

1
Thông tin
KHUYẾN NÔNG VIỆT NAM
SỐ 6/2014 THÔNG TIN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
Ngày 27/5/2014 tại thị xã Sầm Sơn, tỉnh
Thanh Hóa, Bộ Nông nghiệp và PTNT
phối hợp với Ủy ban Nhân dân tỉnh Thanh Hóa
tổ chức Hội nghị “Sơ kết sản xuất vụ đông xuân
2013 - 2014; triển khai kế hoạch vụ hè thu, vụ mùa
và định hướng vụ đông 2014 các tỉnh phía Bắc”.
Ngày 11/6/2014, Văn phòng Bộ Nông nghiệp và
PTNT đã ban hành Thông báo số 2766/TB-BNN-
VP về kết luận của Thứ trưởng. Nội dung cụ thể
như sau:
1. Đánh giá công tác chỉ đạo sản xuất lúa
vụ đông xuân 2013 - 2014
Sản xuất lúa vụ đông xuân 2013 - 2014 các
tỉnh phía Bắc gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng
bất lợi về thời tiết, nhưng về cơ bản là thắng lợi.
Vùng Bắc Trung Bộ (BTB) được mùa lớn nhất trong
những năm gần đây, vùng Đồng bằng sông Hồng
(ĐBSH) và Trung du miền núi phía Bắc (TDMNPB)
năng suất lúa ở phần lớn các tỉnh cao hơn vụ
đông xuân 2012 - 2013. Diện tích gieo cấy toàn
vùng đạt khoảng 1.159 nghìn ha, giảm khoảng gần
1,5 nghìn ha so với cùng kỳ năm trước, trong đó có
một phần diện tích trồng lúa kém hiệu quả được các
địa phương chủ động chuyển đổi sang cây trồng
khác hiệu quả hơn; năng suất lúa toàn vùng ước
đạt 62,4 tạ/ha, cao hơn vụ đông xuân năm trước
0,5 tạ/ha. Sản lượng thóc ước đạt 7,22 triệu
tấn, cao hơn vụ đông xuân năm trước khoảng
49,2 nghìn tấn.
Có được kết quả trên là do sự nỗ lực của bà con
nông dân, sự chỉ đạo, điều hành và phối hợp kịp thời
giữa các đơn vị thuộc Bộ và các địa phương. Nhiều
giải pháp tiến bộ kỹ thuật (TBKT) đã được áp dụng
như chuyển mạnh sang trà xuân muộn với giống
ngắn ngày, tăng diện tích lúa lai, đặc biệt ở các tỉnh
BTB, TDMNPB, tăng tỷ trọng lúa chất lượng, mở
rộng diện tích gieo thẳng, công tác bảo vệ thực vật
được dự tính, dự báo và triển khai phòng trừ quyết
liệt, kịp thời. Ngoài ra, nhiều chính sách hỗ trợ sản
xuất của Trung ương và địa phương đã được thực
hiện, đặc biệt nhiều địa phương, doanh nghiệp đã
có chính sách hỗ trợ xây dựng mô hình “cánh đồng
lớn” và chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng
lúa, mang lại hiệu quả cao cho nông dân.
2. Một số giải pháp cần tập trung chỉ đạo trong
sản xuất vụ hè thu, vụ mùa và định hướng
vụ đông năm 2014
Để đảm bảo sản xuất vụ hè thu, vụ mùa 2014
đạt thắng lợi cần phải tập trung chỉ đạo một số
việc sau:
- Do ảnh hưởng của thời tiết, thời gian thu
hoạch lúa vụ đông xuân 2013 - 2014 của một số
tỉnh phía Bắc sẽ chậm hơn khoảng 7 - 10 ngày
nên các địa phương tuyên truyền và khuyến cáo
nông dân thu hoạch nhanh gọn lúa đông xuân, thu
hoạch đến đâu làm đất ngay đến đó, không để mất
nấm trên ruộng; sử dụng các chế phẩm sinh học,
nấm Trichoderma để đẩy nhanh quá trình phân giải
tránh ngộ độc hữu cơ cho lúa hè thu, lúa mùa sau
cấy; bố trí thời vụ và cơ cấu giống hợp lý, huy động
tối đa mọi nguồn lực “cấy càng sớm càng tốt” để
đảm bảo an toàn, né tránh được những bất thuận
của thời tiết và đảm bảo kế hoạch gieo trồng cây
vụ đông.
Đối với các tỉnh vùng BTB bố trí thời vụ gieo cấy
lúa hè thu vùng chạy lụt đảm bảo thu hoạch trước
ngày 5/9, vùng hè thu thâm canh thu hoạch chậm
nhất 20/9, vụ mùa sớm thu hoạch trong tháng 9, vụ
mùa chính vụ kết thúc cấy trong tháng 7.
Đối với các tỉnh vùng ĐBSH và TDMNPB bố trí
trà mùa sớm diện tích khoảng 450 - 500 nghìn ha,
trong đó vùng ĐBSH khoảng 35 - 40% diện tích lúa
để có quỹ đất làm vụ đông, đặc biệt cây vụ đông
ưa ấm, gieo mạ từ 5 - 15/6, cấy trong tháng 6, đầu
tháng 7; vụ mùa trung gieo mạ từ 15 - 20/6, cấy
trước 20/7; vụ mùa muộn gieo cấy các giống lúa dài
ngày, phản ứng ánh sáng (các giống lúa đặc sản
như Tám, Nếp và Bao thai, Mộc tuyền,..), gieo mạ
trong tháng 6, cấy trước 30/7. Lúa gieo thẳng cần
được quy hoạch thành vùng, chủ động tưới tiêu,
thời vụ gieo từ 15 - 25/6.
- Về cơ cấu giống, tăng cường sử dụng các
giống cực ngắn và ngắn ngày có năng suất cao,
chất lượng tốt, chống chịu khá với sâu bệnh và
điều kiện bất thuận. Mỗi địa phương nên cơ cấu
3 - 4 giống lúa chủ lực và 3 - 4 giống lúa bổ sung,
không khuyến khích sử dụng giống Bắc thơm 7 và
KẾT LUẬN CỦA THỨ TRƯỞNG BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT LÊ QUỐC DOANH
TẠI HỘI NGHỊ “SƠ KẾT SẢN XUẤT VỤ ĐÔNG XUÂN 2013 - 2014;
TRIỂN KHAI KẾ HOẠCH VỤ HÈ THU, VỤ MÙA
VÀ ĐỊNH HƯỚNG VỤ ĐÔNG 2014 CÁC TỈNH PHÍA BẮC”

2Thông tin
KHUYẾN NÔNG VIỆT NAM
THÔNG TIN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP SỐ 6/2014
Theo báo cáo của Cục Thú y, từ đầu năm
2014 đến hết tháng 5/2014, tổng diện tích
nuôi tôm bị thiệt hại tại 232 xã, phường, thị trấn của
60 huyện, thị, thành phố trực thuộc 19 tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương là khoảng 14.000 ha.
Hiện nay, dịch bệnh trên tôm có xu hướng tiếp tục tăng
mạnh và diễn biến phức tạp. Để khẩn trương khống
chế dịch bệnh, giảm thiểu thiệt hại và ảnh hưởng
đến xuất khẩu thủy sản, ngày 3/6/2014, Cục Thú y -
Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ban hành Công văn số
1730/BNN-TY
gửi Chủ tịch Ủy ban Nhân dân các tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương. Nội dung cụ thể như sau
:
1. Về
công
tác
phòng
chống
dịch
bệnh
- Chỉ đạo các đơn vị chức năng rà soát, chấn
chỉnh công tác thống kê, chẩn đoán xét nghiệm,
tổng hợp thông tin, số liệu báo cáo về diện tích dịch
bệnh thủy sản; đồng thời, tham mưu các biện pháp
quản lý sản xuất và phòng chống dịch bệnh phù hợp
với điều kiện thực tế của địa phương.
- Hướng dẫn người nuôi thực hiện quy trình kỹ
thuật đã được tổng kết từ các mô hình nuôi tôm
thành công và theo khuyến cáo tại Công văn số
298/TCTS-NTTS ngày 01/2/2013 của Tổng cục
Thủy sản.
- Tổ chức phòng chống dịch bệnh thủy sản theo
kế hoạch phê duyệt, chú ý tới việc tổ chức hệ thống
chuyên môn nghiệp vụ đến cơ sở để phát hiện sớm,
xác định nhanh, chính xác dịch bệnh và tổ chức
chống dịch có hiệu quả.
- Thực hiện kiểm tra điều kiện sản xuất kinh
doanh và chất lượng các sản phẩm con giống,
thuốc thú y, hóa chất, chế phẩm sinh học dùng
trong nuôi trồng thủy sản theo quy định tại Thông
tư số 14/2011/TT-BNNPTNT ngày 29/3/2011 của Bộ
Nông nghiệp và PTNT quy định việc kiểm tra, đánh
giá cơ sở sản xuất kinh doanh vật tư nông nghiệp
và sản phẩm nông lâm thủy sản để ngăn chặn sản
phẩm kém chất lượng, hàng giả, không có trong
danh mục được phép lưu hành tại Việt Nam.
- Hướng dẫn người nuôi không lạm dụng các
loại thuốc thú y, hóa chất trong phòng bệnh, chỉ sử
dụng thuốc thú y, hóa chất có trong Danh mục được
những giống dễ nhiễm bạc lá; gieo tập trung theo
vùng để thuận lợi cho việc quản lý sâu bệnh và áp
dụng các TBKT.
- Tăng cường áp dụng các biện pháp kỹ thuật
canh tác tiên tiến, sử dụng phân bón hợp lý, bón lót
sâu, tập trung nặng đầu nhẹ cuối, tránh hiện tượng
thừa đạm làm phát sinh dịch hại, đặc biệt chú ý bệnh
bạc lá ở các tỉnh BTB và ĐBSH; các địa phương
sớm có phương án tưới tiêu hợp lý, khoa học ở
vụ mùa không để tình trạng úng ngập đầu vụ gây
chết lúa sau cấy và kéo dài thời gian sinh trưởng do
úng ngập; đẩy mạnh các hoạt động khuyến nông,
chuyển giao các TBKT mới nhằm tăng năng suất,
chất lượng, giảm chi phí, nâng cao hiệu quả kinh tế.
- Tiếp tục phát triển mô hình liên kết sản xuất,
chế biến, tiêu thụ sản phẩm theo mô hình “cánh
đồng lớn”; áp dụng đồng bộ các TBKT nhằm tăng
năng suất, hạ giá thành sản phẩm, tăng hiệu quả
kinh tế.
- Tiếp tục thực hiện chuyển đổi diện tích trồng
lúa kém hiệu quả sang trồng các loại cây trồng hàng
năm có giá trị và hiệu quả kinh tế cao hơn, đổi mới
cơ cấu cây trồng trong sản xuất, kết hợp phát triển
cây vụ đông.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc
sản xuất, kinh doanh giống, phân bón, thuốc BVTV,
đảm bảo cung cấp nguồn vật tư nông nghiệp chất
lượng cho sản xuất.
- Các địa phương tiếp tục thực hiện các chính
sách đã được Trung ương, địa phương ban hành,
đồng thời có các chính sách khuyến khích và tạo
điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, hợp
tác xã dịch vụ nông nghiệp và các tổ hợp tác mở
rộng các loại hình dịch vụ, nhất là dịch vụ tiêu thụ
nông sản; hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia các
hoạt động xúc tiến đầu tư, thực hiện mô hình liên
kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm thông qua
hợp đồng.
- Xây dựng các phương án phòng chống thiên
tai, dịch bệnh để chủ động đối phó với diễn biến bất
thường của thời tiết và dịch hại xảy ra■
BBT (gt)
TRIỂN KHAI CÁC BIỆN PHÁP CẤP BÁCH
PHÒNG CHỐNG DỊCH BỆNH TRÊN TÔM

3
Thông tin
KHUYẾN NÔNG VIỆT NAM
SỐ 6/2014 THÔNG TIN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
phép lưu hành tại Việt Nam; ngừng sử dụng trước
khi thu hoạch theo đúng chỉ dẫn của nhà sản xuất,
của cơ quan chuyên môn để tránh tồn dư hóa chất
trong sản phẩm thủy sản ảnh hưởng tới sức khỏe
người tiêu dùng và xuất khẩu, đặc biệt chú ý loại
thuốc thú y đã bị các nước nhập khẩu sản phẩm
thủy sản cảnh báo.
- Khi phát hiện ổ dịch, tiến hành các biện pháp
xử lý ổ dịch:
* Khi xác định được nguyên nhân gây bệnh
thuộc danh mục bệnh thủy sản phải công bố dịch,
chủ cơ sở phải thực hiện các biện pháp sau:
+ Báo cáo cho chính quyền xã hoặc cơ quan
chuyên môn; đồng thời thông báo cho các cơ sở,
các hộ nuôi tôm xung quanh để phòng chống bệnh
kịp thời.
+ Thực hiện theo đúng quy trình, hướng dẫn về
phòng chống bệnh của cơ quan chuyên môn; áp dụng
các biện pháp nhằm ngăn chặn dịch bệnh lây lan.
+ Tất cả dụng cụ, bảo hộ lao động phải dùng
riêng cho cơ sở nuôi đang có bệnh và khử trùng
sau mỗi lần sử dụng bằng hóa chất theo hướng dẫn
của nhà sản xuất hoặc cơ quan chuyên môn.
+ Nếu tôm đạt kích cỡ thương phẩm cần tiến
hành thu hoạch ngay để tránh thiệt hại. Tôm mắc
bệnh chỉ được sử dụng theo hướng dẫn của cơ
quan chuyên môn; phương tiện vận chuyển phải
kín, không rò rỉ nước hoặc rơi vãi tôm, nước ra
ngoài môi trường trong quá trình vận chuyển và
phải được vệ sinh khử trùng trước và sau khi ra
vào vùng dịch.
+ Nếu thủy sản chưa đạt kích cỡ thương phẩm,
Chi cục Thú y chủ trì phối hợp với các đơn vị liên
quan để hướng dẫn, xử lý diệt mầm bệnh bằng hoá
chất được phép sử dụng theo đúng quy trình, đảm
bảo vệ sinh môi trường và khoanh vùng không để
dịch bệnh lây lan.
+ Sau khi thu hoạch chủ cơ sở phải xử lý diện
tích nuôi có tôm bị bệnh bằng hoá chất được phép
sử dụng theo hướng dẫn của cơ quan chuyên môn.
+ Cung cấp đầy đủ thông tin và tạo điều kiện cho
các cán bộ thú y lấy mẫu kiểm tra.
+ Chỉ tiến hành thả lại sau khi có công bố hết
dịch của cơ quan có thẩm quyền (trong trường
hợp đã công bố dịch), hoặc theo thông báo của cơ
quan chuyên môn.
* Đối với các cơ sở nuôi tôm ở khu vực xung
quanh cơ sở nuôi tôm bị bệnh:
+ Người chăm sóc, quản lý cơ sở nuôi không
sang cơ sở bị bệnh. Đối với các cơ sở nuôi kín, tiến
hành khử trùng tiêu độc trước và sau khi vào cơ sở
đối với người và phương tiện.
+ Tăng cường sức đề kháng cho tôm bằng cách
bổ sung các loại vitamin, khoáng, vi lượng,...
+ Thường xuyên theo dõi thông tin về dịch bệnh
để có biện pháp xử lý kịp thời.
2. Về kế hoạch phòng chống dịch bệnh thủy sản
a. Đối với địa phương chưa xây dựng kế hoạch:
Khẩn trương chỉ đạo Sở Nông nghiệp và PTNT thôn
chủ trì, phối hợp với các ban, ngành có liên quan
xây dựng và trình phê duyệt kế hoạch. Nội dung kế
hoạch cần có các hoạt động cụ thể, kèm theo định
mức và nguồn kinh phí nhằm chủ động quan trắc
cảnh báo môi trường, giám sát dịch bệnh và lấy mẫu
xét nghiệm xác định tác nhân gây bệnh. Bố trí kinh
phí mua hóa chất để chủ động phòng bệnh, chống
dịch khi còn ở phạm vi nhỏ hẹp hoặc khi chưa đủ
điều kiện công bố dịch, khi công bố dịch, hỗ trợ cán
bộ cơ sở tham gia phòng, chống dịch bệnh.
b. Đối với địa phương đã xây dựng kế hoạch
nhưng chưa được Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh phê
duyệt: Chủ tịch Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành
phố khẩn trương xem xét, phê duyệt.
c. Đối với địa phương đã được phê duyệt kế
hoạch: Cần rà soát, điều chỉnh, bổ sung các hoạt
động cụ thể và bố trí đủ kinh phí cho các hoạt động
phòng, chống có hiệu quả.
Đề nghị các địa phương báo cáo định kỳ, đột
xuất về tình hình phòng chống dịch bệnh thủy sản■
BBT (gt)

4Thông tin
KHUYẾN NÔNG VIỆT NAM
SỰ KIỆN KHUYẾN NÔNG SỐ 6/2014
Từ ngày 14 - 21/6/2014, tại
thành phố Mỹ Tho, tỉnh
Tiền Giang, Trung tâm Khuyến
nông Quốc gia phối hợp với Ủy
ban Nhân dân tỉnh Tiền Giang
tổ chức Hội chợ Nông nghiệp
và Thương mại vùng Đồng bằng
sông Cửu Long năm 2014. Tham
dự lễ khai mạc có đại diện Bộ
Nông nghiệp và PTNT khu vực
phía Nam, Trung tâm Khuyến
nông Quốc gia, lãnh đạo tỉnh Tiền
Giang cùng các sở, ban ngành
trong tỉnh, đại diện lãnh đạo Sở
Nông nghiệp và PTNT một số
tỉnh lân cận.
Đây là hội chợ thứ 3 trong
chuỗi 9 hội chợ nông nghiệp
và thương mại do Trung tâm
Khuyến nông Quốc gia phối hợp
với các địa phương tổ chức trong
năm 2014. Hội chợ là một trong
những hoạt động góp phần tăng
cường liên kết, đầu tư dựa trên
các thế mạnh, những sản phẩm
cây - con chủ lực của vùng như
lúa gạo, thủy sản, trái cây,… để
phát triển nông nghiệp bền vững
vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Bên cạnh đó, Hội chợ còn tạo
điều kiện cho người sản xuất,
người tiêu dùng, các cơ quan
nghiên cứu, cơ quan khuyến
nông, các doanh nghiệp trong và
ngoài nước trực tiếp đến giao lưu,
trao đổi thông tin và kinh nghiệm
sản xuất; quảng bá, mua bán
sản phẩm hàng hóa, công nghệ
phục vụ sản xuất và đời sống.
Hội chợ có quy mô và mức độ
tương xứng với tầm cỡ của hội
chợ cấp vùng, miền với gần
400 gian hàng của 145 đơn vị,
doanh nghiệp trong cả nước,
trong đó trên 100 gian hàng nông
nghiệp. Bên cạnh các hoạt động
trưng bày, giới thiệu quảng bá các
sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp,
các sản phẩm thủ công, mỹ nghệ
phong phú, đặc sắc của các địa
phương, các doanh nghiệp, phục
vụ sản xuất và đời sống, Hội chợ
còn tổ chức nhiều hoạt động
phong phú và thiết thực như:
- Tổ chức chương trình hội
thảo chuyên đề: “Một số giải
pháp phát triển rau quả theo
hướng công nghệ cao tại Đồng
bằng sông Cửu Long”;
- Tổ chức trao đổi, tư vấn trực
tiếp về khoa học, kỹ thuật, về
cơ chế chính sách cho bà con
nông dân;
- Đồng thời, tại Hội chợ cũng tổ
chức các hoạt động giao lưu văn
hóa, văn nghệ với nhiều chương
trình đặc sắc, mang đậm bản
sắc văn hóa của các địa phương
vùng Đồng bằng sông Cửu Long,
phục vụ nhu cầu thưởng thức
của quý khách và nhân dân đến
tham dự và tham quan Hội chợ■
ĐỖ TUẤN
Trung tâm Khuyến nông Quốc gia
Lễ cắt băng khai mạc Hội chợ
Gian hàng thủ công mây tre đan trưng bày tại Hội chợ
HỘI CHỢ NÔNG NGHIỆP VÀ THƯƠNG MẠI
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 2014

