tổ chức, bản thân tôi cùng đội ngũ giáo viên nhà trường đã tự trau dồi tiếp thu nâng cao kiến thức, kỹ năng về phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ ở trường mầm non như: 100% giáo viên trong nhà trường đã có kỹ năng phòng, chống các tai nạn thương tích và giáo viên bình tĩnh, biết cách xử lý kịp thời các tai nạn thương tích xảy ra với trẻ. Nhà trường đã tổ chức tập huấn công tác phòng cháy chữa cháy cho 100% cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh nhà trường đầu năm học. Tổ chức tốt các chuyên đề xây dựng môi trường giáo dục an toàn, phòng chống tai nạn thương tích, giáo dục kỹ năng tự bảo vệ theo đúng kế hoạch. Đặc biệt, nhà trường đã tổ chức thành công chuyên đề “Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng phòng cháy chữa cháy cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên” trên địa bàn huyện được Phòng Giáo dục và các trường đánh giá cao và chuyên đề đã được đăng tải trên cổng thông tin điện tử của Phòng Giáo dục. Điều này khẳng định hiệu quả của công tác bồi dưỡng kiến thức chuyên môn của nhà trường.

22

3. Biện pháp 3: Chỉ đạo giáo viên lồng ghép giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân, kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích vào chương trình chăm sóc giáo dục trẻ.

Việc giáo dục kỹ năng tự bảo vệ, kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ theo hướng tích hợp với các hoạt động học, hoạt động vui chơi, các tình huống giả định trong các hoạt động khác không những phù hợp với tâm lý trẻ mà còn tạo được nhiều cơ hội để giáo viên giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ, góp phần nâng cao hiệu quả chất lượng giáo dục. Nhận thức được điều đó, tôi đã chỉ đạo giáo viên lồng ghép giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ thông qua các hoạt động trong ngày phù hợp với từng lứa tuổi.

Bởi, lồng ghép giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ của giáo viên tại các lớp sẽ là một trong những biện pháp hiệu quả đi sâu vào việc cung cấp kiến thức, kỹ năng cơ bản phòng tránh những rủi ro trẻ gặp ở trường, ở lớp khi tham gia các hoạt động cũng như trẻ có kỹ năng tự phòng tránh, tự bảo vệ bản thân phù hợp trong tình huống hàng ngày.

Tùy theo độ tuổi, khả năng của trẻ, tùy theo từng chủ đề và căn cứ vào kết quả mong đợi của trẻ theo lĩnh vực phát triển để giúp trẻ nhận biết và tránh một số nguy cơ không an toàn cũng như đưa các nội dung giáo dục phòng, chống tai nạn thương tích vào các hoạt động học sao cho tự nhiên, khéo léo, không gò ép. Vì vậy, ngay đầu năm học, tôi đã chỉ đạo các đồng chí tổ trưởng, tổ phó chuyên môn đưa nội dung giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng nhận biết, phòng tránh các nguy cơ gây tai nạn thương tích vào nội dung ngân hàng hoạt động giáo dục của các khối lớp phù hợp với mục tiêu giáo dục từng lứa tuổi. Chỉ đạo giáo viên xây dựng nội dung lồng ghép giáo dục trẻ phòng tránh nguy cơ không an toàn xảy ra, kỹ năng tự bảo vệ thông qua các hoạt động hàng ngày ở lớp một cách cụ thể, đi sâu đến việc đưa ra các tình huống giả định để trẻ được trải nghiệm thực tế.

Tuỳ vào tuần, tháng mà giáo viên lựa chọn những kỹ năng sống phù hợp để giáo dục cho trẻ. Để giáo viên thực hiện việc lồng ghép có hiệu quả tôi đã hướng dẫn giáo viên xây dựng kế hoạch bài học: Xây dựng nội dung bài học. Lựa chọn hình thức, ứng dụng phương pháp giáo dục tiên tiến. Thiết kế các hoạt động phù hợp.

Thông qua giờ đón, trả trẻ: Chỉ đạo giáo viên tổ chức hoạt động trò chuyện giúp trẻ nhận biết các dấu hiệu gây ra tai nạn thương tích như giáo dục an toàn khi trẻ tan học về nhà không đi chơi với người lạ, không chơi ở lòng đường, những nơi nguy hiểm qua các đoạn video, hình ảnh cho trẻ quan sát về những nguy cơ không an toàn đến đi một mình, hay đi theo người lạ đưa về để trẻ nhận biết được các nguy cơ không an toàn, nói được mối nguy hiểm và đưa ra ý kiến

23

về cách giải quyết tình huống có thể tự bảo vệ bản thân một cách phù hợp nhất. Hay trò chuyện với trẻ về một số hành động có nguy cơ gây mất an toàn như xô đẩy nhau khi xếp hàng xuống sân tập thể dục, đi cầu thang chưa chú ý, nô đùa với bạn, chạy nhảy trên hành lang, trèo lên can khi tham quan bể hoa súng ở sân trường,.. từ đó, hướng dẫn giáo viên tận dụng những tình huống cụ thể qua hình ảnh trẻ tham gia hoạt động ở lớp, ở trường giúp trẻ nhận biết những nguy cơ xảy ra thương tích với bản thân, cách phòng tránh. Bên cạnh đó, tôi chỉ đạo giáo viên đổi mới hình thức trò chuyện, tận dụng linh hoạt các trò chơi trên Powerpoint, các video tình huống gắn với hoạt động của trẻ, sử dụng vật thật, tận dụng đồ dùng, đồ chơi trong lớp để trẻ hứng thú, sôi nổi, tích cực trò chuyện hơn sẽ giúp trẻ nhớ lâu hơn, hiệu quả hơn.

(Hình ảnh: Giáo viên trò chuyện với trẻ về nguy cơ không an toàn)

Thông qua hoạt động học: Chỉ đạo giáo viên đổi mới tổ chức hoạt động học giáo dục kỹ năng phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ thông qua các hoạt động khám phá, làm quen văn học, làm quen với toán, phát triển vận động,… Trong đó, giáo viên cần lựa chọn đề tài đi sâu vào nội dung phòng tránh tai nạn thương tích đưa vào hoạt động học phù hợp với chủ đề tháng như: Nhận biết nguy cơ không an toàn với trẻ ở trường mầm non, tìm hiểu về tai nạn bỏng; chiếc quạt điện cơ; Nồi cơm điện; Nhận biết cái bát – cái cốc, Cơ thể kỳ diệu của bé. Qua đây, trẻ sẽ có thêm kiến thức nhận biết những đồ vật nguy hiểm, những nơi nguy hiểm, hành vi có nguy cơ gây mất an toàn và có kỹ năng phòng tránh, tự bảo vệ bản thân trước những nguy cơ không an toàn. Bên cạnh đó, hướng dẫn giáo viên lồng ghép nội dung giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân, phòng tránh các nguy cơ gây mất an toàn qua các hoạt động một cách linh hoạt, hợp lý. Khuyến khích giáo viên đưa những tình huống cho trẻ được trải nghiệm và thực hành, sáng tác những trò chơi, bài thơ có nội dung giáo dục kỹ năng tự bảo vệ giúp trẻ dễ nhớ để dạy trẻ.

Ví dụ: Hoạt động khám phá “Cơ thể kỳ diệu của bé” giáo viên cần giáo dục giới tính, giáo dục trẻ không để người khác xâm phạm thân thể, giáo viên cung cấp cho trẻ hiểu một số quy tắc an toàn như quy tắc năm ngón tay, quy tắc đồ lót, nhận biết vùng kín, vùng nhạy cảm trên cơ thể của trẻ.

Hay ở Chủ đề “Gia đình của bé”: Chỉ đạo giáo viên đưa các nội dung nhận biết, phân biệt một số đồ dùng gây nguy hiểm như phích nước nóng, dao, kéo; Các đồ dùng sử dụng thiết bị điện trong gia đình: quạt, ti vi, tủ lạnh, ấm điện và một số nguy hiểm có thể gặp phải khi sử dụng điện thông qua hoạt động khám phá. Từ đó cung cấp kiến thức, kỹ năng phòng tránh vật dụng nguy hiểm, biết cách phòng tránh tai nạn điện và sử dụng đồ dùng điện an toàn, không tự ý cắm

24

phích điện hay thò tay vào ổ điện. Hay đề tài “Tìm hiểu về các phương tiện phòng cháy chữa cháy” giúp trẻ nhận biết và có kỹ năng cơ bản khi phát hiện đám cháy, giáo dục trẻ không tự ý nghịch các phương tiện chữa cháy.

(Hình ảnh: Giáo viên cho trẻ tìm hiểu về phương tiện phòng cháy chữa cháy)

Tháng 10/2022, thực hiện kế hoạch chuyên môn của nhà trường, tôi đã chỉ đạo giáo viên ứng dụng phương pháp giáo dục STEAM, Montessori đổi mới tổ chức hoạt động khám phá, hoạt động nhận biết với đề tài: Nhận biết nguy cơ không an toàn với trẻ trong trường mầm non; tìm hiểu tai nạn bỏng; khám phá chiếc quạt điện cơ và nhận biết cái cốc qua chuyên đề “Xây dựng môi trường giáo dục xanh, an toàn hạnh phúc – Phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ” cấp trường. Thông qua hoạt động học giúp trẻ nhận biết được các nguy cơ, đồ vật, những nơi nguy hiểm với trẻ ở trường, ở lớp; Nhận biết đồ vật, nguy cơ, nguyên nhân có thể gây bỏng và cách xử lý; An toàn với đồ điện, cách sử dụng cốc. 4/4 chuyên đề đều đạt kết quả cao, được sự ghi nhận, đánh giá cao của Ban giám hiệu, giáo viên, đại diện phụ huynh các lớp trong trường.

(Hình ảnh: Tổ chức chuyên đề phòng chống tai nạn thương tích cấp trường)

Hoặc chủ đề “Phương tiện và luật lệ giao thông”: Tôi hướng dẫn giáo viên lựa các đề tài: Một số quy định đơn giản, đèn tín hiệu giao thông, biển báo giao thông đơn giản, tìm hiểu về các phương tiện giao thông qua đó trẻ nhận biết được kiến thức, kỹ năng đảm bảo an toàn khi tham gia giao thông qua các trò chơi: Nối những hành động đúng - sai, các hành vi văn minh khi tham gia giao thông. Lồng ghép giáo dục phòng tránh tai nạn thương tích qua nội dung giáo dục trẻ không chơi đùa ngoài đường, muốn sang đường phải có người lớn dắt, đội mũ bảo hiểm khi ngồi trên xe máy qua hoạt động kiến tập chuyên đề giáo dục kỹ năng an toàn giao thông “Ngày hội chúng em với an toàn giao thông” của khối MGL và chuyên đề “Dạy trẻ kỹ năng thoát hiểm bị mắc kẹt trên xe ô tô” tại lớp mẫu giáo nhỡ B6 đạt hiệu quả cao. (Hình ảnh: Tổ chức chuyên đề giáo dục kỹ năng tự bảo vệ tại lớp B6, giáo dục kỹ năng an toàn giao thông khối mẫu giáo lớn)

Thông qua hoạt động ngoài trời: Chỉ đạo giáo viên lồng ghép dạy trẻ những kỹ năng cần thiết để an toàn khi chơi, tổ chức các hoạt động giao lưu giữa các lớp, giao lưu giữa các tổ trong lớp về kiến thức tự bảo vệ và cách xử trí các tình huống cô đặt ra. Hơn nữa, tôi thường trao đổi, hướng dẫn giáo viên tận dụng tình huống cho trẻ trải nghiệm như:

Tình huống 1: “Leo trèo phải cẩn thận” Tôi hướng dẫn giáo viên tận dụng chính tình huống cho trẻ tham gia các hoạt động vui chơi ngoài để xây dựng tình huống giả định gắn với thực tế hàng

25

ngày trẻ tiếp xúc để giáo dục trẻ có kỹ năng tự bảo vệ. Với việc đưa ra các câu hỏi gợi ý: Theo các con có nguy cơ nào xảy ra khi chơi đồ chơi ngoài trời? Vì sao không nên leo trèo, đu trên các dồ chơi? Điều đó có nên không? Vì sao?

Giáo viên đưa ra các nguy cơ không an toàn từ việc làm trên để trẻ thấy được và luôn biết tự kiềm chế những hành động của mình. Giáo dục trẻ cách xử lý nếu trẻ bị ngã, trầy da chảy máu cần gọi cô giáo, bạn giúp đỡ, hay nếu thấy bạn trèo cao, trẻ có kỹ năng quan tâm, chia sẻ và ngăn bạn lại, rồi đi gọi cô giáo, người lớn để được giúp đỡ.

Tình huống 2: Không chơi ở những nơi nguy hiểm Hướng dẫn giáo viên sử dụng các hoạt động quan sát có mục đích để trẻ nhận biết những nơi nguy hiểm như Đường làng; Miệng cống – hố ga; Công trường xây dựng; Ao hồ, bụi dậm bằng cách tận dụng những đia điểm thực tế gần trường, những nơi trẻ hay đi qua để khắc sâu khả năng ghi nhớ cũng như gắn với tình huống cụ thể để sẽ có cách tự bảo vệ phù hợp. Hay cho trẻ tham quan đường làng cảm nhận không khí lễ hội, nhận biết nguy cơ không an toàn nếu đi chơi một mình không có người lớn đi cùng sẽ dẫn tình trạng bị lạc, bị bắt cóc. (Hình ảnh: Cô cho trẻ tham quan hồ gần trường và không khí Lễ hội làng)

Tình huống 3: “Bé phát hiện có hỏa hoạn” Trong năm học vừa qua, tôi đã xây dựng kế hoạch chỉ đạo giáo viên các lớp lồng ghép nội dung giáo dục kỹ năng phòng cháy chữa cháy cho trẻ thông qua các hoạt động thực tế ở lớp giúp trẻ có kỹ năng tự bảo vệ bản thân khi có cháy xảy ra. Ví dụ: Trong một giờ hoạt động ngoài trời của trẻ, tôi sử dụng hệ thống chuông báo cháy tự động để tập cho trẻ nhận biết, phản ứng nhanh với tín hiệu của còi báo cháy, kết hợp thêm khói tự tạo để trẻ nhận biết nếu đang chơi ở ngoài sân khi thấy dấu hiệu như tiếng cói báo cháy, mùi khét của khói thì giáo viên sẽ hướng dẫn trẻ cách xử lý tình huống đó thế nào để cung cấp cho trẻ kỹ năng tự bảo vệ trong tình huống giả định gắn với thực tế hoạt động của trẻ.

Đặc biệt trong năm học 2022-2023, tôi đã phối hợp với Ban giám hiệu chỉ đạo giáo viên, nhân viên xây dựng môi trường giáo dục an toàn, hướng dẫn trẻ kỹ năng xử lý khi nghe tiếng còi báo cháy, kỹ năng thoát hiểm di chuyển ra bên ngoài với giả định tình huống phát hiện đám cháy ở trong trường để lên kiến tập chuyên đề “Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng phòng cháy chữa cháy, cứu nạn cứu hộ trong cơ sở giáo dục mầm non” do phòng Giáo dục và Đào tạo huyện giao và đã được tổ chức thành công vào tháng 11/2022. Chuyên đề được phòng giáo dục và các trường đánh giá rất cao. Qua buổi kiến tập chuyên đề đa số trẻ trường tôi có kỹ năng thoát hiểm khi có đám cháy, biết cách xử lý khi gặp hỏa hoạn xảy ra. (Hình ảnh: Cô và trẻ thực hành kỹ năng thoát hiểm khi có cháy)

26

Thông qua hoạt động vui chơi: Giáo viên cho trẻ trải nghiệm trong môi trường phong phú, tạo cơ hội để trẻ được tiếp cận sâu, rộng hơn với thế giới hiện thực của người lớn. Đặc biệt là trẻ có thể cảm nhận thấy những tác động của lời nói và việc làm của các nhân vật mà trẻ đóng vai, từ đó dẫn đến thay đổi thái độ hoặc hành vi của mình trước một tình huống bất kỳ.

Thông qua giờ ăn, ngủ: Chỉ đạo giáo viên kể cho trẻ nghe những câu

chuyện có nội dung giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ.

Ví dụ: Thông qua giờ ngủ, giờ ăn hàng ngày tôi chỉ đạo giáo viên thực hiện hiệu quả nội dung lồng ghép giáo dục giới tính cho trẻ bởi dạy trẻ biết về cơ thể của mình cũng rất quan trọng. Nếu trẻ biết những nơi nào trên cơ thể không cho người khác đụng vào, thì trẻ sẽ thấy thoải mái nói ra điều gì đó không ổn. Điều quan trọng là cho trẻ biết rằng các con sẽ không bao giờ bị chỉ trích khi đưa ra yêu cầu giúp đỡ, và nếu các con không thấy an toàn hay vui vẻ vì lý do nào đó, con cần phải nói cho bố mẹ hoặc cô giáo biết càng sớm càng tốt.

Khi trò chuyện với các con về cơ thể của mình, giáo viên nên chia trẻ thành 2 nhóm nam, nữ riêng biệt. Để trẻ tự do nói về cơ thể của mình mà không xấu hổ trước mặt các bạn khác giới. Không khơi sâu sự tò mò của trẻ về các bạn khác giới, biết yêu quý và giữ gìn bản thân mình hơn.

Chỉ đạo giáo viên các lớp cần bao quát hướng dẫn nhận biết khu vực vệ sinh dành cho bạn trai, bạn gái thông qua các ký hiệu thông thường, các dụng cụ trong nhà vệ sinh và thực hiện đúng quy định khi đi vệ sinh theo đúng giới tính. Giờ ngủ trưa trẻ được ngủ riêng trẻ trai nằm cùng trẻ trai, trẻ gái nằm cùng trẻ gái. Như vậy trẻ sẽ biết được những điểm khác biệt của mình và người khác, tôn trong những điều khác biệt đó một cách chủ động có ý thức.

(Hình ảnh: Giáo viên tổ chức giờ ngủ để trẻ hiểu sự khác biệt giới tính) Thông qua hoạt động chiều: Tôi xây dựng thời khóa biểu mỗi 1 tuần mỗi lớp có 1 buổi chiều rèn kỹ năng sống. Chỉ đạo giáo viên xây dựng kế hoạch tháng có kế hoạch đưa nội dung giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng tự bảo vệ, kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích được lồng ghép vào các trò chơi, hoạt động thực hành kỹ năng để vào dạy trẻ hiệu quả hơn.

Thông qua hoạt động nêu gương: Chỉ đạo giáo viên tổ chức hoạt động nêu gương cho trẻ. Đưa một số nội dung kỹ năng tự bảo vệ vào tiêu chí nêu gương bé ngoan. Mặt khác cô khích lệ, động viên khen ngợi trẻ kịp thời những gì trẻ đã làm được đã nhận thức được.

Ví dụ: Trẻ đến nhà bạn chơi. Phát hiện ra bạn của mình khi ở nhà nghịch dao, kéo. Trẻ đã nhắc nhở bạn và đến lớp kể với cô giáo. Hay ngày nghỉ trẻ được bố mẹ cho đi chơi trẻ khoe với cô và với các bạn. Khi trẻ ra phố chơi trẻ đi dạo

27

phố đi cùng bố mẹ đi lên vỉa hè bên phải đường. Sau khi nghe trẻ kể xong giáo viên cần tuyên dương khen ngợi động viên trẻ trước tập thể lớp.

Thông qua hoạt động ngoại khóa, vui chơi tập thể: Hàng năm, nhà trường đều tổ chức cho trẻ đi tham quan như: Xem xiếc, đi thăm lăng Bác, trang trại... Trước khi đi thăm quan cũng như trên đường đi đến điểm thăm quan, tôi luôn nhắc nhở giáo viên giáo dục trẻ ý thức tự bảo vệ bản thân như: Khi ngồi trên xe ô tô không thò đầu, thò tay ra ngoài cửa sổ rất nguy hiểm đến tính mạng, khi xe dừng lại hẳn, lần lượt xuống xe, không chen lấn xô đẩy nhau. Thông qua ngày hội “Chúng em với an toàn giao thông” của khối mẫu giáo lớn, tôi chỉ đạo giáo viên làm đồ dùng, hướng dẫn trẻ kỹ năng tham gia giao thông an toàn như kỹ năng đi xe thăng bằng, kỹ năng đội, cài quai mũ bảo hiểm, đặc biệt thông qua các hoạt động trải nghiệm được tổ chức trong ngày hội giao lưu trẻ đã có thêm kiến thức về biển báo, luật lệ, quy định tham gia giao thông an toàn cũng như có kỹ năng hợp tác, phối hợp với các bạn, cô giáo và cha mẹ tham gia hoạt động tích cực góp phần phát triển toàn diện nhân cách sau này cho trẻ.

(Hình ảnh: Giáo viên tổ chức cho trẻ xếp hàng vào thăm Lăng Bác)

Tôi chỉ đạo giáo viên tổ chức cho trẻ được đi tham quan một số địa danh, trụ sở, nơi công cộng gần trường để trẻ có thêm kiến thức và cách xử lý tự bảo vệ bản thân phù hợp với thực tế, khả năng tập trung, chú ý lắng nghe cô hướng dẫn.

Ví dụ: Cô cùng trẻ ra cửa hàng của bác thợ may gần trường. Giáo viên hướng dẫn trẻ cách đi trên đường cho an toàn. Vì đường trong làng không có vỉa hè nên giáo viên hướng dẫn trẻ đi sát đường bên phải, đi theo hàng không đi ra giữa đường, đi theo cô không chạy lung tung kẻo bị lạc.

Tham mưu với Ban giám hiệu nhà trường tạo điều kiện cho phụ huynh đăng ký cùng con trải nghiệm các hoạt động bên ngoài (Cắm trại, dã ngoại..) để trẻ tự làm 1 số việc để thể hiện khả năng tự chủ, tự biết bảo vệ mình.

(Hình ảnh: Giáo viên cho trẻ MGL xếp hàng đi tham quan trường Tiểu học)

Bên cạnh đó, để nâng cao hiệu quả của công tác phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ trong nhà trường, tôi còn chỉ đạo giáo viên thiết kế các tình huống, trò chơi tạo cơ hội cho trẻ được trải nghiệm, thực hành các kĩ năng phòng tránh tai nạn thương tích được hiệu quả hơn.

Kết quả: Thông qua việc chỉ đạo lồng ghép nội dung giáo dục phòng chống tai nạn thương tích cũng như kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ đã thu được kết quả tốt, cụ thể: 100% giáo viên 20 lớp đã xây dựng kế hoạch giáo dục năm học, kế hoạch giáo dục tháng, tuần; 100% giáo viên biết lựa chọn nội dung, hình thức lồng ghép kiến thức cho trẻ nhận biết, cách phòng tránh tai nạn thương tích xảy

28

ra ở lớp, có kỹ năng tự bảo vệ bản thân trước nguy cơ không an toàn thông qua hoạt động giáo dục hàng ngày hiệu quả. 100% trẻ được bảo vệ an toàn tính mạng ở mọi lúc, mọi nơi; 100% trẻ được giáo dục kiến thức, kỹ năng phòng tránh những mối đe doạ, sự nguy hiểm trong thực tế nếu trẻ gặp có thể biết cách xử trí và tự bảo vệ mình. Trẻ có những hiểu biết về cách nhận biết và kỹ năng phòng chống một số tai nạn thương tích xung quanh cuộc sống của trẻ. Nhờ vậy, trẻ sẽ tự tin, mạnh dạn hơn khi tham gia các hoạt động.

4. Biện pháp 4: Tạo môi trường xanh, an toàn, hạnh phúc và tổ chức tốt chuyên đề “Phòng chống tai nạn thương tích” nhằm thực hiện hiệu quả nhiệm vụ giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ.

Môi trường giáo dục trong trường mầm non là thực sự cần thiết và quan trọng, nó được ví như ngôi nhà thứ hai của trẻ, có vai trò quan trọng trong công tác tổ chức, hướng dẫn cho trẻ nhằm thỏa mãn nhu cầu vui chơi hoạt động, thông qua đó nhân cách của trẻ được hình thành và phát triển toàn diện. Một môi trường sạch sẽ, an toàn, thuận tiện thỏa mãn nhu cầu nhận thức, mở rộng hiểu biết của trẻ, kích thích trẻ hoạt động tích cực, sáng tạo. Vì vậy, để thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ, tôi đã chú trọng đến việc chỉ đạo giáo viên phối kết hợp với nhà trường xây dựng môi trường giáo dục xanh, an toàn, hạnh phúc tạo điều kiện thuận lợi để hình thành các kỹ năng xã hội cho trẻ. 4.1. Xây dựng môi trường xanh, an toàn, hạnh phúc để giáo dục trẻ kỹ

năng tự bảo vệ.

Thực hiện hiệu quả việc xây dựng môi trường giáo dục an toàn cả về thể chất lẫn tinh thần để giáo dục trẻ kỹ năng tự bảo vệ, kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích. Năm học này, bám sát nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường cũng như chủ đề năm học 2022-2023, tôi đã chỉ đạo giáo viên các lớp xây dựng môi trường lớp học an toàn chú ý đến các yếu tố có tác dụng giúp trẻ nhận biết, loại bỏ và phòng tránh các nguy cơ không an toàn với trẻ đến từ môi trường hoạt động, đồ dùng, đồ chơi và hành động của mọi người xung quanh. Tạo môi trường vật chất xanh, an toàn cho trẻ hoạt động: Nhằm giúp trẻ cảm thấy thoải mái hơn, trẻ được đến gần với thiên nhiên hơn, nhà trường đã xây dựng khu vui chơi ngoài trời cho trẻ “Khu vườn cổ tích” và “Khu vui chơi vận động”, “Khu sáng tạo” với đầy đủ đồ chơi ngoài trời đẹp, thẩm mỹ và an toàn. Tôi chỉ đạo giáo viên xây dựng môi trường giáo dục bên ngoài an toàn, hạnh phúc bám sát các tiêu chí xây dựng môi trường giáo dục an toàn, phòng chống tai nạn thương tích theo Thông tư số 45/2021-BGDĐT ngày 31/12/2021 về Quy định về xây dựng trường học an toàn, phòng, chống tai nạn

29

thương tích trong cơ cơ sở giáo dục mầm non để trẻ cảm thấy an toàn, thân thiện, hạnh phúc mỗi khi đến trường, đến lớp.

Bên cạnh đó, ngay từ cuối tháng 7 năm 2022, tôi đã lên kế hoạch rà soát đồ dùng, đồ chơi, học liệu loại bỏ những đồ chơi, đồ dùng gây mất an toàn với trẻ, tham mưu với đồng chí Hiệu trưởng bổ sung cho các lớp các đồ dùng, đồ chơi, nguyên vật liệu còn thiếu nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho giáo viên xây dựng môi trường lớp học, tạo môi trường cho trẻ hoạt động.

(Hình ảnh: Giáo viên rà soát và vệ sinh đồ dùng đồ chơi trong lớp)

Đồ dùng, đồ chơi ở các góc sắp xếp gọn gàng ngăn nắp, đầy đủ học liệu cho trẻ hoạt động. Trong đó có góc phân vai, góc thực hành kỹ năng sống qua đó trẻ được “Học bằng chơi, chơi bằng học”, trẻ được trải nghiệm thực hành kỹ năng sống, kỹ năng tự bảo vệ bản thân, phòng tránh tai nạn thương tích.

Đề xuất với đồng chí Hiệu trưởng đầu tư loa phát nhạc tự động trong nhà vệ sinh các lớp với bản nhạc nhẹ nhàng, chỉ đạo giáo các lớp bổ sung các chậu cây xanh, sắp đặt lại đồ dùng khoa học, bổ sung hệ thống ký hiệu, các biển chỉ dẫn, nội quy hướng dẫn trẻ hành vi văn minh khi đi vệ sinh như xả nước, rửa tay bằng xà phòng, sấy khô tay, xếp dép lên giá gọn gàng, bỏ rác vào thùng rác có nắp đậy và rửa tay sạch sẽ,… giáo dục trẻ có ý thức giữ gìn vệ sinh cá nhân, hành vi văn minh khi đi vệ sinh, đó là một trong những tiêu chí xây dựng “Nhà vệ sinh thân thiện” góp phần xây dựng lớp học an toàn, hạnh phúc hiệu quả tạo cho trẻ cảm giác thoải mái và dễ chịu mỗi khi đến lớp. (Hình ảnh: Môi trường lớp học xanh, an toàn phòng chống tai nạn thương tích) Đồng thời, tôi chỉ đạo, hướng dẫn giáo viên làm các cuốn sách giúp trẻ nhận được những hành vi nên và không nên làm, những việc làm đúng để trang bị thêm cho trẻ những kiến thức về tai nạn thương tích thường xảy ra với trẻ và kỹ năng tự bảo vệ, phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ. Hướng dẫn giáo viên cách thu hút trẻ tham gia vào việc xây dựng môi trường giáo dục. Tạo môi trường có không gian phù hợp với cuộc sống thực hàng ngày của trẻ.

Tạo môi trường tâm lý an toàn, thân thiện, hợp tác, chia sẻ cho trẻ: Môi trường giáo dục không chỉ là môi trường vật chất mà gồm rất nhiều yếu tố trong đó đảm bảo môi trường giao tiếp thân thiện, hòa đồng, cởi mở giữa cô và trẻ, giữa trẻ và trẻ, giữa trẻ với môi trường xung quanh. Do đó, tôi đã hướng dẫn giáo viên xây dựng môi trường giáo dục đầy tính mời gọi tạo được tâm lí thoải mái khi trẻ đến trường, là nơi cô và trò đều có cảm giác muốn đến, là nơi tạo cho trẻ cảm thấy được an tâm, tin tưởng thoải mái giống như ở nhà và là nơi trẻ được đắm mình trong môi trường an toàn, tràn ngập sự yêu thương giúp trẻ tự tin thể hiện hết khả năng của mình.

30

Để đạt được điều đó, tôi nhắc nhở giáo viên phải cởi mở, gần gũi thân thiện với trẻ, luôn có những cử chỉ nhẹ nhàng, gần gũi, ánh mắt dịu hiền, âu yếm, lời nói thiện cảm,… để tạo cho trẻ một cảm giác cô chính là bạn của trẻ. Từ đó trẻ sẽ tự tin bộc lộ bản thân, mạnh dạn hợp tác với cô và bạn, mạnh dạn hỏi những điều chưa biết. Tôi đã chỉ đạo giáo viên trong trường luôn thực hiện tốt nội quy của nhà trường, quy tắc ứng xử, hành vi văn minh và luôn thân thiện với trẻ, tạo được niềm tin của trẻ, tạo cảm giác an toàn, hạnh phúc cho trẻ mỗi khi đến lớp, đến trường

Kết quả: Nhà trường đã xây dựng môi trường giáo dục an toàn, phòng chống tai nạn thương tích. 100% các lớp xây dựng môi trường lớp học xanh, an toàn, hạnh phúc, ứng dụng phương pháp giáo dục hiện đại đã mang đến sự tươi mới, hấp dẫn cho trẻ mỗi khi đến lớp. Môi trường đã tạo cho trẻ cảm giác thân thiện, an toàn, được tôn trọng và cảm thấy vui vẻ, hạnh phúc trong mỗi hoạt động trẻ tham gia. Môi trường giáo dục nhà trường, môi trường các lớp đã được Phòng Giáo dục, cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên các trường đánh giá cao khi về dự chuyên đề của trường “Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng phòng cháy chữa cháy, cứu nạn cứu hộ trong cơ sở giáo dục mầm non” cũng như được Ban giám khảo Hội thi “Giáo viên dạy giỏi cấp huyện” vào tháng 12 năm 2022 về chấm đã đánh giá rất cao về môi trường giáo dục hiện đại, thẩm mỹ, một môi trường hạnh phúc mời gọi trẻ đến lớp vui vẻ mỗi ngày. Hơn nữa, môi trường giáo dục của 4 lớp đã được giáo viên trình bày thành công trong phần thi thuyết trình của hội thi “Giáo viên dạy giỏi” cấp huyện và được Ban giám khảo đánh giá rất cao, thực hiện đạt hiệu quả, phù hợp với thực tiễn của lớp. Điều làm tôi vui và hạnh phúc hơn cả đó là môi trường giáo dục của nhà trường được phụ huynh ghi nhận an toàn với trẻ, không có tai nạn thương tích xảy ra trong năm học. Trẻ trong lớp thực sự yêu thích lớp học, yêu cô giáo, bạn bè, mạnh dạn chủ động giao tiếp với cô và các bạn, nâng cao hiệu quả công tác phòng chống tai nạn thương tích cũng như giáo dục cho trẻ kỹ năng tự bảo vệ đã đạt hiệu quả cao. Trẻ đi học chuyên cần với tỷ lệ hàng tháng đạt yêu cầu lứa tuổi đáp ứng tiêu chí trường mầm non đạt chuẩn Quốc gia mức độ 2.

(Hình ảnh: Môi trường lớp học xanh, an toàn, hạnh phúc cho trẻ hoạt động)

4.2. Tổ chức tốt chuyên đề “Phòng chống tai nạn thương tích” nhằm

thực hiện hiệu quả nhiệm vụ giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ.

Thông qua việc tổ chức các chuyên đề trong nhà trường sẽ nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục của đội ngũ giáo viên, phát huy năng lực, sáng kiến của từng thành viên trong tổ, nhân rộng những kinh nghiệm tốt, cách làm hay

31

trong tổ, trong toàn trường, từ đó không ngừng nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ đáp ứng yêu cầu đổi mới ngày càng cao của giáo dục mầm non. Vì vậy, tôi đã xây dựng kế hoạch tổ chức các chuyên đề trọng tâm trong năm học, phân công cụ thể lớp, giáo viên có chuyên môn nghiệp vụ tốt, đổi mới sáng tạo thực hiện chuyên đề, xây dựng lịch trình, thời gian thực hiện rõ ràng phù hợp với lịch trình chuyên môn nhà trường ngay đầu năm học, trong đó chú trọng đến thực hiện hiện chuyên đề “Xây dựng môi trường giáo dục xanh, an toàn, hạnh phúc – Phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ”, chuyên đề “Giáo dục kỹ năng an toàn giao thông”, chuyên đề “Giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân” và các chuyên đề khác tại các lớp trong trường để lồng ghép hiệu quả nội dung giáo dục phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ trong nhà trường.

Căn cứ kế hoạch thực hiện chuyên đề trọng tâm năm học 2022-2023, tôi đã chủ động chỉ đạo, hướng dẫn giáo viên xây dựng môi trường lớp học, lựa chọn đề tài mới, đi sâu vào đề tài thực hành, trải nghiệm nội dung nhận biết nguy cơ gây tai nạn thương tích, giáo dục kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích, kỹ năng tự bảo vệ bản thân phù hợp với lứa tuổi; Hướng dẫn, gợi ý giáo viên ứng dụng phương pháp giáo dục STEAM, Montessori đổi mới tổ chức hoạt động kiến tập; Làm đồ dùng, chuẩn bị nguyên vật liệu an toàn, thẩm mỹ, hấp dẫn trẻ phù hợp với nội dung đề tài. Sắp xếp thời gian dự giờ chuyên đề để đóng góp ý kiến, rút kinh nghiệm cho giáo viên về hình thức, nội dung và kỹ năng của trẻ trước khi tổ chức kiến tập toàn trường đến Ban giam hiệu, tổ chuyên môn và đại diện phụ huynh của nhà trường, của lớp đạt hiệu quả cao nhất. Cụ thể như sau:

Tháng 10/2022, tôi đã chỉ đạo và tổ chức kiến tập toàn trường chuyên đề “Xây dựng môi trường giáo dục xanh, an toàn hạnh phúc – Phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ trong trường mầm non” tại 4 lớp mẫu giáo lớn A1, mẫu giáo nhỡ B3, mẫu giáo bé C1 và nhà trẻ D1 với đề tài: Nhận biết nguy cơ không an toàn với trẻ trong trường mầm non, tìm hiểu tai nạn bỏng, khám phá chiếc quạt điện cơ và nhận biết cái cốc, thông qua hoạt động trẻ nhận biết được các nguy cơ gây mất an toàn với trẻ ở trường, ở lớp, nhận biết đồ vật, nguy cơ, nguyên nhân có thể gây bỏng, nhận biết dấu hiệu vết bỏng và cách xử lý một số vết bỏng đơn giản, nhận biết cách an toàn với đồ điện ở trong lớp cũng như ở nhà, cách sử dụng cốc an toàn, nhận biết nguy cơ phòng tránh hóc sặc khi ăn, khi uống và trẻ hoạt động say xưa với các nội dung, hoạt động giáo viên thiết kế và đa số trẻ có kỹ năng phòng chống tai nạn thương tích, tự bảo vệ bản thân trong các tình huống cụ thể. Chuyên đề tại 4 lớp đã được Ban giám hiệu, giáo viên cũng như đại diện phụ huynh nhà trường dự kiến tập đánh giá cao.

(Hình ảnh: Tổ chức chuyên đề “Phòng chống tai nạn thương tích” tại 4 lớp)

32

Tháng 11/2022, tôi đã chỉ đạo và tổ chức kiến tập chuyên đề “Ứng dụng phương pháp giáo dục STEAM” tại 3 lớp mẫu giáo lớn A4, mẫu giáo nhỡ B2, mẫu giáo bé C3 và chuyên đề “Đổi mới tổ chức hoạt động nhận biết” lớp nhà trẻ D2 với đề tài tìm hiểu về “Chiếc lều cho chuyến du lịch”, “Tìm hiểu về robot”, “Khám phá dụng cụ lắc”, nhận biết màu đỏ - màu vàng. Qua hoạt động trẻ được tìm hiểu khám phá về chiếc lều du lịch, những con rô bốt, dụng cụ lắc, màu sắc của đồ vật xung quanh, kỹ năng sử dụng đồ dùng, học liệu an toàn như que tre, cọc gỗ, kéo, dập gim, vỏ lon sữa, vỏ hộp, chai nhựa, trầy, cối, dụng cụ lọc, đinh, tô vít,...để trẻ phối hợp với bạn thực hành làm lều du lịch, chế tạo rô bốt, làm dụng cụ lắc phát ra âm thanh hay giã, nghiền, lọc tạo ra màu từ các nguyên vật liệu thiên nhiên, vật liệu tái chế. Giáo dục trẻ kỹ năng sử dụng đồ dùng an toàn, phòng tránh tai nạn thương tích khi tham gia hoạt động, kỹ năng tự bảo vệ bản thân khi tham gia hoạt động ngoại khoá. Không những vậy, thông qua việc hoạt động theo nhóm giúp phát triển kỹ năng hợp tác, giải quyết vấn đề, phát triển ngôn ngữ giao tiếp mạch lạc, tự tin chủ động, tích cực khi tham gia hoạt động. (Hình ảnh: Trẻ tham gia làm lều du lịch, chế tạo rô bốt)

Tháng 3/2023, tôi đã tổ chức kiến tập chuyên đề giáo dục kỹ năng an toàn giao thông qua chương trình “Ngày hội chúng em với an toàn giao thông” của khối mẫu giáo lớn và chuyên đề “Giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân” khi bị mắc kẹt trên xe ô tô tại lớp mẫu giáo nhỡ B6 đạt được kết quả cao. (Hình ảnh: Kiến tập chuyên đề: An toàn giao thông và xử lý khi bị kẹt trên xe ô tô) Thông qua việc tổ chức các chuyên đề cấp trường trong năm học, tôi đã linh hoạt chỉ đạo giáo viên lồng ghép sáng tạo các nội dung phòng chống tai nạn thương tích qua các trò chơi, tình huống thực tế phù hợp với nội dung dạy để cung cấp thêm kiến thức, kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ trong mọi hoạt động.

Bên cạnh đó, với nhiệm vụ trọng tâm của năm học tổ chức kiến tập chuyên đề “Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng phòng cháy chữa cháy, cứu nạn cứu hộ cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên trong các cơ sở giáo dục mầm non” do Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Thanh Trì giao ngay từ đầu năm học. Tôi phối hợp với Ban giám hiệu xây dựng kế hoạch thực hiện chuyên đề cấp huyện đạt kết quả tốt với nhiệm vụ trọng tâm sau:

Phối hợp chỉ đạo giáo viên, nhân viên xây dựng trường học an toàn, phòng chống tai nạn thương tích với môi trường xanh, an toàn, hạnh phúc, tăng cường kiểm tra, rà soát điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi bên ngoài đảm bảo an toàn cho trẻ khi hoạt động.

33

Chỉ đạo giáo viên 20 lớp xây dựng môi trường lớp học xanh, an toàn, hạnh phúc, bố trí sắp xếp đồ dùng, đồ chơi, trang thiết bị nhóm lớp an toàn, thẩm mỹ, tăng cường sản phẩm, tài liệu, đồ dùng, bài tuyên truyền,… thể hiện rõ chuyên đề “Phòng cháy chữa cháy”. Lồng ghép nội dung, kiến thức, kỹ năng nhận biết dấu hiệu cháy, còi báo cháy, số điện thoại khẩn cấp 114 khi có cháy xảy ra nhất là kỹ năng thoát hiểm, di chuyển khi có cháy xảy ra ở trường, ở lớp.

Phối hợp xây dựng phương án, kịch bản phòng cháy chữa cháy phù hợp với địa hình, sơ đồ của nhà trường; Phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên trong nhà trường phù hợp với các tình huống giả định cháy xảy ra ở các vị trí khác nhau của nhà trường.

Tổ chức diễn tập tình huống giả định để giáo viên, nhân viên và học sinh

nắm bắt và thực hiện theo kịch bản, phương án đã xây dựng đạt kết quả cao.

Tăng cường công tác kiểm tra cơ sở vật chất, trang thiết bị về công tác

phòng cháy chữa cháy hiện có để đề xuất bổ sung kịp thời.

Phối hợp chỉ đạo giáo viên, nhân viên nhà trường thực hiện nghiêm túc kế

hoạch đề ra và đón đoàn về dự kiến tập đạt kết quả cao nhất.

Báo cáo kết quả thực hiện chuyên đề “Phòng chống tai nạn thương tích” của nhà trường về Phòng Giáo dục và viết bài truyền thông về công tác tổ chức chuyên đề của nhà trường để phụ huynh biết và phối hợp tham gia tích cực hơn. (Hình ảnh: Tổ chức kiến tập chuyên đề: Phòng cháy chữa cháy cấp huyện)

Không những vậy, sau mỗi chuyên đề điểm được tổ chức tại các lớp, tôi đều tổ chức rút kinh nghiệm, nhận xét những ưu điểm, tồn tại của giáo viên, của trẻ trong hoạt động về hình thức tổ chức, nội dung trọng tâm, kiến thức, kỹ năng lồng ghép về phòng chống tai nạn thương tích, kỹ năng tự bảo vệ của trẻ, cách xử lý tình huống tình huống để các đồng chí giáo viên dự kiến tập học hỏi, rút kinh nghiệm và áp dụng linh hoạt tại lớp đạt kết quả cao. Từ đó sẽ nhân rộng được hiệu quả của các chuyên đề trong nhà trường góp phần nâng cao chuyên môn nghiệp vụ cũng như hiệu quả công tác phòng chống tai nạn thương tích trong nhà trường. Kết quả: Trong năm học, tôi tổ chức tốt 13 chuyên đề trọng tâm như xây dựng môi trường lớp học xanh, an toàn, hạnh phúc - Phòng chống tai nạn thương tích, ứng dụng phương pháp giáo dục tiên tiến, âm nhạc, phát triển vận động, giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng an toàn giao thông, giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân tại trường với sự ghi nhận, đánh giá cao của đồng chí Hiệu trưởng cũng như đội ngũ giáo viên, đại diện phụ nhà trường. Giáo viên đã nắm vững chuyên môn và có nghệ thuật lên lớp, sáng tạo, đổi mới trong tổ chức hoạt động giáo dục theo

34

phương pháp giáo dục tiên tiến, mạnh dạn, tự tin, xử lý khéo léo các tình huống sư phạm. Nắm vững kiến thức, kỹ năng cơ bản về phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ ở trường, ở lớp. Không những vậy, chất lượng chuyên môn của đội ngũ giáo viên nhà trường đã được nâng cao rõ rệt với 4 giáo viên tham dự Hội thi “Giáo viên dạy giỏi” cấp huyện đạt 02 giải nhất, 01 giải nhì và 01 giải ba. (Phụ lục IV: Lịch kiến tập chuyên đề “Phòng chống tai nạn thương tích và các chuyên đề khác trong năm học.)

5. Biện pháp 5: Tăng cường kiểm tra, đánh giá giáo viên thực hiện

công tác phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ.

Để nâng cao hiệu quả công tác phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ tại các lớp cũng như chất lượng bồi dưỡng đội ngũ giáo viên thì khâu kiểm tra, đánh giá, thăm lớp dự giờ đóng vai trò quan trọng giúp tôi cùng các đồng chí Ban giám hiệu nhà trường hiểu rõ thực trạng về chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực sư phạm của từng giáo viên để đưa ra kế hoạch, biện pháp bồi dưỡng cụ thể đạt kết quả cao.

Tôi thực hiện kiểm tra, đánh giá việc thực hiện công tác xây dựng môi trường lớp học, lồng ghép các nội dung phòng chống tai nạn thương tích, giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ qua tổ chức tốt các hội thi, chuyên đề trọng tâm trong năm học,… hay thăm lớp dự giờ hàng ngày là một biện pháp rất cần thiết và có hiệu quả trong công tác quản lý. Ta vẫn nói rằng: Không có kiểm tra tức là không có quản lý. Vậy, qua kiểm tra đánh giá giáo viên sẽ giúp tôi nắm được đầy đủ những thông tin cần thiết về tình hình thực hiện, phẩm chất năng lực của giáo viên đồng thời thấy được những nội dung mà tôi triển khai cũng như kế hoạch giáo dục lớp có phù hợp hay không để phát hiện kịp thời những lệch lạc, thiếu sót, kịp thời bổ sung, điều chỉnh sao cho kết quả giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ cao là cao nhất.

Để công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ, tôi luôn xác định rõ mục đích yêu cầu của từng đợt kiểm tra, có kế hoạch cụ thể, xác định rõ mục đích yêu cầu, nội dung, phương pháp, hình thức kiểm tra.

Nội dung kiểm tra, đánh giá: Kiểm tra việc thực hiện xây dựng môi trường giáo dục an toàn phòng chống nguy cơ gây thương tích cho trẻ, lồng ghép nội dung nhận biết nguy cơ gây thương tích cũng như nội dung giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ. Kiểm tra đột xuất việc thực hiện quy chế chăm sóc giáo dục trẻ của giáo viên, hồ sơ sổ sách (sổ theo dõi trẻ, sổ nhật ký đón trả trẻ, sổ ghi chép cá nhân về các buổi bồi dưỡng chuyên môn…), phương pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ qua các hoạt động trong ngày, cách thực hiện để đánh giá

35

tình hình triển khai và thực hiện công tác giáo dục trẻ của giáo viên, có đúng như kế hoạch mà trường đã chỉ đạo, kế hoạch mà lớp đã xây dựng hay không.

Kiểm tra việc thực hiện quy chế trường học an toàn, quy chế chăm sóc,

nuôi dưỡng, giáo dục trẻ tại các lớp.

Kiểm tra cơ sở vật chất, kiểm tra việc rà soát, loại bỏ, thay thế các đồ dùng, đồ chơi, thiết bị có nguy cơ mất an toàn cho trẻ tại lớp, sắp xếp, bố trí các góc hoạt động có phù hợp với diện tích lớp; Các đường dây điện, ổ cắm điện có cao xa tầm tay trẻ, có đầy đủ ký hiệu không sờ tay vào ổ điện; Các kệ giá góc kê có quá cao, có dễ di chuyển khi tổ chức các hoạt động cho trẻ; Sắp xếp đồ dùng đồ chơi có gọn gàng ngăn nắp, vừa tầm tay của trẻ? Bên cạnh đó, tôi còn kiểm tra thường xuyên vệ sinh đồ dùng, đồ chơi hàng ngày, hàng tuần để đảm bảo vệ sinh phòng chống dịch bệnh và loại bỏ những đồ chơi gây nguy hiểm cho trẻ...

Đối với cơ sở vật chất ngoài lớp học: Kiểm tra, đánh giá số lượng đồ dùng đồ chơi ngoài trời đảm bảo an toàn có đủ cho trẻ hoạt động, đồ chơi cần sửa chữa, cần phải thay thế bổ sung thêm tại các khu vực vui chơi vận động, vui chơi sáng tạo với cát, với nước; khu vườn rau của bé,...đã được quy hoạch, thiết kế phù hợp, có đảm bảo an toàn, sạch đẹp.

Kiểm tra cách sắp xếp đồ dùng, trang thiết bị, đồ chơi đảm bảo an toàn và khoa học tại các lớp, bếp, phòng y tế, phòng vệ sinh, phòng chức năng và các khu vực trong khuôn viên nhà trường.

Kiểm tra công tác vệ sinh môi trường; Công tác chăm sóc sức khoẻ cho trẻ; Công tác tuyên truyền về chăm sóc sức khoẻ phòng chống dịch bệnh, giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng tự phục cho trẻ tại các lớp.

Phối hợp kiểm tra hệ thống nước sạch, hệ thống nước thải, rác thải. Hình thức: Kiểm tra đột xuất và kiểm tra báo trước. Ngoài ra, tôi còn kiểm tra đột xuất công tác vệ sinh môi trường lớp học có đảm bảo an toàn cho trẻ, kiểm tra việc thực hiện quy chế chuyên môn tổ chức giờ ăn, giờ ngủ của trẻ tại lớp. Kiểm tra thường xuyên: Các hoạt động trong ngày của trẻ, mọi lúc mọi nơi. Công tác phối hợp, tuyên truyền với phụ huynh về công tác phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ trong trường mầm non. Kiểm tra phần mềm kế hoạch giáo dục các lớp về nội dung lồng ghép giáo dục kỹ năng phòng chống tai nạn thương tích, kỹ năng tự bảo vệ.

Phương pháp: Thông qua phiếu dự giờ và xây dựng mẫu phiếu kiểm tra,

đánh giá giáo viên. Đánh giá qua kỹ năng của trẻ trong các hoạt động.

Đồng thời tôi cũng khảo sát đánh giá trẻ để thấy được kết quả giáo dục của giáo viên, nắm bắt được khả năng phát triển của trẻ. Tôi đánh giá bằng các biện pháp: Quan sát, ghi chép kết quả hoạt động của trẻ, quan sát thái độ, cử chỉ hành

36

vi, ngôn ngữ, cách ứng xử của trẻ trong khi chơi…như thế nào? Kỹ năng của trẻ trong hoạt động? Trò chuyện với trẻ để đánh giá kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ngôn ngữ , sự mạnh dạn, tự tin, khả năng diễn đạt… của trẻ.

Từ đó, tôi đánh giá thực trạng, năng lực của mỗi giáo viên. Tôi nhận xét góp ý và có các biện pháp bồi dưỡng đội ngũ giáo viên hoàn thiện năng lực sư phạm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ nói riêng.

Kết quả: Từ tháng 9/2022 cho đến tháng 4/2023 tổng số dự giờ các hoạt động lồng ghép nội dung phòng tránh tai nạn thương tích, giáo dục trẻ kỹ năng sống, giáo dục trẻ kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích, giáo dục trẻ tự bảo vệ mà tôi đã dự của giáo viên là 55 tiết. Trong đó: Xếp loại tốt: 48 hoạt động; Xếp loại khá: 7 tiết; Xếp loại đạt yêu cầu: 0 tiết. Với việc tăng cường kiểm tra đột xuất và báo trước giáo viên, tôi đã phát hiện những tồn tại góp ý cho giáo viên kịp thời. Từ đó, giáo viên đã có ý thức tốt hơn, chuẩn bị chu đáo, theo dõi ghi chép đầy đủ để tham gia ý kiến cũng như rút kinh nghiệm cho bản thân. 100% cán bộ, giáo viên, nhân viên có tinh thần trách nhiệm, có ý thức và thực hiện nghiêm túc theo kế hoạch đã xây dựng. 100% giáo viên có phẩm chất đạo đức tốt, luôn yêu thương yêu, tôn trọng trẻ trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ. Công tác vệ sinh môi trường luôn được cán bộ, giáo viên, nhân duy trì tốt theo lịch, đảm bảo môi trường "Xanh - Sạch - Đẹp". Nhà trường không có cán bộ, giáo viên, nhân viên vi phạm nội qui quy chế của ngành. Không có trường hợp tai nạn thương tích, dịch bệnh nào xảy ra với cán bộ, giáo viên, nhân viên và trẻ trong nhà trường. (Hình ảnh: Hoạt động giáo dục kỹ năng tự bảo vệ khi gặp người lạ, bị bắt nạt) 6. Biện pháp 6: Chỉ đạo giáo viên làm tốt công tác tuyên truyền, phối hợp với phụ huynh và cộng đồng để phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ.

Giáo dục là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Chính vì vậy, công tác tuyên truyền – xã hội hội hóa giáo dục là vấn đề cấp thiết và quan trọng của mỗi nhà trường. Làm thế nào để đông đảo phụ huynh hiểu được tầm quan trọng của vấn đề chăm sóc sức khoẻ, nuôi dưỡng giáo dục trẻ em mầm non là cần thiết. Bởi, công tác đảm bảo an toàn, phòng, chống tai nạn thương tích cho trẻ ở trường mầm non thôi chưa đủ mà cần phải có sự kết hợp hài hòa từ phía gia đình trẻ và cộng đồng để đạt hiệu quả cao hơn, đồng bộ hơn.

Hiện nay, nhu cầu giáo dục kỹ năng sống cho trẻ, trong đó có kỹ năng tự bảo vệ, kỹ năng xử lý phòng tránh tai nạn thương tích thường gặp cho trẻ mầm non rất được phụ huynh quan tâm. Các chương trình giáo dục kỹ năng sống của

37

nhiều trung tâm giáo dục kỹ năng sống được phụ huynh lựa chọn. Dấu hiệu tích cực trong nhận thức này của cả phụ huynh và giáo viên là một điều kiện thuận lợi để chúng ta có thể giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Tuy nhiên các bậc phụ huynh thường sợ hãi, lo lắng, tìm cách nghiêm cấm con tiếp xúc với các rủi ro nhưng lại quên giải thích cho trẻ lý do vì sao và hậu quả có thể xảy ra là gì. Vì thế mỗi giáo viên đứng lớp nói riêng và nhà trường nói chung cần có biện pháp tuyên truyền, phối kết hợp với phụ huynh và cộng đồng trong công tác phòng chống tai nạn thương tích cũng như giáo dục trẻ kỹ năng tự bảo vệ bản thân.

Vậy, để công tác đảm bảo an toàn, phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ

đạt hiệu quả cao trong năm học này. Tôi đã tiến hành các nội dung cụ thể sau:

Tuyên truyền với các bậc phụ huynh trong các buổi họp ban đại diện phụ huynh của nhà trường về những nguy cơ không an toàn cho trẻ từ phía các bậc phụ huynh như không đi xe vào khu vực trường, không cho trẻ mang đồ chơi hoặc vật dụng không an toàn đến lớp để phụ huynh nắm bắt và truyền thông đến các các bậc phụ huynh của lớp.

Xây dựng phiếu khảo sát, thăm dò nhận thức của phụ huynh về tầm quan trọng của việc dạy trẻ kỹ năng sống cần thiết, kỹ năng tự bảo vệ bản thân để phụ huynh hiểu không nên làm hộ con, phải dạy trẻ tính tự lập từ bé, đó chính là cách bảo vệ trẻ tốt nhất trước những nguy cơ không an toàn xung quanh trẻ.

Ngoài ra, tôi còn phát cho các lớp các tờ rơi, tờ tranh tuyên truyền về cách nhận biết và phòng tránh một số nơi, tai nạn thường gặp ở trẻ để ở góc dành cho cha mẹ cần biết và phối hợp cùng cô giáo có biện pháp để phòng tránh.

Chỉ đạo các lớp xây dựng góc tuyên truyền “Cha mẹ cùng quan tâm” để tuyên truyền cho phụ huynh về các biện pháp phòng tránh tai nạn thương tích có thể xảy ra với trẻ ở lớp cũng như ở nhà. Nội dung tuyên truyền được thay đổi để phụ huynh có cơ hội nắm bắt được nhiều nội dung để giáo dục trẻ như giáo dục giới tính, giáo dục phòng chống xâm hại, phòng chống tai nạn thương tích như bỏng, điện giật, ngã, hóc sặc,... Đổi mới hình thức trình bày các bài tuyên truyền kèm theo hình ảnh minh họa để hấp dẫn phụ huynh dễ hiểu nhất.

Tận dụng những câu chuyện có thật trong cuộc sống, các sự kiện nổi bật của xã hội để tuyên truyền nâng cao nhận thức của phụ huynh về vai trò và sự cần thiết trang bị kiến thức, kỹ năng phòng chống tai nạn thương tích, kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ trong cuộc sống hiện nay.

Chỉ đạo giáo viên làm tốt công tác truyền thông với phụ huynh thông qua các buổi họp phụ huynh, trao đổi trực tiếp với phụ huynh qua giờ đón trả trẻ về chương trình chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ cũng như một số kỹ năng bảo vệ bản thân cha mẹ có thể trang bị cho trẻ ở nhà.

38

Chỉ đạo giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin trong việc tuyên truyền với phụ huynh về các nội dung giáo dục kỹ năng tự bảo vệ trong tình huống cụ thể như cách bảo vệ bản thân trước dịch bệnh theo mùa, khi trẻ ở nhà một mình, kỹ năng sử dụng các đồ dùng gia đình an toàn qua tư liệu tìm kiếm trên internet, các video giáo viên hướng dẫn trẻ các kỹ năng vệ sinh, cách xử lý các tai nạn thương tích cơ bản, kỹ năng tự bảo vệ bản thân trước nguy cơ bị xâm hại, bị bắt nạn, bị bắt cóc có sự kiểm duyệt về nội dung của Ban giám hiệu trước khi gửi đến phụ huynh qua zalo lớp hướng dẫn trẻ khi ở nhà.

Làm tốt công tác truyền thông về nội dung phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ qua trang website, fanpage của nhà trường với các bài viết, tin tức sự kiện về tổ chức chuyên đề cấp huyện “Xây dựng trường học, lớp học an toàn, phòng chống tai nạn thương tích”, “Phòng cháy chữa cháy”, các chuyên đề chuyên môn trong năm học, hoạt động ngày hội, ngày lễ, công tác vệ sinh môi trường, phòng chống dịch bệnh, công tác chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục cũng như kiểm tra sức khoẻ cho trẻ trong trường, sẽ giúp phụ huynh nắm bắt được sâu sắc hơn nội dung phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở trường, từ đó phụ huynh tích cực phối hợp với giáo viên và nhà trường chăm sóc giáo dục trẻ an toàn.

(Hình ảnh: Giáo viên trao đổi với phụ huynh về phòng tránh tai nạn thương tích)

Chỉ đạo gửi phiếu đánh giá kết hợp cùng phụ huynh đánh giá kĩ năng tự bảo vệ bản thân của trẻ. Phụ huynh cần được chia sẻ về phương pháp tác động cũng như phương pháp đánh giá mức độ kỹ năng của trẻ.

Tổ chức công tác tuyên truyền với phụ huynh và nhân dân để nâng cao được tầm quan trọng trong công tác phòng, chống tai nạn thương tích cho trẻ mầm non. Ban giám hiệu nhà trường đã xây dựng nội dung tuyên truyền qua hệ thống loa đài truyền thanh của các tổ thôn, làm rõ vai trò của việc phòng, chống tai nạn thương tích cho trẻ, các nhiệm vụ trọng tâm, chương trình phòng chống, tai nạn thương tích do Bộ y tế cung cấp và hướng dẫn cách xử lý chia sẻ đến giáo viên và cha me học sinh.

Tôi cũng tham mưu với đồng chí Hiệu trưởng nhà trưởng tổ chức buổi tọa đàm với phụ huynh và giáo viên về các nguy cơ mà trẻ sẽ gặp phải trong môi trường xã hội hiện nay. Giáo viên đưa ra các nội dung, biện pháp hướng dẫn, những nội dung tuyên truyền giúp các bậc cha mẹ thực hiện dạy trẻ các kỹ năng tự bảo vệ bản thân cần thiết nhất.

Kết quả: Qua các nội dung tuyên truyền như vậy, phụ huynh đã nghiêm chỉnh chấp hành các nội quy quy định của lớp, của nhà trường như dừng đỗ xe theo quy định dưới sự hướng dẫn của bảo vệ, không đi xe vào khu vực trường, không cho

39

trẻ mang đồ chơi hoặc vật dụng không an toàn đến lớp…, có những hiểu biết về kỹ năng phòng, chống tai nạn thương tích cho trẻ, có thể dạy trẻ và tự phòng, chống cho bản thân mình và cho gia đình. Nhờ các biện pháp trên nhà trường đã được phụ huynh ngày càng tin tưởng. Đa số phụ huynh trên đại bàn đã nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục mầm non nói chung và việc xây dựng trường học an toàn, phòng chống tai nạn thương tích, giáo dục kỹ năng tự bảo vệ, kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ nói riêng. Phụ huynh đã có thêm kinh nghiệm để trang bị cho con những kiến thức, kỹ năng cần thiết nhất để giúp trẻ an toàn, chủ động hơn. Những chuyển biến tích cực trong nhận thức và sự phối hợp chặt chẽ của phụ huynh đã tạo điều kiện cho tôi nâng cao hiệu quả của công tác đảm bảo an toàn, phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ.

(Hình ảnh: Phụ huynh ủng hộ nguyên vật liệu xây dựng môi trường giáo dục xanh, an toàn phống tai nạn thương tích)

IV. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN Qua một năm áp dụng các biện pháp “Chỉ đạo giáo viên thực hiện tốt công tác phòng, chống tai nạn thương tích cho trẻ trong trường mầm non” cùng với sự nỗ lực phấn đấu của tập thể cán bộ, giáo viên trong trường, tôi đã thu được một số kết quả tốt, rất khả quan. Các biện pháp có tính lan toả tới các đồng nghiệp, đã được triển khai, áp dụng tại nhà trường đạt hiệu quả cao. Kết quả cụ thể như sau:

1. Hiệu quả về mặt kinh tế: Các biện pháp chỉ đạo giáo viên thực hiện tốt công tác phòng, chống tai nạn thương tích cho trẻ trong trường mầm non là giải pháp hiệu quả góp phần xây dựng môi trường giáo dục an toàn cho trẻ tại nhà trường, sẽ làm giảm chi phí bổ sung các trang thiết bị phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ, phòng chống cháy nổ, phòng cháy chữa cháy trong nhà trường. Đặc biệt, sẽ giảm chi phí dành cho công tác bồi dưỡng nâng cao kiến thức, kỹ năng về phòng tránh tai nạn thương tích cho đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường, nhất là chi phí dành cho việc xây dựng môi trường lớp học xanh, an toàn, hạnh phúc đã được triển khai hiệu quả tại 20 lớp trong trường với kinh phí thấp nhờ sự huy động sức sáng tạo cũng như nguồn lực từ cán bộ, giáo viên, nhân viên trong trường, phụ huynh cũng như nhân dân trên địa bàn đã đóng góp chậu hoa, cây cảnh, cây ăn quả, đồ dùng, phương tiện, nguyên vật liệu phục vụ xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp, an toàn và hạnh phúc cho trẻ.

Nhà trường đã thực hiện hiệu quả môi trường giáo dục bám sát chủ đề năm học “Xây dựng trường mầm non xanh – an toàn – hạnh phúc” đảm bảo an toàn phòng chống tai nạn thương tích, giảm thiểu tới mức thấp nhất nguy cơ tai nạn

40

thương tích trong trường học với chi phí thấp, cuối năm học không xảy ra sự cố đáng tiếc nào. Môi trường nhà trường được Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Thanh Trì cùng các trường trên địa bàn huyện đánh giá cao qua chuyên đề kiến tập cấp huyện, Hội thi “Giáo viên dạy giỏi” cấp huyện.

Nhà trường đã tổ chức thành công chuyên đề “Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn cứu hộ trong các cơ sở giáo dục mầm non cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên” mà phòng Giáo dục và Đào tạo huyện giao.

Tổ chức hiệu quả việc lồng ghép giáo dục sức khỏe vào các hoạt động của nhà trường, tạo điều kiện cho trẻ nâng cao nhận thức trong việc tự chăm sóc sức khỏe, từng bước nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ trong nhà trường.

Thực hiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh, kịp thời phòng ngừa, tránh lây lan dịch bệnh. Nâng cao hiệu quả công tác truyền thông đến phụ huynh về dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm, phòng chống tai nạn thương tích.

Nhà trường đã tổ chức tốt các hoạt động ngoại khóa cho trẻ được trải nghiệm, khám phá, hình thành các kỹ năng sống cho trẻ đảm bảo an toàn. Vì vậy, các tiêu chí trong bảng kiểm xây dựng trường học an toàn, phòng, chống tai nạn thương tích cho trẻ đều đạt, nhà trường được công nhận là “Trường học an toàn, phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ”.

2. Hiệu quả về mặt xã hội: Việc đảm bảo an toàn, phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu ở trong các cơ sở giáo dục mầm non góp phần đảm bảo sự an toàn tuyệt đối về thể chất cũng như tinh thần cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi. Các biện pháp đưa ra nhằm hạn chế tối đa những tai nạn, rủi ro đáng tiếc xảy ra với trẻ cung cấp kiến thức, kỹ năng cần thiết cho trẻ tự phòng tránh, bảo vệ bản thân trước nguy cơ không an toàn. Bên cạnh đó, nâng cao ý thức trách nhiệm, kiến thức, kỹ năng phòng tránh và xử lý tai nạn thương tích xảy ra với trẻ cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên cũng như cha mẹ trẻ trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ ở lớp, ở nhà. Tạo dựng niềm tin, sự an tâm và hài lòng của cha mẹ đối với chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ trong nhà trường nói riêng cũng như sự tin tưởng, yên tâm đối với chất lượng giáo dục phát triển toàn diện trẻ mầm non nói chung. Từ đó, sẽ mang lại niềm vui, hạnh phúc cho mỗi gia đình, nhà trường và toàn xã hội.

* Đối với đội ngũ cán bộ, giáo viên: 100% cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường luôn phấn đấu học tập, rèn luyện kỹ năng chuyên môn để ngôi trường trở thành nơi học tập, vui chơi an

41

toàn nhất cho trẻ; nghiêm túc thực hiện kế hoạch xây dựng trường học an toàn, phòng, chống tai nạn thương tích cho trẻ trong năm học đạt kết quả tốt.

100% cán bộ giáo viên đã nắm được các nội dung về phòng chống tai nạn thương tích, nội dung giáo dục trẻ kỹ năng tự bảo vệ, xử lý các tai nạn thương tích thường gặp ở trường, ở lớp.

100% giáo viên trong trường đã nâng cao nhận thức của mình về vấn đề giáo dục trẻ nhận biết, phòng tránh nguy cơ không an toàn, giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ và đã lập kế hoạch giáo dục phù hợp với lứa tuổi của trẻ như 20/20 lớp đều xây dựng môi trường lớp học xanh, an toàn, hạnh phúc, có đầy đủ bảng tuyên truyền về các nguy cơ không an toàn phòng tránh tai nạn thương tích; 95% trở lên giáo viên đưa các nội dung phòng chống tai nạn thương tích, kỹ năng tự bảo vệ bản thân vào dạy trẻ một cách linh hoạt, hiệu quả.

100% giáo viên nắm vững các kiến thức, kỹ năng sơ cứu và xử lý ban đầu

với những tai nạn thương tích thường gặp với trẻ.

Tổ chức hiệu quả việc lồng ghép giáo dục sức khỏe vào các hoạt động của nhà trường, tạo điều kiện cho trẻ nâng cao nhận thức trong việc tự chăm sóc sức khỏe, từng bước nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ trong nhà trường.

Giáo viên đã tổ chức được nhiều hoạt động ngoại khóa cho trẻ được trải

nghiệm. Giáo viên đã có kinh nghiệm khi tổ chức các hoạt động ngoại khóa.

Biểu đồ thể hiện kết quả so sánh các tiêu chí về kiến thức và cách xử lý

tai nạn xảy ra với trẻ của giáo viên đầu năm so với cuối năm

42

Với biểu đồ so sánh đối chiếu giữa đầu năm và cuối năm này, tôi thấy kiến thức, kỹ năng của đội ngũ giáo viên ở tất cả các tiêu chí khảo sát về nội dung phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ đều tăng lên rõ rệt, tỷ lệ đạt rất cao.

* Đối với học sinh: 100% học sinh trong trường được đảm bảo an toàn cả về thể chất lẫn tinh thần, trong năm học không có trường hợp tai nạn đáng tiếc nào xảy ra với trẻ ở lớp, ở trường, trẻ được thoải mái vui chơi hoạt động theo sở thích, theo nhu cầu của trẻ. Trẻ mạnh dạn, tích cực chủ động tham gia hoạt động.

90% trở lên trẻ nhận biết được các đồ vật, địa điểm nguy hiểm có thể gây

tai nạn thương tích.

88% trẻ nhận biết được hành động nguy hiểm và biết cách tránh xa các vật

nguy hiểm.

75% trở lên trẻ nhận biết được số điện thoại khẩn cấp, nói được số điện thoại của bố mẹ. Trẻ bình tĩnh, tự tin biết tìm kiếm gọi sự giúp đỡ của người lớn trong các trường hợp nguy hiểm với bản thân.

Trẻ có kỹ năng tự bảo vệ bản thân, biết cách cách xử lý tình huống khi

trong lớp hoặc ở nhà bất ngờ có cháy xảy ra, khi bị ngã, bị lạc, chảy máu.

Biểu đồ thể hiện kết quả về nhận biết các nguy cơ không an toàn và kỹ

năng tự bảo vệ của trẻ đầu năm so với cuối năm

43

Qua biểu đồ so sánh kết quả về kiến thức và kỹ năng của của trẻ đầu năm so với cuối năm, tôi nhận thấy trẻ có sự tiến bộ rõ rệt, tỷ lệ trẻ đạt ở các nội dung, tiêu chí trong bảng khảo sát đều cao cho thấy hiệu quả cao của các biện pháp áp dụng trong sáng kiến phù hợp với thực tiễn nhà trường và khả năng của trẻ.

* Đối với phụ huynh: Thông qua các hội thi, các buổi tuyên truyền, phụ huynh đã phần nào hiểu được ý nghĩa của việc phối kết hợp với nhà trường trong công tác đảm bảo an toàn phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ. Từ đó, phụ huynh thường xuyên, tích cực, chủ động tham gia vào các hoạt động phối hợp với giáo viên, với nhà trường trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục trẻ. Tích cực ủng hộ chậu hoa, cây cảnh, cây ăn quả cũng như một số đồ dùng, nguyên vật liệu, đóng góp ý kiến tích cực cùng với tập thể nhà trường xây dựng “Trường mầm non xanh, an toàn, hạnh phúc” là nơi nuôi dưỡng tâm hồn, cảm xúc yêu thương tích cực, an toàn cho trẻ để mỗi ngày đến trường là một ngày vui.

* Đối với bản thân: Bản thân đúc rút, có thêm nhiều kinh nghiệm trong công tác quản lý chỉ đạo các hoạt động chuyên môn trong nhà trường đặc biệt là công tác chỉ đạo giáo viên thực hiện tốt công tác phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ tại trường cũng như nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ tạo nên thương hiệu riêng “Trường học an toàn - hạnh phúc - Nơi ươm mầm nhân cách trẻ thơ” của nhà trường.

Luôn quan tâm, giúp đỡ các đồng chí giáo viên hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Tạo điều kiện cho giáo viên tự bồi dưỡng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng tổ chức hoạt động giáo dục trẻ ứng dụng phương pháp giáo dục tiên tiến trong xây dựng môi trường giáo dục hiện đại, tổ chức hoạt động giáo dục theo đổi mới chú trọng đến giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng tự phục vụ và kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ của nhà trường, đáp yêu cầu đổi mới giáo dục mầm non hiện nay.

44

C. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

I. KẾT LUẬN Việc chỉ đạo giáo viên, nhân viên xây dựng trường học an toàn, phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ là một vấn đề hết sức cần thiết trong trường mầm non, đã góp phần giảm thiểu tai nạn thương tích cho trẻ, giúp giáo viên có được kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm cần thiết trong chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ. Bên cạnh đó, trẻ cũng có những kiến thức, kỹ năng cơ bản cần thiết để tự phòng tránh tai nạn thương tích cho chính bản thân mình.

Như vây, qua một năm thực hiện “Biện pháp chỉ đạo giáo viên thực hiện tốt công tác phòng tránh tại nạn thương tích cho trẻ trong trường mầm non” tôi nhận thấy kết quả có sự thay đổi rõ rệt từ đội ngũ giáo viên, nhân viên đến phụ huynh đặc biệt là trẻ. Giáo viên nắm chắc phương pháp, được trang bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng về phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ. Môi trường trong và ngoài lớp luôn đảm bảo an toàn tuyệt đối. 100% trẻ toàn trường không gặp phải những tai nạn thương tích đáng tiếc. Đồng thời phụ huynh đã có nhận thức đúng đắn, sâu sắc hơn về cách phòng tránh tai nạn thương tích và rất tích cực trong việc phối hợp cùng giáo viên nhằm đảm bảo an toàn tuyệt đối cho trẻ mọi lúc mọi nơi. Nâng cao ý thức của phụ huynh hơn trong công tác phòng tránh tai nạn thương tích cho con em mình, cùng nhà trường xây dựng môi trường nhà trường an toàn, vui vẻ, hạnh phúc, tạo điều kiện cho cô và trẻ trong mọi hoạt động góp phần thực hiện tốt công tác phối hợp giữa gia đình và nhà trường nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ mầm non hiện nay theo định hướng phát triển toàn diện.

Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện đề tài, dựa trên những kết quả đã

đạt được tôi đã rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:

Nhà trường phải chỉ đạo thường xuyên, kiểm tra việc thực hiện để đánh giá chính xác, thực chất việc phòng chống tai nạn thương tích, giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ trong trường, biểu dương kịp thời những tiến bộ của giáo viên. Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên có kiến thức, kỹ năng và nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng trong công tác đảm bảo an toàn phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ.

Chỉ đạo, hướng dẫn giáo viên thực hiện tốt các mục tiêu đề ra, hiểu biết về đặc điểm tâm sinh của trẻ để lựa chọn nội dung lồng ghép giáo dục kỹ năng tự bảo vệ, phòng tránh tai nạn thương tích vụ phù hợp với lứa tuổi, tận dụng hiệu quả các tình huống thực tiến, trò chơi trải nghiệm để khuyến khích trẻ tích cực tham gia. Tăng cường ứng dụng công nghệ trong việc tuyên truyền, phối hợp với gia đình giáo dục trẻ kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ đạt hiệu quả cao.

45

Tạo điều kiện cho trẻ được quan sát, tiếp xúc thế giới xung quanh, môi trường xã hội gần gũi, được trải nghiệm những kỹ năng tự bảo vệ bản thân đã học. Trẻ được tăng cường rèn luyện kỹ năng tự bảo vệ ở lớp và ở nhà.

Làm tốt công tác truyền thông, phối hợp chặt chẽ với phụ huynh để có sự thống nhất trong việc giáo dục trẻ cũng như phòng tránh tai nạn thương tích đáng tiếc có thể xảy ra với trẻ. II. KHUYẾN NGHỊ Đảm bảo an toàn phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ tại trường mầm non là việc làm không khó xong đòi hỏi phải có sự phối hợp, chỉ đạo sát sao của các cấp lãnh đạo, các ban ngành đoàn thể trong nhà trường.

Các cấp lãnh đạo ngành Giáo dục và Đào tạo: Tăng cường tổ chức các lớp tập huấn về kiến thức, kỹ năng phòng chống và cách xử lý tai nạn thương tích; Cung cấp thêm cho các trường mầm non các phương tiện và tài liệu về giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ.

Trên đây là “Biện pháp chỉ đạo giáo viên thực hiện tốt công tác phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ trong trường mầm non” của bản thân tôi đã được áp dụng lần đầu và đạt hiệu quả cao tại trường Mầm non Tả Thanh Oai B. Các biện pháp có tính lan toả tới đồng nghiệp cũng như các trường trên địa bàn huyện và có khả năng áp dụng trong phạm vi toàn ngành. Đề tài đã khẳng định một số vấn đề có tính khoa học và thực tiễn, song không thể tránh khỏi một số hạn chế và thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự góp ý, bổ sung của các cấp lãnh đạo, các chị em đồng nghiệp để bản sáng kiến kinh nghiệm của tôi được hoàn thiện hơn để tiếp tục phát huy vào công tác phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ trong trường mầm non huyện Thanh Trì nói chung và trường mầm non Tả Thanh Oai B nói riêng.

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Thanh Trì, ngày 18 tháng 4 năm 2023 Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh nghiệm của tôi viết, không sao chép nội dung của người khác.

Người viết Nguyễn Thị Tình

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Quyết định số 197/2001/QĐ-TTG Ngày 27 tháng 12 năm 2001 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt chính sách quốc gia, phòng chống tai nạn, thương tích giai đoạn 2002 – 2010.

2. Thông tư số 51 /2021/TT- BGDĐT ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về xây dựng trường học an toàn, phòng chống tai nạn thương tích trong trường mầm non.

3. TS. Lê Thu Hương-TS. Trần Thị Ngọc Trâm-PGS.TS. Lê Thị Ánh Tuyết (2020). Sách Chương trình giáo dục mầm non, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, in tái bản lần III.

4. TS. Lê Thu Hương-TS. Trần Thị Ngọc Trâm-PGS.TS. Lê Thị Ánh Tuyết (2020). Sách Hướng dẫn tổ chức thực hiện chương trình giáo dục mầm non nhà trẻ (3-36 tháng tuổi), mẫu giáo bé (3-4 tuổi), mẫu giáo nhỡ (4-5 tuổi), mẫu giáo lớn (5-6 tuổi), Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.

5. Trịnh Dân, Nguyễn Thị Hòa, Đinh Văn Vang (2008). Sách Giáo dục học

mầm non, tập 1, tập 2 do Đào Thanh Âm (chủ biên), NXB Đại học sư phạm.

6. Nguyễn Ánh Tuyết (Chủ biên), Nguyễn Thị Như Mai, Đinh Thị Kim Thoa (2021). Sách Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non, NXB Đại học sư phạm. 7. Bạch Băng (2011). Sách tuyển tập “Những câu chuyện vàng về khả năng

tự bảo vệ mình”, NXB Kim Đồng.

8. Lê Xuân Hồng (2000). Sách Phát triển những kỹ năng cần thiết cho trẻ

mầm non của Lê Xuân Hồng, NXB Giáo dục.

9. Vũ Thị Ngọc Minh, Nguyễn Thị Nga (2013). Sách Giúp bé có kỹ năng

biết và phòng tránh một số nguy cơ không an toàn, NXB Dân Trí.

10. Vũ Tuấn Anh (2021). Sách Cẩm nang an toàn cho bé, Nhà xuất bản

Thế giới và Nhã Nam.

11. Lưu Đào (2017). Bộ sách “Bố mẹ yên tâm, con an toàn”: Sách “Dạy trẻ

tránh nguy hiểm”, Sách “Dạy trẻ tự bảo vệ”, Nhà xuất bản Thanh Niên.

12. Đậu Đậu, Minh Thuý dịch (2020). Sách Rèn kỹ năng an toàn và tự vệ

cho trẻ, NXB Mỹ Thuật.

13. Bộ Giáo dục (2020). Sách hướng dẫn tích hợp nội dung phòng, chống bạo lực học đường vào chương trình chăm sóc, giáo dục trẻ trong các cơ sở Giáo dục mầm non, NXB Giáo dục Việt Nam.

14. Tăng Bình - Ái Phương (2020), Tài liệu kiến thức phòng cháy chữa cháy trong trường học và kỹ năng phòng cháy chữa cháy, thoát nạn khi gặp các sự cố xảy ra, NXB Hồng Đức.

15. Nguyễn Minh Khương (2018), Sách kĩ năng thoát nạn từ một số sự cố

thường gặp, NXB Lao Động

CÁC MINH CHỨNG CỦA SÁNG KIẾN Phụ lục I Phiếu điều tra giáo viên về kiến thức phòng chống tai nạn thương tích, giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ

Câu 1: Cô hãy liệt kê các nguy cơ có thể gây mất an toàn cho trẻ khi trẻ

chơi khu vực quanh trường? ……………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………. Câu 2: Cô hãy liệt kê các nguy cơ có thể gây mất an toàn cho trẻ khi trẻ

tham gia các hoạt động trong lớp? ……………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………. Câu 3: Cô hãy đưa ra một tình huống khi trẻ bị tai nạn thương tích tại

trường và cách xử lý của cô? ……………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………. Câu 4: Các cô ở lớp đã tuyên truyền phụ huynh cách phòng tránh TNTT

cho trẻ những nguy cơ nào có thể xảy ra khi trẻ ở nhà? Các cô hãy liệt kê. ……………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………. Câu 5: Khi cô giáo đưa ra một số tình huống có thể xảy ra với trẻ trong lớp thì bao nhiêu % trẻ trong lớp biết cách xử lý tình huống, gọi sự trợ giúp từ người lớn? ……………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………. Câu 6: Bao nhiêu % trẻ trong lớp biết cách xử lý tình huống khi trong lớp

hoặc ở nhà của con bất ngờ có một đám cháy, con phải làm gì? ……………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………….

Câu 7: Bao nhiêu % trẻ trong lớp biết các đồ dùng đồ chơi trong lớp gây

tai nạn thương tích ……………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………. Câu 8: Cô điều tra trong lớp cô đang dạy có bao nhiêu trẻ biết số điện thoại

để báo Công An, xe cứu hỏa, xe cứu thương? ……………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………. Câu 9: Cô hãy lập kế hoạch cụ thể theo từng tháng về giáo dục trẻ các kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ lứa tuổi của trẻ mà cô đang phụ trách? ……………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………. Câu 10: Đồng chí hãy cho biết vai trò của công tác phối hợp với phụ huynh trong giáo dục phòng chống tai nạn thương tích, giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ? Hiệu quả công tác phối hợp với phụ huynh của lớp đồng chí phụ trách. ……………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………….

Phụ lục II

1. Phiếu điều tra, phỏng vấn và thăm dò ý kiến trẻ Câu 1: Con hãy quan sát các hình ảnh sau đây và cho biết những đồ vật

nào con không nên chơi. Vì sao?

………………………………………………………………………………

Câu 2: Con hãy quan sát các hình ảnh sau đây và cho biết những nơi nào

con không nên chơi. Vì sao?

………………………………………………………………………………

Câu 3: Con sẽ làm gì nếu có người lạ dụ dỗ đưa con đi chơi, mua quà con

thích thậm chí là dọa con?

Câu 4: Con có thể thực hiện vài động tác phòng vệ đơn giản khi bị người

khác tấn công không?

……………………………………………………………………………….

Câu 5: Con đã biết tự mình đội và tháo mũ bảo hiểm chưa? Theo con khi

nào thì mình cần phải đội mũ bảo hiểm? Vì sao?

……………………………………………………………………………….

Câu 6: Khi trong lớp hoặc ở nhà của con bất ngờ có một đám cháy, con

phải làm gì? ……………………………………………………………………………………

Câu 7: Nếu đi siêu thị (chợ) hoặc nhà sách, công viên, bến xe, du lịch với

bố mẹ, không may con bị lạc thì con sẽ làm gì?

…………………………………………………………………………… Câu8: Con hãy cho biết địa chỉ nhà con?

…………………………………………………………………………………..

Câu 9: Con hãy cho biết số điện thoại của bố hoặc mẹ con?

…...……………………………………………………………………………….. Câu 10: Con hãy cho biết số điện thoại để báo Công An, xe cứu hỏa, xe

cứu thương?

Câu 11: Nếu hôm nay người đến đón con lúc tan học là một người lạ mà con không quen biết nhưng họ nói là bạn của bố mẹ con, con có đồng ý về cùng họ không? …………………………………………………………………………………

Câu12: Nếu có một người mà con không quen cho con đồ chơi hoặc kẹo

bánh, nước uống, con sẽ làm gì?

Câu 13: Nếu có người lạ rủ con đi chơi với họ, con có đi không? Con sẽ trả

lời với họ như thế nào?

……………………………………………………………………………….

.

Câu 14: Con có biết các biển báo sau có ý nghĩa gì không? (biển báo lối

thoát hiểm, chỗ nguy hiểm như trụ điện, cột điện, trạm xăng dầu cấm lửa...)

Câu 15: Con có biết những hành vi như: ôm, hôn sờ mó vào vùng kín của con khi con chưa đồng ý là hành vi gì không? Nếu có người nào đó làm những hành vi như vậy với con, con sẽ làm gì? Vì sao con làm như vậy? ……………………………………………………………………………………

2. Phiếu thăm dò ý kiến phụ huynh về kiến thức, kỹ năng tự bảo vệ

phòng chống tai nạn thương tích của trẻ

Mức độ đạt được

STT Nội dung làm

Thường xuyên được Chưa thường xuyên làm được

21 Kỹ năng ứng phó với người lạ: Biết không bắt chuyện, nhận quà; đi theo người lạ khi chưa được người thân cho phép.

22

33

44

Kỹ năng tìm kiếm sự giúp đỡ phù hợp: Biết kêu cứu khi bản thân gặp hay người khác gặp khó khăn; thuộc các số điện thoại khẩn cấp như: 113, 114, 115; thuộc số điện thoại của người thân như bố, mẹ ông, bà. Kỹ năng ứng phó với những tình huống bất ngờ: Biết bình tĩnh khi gặp khó khăn; biết 1 số động tác phòng vệ khi bị tấn công. Kỹ năng tránh xâm hại cơ thể: Biết các vùng riêng tư trên cơ thể, không cho người khác chạm vào vùng riêng tư, kêu cứu và bỏ chạy khi người khác có ý định xấu, …

55 Kỹ năng an toàn khi tham gia giao thông: Biết ngồi trên xe ngay ngắn, đội mũ bảo hiểm khi ngồi sau xe máy, xe đạp điện; đi bên phải và trên vỉa hè, biết một số biển báo. 66 Kỹ năng an toàn khi tự chơi: Không ra đường một mình, không chơi cạnh nơi nguy hiểm như lòng đường, sông, ao hồ; không chơi trong bếp; tránh xa các vật dụng nguy hiểm như dao, kéo… không leo trèo cao…

77 Kỹ năng an toàn khi tiếp xúc với các hóa chất: Biết không chơi với thuốc; không nghịch xăng, dầu; chỉ uống thuốc khi có sự đồng ý của người thân.

88 Biết chia sẻ với người thân về suy nghĩ và

những vấn đề mà trẻ đã gặp phải.

Phụ lục III CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Tả Thanh Oai, ngày 06 tháng 9 năm 2022 UBND HUYỆN THANH TRÌ TRƯỜNG MN TẢ THANH OAI B Số: /KH-MNTTOB

KẾ HOẠCH XÂY DỰNG TRƯỜNG HỌC AN TOÀN – PHÒNG, CHỐNG TAI NẠN THƯƠNG TÍCH NĂM HỌC 2022-2023

Căn cứ thông tư liên tịch số 22/TTLT-BGDĐT-BYT ngày 18 tháng 6 năm

2013 quy định đánh giá công tác y tế tại các cơ sở mầm non.

Căn cứ Thông tư số 13/2010/TT-BGDĐT ngày 15 tháng 4 năm 2010 của Bộ Giáo dục và Đạo tạo và Thông tư số 45 2021/TT-BGDĐT ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Bộ Giáo dục và Đạo tạo ban hành Quy định về xây dựng trường học an toàn, phòng, chống tai nạn, thương tích trong cơ sở giáo dục mầm non;

Thực hiện Quyết định số 1248/QĐ-TTg ngày 19 tháng 7 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phòng, chống tai nạn, thương tích trẻ em giai đoạn 2021-2030;

Căn cứ kế hoạch số 170/KH-PGD&ĐT ngày 28/03/2022 của UBND huyện Thanh Trì về việc triển khai công tác phòng, chống tai nạn thương tích, đuối nước với trẻ em, học sinh ngành Giáo dục và đào tạo huyện Thanh Trì năm 2022;

Thực hiện Kế hoạch số 226/KH-UBND ngày 8/10/2021 của UBND thành phố Hà Nội về việc thực hiện Chương trình phòng, chống tai nạn, thương tích trẻ em trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2021 - 2030;

Thực hiện Kế hoạch số 680/KH-PGD&ĐT ngày 5/11/2021 của Phòng giáo dục và Đào tạo huyện Thanh Trì về việc thực hiện Chương trình phòng, chống tai nạn, thương tích trẻ em ngành Giáo dục Đào tạo huyện Thanh Trì giai đoạn 2021 – 2030;

Căn cứ tình hình thực tế. Ban chỉ đạo trường học an toàn phòng, chống tai nạn trương tích trường mầm non Tả Thanh Oai B xây dựng Kế hoạch trường học an toàn phòng, chống tai nạn thương tích năm học 2022-2023 cụ thể như sau:

I. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH Tả Thanh Oai là một xã ven đô thuộc huyện Thanh Trì, đang trong giai đoạn đô thị hóa. Địa bàn xã có 02 trường mầm non công lập, 03 trường mầm

non tư thục và 21 nhóm trẻ độc lập tư thục đã được cấp phép hoạt động đúng quy định.

1. Quy mô phát triển nhà trường: * Học sinh: - Tổng số có 1148 trẻ từ 0-5 tuổi điều tra theo phân tuyến tuyển sinh (học sinh 5 tuổi thôn Tả Thanh Oai, thôn Nhân Hòa, thôn Thượng Phúc, Thôn Siêu Quần). Năm học 2022 - 2023 được giao 685 trẻ. Tính đến tháng 9/2022 trường có 20 lớp với 590 trẻ. (Trong đó: Trẻ Nhà trẻ 24 - 36 tháng = 72 trẻ, mẫu giáo 3 - 4 tuổi = 145 trẻ; mẫu giáo 4 - 5 tuổi = 178 trẻ; Riêng trẻ MGL 5 tuổi: 195 trẻ).

* Cán bộ giáo viên, nhân viên:

BGH Giáo viên Nhân viên khác TS

Nhân viên nuôi dưỡng BC BC 10 0 15.4 0 BC 3 4.6 HĐ 0 0 BC 46 71 HĐ 0 0 HĐ 5 7.5 BC 1 1.5

65 100% * Cơ sở vật chất: - Trường có 03 cơ sở với đủ các trang thiết bị phục vụ công tác chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ. Cơ sở vật chất khang trang, sạch đẹp. Có hệ thống tường rào bao quanh kiên cố, có hệ thống camera an ninh đảm bảo tốt công tác an ninh, an toàn trường học.

- Tổng số lớp học: 20 lớp (17 lớp mẫu giáo và 3 lớp nhà trẻ) - Sân trường rộng rãi, thoáng mát, sạch sẽ, không trơn trượt, đảm bảo an

toàn tuyệt đối cho trẻ khi tham gia các hoạt động ở trường, ở lớp.

2. Thuận lợi: - Được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Huyện ủy, UBND huyện, phòng GD&ĐT huyện Thanh Trì; Đảng uỷ, HĐND, Ủy ban nhân dân, các ban ngành trong xã.

- Nhà trường có cơ sở vật chất khang trang, có hệ thống nhà bếp, các phòng chức năng, các khu vui chơi được thiết kế kiên cố, có hệ thống phòng cháy chữa cháy theo đúng quy chuẩn với đầy đủ đồ dùng trang thiết bị, phương án, kế hoạch phòng cháy chữa cháy đã được phê duyệt phù hợp điều kiện của nhà trường.

- Có 3 phòng y tế riêng biệt tại 3 cơ sở đảm bảo theo chuẩn với những trang

thiết bị đồng bộ, hiện đại và có đầy đủ danh mục thuốc theo qui định.

- 100% lớp học khang trang, sạch đẹp, có hiên chơi, phòng để đồ, diện tích đảm bảo số trẻ/ lớp, có hiên chơi, nhà vệ sinh khép kín sạch sẽ đúng quy định,

có đầy đủ trang thiết bị hiện đại kết nối internet, đồ dùng, đồ chơi tối thiểu theo thông tư 01 phục vụ công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ đáp ứng yêu cầu giáo dục mầm non trong giai đoạn hiện nay.

- 100% cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường có trình độ đạt chuẩn và 91.3% giáo viên đạt trình độ trên chuẩn. Ban giám hiệu luôn đoàn kết thống nhất trong quản lý, chỉ đạo hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ. Đội ngũ giáo viên trẻ, nhiệt tình, tâm huyết, yêu nghề, mến trẻ, đổi mới sáng tạo trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ, có tinh thần ham học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn, luôn nhận thức rõ phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ trong trường mầm non là nhiệm vụ cấp thiết.

b. Khó khăn: - Trường có 3 cơ sở cách xa nhau 2-3 km nên khó khăn trong công tác tập

huấn, bồi dưỡng chuyên đề tập trung về phòng chống tai nạn thương tích.

- Trường không có cán bộ y tế chuyên trách cho nên việc quản lý, chỉ đạo giáo viên, nhân viên xây dựng trường học an toàn phòng chống tai nạn thương tích còn gặp một số khó khăn.

- Trẻ sức đề kháng còn yếu, chưa nhận thức được việc phòng tránh tai nạn thương tích nên chưa có kỹ năng tự vệ bản thân khi có tình huống xảy ra nên nguy cơ dẫn đến tai nạn thương tích rất cao.

- Địa bàn dân cư đông, đa số phụ huynh làm nông nghiệp, bán hàng, làm nghề tự do nên ít có thời gian quan tâm đến con, hay để trẻ chơi tự do, chưa chú ý rèn kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng sống, kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ.

II. MỤC TIÊU 1. Mục tiêu chung - Nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, giáo viên, nhân viên và phụ huynh học sinh, từ đó thay đổi hành vi nếp sống phù hợp để hạn chế những tai nạn thương tích ( TNTT ) chú trọng phòng chống tai nạn giao thông, bạo lực, đuối nước giảm tối đa tỉ lệ TNTT trong và ngoài trường;

- Xây dựng kế hoạch thực hiện trường học an toàn, phòng, chống tai nạn

thương tích tại trường mầm non Tả Thanh Oai B.

2. Mục tiêu cụ thể - Đảm bảo 100% cán bộ, giáo viên, nhân viên tại trường được tập huấn kiến thức và kỹ năng PC TNTT. Giảm tỷ lệ TNTT trong học đường thực hiện PC TNTT xây dựng trường học an toàn.

- 100% trẻ được ăn ngủ bán trú tại trường được đảm bảo an toàn tuyệt đối về thể chất và tinh thần. Không xảy ra tai nạn thương tích, không xảy ra ngộ độc

thực phẩm (đặc biệt chú ý phòng chống các tại nạn đối với trẻ như: tai nạn giao thông, hóc, sặc, bỏng, giật điện, dịch bệnh...)

- Xây dựng môi trường nhà trường “Xanh, an toàn, hạnh phúc – Phòng

chống tai nạn thương tích” theo hướng hiện đại đảm bảo “Xanh - Sạch - Đẹp”.

III. NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG 1. Công tác tổ chức, chỉ đạo - Kiện toàn Ban chỉ đạo trường học an toàn phòng, chống TNTT trong

trường với đầy đủ các thành phần.

- Tiếp tục kiện toàn và nâng cao chất lượng điều hành, năng lực chỉ đạo triển khai hoạt động phòng, chống TNTT của ban chỉ đạo trường Mầm non Tả Thanh Oai B.

- Xây dựng và thực hiện kế hoạch hoạt động phòng, chống TNTT năm học

2022 -2023 báo cáo kết quả về trạm y tế xã Tả Thanh Oai.

- Kiểm tra rà soát trang thiết bị, cơ số thuốc và đề xuất mua sắm bổ sung trang thiết bị y tế, thuốc theo danh mục y tế quy định cần có ở trường mầm non, loại bỏ những vật tư y tế không còn hạn sử dụng tại 3 phòng y tế để sẵn sàng xử trí kịp thời với những tai nạn thương tích không may xảy ra trong nhà trường.

- Thực hiện các quy định có nội dung liên quan tới công tác phòng, chống TNTT, xây dựng trường học an toàn. Phối hợp triển khai công tác phòng, chống TNTT với công tác chăm sóc giáo dục trẻ của ngành.

- Xây dựng kế hoạch thực hiện chuyên đề “Phòng chống tai nạn thương tích” cấp huyện, chỉ đạo giáo viên các lớp xây dựng môi trường lớp học, môi trường bên ngoài thể hiện rõ nội dung phòng chống tai nạn thương tích, phòng cháy chữa cháy cho trẻ trong trường mầm non.

- Trực tiếp kiểm tra, giám sát việc thực hiện công tác phòng chống tai nạn thương tích, xây dựng lớp học xanh, an toàn, hạnh phúc trong từng lớp; Kiểm tra rà soát môi trường bên ngoài, các loại đồ chơi ngoài trời hỏng, các khu vui chơi gây mất an toàn cho trẻ, các trang thiết bị trong trường để sửa chữa kịp thời.

- Chỉ đạo giáo viên 20 lớp thường xuyên rà soát, loại bỏ đồ dùng đồ chơi gãy, hỏng,... không đảm bảo an toàn cho trẻ, tăng cường dự giờ, thăm lớp, kiểm tra giờ ăn, giờ ngủ và các hoạt động của trẻ/lớp.

- Cập nhật tài liệu, sách, báo, tranh, ảnh … phục vụ cho công tác tập huấn,

tuyên truyền chăm sóc giáo dục trẻ.

- Thực hiện sơ kết, tổng kết, báo cáo kết quả triển khai kế hoạch thực hiện phòng, chống TNTT. Theo dõi các trường hợp TNTT xảy ra, kịp thời chấn chỉnh rút kinh nghiệm trong trường.

2. Công tác tuyên truyền, giáo dục: - Tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giáo dục thường xuyên qua các phương tiện thông tin đại chúng, áp phích, khẩu hiệu tờ rơi…đặc biệt tuyên truyền qua các buổi đón trả trẻ tại các lớp, nhằm nâng cao nhận thức các bộ giáo viên, nhân viên, phụ huynh học sinh.

- Tăng cường tuyên truyền phòng, chống TNTT trong các đợt trọng điểm

như:

+ Tuần lễ quốc gia về an toàn vệ sinh an toàn thực phẩm. + Phòng chống cháy nổ. + Tháng hành động vì chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm. + Tháng hành động vì trẻ em, ngày sức khoẻ thế giới. - Duy trì và đẩy mạnh việc lồng ghép nội dung chăm sóc giáo dục phòng, chống TNTT, xây dựng trường học an toàn vào các hoạt động ngoài giờ lên lớp trong trường học.

- Phối hợp giữa nhà trường với chính quyền địa phương, các cơ quan thông tin truyền thông, ban đại diện cha mẹ học sinh trong việc tuyên truyền giáo dục trẻ kỹ năng phòng chống TNTT, kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ, xây dựng trường học xanh, an toàn, hạnh phúc gắn với mục tiêu “Trường học an toàn, phòng chống tai nạn thương tích”.

- Tổ chức thực hiện các hoạt động giao lưu phòng chống TNTT nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền giáo dục, khắc phục và hạn chế các tai nạn thương tích có thể xảy ra.

- Truyền thông giáo dục nâng cao nhận thức về xây dựng trường học an toàn phòng chống tai nạn thương tích, xây dựng “Trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm giai đoạn 2”, “Xây dựng trường mầm non xanh, an toàn, hạnh phúc”, xây dựng “Lớp học xanh, an toàn, hạnh phúc”, mô hình “Nhà vệ sinh thân thiện” thông qua trang website: http://mamnontathanhoaib.edu.vn; Fanpage của nhà trường, zalo, các góc tuyên truyền ở lớp và trường để phụ huynh nắm rõ mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường, lớp trong năm học cũng như kiến thức, kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ ở lớp, ở nhà.

Phối hợp với trạm y tế xã, vận động cha mẹ học sinh và học sinh tham gia tích cực tháng hành động vì trẻ em, tháng an toàn giao thông, hưởng ứng thực hiện tốt chương trình “Cổng trường văn minh, giao thông an toàn”, Chương trình tôi yêu Việt Nam qua ngày hội giao lưu “Chúng em với an toàn giao thông” tại các lớp, các khối trong nhà trường.

Huy động cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường tham gia các hoạt động can thiệp giảm thiểu nguy cơ tai nạn thương tích trong trường học, các

cuộc thi trực tuyến về tìm hiểu các vật gây nổ, hậu quả của bom mìn do chiến tranh để lại ở Việt Nam, Tìm hiểu an toàn giao thông,.. để nâng cao kiến thức, ý thức phòng chống tai nạn thương tích. 3. Công tác bồi dưỡng, tập huấn - Tiếp tục tổ chức tập huấn bồi dưỡng cho giáo viên, nhân viên, phụ huynh học sinh những kiến thức cơ bản, cách phòng, chống TNTT thông qua một số chuyên đề:

+ Giáo dục nâng cao phẩm chất đạo đức nhà giáo, chống xâm phạm nhân

phẩm và thân thể trẻ.

+ Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. + Sống thân thiện hoà nhập với cộng đồng. + Giáo dục an toàn giao thông, tiếp tục đẩy mạnh công tác chống ùn tắc giao thông trước cổng trường, phòng chống HIV/AIDS, phòng chống đuối nước, cháy nổ, điện giật.

+ Giáo dục trẻ các kỹ năng ứng phó với các tình huống nguy hiểm ( úng

ngập, sét đánh, lở đất….).

+ Cung cấp kịp thời cho cán bộ, giáo viên, nhân viên, trẻ các kiến thức cơ bản về các yếu tố, nguy cơ và cánh phòng, chống một số tai nạn thường gặp như: say nắng say nóng, dị vật đường thở, điện giật… đặc biệt quan tâm phòng chống các loại dịch bệnh sau thiên tai.

+ Phối hợp với trạm y tế xã Tả Thah Oai hướng dẫn cán bộ giáo viên, nhân

viên kỹ năng sơ cấp cứu một số tai nạn thương tích thường gặp trong trường.

- Xây dựng lịch trình tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng xử lý phòng chống tai nạn thương tích cho đội ngũ cán bộ, giáo viên của nhà trường, được lồng ghép qua buổi kiến tập cấp trường, tập huấn chuyên đề, bồi dưỡng qua sinh hoạt chuyên môn của tổ chuyên môn.

4. Công tác khảo sát, khắc phục các nguy cơ gây TNTT và xử lý TNT - Phối hợp với các cơ quan: công an, y tế, xây dựng tham mưu với chính quyền về công tác khảo sát nguy cơ TNTT trong và ngoài trường, phân tích, xác định rõ nguyên nhân dẫn đến các TNTT. Từ đó bổ xung những biện pháp phòng, chống TNTT có hiệu quả.

- Chủ động giám sát, phát hiện và có biện pháp khắc phục các nguy cơ gây TNTT, không để xảy ra tai nạn nghiêm trọng trong nhà trường, chủ động xây dựng phương án thoát hiểm đảm bảo an toàn cho cán bộ, giáo viên, nhân viên, trẻ khi xảy ra thiên tai, hỏa hoạn …. xử lý nhanh chóng kịp thời đúng quy định khi có TNTT.

- Hoàn thiện, củng cố phòng y tế nhà trường với cơ sở trang thiết bị, thuốc cấp cứu theo quy định để cấp cứu kịp thời khi cán bộ, giáo viên, học sinh bị TNTT.

- 100% đồ dùng, đồ chơi, dụng cụ, trang thiết bị của trẻ đảm bảo an toàn

tuyệt đối.

- Cải tạo môi trường học tập và sinh hoạt an toàn trong phòng, chống tai nạn thương tích; Rà soát các cây xanh, cây ăn quả cắt tỉa, chặt bớt cành cây xanh, cành khô trong sân trường trước mùa mưa bão để đảm bảo an toàn cho trẻ và giáo viên, nhân viên.

Khắc phục các nguy cơ thương tích trong trường học, tập trung ưu tiên các loại thương tích thường gặp: do ngã hóc sặc, ngộ độc thức ăn, vật sắc nhọn đâm cắt, xô đẩy nhau, đánh nhau, ngã bị trầy xước, chảy máu, tai nạn giao thông, bỏng, điện giật, cháy nổ.

Xây dựng quy định về phát hiện và xử lý tai nạn thương tích ở trường học,

có phương án khắc phục các yếu tố nguy cơ gây tai nạn.

Thiết lập hệ thống ghi chép theo dõi, giám sát và báo cáo xây dựng trường học an toàn phòng chống tai nạn thương tích, báo cáo kết quả xây dựng trường mầm non xanh, an toàn hạnh phúc và kết quả thực hiện chuyên đề phòng chống tai nạn thương tích cấp huyện. 5. Công tác kiểm tra: - Xây dựng lịch kiểm tra theo tuần, tháng, năm các nhóm lớp, bếp ăn, môi trường xung quanh trường về vệ sinh an toàn thực phẩm, cơ sở vật chất, vật liệu cháy nố nhằm kịp thời phát hiện, khắc phục những nguy cơ gây TNTT.

- Tự đánh giá các nội dung của bảng kiểm trường học an toàn, phòng chống tai nạn thương tích của nhà trường cuối năm học để đánh giá kết quả thực hiện tại các lớp trong nhà trường.

6. Chế độ thông tin, báo cáo, thống kê: - Thu thập số liệu về tình hình tai nạn thương tích trong trường Mầm non Tả Thanh Oai B báo cáo về Trạm Y tế xã Tả Thanh Oai và PGD&ĐT huyện Thanh Trì theo quý và các báo cáo đột xuất.

Trên đây là Kế hoạch thực hiện “Xây dựng trường học an toàn, phòng chống tai nạn thương tích” năm học 2022-2023 của Trường Mầm non Tả Thanh Oai B. Yêu cầu các bộ phận trong nhà trường nghiêm túc thực hiện./.

TM. BAN CHỈ ĐẠO Phó trưởng ban (Đã ký tên, đóng dấu) Nguyễn Thị Tình

Nơi nhận: - TT Y tế huyện (báo cáo); - Các lớp (thực hiện); - Lưu: VT.

Phụ lục IV Lịch tập huấn, kiến tập chuyên đề “Phòng chống tai nạn thương tích” và các chuyên đề khác trong năm học 2022-2023.

Nội dung tập huấn, kiến tập chuyên đề Người thực hiện

Thời gian

Tháng 8

Tháng 9

Tháng 10

- Đ/c Nguyễn Thị Tình - Đ/c Thu Trang – PHT-MNCLC 20-10 BP hỗ trợ: Nụ, Nhung Đ/c Thu Trang – PHT- MNCLC 20-10 Đ/c Nguyễn Thị Tình Ban giám hiệu, Công an PCCC huyện Bộ phẫn hỗ trợ: Đ/c Nụ, Sử, Trang, Nhung, Hường TT, TPCM - Đ/c Nguyễn Thị Tình Giáo viên 4 lớp lên chuyên đề MGL A1 MGN B3 MGB C1 Nhà trẻ D1

Tháng 11

- Tập huấn xây dựng môi trường giáo dục an toàn, phòng chống tai nạn thương tích tiếp cận phương pháp giáo dục tiên tiến hiện nay. - Tập huấn xây dựng môi trường giáo dục xanh, an toàn, phòng chống tai nạn thương tích ứng dụng phương pháp giáo dục tiên tiến hiện nay. - Tập huấn công tác “Phòng cháy chữa cháy” - Tập huấn xây dựng kế hoạch giáo dục lồng ghép nội dung phòng chống tai nạn thương tích vào chương trình giáo dục - Tổ chức kiến tập chuyên đề cấp trường: “Xây dựng MTGD xanh, an toàn - Phòng chống tai nạn thương tích trong trường MN” tại 4 lớp với nội dung: + Nhận biết nguy cơ không an toàn cho trẻ ở trường mầm non. + Phòng tránh tai nạn bỏng. + An toàn với đồ dùng điện. + An toàn khi sử dụng đồ dùng lồng ghép phòng tránh hóc sặc cho trẻ - Lên kiến tập chuyên đề cấp huyện: “Phòng chống tai nạn thương tích trong trường MN”, “Phòng cháy chữa cháy” - Tập huấn ứng dụng phương pháp giáo dục STEAM, đổi mới tổ chức giáo dục phòng chống tai nạn thương tích - Tổ chức kiến tập cấp trường: Ứng dụng phương pháp GD STEAM lồng ghép Ban giám hiệu Giáo viên 20 lớp - Đ/c Nguyễn Thị Tình Giáo viên 4 lớp lên chuyên đề: MGL A4

thực hành bài Tháng 12

MGN B2, MGB C3 Nhà trẻ D2 - Đ/c Nguyễn Thị Tình Giáo viên lớp MGN B1 - Đ/c Nguyễn Thị Tình Giáo viên lớp được phân công

Tháng 1

Tháng 2

Đ/c Nguyễn Thị Tình TT, TPCM 4 khối Đ/c Nguyễn Thị Tình Lê Thị Thanh Hoà TT, TPCM 4 khối Đ/c Nguyễn Thị Tình TT, TPCM 4 khối Đ/c Nguyễn Thị Tình Giáo viên 2 lớp MGB C5, MGN B5

Tháng 3

giáo dục kỹ năng tự bảo vệ, sử dụng đồ dùng an toàn - Tổ chức kiến tập chuyên đề cấp trường: Ứng dụng STEAM trong hoạt động âm nhạc, lồng ghép phòng chống tai nạn thương tích. tập - Tập huấn Montessori, giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng tự bảo vệ bản thân. - Tổ chức kiến tập các tiết xuất sắc trong Hội thi cấp trường, cấp huyện. Lồng ghép phòng tránh tai nạn thương tích - Tập huấn thực hành 1 số bài tập Montessori, Bồi dưỡng đổi mới hình thức tổ chức các hoạt động phát triển vận động, lồng ghép nội dung: GD nếp sống văn minh, kỹ năng tự bảo vệ. - Tập huấn kỹ năng thực hành sơ cứu và xử trí 1 số tai nạn thường gặp với trẻ - Tập huấn về lồng ghép giáo dục an toàn giao thông, chương trình “Tôi yêu Việt Nam”. - Kiến tập chuyên đề: Ứng dụng STEAM trong hoạt động PTVĐ. Lồng ghép giáo dục phòng chống tai nạn thương tích. - Kiến tập chuyên đề cấp trường: Giáo dục an toàn giao thông với chương trình: Tôi yêu Việt Nam. - Kiến tập chuyên đề: Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non – Kỹ năng tự bảo vệ bản thân - Bồi dưỡng lồng ghép các hoạt động giáo dục an toàn giao thông, phòng tránh bị xâm hại, bắt cóc. - Tập huấn kỹ năng phòng chống đuối nước. Thực hành 1 số bài tập Montesori Đ/c Nguyễn Thị Tình Giáo viên, học sinh khối MGL Đ/c Nguyễn Thị Tình Giáo viên lớp MGN B6 Đ/c Nguyễn Thị Tình TT,TPCM Đ/c Nguyễn Thị Tình TT,TPCM Tháng 4, Tháng 5

CÁC HÌNH ẢNH MINH CHỨNG CỦA SÁNG KIẾN

1. Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch “Trường học an toàn và phòng

tránh tai nạn thương tích cho trẻ”.

(Hình ảnh: Trẻ vui chơi an toàn tại lớp, các khu vui chơi ở trường)

(Hình ảnh: Môi trường nhà trường đón đoàn về dự kiến tập chuyên đề cấp huyện)

(Hình ảnh: Nhà trường đón đoàn kiểm tra vệ sinh an toàm thực phẩm)

(Hình ảnh: Nhà trường đón đoàn kiểm tra vệ sinh môi trường, y tế học đường)

2. Biện pháp 2: Tập huấn cho giáo viên kỹ năng phòng tránh, xử lý tai

nạn thương tích và phương pháp giáo dục trẻ kỹ năng tự bảo vệ.

(Hình ảnh: Tập huấn chuyên đề: Phòng chống tai nạn thương tích cho giáo viên)

(Hình ảnh: Giáo viên tham gia tập huấn cách xử lý tai nạn thương tích cho giáo viên

(Hình ảnh: Tập huấn chuyên đề: Giáo dục kỹ năng phòng tránh bị xâm hại trẻ)

(Hình ảnh: Tập huấn xây dựng môi trường giáo dục an toàn cho đội ngũ giáo viên)

(Hình ảnh: Giáo viên thực hành kỹ năng xử lý vết thương cho trẻ)

(Hình ảnh: CBQL, GV, NV tham gia tập huấn tại trường mầm non Tương Mai)

(Hình ảnh: Giáo viên, học sinh tập huấn phòng cách phòng cháy chữa cháy)

(Hình ảnh: Giáo viên, học sinh, phụ huynh tham dự ngày hội “Bé với ATGT”)

(Hình ảnh: Giáo viên trò chuyện với trẻ về nguy cơ không an toàn)

3. Biện pháp 3: Chỉ đạo giáo viên lồng ghép giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân, kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích vào chương trình chăm sóc giáo dục trẻ.

(Hình ảnh: Giáo viên cho trẻ tìm hiểu về phương tiện phòng cháy chữa cháy qua hoạt động khám phá)

(Hình ảnh: Kiến tập chuyên đề: Phòng chống tai nạn thương tích tại lớp MGL A1)

(Hình ảnh: Kiến tập chuyên đề: Phòng tránh tai nạn nạn tại lớp MGB B3)

(Hình ảnh: Kiến tập chuyên đề: Phòng tránh hóc sắc cho trẻ tại lớp Nhà trẻ D1 )

(Hình ảnh: Kiến tập chuyên đề: Kỹ năng thoát hiểm trên xe ô tô tại lớp B6)

(Hình ảnh: Kiến tập chuyên đề: Phòng tránh TNTT: An toàn với đồ điện tại lớp C1)

(Hình ảnh: Tổ chức chuyên đề: Ngày hội giao lưu “Chúng em với an toàn giao thông” của các bé khối mẫu giáo lớn)

(Hình ảnh: Cô cho trẻ tham quan hồ gần trường, không khí lễ hội làng)

(Hình ảnh: Cô và trẻ thực hành kỹ năng thoát hiểm khi có cháy)

(Hình ảnh: Giáo viên tổ chức giờ ngủ để trẻ hiểu sự khác biệt giới tính)

(Hình ảnh: Giáo viên hướng dẫn trẻ xếp hàng vào thăm Lăng Bác)

(Hình ảnh: Giáo viên cho trẻ MGL xếp hàng đi tham quan trường Tiểu học)

4. Biện pháp 4: Tạo môi trường xanh, an toàn, hạnh phúc và tổ chức tốt chuyên đề “Phòng chống tai nạn thương tích” nhằm thực hiện hiệu quả nhiệm vụ giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ.

(Hình ảnh: Giáo viên rà soát và vệ sinh đồ dùng đồ chơi trong lớp)

(Hình ảnh: Môi trường lớp học xanh, an toàn phòng chống tai nạn thương tích)

(Hình ảnh: Môi trường lớp học xanh, an toàn phòng chống tai nạn thương tích)

(Hình ảnh: Môi trường lớp học xanh, an toàn, hạnh phúc cho trẻ hoạt động)

(Hình ảnh: Kiến tập chuyên đề: Phòng chống tai nạn thương tích cấp trường)

(Hình ảnh: Trẻ tham gia làm lều du lịch, chế tạo rô bốt)

(Hình ảnh: Kiến tập chuyên đề: An toàn giao thông và xử lý khi bị kẹt trên xe ô tô)

(Hình ảnh: Tổ chức kiến tập chuyên đề: Phòng cháy chữa cháy cấp huyện)

5. Biện pháp 5: Tăng cường kiểm tra, đánh giá giáo viên thực hiện công

tác phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ.

(Hình ảnh: Hoạt động giáo dục kỹ năng tự bảo vệ khi gặp người lạ, bị bắt nạt)

6. Biện pháp 6: Chỉ đạo giáo viên làm tốt công tác tuyên truyền, phối

hợp với phụ huynh và cộng đồng để phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ.

( Ảnh minh họa: Giáo viên trao đổi với phụ huynh về nội dung phòng chống tai nạn thương tích, giáo dục kỹ năng tự bảo vệ)

(Hình ảnh: Phụ huynh ủng hộ nguyên vật liệu và góc tuyên truyền PCTNTT)