
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
PHẠM THỊ THU
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT
CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC ĐĂK TÔ,
TỈNH KON TUM
Chuyên ngành: Tài chính ngân hàng
Mã số: 834.02.01
TÓM TẮT
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
Đà Nẵng - Năm 2019

Công trình được hoàn thành tại
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐHĐN
Người hướng dẫn khoa học: TS. ĐINH BẢO NGỌC
Phản biện 1: TS. Hồ Hữu Tiến
Phản biện 2: TS. Nguyễn Phú Thái
Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt
nghiệp thạc sĩ Tài chính ngân hang họp tại Trường Đại học
Kinh tế, Đại học Đà Nẵng vào ngày 06 tháng 9 năm 2019
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
Trung tâm Thông tin-Học liệu, Đại học Đà Nẵng
Thư viện trường Đại học Kinh tế, ĐHĐN

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chi ngân sách nhà nước (NSNN) bao gồm hai bộ phận chính
là chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển, trong đó chi thường
xuyên chiếm tỷ trọng lớn nhất và có vị trí, vai trò rất quan trọng đối
với phát triển KT-XH đất nước. Những năm qua, KSC thường xuyên
NSNN qua KBNN của nước ta nói chung và huyện Đăk Tô nói riêng
đã có những chuyển biến tích cực; cơ chế KSC thường xuyên qua
KBNN đã từng bước được cụ thể theo hướng hiệu quả, ngày một
chặt chẽ và đúng mục đích hơn vả về qui mô và chất lượng. Kết quả
của KSC thường xuyên chặt chẽ đã góp phần quan trọng trong việc
sử dụng NSNN ngày càng hiệu quả hơn.
Mặc dù vậy, quá trình thực hiện công tác KSC thường xuyên
NSNN qua KBNN Đăk Tô vẫn còn những tồn tại, hạn chế, bất cập
như: sử dụng NSNN vẫn còn tình trạng kém hiệu quả, lãng phí, thất
thoát, dễ phát sinh tiêu cực. Chưa thực hiện đúng quy trình giao dịch
“một cửa” trong công tác KSC NSNN vẫn còn trình trạng nhận và trả
kết quả hồ sơ chứng từ cho khách hàng qua nhiều Cán bộ KSC ;
chưa thực hiện đúng quy định về thu hồi tạm ứng, tồn tại số dư tạm
ứng mang sang mỗi năm với số tiền lớn cụ thể năm 2018 là 3.736
triệu đồng; chưa có biện pháp kiên quyết thúc đẩy các ĐVSDNS
thực hiện đúng quy định về thời gian thanh toán tạm ứng nên để số
dư tạm ứng tập trung thanh toán vào thời gian chỉnh lý ngân sách còn
cao, tạo áp lực công việc cho KBNN Đăk Tô, vẫn còn tình trạng hồ
sơ, chứng từ chi vượt so với dự toán như UBND xã Đăk Trăm; chi
sai chế độ, tiêu chuẩn, định mức như UBND xã Tân Cảnh, Phòng
Giáo dục và đào tạo huyện Đăk Tô; hồ sơ, chứng từ không hợp pháp,
hợp lệ như Phòng Tài nguyên - Môi trường, Phòng Kinh tế hạ tầng,
chi sai nguồn được cấp như trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc,

2
Trường Tiểu học Nơ Trang Long.... Do vậy, việc KSC thường xuyên
NSNN qua KBNN Đăk Tô còn bộc lộ những hạn chế và tồn tại, ảnh
hưởng đến chất lượng sử dụng ngân sách, chưa đáp ứng yêu cầu
quản lý và cải cách thủ tục hành chính trong xu thế đẩy mạnh mở cửa
và hội nhập quốc tế.Tình hình nói trên đòi hỏi phải tăng cường kiểm
soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN. Đây là vấn đề được Chính
phủ, Bộ Tài chính đặc biệt quan tâm và là nhiệm vụ thiết yếu của
mọi công chức trong hệ thống tài chính nói chung và ngành KBNN
nói riêng.
Luật NSNN năm 2002 được thay thế bằng luật NSNN năm
2015 cùng nghị định 63 hướng dẫn luật đã tạo tiền đề, cơ sở pháp lý
tương đối hoàn chỉnh cho công tác tổ chức chi và kiểm soát chi
NSNN qua KBNN. Do đó trong thời gian vừa qua KBNN Đăk Tô
chi NSNN đặc biệt là chi thường xuyên đạt được những thành tựu
đáng kể đáp ứng nhu cầu kinh phí thiết yếu cho các mục tiêu cụ thể.
Mọi khoản chi được kiểm soát đúng quy trình, có trong dự toán, đảm
bảo đúng chế độ, tiêu chuẩn định mức của nhà nước. Kết quả công
tác KSC thường xuyên NSNN qua KBNN Đăk Tô đảm bảo đúng
tiến độ, phần lớn hồ sơ được giải quyết đúng hạn, kịp thời phát hiện
các trường hợp vi phạm để từ chối thanh toán các khoản chi thường
xuyên một năm lên tới hàng tỷ đồng. Vì vậy thiết lập một cơ chế
KSC ngân sách nhà nước là một vấn đề được quan tâm đúng mực.
Từ nhận thức những quan điểm, lý luận về quản lý và kiểm soát chi
thường xuyên từ nguồn vốn NSNN, qua nghiên cứu phân tích, đánh
giá, tôi đề xuất những khuyến nghị nhằm hoàn thiện kiểm soát chi
thường xuyên qua KBNN Đăk Tô trong thời gian tới.
Tôi thực hiện đề tài nhằm đóng góp một số ý kiến của mình
vào công tác KSC ngân sách nhà nước, đặc biệt là hoạt động chi
thường xuyên, đề tài tôi nghiên cứu là: “Hoàn thiện công tác kiểm

3
soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước
Đăk Tô, tỉnh Kon Tum”.
2. Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu là phân tích thực trạng công tác KSC
thường xuyên NSNN qua KBNN Đăk Tô, từ đó đề xuất những
khuyến nghị nhằm hoàn thiện công tác KSC thường xuyên NSNN
qua KBNN Đăk Tô tỉnh Kon Tum.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa những lý luận cơ bản về KSC chi thường
xuyên NSNN tại KBNN
- Phân tích thực trạng công tác kiểm soát chi thường xuyên
ngân sách tại KBNN Đăk Tô để đánh giá kết quả đạt được, hạn chế
và nguyên nhân.
- Đề xuất những khuyến nghị nhằm hoàn thiện công tác kiểm
soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước qua KBNN Đăk Tô.
Câu hỏi nghiên cứu:
- Công tác KSC thường xuyên NSNN qua KBNN bao gồm
những nội dung gì? Tiêu chí nào đánh giá hiệu quả công tác KSC
thường xuyên NSNN qua KBNN?
- Công tác KSC thường xuyên NSNN qua KBNN Đăk Tô
được thực hiện như thế nào? Thực trạng công tác KSC thường xuyên
NSNN qua KBNN Đăk Tô ra sao? Đã đạt được những kết quả gì?
Còn tồn tại, hạn chế những gì? Nguyên nhân của những tồn tại, hạn
chế đó là gì?
- Cần có giải pháp nào để hoàn thiện công tác KSC thường
xuyên NSNN qua KBNN Đăk Tô?
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là thực trạng công tác KSC thường

