BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
Đồng tác giả
ThS. Phạm Thị Thùy Duyên, TS. Đặng Trƣơng Cát My,
TS. Nguyễn Thị Hạnh, TS. Trịnh Thị Thúy Hồng, ThS. Hồ Xuân
Hƣớng, TS. Phạm Thị Hƣờng, TS. Kiều Thị Hƣờng, TS. Dzu Nhật,
TS. Vũ Thị Nữ, TS. Nguyễn Hà Thanh Thảo,
TS. Phạm Trần Trúc Viên, TS. Đặng Hồng Vƣơng
TÀI LIỆU HỌC TẬP
KHỞI NGHIỆP
TRÌNH ĐỘ: ĐẠI HỌC
Số tín chỉ: 2 TC
Bình Định, tháng 9/2022
LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình khởi nghiệp, ngƣời khởi nghiệp luôn đứng trƣớc các quyết định có
nên khởi nghiệp hay không, nếu thì nên chọn phƣơng án kinh doanh nào để tính
khả thi, mang lại hiệu quả thành công cho ngƣời khởi nghiệ p. Đối với ngƣời khởi
nghiệp, các kiến thức cơ bản về khởi nghiệp cần phải nắm là hết sức quan trọng, các kiến
thức kỹ thuật bản y giúp nhà khởi nghiệp không mắc phải những sai lầm nhất
định, đặc biệt các tính toán ban đầu cho một kế hoạch kinh doanh khi khởi nghiệp,
nhằm hạn chế các rủi ro không đáng có trong giai đoạn khởi nghiệp ban đầu.
vậy, quyển sách này đƣợc biên soạn nhằm trang bị cho ngƣời học các kiến thức
cơ bản sau:
+ Khởi nghiệp gì, các quá tnh khởi nghiệp, ngƣời khởi nghiệp cần chuẩn bị
những để thể thành công những bài học thành công trong khởi nghiệp. nh
thành, đánh giá và lực chọn ý tƣởng kinh doanh. Tập trung xung quanh việc khám phá
thuyết nhiều khía cnh quản trc ũng n hƣ các nh huống kinh doanh thực tế trong
kh i nghip. Xây dng mô hình kinh doanh đphát thảo cơ bản ý ởng kinh doanh
ban đầu cho khởi nghiệp.
+ c kiến thức nhằm phá t t ho một kế hoạch kinh doanh: kiế n thức c hung về
doanh nghiệp, pháp luật, thị trƣờng, marketing, kế hoạch nhân sự, tài chính và kế toán
trong doanh nghiệp khởi nghiệp.
Mặc dù nhóm tác giả đã có nhiều cố gắn g, xong vì kiến thức về “Khởi nghiệp” đòi
tính tổng hợp liên quan đến nhiều kiến thức chuyên môn khác nhau, nên không thể
tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong các chuyên gia, ngƣời đọc góp ý để quyển sách
đƣợc hoàn thiện hơn.
Biên soạn
Tập thể giảng viên Khoa TC-NH & QTKD
1
Chương 1. TỔNG QUAN VỀ KHỞI NGHIỆP
1.1. Khái quát v khi nghip
1.1.1. Khái nim khi nghip
Khởi nghiệp theo từ điển tiếng Việt đƣợc giải nghĩa bắt đầu sự nghiệp. Định
nghĩa khởi nghiệp cũng thay đổi qua thời gian với các nhà nghiên cứu khác nhau. Đến
đầu thế k 20, định nghĩa khởi nghiệp đã đƣợc hoàn thiện đƣợc diễn đạt quá trình
thành lập, tổ chức, quản một doanh nghiệp mới, tạo ra sản phẩm cung cấp cho thị
trƣờng và ngƣời khởi n ghiệp là ngƣời sáng lập nên doanh nghiệp đó.
Theo Schumpeter (1934,1942), hiểu theo cách truyền thống phổ biến thì “Khởi
nghiệp” c nhân c a sự thay đổi. Schumpeter phân tích: khởi nghiệp trong điều kiện
kinh tế khó khăn thì nó đặc trƣng bởi sự không ngừng thay đổi để đạt tới trạng thái cân
bằng mới. Chức năng của khởi nghiệp thực hiện đổi mới bằng cách thoát khỏi nhữ ng
thứ quen thuộc, đề xuất kết hợp mới, phá vỡ cái mang đến cho nền kinh tế trạng
thái cân bằng mới. Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo không chỉ hạn chế trong đổi mới công
nghệ. Khởi nghiệp gồm ba loại: một là, ngƣời đƣợc thuê để sáng tạo ra các phát minh
thƣơng mại chúng tôi không cho khởi nghiệp; thứ hai, những công ty đang hoạt
động kinh doanh hmở thêm doanh nghiệp mới; thứ ba, ngƣời khởi nghiệp theo
quan điểm của Schumpeter, họ động lực của đổi mới sáng tạo (Manus Henrekason
and Tino Sanandaji, 2020).
Theo Eric Ries (2019) thì Khởi nghiệp một thể chế con ngƣời đƣ c thiết lập để
tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ mới dƣới những điều kiện thiếu chắc chắn. Hoặc theo Eric
Ries, tác giả cuốn sách “The Lean Startup: How Constant Innovation Creates Radically
Successful Businesses”, Startup một định chế hoặc tổ chức con ngƣời đƣợc thiết kế
nhằm mục đích tạo ra những sản phẩm dịch vụ mới trong các điều kiện cực k không
chắc chắn.
Hiện nay, một quan điểm về khởi nghiệp được sử dụng phổ biến theo Steve
Blank - Giáo Đại học Stanford Mỹ, Startup một tổ chức tạm thời được dùng để
tìm kiếm một mô hình kinh doanh có khả năng lặp lại và mở rộng ra được
2
Hiện nay, ở Việt Nam sự biến động của môi trƣờng kinh doanh đang diễn ra mạnh
mẽ và phức tạp làm cho sự đổi mới ng tạo trở thành một điều cần thiết mang tính chiến
lƣợc và cấp bách. Đây là đòn bẩy cạnh tranh quan trọng còn lại để đảm bảo cho sự tồn tại
phát triển bền vững của tổ chức. Vì vậy, trong hoạt động khởi nghiệp, xu hƣớng khởi
nghiệp đổi mới sáng tạo đang phát triển rất mạnh mẽ. Những doanh nghiệp khởi nghiệp
đổi mới sáng tạo (Startup) đang đối tƣợng nhận đƣợc rất nhiều sự hỗ trợ từ Nhà ớc.
Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025” (Đề án
844) - ISEV đƣợc Thtƣớng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định 844/QĐ-TTg ngày
18/5/2016 đánh dấu động thái cụ thể của Chính phủ để phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp
đổi mới sáng tạo.
Theo đề án 844, “Doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo loại hình
doanh nghiệp khả năng tăng trưởng nhanh dựa trên khai thác tài sản trí tuệ, công
nghệ, mô hình kinh doanh mới, và có thời gian hoạt động không quá 5 năm kể từ ngày
được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu".
Nhƣ vậy, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo sẽ đi từ đổi mới sáng tạo đến khởi nghiệp.
trong đó, “Đổi mới sáng tạo (innovation) việc tạo ra, ứ ng dụng thành tựu, giải pháp k
thuật, công nghệ, giải pháp quản để nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội, nâng
cao năng suất, chất ợng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa” (Điều 3, Luật Khoa
học công nghệ năm 2013). vậy, để thể khởi nghiệp đổi mới sáng tạo thành công,
nhà khởi nghiệp cần có hệ thống tƣ duy phát triển và tƣ duy sáng tạo.
Startup cũng diễn ra mạnh mẽ ở khắp các quốc gia trên thế giới, bởi nó gắn với đổi
mới sáng tạo (tạo ra sản phẩ m, dịch vụ có thể giải quyết một nhu cầu cụ thể, chƣa từng có
công ty nào trên thị trƣờng tạo ra), đồng thời k vọng tạo ra sự tăng trƣởng vƣợt bậc
trong tƣơng lai, từ đó tạo ra những công ty lớn mạnh cho quốc gia đó nhờ ứng dụng công
nghệ mới hoặc hình kinh doanh mới. Tuy nhiên, các Startup cũng đối mặt với nhiều
rủi ro thất bại, vậy, hiện nay các startup đƣợc hỗ trợ cả trong ngoài nƣớc để
thể phát triển thuận lợi.
Qua luận giải trên, cần khẳng định rằng “khởi nghiệp” đƣợc nghiên cứu trong
quyển sách y “kh ởi nghiệp đổi mới sán g tạo”, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo không
chỉ đƣợc Chính phủ Việt Nam quan tâm mà còn các tổ chức, quố c gia khác trên t oàn
thế giới quan tâm. Vì vậy, có cả một hệ sinh thái quốc tế cho hoạt động khởi nghiệp.
3
Đối với hoạt động khởi nghiệp của sinh viên Quyết định số 1665/QĐ-TTg ngày
30/10/2017 của Thủ tƣớng Chính phủ về phê duyệt Đề án “Hỗ trợ học sinh, sinh viên
khởi nghiệp đến m 2025”. Trong đề án này ghi rõ lộ trình các trƣờng đại học thực hiện
hỗ trợ cho hoạt động khởi nghiệp của sinh viên và cách thức thực hiện nó.
1.1.2. Ý nghĩa của khi nghip
Đối với những nhà khởi nghiệp, hoạt động khởi nghiệp giúp họ tạo ra ng việc,
thu nhập cho chính mình không phải đi làm thuê. Họ đƣợc tự do trong công việc
thu nhập thể cao n gấp nhiều lần so với đi làm thuê. Ngoài ra, khởi nghiệp không
chỉ thuần y con đƣờng kiếm tiền, tạo dựng sự nghiệp còn một triết sống,
khẳng định mình, thử thách bản thân, kiểm tra giới hạn tiềm tàng của chúng ta.
Đối với hội nền kinh tế, khởi nghiệp cũng nghĩa bạn tạo ra thành quả
lợi cho hội hay nhóm khởi nghiệp, cho các cổ đông của doanh nghiệp, cho ngƣời lao
động, cho cộng đồng hội. Các công ty khởi nghiệp tạo ra thêm nhiều công ăn việc
làm, giảm bớt tình trạng thất nghiệp. Khởi nghiệp cũng góp phần giảm áp lực lên nền
kinh tế, trợ cấp xã hội, đƣa đất nƣớc ngày càng phát triển.
1.1.3. Đặc điểm ca khi nghip
Khởi nghiệp là hoạt động khá đặc thù, vì vậy có những đặc điểm nhƣ sau:
Thứ nhất, Nhà khởi nghiệp. Khởi nghiệp thƣờng liên quan đến những nhân
các đặc điểm tính cách năng lực riêng biệt. Một số các đặc điể m y nhƣ sẵn sàng
chấp nhận rủi ro, khả năng kiểm soát trong mọi tình huống, sự tự chủ, sự kiên trì, sự cam
kết, có tầm nhìn xa khả năng sáng tạo. Nhà khởi nghiệp là ngƣời có ý tƣởng tiềm năng
giá trị và sau đó quyết định khởi nghiệp để biến ý tƣởng đó thà nh sản phẩm hoặc dịch
vụ cung cấp cho thị trƣờng. Họ những con ngƣời tràn đầy nhiệt huyết, đủ sự nhanh
nhạy, khả năng nắm b ắt những kiến thức công nghệ mới, lòng can đảm khát
khao khẳng định bản thân.
Thứ hai, Sự sáng tạo và đổi mới. Khởi nghiệ p gắn liền với việc thực hiện một cái
đó mới mẻ nhƣ một ý tƣởng, sản phẩm, dịch vụ, thị trƣờng hoặc công nghệ trong một tổ
chức mới hoặc đã thành lập.