TIỂU LUẬN:
Thực trạng: Tình hình xuất khẩu
các mặt hàng chủ lực
(doanh số, thị trường)
Lời mở đầu
Sau thời kỳ mở cửa, đặc biệt từ những năm 90 trở lại đây, Việt Nam không
ngừng mở rộng mối quan hệ hợp tác hữu nghị, giao lưu, buôn bán với các nước bên
ngoài. Những mối quan hệ y phát sinh từ các lợi ích kinh tế chủ yếu; trong đó
thì hoạt động xuất khẩu của Việt Nam hoạt động mang tầm quan trọng chiến lược.
sở cho việc lựa chọn chiến lược thương mại quốc tế của Việt Nam phải xuất phát
từ điều kiện môi trường kinh tế quốc tế hiện tại những điều kiện thuận lợi vốn
của Việt Nam đ tham gia vào sự phân công lao động quốc tế mt cách đúng đắn nhất.
Trong giai đoạn đầu, sự phân công lao động đó cần dựa trên lợi thế so sánh của
từng quốc gia để sản xuất các sản phẩm trao đổi với nhau. Xuất phát từ những lợi
thế so sánh của Việt Nam và các nước trên thế giới, trong giai đoạn đầu này, Việt Nam
sẽ sản xuất xuất khẩu các sản phẩm thô sản phẩm nông nghiệp, một s sản phẩm
sử dụng nhiều lao động, công nghệ trung bình, s dụng ít vốn ngoại t thu được thông
qua hoạt động xuất khẩu đó, Việt Nam sẽ tiền đề cho hoạt động nhập khẩu liệu
sản xuất công nghệ. Thông qua việc ứng dụng các tư liệu sản xuất và công nghệ
tiên tiến sẽ góp phần giúp Việt Nam đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá hiện đại
hoá đất nước.
Đại hội Đảng lần thứ VII (6/1991) đã xác định đường lối đối ngoại: “độc lập tự
chủ, đa dạng hoá, đa phương hoá”, và sau Đại hội Đảng lần thứ VIII (7/1996) là: “Xây
dựng mt nền kinh tế mới hội nhập với khu vực thế giới, hướng mnh v xuất
khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu…Chủ động tham gia cộng đồng thương mại thế
giới, các diễn đàn, các t chức, các định chế quốc tế một cách chọn lọc với bước đi
thích hợp”.
Tuy nhiên, Việt Nam cũng như các quốc gia đang phát triển khác, chiến lược
phát triển trong tương lai phải nhanh chóng chuyển từ việc sản xuất xuất khẩu các
sản phẩm thô, sản phẩm sơ chế sang sản phẩm chế biến. Muốn vậy, ta cần phải đẩy
mạnh tính hiệu quả từ hoạt động xuất khẩu; đặc biệt các mặt hàng chủ lực bởi các
mặt hàng này hiện chiếm mt tỷ trọng rất lớn trong cơ cấu hàng xuất khẩu của nước ta.
Đề tài này sẽ nghiên cứu về thực trạng và từ đó tập trung đề ra các biện pháp thúc
đẩy hoạt động xuất khẩu các mặt hàng chủ lc của nước ta.
Về kết cấu nội dung của đề án, nội dung đề án chia làm 2 phần (ngoài lời mở đầu
và kết luận) như sau:
Phần I: Cơ sở lý luận chung (Tổng quan về lý thuyết)
1- Vai trò của xuất khẩu hàng hoá
2- Các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu
Phần II: Thực trạng và giải pháp
1- Thực trạng: Tình hình xuất khẩu các mặt hàng chủ lực (doanh số, th
trường)
2- Các vấn đề trong hoạt động xuất khẩu các mt hàng chủ lực
3- Các giải pháp
Để thể hoàn thành được vấn đề nghiên cứu đặt ray với cách đề án của
môn học Kinh Tế Thương Mại, em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình, tận
tụy của Thầy giáo, Thạc s Nguyễn Việt Cường; nhờ đó mà đ án y được hoàn
thành một cách trọn vẹn hơn.
Phần I: Tổng quan v lý thuyết
1/ Vai trò của xuất khẩu:
Khái niệm hàng xuất khẩu: Hàng hoá xut khẩu được hiểu gắn với khái niệm
thương mại hàng hoá theo quy ước của Liên Hợp Quốc WTO những sản phẩm
hàng hoá hữu hình được sản xuất hoặc gia công tại các ssản xuất các khu chế
xuất với mục đích tiêu thụ tại thị trường ngoài ớc (xuất khẩu) đi qua hải quan
Hàng tạm nhập tái xuất cũng được coi là hàng h xuất khẩu, hàng hoá quá cảnh
không thuộc diện khái niệm hàng hoá xuất khẩu.
Vai trò của xuất khẩu hàng hoá đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia:
- Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hoá hiện
đại hoá đất nước.
Công nghiệp hoá đất ớc theo những ớc đi thích hợp con đường tất yếu để
khắc phục tình trạng nghèo và chậm phát triển của nước ta. Để công nghiệp hoá đất
nước trong một thời gian ngắn, đòi hỏi phải số vốn rất lớn để nhập khẩu máy móc,
thiết bị, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến.
Nguồn vốn nước ngoài thể được hình thành từ các nguồn như: Đầu tư ớc
ngoài, vay n, viện trợ, các hoạt động du lịch, xuất khẩu sức lao động…tuy vậy, các
nguồn y không ổn định phải trả bằng cách y hay cách khác thời kỳ sau y.
Nguồn vốn quan trọng nhất để nhập khẩu, đẩy mạnh công nghiệp hoá đất nước là xuất
khẩu. Xuất khẩu quyết định quy mô và tốc độ tăng trưởng của nhập khẩu.
- Xut khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất
phát triển.
cấu sản xuất và tiêu dùng thế giới đã và đang thay đi cùng mạnh mẽ. Đó
là thành quả của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại. Sự chuyển dịch cơ cấu
kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá phù hợp với xu hướng phát triển của kinh tế
thế giới là tất yếu đối với nước ta.
Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển thuận lợi hơn. Ví dụ, khi
phát triển ngành dệt xut khẩu sẽ tạo hội đầy đ cho việc phát triển ngành sản xuất
nguyên liệu như bông, thuốc nhuộm; phát triển ngành công nghiệp chế biến thực phẩm
xuất khẩu (dầu, thực vật, chè..) sẽ kéo theo sự phát triển của ngành ng nghiệp chế
tạo ra thiết bị phục vụ cho nó.
Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thtrường hàng tiêu thụ, góp phần cho sản
xuất phát triển ổn định.
Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, nâng
cao năng lực sản xuất trong nước.
Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế kỹ thuật nhằm cải tạo ng cao năng
lực sản xuất trong nước. Xuất khẩu phương tiện quan trọng tạo ra vốn kỹ thuật,
công nghệ từ bên ngoài vào Việt Nam nhằm hiện đại hoá nền kinh tế đất nước, tạo ra
một năng lc sản xuất mới.
Qua xuất khẩu, hàng hoá nước ta sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh thị trường quốc
tế về giá lượng; do vậy, ta s phải tổ chức li sản xuất, hình thành cấu sản xuất
phù hợp, thích nghi được với thị trường.
Xuất khẩu n đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới hoàn thiện công
việc quản trị sản xuất và kinh doanh.
Xuất khẩu đóng góp tích cực vào việc gii quyết công ăn việc làm cải thiện
đời sống của nhân dân. Việc sản xuất hàng xuất khẩu sẽ thu t hàng triệu lao động
vào làm việc thu nhập khá; việc xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn nhập khẩu vật
phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống và đáp ứng ngày mt linh hoạt hơn nhu cầu
tiêu dùng của nhân dân.
Ngoài ra, xuất khẩu cơ sđể mở rộng thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối
ngoại của đất ớc. Bản thân xuất khẩu một hoạt động kinh tế đối ngoại. thể
hoạt động xuất khẩu sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác, tạo điều kiện
thúc đẩy các quan hệ này phát triển. Chẳng hạn xuất khẩu ng nghiệp sản xuất
hàng xut khẩu thúc đẩy quan hệ tín dụng, đầu , mở rộng vận tải quốc tế,… mt
khác, chính các quan hệ kinh tế đối ngoại y phát triển lại tạo những điều kiện thuận
lợi khác cho mở rộng xuất khẩu, đó là mối quan hệ biện chứng giữa các hoạt động này.