Tiểu luận

Tìm hiểu về tình hình và phát triển

hoạt động kiểm toán độc lập

Sinh viên: Nguyễn Thị Hường Lớp ĐHKế Toán 1-K1

Mục lục Lời mở đầu ................................................................................................................................. 3 1 Những hiểu biết chung về hoạt động kiểm toán. ....................................................... 3 2.1 Qúa trình hình thành và phát triển tổ chức kiểm toán độc lập ở Việt Nam .... 8 2.2 Những thành tựu cơ bản của hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam ......... 9 2.3 Các hình thức tổ chức và quy mô của công ty kiểm toán ở Việt Nam. ........... 12 2.4 Hệ thống luật kiểm toán ở Việt Nam hiện nay. ..................................................... 12 2.6 Vai trò của Kiểm toán độc lập trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước ở Việt Nam. ................................................................................................... 16 2.10.1 Công ty TNHH Kiểm toán Độc lập Quốc gia Việt Nam VNFC ....................... 32 2.10.2 Công ty Kiểm toán Việt Nam (VACO) ................................................................ 32 2.10.3 Công ty A&C ............................................................................................................... 33 Kết luận: ................................................................................................................................... 34 PHỤ LỤC ................................................................................................................................... 35

Sinh viên: Nguyễn Thị Hường Lớp ĐHKế Toán 1-K1

Lời mở đầu

Là một bộ phận của nền kinh tế, việc hình thành và phát triển hoạt động kiểm toán độc

lập, vừa là tất yếu khách quan của kinh tế thị trường, vừa là thành tố quan trọng của hệ

thống công cụ quản lý tài chính vĩ mô và đóng vai trò tích cực trong việc phát triển nền

kinh tế quốc dân.

Kiểm toán độc lập là nhu cầu cần thiết để phục vụ lợi ích của công chúng, trước hết vì

lợi ích của bản thân doanh nghiệp, của nhà đầu tư, chủ sở hữu, các chủ nợ… lợi ích và yêu

cầu của Nhà Nước. Người sử dụng kết quả kiểm toán được đảm bảo rằng những thông tin

tài chính được cung cấp là trung thực, khách quan, có độ tin cậy cao để làm căn cứ cho các

quyết định kinh tế hoặc thực thi trách nhiệm quản lý, giám sát của mình.

Hoạt động kiểm toán và tu vấn tài chính kế toán... đã và đang góp phần xây dựng và phổ

cập cơ chế chính sách kinh tế, tài chính; thực hiện công khai, minh bạch báo cáo tài chính

của doanh nghiệp; ngăn ngừa lãng phí, tham nhũng; phục vụ đắc lực cho công tác quản lý

và điều hành kinh tế, tài chính của Nhà nước và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

1 Những hiểu biết chung về hoạt động kiểm toán.

1.1 Khái niệm

Trên thế giới, thuật ngữ kiểm toán đã có từ lâu, từ khi xuất hiện nhu cầu xác định tính

trung thực, độ tin cậy của thông tin trong báo cáo tài chính, kế toán và thực trạng tài sản

của một chủ thể trong quan hệ kinh tế. Nó hình thành và phát triển từ thời kỳ mà các thông

tin được phê chuẩn bằng cách đọc lên trong một buổi họp công khai. Vì thế, thuật ngữ

kiểm toán theo tiếng Latinh là Auditus có nghĩa là “nghe”. Ở Việt nam, thuật ngữ kiểm

toán nói chung và kiểm toán độc lập nói riêng mới xuất hiện từ những năm cuối thập kỷ 80

của thế kỷ 20. Có nhiều định nghĩa khác nhau về kiểm toán độc lập.

Theo định nghĩa của Liên đoàn quốc tế các nhà kế toán (International Federation of

Accountants –IFAC) thì “Kiểm toán là việc các kiểm toán viên độc lập kiểm tra và trình

bày ý kiến của mình về các bản báo cáo tài chính”

Trong giáo trình kiểm toán của các tác giả Alvin A.Rens và James K.Loebbecker đã

định nghĩa: “Kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập và có thẩm quyền thu thập và

Sinh viên: Nguyễn Thị Hường Lớp ĐHKế Toán 1-K1

đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng được của một đơn vị cụ thể

nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin này với các

chuẩn mực đã được thiết lập”

Trong đó: bằng chứng kiểm toán là những thông tin hoặc tài liệu mà kiểm toán viên thu

thập được trong quá trình kiểm toán làm cơ sở cho những ý kiến nhận xét của mình về báo

cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán.

Định nghĩa khác nêu: “Kiểm toán là thủ pháp xem xét và kiểm tra một cách khách quan

về từng khoản mục bao gồm việc thẩm tra những thông tin đặc trưng được xác định bởi

kiểm toán viên hoặc thiết lập bởi thực hành chung. Nói tổng quát, mục đích của kiểm toán

là trình bày ý kiến hoặc đi đến kết luận về cái được kiểm toán” (trích từ Auditing - Theory

& Practice của John Dunn, University of Strathclyde, Glasgow nhà xuất bản Prentice Hall)

Trong Qui chế về kiểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân ban hành kèm theo Nghị

định số 07/CP của Chính phủ ngày 29/1/94 có nêu: “Kiểm toán độc lập là việc kiểm tra và

xác nhận của kiểm toán viên chuyên nghiệp thuộc các tổ chức kiểm toán độc lập về tính

đúng đắn, hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán và báo cáo quyết toán của các doanh

nghiệp, các cơ quan, tổ chức đoàn thể, tổ chức xã hội (gọi tắt là các đơn vị kế toán) khi có

yêu cầu của đơn vị này”.

Các thuật ngữ trong định nghĩa trên được hiểu như sau:

Như vậy, tuy các định nghĩa nêu trên cách diễn đạt và từ ngữ khác nhau song chúng đều

thống nhất ở những nội dung cơ bản sau:

- Chủ thể tham gia hoạt động kiểm toán: Người thực thi công việc kiểm toán (kiểm toán

viên) và các đơn vị kinh tế (gọi chung là các doanh nghiệp) có các thông tin kinh tế được

kiểm toán.

- Đối tượng kiểm toán: Là các thông tin kinh tế được kiểm toán mà kiểm toán viên sẽ đưa

ra ý kiến về những thông tin này sau quá trình thực hiện công việc kiểm toán.

- Mục tiêu của kiểm toán: kết thúc quá trình kiểm toán, kiểm toán viên đưa ra ý kiến về đối

tượng kiểm toán.

(a) Chủ thể tham gia hoạt động kiểm toán bao gồm kiểm toán viên và đơn vị kinh tế có

thông tin cần kiểm toán (đơn vị được kiểm toán).

Kiểm toán viên theo tiêu chuẩn của IFAC (Liên đoàn kế toán quốc tế) và luật pháp các

Sinh viên: Nguyễn Thị Hường Lớp ĐHKế Toán 1-K1

nước thành viên đều qui định các yêu cầu cơ bản của kiểm toán viên là: Có kỹ năng và khả

năng nghề nghiệp, chính trực, khách quan, độc lập và tôn trong bí mật. Ở nước ta, các qui

định, tiêu chuẩn và yêu cầu cơ bản của kiểm toán viên được qui định cụ thể trong Qui chế

kiểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân ban hành kèm theo Nghị định 07/CP của

Chính phủ và chuẩn mực kiểm toán số 200 (đoạn 14,15). Các qui định này về cơ bản không

khác với các yêu cầu chung theo tiêu chuẩn của IFAC.

Đơn vị kinh tế có thông tin kinh tế cần kiểm toán có thể là các doanh nghiệp thuộc các

thành phần kinh tế khác nhau, các đơn vị kinh tế sự nghiệp, các chương trình, dự án, .., tuy

nhiên các đối tượng này chỉ trở thành chủ thể trong hoạt động kiểm toán khi có nhu cầu

hoặc do yêu cầu mang tính bắt buộc về mặt quản lý nhà nước.

Mối quan hệ giữa các chủ thể kiểm toán phản ánh bản chất của các loại hình kiểm toán,

nó thể hiện địa vị pháp lý của các kiểm toán viên trong nền kinh tế và trong quá trình kiểm

toán. Sự khác biệt này dẫn đến quyền hạn, trách nhiệm, phạm vi hoạt động của kiểm toán

viên cũng như những đóng góp khác nhau đối với nền kinh tế.

(b) Đối tượng kiểm toán là các thông tin kinh tế được kiểm toán mà kiểm toán viên sẽ đưa

ra ý kiến về những thông tin này sau quá trình thực hiện kiểm toán. Các thông tin kinh tế là

đối tượng kiểm toán có thể là các báo cáo tài chính tổng hợp, chi tiết hàng năm, báo cáo

quyết toán giá trị công trình, báo cáo xác định giá trị vốn góp của các bên đối tác, hoặc một

nội dung, chỉ tiêu kinh tế nào đó như về tình hình kê khai nộp thuế, tình hình sử dụng vốn

đầu tư,.... Đối với các dự án thì ngoài các thông tin về tài chính như trên còn các thông tin

kinh tế khác như các thông tin về tình hình thực hiện dự án, nội dung và đánh giá hiệu quả

dự án,.... Có thể tập hợp các thông tin kinh tế là đối tượng kiểm toán thành các nhóm sau:

- Thông tin kinh tế là các báo cáo tài chính.

- Thông tin kinh tế mang tính hiệu quả trong hoạt động của một bộ phận hay toàn bộ một tổ

chức, một đơn vị. Các thông tin này liên quan đến các thủ tục và phương pháp hoạt động

của một bộ phận hay của toàn đơn vị kinh tế với tư cách là chủ thể kiểm toán.

- Thông tin kinh tế liên quan đến việc tuân thủ các qui định mang tính chất pháp lý hoặc đã

được thống nhất trước mà đơn vị kinh tế đó phải tuân theo. Ví dụ như việc thực hiện các

qui định về quản lý lao động, tiền lương, các chính sách quản lý tài chính,....

Sinh viên: Nguyễn Thị Hường Lớp ĐHKế Toán 1-K1

(c) Mục tiêu của kiểm toán:

Kết thúc quá trình kiểm toán, kiểm toán viên đưa ra ý kiến của mình về đối tượng

kiểm toán. Tuỳ thuộc vào các đối tượng kiểm toán, các báo cáo kiểm toán có thể khác

nhau về hình thức, nội dung nhưng về bản chất trong mọi trường hợp chúng đều phải

thông tin cho người đọc về mức độ tương quan và phù hợp của đối tuợng kiểm toán với

các chuẩn mực đã được xây dựng.

1.2 Quá trình hình thành và phát triển của hoạt động kiểm toán độc lập trên thế

giới.

Hoạt động kiểm toán độc lập trên thế giới đã xuất hiện trên 100 năm. Kiểm toán đã

hình thành và phát triển từ thế kỉ XV, ở Châu Âu và ngày càng phát triển mạnh mẽ. Hình

thức tổ chức của các tổ chức kiểm toán ở các nước không hoàn toàn giống nhau. Số lượng

nhân viên và các tổ chức kiểm toán phụ thuộc vào mức độ phát triển của hoạt động kiểm

toán và nền kinh tế. Ở Hoa kỳ, hiện nay có hơn 45.000 tổ chức kiểm toán chuyên nghiệp. Ở

Cộng hoà Pháp hiện có 24 văn phòng kiểm toán khu vực và 2.500 văn phòng con cơ sở

trực tiếp là dịch vụ và hơn 10.000 người là kiểm toán. Ở các nước nói trên và các nước

khác, luật pháp qui định rõ quyền hạn, trách nhiệm của các tổ chức kiểm toán, thừa nhận sự

khách quan và độc lập của kiểm toán, chấp nhận giá trị pháp lý của các tài liệu có chữ ký

của kiểm toán.

Về hình thức tổ chức của các tổ chức kiểm toán, có thể là các công ty kiểm toán, là

cá nhân hành nghề kiểm toán, công ty hợp danh hoặc cổ phần. Trong công ty hoặc cả

những cá nhân hành nghề kiểm toán, trong quá trình hoạt động của mình thường tuyển

dụng đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp để giúp họ thực hiện công việc kiểm toán.

Cơ cấu tổ chức trong các công ty kiểm toán ở các nước phát triển thường theo hệ

thống cấp bậc về chuyên môn bao gồm các chủ phần hùn (Partner) (gồm chủ phần hùn có

cổ phần trong công ty và chủ phần hùn không có cổ phần), là những người có trình độ

chuyên môn nghiệp vụ cao nhất, tiếp đến là cấp điều hành viên cao cấp (Senior Manager,

hoặc Principal) tiếp đó là các cấp quản lý, kiểm toán viên và trợ lý kiểm toán viên. Mức độ

chi tiết trong các cấp bậc trong công ty phụ thuộc vào qui mô và cách thức tổ chức quản lý

của từng công ty. Trong công ty kiểm toán thường có nhiều các hoạt động dịch vụ và ở mỗi

Sinh viên: Nguyễn Thị Hường Lớp ĐHKế Toán 1-K1

loại dịch vụ đều phân theo các cấp bậc tương ứng.

Qui mô, cách thức tổ chức của các công ty kiểm toán ở các nước phát triển rất đa dạng, bao

gồm:

- Các công ty đa quốc gia (các công ty kiểm toán quốc tế), trong đó văn phòng chính đặt ở

một thành phố lớn trên thế giới (thường ở Mỹ và ở Anh) tiếp đó là các văn phòng chính

cho các khu vực và các văn phòng ở các nước. Văn phòng ở các nước được thành lập theo

luật của nước sở tại. Các văn phòng này sẽ trực thuộc sự quản lý của văn phòng chính của

khu vực.

- Các công ty thuộc phạm vi trong một quốc gia: Các công ty này có thể có một hoặc nhiều

các văn phòng, chi nhánh trực thuộc và tổ chức hoạt động trong phạm vi một quốc gia. Có

những công ty qui mô nhỏ hơn ở cấp địa phương với số lượng nhân viên là một vài chục

người.

Để quản lý và thống nhất sự hoạt động của các công ty kiểm toán, ở mỗi nước hoặc các

khu vực đều có Hiệp hội kế toán, là tổ chức độc lập của những người làm công tác kế toán,

kiểm toán hoặc quan tâm đến lĩnh vực này như: “Viện kế toán viên công chứng Hoa kỳ –

AICPA’, Hiệp hội kế toán chuyên nghiệp Anh và xứ Wales – ICAEW; Hiệp hội kế toán

Hồng Kông – HKSA.

1.3 Chức năng, phạm vi, đặc trưng của Kiểm toán độc lập

Chức năng: Kiểm toán độc lập có chức năng chủ yếu thực hiện kiểm toán báo cáo tài

chính, ngoài ra còn thực hiện kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ thực hiện khi cấp

trên hoặc Chính phủ là khách hàng

Phạm vi hoạt động ở tất cả các tổ chức kinh tế thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần

kinh tế và được coi là đặc trưng của nền kinh tế thị trường.

Kiểm toán viên độc lập là người hành nghề kiểm toán chuyên nghiệp, được đào tạo công

phu, phải trải qua các kỳ thi quốc gia và phải có chứng chỉ hành nghề kiểm toán.

Tổ chức kiểm toán độc lập hình thành và hoạt động như một doanh nghiệp với mục đích

kinh doanh kiếm lời.

Đặc trưng của kiểm toán độc lập:

- Thực hiện trên cơ sở tự nguyện theo yêu cầu cuả khách hang, dựa trên nền

Sinh viên: Nguyễn Thị Hường Lớp ĐHKế Toán 1-K1

tảng pháp lý của nhà nước tạo ra.

Việc kiểm tra không gắn liền với xử lý gian lận vì bản chất của kiểm toán độc -

lập là dịch vụ xác nhận BCTC.

Có tính pháp lý rất cao vì nó là hoạt động cần thiết và được pháp luật thừa -

nhận.

2. Hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam.

2.1 Qúa trình hình thành và phát triển tổ chức kiểm toán độc lập ở Việt Nam

Ở Việt nam, từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước,

các hoạt động đa dạng và của nền kinh tế đòi hỏi phải có dịch vụ kiểm toán. Để đáp ứng

yêu cầu ngày càng cao của nền kinh tế, ngày 13/5/1991 Bộ Tài chính thành lập hai công ty

kiểm toán đầu tiên là Công ty kiểm toán Việt nam (VACO) và Công ty dịch vụ tư vấn Tài

chính-Kế toán và kiểm toán (AASC). Sự ra đời của hai công ty nói trên đã tạo tiền đề cho

sự ra đời của các công ty tiếp theo bởi sự hoạt động tích cực và có hiệu quả cũng như yêu

cầu, đòi hỏi cấp thiết của nền kinh tế nước ta trong những năm đổi mới.

Theo báo cáo tại cuộc họp thường niên Giám đốc các doanh nghiệp kiểm toán Việt

Nam tại Hà Nội mới đây, số lượng các công ty kiểm toán Việt Nam đã gia tăng đáng kể

trong thời gian vừa qua. Vào cuối năm 2008, số lượng các công ty đăng ký hành nghề

kiểm toán tại Việt Nam là 136 công ty, sau quý II/2009 số lượng này đã đạt con số 175.

Điều này đã phần nào phản ánh thực tế về nhu cầu và vai trò ngày càng được nâng cao của

kiểm toán độc lập đối với thị trường chứng khoán trong thời gian qua. Theo thống kê trên

báo chí, đã có gần 200 doanh nghiệp trên tổng số 357 doanh nghiệp niêm yết có kết quả

kiểm toán khác biệt so với thông tin, số liệu trước kiểm toán, trong đó có những mức chênh

lệch trọng yếu lên đến hàng trăm tỷ đồng, biến lãi thành lỗ. Minh chứng này thể hiện rõ

trách nhiệm nghiêm túc và chuyên nghiệp của các công ty kiểm toán đối với những đối

tượng sử dụng thông tin tài chính, góp phần phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam

theo đúng định hướng chuyên nghiệp.

Mặc dù số lượng các công ty được chấp thuận cho kiểm toán các tổ chức phát hành, tổ

chức niêm yết tuy đã được tăng từ 24 công ty kiểm toán trong năm 2008 lên 38 công ty vào

thời điểm cuối quý II/2009, số lượng các công ty kiểm toán nói trên vẫn còn là một con số

Sinh viên: Nguyễn Thị Hường Lớp ĐHKế Toán 1-K1

khiêm tốn so với nhu cầu thực tế.

Doanh thu tòan ngành kiểm tóan năm 2008 tăng 46%, trong đó doanh thu từ dịch vụ

kiểm toán chiếm tỷ trọng cao nhất (57,9%). Bốn doanh nghiệp kiểm toán lớn nhất thế giới

có mặt tại Việt Nam (Deloitte, Ernst & Young, KPMG và PwC) vẫn tiếp tục khẳng định vị

trí đầu bảng của mình trong tốp 10 doanh nghiệp kiểm toán có tổng doanh thu cao nhất,

trong đó Deloitte Vietnam lập kỷ lục có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong ba năm liên tiếp,

đồng thời cũng là doanh nghiệp kiểm toán có hiệu quả hoạt động cao nhất nếu tính theo tỷ

trọng doanh thu trên số lượng nhân viên.

2.2 Những thành tựu cơ bản của hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam

Sự phát triển của ngành kiểm toán độc lập Việt Nam, tuy còn non trẻ nhưng đã có những bước tiến bộ đáng kể:

- Các công ty kiểm toán độc lập đã phát triển nhanh chóng về số lượng, quy mô và

đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp

Nếu năm 1991 chỉ có 2 công ty với vỏn vẹn 13 người thì đến 30/06/2006 đã có hơn

100 công ty kiểm toán lớn, nhỏ thuộc nhiều quy mô và loại hình hoạt động trên lãnh thổ

Việt Nam với hàng trăm văn phòng và chi nhánh ở các tỉnh, thành phố trên cả nước, trên

4.000 nhân viên làm việc trong đó có 1.234 người đã được Bộ Tài chính cấp chứng chỉ

KTV và trên 150 KTV đạt trình độ quốc tế. Trong năm 2005 vừa qua, ngành kiểm toán

Việt Nam đã cung cấp dịch vụ cho 12.000 khách hàng với tổng doanh thu 622 tỷ đồng.

- Ngành kiểm toán đã xây dựng được khá đầy đủ và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật

và đã thành lập được Hiệp hội nghề nghiệp của mình

Kiểm toán là dịch vụ chuyên nghiệp và cần thiết của kinh tế thị trường. Khi Nhà

nước Việt Nam khuyến khích phát triển kinh tế nhiều thành phần, đẩy mạnh tiến trình cổ

phần hóa DNNN, phát triển thị trường chứng khoán, mở cửa hội nhập quốc tế, và buộc các

doanh nghiệp cần đến dịch vụ kiểm toán BCTC thì kiểm toán độc lập vừa là một yêu cầu

pháp lý vừa là một tất yếu khách quan.

Để tạo lập môi trường pháp lý, Nhà nước Việt Nam đã ban hành và hoàn thiện hệ

thống văn bản pháp luật về kế toán, kiểm toán như: Luật kế toán và các văn bản dưới luật

Sinh viên: Nguyễn Thị Hường Lớp ĐHKế Toán 1-K1

hướng dẫn thi hành, 2 Nghị định về kiểm toán độc lập, hệ thống 26 chuẩn mực kế toán và

các thông tư hướng dẫn chi tiết, hệ thống 37 chuẩn mực kiểm toán và chuẩn mực đạo đức

nghề nghiệp kế toán, kiểm toán ra đời… đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho nghề

kiểm toán Việt Nam.

Ngày 15/4/2005, Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) được thành lập

và chính thức đi vào hoạt động từ 1/1/2006 đã đánh dấu một giai đoạn lịch sử quan trọng

cho nghề nghiệp kế toán, kiểm toán Việt Nam. Kể từ nay, những người hành nghề kiểm

toán độc lập ở Việt Nam đã có một tổ chức nghề nghiệp riêng của mình, một môi trường để

cùng nhau hợp tác, đào tạo, cập nhật chuyên môn , kiểm soát chất lượng dịch vụ, đạo đức

nghề nghiệp, trao đổi kinh nghiệm, góp phần phát triển nghề nghiệp, sánh vai bạn bè trong

khu vực và quốc tế.

VACPA thành lập và đi vào hoạt động còn là tiền đề quan trọng cho công tác quản

lý và soát xét chất lượng dịch vụ của các KTV hành nghề cũng như trợ giúp Bộ Tài chính

thực hiện các chức năng quản lý nhà nước của mình.

- Đội ngũ kiểm toán viên chuyên nghiệp đã tăng nhanh và chiếm tỷ trọng khá cao so

với tổng số nhân viên chuyên nghiệp

Dịch vụ kế toán, kiểm toán là ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Ngay từ khi

thành lập, các công ty kiểm toán đã rất chú trọng đến việc tuyển chọn KTV và nâng cao

chất lượng đội ngũ nhân viên. Sau 15 năm, đội ngũ KTV người Việt Nam đã tăng lên đáng

kể. Trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp đã thành thục hơn nhiều. Nhiều

KTV am hiểu luật pháp, chuẩn mực nghề nghiệp; ngoại ngữ, tin học… và không ít KTV

có kiến thức và học vị quốc tế cao.

Nhiều công ty, nhất là ở các công ty kiểm toán quốc tế và các công ty kiểm toán là

DNNN Việt Nam đã có sự trưởng thành vượt bậc của đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp về

kiến thức, kỹ thuật và phong cách làm việc tiên tiến, giành được niềm tin và sự hài lòng

của khách hàng. Bộ Tài chính cũng đã hợp tác với một số tổ chức quốc tế (như Hiệp hội Kế

toán công chứng Anh Quốc - ACCA) thực hiện chương trình đào tạo cơ bản theo tiêu

Sinh viên: Nguyễn Thị Hường Lớp ĐHKế Toán 1-K1

chuẩn quốc tế cho KTV Việt Nam cũng như xét cấp chứng chỉ KTV Việt Nam cho một số

KTV có bằng cấp chuyên nghiệp nước ngoài đã góp phần tăng nhanh số lượng và chất

lượng KTV Việt Nam.

- Đối tượng khách hàng ngày càng đa dạng

Đối tượng khách hàng của các công ty kiểm toán từ chỗ chỉ gồm doanh nghiệp có

vốn ĐTNN đã mở rộng ra là DNNN, các ngân hàng, tổ chức tài chính, bảo hiểm, công ty

niêm yết, nhiều đơn vị hành chính sự nghiệp, các dự án quốc tế và các loại hình doanh

nghiệp khác.

Trong 3 năm gần đây, khi cơ quan thuế không trực tiếp duyệt quyết toán thuế hằng

năm và từ sau khi Nghị định 105/2004/NĐ-CP ra đời thì yêu cầu kiểm toán đã mở rộng

đáng kể, đặc biệt là tất cả các doanh nghiệp nhà nước bắt buộc phải kiểm toán.

- Các loại dịch vụ kiểm toán và kế toán cũng ngày càng đa dạng

Cùng với sự phát triển về số lượng công ty và quy mô từng công ty, các dịch vụ do

các công ty kiểm toán cung cấp đã không ngừng được đa dạng hoá theo hướng mở rộng

từng loại dịch vụ như: kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân

thủ, kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư XDCB, dịch vụ kế toán; tư vấn quản lý, tài

chính, thuế; tư vấn đầu tư, luật.

Trong những năm gần đây đã xuất hiện thêm một số loại dịch vụ mới, như: Dịch vụ

soát xét BCTC; Kiểm toán tỷ lệ nội địa hoá; Tư vấn tái cấu trúc doanh nghiệp; Tư vấn

nguồn nhân lực; Soát xét hệ thống kiểm soát nội bộ; Kiểm toán hoạt động để đánh giá và

đề xuất xây dựng chiến lược phát triển SXKD cho từng lĩnh vực và ngành nghề ở Việt

Nam; Tư vấn về rủi ro kinh doanh và rủi ro đầu tư; Tư vấn phục hồi, sát nhập và giải thể

doanh nghiệp… Trong đó, dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính chiếm tỷ trọng lớn nhất.

- Chính sách phát triển hoạt động kiểm toán độc lập đã được Nhà nước rất quan tâm

Một điểm thuận lợi quan trọng, đó là vai trò của Chính phủ, của Bộ Tài Chính đối

với hoạt động kiểm toán. Sở dĩ hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam sớm trở thành một

ngành nghề quan trọng và có ý nghĩa trong nền kinh tế chính là nhờ có sự tác động mạnh

Sinh viên: Nguyễn Thị Hường Lớp ĐHKế Toán 1-K1

mẽ của các cơ quan Nhà nước. Sự tác động đó không phải chỉ dừng lại ở việc đưa ra qui

chế hoạt động kiểm toán, ban hành các văn bản pháp quy tạo nhu cầu kiểm toán đối với

một số loại doanh nghiệp, quy định một số trường hợp bắt buộc phải kiểm toán… mà quan

trọng hơn, còn thể hiện ở chỗ ngày càng có nhiều cơ quan Nhà nước sử dụng kết quả kiểm

toán như một công cụ hữu hiệu trong công tác quản lý.

2.3 Các hình thức tổ chức và quy mô của công ty kiểm toán ở Việt Nam.

Hình thức tổ chức của các công ty kiểm toán ở Việt nam bị chi phối bởi hình thức sở hữu

công ty.

- Đối với các công ty kiểm toán là doanh nghiệp nhà nước, tổ chức phụ thuộc vào cơ chế

quản lý của nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước, trong đó Giám đốc, người đứng

đầu công ty do cơ quan thành lập bổ nhiệm (Bộ tài chính, UBND Thành phố). Cách thức tổ

chức tại các công ty này theo chức danh và theo cơ cấu hành chính. Trách nhiệm công việc

và tổ chức hoạt động theo chức danh quản lý.

- Đối với các công ty 100% vốn nước ngoài. Các công ty này đều thuộc các công ty kiểm

toán quốc tế, do vậy về cơ cấu tổ chức giống như các công ty quốc tế. Tuy nhiên vì là công

ty được thành lập theo luật đầu tư nước ngoài ở Việt nam, thuộc hình thức công ty TNHH

nên về tổ chức hành chính, ở các công ty này vẫn có chức danh Giám đốc và là đại diện

pháp lý của công ty về các vấn đề hành chính trước các cơ quan chức năng cũng như trong

các hoạt động kinh tế.

-Đối với các công ty TNHH trong nước. Các công ty này đến nay qui mô vẫn rất hạn chế

và chưa hình thành hình thức tổ chức rõ nét. Tuy vậy, do hình thức sở hữu tư nhân, do vậy

giám đốc công ty là chủ sở hữu, người theo pháp luật phải có chứng chỉ kiểm toán viên sẽ

Qui mô của các công ty kiểm toán ở Việt nam có sự khác biệt khá rõ nét. Nhìn chung

chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với mọi hoạt động của công ty.

các công ty kiểm toán là doanh nghiệp nhà nước có qui mô lớn hơn, có nhiều chi nhánh và

văn phòng ở các thành phố lớn trong cả nước. Các công ty TNHH có qui mô hạn chế nhất,

chỉ có một văn phòng chính nơi thành lập. Các công ty kiểm toán có vốn đầu tư nước ngoài

đều có văn phòng ở Hà nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

Sinh viên: Nguyễn Thị Hường Lớp ĐHKế Toán 1-K1

2.4 Hệ thống luật kiểm toán ở Việt Nam hiện nay.

Sau 17 năm hoạt động (từ năm 1991 đến nay), kiểm toán độc lập ở VN đã phát triển

nhanh về số lượng, quy mô, các công ty kiểm toán độc lập và số lượng KTV từng bước

nâng cao năng lực chuyên môn, chất lượng dịch vụ cung cấp. Đến nay cả nước đã có trên

140 DN dịch vụ kế toán, kiểm toán với trên 4.600 người làm việc, có gần 1500 người được

cấp chứng chỉ KTV. Hầu hết các dịch vụ cung cấp cho khách hàng ngày càng được tín

nhiệm, được xã hội thừa nhận.

Thông qua hoạt động dịch vụ kiểm toán và tư ván tài chính kế tóan các doanh nghiệp,

tổ chức nắm bắt kịp thời, đầy đủ và tuân thủ đường lối chính sách kinh tế, tài chính, loại bỏ

được chi phí bất hợp lý, tạo lập được những thông tin tin cậy, và tăng cường lòng tin của

người sử dụng các thông tin tài chính, từng bước đưa công tác quản lý tài chính, kế toán

trong các doanh nghiệp vào nề nếp…Có thể nói hoạt động kiểm toán độc lập đã xác định

được vị trí trong nền kinh tế thị trường, góp phần ngăn ngừa và phát hiện lãng phí, góp

phần thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thực hiện công khai minh bạch báo cáo tài chính

(BCTC), phục vụ đắc lực cho công tác quản lý, điều hành kinh tế-tài chính, của doanh

nghiệp và Nhà nước.

Hoạt động kiểm toán độc lập đã đóng góp không nhỏ vào sự phát triển chung của đất

nước, nhưng đến nay văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động này chỉ là Nghị định của Chính

phủ chưa tương xứng với tầm quan trọng và quy mô phát triển của ngành nghề kinh doanh

có điều kiện. Do đó, cần phải xây dựng một văn bản luật để quy định và định hướng phát

triển cho hoạt động kiểm toán độc lập trong thời gian tới. Đồng thời để thúc đẩy sự phát

triển mạnh mẽ của kiểm toán độc lập, đáp ứng xu thế phát triển kinh tế - xã hội theo hướng

công nghiệp hóa, hiện đại hóa, và hội nhập kinh tế thế giới, thực hiện hiệu quả các cam kết

quốc tế, cần phải tăng cường hơn nữa vị trí, vai trò, hoạt động kiểm toán độc lập trong nền

kinh tế quốc dân.

Ngày 09/10/2006 Chính phủ đã có Nghị quyết số 25/2006/NQ-Cp ban hành Chương

trình của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X và Nghị quyết Quốc hội

khóa XI về kế hoạch phát triển kinh tế -xã hội 5 năm (2006-2010), trong đó có việc xây

dựng Luật Kiểm toán độc lập (Điểm 39 Mục I). Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội khoá

Sinh viên: Nguyễn Thị Hường Lớp ĐHKế Toán 1-K1

XII về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ 2007-2011 và năm 2008, Chính

phủ đã giao Bộ Tài chính phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu, xây dựng Dự

án Luật Kiểm toán độc lập. Trên thực tế, các văn bản về kiểm toán độc lập như hiện nay

bao gồm Nghị định 105/2004/NĐ-CP ngày 30/3/2004 và Nghị định 133/2005/NĐ-CP ngày

31/10/2005 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 105 cũng đã tạo cơ sở pháp lý căn

bản cho hoạt động kiểm toán độc lập là hoạt động dịch vụ có tính pháp lý cao, góp phần

quan trọng làm lành mạnh hóa môi trường đầu tư ở VN và công khai minh bạch nền tài

chính quốc gia, với tốc độ phát triển cao và trong xu thế hội nhập, Nghị định của Chính

phủ về kiểm toán độc lập đã bộc lộ 1 số hạn chế cần sửa đổi, bổ sung và nâng lên thành

luật cho phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế ở nước ta trong thời gian tới.

2.5 Tiêu chuẩn kiểm toán viên độc lập.

Kiểm toán viên độc lập phải đảm bảo các tiêu chuận sau:

a) Độc lập (áp dụng chủ yếu cho kiểm toán viên hành nghề và người hành nghề kế toán);

b) Chính trực;

c) Khách quan;

d) Năng lực chuyên môn và tính thận trọng;

e) Tính bảo mật;

f) Tư cách nghề nghiệp;

g) Tuân thủ chuẩn mực chuyên môn.

Độc lập:

Độc lập là nguyên tắc hành nghề cơ bản của kiểm toán viên hành nghề.

Trong quá trình kiểm toán hoặc cung cấp dịch vụ kế toán, kiểm toán viên hành nghề phải

thực sự không bị chi phối hoặc tác động bởi bất kỳ lợi ích vật chất hoặc tinh thần nào làm

ảnh hưởng đến sự trung thực, khách quan và độc lập nghề nghiệp của mình.

Kiểm toán viên hành nghề không được nhận làm kiểm toán cho các đơn vị mà mình có

quan hệ kinh tế hoặc quyền lợi kinh tế như góp vốn, cho vay hoặc vay vốn từ khách hàng,

hoặc là cổ đông chi phối của khách hàng, hoặc có ký kết hợp đồng gia công, dịch vụ, đại lý

tiêu thụ hàng hóa.

Kiểm toán viên hành nghề không được nhận làm kiểm toán ở những đơn vị mà bản thân có

Sinh viên: Nguyễn Thị Hường Lớp ĐHKế Toán 1-K1

quan hệ gia đình ruột thịt (như có bố, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em ruột) là người trong

bộ máy quản lý diều hành (Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, kế toán trưởng, các trưởng,

phó phòng và các cấp tương đương) trong đơn vị khách hàng.

Kiểm toán viên hành nghề không được vừa làm dịch vụ kế toán, như ghi sổ kế toán, lập

báo cáo tài chính, kiểm toán nội bộ, định giá tài sản, tư vấn quản lý, tư vấn tài chính, vừa

làm dịch vụ kiểm toán cho cùng một khách hàng.

Trong quá trình kiểm toán nếu có sự hạn chế về tính độc lập thì kiểm toán viên hành nghề

phải tìm mọi cách loại bỏ sự hạn chế này. Nếu không thể loại bỏ được thì phải nêu rõ điều

này trong Báo cáo kiểm toán.

Chính trực:

Người làm kiểm toán phải thẳng thắn, trung thực và có chính kiến rõ ràng.

Khách quan:

Người làm kiểm toán phải công bằng, tôn trọng sự thật và không được thành kiến, thiên vị.

Năng lực chuyên môn và tính thận trọng:

Kiểm toán viên phải thực hiện công việc kiểm toán với đầy đủ năng lực chuyên môn cần

thiết, với sự thận trọng cao nhất và tinh thần làm việc chuyên cần. Kiểm toán viên có

nhiệm vụ duy trì, cập nhật và nâng cao kiến thức trong hoạt động thực tiễn, trong môi

trường pháp lý và các tiến bộ kỹ thuật để đáp ứng yêu cầu công việc.

Tính bảo mật:

Kiểm toán viên phải bảo mật các thông tin có được trong quá trình kiểm toán; không được

tiết lộ bất cứ một thông tin nào khi chưa được phép của người có thẩm quyền, trừ khi có

nghĩa vụ phải công khai theo yêu cầu của pháp luật hoặc trong phạm vi quyền hạn nghề

nghiệp của mình.

Tư cách nghề nghiệp:

Người làm kiểm toán phải trau dồi và bảo vệ uy tín nghề nghiệp, không được gây ra những

hành vi làm giảm uy tín nghề nghiệp.

Tuân thủ chuẩn mực chuyên môn:

Người làm kế toán và người làm kiểm toán phải thực hiện công việc kế toán, kiểm toán

theo những kỹ thuật và chuẩn mực chuyên môn đã quy định trong chuẩn mực kế toán,

Sinh viên: Nguyễn Thị Hường Lớp ĐHKế Toán 1-K1

chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, quy định của Hội nghề nghiệp và các quy định pháp luật

hiện hành.

2.6 Vai trò của Kiểm toán độc lập trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà

nước ở Việt Nam.

Chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, thực hiện chủ trương đa dạng hoá các hình

thức sở hữu, các thành phần kinh tế được mở rộng và ngày càng đóng vai trò quan trọng

trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước. Trong điều kiện nền kinh tế như vậy, thông

tin tài chính của doanh nghiệp không chỉ để báo cáo cho các cơ quan quản lý nhà nước để

kiểm tra và xét duyệt mà nay các thông tin này cần cho nhiều người, được nhiều đối tượng

quan tâm, khai thác sử dụng cho các quyết định kinh tế. Tuy ở nhiều góc độ khác nhau

nhưng tất cả các đối tượng này đều có cùng nguyện vọng là có được các thông tin có độ

chính xác cao, tin cậy và trung thực.

Đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế theo cơ chế thị trường, hoạt động kiểm toán độc lập

ra đời và trở thành bộ phận cần thiết và quan trọng không thể thiếu trong đời sống các hoạt

động kinh tế. Kiểm toán độc lập cung cấp cho những người sử dụng kết quả kiểm toán sự

hiểu biết về những thông tin tài chính họ được cung cấp có được lập trên cơ sở các nguyên

tắc và chuẩn mực theo qui định hay không và các thông tin đó có trung thực và hợp lý hay

không.

Luật pháp yêu cầu và để yên lòng cho người sử dụng thì các báo cáo tài chính phải

được kiểm toán và chỉ có những thông tin kinh tế đã được kiểm toán mới là căn cứ tin cậy

cho việc đề ra các quyết định hiệu quả và hợp lý. Việc các qui định mang tính pháp lý bắt

buộc các thông tin tài chính trước khi công bố phải được kiểm toán, điều này thể hiện rõ

nét vai trò của kiểm toán trong quá trình đổi mới nền kinh tế. Kiểm toán độc lập không thể

thiếu được của hoạt động kinh tế trong nền kinh tế thị trường có sự quan lý của Nhà nước.

Kiểm toán làm tăng mức độ tin cậy đối với các thông tin tài chính, góp phần lành mạnh hoá

các quan hệ kinh tế. Dựa vào kết quả kiểm toán, những người sử dụng báo cáo tài chính

được kiểm toán có được các thông tin khách quan, chính xác theo đó có thể đánh giá một

cách đúng đắn tình hình tài chính cũng như kết quả hoạt động kinh doanh của doanh

Sinh viên: Nguyễn Thị Hường Lớp ĐHKế Toán 1-K1

nghiệp làm cơ sở cho các quyết định kinh tế của mình. Bên cạnh mục tiêu chính là đưa ra ý

kiến về báo cáo tài chính, các kiểm toán viên, thông qua quá trình kiểm toán, còn có thể

đưa ra những kiến nghị giúp doanh nghiệp hoàn thiện hệ thống kiểm soát, nâng cao hiệu

quả trong công tác quản lý tài chính nói riêng cũng như hoạt động kinh doanh nói chung.

Trong các quan hệ kinh tế nhờ có kiểm toán mà các doanh nghiệp đã tìm được tiếng nói

chung đó là sự tin cậy lẫn nhau, sự thẳng thắn, trung thực trình bầy về tình hình tài chính

của mình. Đây là yếu tố hết sức quan trọng để đánh giá, lựa chọn đối tác kinh doanh. Đặc

biệt trong quan hệ hợp tác kinh doanh với nước ngoài, nếu nhà đầu tư nước ngoài muốn

tìm hiểu về hoạt động kinh doanh và đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp

trước khi đầu tư, hợp tác kinh doanh thì chi phí cho cuộc kiểm toán sẽ hiệu quả và rẻ hơn

nhiều so với chi phí mà hai bên phải bỏ ra để đàm phán, tự chứng minh về khả năng tài

chính của mình. Đồng thời ý kiến khách quan của kiểm toán luôn đáng tin cậy hơn. Ngay

cả khi các công ty có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập thì nhu cầu kiểm toán của các

công ty này là tất yếu bởi yêu cầu quản lý của các đối tác nước ngoài trong doanh nghiệp.

Do vậy kiểm toán độc lập ra đời đã đáp ứng tốt nhu cầu của hoạt động đầu tư trực tiếp

nước ngoài, góp phần hoàn thiện môi trường đầu tư và thúc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi

nền kinh tế.

Ngoài những đóng góp tích cực nêu trên cho nền kinh tế, kiểm toán độc lập còn là

hoạt động dịch vụ và như vậy nó tạo ra giá trị cho nền kinh tế, góp phần nâng cao thu nhập

quốc dân, nâng cao nguồn thu cho ngân sách. Hoạt động kiểm toán còn thu hút được lực

lượng lớn các lao động có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao và đặc biệt là lực lượng

chuyên gia tư vấn nước ngoài làm việc tại các công ty kiểm toán quốc tế. Lực lượng này đã

chuyền đạt nhiều kinh nhiệm quản lý kinh tế cho các doanh nghiệp, tổ chức cũng như

những đồng nghiệp.

2.7 Xây dựng và phát triển thương hiệu của các công ty Kiểm toán.

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế việc xây dựng và nâng cao giá trị thương hiệu

đang ngày càng trở nên quan trọng trong các chiến lược phát triển doanh nghiệp ở Viêt

Nam cũng như trên thế giới. Kiểm toán độc lập của Việt Nam từng bước phát triển trong

điều kiện nền kinh tế chuyển đổi theo hướng thị trường mở và tất nhiên cũng không tránh

khỏi xu thế này. Cũng như tất cả các loại hình kinh doanh, thương hiệu có ý nghĩa cực kỳ

Sinh viên: Nguyễn Thị Hường Lớp ĐHKế Toán 1-K1

quan trọng.

Đặc biệt, trong những ngành đòi hỏi niềm tin của người tiêu dùng, danh tiếng hãng và

được kiểm soát bởi các qui định rất chặt chẽ về chất lượng dịch vụ như ngành kiểm toán.

Một câu hỏi được đặt ra là tại sao loại hình cung cấp những dịch vụ kiểm toán và tư vấn tài

chính giống nhau cho cùng một khách hàng, chưa xét đến chất lượng kiểm toán (vì nó chỉ

xác định được chính xác sau khi cuộc kiểm toán kết thúc) nhưng phí kiểm toán mà các

công ty khác nhau đưa ra lại khác nhau, thậm chí là có chênh lệch rất lớn mà vẫn được

khách hàng chấp thuận, câu trả lời là: Thương hiệu. Một công ty, muốn phát triển bền

vững, phải tạo được uy tín, thương hiệu cho riêng mình, đó thực sự là mong muốn, mục

đích lâu dài của ban lãnh đạo, cán bộ công nhân viên trong bất kỳ công ty nào. Tuy nhiên,

một câu hỏi lớn đối với ngành dịch vụ đặc biệt, mang niềm tin cho công chúng như kiểm

toán và tư vấn là làm thế nào để xây dựng, khẳng định được thương hiệu kiểm toán? Với

hơn 17 năm hoạt động và phát triển của ngành kiểm toán độc lập ở Việt Nam thì đây là câu

hỏi không mới với nhiều lãnh đạo các công ty kiểm toán. Chúng tôi cho rằng để xây dựng

được và khẳng định thương hiệu cho công ty kiểm toán thì các yếu tố căn bản quyết định

giá trị và niềm tin vào thương hiệu gồm:

+ Ban lãnh đạo Công ty phải có chiến lược phát triển dài hạn, có tầm nhìn phù hợp với sự

phát triển kinh tế thế giới và Việt Nam. Đây chính là điều kiện đầu tiên cần có, vì ban lãnh

đạo chính là những người đề ra chính sách, chiến lược phát triển của công ty kiểm toán.

Mọi sự phát triển, thành quả mà công ty đạt được đều xuất phát từ ban lãnh đạo, giám đốc

của công ty. Hơn nữa cần để ý rằng, uy tín của những người lãnh đạo công ty cũng góp

phần lớn tạo nên thương hiệu cho công ty đó, điều quan trọng vẫn là tầm nhìn xa, nhanh

nhạy của họ, nó quyết định đến thành công của việc xây dựng thương hiệu

+ Chất lượng nhân viên: Đây là yếu tố căn bản có tính quyết định nhất đến sự phát triển,

danh tiếng của thương hiệu kiểm toán. Cần phải hiểu được rằng, người trực tiếp thực hiện

các cuộc kiểm toán, tạo nên chất lượng kiểm toán, thương hiệu của một công ty kiểm toán

chính là các kiểm toán viên, nhân viên của các công ty kiểm toán. Những điểm mạnh và sự

khác biệt về chất lượng nhân viên sẽ là 1 yếu tố quan trọng tạo nên thương hiệu của 1 hãng

kiểm toán tức là 1 hình ảnh của công ty mang những nét đặc trưng, rất riêng có. Hiện nay,

có trên 100 công ty kiểm toán đang hoạt động làm cho môi trường cạnh tranh trên thị

Sinh viên: Nguyễn Thị Hường Lớp ĐHKế Toán 1-K1

trường kiểm toán ngày càng sôi động. Do vậy muốn có được vị thế của mình trong ngành

kiểm toán độc lập, các công ty kiểm toán cần phải khẳng định sự khác biệt về chất lượng

dịch vụ thông qua nguồn nhân lực. Để thực hiện được điều này, cần thực hiện chiến lược

“Quốc tế hoá đội ngũ nhân viên”. Đây là một chiến lược căn bản giúp nhân viên đạt trình

độ quốc tế đáp ứng yêu cầu chuẩn hoá và đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng dịch vụ của

khách hàng. Người Việt Nam cần phải được đào tạo một cách có hệ thống, bài bản theo

chuẩn quốc tế để đảm nhận những vị trí lãnh đạo, quản lý và kiểm soát chất lượng. Để có

một đội ngũ kiểm toán đạt chất lượng quốc tế, trước hết các công ty kiểm toán cần lựa chọn

và thu hút nhân tố con người. Công việc này cần được thực hiện theo quy trình chặt chẽ từ

khâu tuyển dụng đến khâu đào tạo nhân viên. Việc cử nhân viên đi học tập ở nước ngoài

hay tham gia các lớp đào tạo chuyên môn theo bằng cấp quốc tế vừa khuyến khích nhân

viên học tập vừa đạt được mục tiêu quốc tế hoá đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp. Bên

cạnh đó, ban lãnh đạo công ty còn phải chú ý đào tạo về kiến thức, kỹ thuật, kỹ năng cho

nhân viên, dần hình thành phong cách làm việc chuyên nghiệp, hiệu quả, có phong cách

của nhân viên. Đồng thời để duy trì được điều này cần xây dựng một hệ thống quản trị

nhân sự phù hợp và mỗi quyết định quản lý đều phải hướng tới sự phát triển của nhân viên.

Làm được những điều này, chắc chắn công ty sẽ xây dựng được một đội ngũ nhân viên có

chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu của cồng việc, tạo nên uy tín cho công ty kiểm toán.

+ Cần hướng tới xây dựng văn hoá đặc trưng của công ty kiểm toán: Đây là yếu tố rất

quan trọng hình thành nên phong cách kinh doanh, phong cách của nhân viên trong việc

phục vụ khách hàng; đóng góp vào đặc trưng của thương hiệu kiểm toán và chất lượng

nhân viên. Văn hoá công ty kiểm toán được tạo nên từ những hành động nhỏ nhất của mỗi

nhân viên, bất kể là làm việc tại văn phòng hay là tại khách hàng. Vì thế, công ty kiểm toán

cần có quy chế, quy định rõ ràng, chặt chẽ để tạo nên thói quen làm việc, ứng xử chuyên

nghiệp của nhân viên. Những quy định này cần phải cụ thể nhất đến mức có thể, và cần

phải thích ứng với đặc thù của mỗi công ty kiểm toán để các qui định này thực sự đi vào

trong công việc, trong cuộc sống, đi kèm theo đó sẽ là các hình thức xử phạt và cần được

thực hiện một cách nghiêm túc, nhất quán.

+ Trở thành thành viên hãng kiểm toán quốc tế: Đây là việc làm để khẳng định uy tín, chất

lượng kiểm toán của công ty đã đạt với tiêu chuẩn hãng quốc tế. Để trở thành thành viên,

Sinh viên: Nguyễn Thị Hường Lớp ĐHKế Toán 1-K1

công ty kiểm toán phải mất nhiều thời gian tìm tòi, kết nối với một hãng quốc tế phù hợp,

đồng phải đáp ứng đủ các điều kiện theo yêu cầu của hãng quốc tế về năng lực nhân viên

(khả năng giao dịch bằng tiếng Anh, trình độ nghiệp vụ khá...), có cơ cấu tổ chức quản lý

và ban lãnh đạo, danh sách khách hàng và khả năng phục vụ khách hàng... ; Nhưng bù lại,

chúng ta dễ dàng nhận thấy lơi ích lớn nhất từ việc tham gia làm thành viên các tổ chức

quốc tế lớn chính là danh tiếng. Đối với công ty kiểm toán, điều này thể hiện khả năng tiếp

cận thị trường mới, mở rộng thị phần hiện có thông qua thương hiệu của một hãng có bề

dầy kinh nghiệm và uy tín quốc tế. Có thể nói đây là một cách làm tắt để sớm xây dựng

thương hiệu cho công ty kiểm toán, nhưng trở thành thành viên hãng kiểm toán quốc tế

cũng có những thách thức nhất định và đặc biệt là không nên để mất đi bản sắc và thương

hiệu kiểm toán Viêt như trường hợp đánh mất thương hiệu rất đáng tiếc của một thương

hiệu kiểm toán đã được nhiều thế hệ tâm huyết đóng góp xây dựng qua hàng chục năm.

Tuy nhiên, để công ty kiểm toán phát triển bền vững điều quan trọng nhất là cần khẳng

định rằng nội lực của công ty kiểm toán. Đây là vẫn là yếu tố chính đảm bảo bước những

bước phát triển bền vững, tự chủ và sự thích ứng nhanh cho công ty kiểm toán trong điều

kiện nền kinh tế luôn biến đổi và ngày càng cạnh tranh như hiện nay, Nội lực và trí tuệ Việt

có học tập, kế thừa những tinh hoa của nền kiểm toán quốc tế chính là giá trị thương hiệu

kiểm toán lớn nhất, bền vững nhất mà các công ty kiểm toán cần hướng tới.

+ Khách hàng: Là yếu tố cực kỳ quan trọng minh chứng cho giá trị, tính vượt trội của

thương hiệu kiểm toán. Một thương hiệu kiểm toán mạnh, thương hiệu kiểm toán danh

tiếng và uy tín thì đương nhiên sẽ có nhiều lòng tin và sự lựa chọn của các nhà kinh doanh.

Theo đó số lượng khách hàng trong thị phần kiểm toán sẽ càng lớn. Tuy nhiên, muốn giữ

khách hàng, tạo cho khách hàng niềm tin tưởng đối với dịch vụ minh cung cấp, các công ty

kiểm toán cần:

- Bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng.

- Không ngừng nâng cao kỹ thuật nghiệp vụ, am hiểu sâu sắc về luật pháp và các chuẩn

mực nghề nghiệp.

- Trau dồi các kỹ năng phục vụ khách hàng đa văn hoá.

Trên đây là những yếu tố căn bản để xây dựng và phát triển thương hiệu của một công ty

kiểm toán, nhưng cần nhận thức rằng việc xây dựng thương hiệu đã khó, nhưng mà giữ

Sinh viên: Nguyễn Thị Hường Lớp ĐHKế Toán 1-K1

được nó còn khó hơn. Vì thế các công ty kiểm toán cần phải không ngừng nâng cao chất

lượng, đáp ứng nhu cẩu của khách hàng, bảo vệ uy tín, phát triển một cách bền vững,

khẳng định được vị thế trên thị trường và góp phần quan trọng cho sự phát triển của nền

kiểm toán Việt Nam.

2.8 Nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty kiểm toán độc lập Việt Nam

Việc nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế là một nhu

cầu tất yếu của các công ty kiểm toán độc lập Việt Nam trong suốt quá trình hình thành và

phát triển. Trong 15 năm qua, ngành kiểm toán độc lập của Việt Nam tuy còn non trẻ

nhưng đã có những bước tiến bộ vượt bậc. Qua thực tiễn hoạt động, các công ty kiểm toán

độc lập Việt Nam đã khẳng định vị trí của mình trên thị trường dịch vụ kiểm toán và tư

vấn trong nước.

Tuy nhiên, việc hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới và khu vực đặt ra những yêu cầu

và đòi hỏi cao hơn đối với năng lực cạnh tranh của các công ty kiểm toán độc lập Việt

Nam. Theo đó, việc nâng cao năng lực cạnh tranh có ý nghĩa sống còn, giúp các công ty

kiểm toán Việt Nam có thể tồn tại và phát triển ngay trên "sân nhà" và từng bước vươn ra

thị trường khu vực và thế giới.

Một số giải pháp liên quan được trình bày lồng ghép trong bài hướng tới các công ty

kiểm toán, Nhà nước và hội nghề nghiệp.

Một cách chung nhất, năng lực cạnh tranh của DN thể hiện thực lực và lợi thế của DN

so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu

lợi nhuận ngày càng cao hơn. Theo đó, năng lực cạnh tranh của DN trước hết phải được

tạo ra từ những yếu tốt nội tại của DN. Những yếu tốt nội tại của mỗi DN không chỉ được

tính bằng các tiêu chí về công nghêj, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị DN…một cách

riêng biệt mà cần được xem xét trong mối tương quan với các đối tác cạnh tranh trên cùng

một lĩnh vực cùng một thị trường. Bên cạnh đó, những yếu tố bên ngoài như môi trường

pháp lý, cơ chế chính sách của từng quốc gia…cũng có ảnh hưởng gián tiếp đến năng lực

cạnh tranh của DN tại quốc gia đó trong bối cảnh toàn cầu hoá.

Để đánh giá năng lực cạnh tranh của một DN, cần phải xác định được các yếu tố nội

Sinh viên: Nguyễn Thị Hường Lớp ĐHKế Toán 1-K1

tại bên trong và các yếu tố ảnh hưởng bên ngoài tác động đến năng lực cạnh tranh của DN.

Các DN hoạt động sản xuất kinh doanh ở những ngành, lĩnh vực khác nhau có các yếu tố

đánh giá năng lực cạnh tranh khác nhau. Đối với các DN hoạt động trong lĩnh vực kiểm

toán, các yếu tố nội tại chủ yếu được sử dụng để đánh giá năng lực cạnh tranh của một

công ty kiểm toán bao gồm: chất lượng dịch vụ và sự đa dạng của dịch vụ cung cấp;

nguồn nhân lực; khả năng phát triển thị trường; thương hiệu, uy tín của DN; năng lực tài

chính và công nghệ kiểm toán; năng lực tổ chức và quản trị DN.

- Chất lượng dịch vụ và sự đa dạng của dịch vụ cung cấp:

Chất lượng dịch vụ kiểm toán và các dịhc vụ khác ngày càng được nâng cao do

nhiều yếu tố chru quan bên trong DN và các yếu tố khách quan bên ngoài. Mặc dù ngành

kiểm toán độc lập trong thời gian qua có sự tăng trưởng mạnh mẽ về số lượng các công ty

kiểm toán độc lập, tuy nhiên các công ty đều nhận thức rõ chất lượng dịch vụ cung cấp là

yếu tố hàng đầu thể hiện năng lực cạnh tranh và quyết định sự sống còn của DN. Theo đó,

các công ty kiểm toán độc lập đều thực hiện việc kiểm soát chất lượng kiểm toán trên các

cấp độ khác nhau trong quy trình kiểm toán. Bên cạnh đó, việc ban hành khá đầy đủ và

đồng bộ các văn bản pháp luật liên quan cũng như sự phối hợp chặt chẽ và có hiệu quả

giữa Bộ Tài chính và Hội kiểm toán viên hành nghề trong hoạt động quản lý kiểm toán đã

có tác động tích cực đến chất lượng dịch vụ của các công ty kiểm toán độc lập cung cấp.

Tuy nhiên, việc chậm trễ ban hành Quy chế kiểm soát chất lượng hành nghề kế toán, kiểm

toán cũng gây khó khăn cho cơ quan chức năng và hội nghề nghiệp trong quản lý chất

lượng dịch vụ kế toán, kiểm toán.

Cùng với sự phát triển về số lượng công ty và thị trường dịch vụ, các dịch vụ do các

công ty kiểm toán cung cấp không ngừng được đa dạng hoá với các nhóm dịch vụ như:

dịch vụ kiểm toán (kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ,

kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư XDCB), dịch vụ phi kiểm toán (dịch vụ kế toán,

dịch vụ đào tạo bồi dưỡng kiến thức; tư vấn quản lý, tài chính, thuế; tư vấn đầu tư, luật)

Trong những năm gần đây, một số công ty kiểm toán đã cung cấp thêm một số loại dịch

vụ mới: kiểm toán và định giá; dịch vụ soát xét BCTC; tư vấn tái cấu trúc DN; xây dựng

hệ thống kiểm soát nội bộ; tư vấn sát nhập và giải thể DN…Tuy nhiên, khả năng cung ứng

Sinh viên: Nguyễn Thị Hường Lớp ĐHKế Toán 1-K1

và tỷ trọng doanh thu của các loại dịch vụ này còn ở mức khiêm tốn.

BẢNG 1: Tình hình doanh thu (cơ cấu theo loại dịch vụ)

Đơn vị tính: Triệu đồng

Chỉ tiêu Năm 2004

461.699 100 264.767 57 24.421 5 105.387 23 52.509 11

3.519 0.7 11.096 3,3 0,7 12.327 1,3

Năm 2005 Số tiền Tỷ lệ% Số tiền Tỷ lệ % Tổng Doanh thu 622.255 100 Trong đó: 353.879 57 1. Kiểm toán báo cáo tài chính 2. Kiểm toán báo cáo QTVĐT hoàn thành 32.782 5 146.976 24 3. Tư vấn tài chính, thuế, kế toán 71.701 12 4. Dịch vụ tư vấn nguồn nhân lực, tư vấn quản lý, định giá tài sản 5. Bồi dưỡng tài chính, kế toán, kiểm toán 4.590 6. Dịch vụ liên quan khác

Doanh thu từ hoạt động kiểm toán chiếm tỷ trọng lớn nhất (khoảng 62%), doanh thu

từ các dịch vụ phi kiểm toán còn quá thấp (khoảng 38%) so với các nước phát triển (tại

các nước phát triển tỷ lệ doanh thu từ các dịch vụ phi kiểm toán lên tới 90%). Như vậy,

khả năng cạnh tranh của các công ty kiểm toán Việt Nam trong việc cung cấp các dịch vụ

phi kiểm toán và các dịch vụ gia tăng khác còn ơ rmức hết sức khiêm tốn.

Như vậy, để tăng cường năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập, các DN kiểm

toán Việt Nam phải tạo lập được lợi thế so sánh với đối tác của mình thông qua việc đa

dạng hoá các loại hình dịch vụ cung cấp. Chúng tôi cho rằng áp dụng chiến lược cạnh

tranh bằng sự khác biệt, có tính sáng tạo và mang lại giá trị mới tăng thêm cho người tiêu

dùng sẽ phù hợp hơn chiến lược giành lợi thế cạnh tranh bằng việc cung cấp các sản phẩm

và dịch vụ với chi phí thấp trong thời đại hội nhập. Nhờ lợi thế này, DN có thể thoả mãn

tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối tác

cạnh tranh đến từ các nước trên thế giới.

- Nguồn nhân lực.

Có thể nói nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng hàng đầu ảnh hưởng đến năng lực cạnh

tranh của công ty kiểm toán. Sau 15 năm hoạt động, đội ngũ KTV người Việt Nam đã

trưởng thành nhanh chóng cả về trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp. Nhiều

Sinh viên: Nguyễn Thị Hường Lớp ĐHKế Toán 1-K1

KTV có kiến thức và chứng chỉ của các tổ chức nghề nghiệp quốc tế như ACCA, CPA

Australia…(bảng 2)

BẢNG 2: Tình hình nhân viên

Chỉ tiêu

Tỷ lệ %

Tỷ lệ % Năm 2004 Số người

Năm 2005 Số người 3.897 100 3.124 100 3.091 79 870 57 2.468 79 664 40 28 7 27 6

I. Tổng số nhân viên đến 31/12/2005 Trong đó 1. Nhân viên chuyên nghiệp Trong đó: 1.1. Số người có chứng chỉ kiểm toán viên Trong đó: 1.1.1. Số người vừa có chứng chỉ KTV Việt Nam, vừa có chứng chỉ KTV nước ngoài: - Người Việt Nam - Người nước ngoài 1.1.2. Số người chỉ có Chứng chỉ KTV Việt Nam: - Người Việt Nam - Người nứơc ngoài 1.1.3. Số người chỉ có chứng chỉ KTV nước ngoài: - Người Việt Nam - Người nước ngoài 1.2 Số người chưa có chứng chỉ KTV 2. Nhân viên khác: 70 40 30 17 88 749 98 710 2 9 5 34 47 16 18 53 2.221 72 21 806

65 26 35 14 90 579 97 582 3 15 4 27 55 15 12 45 1.804 73 21 656 Nguồn VACPA

Đội ngũ kiểm toán viên chuyên nghiệp mặc dù tăng nhanh nhưng chiếm tỷ trọng chưa

cao so với tổng số nhân viên chuyên nghiệp. Tỷ lệ KTV Việt Nam có chứng chỉ quốc tế

còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập. Ngoài ra, vấn đề chảy máu chất xám từ

ngành kiểm toán sang các ngành khác có liên quan khi các công ty, văn phòng đại diện

nước ngoài vào Việt Nam ngày một nhiều trong thời gian tới là vấn đề cần được tính tới

trong chiến lược đào tạo và sử dụng nguồn lực kiểm toán.

- Khả năng phát triển thị trường và xây dựng thương hiệu của các công ty kiểm toán.

Dưới tác động của các nhân tố chủ quan và khách quan, đối tượng khách hàng ngày

càng phát triển và đa dạng hoá. Đối tượng khách hàng (bắt buộc và tự nguyện) của các

công ty kiểm toán bao gồm DN có vốn ĐTNN, DN nhà nước, các tổ chức ngân hàng, tài

Sinh viên: Nguyễn Thị Hường Lớp ĐHKế Toán 1-K1

chính, bảo hiểm, công ty niêm yết, các dự án quốc tế, một số đơn vị hành chính sự nghiệp

và các loại hình DN khác. Trong một số năm gần đây, khi cơ quan thuế thí điểm cho DN tự

kê khai, tự nộp quyết toán thuế hằng năm và từ sau khi Nghị định 105/2004/NĐ-Chính phủ

ra đời thì thị trường kiểm toán đã mở rộng đáng kể với quy định tất cả các DN nhà nước

bắt buộc phải kiểm toán. (bảng 3)

BẢNG 3: Doanh thu (cơ cấu theo đối tượng khách hàng)

Đơn vị tính: Triệu đồng

Năm 2004 Số tiền Tỷ lệ % Đối tượng Khách hàng Năm 2005 Số tiền Số lượng KH Tỷ lệ %

Số lượng KH 4.302 304.454,69 66 5.640 366.967,565 60

2.198 63.178,034 10 1.354 30.421,490 6

2.653 686 125.826,470 20 1 8.523,634 1.940 85.657,977 18 738 7.355,647 1

233

1. DN có vốn đầu tư nước ngoài 2. Công ty TNHH, Công ty cổ phần, DN tư nhân, HTX 3. DN Nhà nước 4. Đơn vị HCSN, tổ chức đoàn thể xã hội 5. Tổ chức, dự án quốc tế 341 Tổng cộng 11.518 49.929,656 9 100 8.567 100

31.252,386 9 Nguồn: Tổng cục Thuế

Khả năng phát triển thị trường của các công ty kiểm toán còn hạn chế, khách hàng

kiểm toán vẫn chủ yếu là khách hàng bắt buộc kiểm toán theo quy định của pháp luật.

Về khả năng tiếp cận và chiếm lĩnh thị trường: Có thể nói, DN nước ta chưa coi trọng việc

xây dựng thương hiệu, quảng bá dịch vụ cung cấp và nghiên cứu thị trường chiến lược.

Việc tiếp thị dịch vụ ra thị trường khu vực và quốc tế còn hạn chế. Các DN kiểm toán Việt

Nam chủ yếu có quy mô nhỏ và vừa, không có các hoạt động tìm hiểu thị trường nước

ngoài, kinh nghiệm kinh doanh quốc tế còn non yếu. Hiểu biết về hệ thống luật pháp quốc

tế còn thiếu để xuất khẩu dịch vụ kiểm toán và tư vấn ra bên ngoài. Đây là vấn đề lớn đặt

ra trước hội nghề nghiệp và các DN kiểm toán Việt Nam trong giai đoạn hội nhập và cạnh

tranh khốc liệt khi các cam kết bắt đầu có hiệu lực.

- Năng lực tài chính và công nghệ kiểm toán:

Hầu hết các DN kiểm toán Việt Nam hiện nay là các DN nhỏ và vừa. Mức vốn bình

Sinh viên: Nguyễn Thị Hường Lớp ĐHKế Toán 1-K1

quân của những DN lớn nhất cũng chỉ trên dưới 10 tỷ đồng. Mặc dù tiềm lực tài chính

không phải yếu tố tiên quyết cho hoạt động cung cấp dịch vụ nhưng lại có ảnh hưởng đến

việc đầu tư vào nguồn nhân lực qua đào tạo, đầu tư cơ sở vật chất và công nghệ phục vụ

kiểm toán, mở thêm chi nhánh…

Về công nghệ tổ chức và quản lý kiểm toán: Một số năm trở lại đây, một số DN đã quan

tâm tới việc gia nhập để trở thành thành viên của các hãng kiểm toán quốc tế với việc tiếp

thu các công nghệ quản lý và kiểm toán tiên tiến từ các nước phát triển. Tuy nhiên, ở đa số

các DN khác, việc đầu tư nâng cao chất lượng quy trình, công nghệ kiểm toán còn chậm,

chưa đồng đều. (bảng 4)

BẢNG 4: 11 công ty là thành viên của các hãng Kiểm toán quốc tế

TT Công ty 1 2 Hãng kiểm toán quốc tế Deloitte Touche Tohmatsu INPACT International

3 4 5 INPACT Asia Pacific HLB International BDO International

6 Morison International

Công ty Kiểm toán Việt Nam TNHH (VACO) Công ty Dịch vụ Tư vấn TCKT và Kiểm toán (AASC) Công ty Kiểm toán và Dịch vụ Tin học (AISC) Công ty Cổ phần Kiểm toán và Tư vấn (A&C) Công ty Cổ phần Kiểm toán và Tư vấn TCKT (AFC) Công ty TNHH Kiểm toán và Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kiểm toán Thuỷ Chung Công ty TNHH Kiểm toán M&H 7 Công ty TNHH Quản trị Tiên Phong 8 9 Công ty TNHH Kiểm toán DTL 10 Công ty TNHH Kiểm toán U&I 11 Công ty Hợp danh Kiểm toán và Tư vấn STT Heffrey Henry International ASNAF Horwarth International Baker Tilly International RSM International

Nguồn VACPA

- Năng lực tổ chức và quản trị DN:

Trong sự phát triển vượt bậc về số lượng công ty kiểm toán đã hình thành một đội ngũ

quản lý chuyên nghiệp, đáp ứng được yêu cầu quản lý, điều hành hiện tại. Trong đó, nhiều

DN kiểm toán đã áp dụng các mô hình quản lý tiên tiến nhằm tinh giản biên chế gián tiếp,

tiết kiệm các chi phí phát sinh trong quản lý điều hành…Tuy nhiên các DN kiểm toán Việt

Nam chủ yếu là các DN nhỏ và vừa nên khả năng áp dụng hệ thống quản lý tiên tiến còn

hạn chế.

Bên cạnh những yếu tố nội tại trong các công ty kiểm toán độc lập Việt Nam, có thể kể đến

Sinh viên: Nguyễn Thị Hường Lớp ĐHKế Toán 1-K1

những yếu tố bên ngoài có ảnh hưởng gián tiếp đến năng lực cạnh tranh của các công ty

kiểm toán độc lập Việt Nam: môi trường pháp lý, chính sách phát triển hoạt động kiểm

toán độc lập, sự ra đời của Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam.

Trong thời gian qua, Quốc hội và các cán bộ, ngành đã ban hành và hoàn thiện một

cách căn bản hệ thống văn bản pháp luật về kế toán, kiểm toán. Luật Kế toán, các Nghị

định về kiểm toán độc lập, hệ thống chuẩn mực kế toán và kiểm toán… đã hình thành hành

lang pháp lý cho hoạt động kiểm toán ở Việt Nam, đồng thời tạo tiền đề cần thiết cho hội

nhập khu vực và quốc tế trong lĩnh vực kiểm toán.

Chính sách phát triển hoạt động kiểm toán độc lập đã được Chính phủ chỉ đạo nhất

quán với lộ trình cụ thể. Nhờ đó, kiểm toán độc lập ở Việt Nam sớm trở thành một nghề

nghiệp quan trọng và phát triển nhanh, vững chắc trong những năm gần đây. Sự hỗ trợ của

Chính phủ, Bộ Tài chính thể hiện trong việc ban hành các văn bản pháp quy cho hoạt động

kiểm toán, phát triển thị trường kiểm toán và định hướng cho các cơ quan Nhà nước sử

dụng kết quả kiểm toán như một công cụ hữu hiệu trong công tác quản lý.

Ngày 15/4/2005, Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) được thành lập,

tạo ra môi trường để các KTV cùng nhau hợp tác, đào tạo, cập nhật chuyên môn, kiểm soát

chất lượng dịch vụ, đạo đức nghề nghiệp, trao đổi kinh nghiệm, qua đó tăng cường khả

năng cạnh tranh cho các DN kiểm toán Việt Nam khi hội nhập khu vực và quốc tế.

Để nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty kiểm toán Việt Nam (liên quan đến

nhóm các yếu tố ảnh hưởng bên ngoài), chúng tôi cho rằng trong thời gian tới cần tiếp tục

hoàn thiện cơ sở pháp lý về kế toán, kiểm toán và đẩy mạnh vai trò của hội nghề nghiệp

trong việc đào tạo, bồi dưỡng cho KTV và tăng cường kiểm soát chất lượng hành nghề

kiểm toán. Những công việc trước mắt và lâu dài về hoàn thiện cơ sở pháp lý liên quan bao

gồm: hoàn thiện nội dung của các chuẩn mực kế toán kiểm toán đã ban hành: ban hành và

hướng dẫn "Quy chế kiểm soát chất lượng dịch vụ kế toán, kiểm toán" áp dụng cho các DN

cung cấp dịch vụ kế toán, kiểm toán và các nhân hành nghề kế toán nhằm nâng cao chất

lượng dịch vụ kế toán, kinh doanh kiểm toán được coi là nhiệm vụ cấp bách trong thời gian

tới; Việc nghiên cứu soạn thảo và ban hành Luật kiểm toán độc lập sẽ có tác động tích cực

đến các công ty kiểm toán độc lập Việt Nam, nâng cao tính cạnh tranh trong quá trình hội

nhập khu vực và quốc tế. Bên cạnh đó, việc liên kết, tổ chức lại các công ty kiểm toán nhỏ

Sinh viên: Nguyễn Thị Hường Lớp ĐHKế Toán 1-K1

sẽ trở thành xu hướng tích cực nhằm tăng cường năng lực tài chính, năng lực quản trị và

điều hành cũng như chuẩn hoá quy trình, công nghệ kiểm toán (cải thiện các yếu tố nội tại

trong DN)

Tóm lại, năng lực cạnh tranh của các công ty kiểm toán Việt Nam được đánh giá bởi

các yếu tố nội tại bên trong các công ty và các yếu tố tác động bên ngoài các công ty đó.

Với những số liệu phân tích nêu trên, có thể tháy rằng năng lực cạnh tranh của các công ty

kiểm toán Việt Nam còn hết sức khiêm tốn so với các hãng kiểm toán quốc tế trong bối

cảnh hội nhập về dịch vụ toàn cầu. Để nâng cao năng lực cạnh tranh cho các DN kiểm

toán, Bộ Tài chính, hội nghề nghiệp và các công ty kiểm toán Việt Nam cần thực hiện các

giải pháp đồng bộ với lộ trình thực hiện cụ thể cho những giải pháp mang tính cấp bách và

lâu dài.

2.9 Đánh giá, xếp hạng các công ty Kiểm toán.

Hệ thống các tiêu chí đánh giá và xếp hạng DNKT theo hai nhóm chỉ tiêu cơ bản đó là:

hệ thống các chỉ tiêu tài chính và hệ thống các chỉ tiêu phi tài chính.

Hệ thống các chỉ tiêu tài chính

- Chỉ tiêu đánh giá quy mô DN: Nhóm này bao gồm các chỉ tiêu: vốn kinh doanh, tổng số

nhân viên làm việc, tổng số kiểm toán viên làm việc, tổng doanh thu thuần trong năm, tình

hình nộp thuế cho Ngân sách Nhà nước.

- Chỉ tiêu thanh khoản: Nhóm chỉ tiêu này bao gồm khả năng thanh toán ngắn hạn, khả

năng thanh toán nhanh.

- Chỉ tiêu hoạt động: Nhóm chỉ tiêu này bao gồm hiệu quả sử dụng tài sản, kỳ thu tiền bình

quân.

- Chỉ tiêu cân nợ: Nhóm chỉ tiêu này bao gồm tỷ suất Nợ, tỷ suất Nợ trên vốn chủ sở hữu,

tỷ suất nợ quá hạn/tổng dư nợ.

- Chỉ tiêu lợi tức: Nhóm này bao gồm các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận (LN) trên doanh thu, tỷ

suất LN trên vốn chủ sở hữu, tỷ suất LN trên tổng tài sản.

Hệ thống các chỉ tiêu phi tài chính

Đó là các chỉ tiêu: Thời gian hoạt động của DNKT; Năng lực, kinh nghiệm quản lý

của lãnh đạo DN; Môi trường nội bộ doanh nghiệp; Tình hình thực hiện các nghĩa vụ, trách

nhiệm đối với khách hàng; Mức độ hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ được cung cấp

Sinh viên: Nguyễn Thị Hường Lớp ĐHKế Toán 1-K1

bởi doanh nghiệp; Chương trình và chính sách kiểm toán…

Xây dựng bảng điểm phục vụ đánh giá và xếp hạng DNKT

Xây dựng bảng đánh giá quy mô DNKT

TT Tiêu chí đánh giá quy mô DN

1 Vốn kinh doanh

2 Tổng số nhân viên làm việc

3 Tổng số KTV trong DN

4 Tổng doanh thu thuần trong năm

5 Tình hình nộp thuế cho NSNN

Giá trị đánh giá Dưới 10 tỷ đồng Từ 10 tỷ đến dưới 20 tỷ đồng Từ 20 tỷ đến dưới 30 tỷ đồng Từ 30 tỷ đến dưới 40 tỷ đồng Từ 40 tỷ đồng trở lên Từ 10 đến dưới 50 người Từ 50 đến dưới 100 người Từ 100 người trở lên Dưới 10 người Từ 10 người đến dưới 30 người Từ 30 người đến dưới 50 người Từ 50 người trở lên Dưới 5 tỷ đồng Từ 5 tỷ đến dưới 10 tỷ Từ 10 tỷ đến dưới 20 tỷ Từ 20 tỷ đến dưới 30 tỷ Từ 30 tỷ đến dưới 40 tỷ Từ 40 tỷ đến dưới 50 tỷ Trên 50 tỷ Dưới 1 tỷ đồng Từ 1 tỷ đến dưới 3 tỷ đồng Từ 3 tỷ đến dưới 5 tỷ đồng Từ 5 tỷ đến dưới 10 tỷ đồng Điểm số 10 15 20 25 30 2 6 8 2 6 8 10 5 10 15 20 25 30 35 1 5 10 15 100

Tổng số điểm

Căn cứ vào thang điểm trên, các DNKT được xếp loại thành quy mô lớn, quy mô vừa và

quy mô nhỏ (Biểu 2).

Biểu 2

Điểm số đánh giá

Dưới 30 điểm Từ 30-69 điểm Từ 70-100 điểm Quy mô Nhỏ Vừa Lớn

Sinh viên: Nguyễn Thị Hường Lớp ĐHKế Toán 1-K1

Biểu 3: Mẫu biểu và số liệu ví dụ minh họa tương đối việc đánh giá các DNKT có quy mô

vừa qua tham khảo bảng đánh giá các chỉ số tài chính của một số các ngân hàng lớn ở nước

ta hiện nay.

TT Chỉ tiêu

A Chỉ tiêu thanh khoản 1 Khả năng thanh toán ngắn hạn 2 Khả năng thanh toán nhanh B Chỉ tiêu hoạt động 1 Kỳ thu tiền bình quân 2 Hiệu quả sử dụng tài sản C Chỉ tiêu cân nợ 1 Tỷ suất nợ/Tổng tài sản Trọng số 12 8% 10% 10% 10% Điểm đánh giá DN kiểm toán có quy mô lớn 100 2,3 1,7 34 3,5 30 80 60 1,7 1,2 1,1 0,7 38 3 40 20 <1 <0,6 >55 <2 >60 40 1 0,6 55 2 60 44 2,5 50

2 10% 42 66 100 150 >150 Tỷ suất nợ phải trả/Vốn chủ sở hữu

3 Tỷ suất nợ quá hạn/Tổng dư nợ 10% D Chỉ tiêu lợi tức (%) 1 Tỷ suất LN trước thuế/Doanh thu 10% 0 7,5 1,6 1,8 7 6,5 2 6 >2 <6

7 2 10% 6,5 6 5,5 5

3 10% <9,8 13,7 10,8 9,8 12

100%

Tỷ suất LN trước thuế/Tổng tài sản Tỷ suất LN trước thuế/Vốn chu sở hữu Tổng số Xây dựng bảng đánh giá các chỉ số phi tài chính của DNKT Đối với các chỉ số phi tài chính của các DNKT được trình bày ở phần trên cũng sẽ

được lượng hóa với các cấp độ khác nhau cùng với thang điểm tương ứng giống như các

chỉ số tài chính.

Thang điểm được sử dụng để đo lường và đánh giá là thang điểm 100, việc phân bổ

trọng số của từng tiêu chí đánh giá phụ thuộc vào tác động và tầm quan trọng của tiêu chí

đó đến kết quả kiểm toán.

Xây dựng bảng phân bổ điểm tổng hợp các tiêu chí đánh giá

Hình thức sở hữu của các DNKT hiện khá đa dạng nhưng về cơ bản có thể chia làm

02 nhóm hình thức sở hữu chính, đó là các DN Việt Nam và các DN đầu tư nước ngoài.

Sau khi đánh giá điểm theo các tiêu chí, cộng số điểm tiêu chí tài chính với số điểm tiêu chí

Sinh viên: Nguyễn Thị Hường Lớp ĐHKế Toán 1-K1

phi tài chính rồi nhân với trọng số tương ứng trong bảng sau để có được số điểm đánh giá

cuối cùng phụ vụ việc xếp hạng. (Biểu 4)

DN ngoài quốc doanh DN đầu tư nước ngoài

Các chỉ số tài chính 45% 55%

Các chỉ số phi tài chính 55% 45%

Nguyên nhân của việc phải có sự phân bổ này đó là do hình thức sở hữu của DNKT

có vai trò quyết định đến các chỉ số tài chính và phi tài chính của chính DN đó.

Xếp hạng DNKT

Số điểm đạt được của DN sẽ được tra bảng xếp hạng. Ví dụ, như bảng sau (biểu 5):

Hạng Số điểm Hạng Số điểm

A+ 90-100 B 50-59

A 80-89 B- 40-49

A- 70-79 C+ 30-39

B+ 60-69 C Dưới 30

Tổ chức thực hiện việc đánh giá, xếp hạng

Để nâng cao chất lượng hoạt động và uy tín của ngành nghề kiểm toán trong nền

kinh tế, việc đánh giá và xếp hạng DNKT cần được thực hiện hàng năm. Thời gian bắt đầu

thực hiên công việc đánh giá và xếp hạng theo kiến nghị của chúng tôi là sau thời điểm 90

ngày kể từ ngày kết thúc niên độ. Thời gian công bố kết quả xếp hạng các DNKT trong

niên độ trước là vào đầu quý II của niên độ sau.

Hiện nay, cơ quan quản lý và điều hành hoạt động kiểm toán độc lập là Bộ Tài

chính và Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam. Do đó, để đánh giá đúng thực trạng

hoạt động và đảm bảo niềm tin cho công chúng, hai cơ quan này cần phối hợp thành lập bộ

phận khảo sát, đánh giá và xếp hạng DNKT hàng năm. Quy trình thực hiện việc công việc

của bộ phận này nên được xây dựng chặt chẽ và khoa học với ba giai đoạn: thu thập thông

tin; đánh giá xếp hạng DN và công bố kết quả đánh giá, xếp hạng.

Trên thế giới, việc đánh giá và xếp hạng các DN theo các ngành nghề trong đó có

Sinh viên: Nguyễn Thị Hường Lớp ĐHKế Toán 1-K1

DN dịch vụ kiểm toán là việc làm mang tính thường xuyên. Hy vọng, đây cũng chính là

một trong nhiều giải pháp được thực hiện nhằm nâng cao chất lượng hoạt động và uy tín

của ngành kiểm toán Việt Nam trong bối cảnh hội nhập hiện nay.

2.10 Giới thiệu về một số công ty Kiểm toán tại Việt Nam

2.10.1 Công ty TNHH Kiểm toán Độc lập Quốc gia Việt Nam VNFC

Công ty TNHH Kiểm toán Độc lập Quốc gia Việt Nam VNFC là đơn vị kinh tế trực

thuộc Viện Nghiên cứu, Đào tạo Kinh tế - Tài chính. VNFC là thành viên tập đoàn Kiểm

toán Quốc tế EURA - AUDIT INTERNATIONAL tại Việt Nam

VNFC được thành lập và thực hiện hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam theo nghị

định 105/NĐ-CP ngày 30/3/2004 của chính phủ về kiểm toán độc lập. VNFC là số ít tổ

chức kiểm toán đầu tiên tại Việt Nam chịu trách nhiệm vô hạn đối với khách hàng về kết

quả cuộc kiểm toán.

Với sự thông hiểu về môi trường kinh doanh và luật pháp Việt Nam, kết hợp với việc

không ngừng mở rộng và phát triển các mối quan hệ với các tổ chức quốc tế nhằm mục tiêu

nâng cao chất lượng dịch vụ ngang tầm quốc tế, VNFC tự hào là tổ chức của Việt Nam

cung cấp các dịch vụ chuyên ngành với chất lượng cao và mang lại hiệu quả cho khách

hàng qua dịch vụ đã cung cấp. VNFC trở thành một hãng chuyên ngành cung cấp các dịch

vụ có chất lượng quốc tế và hiệu quả cho khách.

2.10.2 Công ty Kiểm toán Việt Nam (VACO)

Địa chỉ: Số 8, Phạm Ngọc Thạch, Q. Đống Đa, Hà Nội.

Công ty Kiểm toán Việt Nam (VACO) thành lập ngày 13 tháng 05 năm 1991 là công ty

kiểm toán đầu tiên và lớn nhất ở Việt Nam cung cấp dịch vụ chuyên ngành cho nhiều

khách hàng lớn thuộc mọi thành phần kinh tế như doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp

100% vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp sở hữu nhà nước và các dự án quốc tế. Từ ngày

01 tháng 10 năm 1997, VACO, với sự đại diện của Phòng dịch vụ quốc tế (ISD), đã chính

thức được công nhận là thành viên của hãng kiểm toán quốc tế Deloitte Touche Tohmatsu

(DTT).

Hiện tại VACO - ISD là đại diện hợp pháp của DTT tại Việt Nam với sự hợp tác về

mọi mặt từ các văn phòng của DTT trên toàn cầu. Với sự kết hợp thế mạnh của Công ty

Kiểm toán Việt Nam, thông hiểu về môi trường kinh doanh và luật pháp tại Việt Nam với

Sinh viên: Nguyễn Thị Hường Lớp ĐHKế Toán 1-K1

một hãng kiểm toán hàng đầu quốc tế có bề dầy lịch sử và danh tiếng hàng trăm năm,

VACO hiện nay là công ty kiểm toán đầu tiên của Việt Nam đạt trình độ quốc tế, cung cấp

các dịch vụ chuyên ngành cho một lượng khách hàng lớn nhất trong các công ty kiểm toán

đang hoạt động tại Việt Nam với chất lượng cao.

2.10.3 Công ty A&C

Công ty Cổ phần Kiểm toán và Tư vấn (A&C) là một trong những công ty kiểm toán

độc lập hàng đầu của ngành kiểm toán Việt Nam và là công ty đầu tiên của Bộ Tài chính

thực hiện chuyển đổi hình thức sở hữu từ Doanh nghiệp Nhà nước sang Công ty cổ phần

(theo Quyết định số 1962/QĐ-BTC ngày 30/6/2003).

Những điểm nổi bật của A&C:

- A&C là công ty cổ phần Nhà nước đầu tiên hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán độc lập,

tư vấn, dịch vụ kế toán và đào tạo tại Việt Nam.

- A&C là công ty kiểm toán duy nhất tại Việt Nam có công ty TNHH 1 thành viên chuyên

trách dịch vụ kế toán đó là "Công ty TNHH Dịch vụ kế toán và tư vấn Đồng Khởi".

- A&C là thành viên của tổ chức quốc tế HLBi - một trong 12 tập đoàn kế toán, kiểm toán

và tư vấn hàng đầu thế giới. Lợi thế này cho phép á&C kết nối được nguồn nhân lực hùng

hậu để cung cấp các dịch vụ vừa phù hợp với đặc điểm của Việt Nam vừa đáp ứng được

các tiêu chuẩn chất lượng quốc tế.

- A&C là một trong các Công ty kiểm toán độc lập đầu tiên được Uỷ Ban Chứng khoán

Nhà nước cho phép kiểm toán các tổ chức phát hành và kinh doanh chứng khoán; được

Ngân hàng Nhà nước cho phép kiểm toán các tổ chức tín dụng và ngân hàng thương mại tại

Việt Nam.

- A&C có đội ngũ gần 300 nhân viên chuyên nghiệp được đào tạo ở nhiều quốc gia, với 67

người có Chứng chỉ KTV cấp Nhà nước (CPA), 10% có bằng cấp quốc tế về kế toán và

bằng cấp trên đại học; 90% có bằng kỹ sư, cử nhân kinh tế và luật… hoạt động trên khắp 3

miền đất nước.

- A&C hiểu biết thấu đáo về đất nước, con người và luật pháp Việt Nam và có khả năng

giải quyết hiệu quả nhu cầu về dịch vụ của khách hàng.

- Trong 15 năm hoạt động liên tục, A&C phát triển thành công mạng lưới Chi nhánh và

Công ty con tại các trung tâm kinh tế hàng đầu của cả nước: Hội sở đặt tại TP.HCM, Chi

Sinh viên: Nguyễn Thị Hường Lớp ĐHKế Toán 1-K1

nhánh miền Bắc đặt tại Hà Nội, Chi nhánh miền Trung đặt tại Nha Trang, Chi nhánh miền

Tây đặt tại Cần Thơ và Công ty TNHH 1 thành viên đặt tại TP.HCM. A&C đã và đang

phục vụ hơn 1.125 khách hàng hoạt động trong nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau.

Với những thành tích đều đặn và bền bỉ trong suốt gần 15 năm, A&C đã được nhận Bằng

khen của Bộ Tài chính nhiều năm liền, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Huân chương

Lao động hạng III của Chủ tịch nước...

Thị trường kiểm toán đang mở ra những cơ hội và thách thức to lớn đối với tất cả các

công ty kiểm toán. Con đường mà A&C lựa chọn vẫn là kiên định với phương châm hoạt

động “sự tín nhiệm của khách hàng chính là thành công và hạnh phúc của A&C”, tiếp tục

giữ vững vị trí là một trong số các công ty hàng đầu, không chỉ về số lượng khách hàng,

mà còn về chất lượng dịch vụ và danh tiếng quốc gia.

Phát huy thành quả đạt được qua gần 15 năm hoạt động, với tinh thần đoàn kết, trách

nhiệm, chuyên nghiệp và trí tuệ, tập thể cán bộ lãnh đạo, kiểm toán viên, trợ lý kiểm toán

và toàn thể nhân viên của Công ty xác định mục tiêu trong kế hoạch từ nay đến năm 2010,

sau khi chuyển đổi thành công ty TNHH nhiều thành viên, A&C vẫn giữ vững vị thế là một

trong những công ty kiểm toán hàng đầu của Việt Nam phát triển bền vững về chất lượng

hoạt động; đội ngũ kiểm toán viên chuyên nghiệp, có nghiệp vụ vững vàng, đạo đức nghề

nghiệp tốt, kinh nghiệm quốc gia sâu sắc, kiến thức quốc tế phong phú, thực hiện thắng lợi

mục tiêu hội nhập, sánh vai với bạn bè trong khu vực và quốc tế.

Kết luận:

Kiểm toán độc lập là một hoạt động có vai trò quan trọng trong nền kinh tế hiện nay,

những thông tin cần phải được thẩm tra về tính trung thực, hợp lý và đúng đắn. Kiểm toán

tạo niềm tin cho những người cần thông tin, góp phần hướng dẫn nghiệp vụ và củng cố nề

nếp hoạt động tài chính, kế toán nói riêng và hoạt động quản lý nói chung, nâng cao hiệu

quả và năng lực quản lý.

Hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam còn non trẻ, vì vậy việc ban hành luật kiểm

toán, nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán, đào tạo nguồn nhân lực... là hết sức cần

Sinh viên: Nguyễn Thị Hường Lớp ĐHKế Toán 1-K1

thiết để đưa ngành kiểm toán Việt Nam phát triển ngang tầm khu vực và thế giới.

PHỤ LỤC Danh sách các công ty kiểm toán đủ điều kiện kiểm toán BCTC năm 2004 và 2005 (Tính đến ngày 16/11/2004, kèm theo công văn số 13292 TC/CĐKT ngày 16/11/2004 của Bộ Tài chính)

TT Tên công ty kiểm toán

Ngày thành lập

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44

Công ty Kiểm toán Việt Nam TNHH (VACO) Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC) Công ty TNHH Tư vấn Luật và Kiểm toán Hoàng Gia (SCCT) Công ty TNHH Ernst & Young Việt Nam (E&Y) Công ty Kiểm toán và Dịch vụ Tin học (AISC) Công ty TNHH Price Waterhouse Coopers Việt Nam (PwC) Công ty TNHH KPMG Việt Nam (KPMG) Công ty Cổ phần Kiểm toán và Tư vấn (A&C) Công ty Kiểm toán và Tư vấn TCKT Sài Gòn (AFC) Công ty Kiểm toán và Kế toán (AAC) Công ty TNHH Price Waterhouse Coopers - AISC (PwC - AISC) Công ty TNHH Dịch vụ Kiểm toán và Tư vấn TCKT Thuỷ Chung Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn Kế toán BHP (BHP) Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn Tài chính, Kế toán HP (HP) Công ty TNHH Kiểm toán M&H (M&H) Công ty TNHH Kế toán Kiểm toán Tư vấn Việt Nam (AACC) Công ty TNHH Dịch vụ Kiểm toán và Tư vấn Kế toán Bắc Đẩu (PACO) Công ty TNHH Kiểm toán Quốc tế Á Châu (AIA) Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn TCKT Hồng Đức (HĐ) Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn Tài chính (ACC) Công ty TNHH Kiểm toán Quốc tế Việt Nam (VIA) Công ty TNHH Kiểm toán Kiến Hưng Công ty Kiểm toán và Kế toán Hà Nội (CPA-HàNội) Công ty TNHH Kiểm toán AS (AS) Công ty Cổ phần Kiểm toán và Định giá Việt Nam (VAE) Công ty TNHH Kiểm toán Tư vấn Việt Nam (AticVietnam) Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn TCKT Thanh Đức Công ty TNHH Hoàng Thắng Công ty TNHH Kiểm toán, Kế toán và Dịch vụ Tài chính VN (VinAudit) Công ty TNHH Tư vấn và Kiểm toán (CA&A) Công ty Cổ phần Kiểm toán và Tư vấn Thăng Long Công ty Cổ phần Kiểm toán và Tư vấn Tài chính Ánh Sáng Á Châu Công ty Cổ phần Kiểm toán - Tư vấn Thuế (ATC) Công ty TNHH Kiểm toán và Dịch vụ Phần mềm TDK (TDK) Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán Việt Nam (VAAC) Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán A.P.B Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn ACPA Công ty TNHH Kiểm toán Mỹ (AA) Công ty Cổ phần Kế toán - Kiểm toán và Tin học Chuẩn Việt (Vietvalues) Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn Tài chính Quốc tế (IFC) Công ty Hợp danh Kiểm toán và Tư vấn STT Công ty Hợp danh Kiểm toán Việt Nam Công ty Hợp danh Kiểm toán và Tư vấn TCKT SGN Công ty Hợp danh Kiểm toán Tâm Việt

13/05/1991 13/05/1991 03/09/1992 03/11/1992 29/04/1994 14/05/1994 17/05/1994 13/02/1995 13/02/1995 13/02/1995 14/03/1995 28/06/1996 27/06/1997 09/06/2000 08/12/2000 19/02/2001 12/04/2001 12/04/2001 22/08/2001 24/8/2001 09/10/2001 11/10/2001 26/01/1999 07/05/2000 21/12/2001 15/08/2002 26/06/2002 14/10/2002 15/01/2003 09/04/2003 18/06/2003 13/08/2002 05/08/2003 28/02/2002 08/01/2003 16/10/2003 14/04/2004 02/11/2001 20/11/2003 24/10/2001 19/05/2004 23/06/2004 17/05/2004 19/10/2004

Sinh viên: Nguyễn Thị Hường Lớp ĐHKế Toán 1-K1

Sinh viên: Nguyễn Thị Hường Lớp ĐHKế Toán 1-K1