
Tại sao phim ngắn?
Cảnh trong phim “Trái tim xanh”
của đạo diễn Đặng Cao Cường.

Trong bối cảnh bùng nổ các phương tiện truyền thông đa phương tiện, nhiều
người trong giới trẻ Việt Nam, bộ phận đông đảo tham gia vào sinh hoạt kĩ thuật
số như sự thường tình, đã không bỏ qua cơ hội làm phim ngắn. Nhưng mặc dù
trăm nhà đua tiếng thì hi vọng về những nghệ sĩ đúng nghĩa vẫn chỉ có thể gửi
gắm ở đôi người.
Nhìn từ thế giới
Một thực tế chẳng dễ lí giải là đã có những ứng xử không đồng nhất với
phim ngắn (short film) diễn ra trong lịch sử điện ảnh thế giới. Trước khi được định
nghĩa như một thể loại, “ngắn”, nếu chiểu theo dung lượng thời gian, đã từng là
những thước phim đầu tiên và tồn tại suốt từ lúc khởi thủy, 1895 với anh em nhà
Lumière, rồi đến kỷ nguyên phim câm qua thời đại phim tiếng. Khi có sự xuất hiện
của những thước phim được mô tả là dài do việc gộp nhiều tập, kiểu như The life
of Moses (1910), The Fall of Troy (1911) hay Vanity Fair (1911)…, thì vị trí của
phim có thời giờ khiêm tốn mà đặc sắc nhất là phim hoạt hình, trong các rạp năm
xu, chỉ như món khai vị khuyến mãi trộn lẫn cùng dòng tin tức thời sự cho người
xem, ngoại trừ một ngoại lệ kinh điển là những thước phim hài của Charlie
Chaplin. Sự tiến bộ của kĩ thuật làm phim, sự phát triển của hình thức tự sự và
quyền lực của hệ thống phát hành đã đẩy phim truyện dài (feature film) lên vị trí
trung tâm, nơi thể hiện trọn vẹn các kiểu mẫu về nghệ thuật, tầm vóc của các minh
tinh, các đạo diễn cũng như tính thương mại vốn là yếu tố sống còn trong ngành
công nghiệp điện ảnh. Phim truyện dài, do vậy, được ưu tiên để đầu tư sản xuất, có
cơ hội đem lại vinh quang và tiền bạc, và sau đó, được phân tích, nghiên cứu như
điển phạm trong các giáo trình sách vở. David Bordwell và Kristin Thomopson,
trong các dẫn luận nổi tiếng của mình, là Film History và Film Art, cũng không
xây dựng một chương nào để bàn về phim ngắn như cách họ đã làm kĩ lưỡng, hấp

dẫn với các vấn đề trọng yếu khác.
Cho đến nay vẫn còn những than phiền và định kiến rằng phim ngắn chỉ là
tuổi nhỏ làm việc nhỏ. Bởi một phim ngắn “là những phim có độ dài khoảng 40
phút hoặc ít hơn” theo định nghĩa của Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện
ảnh Hoa Kỳ, dường như không đủ sức diễn đạt những ý tưởng nghệ thuật lớn lao.
Tuy nhiên, ngay ở vị trí bị xem nhẹ, phim ngắn là một cơ hội không thể khác và
hiệu quả hơn cho những khởi sự. Không chỉ 40 phút mà thậm chí ít hơn (như liệt
kê của nhà biên kịch Jean Marc Rudnicki chỉ ra: năm 2001, trong tổng số 379
phim ngắn được cấp giấy phép phát hành ở Pháp thì có 167 phim chỉ dài dưới 10
phút, 123 phim từ 20 – 30 phút), phim ngắn vẫn đủ sức cấp chứng chỉ cho một tài
năng, là điểm đáng tin cậy đầu tiên cho sự thông hành phía trước. Tấm danh thiếp
của Andrei Tarkovsky, David Lynch, Jean-Luc Godard, Rainer Werner Fassbinder,
Martin Scorsese, Abbas Kiarostami… những đạo diễn vĩ đại và có phong cách cá
nhân độc đáo bậc nhất, không chỉ được đánh dấu bằng các phim truyện dài, mà
còn là các phim ngắn, cả trước và trong quá trình lập danh của họ1. Thưởng thức
những phim ngắn của họ, trong tình thế đối sánh, thì thấy rằng một phim ngắn
đồng nghĩa với một bài tập tốt nghiệp thời sinh viên nhưng cũng là một thử thách
tái hồi thể loại khi họ đã chín muồi trong sự nghiệp. Lựa chọn phim ngắn, với họ,
ở những thời điểm khác nhau trong cuộc đời, không thể coi là cách giết thời gian
hay thêm quả dâu tây trên cốc sinh tố, mà chủ yếu, để gói ghém một ý tưởng độc
đáo, một thông điệp cô đọng có khả năng phát tán nhanh chóng. Với đòi hỏi ý tại
ngôn ngoại hay hình ít ý nhiều thì phim ngắn nhiều lúc như bài tuyệt cú, thể haiku
để ngỏ cho các nhà làm phim, ngay cả những người kì cựu ở phim truyện dài,
nhập cuộc đôi lần cho thỏa chí.
Một trong những tác nhân quan trọng làm thay đổi cách làm/xem phim ngắn
của thế giới hiện nay là sự xuất hiện Internet và các phương tiện kĩ thuật số. Thông
lệ cho những phim ngắn hay là chúng được lưu trữ ở các website hoặc các DVD

(điển hình như The Journal of Short Film) xuất bản thường kì.
Phim ngắn có lợi thế hơn hẳn phim truyện dài nếu tính ở góc độ tự do tham
gia một cách phi lợi nhuận. Và đây cũng là tinh thần của các liên hoan phim ngắn
thế giới, nơi công việc tuyển lựa nghiêm cẩn không kém phim truyện nhưng vinh
quang, nếu có, lại mang tính dự báo nhiều hơn, tức không quẳng phao cho người
đã vào bờ.
Nhìn từ Việt Nam
Những diễn biến trên có thể tìm thấy, vào thời điểm hiện tại, ở Việt Nam vài
nét tương tự. Chưa lúc nào chúng ta đang có nhiều điều kiện thuận lợi để phát
triển phim ngắn như dăm năm qua, bỏ qua một giai đoạn quá khứ chưa mấy khi
được chú trọng. Cuộc bùng nổ các phương tiện truyền thông đa phương tiện và
giới trẻ, bộ phận đông đảo tham gia vào sinh hoạt kĩ thuật số như sự thường tình,
sẽ không bỏ qua cơ hội trở thành nhà làm phim độc lập. Đến sau nhưng lại nhanh
chóng cập nhật công cụ làm phim, từ máy ảnh, máy quay đến các phần mềm cắt
dựng, người làm phim ngắn ở Việt Nam hoàn toàn thỏa mãn đam mê phim ảnh
của mình. Nhưng phải đợi đến khi, một tác nhân khác, quan trọng hơn, đến từ nhu
cầu nội tại của một cộng đồng điện ảnh Việt đang có dấu hiệu trưởng thành, thì
phim ngắn mới có được sức đột phá trên bình diện phong trào, mạnh mẽ đến mức,
khó đưa ra số lượng phim chính xác.
Phong trào làm phim ngắn ở Việt Nam hiện nay có thể lấy ra từ bốn nguồn.
Thứ nhất, như mặc định, là các bài tập tốt nghiệp của sinh viên các trường sân
khấu điện ảnh. Một số những tác phẩm tiêu biểu từ đây sẽ có mặt trong ngày phim
sinh viên hoặc Liên hoan phim Ong vàng do chính sinh viên, giáo viên trong
trường tổ chức. Thứ hai, có xu hướng ngắn gọn và hiệu quả, là mô hình từ chương
trình giảng dạy làm phim do các tổ chức/quĩ nước ngoài tài trợ mà những Dự án

Điện ảnh (Film Studies Program) của Trường ĐHKHXH-NV Hà Nội; Dự án 10
tháng 10 phim và Chúng ta làm phim của Trung tâm hỗ trợ và phát triển tài năng
điện ảnh (TPD) hay các khóa làm phim tài liệu của DocLab (Viện Goethe). Thứ ba,
hoạt động hỗ trợ phát triển cộng đồng làm phim trẻ Việt Nam của các công ty
truyền thông như: dự án 89600Km+…, cuộc thi Làm phim 48 giờ, cuộc thi phim
ngắn Hiểu về trái tim, Super 8… Thứ tư, trộn lẫn giữa tính nghiệp dư thuần túy và
nỗ lực chuyên nghiệp hóa làm phim là các nhóm hoặc cá nhân chuyên thử sức ở
phim ngắn. Dù tự phát hay tự giác thì đây vẫn là bằng chứng thuyết phục cho mức
độ sinh sôi phim ngắn tại Việt Nam.
Nhưng làm phim thì phải có xem, đánh giá phim. Bởi vậy không gì thu hút
lượng phim ngắn qui tụ đông đảo hơn là các cuộc thi phim ngắn. Hiện nay, ngoài
cuộc thi phim ngắn toàn quốc do Hội Điện ảnh tổ chức (sau 7 mùa giải có sân chơi
riêng thì từ năm 2010 phim ngắn được đưa vào một hạng mục của giải Cánh diều
vàng) như một kênh đánh giá của hội nghề nghiệp thì còn có nhiều cuộc thi phim
ngắn theo chủ đề (môi trường, sức khỏe, giáo dục) do các cơ quan, cá nhân khác -
thường là tình nguyện - đảm nhận. Điển hình cho nét mới mẻ, bài bản và bắt đầu
gây dựng uy tín cao là Tiệc phim trực ngắn tuyến YxineFF, được tổ chức từ năm
2010, dành cho phim ngắn, không chỉ của trong nước mà còn của khu vực và quốc
tế. Tăng nhanh về số lượng (năm 2010, YxinFF có 120 phim tham dự, 54 phim
được chọn trình chiếu; năm 2011 tỉ lệ này là 150 và 120), thiết lập các chủ đề mở
(tình yêu, niềm tin, đời sống cá nhân), tôn trọng các sáng tạo độc đáo, YxineFF đã
biến hoạt động làm phim ngắn độc lập ở Việt Nam thành việc làm có định hướng,
được ghi nhận và đánh giá đích đáng.
Từ “Chạy trốn” đến “Trái tim xanh”
Trong lúc trăm nhà đua tiếng, với không hiếm ngẫu hứng, thì việc điểm mặt
anh tài, lưu chiểu những tiếng nói ấn tượng là không dễ. Thiển nghĩ, phim ngắn,

