
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
THIẾT KẾ MỘT SỐ TRÒ CHƠI
TRONG POWER POINT CHO TIẾNG
ANH TIỂU HỌC

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Sau một năm áp dụng những trò chơi được thiết kế bằng Power Point, hiệu
quả giảng dạy bộ môn tiếng Anh trong trường tiểu học được nâng cao rõ rệt, chất
lượng cũng được ngày một nâng cao, kích thích được sự yêu thích môn học này.
Chính vì vậy, với sự mong muốn được chia sẻ những kinh nghiệm mà tôi có
được khi soạn giáo án điện tử bằng PPT đồng thời mong muốn được áp dụng
những trò chơi ngày càng phổ biến hơn và ngày càng hoàn thiện hơn, tôi chọn đề
tài: “Thiết kế một số trò chơi trong power point cho Tiếng Anh tiểu học.”
II. THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI CHỌN ĐỀ TÀI.
1. Thuận lợi:
-Trẻ em rất hiếu động và có khả năng bắt chước và trí nhớ tốt hơn khi các
em được quan sát trực tiếp và chơi trò chơi.
-Đội ngũ GV ngày càng trẻ hóa và được trang bị kiến thức về tin học tương
đối đầy đủ.
-Giáo viên thường xuyên được dự các lớp tập huấn phương pháp dạy tiếng
Anh của GV nước ngoài.
-Trang thiết bị dạy học tương đối đầy đủ.
-Được sự quan tâm và giúp đỡ của nhiệt tình của ban giám hiệu nhà trường
và đồng nghiệp.
-Đại đa số GV đều hiểu rõ tầm quan trọng và ích lợi của việc ứng dụng CNTT
trong soạn giảng cũng như việc lồng ghép các trò chơi khi dạy Tiếng Anh, đặc biệt
là đối với học sinh tiểu học.
2. Khó khăn:
-Trẻ em không tập trung lâu và mau chán nếu các hoạt động hoặc trò chơi
không hấp dẫn.
-Phòng học, bàn ghế chưa phù hợp với đặc trưng bộ môn tiếng Anh nên
không thể tổ chức được các trò chơi vận động ( Let’s Move).
- Cơ sở vật chất còn thiếu thốn cũng là một trong những vấn đề ảnh hưởng
đến công tác giảng dạy bằng máy chiếu của giáo viên. Vì chỉ có một số trường
được trang bị máy chiếu tuy nhiên số lượng chỉ có 1bộ/trường còn lại thì chưa
được trang bị nên hạn chế trong việc giáo viên sử dụng thường xuyên. Bên cạnh
đó chỉ có số ít trường tiểu học có phòng chức năng hoặc có một phòng dạy công
nghệ thông tin nhưng không thể đáp ứng hết nhu cầu giảng dạy của tất cả GV
(khi bị trùng tiết). Điều đó phần nào ảnh hưởng đến tính liên tục thực hành và
giảng dạy của giáo viên.
-Bộ môn tiếng Anh là môn cần nhiều tranh ảnh, âm thanh, và những đoạn
video clip minh hoạ thực tế các tình huống ngôn ngữ được sử dụng. Do đó cần
phải tốn rất nhiều thời gian để có thể soạn một bài giảng ứng dụng CNTT. Vì
vậy GV thường chỉ sử dụng giáo án điện tử trong các tiết hội giảng.
-Bên cạnh đó, việc thiết kế và thay đổi games phong phú trong PPT bằng kỹ
thuật tin học cao là rất khó nên đa số GV chỉ dạy và thiết kế game đơn giản với
phấn trắng bảng đen là nhiều chứ không áp dụng với phương pháp dạy bằng
PPT.

III. NỘI DUNG:
1. Cơ sở lý luận và thực tiễn
Ứng dụng CNTT vào giảng dạy đã được đề cập rất lâu và rất cụ thể trong
các Chỉ thị về giáo dục như: Chỉ thị 29 về việc"Ứng dụng và phát triển CNTT
trong giáo dục và đào tạo sẽ tạo ra một bước chuyển cơ bản trong quá trình đổi
mới nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy, học tập và quản lí giáo
dục" . Hay “đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giáo dục đào tạo ở tất cả các cấp
học, bậc học, ngành học theo hướng dẫn học CNTT như là một công cụ hỗ trợ
đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp dạy học ở các môn”. Đặc biệt trong năm
học 2008 – 2009 là năm triển khai thực hiện Chỉ thị số 55/2008/CT-BGDĐT
ngày 30/9/2008 của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT về tăng cường giảng dạy, đào tạo và
ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn 2008-2012 với chủ đề “Năm
học đẩy mạnh ứng dụng CNTT, đổi mới quản lý tài chính và xây dựng trường
học thân thiện, học sinh tích cực” thì năm 2011-2012 chính là năm thứ tư tiếp
tục triển khai thực hiện chỉ thị trên.
Do đó, giáo viên phải tự học và tự nghiên cứu để soạn giáo án điện tử và
ứng dụng CNTT là điều hết sức cần thiết nhằm phục vụ cho công tác giảng dạy
nói chung và cho môn Tiếng Anh nói riêng. Từ đó phần nào đáp ứng được nhu
cầu hiện nay cũng như góp phần xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích
cực.
2. Nội dung, giải pháp thực hiện đề tài:
2.1. Giải pháp thực hiện:
Trước đây GV ứng dụng những trò chơi vào các tiết dạy chỉ sử dụng tranh
ảnh và những thủ thuật bằng tay và có phần khó khăn nếu muốn chơi những trò
chơi phức tạp như bingo,... Để đơn giản hóa các trò chơi như vậy thì chúng ta có
thể thiết kế chúng bằng các phần mềm có sẵn. Khi thiết kế game trong PPT hầu
hết chúng ta sử dụng kỹ thuật trigger và lập trình đối tượng visual basic được MS
powerpoint hỗ trợ sẵn nên hệ điều hành máy tính chỉ cần bộ phần mềm MS
Office là đủ.
Thiết kế trò chơi bằng Power Point không chỉ giúp GV sử dụng các trò chơi
hiệu quả với nhiều hình ảnh hoặc video clip sinh động có thể download trên
internet mà còn giúp GV tránh được sự rắc rối và phức tạp trong quá trình chơi.
Đa số các game đều có thể áp dụng vào phần warm-up, practice hay củng
cố cho bài học nên GV có thể chuyển đổi các game giúp HS đỡ nhàm chán. Bên
cạnh đó, những game này còn giúp GV luyện tập những kĩ năng cần thiết cho HS
như ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, nghe, nói, đọc và viết.
Kinh nghiệm mà tôi chia sẻ có thể giúp một số giáo viên tham khảo và sử
dụng để có thể mang lại sự phấn khích cho học sinh cũng như thu hút tất cả HS
học tiếng Anh, đặc biệt là các HS yếu kém sẽ thích thú hơn trong việc học tiếng
Anh và đạt kết quả cao hơn.
Do vậy đầu năm học 2011-2012 tôi đã khảo sát số lượng HS các lớp tôi trực
tiếp giảng dạy bằng bài test xếp lớp cho lớp 3 và kết quả cuối năm của HS lớp 4
năm học 2009-2011như sau :
Lớp Sỉ số Giỏi Khá TB Yếu
3.1 34 15 (44,2%) 12 (35,3%) 6 (17,6%) 1 (2,9%)
3.2 35 12 (34,3%) 16 (45,7%) 5 (14,3%) 2 (5,7%)

4.3 34 16 (47,1%) 10 (29,4%) 8 (23,5%)
/
4.6 35 17 (48,6%) 9 (25,7%) 7 (20%) 2 (5,7%)
TỔNG
CỘNG
138 60 (43,5%) 47 (34,1%) 26(18,8%) 5 (3,6%)
2.2. Nội dung :
Sau đây, tôi xin chia sẻ một số games thông dụng mà tôi đã thực hiện thành
công và hiệu quả như sau:
2.2.1. MEMORY GAME :
- Mục đích : Check Vocabulary (Kiểm tra từ vựng vừa mới học xong)
- Cách thực hiện: Nếu như các trò chơi Rub out and Remember hay Slap
the board chỉ thiết kế đơn giản là cho từ (hoặc hình ảnh) xuất hiện và biến mất
theo thứ tự dưới sự điều khiển nhanh của GV, thì với Memory game lại khác.
Chúng ta phải cho nó xuất hiện từng từ (hoặc hình ảnh) khi được click vào đúng
ô đó và sẽ đóng lại nếu học sinh đoán không đúng từ nên tôi đã dùng Trigger
trong Effect options để thiết kế mới thực hiện được.
+Bước 1 : Mở PPT, vào Textbox để tạo các khung có từ (hoặc hình ảnh).
Sau đó các bạn có thể chuyển đổi bất cứ hình dạng(shape) của textbox theo ý
thích của mình bằng cách click chọn textbox cần chuyển đổi, sau đó vào draw
Chọn Change autoshape. Sau đó chọn hiệu ứng xuất hiện cho các autoshape
này.
+Bước 2 : Tạo các autoshape trắng và autoshape có chữ số ( 1,2,3…) theo
số lượng từ/hình ảnh mà bạn cho chồng lên các textbox đó.
+Bước 3 : Chọn hiệu ứng xuất hiện swivel cho các autoshape trên để che đi
tất cả các từ. Sau đó lại chọn hiệu ứng biến mất cho các autoshape này.
+Bước 4 : Chọn hiệu ứng nhấn mạnh cho các autoshape này để khi HS
chọn không đúng thì khi click vào autoshape đó chúng sẽ nhấp nháy hoặc lật
nhanh rồi đóng lại. Kế tiếp chọn hiệu ứng biến mất cho các autoshape. Để khi
HS chọn đúng thì khi click vào con số thì các autoshape sẽ biến mất, tại thanh
hiệu ứng ta chọn Effect options Chọn Timing Trigger Tại Start Effect
on click of chọn liên kết (các autoshape có số 1,2,3…) OK.
Với trò chơi này sẽ giúp HS rèn luyện trí nhớ, có thể thuộc từ vựng ngay
khi học xong. Và cùng với thủ thuật thiết kế như trên đã giúp tôi có thể điều
khiển chuột vào bất kỳ hình nào mà không sợ nhầm lẫn nội dung.
Trước khi chơi
Trong khi chơi

Hình 1
*Một phiên bản khác của trò chơi : đòi hỏi HS phải nhanh, luyện trí
nhớ tốt hơn và luyện tập cả phát âm của HS nhiều hơn:
Hình 2
Cách thực hiện :
Các bước thực hiện làm tương tự như cách tạo trò chơi ở hình 1 trên
nhưng có một số thay đổi như sau :
+Bước 1 : tương tự như cách thực hiện ở trò chơi đầu.
+Bước 2 : Tạo các autoshape trắng theo số lượng từ/hình ảnh mà bạn cho
chồng lên các textbox đó.
+Bước 3 : Chọn hiệu ứng motion paths cho các autoshape trên để thay đổi
vị trí của các từ/ hình ảnh.
+Bước 4 : Tạo các autoshape có chữ số ( 1,2,3…) theo số lượng từ/hình
ảnh mà bạn cho chồng lên giữa các textbox trắng (cùng các từ vựng/hình ảnh) đã
được thay đổi vị trí (như hình 2).

