
Trần Thị Xuân Hồng, lớp EC003_1_121_T01
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ……
TIỂU LUẬN
CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU Ở
VIỆT NAM NĂM 2009

Trần Thị Xuân Hồng, lớp EC003_1_121_T01
2
CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU Ở VIỆT NAM NĂM 2009
1. MỞ ĐẦU:
Năm 2008 thế giới đã rơi vào một cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất kể
từ cuộc Đại suy thoái 1929 – 1933. Cuộc khủng hoảng này khởi đầu bằng cuộc
khủng hoảng cho vay địa ốc dưới chuẩn ở Mỹ, nhưng lý do sâu xa của nó là sự mất
cân bằng quốc tế của các khu vực kinh tế trụ cột trên thế giới và những vấn đề nội
tại của hệ thống ngân hàng Mỹ và châu Âu. Cuộc khủng hoảng ở Mỹ lan rộng và
đẩy nền kinh tế thế giới rơi vào cuộc suy thoái toàn cầu. Mỹ, châu Âu và Nhật Bản
lần lượt rơi vào suy thoái.
Đối với nền kinh tế Việt Nam: một nền kinh tế mở phụ thuộc nhiều vào nền
kinh tế khác và phụ thuộc nhiều vào đầu tư trực tiếp từ nước ngoài nên rơi vào
khủng hoảng là điều không thể tránh khỏi. Năm 2007 tốc độ tăng trưởng Việt Nam
là 8,46%, năm 2008 giảm xuống còn 6,31%. Cụ thể là trong nước sản xuất đình
đốn, đầu tư tăng thấp, tiêu dùng có dấu hiệu chậm lại, tình trạng thất nghiệp gia
tăng nhanh…Trước tình hình này, nhà nước phải đưa ra biện pháp để giải quyết.
Một là kích cầu và phải đương đầu với tình hình lạm phát gia tăng, hai là không làm
gì cả nhưng sự chờ đợi sẽ rất lâu và sự hồi phục có thể không xảy ra. Và chính sách
kích cầu được đánh giá nhanh và phù hợp trong thời điểm hiện tại.
2. CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU VIỆT NAM NĂM 2009:
Kích cầu là biện pháp đẩy mạnh chi tiêu ròng của chính phủ (hay còn gọi là
tiêu dùng công cộng), từ đó gia tăng tổng cầu, kích thích tăng trưởng kinh tế.
2.1 Giới thiệu chính sách kích cầu của Việt Nam 2009:
Trong năm 2009, chính phủ Việt Nam đã thực hiện biện pháp kích cầu thông
qua chính sách hỗ trợ lãi suất 4% đối với các doanh nghiệp, các chương trình miễn,
giảm và giãn thuế, bảo lãnh cho các doanh nghiệp, ngân hàng thương mại…
Ngày 12/5/2009, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã công bố chính thức về gói kích
cầu có giá trị 143.000 tỷ đồng (tương đương 8 tỷ USD) của Chính phủ, sau đó tăng
lên 160 nghìn tỷ đồng (tương đương 9 tỷ USD). Theo đó, gói kích cầu tương đương
8 tỷ USD được chia thành 8 phần có các giá trị khác nhau. Cụ thể các phần của gói
kích cầu này bao gồm:
- Hỗ trợ lãi suất vay vốn tín dụng khoảng 17.000 tỷ đồng.
- Tạm thu hồi vốn đầu tư xây dựng cơ bản ứng trước khoảng 3.400 tỷ đồng.
- Ứng trước ngân sách nhà nước để thực hiện một số dự án cấp bách khoảng
37.200 tỷ đồng.

Trần Thị Xuân Hồng, lớp EC003_1_121_T01
3
- Chuyển nguồn vốn đầu tư kế hoạch năm 2008 sang năm 2009 khoảng
30.200 tỷ đồng.
- Phát hành thêm trái phiếu Chính phủ khoảng 20.000 tỷ đồng.
- Thực hiện chính sách giảm thuế khoảng 28.000 tỷ đồng.
- Tăng thêm dư nợ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp khoảng 17.000 tỷ
đồng.
- Các khoản chi kích cầu khác nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, đảm bảo an
sinh xã hội khoảng 7.200 tỷ đồng.
2.2 Tác động của chính sách kích cầu năm 2009:
2.2.1 Tác động tích cực:
Các giải pháp kích cầu đầu tư và tiêu dùng được thực hiện trong khoảng thời
gian ngắn; trong đó có những chính sách mới được ban hành. Tuy nhiên, có thể
nhận thấy việc thực hiện các giải pháp chính sách kích cầu đã mang lại nhiều kết
quả tích cực.
Một, tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng (từ 3,14% trong quý I tăng lên 6,9% vào
quý IV năm 2009, ước tính cả năm là 5,32%).
Biểu đồ 1: Tốc độ tăng trưởng GDP theo quý của Việt Nam 2009
Nguồn: Tổng cục thống kê

Trần Thị Xuân Hồng, lớp EC003_1_121_T01
4
Hai, nhờ tác động của các gói kích cầu, trong từng ngành, từng lĩnh vực đều
có chuyển biến rõ nét. GDP khu vực công nghiệp và xây dựng năm 2009 tăng
5,4%; khu vực dịch vụ tăng 6,5% so với thời kỳ trước khủng hoảng.
Ba, tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa năm 2009 đạt khoảng 68,8 tỷ USD,
giảm 14,7% so với năm 2008. Trong đó khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài đạt 24,87 tỷ USD, chiếm 36,1% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước, giảm
10,8% so với năm 2008, khối doanh nghiệp 100% vốn trong nước đạt khoảng 43,96
tỷ USD, chiếm tỷ trọng 63,9% , giảm 16,8% so với năm 2008. Tổng kim ngạch
xuất khẩu hàng hóa năm 2009 đạt khoảng 56,6 tỷ USD bằng 87,6% so với kế
hoạch. Xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài vẫn giữ vị trí quan trọng.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia xuất khẩu hầu hết các mặt hàng
chủ lực và chiếm tỷ trọng cao trong xuất khẩu nhiều mặt hàng, đặc biệt là nhóm
hàng công nghiệp chế biến.
Bốn, các cân đối và chỉ số kinh tế vĩ mô, như thu chi ngân sách, tiền tệ, tín
dụng, cán cân thanh toán quốc tế tương đối ổn định. Chỉ số lạm phát (chỉ số giá tiêu
dùng) ở mức thấp. Lạm phát đã giảm từ 19,9% năm 2008 xuống còn 6,5% năm
2009. Chỉ số giá tháng 4 năm 2009 so với tháng 12 năm 2008 chỉ tăng 1,68%, cùng
với lãi suất giảm và hỗ trợ lãi suất 4% năm vừa tạo thêm thuận lợi giúp cho doanh
nghiệp giảm bớt khó khăn, phục hồi sản xuất, vừa hỗ trợ cho việc phát triển ổn định
và an toàn của hệ thống các tổ chức tín dụng.
Biểu đồ 2: Chỉ số giá tiêu dùng theo tháng từ năm 2008 đến 2012
Nguồn: Tổng cục thống kê

Trần Thị Xuân Hồng, lớp EC003_1_121_T01
5
Năm, trực tiếp góp phần gia tăng các hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ
tầng kinh tế và xã hội, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế, tạo nền tảng và động lực
của sự phát triển xã hội cả hiện tại, cũng như tương lai.
Sáu, nhiều doanh nghiệp nhận được sự hỗ trợ kịp thời của “gói kích cầu” đã
có thêm cơ hội giữ vững và mở rộng sản xuất, từ đó góp phần giảm bớt áp lực thất
nghiệp và đảm bảo ổn định xã hội, tiếp tục hướng vào xoá đói giảm nghèo, đặc biệt
là đồng bào dân tộc, các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa; hỗ trợ nhân dân đón Tết
tươi vui, đầm ấm, tiết kiệm; hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả thiên tai, dịch
bệnh...Các chính sách hỗ trợ lãi suất tín dụng cho vay đầu tư máy móc, thiết bị sản
xuất nông nghiệp, xây dựng nhà ở nông thôn, nhà xã hội, nhà ở cho người nghèo,
ký túc xá cho sinh viên đang được triển khai một cách tích cực theo các mục tiêu đã
đề ra.
Tóm lại, không thể phủ nhận rằng gói kích cầu thứ nhất đã có những tác
động tích cực đến nền kinh tế Việt Nam năm 2009, góp phần đưa Việt Nam sớm
thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế.
2.2.2 Tác động tiêu cực:
Bên cạnh những hiệu quả tích cực, nền kinh tế Việt Nam vẫn còn tồn tại
nhiều hạn chế của gói kích cầu thứ nhất:
Một, mục tiêu và định hướng chính sách kích cầu là không rõ ràng, không có
phân định giữa khái niệm kích cầu và kích cung hay giải cứu…Những chính sách
đưa ra đều được đặt dưới cái tên kích cầu trong khi tác động thực tế của nó chưa
chắc làm tăng tổng cầu của nền kinh tế.
Hai, gói hỗ trợ lãi suất có một số hạn chế tiềm tàng có thể nhận thấy, cụ thể
là: chính sách này không đến được những đối tượng cần hỗ trợ, thậm chí có thể hỗ
trợ nhầm đối tượng do tình trạng bất cân xứng về thông tin giữa Ngân hàng Nhà
nước với ngân hàng thương mại và giữa ngân hàng thương mại với doanh nghiệp,
dẫn tới việc nhiều doanh nghiệp chưa hưởng chính sách hỗ trợ từ Nhà nước. Tác
động của chính sách hỗ trợ lãi suất đối với các tổ chức, cá nhân vay vốn trung dài
hạn thực hiện đầu tư mới để phát triển sản xuất, kinh doanh cũng rất hạn chế.
Ba, với mức hỗ trợ lãi suất tiền vay 4%/năm là khá lớn, đối tượng thụ hưởng
thuộc nhiều lĩnh vực, ngành kinh tế, nếu kéo dài sẽ phát sinh tâm lý ỷ lại vào sự hỗ
trợ của nhà nước, giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Chính sách hỗ trợ
lãi suất 4% có thể tạo ra sự bất bình đẳng, cạnh tranh không lành mạnh giữa các
doanh nghiệp do khả năng tiếp cận nguồn vốn được hỗ trợ lãi suất của các doanh
nghiệp không đồng đều.
Bốn, gói hỗ trợ lãi suất 4% có thể dẫn đến sự suy giảm khả năng cạnh tranh
của các doanh nghiệp Việt Nam do chi phí vốn không được tính đúng và đầy đủ.
Năm, gói kích cầu không đáp ứng hoàn toàn 3 yêu cầu: kịp thời, đúng đối
tượng và vừa đủ (ngắn hạn). Mặc dù gói kích cầu được chính phủ kịp thời đưa ra

