
Chính sách đối ngoại II Hoàng Thị Thanh Tuyền H33
1
Tiểu luận
Chủ trương, đường lối đổi mới toàn diện đất nước được đề ra
trong bối cảnh như thế nào và đâu là nhân tố quyết định? Thực
chất vấn đề đổi mới tư duy đối ngoại là gì? Những bài học nào
được rút ra cho ngoại giao Việt Nam sau đổi mới?

Chính sách đối ngoại II Hoàng Thị Thanh Tuyền H33
2
PHẦN MỞ ĐẦU
Sau Đại hội Đảng VI (tháng 12-1986) khi Đảng ta đề ra chủ trương đổi mới toàn
diện, trước hết là đổi mới tư duy đối ngoại, Đảng và nhân dân ta đã đạt được những
thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ
quốc XHCN. Trong Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, Tổng Bí
thư Nông Đức Mạnh nêu rõ: "Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng
được nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế
và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp".
Về đối ngoại:
Sau 20 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới với chủ trương phát triển và nâng cao
đường lối đối ngoại của ta thành đường lối độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng
hóa, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý
nghĩa lịch sử, làm cho đất nước khởi sắc về mọi mặt. Cụ thể, trong lĩnh vực ngoại
giao đã có nhiều phát triển mới, nổi lên là ba sự kiện trong năm 1995: bình thường
hóa quan hệ với Mỹ (11-7-1995); ký Hiệp định khung hợp tác với Liên minh châu Âu
(17-7-1995) và trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội các nước Đông - Nam Á
- ASEAN (28-7-1995).
Cho đến nay, sau khi tiến hành đổi mới, nước ta đã có quan hệ ngoại giao đầy đủ
với 169 nước, trong đó có tất cả các nước láng giềng và các nước lớn, có quan hệ
thương mại với trên 180 nước và vùng lãnh thổ, trở thành thành viên và có những
đóng góp quan trọng trong nhiều tổ chức quốc tế và khu vực như ASEAN, ASEM,

Chính sách đối ngoại II Hoàng Thị Thanh Tuyền H33
3
APEC.... Chúng ta đã tổ chức tốt nhiều Hội nghị cấp cao lớn như Hội nghị cấp cao Á
– Âu, Hội nghị thượng đỉnh Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương -
APEC 14. Tháng 11/2006, Việt Nam lần đầu tiên tổ chức thành công Hội nghị cấp
cao Diễn đàn châu Á - Thái Bình Dương APEC. Vừa qua, Việt Nam được các nước
Châu Á nhất trí đề cử làm Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp
quốc nhiệm kỳ 2008- 2009. Đó là sự thừa nhận của cộng đồng quốc tế về uy tín quốc
tế của Việt Nam và về khả năng đóng góp đầy trách nhiệm của Việt Nam trong việc
giải quyết các vấn đề an ninh, chính trị quốc tế quan trọng.
Tóm lại, “Hai mươi năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu nổi bật về
đối ngoại, đưa đất nước ra khỏi tình trạng bị bao vây, cô lập, mở rộng hơn bao giờ hết
quan hệ quốc tế cả về chính trị lẫn kinh tế, không ngừng nâng cao vị thế ở khu vực và
trên thế giới, tạo môi trường thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc1.”
Về kinh tế
Việt Nam cũng đã đạt được những thành tựu vượt bậc trên hầu hết các lĩnh vực,
tạo nên thế và lực mới, và mở ra rất nhiều tiềm năng và cơ hội phát triển cho đất
nước .
Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội liên tiếp tăng qua các năm. Liên tục trong vòng 20
năm, tăng trưởng kinh tế khá cao, GDP tăng bình quân 7% / năm, riêng năm 2005 và
2006 tăng trưởng trên 8%/năm. Đất nước đã chuyển mạnh sang nền kinh tế thị trường
và hội nhập có hiệu quả với nền kinh tế thế giới. Chính phủ Việt Nam đang hoàn
thiện thể chế kinh tế thị trường. Cùng với Trung Quốc, Nam Phi, và Vênêzuêla, đầu
tháng 5/2007, tổ chức ASEAN đã chính thức ra tuyên bố công nhận Việt Nam là một
nền kinh tế thị trường đầy đủ. Theo số liệu của IMF, tổng sản phẩm quốc dân của Việt
Nam tăng từ 45 tỷ USD năm 2004 lên hơn 60 tỷ USD năm 2006, kim ngạch xuất khẩu
trung bình hàng năm đạt 40 tỷ USD, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vượt trên 10
tỷ USD. Đến nay, đã có 76 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam với hơn
8.000 dự án và tổng số vốn đăng ký trên 70 tỷ USD, riêng năm 2006 đã thu hút được
10,2 tỷ USD. Việt Nam hiện có quan hệ kinh tế thương mại với hơn 220 quốc gia và nền
1 “Thành tựu trong lĩnh vực đối ngoại qua 20 năm đổi mới”, Vũ Khoan, Báo Nhân Dân ngày 14/1/2005.

Chính sách đối ngoại II Hoàng Thị Thanh Tuyền H33
4
kinh tế, kim ngạch xuất khẩu tăng 20%/năm liên tục trong nhiều năm qua.
Sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng là ngày 7/11/2006, Việt Nam đã là thành
viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đánh dấu sự hội nhập hoàn
toàn của Việt Nam vào nền kinh tế toàn cầu, mang đến những cơ hội to lớn về thương
mại và đầu tư cho nền kinh tế Việt Nam. Đây này thể hiện sự công nhận và tin tưởng
của cộng đồng quốc tế đối với những thành tựu đổi mới của Việt Nam.
Tình hình chính trị - xã hội
Cùng với sự mở rộng các quan hệ đối ngoại và sự phát triển của kinh tế, tình hình
chính trị - xã hội của đất nước ngày càng ổn định, an ninh quốc phòng được tăng
cường vững chắc hơn. Nền dân chủ không ngừng được củng cố, quyền làm chủ của
nhân dân ngày càng được phát huy. Những thành tựu kinh tế chung của đất nước đã
góp phần cải thiện đời sống các tầng lớp nhân dân. Có thể nói, công cuộc đổi mới đã
làm cho vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao và đưa nước
ta trở thành một người bạn và là một đối tác tin cậy của nhân dân tất cả các nước.
Sau 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới trên mọi mặt: chính trị, kinh tế, xã hội...,
đến nay, Việt Nam đã từng bước vượt qua các thử thách và khó khăn, có đủ cơ sở để
khẳng định rằng đổi mới là sự lựa chọn đúng đắn, đã đặt Việt Nam vào quỹ đạo phát
triển mới, phù hợp với xu thế của thời đại và với mong muốn của nhân dân. Sự hưởng
ứng đường lối đổi mới ngày càng sâu rộng và tự giác của nhân dân, khả năng tiếp cận
và hội nhập một cách có hiệu quả của đất nước vào đời sống của cộng đồng quốc tế
cùng với những kết quả to lớn và toàn diện mà đổi mới mang lại là những bằng chứng
thuyết phục về tính tất yếu lịch sử của quá trình đổi mới ở Việt Nam.
Trong quá trình nhìn nhận, đánh giá những thành tựu của Việt Nam sau 20 năm
đổi mới, còn rất nhiều những câu hỏi được đặt ra như: Chủ trương, đường lối đổi
mới toàn diện đất nước được đề ra trong bối cảnh như thế nào và đâu là nhân tố
quyết định? Thực chất vấn đề đổi mới tư duy đối ngoại là gì? Những bài học nào
được rút ra cho ngoại giao Việt Nam sau đổi mới?
Trong phần tiếp theo của bài viết, chúng ta sẽ lần lượt đi vào tìm hiểu và giải

Chính sách đối ngoại II Hoàng Thị Thanh Tuyền H33
5
thích từng câu hỏi được đặt ra ở trên để có cái nhìn sâu sắc và tổng quát hơn về vấn
đề này.
Do những hạn chế về mặt thời gian và tài liệu tham khảo, bài viết chắc chắc
không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự nhận xét góp ý của các
thầy cô giáo bộ môn để bài viết được hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
PHẦN NỘI DUNG CHÍNH
I. “Đổi mới hay là chết”2- Vấn đề chính của chính sách đối ngoại của Việt Nam
trong giai đoạn từ 1986 đến nay.
1. Xu hướng hòa bình ổn định trên thế giới ngày càng phát triển.
Cuộc khủng hoảng trầm trọng của chủ nghĩa tư bản kéo dài trong suốt những năm
70 đã đưa đến giai đoạn mới của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật. Giai đoạn mới
này đang thúc đẩy một cuộc chạy đua kinh tế toàn cầu và lịch sử. Những thách thức
to lớn về kinh tế trở thành những thách thức lớn về an ninh, chính trị và quốc phòng
của tất cả các nước lớn và nhỏ trên thế giới. Xu thế toàn cầu hóa và tự do hóa thương
mại ngày càng diễn ra sâu rộng và quyết liệt trong quá trình phát triển kinh tế của mọi
quốc gia, làm cho nền kinh tế của các quốc gia ràng buộc lẫn nhau ngày một chặt chẽ
hơn. Dưới tác động của xu thế này, không một quốc gia nào có thể độc lập giải quyết
mọi vấn đề của mình như phát triển kinh tế, khoa học công nghệ, bảo vệ môi sinh....
Xu thế mới của thời đại là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự điều chỉnh chiến lược của
các nước lớn, trong đó đặc biệt ưu tiên phát triển kinh tế, kể cả những nước có tiềm
lực cũng đều phải giảm chạy đua vũ trang và chi phí quân sự, tập trung giải quyết nội
bộ nhằm tạo ra một nền kinh tế phát triển cao vào cuối thế kỷ này.
Đáng chú ý nhất là Xô-Mỹ, từ năm 1985, hai nước này đã giảm chạy đua vũ trang
để tập trung sức lực vào giải quyết khó khăn kinh tế, tạo khả năng tốt nhất để có thể
thắng trong cuộc chạy đua về kinh tế. Các cuộc gặp cấp cao Xô-Mỹ đánh dấu bước
2 Câu nói nổi tiếng của cựu Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt nam Nguyễn Văn Linh trong Đại Hội VI (1986) của Đảng.

