Tiểu luận
Chính sách năng lượng các nước trên thế giới
\
2
MC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
1. Khủng hoảng năng lượng lần 1 ........ 5
2. Khủng hoảng năng lượng lần 2 ........ 6
3. Thực trạng sử dụng năng lượng dầu mỏ trên
thế giới ................................................... 7
a. Tình hình chung ....................................................................... 7
b. Chính sách của một số nước trên thế giới về vấn đề dầu mỏ .... 8
NƯỚC MỸ .......................................................................................... 8
TRUNG QUỐC ................................................................................. 10
ẤN ĐỘ ............................................................................................... 14
4. Giải pp chung cho nguy cơ khủng hoảng
năng lượng : ........................................ 15
KẾT LUẬN
DANH MC TÀI LIỆU THAM KHẢO
3
LI NÓI ĐẦU
Cuc khủng hoảng tài chính ca nước M va rồi đã khiến cho cả thế giới phải điêu đứng.
Trước thực tế của cuộc khủng hong tài chính ấy, chúng ta cũng đang lo sợ trước tình trng cả thế giới
lâm vào nh trng khủng hoảng năng lượng trầm trọng. Chúng ta vừa phải đối mặt với khủng hoảng tài
chính toàn cu, xung đột chiến tranh đang xảy ra nhiều nơi cuc khủng hoảng năng lượng th
sẽ xảy ra chỉ trong một vài thập k tới.
Với mức tiêu thụ như hiện nay, chỉ đến giữa thế kỷ này thôi, nhân loại sẽ đối mặt với sự cạn kiệt
năng lượng. Vấn đề đặt ra đây là: khi cuộc khủng hoảng diễn ra s tác động như thế nào tới quan h
quốc tế và liu biện pháp nào có ththay thế được c nhiên liệu hóa thạch vốn đang được con
người sử dụng rộng rãi trong hầu hết hoạt động kinh tế, xã hội, chính trị?
Đối mặt với nguy cạn kiệt ng lượng, để bảo đảm cho sự tồn vong và phát triển của đất
ớc mình, mt số quốc gia s chính sách n thế nào đcó thđem lại lợi ích cao nhất cho đất
ớc mình? Và những chính sách đó sẽ ảnh hưởng như thế nào đến quan hệ quốc tế ?
Trong khuôn khổ của bài tiểu luận, chúng tôi hi vọng có thể đáp ứng phần nào những câu hỏi đã
được đặt ra.
4
I. Khủng hoảng năng lượng là gì?
Khủng hong năng lượng xảy ra khi giá năng lượng bđy lên cao đến đỉnh. Vậy nguyên nhân
nào làm tăng giá năng lượng?
Th nhất, do nguồn cung ứng năng lượng bị thắt chặt không đủ đáp ứng nhu cu, hoặc do lượng
nhu cầu sử dụng năng lượng tăng đến một mức mà scung cấp năng lượng hiện tại không đủ đáp ứng,
đẩy gnăng lượng ng cao tăng nhanh làm mất ổn định trong kinh tế, chính trị và hi thì dẫn
đến khủng hoảng thiếu năng lượng. Ví dnhư các cuộc khủng hoảng những năm 1973, 1979 do
nguồn cung ứng bthắt chặt, khủng hoảng từ năm 2004 trở lại đây là do nhu cầu về dầu mỏ tăng mạnh
tc ớc nền kinh tế mới nổi như Trung Quc Ấn Độ. Ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng
y ti các mặt của xã hội là rất nghiêm trng và rộng lớn bởi vì toàn xy ra các điểm trọng yếu
về dầu lửa trên thế giới, đặc biệt là vùng Trung Đông và vùng Vịnh, nơitrữ lượng khai thác dầu lửa
lớn nhất thế giới. Do vậy, tác động của nó luôn là tác động tới toàn cu.
Th hai, do các nhà tư bản và các nền kinh tế thừa ngoại tệ đầu vào lĩnh vực năng lượng,
khiến cho giá dầu bị đẩyn cao, đó cũng là mt nguyên nhân tạo nên khủng hoảng năng lượng.
Thêm một nguyên nhân khiến cho năng ợng bkhủng hoảng là do những bất ổn về tình hình
an ninh chính trcác khu vực cung cp năng lượng chủ yếu. d khu vc Trung Đông là nơi
cung cấp dầu lửa lớn và chyếu cho các nước trên thế giới, nhưng do những bất ổn về an ninh – chính
trị, đặc biệt là những mâu thuẫn hiềm khích lịch sử giữa các nước, hoặc do tranh giành lợi ích làm gián
đon cung cấp dầu mỏ dẫn đến nguồn cung bị giảm, giá dầu t đó bđẩy lên cao.
Và mt yếu tố nữa mà hiện nay nó đang tác động tới tất cả các lĩnh vc của xã hi và cũng đang
vấn đề toàn cầu lớn, đó là vấn đề thay đi thời tiết. Trong những năm gn đây, nhiều cơn bão nhiệt
đới hoành nh tại một số khu vực tập trung các giếng dầu lớn, tác động nghiêm trọng đến năng lực
sản xuất và cung ứng du. Dàn khoan lớn Mêhicô bbão phá hỏng nặng, một số giếng dầu Biển
Bắc phải đóng cửa do thời tiết xấu…
Tuy nhn đó là những nguyên nhân dẫn tới khủng hong thiếu năng lượng, vậy khi nào năng
lượng bthừa hay không? Như chúng ta đã biết, trong những năm của thập k 80, thế giới có một giai
đon bình ổn vgiá du, lượng dầu tiêu thgiảm đi và nguồn cung ứng phải cắt giảm, nguyên nhân
chyếu của vấn đề nay do các ớc đã áp dng hiệu quchính sách an ninh năng lượng mới, sự
thay đổi mô hình phát trin kinh tế và kết cấu: phát triển dựa vào thtrường giảm sự can thiệp của nhà
ớc, xóa bỏ những hạn chế thị trường, nhân hóa, tự doa thương mại, giảm đầu công cộng…;
5
sm rộng khả năng sản xuát dầu khí và toàn cầu hóa thị trường năng lượng. Người ta còn gi đây là
giai đon thừa thãi dầu lửa, tuy nhiên không thế mà đây được cho là mt cuộc khủng hoảng thừa
năng lượng.
Năng lượng là yếu tố cn thiết bản cho sự sống, thiếu năng lượng, sự sống sẽ bđe dọa, đặc
bit năng ợng công nghiệp trong thời đại công nghiệp hiện nay. Do vậy, khủng hoảng năng lượng
được cho là mt trong các vấn đề toàn cầu mà nhân loại cần quan tâm.
Tkhi con người biết khai thác và s dụng những nguồn năng ợng nthan đá, dầu mỏ, k
đốt là những nguồn năng lượng khó tái tạo và hạn, thì đã nhiu cuộc khủng hoảng năng lượng
xy ra, trong đó hầu hết là những cuộc khủng hoảng về dầu lửa trong các năm 1973-1974, 1979,
nhiu bíến động phức tạp khác của tình hình dầu lửa thế giới từ những năm 1980 cho tới nay.
Các cuộc khủng hoảng dầu lửa vào những năm 1970 xảy ra đều do nguyên nhân ch yếu là s
tht chặt nguồn cung ứng du lửa từ các nước xuất khẩu dầu lửa trong và ngoài tchức OPEC, bắt
nguồn từ những xung đt vùng trọng điểm khai thác dầu thế giới là Trung Đông smất giá của
đồng tiền USD.
II. Khủng hoảng năng lượng là vấn đề toàn cầu
1. Khủng hoảng năng lượng ln 1
Cuc khủng hoảng dầu lửa lần I từ 17/10/1973 đến 13/3/1974:
Các thành viên OAPEC, gồm tổ chức xuất khẩu du mỏ OPEC và hai nước Ai Cập Syria, đã
thc hiện cấm vn dầu lửa với M các quốc gia ng hIsrael trong cuộc chiến với Ai Cập và Syria
vào những năm 1973-1974. Trước đó, vào năm 1971, việc M t khỏi Chế đtiền tệ Bretton Woods,
hthống quy định chung giữa các ờng quốc, trong đó giá vàng chđược neo giữ duy nhất vào đôla
với giá 35 đôla một ounce, và tiến hành thả nổi đồng đôla, đây là tiền đề cho cuộc khủng hoảng. Lý do
hthống Bretton Woods đã giới hạn hoạt động chi tiêu của c M thế giới do lượng vàng
hạn trong khi nhu cầu sử dụng tiền lại lớn hơn rất nhiều. Việc M in tin phục vụ cho việc tài tr cho
chiến tranh Việt Nam hoặc viện trợ cho các nước khác đã khiến đôla mất giá, và tăng lạm phát. Để xóa
b sự bất hợp trên, vào tháng 8/1971 Tổng thống Nixon đã phải rút hẳn khỏi hệ thống Bretton
Woods tiến hành thnổi đồng tiền. Hậu quả trực tiếp của việc đồng đô la ch rời khỏi vàng là: đô
la rớt giá thảm hại, giá hàng công nghiệp tăng vọt. Các nước OPEC, chyếu là các nước vùng Vịnh,
vốn lệ thuộc vào việc xuất khẩu dầu t đổi lấy đô la M đmua những mặt hàng công nghiệp và
lương thực cần dùng. “Chính sách kinh tế mới” Nixon tung ra khiến đô la dầu mỏ của họ rớt giá, ngoại
trviệc tăng giá dầu, các nước này không còn đường nào khác. Tháng 10 tháng 12 năm 1973, 6
thành viên vùng Vịnh của OPEC liên tiếp 2 lần nâng gdầu thô, từ mức 3,011 USD/thùng lên tới
11,65 USD/tng, mức tăng là gần 4 lần. Đồng thời, các thành viên OPEC cũng quyết định giảm năng