
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
-----------------------------
TIỂU LUẬN KINH TẾ QUỐC TẾ 2
VẬN DỤNG MÔ HÌNH TRỌNG LỰC PHÂN TÍCH HIỆU
QUẢ XUẤT KHẨU HÀNG MAY MẶC CỦA VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2000 – 2020
Giáo viên hướng dẫn : PGS. TS. Từ Thúy Anh
TS. Chu Thị Mai Phương
Nhóm : 16
Lớp : KTE316(2324-2)1.1
STT
Sinh viên
Mã sinh viên
Đóng góp
12
Lê Thị Chung
2214410026
20%
30
Trương Ngọc Hiệp
2214410064
20%
46
Vũ An Khang
2214410086
20%
81
Nguyễn Thị Hồng Thắm
2215410175
20%
88
Nguyễn Đức Việt
2214410200
20%
HÀ NỘI, tháng 03 năm 2024

1
VẬN DỤNG MÔ HÌNH TRỌNG LỰC PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ XUẤT KHẨU HÀNG MAY
MẶC CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000 – 2020
Vũ An Khang1
Trương Ngọc Hiệp
Nguyễn Đức Việt
Nguyễn Thị Hồng Thắm
Lê Thị Chung
Tóm tắt
Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích tìm ra các nhân tố có tác động đến hiệu quả xuất
khẩu hàng may mặc của Việt Nam, đánh giá tiềm năng xuất khẩu trên từng thị trường khác nhau. Bài
nghiên cứu sử dụng mô hình trọng lực, đánh giá tác động dựa trên dữ liệu được thu thập từ 20 quốc
gia chiếm tỷ trọng lớn trong thị phần xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam trong giai đoạn từ năm
2000 đến năm 2020. Từ kết quả nghiên cứu, một số đề xuất về giải pháp được đưa ra nhằm ổn định
và thúc đẩy tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng này vào thị trường thế giới trong tương
lai.
1. Đặt vấn đề.
Ngành dệt may là một ngành công nghiệp mũi nhọn hàng đầu của Việt Nam, cung cấp việc
làm cho hàng triệu người dân. Hiện tại, ngành dệt may cùng với dầu thô đang trở thành mặt hàng xuất
khẩu chủ lực và đạt kim ngạch lớn nhất. Trong đó ngành may mặc chiếm tỷ trọng về doanh thu cao
nhất trong ngành dệt may, đây là ngành có tiềm năng phát triển mạnh mẽ trong tương lai, đặc biệt là
khi nhu cầu của thị trường quốc tế về sản phẩm may mặc ngày càng tăng lên.
Việt Nam là quốc gia có lượng lao động lớn với chi phí rẻ và kỹ năng về công nghệ may tốt.
Hơn nữa, Việt Nam ngày càng trở nên năng động hơn trong việc tham gia vào chuỗi cung ứng toàn
cầu như tham gia vào các Hiệp định thương mai tự do, các Hiệp định bảo hộ đầu tư,… đã giúp mở
rộng thị trường xuất khẩu cũng như tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường
thế giới. Mặt hàng may mặc của Việt Nam đã có mặt trên thị trường của 66 quốc gia khác nhau. Kim
ngạch xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam nhìn chung tăng trưởng dần qua từng năm. Năm 2010,
Việt Nam giữ 2.9% thị phần toàn cầu về hàng may mặc, mức tăng trưởng trung bình hằng năm là 11%
trong giai đoạn từ 2010-2020 từ đó đưa thị phần lên mức 6.4%, vượt qua Bangladesh để trở thành
quốc gia thứ tư trong TOP10 nhà xuất khẩu hàng may mặc lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, năm 2019,
mức tăng trưởng của Việt Nam đã giảm từ 15% xuống còn 7%. Trong năm 2020 , ngành dệt may nói
chung và ngành may mặc nói riêng gặp phải nhiều khó khăn do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19,
số lượng đơn đặt hàng giảm sút, chi phí gia công giảm làm cho kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
tiếp tục giảm 7%. Nhằm ổn định mức tăng trưởng xuất khẩu hàng may mặc, nhóm thực hiện bài
nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả xuất khẩu hàng may mặc Việt Nam” trong giai đoạn
2000-2020 để tìm ra các yếu tố có tác động đến kết quả xuất khẩu từ đó giảm thiểu tối đa sự biến động
1 Tác giả liên hệ: Email: vuankhang2004@gmail.com

2
của ngành trong những năm tiếp theo. Đồng thời, đánh giá tiềm năng của ngành trên các thị trường
khác nhau nhằm thay đổi cơ cấu, tỷ trọng xuất khẩu đến từng thị trường cho phù hợp đạt mục đích tối
đa hóa hiệu quả xuất khẩu.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết.
2.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu.
2.1.1. Các nhân tố tác động đến hiệu quả xuất khẩu.
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là chỉ tiêu đo lường quy mô của một nền kinh tế. Nó còn thể
hiện sức mua của quốc gia nhập khẩu và xuất khẩu, khả năng sản xuất và nhu cầu của mỗi quốc gia
(Dilanchiev, 2012). Nhiều nghiên cứu tìm thấy bằng chứng có mối quan hệ thuận chiều giữa GDP và
sự gia tăng trong thương mại hàng hóa và dịch vụ như nghiên cứu của Ebaidalla và Atif (2015), Eita
(2016) hay Đào Đình Minh (2017). Điều này là do bởi khi tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ sản xuất
trong lãnh thổ một nước tăng lên đồng nghĩa với lượng cung hàng hóa của nước đó cũng gia tăng và
kết quả là khả năng xuất khẩu nhiều hơn. Đối với nước nhập khẩu, GDP đo lường khả năng tiếp nhận
của các nhà nhập khẩu (Hatab và cộng sự, 2010). Khi GDP của nước nhập khẩu càng lớn, khả năng
sản xuất của nước đó càng cao, đồng nghĩa với việc nước đó có nhu cầu cao về nguồn nguyên liệu
đầu vào, trong đó có nhập khẩu. Hơn nữa, nếu xét về thu nhập khi thu nhập tăng lên thì khả năng chi
trả cho việc mua hàng hóa cũng tăng theo, đồng thời khi thu nhập tăng lên thì nhu cầu về hàng hóa
cũng trở nên đa dạng hơn từ đó thúc đẩy nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài (Fujimura và Edmonds,
2006). Do đó, GDP của nước xuất khẩu hay nhập khẩu đều được kỳ vọng là có ảnh hưởng tích cực
đến dòng chảy thương mại.
Dân số của nước nhập khẩu cũng ảnh hưởng đến cầu hàng hoá nhập khẩu của một quốc gia.
Khi nền kinh tế trở nên lớn hơn, quốc gia đó sẽ dựa nhiều vào nội thương và giảm cầu hàng hoá nhập
khẩu (Frankel, 1997). Tuy nhiên, kết quả thực nghiệm sử dụng mô hình trọng lực của Ebaidalla và
Atif (2015) lại cho thấy quy mô dân số có ảnh hưởng tích cực và đáng kể đến xuất khẩu.
Thuế nhập khẩu là một công cụ quan trọng để điều chỉnh cán cân thương mại của mỗi quốc
gia. Đây là công cụ tác động trực tiếp lên dòng chảy thương mại. Khi các quốc gia áp thuế nhập khẩu
cao cho hàng hoá từ Việt Nam, giá hàng hoá của Việt Nam sẽ trở nên đắt hơn trên thị trường quốc tế,
qua đó làm giảm lượng cầu cho loại hàng này. Ngược lại, mức thuế thấp khiến cho hàng hoá rẻ hơn
khi ra thị trường quốc tế, khiến cho người tiêu dùng nước ngoài sẵn sàng chi trả hơn. Điều tương tự
cũng xảy ra khi Việt Nam áp thuế cho hàng hoá từ nước ngoài. Mức thuế cao sẽ khiến thương mại sẽ
trở nên kém hiệu quả (Bui & Chen, 2017). Mối quan hệ nghịch biến này cũng được nghiên cứu của
Kyle Handley và cộng sự (2020) kiểm chứng.
Chen (2004) đã kết luận khoảng cách địa lý làm giảm hoạt động thương mại giữa các quốc
gia. Võ Văn Dứt (2016) cũng đã sử dụng lý thuyết khoảng cách của Ghemawat (2001) để phát triển
các giả thuyết về ảnh hưởng của khoảng cách địa lý đến xuất khẩu và kết quả kiểm chứng của nghiên
cứu cũng cho thấy khoảng cách địa lý có mối tương quan nghịch với giá trị xuất khẩu. Thứ nhất,
khoảng cách địa lý càng lớn càng gây ra nhiều rủi ro trong vận chuyển hàng hóa giữa hai quốc gia,
tốn nhiều thời gian vận chuyển, ảnh hưởng lớn đến chất lượng của hàng hóa, và gia tăng chi phí. Đặc

3
biệt, những hàng hóa có trọng lượng nặng hay hàng hóa dễ vỡ, dễ hư hỏng sẽ có chi phí vận chuyển
cao khi khoảng cách càng xa. Thứ hai, khoảng cách địa lý tăng sẽ làm tăng chi phí liên lạc và giao
dịch liên quan đến sự tương đồng văn hoá, thị hiếu và chi phí hàng chính. Khoảng cách có ảnh hưởng
trực tiếp đến thời gian và phương thức vận tải. Do đó, có thể kỳ vọng mối quan hệ nghịch giữa khoảng
cách và xuất khẩu (Carrere, 2006; Frankel, 1997).
Tỷ giá hối đoái là giá của một loại tiền tệ này so với một loại tiền tệ khác. Tỷ giá hối đoái tác
động trực tiếp đến giá hàng hóa xuất khẩu, một yếu tố quan trọng quyết định mức cầu của thị trường.
Việc đồng nội tệ của một quốc gia giảm giá so với các đồng tiền khác sẽ làm giảm giá xuất khẩu hàng
hóa bằng ngoại tệ, do đó làm tăng cầu và khối lượng hàng xuất khẩu. Ngược lại, nếu đồng nội tệ tăng
giá so với ngoại tệ, khối lượng xuất khẩu sẽ giảm sút (Bui và Chen, 2015).
Ảnh hưởng của FTA đối với hoạt động thương mại của các quốc gia tham gia hiệp định đã
được xác nhận trong nhiều nghiên cứu có ứng dụng mô hình lực hấp dẫn (Bergstrand (1985); Baier
và Bergstrand (2007)). Thứ nhất, việc ký kết và tham gia vào các hiệp định thương mại tự do với
nhiều ưu đãi về thuế quan giúp thị trường xuất nhập khẩu được mở rộng và đa dạng hóa hơn với sự
tham gia của nhiều đối tác thương mại mới. Thứ hai, hệ thống thể chế, chính sách và môi trường kinh
doanh cũng từng bước được hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập, từ đó sẽ giúp thúc đẩy và tạo
thuận lợi cho thương mại song phương giữa Việt Nam và các nước. Do đó, biến này ngày càng được
sử dụng nhiều trong các nghiên cứu gần đây bởi kỳ vọng sẽ xoá đi tác động cản trở.
2.1.2. Khoảng trống nghiên cứu.
Đã có nhiều nghiên cứu về xuất khẩu và các vấn đề liên quan đến xuất khẩu được thực hiện ở
cả trong và ngoài nước. Trong các bài nghiên cứu này, các tác giả đã sử dụng các kỹ thuật hồi quy
khác nhau cho dữ liệu bảng và thu được nhiều kết quả đáng kể. Tuy nhiên, nhìn chung các bài nghiên
cứu trước đây vẫn còn gặp phải một số hạn chế nhất định. Các bài nghiên cứu thường tập trung vào
hoạt động xuất khẩu nói chung của Việt Nam chứ chưa đề cập đến một số ngành nghề, mặt hàng cụ
thể. Các bài nghiên cứu cũng chưa chú trọng đến các ngành nghề có nhiều tiềm năng, đặc biệt là ngành
có tiềm năng phát triển mạnh mẽ như ngành dệt may và cũng chưa đánh giá được hiệu quả xuất khẩu
của mặt hàng này trên các thị trường quốc tế dẫn đến việc phân bổ tỷ trọng xuất khẩu vào từng thị
trường chưa phù hợp làm giảm sự tăng trưởng trong kim ngạch xuất khẩu. Ngoài ra, kết quả thu được
từ các bài nghiên cứu có nhiều quan điểm khác nhau, đối lập nhau dẫn đến tính kém hiệu quả trong
khâu đề xuất các chính sách. Do đó, nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài để góp phần giải quyết các hạn
chế của các nghiên cứu đi trước, từ đó đề xuất xây dựng hệ thống chính sách phù hợp, thúc đẩy hoạt
động xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam ra thế giới.
2.2. Cơ sở lý thuyết.
2.2.1. Hiệp định thương mại tự do (FTA).
Theo WTO, hiệp định thương mại tự do (FTA) là thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều quốc gia với
nhau, trong đó các quốc gia đồng ý thực hiện một số nghĩa vụ liên quan đến thương mại hàng hóa,
dịch vụ, các biện pháp bảo hộ, và một số nghĩa vụ khác, để đổi lại rào cản thương mại thấp hơn với

4
hàng hoá xuất khẩu của mình. Một điều đặc biệt cần lưu ý là không phải bất cứ quốc gia nào khi tham
gia vào thương mại quốc tế đều thu được thặng dư so với trước khi tham gia thương mại quốc tế.
Ðồ thị 1: Sự tạo ra thương mại và phúc lợi
Nguồn: Nhóm tác giả tự minh họa
Xem xét ở trường hợp của quốc gia A và B. Trước khi tham gia vào liên minh với nước B, giá
cả của hàng hóa nhập khẩu của đất nước A là 𝑃
𝑎= 𝑃𝑏*(1+t). Sau khi cả hai nước tham gia vào liên
minh thì thuế quan được dỡ bỏ, giá cả hàng hóa nhập khẩu của đất nước A giảm xuống còn Pb, và
được nhập khẩu với một lượng mới lớn hơn là 230=280-50 so với trước khi tham gia vào liên minh là
90=190-100. Thặng dư tiêu dùng tăng lên một lượng c+d+e+f. Trong đó, c về bản chất là thặng dư
được chuyển từ người sản xuất sang người tiêu dùng, còn e là phần thuế mà Nhà nước không thu được
để dành chỗ cho thặng dư tiêu dùng tăng lên. Do vậy, phần phúc lợi tăng lên thực chất chỉ gồm vùng
d+f. Ảnh hưởng phúc lợi trên đất nước A rõ ràng là dương.
Ðồ thị 2: Sự chệch hướng thương mại và phúc lợi
Nguồn: Nhóm tác giả tự minh họa

