TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
KHOA TÀI NGUYÊN ĐẤT VÀ MÔI TRƯỜNG NÔNG NGHIỆP
BÀI GIẢNG
KINH TẾ ĐẤT
Người biên soạn: TS. Trần Trọng Tấn
Huế, năm 2022
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ TÀI NGUYÊN VÀ TÀI NGUYÊN ĐẤT
1.1. Đại cương về tài nguyên
1.1.1. Khái niệm tài nguyên
Tài nguyên là các dạng vật chất được tạo thành trong suốt quá trình hình thành và
phát triển của tự nhiên, cuộc sống sinh vật và con người.c dạng vật chất này cung cấp
nguyên - nhiên vật liệu, hỗ trợ và phục vụ cho các nhu cầu phát triển kinh tế hội của
con người.
Tài nguyên tất cả những tồn tại trong tự nhiên một giá trị nhất định về
mặt này hay mặt khác trong khả năng đáp ứng những nhu cầu về cuộc sống của con người
như nhu cầu nhận thức, nhu cầu năng lượng, nhu cầu giải trí và những nhu cầu trong thang
phân cấp nhu cầu của Masslow (nhu cầu tự thân vận động, nhu cầu được tôn trọng, nhu
cầu liên kết và chấp nhận, nhu cầu về an ninh và an toàn…).
1.1.2. Phân loại tài nguyên
Hiện nay, có nhiều phương pháp phân loại tài nguyên khác nhau, sphân loại chỉ có
tính tương đối tính đa dạng đa dụng của tài nguyên cũng như tuỳ theo mục tiêu sử
dụng khác nhau.
1.1.2.1. Phân loại theo nguồn gốc
Theo nguồn gốc, tài nguyên được chia làm hai loại như sau:
- Tài nguyên thiên nhiên (Natural Resources): nguồn của cải vật chất nguyên khai
được hình thành tồn tại trong tự nhiên con người thsử dụng để đáp ng c
nhu cầu trong cuộc sống.
Mỗi loại tài nguyên có đặc điểm riêng, nhưng có hai thuộc tính chung:
+ Tài nguyên thiên nhiên phân bố không đồng đều giữa các vùng trên trái đất và trên
cùng một vùng lãnh thổ thể tồn tại nhiều loại tài nguyên, tạo ra sự ưu đãi của tự nhiên
với từng vùng lãnh thổ, từng quốc gia.
+ Đại bộ phận các nguồn tài nguyên thiên nhiên có giá trị kinh tế cao được hình thành
qua quá trình lâu dài của tự nhiên và lịch sử.
Chính hai thuộc tính này đã tạo nên tính qhiếm của tài nguyên thiên nhiên lợi
thế phát triển của các quốc gia giàu tài nguyên. Tài nguyên thiên nhiên được chia thành
các dạng như tài nguyên năng lượng, khoáng sản, sinh vật, đất, nước, biển, khí hậu, cảnh
quan…
- Tài nguyên nhân tạo (Artificial Resources): loại tài nguyên do lao động của con
người tạo ra nnhà cửa, ruộng ờn, xe cộ, đô thị, nông thôn các của cải vật chất khác.
1.1.2.2. Phân loại theo khả năng phục hồi
Dựa vào khả năng phục hồi, tài nguyên được phân thành hai dạng sau:
- Tài nguyên có khả năng phục hồi: là các tài nguyên mà thiên nhiên có thể tạo ra liên
tục và được con người sử dụng lâu dài như: rừng; các loại thuỷ hải sản ở sông, hồ, biển; độ
phì nhiêu của đất; nước ngọt… Các tài nguyên thể tái tạo đóng vai trò rất quan trọng
đối với sự sống của sinh vật chúng nguồn cung cấp thức ăn liên tục cho sinh vật
cho các nhu cầu cần thiết khác.
- Tài nguyên không có khả năng phục hồi: gồm các khoáng vật (Pb, Si…) hay nguyên
nhiên liệu (than đá, dầu mỏ, gas tự nhiên...) được tạo thành trong suốt quá trình hình thành
và phát triển của vỏ trái đất. Các tài nguyên này có khối lượng nhất định và bị hao hụt dần
sau khi được khai thác để phục vụ cho sự phát triển kinh tế, khoa học, kỹ thuật của xã hội
loài người.
Trong suốt quá trình sống con người đã lạm dụng vị trí độc tôn của mình để can thiệp
vào giới tự nhiên, bắt tự nhiên phải quy phục cho những hành động thô bạo của mình. Do
đó, trong một số trường hợp, tài nguyên khả năng phục hồi sẽ biến thành tài nguyên
không có khả năng phục hồi. Ví dụ, đất là tài nguyên có khả năng phục hồi nhưng một khi
đã bị đá ong hoá, phèn hoá thì sẽ trở thành "đất chết" và được xem là tài nguyên không
khả năng phục hồi. vậy, khái niệm "tài nguyên thể phục hồi” “tài nguyên không
thể phục hồi” chỉ mang ý nghĩa tương đối.
1.1.2.3. Phân loại theo sự tồn tại
- Tài nguyên hữu hình:dạngi nguyên hiện diện trong thực tế con người thể
đo lường, ước tính về trữ lượng ng như tiềm năng khai thác, sử dụng với nhiều mục đích
khác nhau trong cuộc sống như tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước...
- Tài nguyên vô hình: dạng tài nguyên mà con người sử dụng cũng đem lại hiệu quả
thực tế cao nhưng lại tồn tại dạng “không nhìn thấy”, nghĩa trữ lượng của dạng i
nguyên này bao nhiêu, mức độ nào thì con người chưa thể c định được chỉ thấy
được hiệu quả to lớn của dạng tài nguyên này đem lại. Một số dạng tài nguyên vô hình như
tài nguyên trí tuệ, tài nguyên sức lao động, tài nguyên văn hoá...
1.1.3. Tổng quan các nguồn tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam
Tài nguyên thiên nhiên trong các thành phần môi trường, nguồn lực của tự
nhiên gồm đất đai, không khí, nước, năng ợng những khoáng sản trong lòng đất tồn
tại dưới dạng tự nhiên, không phụ thuộc o ý chí của con người. Tài nguyên là thành phần
không thể thiếu, được khai thác, sử dụng phục vụ cuộc sống sự phát triển của xã hội loài
người. Vì vậy, đối với mỗi quốc gia, tài nguyên là nguồn tài sản, nguồn lực và nguồn vốn
tự nhiên đặc biệt quan trọng để xây dựng và phát triển đất nước.
1.1.3.1. Tài nguyên đất
Đất đai tài nguyên quốc gia cùng quý báu. Đất không chỉ liệu sản xuất
không thể thay thế được của nông lâm nghiệp còn thành phần rất quan trọng của
môi trường sống, nơi phân bố dân cư, xây dựng các sở kinh tế, văn hóa, hội, an
ninh quốc phòng. Việt Nam trên 39 triệu ha đất tự nhiên, diện tích đất đã sử dụng
vào các mục đích kinh tế - xã hội là 18,881 triệu ha, chiếm 57,04% quỹ đất tự nhiên, trong
đó đất nông nghiệp chiếm 22,20% diện tích đất tự nhiên 38,92% diện tích đất đang sử
dụng. Hiện nay, còn 14,217 triệu ha đất chưa sử dụng, chiếm 43,96% quỹ đất tự nhiên. Vị
trí địa nh đặc biệt làm cho thnhưỡng Việt Nam có tính chất chung của vùng nhiệt
đới ẩm nhưng rất đa dạng và phân hóa rõ từ đồng bằng lên núi cao, từ Bắc vào Nam và từ
Ðông sang Tây.
Đất đai nước ta rất đa dạng và phức tạp về loại hình nhưng có thể phân thành 2 nhóm
chính là nhóm đất núi (đất dốc, đất đồi núi…) và đất hình thành trên sản phẩm bồi tụ.
- Nhóm thứ nhất chiếm khoảng 1/2 diện ch tự nhiên, chủ yếu đất feralit. Đất feralit
được hình thành trong quá trình phong hóa nhiệt đới có tầng đất sâu, dày, ít mùn, chua
thường màu vàng đỏ. Đất feralit, đặc biệt đất đỏ bazan (phân bố chủ yếu Tây Nguyên
và Đông Nam Bộ) thích hợp với việc phát triển các loại cây công nghiệp dài ngày.
- Nhóm thứ hai tập trung ở các châu thổ và dọc theo các thung lũng rộng lớn. Trong
nhóm đất này, phì nhiêu hơn cả đất phù sa với diện tích khoảng 3 triệu ha, phân bố chủ
yếu đồng bằng sông Hồng đồng bằng ng Cửu Long. Loại đất này độ pH trung
tính, hàm lượng dinh dưỡng khá, thích hợp cho việc trồng lúa và nhiều loại y trồng khác.
Tiềm năng đất khả năng canh tác nông nghiệp của cả nước khoảng từ 10 - 11
triệu ha, diện tích đã được sử dụng chỉ có 6,9 triệu ha; trong đó 5,6 triệu ha là đất trồng cây
hàng năm và 1,3 triệu ha là đất trồng cây ăn quả và cây lâu năm khác (cà phê, cao su, dâu
tằm, hồ tiêu, cam, chanh, quýt).
1.1.3.2. Tài nguyên nước
Tài nguyên nước ở nước ta khá phong phú bao gồm nước mặt và nước ngầm, nước
khoáng nguồn nước biển. Việt Nam, hoạt động sản xuất đời sống sinh hoạt đang
khai thác và sử dụng các nguồn nước sau:
a. Nước mặt
Khí hậu nhiệt đới ẩm gmùa với lượng mưa phong phú đã hình thành mạng lưới
sông ngòi dày đặc với trên 2.360 con sông (chỉ tính những con sông chiều dài trên 10
km), mật độ sông ngòi 0,5 - 2,0 km/km2, trung bình cứ 20 km bờ biển một cửa
sông. Tổng trữ lượng nước chảy trên lãnh thổ nước ta trên 850 tỷ m3. Xét về mặt hóa tính,
nước sông ngòi Việt Nam có chất lượng tốt, độ khoáng hóa thấp và ít biến đổi (khoảng 170
mg/l đối với sông lớn), độ pH trung tính (7,2 - 8) và hàm lượng chất hữu cơ thấp. Các con
sông lớn nguồn cung cấp phù sa một nguồn phân bón giá trị lớn cho nông nghiệp
với tổng lượng phù sa khoảng 300 triệu tấn. Nguồn nước mặt khá dồi dào nên chỉ cần khai
thác 10 - 15% nguồn nước nói trên là có thể đảm bảo cho sản xuất và đời sống. Tuy nhiên,
nguồn tài nguyên nước sông sự phân bố không đều theo thời gian không gian. o
mùa mưa, lượng dòng chảy chiếm 70 80% tổng lượng nước cả năm, trong khi đó mùa
khô chỉ chiếm 20 – 30%. Vì vậy, nếu không có kế hoạch giữ nước thì vào mùa kiệt không
đủ nước cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, đồng thời nếu không có quy huy hoạch, điều
tiết các dòng chảy sẽ gât nên lũ lụt, xói mòn.
Việt Nam 1 trong 14 quốc gia giàu thủy năng của thế giới, tập trung chủ yếu h
thống sông Hồng, hệ thống sông Đồng Nai, sôn Cả, sông Mã, Sesan Serepok. Do đó, tiềm
ng thủy điện của nước ta rất lớn với tổng công suất tiềm ng có thđạt 30 triệu KW.
Tổng chiều dài sông toàn quốc 52.000 km, trong đó 75% khả năng vận tải
thủy. Bắc Bộ 4.000 km sông với độ sâu trên 1,5 m cho phép u thuyền 10 20 tấn
đi lại an toàn. Đồng bằng sông Cửu Long hơn 2.300 km kênh rạch (không kể sông Tiền,