
1
Lời nói đầu
Có thể khẳng định lao động có vai trò động lực quan trọng trong tăng
trưởng và phát triển kinh tế. Lao động có vai trò đặc biệt hơn các yếu tố khác
vì lao động có vai trò 2 mặt.
Thứ nhất là một nguồn lực sản xuất chính không thể thiếu trong các hoạt
động kinh tế. Với vai trò này lao động luôn được xem xét ở cả 2 khía cạnh, đó
là chi phí và lợi ích. Lao động là yếu tố đầu vào, nó có ảnh hưởng tới chi phí
tương tự như việc sử dụng yếu tố sản xuất khác. Lao động cũng bao hàm
những lợi ích tiềm tàng theo nghĩa: góp phần làm tăng thu nhập cải thiện đời
sống và giảm nghèo đói thông qua chính sách(tạo việc làm, tổ chức lao động
có hiệu quả, áp dụng công nghệ phù hợp…).
Thứ hai lao động là một bộ phận của dân số, là người được hưởng thụ lợi
ích của quá trình phát triển. Mọi quốc gia đều nhấn mạnh đến mục tiêu “ phát
triển vì con người và coi đó là động lực của sự phát triển”.
Do đó kế hoạch lao động – việc làm là đặc biệt cần thiết đối với Việt Nam.
Việt Nam là một nước “đang phát triển” và nguồn nhân lực có đầy đủ các tính
chất của một nước kém phát triển: Tốc độ tăng dân số cao, nguồn lao động
dồi dào, giá lao động rẻ, chất lượng lao động thấp,lao động dư thừa nhiều…
nhưng trong những năm qua, chúng ta đã có những thay đổi đáng kể trong
công tác đào tạo, sử dụng nguồn lao động, thúc đẩy sự chuyển biến nguồn lao
động theo hướng tích cực nhất và cũng đã đạt được những thành quả nhưng
cũng còn những bất cập nhất định.
Bài viết của em được viết nhằm xem xét nội dung kế hoạch lao động – việc
làm thời kỳ 2006 – 2010 và đánh giá việc thực hiện kế hoạch lao động – việc
làm trong 2 năm 2006 và 2007. Đồng thời em xin phép đưa ra ý kiến về
những giải pháp giải quyết những khó khăn còn vướng mắc phải trong quá
trình thực hiện kế hoạch.
Trong khuôn khổ thời gian và năng lực có hạn, bài viết của em không tránh
khỏi những thiếu xót. Em xin chân thành cám ơn những ý kiến đóng góp của
thầy cô và các bạn.

2
PHẦN I: LÝ LUẬN VỀ KẾ HOẠCH LAO ĐỘNG – VIỆC LÀM.
I. Lao động việc làm trong phát triển kinh tế Việt Nam.
1. Tổng quan về lao động – việc làm.
1.1. Nguồn lao động và lực lượng lao động.
Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của
pháp luật có khả năng lao động, có nguyện vọng tham gia lao động và những
người ngoài độ tuổi lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân.
Việc quy định cụ thể về độ tuổi lao động là khác nhau ở các nước.
Lực lượng lao động theo quan niệm của Tổ chức lao động quốc tế là bộ
phận dân số trong độ tuổi lao động. Theo quy định thực tế đang có việc làm
và những người thất nghiệp.
Ở nước ta hiện nay thường sử dụng khái niệm sau: Lực lượng lao động là bộ
phận dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người thất nghiệp. Lực
lượng lao động theo quan niệm như trên là đồng nghĩa với dân số hoạt động
kinh tế(tích cực) và nó phản ánh khả năng thực tế về cung ứng lao động của
xã hội.
1.2. Quan niệm về việc làm.
Theo các nhà kinh tế học lao động thì việc làm được hiểu là sự kết hợp giữa
sức lao động với tư liệu sản xuất nhằm biến đổi đối tượng lao động theo mục
đích của con người.
Theo Bộ luật Lao động ở Việt Nam, khái niệm việc làm được xác định là:
“mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều
được thừa nhận là việc làm”.
Người có việc làm là những người làm những công việc gì đó có được trả
tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hay những người
tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì
thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật. Khi tiến hành

3
cuộc điều tra thống kê về lao động và việc làm, khái niệm người có việc làm
được cụ thể hóa bằng một số tiêu thức khác tùy thuộc vào mỗi nước đặt ra. Có
thể phần làm 2 nhóm các tiêu thức bổ sung:
- Nhóm thứ nhất là nhóm có việc làm và đang làm việc, đó là những
người làm bất kể công việc gì được trả công hoặc vì lợi ích làm việc
hoặc làm việc không có tiền công trong các trang trại hoặc kinh doanh
của gia đình.
- Nhóm thứ hai là người có việc làm hiện tại nhưng không làm việc, hiện
đang nghỉ việc vì đang là kỳ nghỉ(nghỉ hè, nghỉ đông, nghỉ phép…),
ốm, do thời tiết xấu hoặc do các lý do khác.
1.3. Quan niệm về thất nghiệp.
Theo khái niệm của Tổ chức lao động Quốc tế, thất nghiệp(theo nghĩa
chung nhất) là tình trạng tồn tại khi một số người trong độ tuổi lao động muốn
có việc làm nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền công nhất định.
Người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động,
không có việc làm và đang có nhu cầu tìm việc làm.
Theo quan niệm nêu trên, tình trạng thất nghiệp của nền kinh tế được đánh
giá bằng chỉ tiêu “Tỷ lệ thất nghiệp”. Nó được xác định bằng tỷ lệ phần trăm
giữa số người thất nghiệp và lực lượng lao động trong độ tuổi lao động.
Một điểm cần đề cập đến là phân loại thất nghiệp:
*) Nếu phân theo tính chất của thất nghiệp, chúng ta có các dạng sau:
- Thất nghiệp tạm thời: phát sinh là do sự di chuyển không ngừng của con
người giữa các vùng, các công việc hoặc các giai đoạn khác nhau của cuộc
sống.
- Thất nghiệp có tính cơ cấu: Xảy ra khi có sự mất cân đối giữa cung và cầu
đối với công nhân. Sự mất cân đối này có thể diễn ra vì mức cầu đối với một
loại lao động nào đó tăng lên trong khi mức cầu đối với một loại lao động
khác lại giảm đi, trong đó mức cung không điểu chỉnh kịp với sự thay đổi này.

4
- Thất nghiệp chu kỳ: xảy ra khi mức cầu chung về lao động thấp. Khi tổng
mức chi và sản lượng giảm, chúng ta thấy thất nghiệp tăng hầu hết ở khắp nơi.
Việc thất nghiệp tăng hầu hết ở các vùng là dấu hiệu cho thấy thất nghiệp tăng
phần lớn là theo chu kỳ.
*) Hình thức thất nghiệp ở các nước đang phát triển:
Thất nghiệp hữu hình là hình thức thất nghiệp thường thấy ở khu vực thành
thị, đặc điểm của hình thức thất nghiệp này là người lao động hoàn toàn
không có một việc gì làm để tạo ra thu nhập, mặc dù anh ta luôn cố gắng đi
tìm việc làm.
Thất nghiệp trá hình hay còn gọi là thiếu việc làm là một trong những đặc
trưng cơ bản của nền kinh tế nông nghiệp, chậm phát triển. Trong khu vực
thành thị, dạng thất nghiệp này tồn tại dưới dạng khác nhau như: làm việc với
năng suất thấp, không góp phần tạo ra thu nhập cho xã hội mà chủ yếu chỉ tạo
thu nhập đủ sống(nhiều khi dưới mức sống tối thiểu). Trong khu vực nông
thôn, thất nghiệp trá hình chủ yếu tồn tại dưới dạng thiếu việc làm. Chẳng hạn
ở Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu của các chuyên gia kinh tế, trong thời
gian mùa vụ, một nông dân có thể làm việc 11 giờ/ngày, trong khi đó, ở thời
kỳ nông nhàn họ chỉ làm việc 3 giờ/ngày.
2. Vấn đề lao động – việc làm trong phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam
hiện nay.
Giải quyết việc làm là một chính sách kinh tế - xã hội cơ bản, là yếu tố
quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm
lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng và yêu cầu bức xúc của nhân dân.
2.1. Nguồn lao động.
Nguồn lao động của nước ta rất dồi dào. Theo điều tra của Bộ Lao động –
Thương binh và Xã hội, lực lượng lao động năm 1998 gồm 37,4 triệu người.
Mặc dù mức gia tăng dân số và nguồn lao động đã giảm, mỗi năm vẫn tăng
thêm khoảng 1,1 triệu lao động.

5
Người lao động Việt Nam cần cù, khéo tay, có những truyền thống, kinh
nghiệm sản xuất (nhất là trong nông, lâm, ngư nghiệp và sản xuất tiểu thủ
công nghiệp) được tích luỹ qua nhiều thế hệ, có khả năng tiếp thu khoa học,
kỹ thuật. Chất lượng nguồn lao động ngày càng cao do đội ngũ lao động có
chuyên môn kỹ thuật là gần 5 triệu người, chiếm hơn 13% tổng lực lượng lao
động, trong đó số người có trình độ đại học và cao đẳng trở lên chiếm 23%.
Tuy nhiên, từ một nước nông nghiệp đi lên, người lao động nước ta nhìn
chung còn thiếu tác phong công nghiệp, kỉ luật lao động chưa cao. Đội ngũ
cán bộ khoa học kỹ thuật, công nhân có tay nghề cao vẫn còn mỏng trước yêu
cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Lực lượng lao động, đặc biệt là lao động có kỹ thuật, tập trung chủ yếu ở
vùng đồng bằng sông Hồng và vùng Đông Nam Bộ, nhất là ở một số thành
phố lớn (Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ…).
Đó là điều kiện thuận lợi để phát triển ở đây các ngành dịch vụ, các ngành
công nghiệp đòi hỏi trình độ cao.
Mặt khác, sự tập trung quá cao lực lượng lao động ở vùng đồng bằng và
duyên hải có thể gây căng thẳng cho việc giải quyết việc làm. Trong khi đó,
vùng núi và vùng trung du giàu tài nguyên lại thiếu lao động, đặc biệt là lao
động có kỹ thuật.
2.2. Sử dụng lao động trong các ngành kinh tế quốc dân
a) So với những năm đầu Đổi mới, thì cơ cấu lao động trong các ngành kinh
tế quốc dân đã thay đổi đáng kể theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hoá.
Lao động nông, lâm, ngư nghiệp chỉ còn chiếm 63,5% lao động trong công
nghiệp và xây dựng đã chiếm 11,9%, lao động trong khu vực dịch vụ tăng
mạnh, chiếm 24,6% lực lượng lao động.
b) Việc sử dụng lao động trong các thành phần kinh tế có những thay đổi
quan trọng. Nền kinh tế của nước ta hiện nay là nền kinh tế nhiều thành
phần(1), có thể chia thành 2 khu vực lớn là khu vực Nhà nước (quốc doanh),
và khu vực kinh tế tập thể và tư nhân (ngoài quốc doanh). Hiện nay đang có

