Sáng kiến kinh nghiệm

VẬN DỤNG BẢN ĐỒ NỔI CHO VIỆC RÈN LUYỆN TƯ DUY,

KHẢ NĂNG HỌC TẬP, NGHIÊN CỨU, PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC

CỦA HỌC SINH

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Bối cảnh của sáng kiến kinh nghiệm:

Trường Nuôi dạy trẻ em khuyết tật Bến Tre thành lập từ tháng 08 năm

1991, bắt đầu nhận học sinh bại liệt, đối với học sinh bại liệt thì phương pháp

dạy giống như học sinh phổ thông, tuy nhiên có nhiều em giáo viên phải dạy

chậm hơn (dạy theo từng đối tượng học sinh). Đến năm học 1993-1994 khi

trường nhận thêm đối tượng học sinh khiếm thị, lúc này trong quá trình giảng

dạy giáo viên gặp nhiều khó khăn. Đối với học sinh bại liệt đã khó, bây giờ

đối với học sinh khiếm thị lại càng khó hơn, mà học sinh khiếm thị lại học

hòa nhập cùng học sinh bại liệt. Nên qua từng năm, khi các em học lên các

lớp cấp TH việc truyền thụ kiến thức cho các em càng gặp nhiều phức tạp (đối

với tất cả các môn học). Cho nên vừa dạy chúng tôi vừa tìm phương pháp dạy

cho phù hợp và tích cực với từng đối tượng học sinh.

Bằng thực tế đi tham quan nhiều trường đặc biệt và dự những cuộc thi

làm đồ dùng dạy học cho học sinh khiếm thị. Tôi thấy rằng cần phải khai thác

triệt để khả năng đôi bàn tay, đó chính là đôi mắt của các em. Nên tôi đã tìm

nhiều phương pháp để kết hợp giữa thính giác và xúc giác (là giáo viên nói -

học sinh nghe kết hợp với giáo viên cầm tay hướng dẫn - học sinh dùng tay để

sờ) giúp học sinh dễ hiểu hơn. Muốn truyền thụ kiến thức ở môn Địa lý giáo

viên chỉ có làm đồ dùng dạy học nổi cho các em học bằng cách sờ mà thôi.

Đối với môn Địa l ý có những từ như thời tiết, khí hậu, bão, … giáo

viên có thể dùng lời để miêu tả cho học sinh nghe thì học sinh hiểu. Những

bài dùng la bàn, thước tỉ lệ,… thì giáo viên dùng vật thật, cầm tay cho học

sinh sờ vật thì các em mới hiểu và biết. Còn những bài về thế giới, các châu

lục, các nước trên thế giới, Việt Nam, địa phương Bến Tre,…thì khi giáo viên

Trang 1

Người thực hiện: Nguyễn Thị Ánh Đào

C r e a t e P D F f i l e s w i t h o u t t h i s m e s s a g e b y p u r c h a s i n g n o v a P D F p r i n t e r ( h t t p : / / w w w . n o v a p d f . c o m )

Sáng kiến kinh nghiệm

miêu tả, học sinh chỉ nghe thôi sẽ khó nhận ra, các em không biết châu đó ở

đâu, nước đó ở dâu,... trên thế giới; núi, sông, đồng bằng, cao nguyên,... mà

giáo viên muốn nói đến ở châu nào, khu vực nào,... . Có khi các em sẽ rất mơ

hồ và không hiểu được vấn đề, hoặc hiểu sai vấn đề mà giáo viên muốn nói.

Các em có muốn tự tìm hiểu, tự nghiên cứu thêm ngoài giờ lên lớp cũng

không biết phải làm sao.

1.2. Lí do chọn đề tài:

Bản đồ đối với giáo viên và học sinh sáng có vai trò rất quan trọng

trong dạy và học Địa l ý, thì đối với học sinh khiếm thị lại càng quan trọng

hơn nó giúp các em hòa nhập cùng học sinh sáng. Có bản đồ nổi ngoài thời

gian giáo viên hướng dẫn học sinh trên lớp thì giờ tự học các em tự mài mò

nghiên cứu, được như vậy các em sẽ phát huy tính tích cực học tập hơn. Như

chúng ta đã biết học sinh khiếm thị vốn rất khó tiếp thu kiến thức, ở những

lớp cấp Tiểu học các em tiếp thu kiến thức đã khó càng lên những lớp cấp

Trung học việc học của các em càng khó hơn.

Theo U.C Bilich và A.C Vasmut đã định nghĩa: "Bản đồ giáo khoa là

những bản đồ sử dụng trong mục đích giáo dục, chúng cần thiết cho việc

giảng dạy và học tập ở tất cả các cơ sở giáo dục cho tất cả các tầng lớp dân cư

từ học sinh đến việc đào tạo các chuyên gia. Những bản đồ đó cũng được sử

dụng trong nhiều ngành khoa học, trước hết là Địa l ý và Lịch sử".

Vậy thì bản đồ đối với trường Nuôi dạy trẻ em khuyết tật, với lớp hội

nhập vừa có học sinh sáng vừa có học sinh khiếm thị, thì làm sao để các em

cùng học cùng hiểu? Thường thì các em học sinh sáng nhìn hình ảnh, bản đồ

hoặc vật thật là xác định được còn học sinh khiếm thị thì không nhìn được

hình. Vậy không có đồ dùng dạy học dành cho đối tượng này sờ thì học sinh

không xác định được, làm sao mà hiểu được!

Chính vì lẽ đó mà việc cung cấp kiến thức cho học sinh khiếm thị là rất

khó khăn. Nhưng đồ dùng cho học sinh khiếm thị thì không có. Đối với môn

Địa lý khi dạy cho học sinh khiếm thị tôi thấy đây là một môn cần xúc giác

Trang 2

Người thực hiện: Nguyễn Thị Ánh Đào

C r e a t e P D F f i l e s w i t h o u t t h i s m e s s a g e b y p u r c h a s i n g n o v a P D F p r i n t e r ( h t t p : / / w w w . n o v a p d f . c o m )

Sáng kiến kinh nghiệm

kết hợp với ngôn ngữ trên bản đồ thì học sinh mới có thể tiếp thu được. Nên

tôi đã tìm cách và làm nhiều bản đồ với nhiều chất liệu khác nhau, cho các em

thực hành qua nhiều năm - Qua nhiều năm thí nghiệm với bản đồ thế giới và

bản đồ Việt Nam nổi, hôm nay tôi quyết định làm 1 bộ bản đồ nổi gồm bản đồ

Thế giới, Việt Nam và Bến Tre.

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Trãi qua thời gian mài mò, làm những đồ dùng dạy học cho các em học

sinh khiếm thị từ những đồ dùng đơn giản như biểu đồ nhiệt độ và lượng

mưa, đến hình nổi về núi biểu thị bằng các đường đồng mức, đến mô hình nổi

về các dạng địa hình trên thế giới, … đến bản đồ nổi thế giới, bản đồ nổi Việt

Nam, bản đồ nổi Bến Tre đắp bằng nhiều thứ vật liệu khác nhau, bằng nhiều

cách khác nhau. Áp dụng dạy qua nhiều năm cho học sinh khiếm thị tôi nhận

thấy đối với các em học sinh khiếm thị nếu có những đồ dùng nổi thì các em

kết hợp giữa nghe và sờ do giáo viên hướng dẫn hoặc cầm tay chỉ cho các em

sờ bản đồ thì các em sẽ hòa nhập được với các em bại liệt (trường khuyết tật

học sinh bại liệt học cùng học sinh khiếm thị).

1.4. Mục đích nghiên cứu:

Bộ bản đồ nổi Thế giới, Việt Nam và Bến Tre giúp cho việc dạy và học

môn địa l ý cho học sinh khiếm thị tốt hơn. Khi giáo viên nói về hình dạng, vị

trí, đồng bằng, núi,… thì lúc giáo viên nói yêu cầu, từng vấn đề cần thiết,

hoặc cầm tay cho các em sờ bản đồ để các em biết được những gì giáo viên

đang trình bày. Và đó cũng là phương pháp tích cực để giáo viên giúp học

sinh khiếm thị ở trường khuyết tật học nhanh, tốt mà chắc bằng đôi bàn tay

của mình. Từng bước mài mò như thế tôi thấy rõ rằng các em "Tàn mà không

phế" nếu chúng ta biết khai thác mặt mạnh ở "đôi mắt" này của các em. Có

như vậy thì càng ngày các em càng tiếp cận với kiến thức một cách thiết thực,

thích học những môn xã hội hơn, thích tìm hiểu những vùng đất mà các em có

thể sờ được bằng chính những ngón tay của mình hơn.

Trang 3

Người thực hiện: Nguyễn Thị Ánh Đào

C r e a t e P D F f i l e s w i t h o u t t h i s m e s s a g e b y p u r c h a s i n g n o v a P D F p r i n t e r ( h t t p : / / w w w . n o v a p d f . c o m )

Sáng kiến kinh nghiệm

Không chỉ giáo viên dạy Địa l ý mà giáo viên dạy Lịch sử, … cả những

giáo viên ở cấp tiểu học cũng đã cần những bản đồ đó khi dạy cho các em học

sinh khiếm thị. Những giáo viên đó cũng như tôi làm và sử dụng bản đồ nổi là

đã kết hợp với ngôn ngữ để giúp các em khiếm thị hòa nhập với các bạn sáng.

Mục đích cuối cùng của chúng tôi là đào tạo cho đất nước những thế hệ học

sinh biết vươn tới Chân - Thiện - Mỹ. Dù các em không nhìn thấy ánh sáng

mặt trời.

1.5. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu:

Với những bản đồ thế giới, Việt Nam và Bến Tre được đắp nổi lên theo

từng dạng địa hình. Giáo viên hướng dẫn làm sao cho các em học sinh khiếm

thị khi sờ biết được các châu lục, các đại dương, các khu vực, đặc điểm của

từng khu vực, một số nước … Biết được hình dạng, địa hình,... của Việt Nam

với 3 miền tự nhiên ở lớp 8, với 7 vùng kinh tế ở lớp 9, biết các huyện, thị của

Bến Tre, đặc điểm của từng vùng, miền, khu vực tiếp giáp,…

1.6. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu:

Trong lúc học sinh bại liệt nhìn bản đồ treo tường, thì học sinh khiếm

thị sờ bản đồ nổi phát huy hướng học tập tích cực mà hiện nay bộ giáo dục

đang quan tâm. Có những đồ dùng dạy học này học sinh khiếm thị vừa nghe

vừa sờ từ đó các em vận dụng cả xúc giác, thính giác kết hợp với trí tưởng

tượng cùng trí thông minh và sự hiểu biết để trả lời những câu hỏi của giáo

viên nêu sẽ dể hiểu bài, khắc sâu bài học hơn. (Phụ lục 1)

Trang 4

Người thực hiện: Nguyễn Thị Ánh Đào

C r e a t e P D F f i l e s w i t h o u t t h i s m e s s a g e b y p u r c h a s i n g n o v a P D F p r i n t e r ( h t t p : / / w w w . n o v a p d f . c o m )

Sáng kiến kinh nghiệm

PHẦN 2: NỘI DUNG

2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm:

Khi chúng ta dạy 1 bài Địa l ý, cần áp dụng câu hỏi với bản đồ, thì học

sinh phải dựa vào bản đồ để trả lời câu hỏi của giáo viên. Lúc đó học sinh

sáng nhìn bản đồ rồi suy nghĩ câu hỏi tìm câu trả lời.

Còn học sinh khiếm thị thì sao? Nếu như không có bản đồ nổi cho học

sinh khiếm thị sờ như các học sinh sáng xem bản đồ treo tường, thì các em chỉ

có việc là ngồi chờ các em sáng nêu kết quả đã quan sát được, mà không hề

biết những gì các bạn nêu lên là đúng hay sai, châu đó, nước đó có phải nằm ở

vị trí đó không,…. Rồi đến khi giáo viên nói là đúng, hoặc sai và sửa lại thì

các em biết được như thế là đúng chứ không hình dung được đúng là đúng

như thế nào, hay châu đó, nước đó nằm ở vị trí đó là ở đâu,… Thực sự là các

em không hiểu nổi giáo viên và các bạn đang nói những gì.

Còn nếu như các em cũng có bản đồ nổi để sờ và cũng tìm ra được kết

quả. Mà kết quả đó giống như các bạn sáng thì xem như các em hiểu bài

ngược lại nếu như không giống thì bạn hoặc giáo viên giúp các em sờ lại bản

đồ để các em nắm được nội dung. Lúc đó bài dạy của giáo viên sẽ sinh động

và cả lớp cùng học sẽ tích cực hơn. Các em khiếm thị hiểu bài tốt hơn. (Phụ

lục 1)

2.2. Thực trạng của sáng kiến kinh nghiệm:

Là giáo viên dạy địa lý cấp THCS, theo tinh thần giáo dục hiện nay

chúng ta nên áp dụng phương pháp tích cực. Muốn cho học sinh khuyết tật

tích cực thì giáo viên đứng lớp phải tích cực làm đồ dùng dạy học.

Ở lớp 6 có nhiều bài giới thiệu về thềm lục địa, đồng bằng, núi, cao

nguyên, sông,... (như bài 12, 13, 14, 15, 23...) giáo viên đã làm mô hình với

các dạng địa hình, có độ cao cho từng dạng địa hình cụ thể, có sông nước

chảy, có núi lửa hoạt động... nhưng nếu muốn dạy tốt các bày cần mô hình đó

thì phải cho học sinh làm quen với mô hình trước. Tức là giáo viên phải có

thời gian cho học sinh sờ mô hình để biết cấu tạo của các đối tượng trên mô

Trang 5

Người thực hiện: Nguyễn Thị Ánh Đào

C r e a t e P D F f i l e s w i t h o u t t h i s m e s s a g e b y p u r c h a s i n g n o v a P D F p r i n t e r ( h t t p : / / w w w . n o v a p d f . c o m )

Sáng kiến kinh nghiệm

hình đó như thế nào.

Cũng ở lớp 6 khi dạy bài 10 cấu tạo bên trong của trái đất giáo viên đã

làm quả cầu nổi với 3 lớp và cho học sinh sờ từng lớp. Khi học trên quả cầu

này các em biết cấu tạo, độ dày, kết hợp kênh chữ ở sách giáo khoa để hình

dung trạng thái,… của 3 lớp. Biết được lớp vỏ của trái đất là quan trọng nhất

vì nó nằm ngoài cùng, nơi con người sinh sống,... Hoặc làm một số hình nổi

đơn giản về các đới khí hậu, các đới cảnh quan, hướng gió,… trên trái đất.

Trên bản đồ nổi các châu được cắt ra bằng muốt các em biết được các

châu lục, các đại dương trên thế giới ở bài 11, 24 - của lớp 6. Hầu như gần hết

các bài ở lớp 7 đều sử dụng bản đồ này để các em xác định các đô thị lớn, các

đới khí hậu, các hoang mạc lớn trên thế giới, vị trí các dãy núi cao trên các

châu lục. Nhất là đến phần tìm hiểu từng châu lục thì bản đồ nổi này càng

quan trọng hơn vì học sinh biết vị trí, hình dạng, kích thước, địa hình,… của

từng châu lục.

Sang chương trình địa lý lớp 8 với chương đầu tiên gồm 18 bài về châu

Á đều cần bản đồ nổi thế giới. Nhất là với 3 bài của chương tổng kết nếu

không có bản đồ nổi thế giới thì giáo viên không biết sẽ dạy bằng cách nào

cho các em hiểu. Khi áp dụng bản đồ thế giới nổi chỉ trong 3 tiết giáo viên có

thể giúp học sinh hệ thống lại được các châu, các đại dương, sự di chuyển của

các mảng nền, các đới khí hậu, các vành đai gió, nơi tập trung khai thác nhiều

dầu, nơi tiêu thụ dầu, ... trên thế giới.

Phần II của địa l ý lớp 8 và chương trình địa lý lớp 9 lại rất cần bản đồ

nổi Việt Nam. Có bản đồ nổi Việt Nam giáo viên trình bày cho học sinh sờ

bản đồ để biết được hình dạng, địa hình, nhận biết khí hậu, sông ngòi, cảnh

quan, vị trí các khoáng sản ,... đặc điểm của 3 miền tự nhiên, 7 vùng kinh tế ...

của Việt Nam. Ở những bài đó giáo viên còn kết hợp làm 2 bản đồ lấp ráp

bằng gỗ có nam châm trên nắp hộp có từ tính để học sinh kết hợp ráp từng

mảnh khi học tới miền hoặc vùng đó.

Trong chương trình địa l ý lớp 8 còn có bài 25 nói về lịch sử phát triển

Trang 6

Người thực hiện: Nguyễn Thị Ánh Đào

C r e a t e P D F f i l e s w i t h o u t t h i s m e s s a g e b y p u r c h a s i n g n o v a P D F p r i n t e r ( h t t p : / / w w w . n o v a p d f . c o m )

Sáng kiến kinh nghiệm

của tự nhiên Việt Nam cũng với bộ lắp ráp 3 giai đoạn hình thành (Tiền

Cambri, Cổ sinh - Trung sinh và Tân sinh) học sinh biết được trong thời gian

bao lâu, nước Việt Nam hình thành dần như thế nào.

Còn với bản đồ nổi Bến Tre thì khi áp dụng dạy các bài địa lý địa

phương ở các khối lớp rất thuận lợi, học sinh biết được địa hình đồng bằng

của 3 dãy cù lao, xác định được thành phố Bến Tre, 8 huyện, các sông lớn,

các tuyến đường giao thông, tỉnh tiếp giáp ... của Bến Tre.

Qua một thời gian thực hiện một số bản đồ nổi tôi thấy học sinh tích

cực học hơn, không bị thụ động khi giáo viên đặt vấn đề. Các em rất thích sờ

bản đồ trước trong giờ tự học buổi chiều và tối. (Phụ lục 2) Vậy là khi giáo

viên tích cực làm ra nhiều đồ dùng học tập nổi thì học sinh khiếm thị cũng

phát huy được tính tích cực học tập của mình, và hòa nhập cùng các bạn bại

liệt.

Cho nên đồ dùng dạy học nổi dành cho học sinh khiếm thị là rất cần

thiết, nếu không có những đồ dùng đó thì việc giảng dạy của giáo viên mất rất

nhiều thời gian, mà chất lượng giảng dạy của giáo viên và kết quả học tập của

học sinh cũng không cao.

2.3. Các biện pháp đã tiến hành làm bộ đồ dùng dạy học nổi cho

học sinh khiếm thị:

Như chúng ta đã biết Bản đồ có vai trò quan trọng trong nghiên cứu,

học tập Địa l ý và trong đời sống. Cho nên làm bản đồ nổi là tôi đã biểu hiện

và thu nhỏ hình dạng tương đối chính xác về Bến Tre, Việt Nam và toàn bộ

bề mặt Trái Đất. Dựa vào các bản đồ nổi đó, học sinh có thể thu thập được

nhiều thông tin như: vị trí, địa hình, đặc điểm, sự phân bố của các đối tượng

địa lý và các mối quan hệ giữa chúng.

Những đồ dùng nổi cho học sinh sờ một thời gian ngắn thì bị tróc,

bể,…. Tôi rút kinh nghiệm làm một bộ đồ dùng với 3 bản đồ nổi: Thế giới,

Việt Nam và Bến Tre trên những khung gỗ với những chất liệu kết chặt cho

học sinh sử dụng lâu hơn. Để cho việc dạy và học có logich, học sinh hiểu bài

Trang 7

Người thực hiện: Nguyễn Thị Ánh Đào

C r e a t e P D F f i l e s w i t h o u t t h i s m e s s a g e b y p u r c h a s i n g n o v a P D F p r i n t e r ( h t t p : / / w w w . n o v a p d f . c o m )

Sáng kiến kinh nghiệm

có hệ thống. Có thể áp dụng cho học sinh trong tất cả các cấp học, ở các môn

cần bản đồ này, điển hình là giáo viên đã áp dụng từ lớp 6 đến lớp 9 với môn

địa lý và lịch sử. Khi cần dạy về địa l ý, lịch sử thế giới thì sử dụng bản đồ thế

giới; khi cần dạy địa l ý, lịch sử về Việt Nam thì sử dụng bản dồ Việt Nam;

còn khi dạy địa l ý và lịch sử địa phương thì sử dụng bản đồ Bến Tre.

Đây là 3 bản đồ nổi địa hình Thế giới, Việt Nam và Bến Tre theo độ

cao. Bằng cách đắp nổi từng lớp một, nâng dần độ cao lên theo mức độ của

địa hình: đồng bằng, cao nguyên, núi.

- Trước tiên là đóng 3 cái khung:

+ Khung thứ nhất để đắp bản đồ Thế giới có chiều dài 73 cm, rộng 50 cm.

+ Khung thứ hai để đắp bản đồ Việt Nam có chiều dài 73 cm, rộng 39 cm.

+ Khung thứ ba để đắp bản đồ Bến Tre có chiều dài 45 cm, rộng 39 cm.

- Các bước tiến hành:

+ Bước thứ nhất: Vẽ bản đồ Thế giới lên khung thứ nhất, bản đồ Việt

Nam lên khung thứ hai và bản đồ Bến Tre lên khung thứ ba (Vẽ cả các đảo).

+ Bước thứ hai: Sơn màu xanh dương lên phần đại dương và biển

(những nơi sâu thì tô đậm hơn).

+ Bước thứ ba: Trộn cát, keo sữa, một ít nước và màu.

. Trước tiên trộn cát mịn với keo sữa một ít nước và màu xanh lá. Rồi

đắp lớp thứ nhất đều lên một lớp mỏng ở 3 bản đồ với các đảo đã vẽ sẵn. Lớp

đầu tiên đắp khá lâu, vì đắp 3 bản đồ và phải chú ý kỹ từng đường ranh giới

của bản đồ. Xong phải chờ cho thật sự khô. Muốn hoàn chỉnh xong lớp thấp

nhất là đồng bằng phải đắp 3 - 4 lớp mỏng chồng lên nhau, tùy đặc điểm của

từng đồng bằng. Ở lớp này chú yù chỉ có màu xanh tượng trưng cho đồng

bằng; khi trộn nguyên liệu thì trộn một ít, hết trộn tiếp chứ không trộn một lần

vì làm lâu sẽ bị khô cứng lại. Khi đắp bản đồ Bến Tre chú ý ranh giới các con

sông. (Phụ lục 3)

Ở lớp thứ nhất này trộn một phần nhỏ cát, keo, nước với màu trắng để

đắp đảo Grơnlen và châu Nam Cực trên bản đồ Thế giới.

Trang 8

Người thực hiện: Nguyễn Thị Ánh Đào

C r e a t e P D F f i l e s w i t h o u t t h i s m e s s a g e b y p u r c h a s i n g n o v a P D F p r i n t e r ( h t t p : / / w w w . n o v a p d f . c o m )

Sáng kiến kinh nghiệm

. Đến đắp lớp thứ hai màu vàng ta trộn cát to hơn với keo sữa thêm một

ít nước và màu vàng, rồi đắp lên trên lớp màu xanh để tạo độ cao hơn. Cũng

giống như lớp màu xanh của đồng bằng, ta đắp nhiều lớp mỏng dần cao lên,

và cũng chờ cho khô từ từ. Có như vậy mới tạo được sự bền. Khi đắp lớp thứ

hai này cần chú ý chừa phần đồng bằng ra, chính vì điều đó nên khi đắp phải

kết hợp thật sát với bản đồ sáng về màu sắc. Ở giai đoạn này khi đắp từng lớp

mỏng cũng chờ cho thật khô. Màu vàng này không đắp lên bản đồ Bến Tre, vì

Bến Tre là đồng bằng nên chỉ đắp một lớp màu xanh.

. Sang lớp thứ ba trộn cát to hơn nữa với keo sữa, một ít nước và màu

cam để tạo độ cao hơn. Rồi đắp lên trên lớp màu vàng. Lớp thứ ba này đắp

nhiều lớp mỏng hơn ở những dãy núi cao của Thế giới, còn bản đồ Việt Nam

thì ít hơn (vì địa hình núi của Thế giới có nhiều dãy núi cao như Himalaya,

Thiên Sơn, Coocđie, Anđet,…). Khi đắp lớp thứ ba này cần chú yù chừa phần

màu vàng ra, chính vì điều đó nên khi đắp lớp này cũng phải kết hợp thật sát

với bản đồ sáng về màu sắc.

. Cuối cùng là lớp thứ tư thì trộn cát to nhất với keo sữa, một ít nước và

màu đỏ. Phần này đắp tạo núi, phải tạo được dáng của những dãy núi với

nhiều đỉnh núi. (Phụ lục 4)

Nhưng phải chừa những dãy núi cao để đắp thêm một lớp màu nâu nữa

và cho nổi lên độ cao hơn của những dãy núi như Himalaya, Thiên Sơn,

Coođie, Anđet, phải bọc lộ được Himalaya đây là nóc nhà Thế giới bằng cách

đắp thêm 2 lớp mỏng và tạo những đỉnh nhọn. (Phụ lục 5)

+ Bước thứ tư:

. Pha màu đen cùng keo sữa vẽ tên các bản đồ trên nền màu trắng.

. Viết chữ Braille trước, chữ sáng sau chồng lên trên chữ Braille tên các

châu, các đại dương (dán lên bản đồ Thế giới), tên các nước láng giềng, biển

(dán lên bản đồ Việt Nam), tên các huyện, thành phố, tỉnh tiếp giáp, biển (dán

lên bản đồ Bến Tre).

Qui trình thực hiện mất rất nhiều thời gian, vì không thể làm liên tục

Trang 9

Người thực hiện: Nguyễn Thị Ánh Đào

C r e a t e P D F f i l e s w i t h o u t t h i s m e s s a g e b y p u r c h a s i n g n o v a P D F p r i n t e r ( h t t p : / / w w w . n o v a p d f . c o m )

Sáng kiến kinh nghiệm

được, khi đắp xong một lớp phải chờ cho khô, cũng như phải chỉnh sửa lại

nếu có sai sót. Khó khăn nữa là khi đắp những phần nhỏ và tiếp giáp phải

dùng những dụng cụ thật nhỏ, mỏng để thực hiện nếu không sẽ bị dính hoặc

lệch vị trí.

2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:

Thời gian qua khi áp dụng các bản đồ vào các bài dạy về địa lý Thế

giới, địa lý Việt Nam và địa lý địa phương, kết hợp với phương pháp tích cực

như nêu ở trên, trước hết tôi nhận thấy nét mặt của các em lộ rõ sự hứng thú

học tập biểu hiện là việc các em tích cực phát biểu ý kiến, giờ tự học thường

hay lấy bản đồ ra sờ, các em hay học hỏi lẫn nhau giữa học sinh khiếm thị và

học sinh sáng. Nên khi vào tiết giáo viên dạy hỏi xem nước đó ở đâu, đây là

gì, tại sao có địa hình đó, hình nước này như thế nào?… các em có khi trả lời

được. (Phụ lục 6)

Từ đó tôi thấy mình tự tin hơn, vững vàng hơn trong việc giảng dạy đối

tượng đặc biệt này. Điều mà tôi thấy thể hiện rõ ràng nhất là khi áp dụng các

bản đồ nổi trong tiết dạy thì sẽ không mất nhiều thời gian trình bày, mà lại

giúp các em thể hiện rõ sự tích cực, sự tập trung thích tự tìm hiểu, thích tự

nghiên cứu. Đó là phương pháp tốt nhất để phát huy khả năng học tập của các

em học sinh khiếm thị khi học cùng các em sáng.

Trang 10

Người thực hiện: Nguyễn Thị Ánh Đào

C r e a t e P D F f i l e s w i t h o u t t h i s m e s s a g e b y p u r c h a s i n g n o v a P D F p r i n t e r ( h t t p : / / w w w . n o v a p d f . c o m )

Sáng kiến kinh nghiệm

PHẦN 3: KẾT LUẬN

3.1. Những bài học kinh nghiệm:

Muốn làm được một đồ dùng dạy học cho học sinh kiếm thị phải mất

nhiều thời gian thí nghiệm, mất thời gian làm. Vậy nên phải kiên trì, tìm biện

pháp làm cho đúng yêu cầu của môn dạy.

Hàng ngày phải đặt cho các em những câu hỏi phù hợp để các em tự

nghiên cứu, tự học hỏi lẫn nhau, em khiếm thị hỏi em sáng để các em cùng

nhau tìm hiểu trên bản đồ. Phát huy sự tương trợ, giúp đỡ nhau giữ em sáng

và em khiếm thị.

3.2. Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm:

Nhưng bù lại các em sẽ học tốt hơn, kiến thức của các em được xác

định rõ ràng hơn.

Các em tích cực trong giờ học và cả giờ tự học. Hoặc khi tìm hiểu các

vấn đề của môn học sẽ thấy dễ dàng hơn.

3.3. Khả năng ứng dụng, triển khai:

Với những bản đồ nổi trước mắt là áp dụng cho các em học sinh khiếm

thị, sau đó là cho cả học sinh sáng, nhất là lớp hội nhập có cả học sinh khiếm

thị lẫn học sinh sáng.

Như vậy thì không chỉ ứng dụng cho học sinh ở trường khuyết tật ở

Bến Tre, mà đối với học sinh khiếm thị thì nơi đâu giáo viên cũng có thể làm

được những đồ dùng như thế.

Chúng ta có thể sáng tạo ra những đồ dùng dạy học cho những môn học

khác nữa để phát huy hết những khả năng của các em.

3.4. Những kiến nghị, đề xuất:

3.4.1. Đối với giáo viên:

Trong quá trình giảng dạy giáo viên phải thường xuyên vận dụng bản

đồ nổi vào những bài học cần thiết cho học sinh khiếm thị, để gíup các em

tiếp xúc thường xuyên với bản đồ, khai thác triệt để xúc giác của các em học

sinh trong tìm hiểu kiến thức.

Trang 11

Người thực hiện: Nguyễn Thị Ánh Đào

C r e a t e P D F f i l e s w i t h o u t t h i s m e s s a g e b y p u r c h a s i n g n o v a P D F p r i n t e r ( h t t p : / / w w w . n o v a p d f . c o m )

Sáng kiến kinh nghiệm

Khi vận dụng bản đồ giáo viên sẽ tìm ra nhiều phương pháp dạy mới từ

bản đồ nổi cho học sinh khiếm thị. Từ đó giáo viên sẽ nghĩ ra được những đồ

dùng dạy học khác góp phần cho việc dạy học sinh khiếm thị tốt hơn nữa.

Giáo viên dạy đối tượng học sinh đặc biệt sẽ có nhiều đồ dùng dạy học

đặc biệt để khai thác những khả năng tiềm ẩn từ các giác quan của các em.

3.4.2. Đối với học sinh:

Tích cực trong việc phát triển khả năng tư duy bằng xúc giác. Các em

phải thường xuyên sờ bản đồ kết hợp với sách giáo khoa trong giờ tự học, thì

giờ học chính thức kết hợp với lúc giáo viên đang giảng cùng với sự xác định

trên bản đồ nổi các em sẽ hiểu bài nhanh và đúng hơn.

Cần có thái độ tích cực trong học tập, rèn luyện tư duy, khả năng tự

học, tự rèn, tránh tự ti mặc cảm. Các em tuy có tàn nhưng không phế, học tập

sẽ giúp các em nâng cao kiến thức. Hiểu được những điều mà các em không

nhìn thấy được.

3.4.3. Đối với xã hội:

Cần quan tâm đối với các em nhiều hơn nữa, tạo điều kiện cho các em

học tập, vui chơi, giải trí,… Giúp các em hòa nhập với cuộc sống của cộng

đồng, xã hội. Không xa lánh, gần gũi để xóa dẩn sự tự ti, mặc cảm của các

em.

Trang 12

Người thực hiện: Nguyễn Thị Ánh Đào

C r e a t e P D F f i l e s w i t h o u t t h i s m e s s a g e b y p u r c h a s i n g n o v a P D F p r i n t e r ( h t t p : / / w w w . n o v a p d f . c o m )

Sáng kiến kinh nghiệm

Phụ lục 1: Giáo viên hướng dẫn Học sinh sờ bản đồ nổi trong giờ học.

Trang 13

Người thực hiện: Nguyễn Thị Ánh Đào

C r e a t e P D F f i l e s w i t h o u t t h i s m e s s a g e b y p u r c h a s i n g n o v a P D F p r i n t e r ( h t t p : / / w w w . n o v a p d f . c o m )

Sáng kiến kinh nghiệm

Phụ lục 2: Học sinh tự nghiên cứu bản đồ trong giờ tự học.

Trang 14

Người thực hiện: Nguyễn Thị Ánh Đào

C r e a t e P D F f i l e s w i t h o u t t h i s m e s s a g e b y p u r c h a s i n g n o v a P D F p r i n t e r ( h t t p : / / w w w . n o v a p d f . c o m )

Sáng kiến kinh nghiệm

Phụ lục 3:

Trang 15

Người thực hiện: Nguyễn Thị Ánh Đào

C r e a t e P D F f i l e s w i t h o u t t h i s m e s s a g e b y p u r c h a s i n g n o v a P D F p r i n t e r ( h t t p : / / w w w . n o v a p d f . c o m )

Sáng kiến kinh nghiệm

Phụ lục 4:

Trang 16

Người thực hiện: Nguyễn Thị Ánh Đào

C r e a t e P D F f i l e s w i t h o u t t h i s m e s s a g e b y p u r c h a s i n g n o v a P D F p r i n t e r ( h t t p : / / w w w . n o v a p d f . c o m )

Sáng kiến kinh nghiệm

Phụ lục 5:

Trang 17

Người thực hiện: Nguyễn Thị Ánh Đào

C r e a t e P D F f i l e s w i t h o u t t h i s m e s s a g e b y p u r c h a s i n g n o v a P D F p r i n t e r ( h t t p : / / w w w . n o v a p d f . c o m )

Sáng kiến kinh nghiệm

P hụ lục 6: Giáo viên giúp học sinh trả lời câu hỏi từ bản đồ.

Trang 18

Người thực hiện: Nguyễn Thị Ánh Đào

C r e a t e P D F f i l e s w i t h o u t t h i s m e s s a g e b y p u r c h a s i n g n o v a P D F p r i n t e r ( h t t p : / / w w w . n o v a p d f . c o m )

Sáng kiến kinh nghiệm

Trang

MỤC LỤC

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1

1.1. Bối cảnh của sáng kiến kinh nghiệm 1

1.2. Lí do chọn đề tài 2

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4. Mục đích nghiên cứu 3

1.5. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu 4

1.6. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu 4

PHẦN 2: NỘI DUNG 5

2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm 5

2.2. Thực trạng của sáng kiến kinh nghiệm 5

2.3. Các biện pháp đã tiến hành làm bộ đồ dùng dạy học 7

nổi cho học sinh khiếm thị

2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 10

PHẦN 3: KẾT LUẬN 11

3.1. Những bài học kinh nghiệm 11

3.2. Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm 11

3.3. Khả năng ứng dụng, triển khai 11

3.4. Những kiến nghị, đề xuất 11

3.4.1. Đối với giáo viên 11

3.4.2. Đối với học sinh 12

3.4.3. Đối với xã hội 12

Phụ lục 1, 2, 3, 4, 5, 6

Trang 19

Người thực hiện: Nguyễn Thị Ánh Đào

C r e a t e P D F f i l e s w i t h o u t t h i s m e s s a g e b y p u r c h a s i n g n o v a P D F p r i n t e r ( h t t p : / / w w w . n o v a p d f . c o m )