฀ CHUYÊN ĐỀ LAO ฀
175
STATUS OF DECLINE IN BASIC DAILY ACTIVITIES AND SOME RELATED
FACTORS IN THE ELDERLY AT THU DUC GENERAL HOSPITAL IN 2025
Tran Hoang Hai*, Tran Thi Quynh, Tran Thi Hieu, Nguyen Thi Suong, Bui Duc Hanh
University of Medicine and Pharmacy, Hue University - 06 Ngo Quyen, Thuan Hoa Ward, Hue City, Vietnam
Received: 11/09/2025
Revised: 26/09/2025; Accepted: 21/10/2025
ABSTRACT
Objective: The study aimed to describe the decline in basic daily activities and an
associated factor in elderly outpatients.
Research method: Cross-sectional study on 302 elderly patients who were examined and
treated as outpatients at the Thu Duc General Hospital clinic. Patients were interviewed
directly about their current medical condition and daily functional status according to the
Barthel scale.
Results: The rate of elderly people with decline in basic daily activities was 30.1%.
Of which: 14.6% had low dependence, 10.9% had high dependence and 4.6% were
completely dependent. Some factors related to decline in basic daily activities include:
The older the age, the greater the likelihood of decline, in which the 70–79 year old group
had OR = 2.54 (95%CI: 1.13–5.70) and the ≥80 group had OR = 17.3 (95%CI: 6.22–48.1)
higher decline than the 60–69 year old group. Frequent insomnia/stress had a higher risk
of decline compared to the group with less insomnia/stress OR = 2.87 (95%CI: 1.46–5.65).
The group with some diseases compared to the group without diseases included: Heart
failure OR = 2.81 (95%CI: 1.19–6.61), type 2 diabetes OR = 3.14 (95%CI: 1.58–6.24).
Cerebrovascular accident OR = 8.08 (95%CI: 1.31–49.7), digestive disease OR = 3.17
(95%CI: 1.53–6.59).
Conclusion: Decreased basic daily activities in the elderly is a common problem,
especially with increasing age and/or with certain diseases. The study recommends the
need for functional interventions from health care and relatives to support the patients.
Keywords: Elderly (NCT), Basic Daily Activities (BAD).
Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 19, 175-181
*Corresponding author
Email: bacsihoanghai@gmail.com Phone: (+84) 982797687 Https://doi.org/10.52163/yhc.v66iCD19.3564
www.tapchiyhcd.vn
176
T.H. Hai et al. / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 19, 175-181
TÌNH TRẠNG SUY GIẢM HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN HÀNG NGÀY
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI CAO TUỔI
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THỦ ĐỨC NĂM 2025
Trần Hoàng Hải*, Trần Thị Quỳnh, Trần Thị Hiếu, Nguyễn Thị Sương, Bùi Đức Hạnh
Trường Đại học Y - Dược, Đại học Huế - 06 Ngô Quyền, P. Thuận Hoá, Tp. Huế, Việt Nam
Ngày nhận: 11/09/2025
Ngày sửa: 26/09/2025; Ngày đăng: 21/10/2025
ABSTRACT
Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm mô tả tình trạng suy giảm hoạt cơ bản hàng ngày và một yếu
tố liên quan ở người cao tuổi khám bệnh ngoại trú.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang trên 302 bệnh nhân người cao tuổi
đang khám điều trị ngoại trú tại phòng khám Bệnh viện Đa khoa Thủ Đức. Bệnh nhân
được phỏng vấn trực tiếp tình trạng bệnh lý hiện tại tình trạng hoạt động chức năng hàng
ngày theo thang điểm Barthel.
Kết quả: Tỷ lệ người cao tuổi bị suy giảm hoạt động bản hằng ngày 30,1%.Trong đó:
14,6% có tình trạng hoạt động phụ thuộc ít, 10,9% có hoạt động phụ thuộc nhiều và 4,6%
trong tình trạng hoạt động phụ thuộc hoàn toàn. Một số yếu tố liên quan đến tình trạng suy
giảm hoạt động bản hàng ngày gồm: Tuổi càng cao thì khả năng bị suy giảm càng lớn
trong đó nhóm 70–79 tuổi OR = 2,54 (95%CI: 1,13–5,70) nhóm ≥80 OR = 17,3 (95%CI:
6,22–48,1) suy giảm cao hơn so với nhóm 60–69 tuổi. Thường xuyên mất ngủ/căng thẳng
khả năng suy giảm cao hơn so với nhóm ít mất ngủ/căng thẳng OR = 2,87 (95%CI:
1,46–5,65). Nhóm mắc một số bệnh so với nhóm không mắc bệnh gồm: Suy tim OR =
2,81 (95%CI: 1,19–6,61), mắc đái tháo đường type 2 OR = 3,14 (95%CI: 1,58–6,24). Tai
biến mạch máu não OR = 8,08 (95%CI: 1,31–49,7), mắc bệnh tiêu hóa OR = 3,17 (95%CI:
1,53–6,59).
Kết luận: Suy giảm hoạt động bản hàng ngày ở người cao tuổi vấn đề phổ biến, đặc
biệt khi tuổi càng cao và/hoặc mắc một sbệnh. Nghiên cứu khuyến cáo cần các can
thiệp chức năng từ phía y tế và người thân trong việc hỗ trợ cho người bệnh.
Từ khóa: Người cao tuổi (NCT), Hoạt động cơ bản hàng ngày (HĐCBHN).
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Sự gia tăng tuổi thọ tốc độ già hóa dân số đã tr
thành một trong những thách thức lớn nhất của
nhiều quốc gia trên thế giới với tỷ lệ 20% người từ
60 tuổi tr lên [1]. Tình trạng suy giảm chức năng
của người bệnh cao tuổi tới khám và điều trị tại các
sở y tế cũng vấn đề phổ biến với khoảng 30%
người cao tuổi (NCT) nhập viện cấp tính bị mất khả
năng thực hiện các hoạt động bản hằng ngày
(HĐCBHN) so với trước khi nhập viện [11]. Sự suy
giảm này làm tăng nguy phụ thuộc lâu dài, thời
gian nằm viện kéo dài và tử vong. Số liệu về tỷ lệ phụ
thuộc chức năng trong sinh hoạt cơ bản chưa được
cập nhật đầy đủ một số yếu tố làm gia tăng mức
độ suy giảm vẫn còn ít tại Việt Nam. Do vậy, chúng
tôi thực hiện đề tài này nhằm đánh giá tình trạng suy
giảm hoạt động bản hàng ngày bằng thang điểm
Barthel và xác định một số các yếu tố liên quan đến
tình trạng này ở NCT tại Bệnh viện đa khoa Thủ Đức
năm 2025.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu: Người cao tuổi (≥ 60 tuổi)
đến khám bệnh tại các phòng khám nội khoa ngoại
trú - Bệnh viện Đa khoa Thủ Đức từ tháng 5 năm
2025 đến tháng 7 năm 2025. Tiêu chuẩn lựa chọn
NCT có khả năng giao tiếp, nhận thức được. Tiêu
chuẩn loại trừ là NCT không tỉnh táo, mắc các bệnh
về tâm thần kinh, sa sút trí tuệ, câm điếc bẩm sinh.
*Tác giả liên hệ
Email: bacsihoanghai@gmail.com Điện thoại: (+84) 982797687 Https://doi.org/10.52163/yhc.v66iCD19.3564
177
T.H. Hai et al. / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 19, 175-181
2.2. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt
ngang.
2.3. Cỡ mẫu: Cỡ mẫu tối thiểu được tính theo công
thức ước lượng cỡ mẫu cho một tỷ lệ: n = 302.
2.4. Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện
liên tiếp tại các phòng khám nội khoa với số lượng 10
trường hợp mỗi ngày tại phòng khám Bệnh viện Đa
khoa Thủ Đức năm 2025.
2.5. Công cụ nghiên cứu: Thang điểm Barthel.
2.6. Phương pháp thu thập xử số liệu: Các
kết quả, số liệu được thu thập và xử lý trên máy tính
theo Excel 2010 và phần mềm thống kê STATA 14.0.
Để phân tích mối liên quan giữa suy giảm hoạt động
chức năng bản hàng ngày của NCT chúng tôi
dùng tỷ số chênh (hồi quy Logistic đơn biến đa
biến) với khoảng tin cậy 95%. Kết quả được xem
có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05.
3. KẾT QUẢ
Bảng 1. Đặc điểm nhân khẩu học
của đối tượng nghiên cứu (n=302)
Đặc điểm Số lượng Tỉ lệ %
Tuổi
60-69 tuổi 130 43,0
70-79 tuổi 122 40,4
>80 tuổi 50 16,6
TB ± ĐLC 71,5 ± 8,1 tuổi
(60-97)
Giới Nữ 186 61,6
Nam 116 38,4
Học vấn ≤ THPT 231 76,5
> THPT 71 23,5
Tình trạng
làm việc
Còn làm việc 45 14,9
Không làm việc 257 85,1
Tình trạng
thu nhập
Có lương/lương
hưu 144 47,7
Phụ thuộc 158 52,3
Có người
chăm sóc
183 60,6
Không 119 39,4
Tình trạng
sống chung
Ở chung cùng
gia đình 287 95,0
Ở riêng 15 5,0
Nhận xét: Tuổi trung bình 71,5 ± 8,1 (dao động từ
60 đến 97 tuổi). Nhóm 60–69 chiếm 43,0%, nhóm
70–79 chiếm 40,4% và nhóm ≥80 tuổi chiếm 16,6%,
nữ giới chiếm 61,6%, đa số NCT không còn tham gia
lao động (85,1%), có 47,7% người cao tuổi có lương
hoặc lương hưu, ngoài ra 39,4% NCT không người
chăm sóc và 5,0% sống một mình.
Bảng 2. Bệnh lý nền hay gặp NCT (n=302)
Đặc điểm bệnh Số lượng Tỉ lệ %
Tăng huyết áp 234 77,5
Bệnh mạch vành 142 47,0
Suy tim 47 15,6
Đái tháo đường type 2 121 40,1
Tai biến mạch máu não 82,6
Bệnh xương khớp 73 24,2
Rối loạn mỡ máu 226 74,8
Bệnh hô hấp 13 4,3
Bệnh tiêu hoá 170 56,3
Bệnh thận tiết niệu 12 4,0
Bệnh khác 65 21,5
Nhận xét: Bệnh lý phổ biến nhất là tăng huyết áp với
tỷ lệ 77,5%, tiếp theo rối loạn mỡ máu (74,8%)
bệnh tiêu hóa (56,3%). Bệnh mạch vành chiếm
47,0%, trong khi đái tháo đường type 2 chiếm 40,1%.
Bảng 3. Số bệnh và thuốc
đang sử dụng của NCT (n=302)
Đặc điểm Số lượng Tỉ lệ %
Số bệnh lý nền
Chỉ 1 bệnh 17 5,6
2-3 bệnh 139 46,0
>3 bệnh 146 48,3
Số thuốc đang
sử dụng
≤ 3 thuốc 47 15,6
4-5 thuốc 83 27,5
≥ 6 thuốc 172 57,0
Nhận xét: 46,0% mắc từ 2–3 bệnh 48,3% mắc
trên 3 bệnh, 27,5% dùng từ 4–5 thuốc 57,0% dùng
≥ 6 thuốc.
www.tapchiyhcd.vn
178
T.H. Hai et al. / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 19, 175-181
Bảng 4. Suy giảm từng loại HĐCBHN
ở NCT theo thang đo Barthel (n=302)
Đặc điểm Số lượng Tỉ lệ %
Ăn uống
Phụ thuộc 41,3
Cần giúp đỡ ít 42 13,9
Độc lập 256 84,8
Tắm rửa Phụ thuộc 39 12,9
Độc lập 263 87,1
Vệ sinh cá
nhân
Phụ thuộc 35 11,6
Độc lập 267 88,4
Mặc quần
áo
Phụ thuộc 24 7,9
Cần giúp đỡ ít 34 11,3
Độc lập 244 80,8
Đường
ruột
Không tự chủ 0 0,0
Thỉnh thoảng có
sự cố 98 32,5
Tự chủ 204 67,5
Đường
tiểu
Không tự chủ 0 0,0
Thỉnh thoảng có
sự cố 37 12,3
Tự chủ 265 87,7
Chăm sóc
khi đi vệ
sinh
Phụ thuộc 24 7,9
Cần giúp đỡ 1 ít 42 13,9
Độc lập 236 78,1
Di chuyển
từ giường
qua ghế
Không thể thực
hiện được 82,6
Cần giúp đỡ nhiều 36 11,9
Cần giúp đỡ ít 48 15,9
Độc lập 210 69,5
Khả năng
di chuyển
trên mặt
phẳng
Không thể di
chuyển được 11 3,6
Độc lập trên xe lăn 28 9,3
Đi với sự giúp đỡ
của 1 người 59 19,5
Độc lập 204 67,5
Lên cầu
thang
Không thể 42 13,9
Cần được giúp đỡ 65 21,5
Độc lập 195 64,6
Nhận xét: Hoạt động ăn uống: 13,9% cần giúp đỡ ít
1,3% phụ thuộc. Tắm rửa: 87,1% độc lập, 12,9%
phụ thuộc. Vsinh cá nhân: 11,6% phụ thuộc. Mặc
quần áo: 11,3% cần giúp đỡ ít 7,9% phụ thuộc.
Kiểm soát đường ruột: 32,5% thỉnh thoảng có sự cố.
Kiểm soát đường tiểu: 12,3% thỉnh thoảng có sự cố,
chăm sóc khi đi vệ sinh: 13,9% cần giúp đỡ ít 7,9%
phụ thuộc. Di chuyển từ giường qua ghế: 15,9% cần
giúp đỡ ít, 11,9% cần giúp đỡ nhiều 2,6% không
thể thực hiện. Khả năng di chuyển trên mặt phẳng:
19,5% đi với sự giúp đỡ, 9,3% độc lập trên xe lăn và
3,6% không thể di chuyển. Lên cầu thang: 21,5%
cần được giúp đỡ và 13,9% không thể thực hiện.
Bảng 5. Suy giảm HĐCBHN
ở NCT theo thang đo Barthel (n=302)
Nội dung Số lượng Tỉ lệ %
Suy giảm HĐCBHN 91 30,1
Không 211 69,9
Bảng 6. Mức độ suy giảm HĐCBHN
của NCT (n=302)
Đặc điểm Số lượng Tỉ lệ %
Hoạt động độc lập 211 69,9
Hoạt động phụ thuộc ít 44 14,6
Hoạt động phụ thuộc nhiều 33 10,9
Hoạt động phụ thuộc hoàn
toàn 14 4,6
Tổng cộng 302 100,0
Nhận xét: 30,1% bị suy giảm HĐCBHN, trong
đó phụ thuộc nhiều 10,9%, phụ thuộc hoàn toàn
4,6%.
Bảng 7. Một số yếu tố liên quan đến suy giảm
HĐCBHN qua phân tích hồi quy logistic
Biến số ORthô
(95%CI)
ORhc
(95%CI) p
Nhóm tuổi
70-79 tuổi 2,26
(1,16-4,48) 2,54
(1,13-5,70) 0,024
>80 tuổi 18,5
(7,69-45,5) 17,3
(6,22-48,1) <
0,001
Thường mất
ngủ/căng
thẳng (có)
2,99
(1,75-5,14) 2,87
(1,46-5,65) 0,002
Suy tim (có) 3,25
(1,63-6,48) 2,81
(1,19-6,61) 0,018
Đái tháo
đường type 2
(có)
3,36
(1,95-5,79) 3,14
(1,58-6,24) 0,001
Tai biến mạch
máu não (có) 7,38
(1,28-75,6) 8,08
(1,31-49,7) 0,024
Bệnh tiêu hoá
(có) 2,52
(1,45-4,47) 3,17
(1,53-6,59) 0,002
179
T.H. Hai et al. / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 19, 175-181
Nhận xét:Nhóm tuổi 70–79 tuổi (OR=2,54; 95%CI:
1,13–5,70) nhóm ≥80 tuổi (OR=17,3; 95%CI:
6,22–48,1) suy giảm cao hơn so với nhóm 60–69
tuổi; Nhóm thường xuyên mất ngủ/ căng thẳng suy
giảm cao hơn với nhóm ít mất ngủ/ căng thẳng (OR=
2,87; 95%CI: 1,46–5,65); nhóm mắc một số bệnh so
với nhóm không mắc gồm suy tim (OR=2,81; 95%CI:
1,19–6,61), mắc đái tháo đường type 2 (OR=3,14;
95%CI: 1,58–6,24), mắc tai biến mạch máu não
(OR=8,08; 95%CI: 1,31–49,7), mắc bệnh tiêu hóa
(OR=3,17; 95%CI: 1,53–6,59).
4. BÀN LUẬN
4.1. Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên
cứu (n=302
Tuổi trung bình của NCT được khảo sát là 71,5 ± 8,1
(dao động từ 60 đến 97 tuổi). Nhóm 60–69 chiếm tỷ
lệ cao nhất với 43,0%, sau đó nhóm nhóm 70–79
chiếm 40,4%. So sánh với nghiên cứu của Huỳnh
Trung Quốc Hiếu, tuổi trung bình khá tương đồng
(69,57 ± 7,25 tuổi), với phân bố nhóm tuổi 60–69
chiếm 52%, 70–79 chiếm 37,3% ≥80 chiếm 10,7%
[12]. Tổng dân số Việt Nam tại thời điểm 1/4/2009
85,85 triệu người, trong khi tổng dân số tại thời
điểm 1/4/2019 96,21 triệu người. Trong giai đoạn
2009-2019, dân số cao tuổi ở Việt Nam tăng từ 7,45
triệu lên 11,41 triệu, tương ứng với tăng từ 8,68% lên
11,86% tổng dân số. [2].
Theo giới tính, kết quả nữ giới chiếm 61,6%, nam
giới chiếm 38,4%. Tổng điều tra dân số nhà ở năm
2009 năm 2019 chỉ ra rằng số lượng tăng thêm
của phụ nữ cao tuổi lớn hơn nam giới cao tuổi. Trong
giai đoạn 2009-2019, tốc độ tăng dân số hàng năm
của nhóm phụ nữ cao tuổi cao hơn so với nhóm
nam giới cao tuổi, tương ứng là 4,09% và 4,72%. Số
lượng người cao tuổi tỷ lệ dân số cao tuổi trong
tổng dân số đều tăng lên rõ rệt (như đã nêu trên) và
sự chênh lệch ngày càng lớn giữa phụ nữ cao tuổi
và nam giới cao tuổi khi tuổi tăng lên [13].
Kết quả cho thấy đa số NCT không còn tham gia lao
động (85,1%), chỉ 14,9% vẫn tiếp tục làm việc.
Điều này phản ánh đặc thù của nhóm tuổi cao, khi
khả năng lao động giảm sút do sức khỏe hạn chế,
mắc nhiều bệnh mạn tính và nhu cầu nghỉ ngơi sau
tuổi hưu trí. Việc một bộ phận nhỏ vẫn còn lao động
thể liên quan đến điều kiện kinh tế, thói quen sinh
hoạt hoặc mong muốn duy trì sự gắn kết xã hội.
Về tình trạng thu nhập, 47,7% người cao tuổi
lương hoặc lương hưu, trong khi 52,3% phải
phụ thuộc vào gia đình hoặc nguồn hỗ trợ khác. Tỷ
lệ phụ thuộc cao phản ánh thực trạng phổ biến
người cao tuổi tại Việt Nam, khi hệ thống an sinh xã
hội, đặc biệt là chính sách lương hưu, chưa bao phủ
hết đối tượng. Điều này đặt ra thách thức về an ninh
tài chính chất lượng cuộc sống, đồng thời nhấn
mạnh vai trò của gia đình trong việc hỗ trợ kinh tế và
chăm sóc người cao tuổi.
Trong nghiên cứu của chúng tôi tại Bệnh viện đa
khoa Thủ Đức, ghi nhận 39,4% người cao tuổi không
có người chăm sóc và 5,0% sống một mình. Kết quả
này thấp hơn đáng kể so với nghiên cứu của Huỳnh
Trung Quốc Hiếu (2021), khi tác giả báo cáo tỷ lệ
người cao tuổi sống một mình trong cộng đồng là
25,7%. Sự khác biệt này thể giải bởi bối cảnh
nghiên cứu: nghiên cứu cộng đồng phạm vi rộng
hơn kết hợp khảo sát một số các yếu tố hội,
dân sắp xếp cuộc sống, nhờ đó phản ánh
hơn thực trạng người cao tuổi sống đơn độc trong xã
hội, đồng thời hạn chế được một số yếu tố nhiễu khi
phỏng vấn [14]. Tỷ lệ người cao tuổi sống một mình
trong nghiên cứu của chúng tôi lại tương đồng với
nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Tâm trên 764 bệnh
nhân ngoại trú tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương,
với kết quả 5,8% [15].
4.2. Các bệnh lý nền hay gặp ở NCT (n=302)
NCT thường mắc nhiều bệnh mạn tính đi kèm đó
bệnh phổ biến nhất tăng huyết áp với tỷ lệ
77,5%, tiếp theo là rối loạn mỡ máu (74,8%) bệnh
tiêu hóa (56,3%). Bệnh mạch vành chiếm 47,0%,
trong khi đái tháo đường type 2 chiếm 40,1%. Một
số bệnh khác ghi nhận với tỷ lệ thấp hơn như: bệnh
xương khớp (24,2%), suy tim (15,6%). Các bệnh ít
gặp gồm tai biến mạch máu não (2,6%), bệnh
hấp (4,3%) bệnh thận tiết niệu (4,0%). Tlệ bệnh
khác (21,5%).
4.3. Số bệnh và thuốc đang sử dụng ở NCT (n=302)
Trong số 302 NCT, 5,6% chỉ mắc 1 bệnh, 46,0%
mắc từ 2–3 bệnh 48,3% mắc trên 3 bệnh. Như
vậy, đa số người cao tuổi trong nghiên cứu tình
trạng đa bệnh lý (≥ 2 bệnh).
Về số thuốc đang sử dụng, có 15,6% dùng 3 thuốc,
27,5% dùng từ 4–5 thuốc 57,0% dùng 6 thuốc.
Điều này cho thấy phần lớn người cao tuổi đang trong
tình trạng đa trị liệu.ặc điểm suy HĐCBHN NCT
theo các khía cạnh theo thang đo Barthel (n=302)
4.4. Đặc điểm từng loại HĐCBHN NCT theo thang
đo Barthel (n=302)
Hoạt động ăn uống: 13,9% cần giúp đỡ ít 1,3% phụ
thuộc. Tắm rửa: 87,1% độc lập, 12,9% phụ thuộc.
Vsinh cá nhân: 11,6% phụ thuộc. Mặc quần áo:
11,3% cần giúp đỡ ít 7,9% phụ thuộc. Kiểm soát
đường ruột: 32,5% thỉnh thoảng có sự cố, không ghi
nhận trường hợp nào hoàn toàn không tự chủ. Kiểm
soát đường tiểu: 12,3% thỉnh thoảng sự cố, không
trường hợp nào hoàn toàn không tự chủ. Chăm
sóc khi đi vệ sinh: 13,9% cần giúp đỡ ít và 7,9% phụ
thuộc. Di chuyển từ giường qua ghế: 15,9% cần
giúp đỡ ít, 11,9% cần giúp đỡ nhiều 2,6% không
thể thực hiện. Khả năng di chuyển trên mặt phẳng: