

1
Thông tin
KHUYẾN NÔNG VIỆT NAM
SỐ 17/2014 THÔNG TIN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
Ngày 17/11/2014, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp
và PTNT Cao Đức Phát đã ban hành Chỉ
thị số 9270/CT-BNN-TY gửi Ủy ban Nhân dân các
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc tăng
cường công tác thú y thủy sản. Nội dung cụ thể
như sau:
1. Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương chỉ đạo thực hiện các nội
dung sau đây:
a. Các địa phương chưa chuyển giao nhiệm vụ
thú y thủy sản cho Chi cục Thú y quản lý, đề nghị
chuyển giao cả nhiệm vụ và nhân lực cho Chi cục
Thú y quản lý trước tháng 2 năm 2015 (Hiện nay
có 4 tỉnh mới chỉ chuyển giao một phần nhiệm vụ
quản lý thú y thủy sản và còn 7 tỉnh, thành phố chưa
chuyển giao nhiệm vụ quản lý thú y thủy sản cho
Chi cục Thú y);
b. Khn trương tổ chức xây dựng, phê duyệt
kế hoạch và bố trí kinh phí để triển khai công tác
phòng, chống dịch bệnh thủy sản theo đúng quy
định tại Thông tư số 17 và Công văn số 5887 nêu
trên; đồng thời gửi bản kế hoạch đã được phê duyệt
về Bộ Nông nghiệp và PTNT (Cục Thú y) trước
ngày 31/12/2014 để phối hợp thực hiện. Năm 2015,
tập trung phòng, chống bệnh đốm trắng và bệnh
hoại tử gan tụy cấp trên tôm nuôi nước lợ;
c. Rà soát, đầu tư, nâng cấp các phòng thử
nghiệm của địa phương đạt chun theo quy định tại
Thông tư số 16/2011/TT-BNNPTNT ngày 01/4/2011
của Bộ Nông nghiệp và PTNT hoặc đạt chun
ISO 17025;
d. Rà soát, chấn chỉnh công tác kiểm dịch thủy
sản đối với cơ sở sản xuất giống thủy sản để làm cơ
sở cấp giấy chứng nhận kiểm dịch thủy sản giống
lưu thông trong nước, giảm thiểu thủ tục, tránh gây
phiền hà cho các tổ chức, cá nhân khi vận chuyển
thủy sản giống đi tiêu thụ;
đ. Xây dựng và tổ chức thực hiện các dự án,
kế hoạch giám sát dịch bệnh, quan trắc cảnh báo
môi trường để chủ động phòng, chống dịch bệnh
hiệu quả;
e. Tổ chức thông tin tuyên truyền về các biện
pháp phòng, chống dịch bệnh thủy sản, sử dụng
thuốc thú y để tránh các chất tồn dư, ảnh hưởng
đến xuất khu sản phm thủy sản;
g. Tổ chức thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm
trong việc kinh doanh, sử dụng thuốc thú y, hóa
chất cải tạo môi trường thủy sản; phòng chống
dịch bệnh; kiểm dịch thủy sản và tổng hợp thông
báo định kỳ, đột xuất về Bộ Nông nghiệp và PTNT
(Cục Thú y) để phối hợp xử lý vi phạm.
2. Các đơn vị thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT:
a. Cục Thú y chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên
quan: (1) Thành lập các đoàn kiểm tra, hướng dẫn
các địa phương thực hiện các giải pháp nhằm tăng
cường năng lực thú y thủy sản (bao gồm cả công
tác phòng chống dịch bệnh, kiểm dịch thủy sản,
quản lý kinh doanh sử dụng thuốc thú y thủy sản);
(2) Chủ trì xây dựng, trình ban hành và tổ chức
hướng dẫn thực hiện các đề án, dự án, chương
trình, kế hoạch đào tạo, tập huấn, giám sát các loại
dịch bệnh trên tôm nuôi nước lợ, tôm hùm, cá tra
và các loại thủy sản khác; (3) Hướng dẫn xây dựng
cơ sở an toàn dịch bệnh thủy sản và kiểm soát tại
gốc theo các quy định hiện hành; (4) Thường xuyên
nắm bắt những tồn tại, vướng mắc và vi phạm trong
công tác thú y thủy sản để báo cáo Bộ Nông nghiệp
và PTNT phối hợp giải quyết xử lý;
b. Tổng cục Thủy sản chủ trì, phối hợp các cơ
quan liên quan: (1) Đy mạnh việc kiểm tra, hướng
dẫn các địa phương thực hiện quản lý nuôi trồng
thủy sản theo quy hoạch; (2) Chủ trì xây dựng và
tổ chức thực hiện Đề án quan trắc, cảnh báo môi
trường nuôi trồng thủy sản; (3) Xây dựng và ban
hành các quy trình nuôi.
c. Trung tâm Khuyến nông Quốc gia: (1) Tổ
chức hướng dẫn, tuyên truyền cho người nuôi trồng
thủy sản thực hiện tốt việc nuôi thủy sản an toàn
dịch bệnh, tuân thủ hướng dẫn của các cơ quan
chuyên môn về phòng, chống dịch bệnh, sử dụng
thuốc thú y thủy sản và kiểm dịch thủy sản giống;
(2) Nhân rộng các mô hình nuôi an toàn dịch bệnh có
hiệu quả cao■
BBT (gt)
TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC THÚ Y THỦY SẢN

2Thông tin
KHUYẾN NÔNG VIỆT NAM
HOẠT ĐỘNG KHUYẾN NÔNG SỐ 17/2014
Dự án “Xây dựng mô hình
cải tạo chất lượng đàn bò
địa phương bằng kỹ thuật thụ tinh
nhân tạo và vỗ béo bò trong nông
hộ” do Trung tâm Khuyến nông
Quốc gia chủ trì, phối hợp với
Trung tâm Khuyến nông Khuyến
ngư Vĩnh Phúc triển khai với mục
tiêu áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong
chăn nuôi, đổi mới quy trình công
nghệ nhằm chuyển từ chăn nuôi
bò quảng canh, tận dụng, phân
tán sang chăn nuôi thâm canh tạo
hàng hoá, tăng năng suất và chất
lượng, nâng cao hiệu quả kinh tế,
tạo việc làm và cải thiện đời sống
cho người dân, góp phần chuyển
đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp,
nông thôn và bảo vệ môi trường.
Năm 2014, tại tỉnh Vĩnh Phúc,
Dự án xây dựng mô hình trình
diễn với quy mô 160 con bò, 130
lượt nông dân được tập huấn
kỹ thuật. Sau khi được tham gia
tập huấn các hộ đã biết áp dụng
những kiến thức đã học vào thực
tế chăn nuôi tại gia đình như:
Cách ty nội, ngoại ký sinh trùng,
cho ăn thức ăn hỗn hợp kết hợp
thức ăn thô xanh, cách trồng và
ủ chua thức ăn xanh… nên đàn
bò khỏe mạnh, lớn nhanh, tăng
trọng bình quân 738,5 g/con/ngày,
bình quân mỗi bò vỗ béo cho lãi
từ 1,5 - 2 triệu đồng/con/tháng.
Như vậy nuôi bò vỗ béo cho hiệu
kinh tế cao hơn so với nuôi thông
thường > 15%.
Đạt được những kết quả trên,
ngoài sự cố gắng của bà con
nông dân, chương trình dự án
đã hỗ trợ thuốc ty ký sinh trùng,
thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và
đặc biệt là cán bộ chỉ đạo kỹ thuật
tận tình hướng dẫn trong suốt 4
tháng triển khai dự án.
Đến thăm hộ anh Trần Văn
Thạch ở thôn Vạn Thắng, xã
Đồng Thịnh, huyện Sông Lô,
chúng tôi được tận mắt nhìn đàn
bò đang trong giai đoạn vỗ béo
chun bị xuất bán. Dãy chuồng
được thiết kế xây dựng đơn giản
nhưng khá sạch sẽ, thoáng mát
và có bể biogas để xử lý chất thải.
Trước đây, anh chỉ nuôi 1 - 2 con
chăn thả lúc nông nhàn, nhưng
từ khi tham gia Dự án, được tiếp
cận với tiến bộ kỹ thuật nên anh
quyết định đầu tư mở rộng quy
mô. Hiện nay, anh duy trì nuôi từ
6 - 8 con bò. Anh thường mua bò
lai F1 hoặc F2 để nuôi vỗ béo. Tại
thời điểm này giá mua một con
bò là 23 triệu đồng, sau 3 tháng
nuôi vỗ béo sẽ bán được trung
bình 30 triệu đồng/con, cá biệt có
con bán được 35 - 40 triệu đồng,
trừ chi phí, thu lãi 3 triệu đồng/con.
Anh Thạch cho rằng, vốn đầu
tư nuôi bò lớn nhưng ít rủi ro,
lãi cao hơn nhiều vật nuôi khác.
Nuôi nhốt như hiện nay, chỉ cần
một người vẫn chăm sóc được
khoảng 20 con bò mà vẫn dư thời
gian để làm việc khác. Kỹ thuật
nuôi đơn giản và phù hợp với
hầu hết các hộ chăn nuôi. Ngoài
cám, các phụ phm sẵn có như
ngô, đỗ, cỏ, rơm được tận dụng
làm thức ăn cho bò nên vừa giảm
chi phí lại mang lại hiệu quả kinh
tế cao.
Chăn nuôi theo hướng sản
xuất hàng hóa là một ngành chịu
nhiều yếu tố rủi ro (thiên tai, dịch
bệnh, thị trường...) nhưng những
kết quả đạt được của Dự án “Xây
dựng mô hình cải tạo chất lượng
đàn bò địa phương bằng kỹ thuật
thụ tinh nhân tạo và vỗ béo bò
trong nông hộ” tại Vĩnh Phúc đã
khẳng định chăn nuôi là nghề đem
lại lợi nhuận cho người dân, mang
lại giá trị kinh tế xã hội lớn nếu
biết tổ chức sản xuất tốt, nắm bắt
được tâm lý của người chăn nuôi
và nhu cầu thị trường. Hy vọng,
từ kết quả của Dự án, ngành chăn
nuôi nói chung và của những địa
phương được triển khai nói riêng
sẽ đạt được nhiều thành công
mới trong thời gian tới■
NGUYỄN THỊ HẢI
Trung tâm Khuyến nông Quốc gia
Bình quân mỗi con bò vỗ béo cho lãi từ 1,5 - 2,0 triệu đồng/con/tháng
HIỆU QUẢ MÔ HÌNH VỖ BÉO BÒ THỊT
tại tỉnh Vĩnh Phúc

3
Thông tin
KHUYẾN NÔNG VIỆT NAM
HOẠT ĐỘNG KHUYẾN NÔNG
SỐ 17/2014
Ba Điền là xã vùng cao
huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng
Ngãi - nơi mà trình độ dân trí
còn hạn chế, phong tục tập quán
lạc hậu, các khâu canh tác chủ
yếu đều bằng thủ công, nhất là
khâu làm đất nên kéo dài thời
gian, khâu thu hoạch và sơ chế
thóc còn lạc hậu, lúa sau khi thu
hoạch về không hong phơi trước
khi bảo quản làm giảm phm chất
của lúa gạo, ảnh hưởng đến chất
lượng và sức khỏe cộng đồng.
Nhằm giúp vùng đồng bào dân
tộc xã Ba Điền thay đổi tập quán
canh tác, bảo quản lúa gạo theo
đúng quy trình kỹ thuật, đảm bảo
chất lượng, vệ sinh an toàn thực
phm, Trung tâm Khuyến nông
Quốc gia đã triển khai Dự án “Áp
dụng tiến bộ kỹ thuật đồng bộ,
nâng cao năng suất, chất lượng
sản xuất lúa, gạo cho đồng bào
dân tộc xã Ba Điền, huyện Ba Tơ,
tỉnh Quảng Ngãi” giai đoạn 2013 -
2015 để hỗ trợ người dân nơi đây.
Dự án được sự hưởng ứng
nhiệt tình của người dân, được
sự quan tâm của chính quyền
địa phương và các ban ngành.
Năm 2014, đơn vị triển khai đã
bàn giao máy, thiết bị đưa vào
sản xuất đảm bảo kịp thời vụ,
bao gồm: 10 máy tuốt sàng thóc
liên hoàn; 9.900 m2 bạt nhựa và
150 thùng tôn.
Ngoài ra, Dự án còn tổ chức
03 lớp tập huấn, hướng dẫn kỹ
thuật theo mô hình cho 150 hộ
tham gia; 03 hội nghị tổng kết,
đánh giá mô hình với 180 đại
biểu dự hội nghị.
Bước đầu, Dự án đã mang lại
hiệu quả thiết thực:
- Các mô hình đã giúp người
dân tiếp cận, ứng dụng tiến bộ
kỹ thuật, từng bước đưa cơ giới
hoá vào sản xuất, thu hoạch, bảo
quản lúa gạo.
- Giúp cho người dân biết
cách hong, phơi lúa gạo và các
sản phm nông nghiệp, không để
các sản phm còn tươi đem bảo
quản, hạn chế được sự phát sinh,
phát triển của nấm mốc so với
phương thức bảo quản trước đây.
- Giảm cường độ lao động và
giảm chi phí đầu vào trong sản
xuất, giảm chi phí trong khâu
thu hoạch lúa giúp mang lại thu
nhập cho người dân; góp phần
đy nhanh tiến độ thu hoạch lúa,
tránh được thời tiết bất lợi.
- Giảm tổn thất trong thu
hoạch, hong phơi và bảo quản
thóc gạo.
Ông Phạm Văn Hòa ở tổ 7,
thôn Làng Tương, xã Ba Điền
cho biết: “Các hộ tham gia Dự án
được nhận máy, thiết bị; được tập
huấn để nắm vững các thao tác
cơ bản để sử dụng, bảo quản vật
tư, thiết bị phục vụ cho gia đình.
Mô hình đã giúp cho người dân
chúng tôi thu hoạch lúa kịp thời
tránh được mưa bão. Lúa hao
hụt ít hơn so với thu hoạch bằng
bồ tuốt lúa thông thường như
trước đây”. Còn ông Phạm Văn
Thiêng ở tổ 2, thôn Gò Nghênh
thì chia sẻ: “Mô hình đã giúp cho
người dân chúng tôi bước đầu
thay đổi được tập quán cũ. Trước
đây khi thu hoạch lúa về, chúng
tôi để nguyên trong bao không
hong, phơi làm cho lúa gạo bị
m mốc, mất phm chất. Qua mô
hình, chúng tôi đã biết cách hong,
phơi khô lúa gạo có sử dụng bạt,
có thể bảo quản lâu dài”. Theo
Phó Chủ tịch UBND xã Ba Điền
Nguyễn Anh Khoa: “Khi Dự án
được triển khai đã được đông
đảo bà con nông dân đồng tình
hưởng ứng và tích cực làm theo.
Đến nay, người dân địa phương
bước đầu thay đổi dần tập quán
canh tác lạc hậu và bảo quản
nông sản không đúng cách”.
Dự án đã góp phần nâng cao
hiệu quả sản xuất; cải thiện chất
lượng lúa, gạo, nâng cao đời sống
cho đồng bào dân tộc. Ngoài ra
Dự án còn cùng các ngành chức
năng góp phần hạn chế căn bệnh
lạ “dày sừng lòng bàn chân, bàn
tay” đã từng hoành hành tại xã
Ba Điền.
Đến nay đồng bào dân tộc xã
Ba Điền tham gia mô hình đã biết
áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong
khâu làm đất, thu hoạch, bảo
quản và dự trữ lúa, gạo phòng
tránh nhiễm nấm mốc góp phần
hạn chế bệnh tật. Năm 2014, không
phát hiện thêm trường hợp nào bị
bệnh “sừng” bàn tay, bàn chân■
ĐINH HẢI ĐĂNG
Trung tâm Khuyến nông Quốc gia
Quảng Ngãi:
HIỆU QUẢ TỪ DỰ ÁN ÁP DỤNG TIẾN BỘ KỸ THUẬT ĐỒNG BỘ
TRONG SẢN XUẤT LÚA GẠO CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC XÃ BA ĐIỀN
Cán bộ dự án
bàn giao máy tuốt sàn thóc liên hoàn
cho bà con tham gia mô hình

4Thông tin
KHUYẾN NÔNG VIỆT NAM
HOẠT ĐỘNG KHUYẾN NÔNG SỐ 17/2014
BẮC GIANG: HỘI THẢO MÔ HÌNH
TRỒNG RỪNG KINH TẾ
Trạm Khuyến nông huyện Lục Ngạn, tỉnh
Bắc Giang vừa phối hợp với UBND xã Nam
Dương tổ chức Hội thảo mô hình trồng rừng kinh
tế tại thôn Nam Điện. Hội thảo đã thu hút hơn
30 đại biểu đại diện cho Hạt Kiểm lâm huyện, cán
bộ khuyến nông cơ sở, các trưởng thôn và hộ trồng
rừng kinh tế tiêu biểu tham gia.
Từ năm 2010 đến nay, Trạm Khuyến nông
huyện đã phối hợp với Trung tâm Khuyến nông
Khuyến ngư tỉnh và UBND 7 xã (Nam Dương, Cấm
Sơn, Biển Động, Phong Vân, Hộ Đáp, Sơn Hải, Phú
Nhuận) triển khai mô hình trồng rừng kinh tế bằng
giống keo tai tượng hạt ngoại với tổng diện tích hơn
226 ha. Tham gia mô hình, gần 300 hộ dân được hỗ
trợ cây giống và huấn kỹ thuật. Nhờ thế, rừng trồng
theo mật độ 1.660 cây/ha, tỷ lệ sống đạt từ 85% trở
lên, cây phát triển nhanh. Tại xã Nam Dương, mô
hình trồng rừng kinh tế được triển khai năm 2010
trên diện tích 23,5 ha với 20 hộ dân tham gia. Sau
4 năm thực hiện, đến nay cây keo đã phát triển tốt
đạt chiều cao trung bình từ 6 - 8 m, đường kính gốc
đạt bình quân 13 - 14 cm, tán gọn. Như vậy, chỉ sau
5 - 6 năm trồng, cây keo lai hạt ngoại đã có thể cho
thu hoạch với sản lượng đạt 110 ster/ha, cao hơn
từ 30 - 40 ster/ha so với các giống keo hạt nội khác
được trồng theo phương thức truyền thống trên địa
bàn. Với giá gỗ nguyên liệu trên thị trường hiện nay
850 đồng/kg, mỗi ha rừng kinh tế sẽ cho thu nhập
khoảng 68 - 82 triệu đồng, cho lãi khoảng từ 35 -
50 triệu đồng.
Tại hội thảo, sau khi đi khảo sát thực tế mô
hình trồng rừng kinh tế tại thôn Nam Điện, xã Nam
Dương, các đại biểu đều nhất trí cho rằng, trồng
rừng bằng giống keo hạt ngoại có khả năng thích
nghi tốt với điều kiện tự nhiên ở địa phương. Trong
tương lai, mô hình hứa hẹn sẽ mang lại hiệu quả
kinh tế cao cho chủ hộ trồng rừng ở địa phương.
ĐỨC THỌ
Đài truyền thanh Lục Ngạn, Bắc Giang
BÌNH PHƯỚC: TRIỂN KHAI DỰ ÁN
“CẢI TẠO ĐÀN BÒ ĐỊA PHƯƠNG
BẰNG KỸ THUẬT THỤ TINH NHÂN TẠO”
Nhằm giúp các hộ dân nâng cao hiệu quả kinh
tế trong chăn nuôi bò, Trung tâm Khuyến
nông Khuyến ngư Bình Phước đã triển khai Dự án
cải tạo đàn bò địa phương bằng kỹ thuật thụ tinh
nhân tạo thuộc Chương trình Khuyến nông Quốc
gia giai đoạn 2014 - 2015 tại xã Minh Hưng, huyện
Chơn Thành và xã Tân Khai, huyện Hớn Quản, tỉnh
Bình Phước.
Tổng quy mô thực hiện của dự án là thụ tinh
nhân tạo cho 100 con bò cái với 50 hộ tham gia.
Nhà nước hỗ trợ 50% về vật tư như: tinh, ni-tơ,
gang tay, ống gen, cám cho bò có chửa. Đến nay,
Trung tâm Khuyến nông tỉnh đã triển khai xong một
số nội dung về chọn hộ có bò cái theo đúng yêu cầu
kỹ thuật đề ra, tổ chức tập huấn về cách phát hiện
sự động dục ở bò cái, kỹ thuật chăm sóc bò sinh
sản, cách ghi chép và theo dõi số liệu thụ tinh nhân
tạo cho các hộ nông dân tham gia mô hình và các
hộ nông dân có nhu cầu. Qua quá trình thực hiện
công tác thụ tinh nhân tạo cho thấy, tỷ lệ bò có chửa
sau khi được phối lần 1 đạt 72% tổng số bò được
phối, số bò chưa được phối và số bò phối lần 1
chưa đậu thai đang được theo dõi để phối tiếp. Trên
cơ sở số lượng bò có chửa, Trung tâm đã tiến hành
giao cám đợt 1, đồng thời các hộ nông dân phải đối
ứng 50% số lượng vật tư còn lại để thực hiện mô
hình theo đúng quy trình kỹ thuật.
Để thông tin kết quả bước đầu của Dự án, trong
tháng 10 vừa qua Trung tâm đã tổ chức chuyến
tham quan, học tập mô hình cho 60 cán bộ, nông
dân nhằm tạo điều kiện trao đổi, học hỏi kinh
nghiệm trong chăn nuôi bò. Nhờ vậy, các hộ thực
hiện mô hình đã tuyên truyền cho các hộ nông dân
khác ngoài mô hình học tập và làm theo, giúp nhau
phát triển kinh tế gia đình.
ĐÀO THỊ BÌNH
Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư Bình Phước
Tập huấn tại Ủy ban Nhân dân xã Tân Khai,
huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước

