
Tổng quan Siêu âm
* Ngày nay siêu âm là phương tiện chẩn đoán bệnh tiện lợi, không gây khó
chịu cho bệnh nhân.
* Và hơn thế nữa siêu âm còn được ứng dụng trong điều trị và nhiều ứng
dụng khác trong y tế.
* Tuy nhiên nắm rõ về siêu âm để có thể sử dụng cho an toàn ít có ai chú ý.
1. Tìm hiểu về sóng siêu âm

+ Tai chỉ nghe được các âm có tần số (16Hz-20Khz).
+ Sóng siêu âm có tần số >20 Khz nên không nghe được.
+ Siêu âm là phương pháp không gây sự ion hoá “non-ionizing”
+ Trong chẩn đoán và điều trị dùng sóng siêu âm có tần số trong khoảng (2
Mhz - 30 Mhz).
+ Siêu âm chẩn đoán sử dụng xung phản hồi “pulse echo”:
- Khi đầu dò phát ra sóng siêu âm, nó sẽ đi tới mô, một phần xuyên qua mô,
một phần sẽ bị hấp thụ và một phần sẽ phản hồi lại về đầu dò.
- Từ những tín hiệu phản hồi mang những thông tin máy tính sẽ tính toán,
xử lí và tái tạo ra hình ảnh.
+ Tùy theo phương của chùm tia, độ sâu, đường kính cấu trúc và thời gian,
biên độ của xung phản hồi sẽ đuợc mã hoá thành dạng “thang xám” (gray
scale).
+ Hình ảnh siêu âm sẽ được tái tạo thành hình ảnh 2D, 3D...:

Echo nội soi
- Hình 2D cho ta bíêt được khoảng cách, kích thước cấu trúc.
- Hình 3D để tăng thêm cho việc chẩn đoán bệnh, đo vận tốc máu.

2. Sơ lược về máy siêu âm chẩn đoán
+ Siêu âm chẩn đoán sử dụng sóng siêu âm chủ yếu 2-10 Mhz.
+ Sơ đồ nguyên lý cơ bản:
+ Hiện nay thiết bị siêu âm là thiết bị chẩn đoán có cấu trúc phức tạp, tuy
nhiên thì chúng cũng dựa vào các thành phần cơ bản:
- Đầu dò (transducer),
- Bộ xử lí,
- Bộ hiển thị kết quả thu được.
a. Đầu dò là nơi phát ra sóng siêu âm và ghi nhận lại sống phản xạ lại (echo)

+ Nguyên tắc dựa vào tinh thể áp điện (piezoelectric crystals) tinh thể áp
điện biến các tín hiệu điện thành tín hiệu dao động sóng và ngược lại biến
các dao động cơ học thành tín hiệu điện.
+ Trong siêu âm chẩn đoán thì đầu dò sẽ phát ra những năng lượng âm ngắn
vào cơ thể.
+ Để có được những xung này ta phải có một điện thế có biên độ cao, và
thời gian phát ra xung giữ 2 lần liên tiếp (tần số tái lập PRF) cũng như độ
rộng xung phải chính xác
+ Thông thường người ta thường dung PRF từ 1-10Khz,nghĩa là khoảng
cách giữa các xung là 0.1-1s
+ Mỗi đầu dò có một giới hạn phát xung được gọi là dải rộng, xung càng
ngắn dải rộng càng rộng
+ Tùy vào độ cong của đầu dò mà ta có các loại đầu dò: kiểu Linear Array,
Curved Array, Phase Array, Annular Array
+ Linear Array: các mảng đầu dò được xếp theo dạng thẳng ,dùng khảo sát
phần mềm, mạch máu, trong sản khoa
+ Curved Array: các chấn tử xếp theo dạng cong,vùng quét rông hơn và
được dung rộng rải khảo sát vùng bụng, sản khoa, vùng chậu….
+ Phase Array: khác với 2 loại trên, Phase array làm việc nhờ kiểm soát thời
gian quét của các chấn tử, ta có thể tạo ra những góc quét khác nhau.dùng để
khảo sát tim, gan, lách, những vùng khó đưa đầu dò vào.

