intTypePromotion=1

Tóm tắt Luận án Tiến sỹ tiếng Anh: Năng lực chiến lược, từ vựng, ngữ pháp tiếng Anh của sinh viên năm thứ nhất Đại học Thái nguyên: Cơ sở cho việc xây dựng hệ thống bài tập luyện tập

Chia sẻ: Yumimi Yumimi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:26

0
31
lượt xem
1
download

Tóm tắt Luận án Tiến sỹ tiếng Anh: Năng lực chiến lược, từ vựng, ngữ pháp tiếng Anh của sinh viên năm thứ nhất Đại học Thái nguyên: Cơ sở cho việc xây dựng hệ thống bài tập luyện tập

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận án nghiên cứu nhằm trả lời các câu hỏi sau: Các năng lực chiến lược của sinh viên sinh viên năm thứ nhất là gì? Mức độ năng lực từ vựng của sinh viên? Mức độ cú pháp của sinh viên là gì? Có những mối quan hệ đáng kể giữa mỗi cặp của năng lực từ vựng và cú pháp của sinh viên? Có những mối quan hệ đáng kể giữa năng lực từ vựng và cú pháp của sinh viên không?... Mời các bạn cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tóm tắt Luận án Tiến sỹ tiếng Anh: Năng lực chiến lược, từ vựng, ngữ pháp tiếng Anh của sinh viên năm thứ nhất Đại học Thái nguyên: Cơ sở cho việc xây dựng hệ thống bài tập luyện tập

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN<br /> Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam<br /> <br /> ĐẠI HỌC TỔNG HỢP BATANGAS<br /> Cộng hòa Philippin<br /> <br /> NGUY N THỊ THANH HỒNG<br /> <br /> NĂNG LỰC CHIẾN LƯỢC, TỪ VỰNG, NGỮ PHÁP<br /> TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊN NĂM THỨ NHẤT<br /> ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN: CƠ SỞ CHO<br /> VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP LUYỆN TẬP<br /> <br /> Chuyên ngành: Ngôn ngữ và văn học Anh<br /> <br /> TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ TIẾNG ANH<br /> <br /> THÁI NGUYÊN, 2014<br /> <br /> ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN<br /> <br /> Tiến sĩ. Amanda G. Banaag<br /> .............................................<br /> .............................................<br /> .............................................<br /> <br /> Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Đại học họp tại:<br /> …………………………………………………………………………<br /> Vào hồi<br /> <br /> giờ<br /> <br /> ngày<br /> <br /> tháng<br /> <br /> năm 2014<br /> <br /> C th t m hi u luận văn tại:<br /> -<br /> <br /> Thư viện quốc gia Việt Nam;<br /> <br /> -<br /> <br /> Trung tâm học liệu, Đại học Thái Nguyên;<br /> <br /> -<br /> <br /> Thư viện Trung tâm Đào tạo và Phát triển quốc tế;<br /> <br /> -<br /> <br /> Thư viện trường Đại học Tổng hợp Batangas, Philipin.<br /> <br /> 1<br /> CHƯƠNG I<br /> ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> <br /> 1.1. Phần giời thiệu<br /> Tiếng Anh được coi là một công cụ quan trọng để giao tiếp trong<br /> thế kỷ 21 khi thế giới trở nên toàn cầu hóa kinh doanh và thông tin<br /> liên lạc, tài chính, giải trí, hàng hải và hàng không. Nó cũng là ngôn<br /> ngữ đóng vai trò quan trọng trong các chính sách ngoại giao của<br /> chính phủ, khoa học, y học và các nghề nghiệp khác.<br /> Hơn nữa, được gọi là ngôn ngữ của thế giới, tiếng Anh được nói<br /> một cách rộng rãi. Có kiến thức của ngôn ngữ tiếng Anh để nâng cao<br /> trình độ học vấn thông qua việc cải thiện khả năng giao tiếp là cũng<br /> rất quan trọng. Nó khuyến khích mọi người ở các quốc gia khác nhau<br /> trò chuyện và làm kinh doanh với nhau. Một trong những lợi thế lớn<br /> nhất của một quốc gia trong thị trường lao động toàn cầu là việc<br /> thành thạo ngôn ngữ tiếng Anh của những người lao động có tay<br /> nghề cao. Trong lĩnh vực giáo dục, thông thạo ngôn ngữ tiếng Anh<br /> cũng giúp cải thiện kết quả học tập của sinh viên.<br /> Thành thạo ngôn ngữ tiếng Anh đã được xác định là một điều<br /> kiện tiên quyết trong nền kinh tế toàn cầu hóa; những nước có số<br /> lượng lớn dân số có khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh thì thường<br /> giành được lợi thế kinh tế. Ở các nước châu Á, xu hướng này đã được<br /> thực hiện bởi chính phủ và các cá nhân và do đó thúc đẩy sự quan<br /> tâm rộng rãi tới việc học ngôn ngữ tiếng Anh trong mười năm qua.<br /> Việt Nam không phải là ngoại lệ đối với xu hướng này vì Việt nam là<br /> một trong những nước không sử dụng tiếng Anh như ngôn ngữ mẹ<br /> <br /> 2<br /> đẻ. Trong một nghiên cứu năm 2011 của tổ chức EF Education First<br /> Ltd., Việt Nam đã được chứng minh là có chỉ số thành thạo tiếng Anh<br /> (EF EPI) là 44,32 hoặc rất gần Thái Lan là 39,41. Chỉ số này là chỉ số so<br /> sánh với trình độ tiếng Anh của các nước không nói tiếng Anh tính từ<br /> 2.368.730 thí sinh trên khắp 42 quốc gia và hai vùng lãnh thổ, tổng hợp từ<br /> năm 2007 đến năm 2009. Vào năm sau đó là năm 2012, Việt Nam đã cho<br /> thấy chỉ số thành thạo tiếng Anh của 52,14 hoặc mức độ thành thạo thấp,<br /> có cải thiện so với năm trước khi so sánh với Thái Lan mà đạt giá trị 44,36<br /> hoặc mức độ thông thạo rất thấp.<br /> Việt Nam đã ban hành Quyết định 1400 của Chính phủ trong<br /> năm 2008 với mục tiêu là để cải tạo triệt để các nhiệm vụ dạy và học<br /> ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc gia và thông qua đề án ngoại<br /> ngữ quốc gia của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GD & ĐT) nhằm mục<br /> đích bắt tay vào một cuộc cải cách giáo dục đầy tham vọng nơi tất cả<br /> các cấp học sẽ được yêu cầu phải đạt một trình tiếng Anh tối thiểu<br /> vào năm 2020. Theo chương trình này, Việt Nam không chỉ muốn<br /> phần lớn các sinh viên có thể sử dụng ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng<br /> Anh, tự tin trong học tập, giao tiếp hàng ngày và làm việc vào năm<br /> 2020, mà còn đòi hỏi các giáo viên trung học phổ thông đạt trình độ<br /> C1, các giáo viên trường tiểu học ở cấp độ cao thứ tư B1 và các nhà<br /> giáo dục trung học cao thứ ba-(B2).<br /> Theo Tiến sĩ Diana l. Dudzik, một thành viên cao cấp trong<br /> dự án về cải thiện ngoại ngữ của Bộ giáo dục, những học sinh đã học<br /> tiếng Anh trong vòng bảy năm bắt đầu từ năm lớp sáu thường không<br /> có khả năng sử dụng tiếng Anh ngoài lời chúc mừng đơn giản và<br /> những câu hỏi như "hello", "good-bye" và "tên bạn là gì?". Vấn đề<br /> này trở nên nghiêm trọng hơn các em bước vào bậc đại học, như các<br /> <br /> 3<br /> sinh viên năm thứ nhất, các em rõ ràng gặp trở ngại khi phải đương<br /> đầu với những nhiệm vụ khó khăn hơn khi học không chỉ tiếng Anh<br /> mà còn các môn khác như khoa học và toán học mà tiếng Anh là<br /> phương tiện hướng dẫn<br /> Như một thành tố ứng dụng của ngôn ngữ, năng lực giao tiếp<br /> là khả năng của người nói sử dụng quy tắc hoạt động khác nhau của<br /> hệ thống. Nó liên quan đến kiến thức ngữ pháp của người nói về cú<br /> pháp, hình thái học và âm vị học. Nó cũng bao gồm các kiến thức xã<br /> hội của người nói trong việc sử dụng chính xác ngôn ngữ. Biết tiếng<br /> Anh liên quan đến việc nói, viết, nghe và đọc. Sản sinh ngôn ngữ một<br /> cách chính xác cũng như sử dụng ngôn ngữ cho một mục đích cụ thể<br /> cũng là một phần của giao tiếp tiếng Anh. Khi người nói có thể thực<br /> hiện các chức năng giao tiếp cần thiết, họ đạt được năng lực giao tiếp<br /> bằng ngôn ngữ.<br /> Kiến thức của một người về ngôn ngữ và khả năng sử dụng<br /> ngôn ngữ để giải thích và tạo ra các văn bản có ý nghĩa phù hợp với tình<br /> huống mà ở đó chúng được sử dụng để biểu hiện năng lực ngôn ngữ của<br /> người đó. Điều này có thể được phát triển thông qua các hoạt động hoặc<br /> nhiệm vụ được sử dụng trong các tình huống thực tế hoặc các ứng dụng<br /> thực tế. Trong trường hợp của sinh viên, họ có thể phát triển năng lực<br /> ngôn ngữ thông qua các hoạt động có ý nghĩa trong lớp học và việc sử<br /> dụng ngôn ngữ trong các bối cảnh dựa trên nhu cầu, sự đam mê, và kinh<br /> nghiệm. Khi sinh viên được tham gia vào các khía cạnh khác nhau của<br /> công việc của riêng mình, không phải trong sự cô lập, thì cần thiết để<br /> giảng dạy, thực hành và đánh giá từ vựng, cấu trúc ngữ pháp, hình thức<br /> văn bản, và quy ước xã hội quan trọng để thực hiện nhiệm vụ này. Như<br /> vậy, mục tiêu của người Việt Nam học tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản