1
TỔNG QUAN VỀ VỆ SINH
Thời lƣợng: 2 giờ
Mục tiêu bài học:
Sau khi kết thúc bài học, sinh viên có thể:
1. Trình y được nội dung vai tcủa vệ sinh học môi trường nghề nghiệp
trong việc phát hiện kiểm soát các yếu tố nguy môi trường nghề
nghiệp
2. Trình bày các khái niệm cơ bản về yếu tố nguy cơ, đánh giá nguy môi
trường và nghề nghiệp
Nội dung
1. Môi trƣờng và mối liên quan tới sức khỏe con ngƣời:
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), sức khỏe được định nghĩa “trạng thái hoàn toàn
khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không chỉ đơn thuần là không bệnh,
tật” (WHO, 1948)
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về môi trường:
Theo Từ điển Sức khỏe an toàn Môi trường nghề nghiệp của Lewis: “Là tất cả
các điều kiện bên ngoài thể ảnh ởng đến đời sống, sự phát triển sinh tồn của
một thể sống. bao gồm nước, không khí, đất, tất cả thực vật, con người động
vật và mối quan hệ qua lại giữa chúng” (Vincoli, 2000)
Theo định nghĩa của Last trong từ điển Dịch tễ học (Last, 2001): “Môi trường tất cả
những bên ngoài thể con người. Môi trường thể được phân ra môi trường
vật , sinh học, hội, văn hóa v.v. bất cứ điều thể ảnh hướng tới sức khỏe
của quần thể”
Để xác định các yếu tố thuộc về môi trường, liên quan tới sức khỏe môi trường, Tổ
chức Y tế thế giới (WHO, 2006) cũng đưa ra định nghĩa mang tính thực tế hơn về môi
trường, tập trung vào các yếu tố liên quan đến sức khỏe, đó “Môi trường tất cả
các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học, cũng như các yếu tố thtác động đến hành vi
liên quan” trong đó c dụ yếu tố vật lý, hóa học, sinh học thể kể đến như tiếng
ồn trong môi trường, thành phần ô nhiễm trong nước sinh hoạt, v.v. và các yếu tố hành
vi liên quan đến môi trường như rửa tay, hút thuốc nơi công cộng v.v.
Môi trường ảnh hưởng rất chặt chẽ tới sức khỏe con người. Ngay từ khi cách mạng
công nghiệp diễn ra đầu tiên trên nước Anh, đất nước này đã ghi nhận rất nhiều vấn đề
nghiêm trọng liên quan đến ô nhiễm mỗi trường sống do công nghiệp hóa mang lại.
Việc lạm dụng hóa chất trong công nghiệp đã y nên ô nhiễm nghiêm trọng không
khí, nguồn nước sinh sống. Các vấn đề ô nhiễm trong lao động y ra các bệnh nghề
nghiệp như bụi phổi si líc, nhiễm độc chì v.v. trong cộng đồng người lao động. Với đà
phát triển của công nghiệp trên toàn thế giới hiện nay, các thảm họa do ô nhiễm môi
trường do hoạt động của con người không n hiếm gặp như rỉ phóng xạ, hóa chất
v.v.
Trong khi đó các vấn đề ảnh hưởng đến sức khỏe con người do vi sinh vật mang lại
như các bệnh do vi rút, vi khuẩn, sinh trùng không những không bị thanh toán
2
còn phát sinh thêm nhiều bệnh dịch mới con người chưa tìm ra thuốc phòng ngừa
và/hoặc điều trị
Các yếu tố vệ sinh môi trường tồn tại ở các dạng:
- Vật lý
- Hóa học
- Sinh học
Các yếu tố vật bao gồm ánh sánh, áp suất, tia xạ, rung, tiếng ồn…, các yếu tố hóa
học các hóa chất thể tồn tại dạng bụi, sợi, khói, sương, hơi …, các yếu tố sinh
học bao gồm vi khuẩn, nấm, vi rút, đơn bào, ký sinh trùng.
Các yếu tố éc my thể kể đến như làm việc theo ca kíp, khuân vác nặng, ng
việc lặp đi lặp lại…
Các yếu tố này luôn tồn tại trong môi trường sống m việc việc nồng độ, mức
độ của các yếu tố y vượt quá khả năng chịu đựng của con người sẽ gây nên các ảnh
hưởng tới sức khỏe thể chất và/hoặc tinh thần.
Theo Yassi cộng sự (2001), những nhu cầu bản cho một môi trường lành mạnh
bao gồm:
- Bầu không khí trong sạch
- Nước sạch và đủ nước
- Đủ thực phẩm và thực phẩm an toàn
- Nơi ở an toàn và thanh bình
- Môi trường toàn cầu ổn định
Trong đó các nhu cầu bản đều gắn chặt với các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học
trong môi trường và sự tương tác của chúng với con người.
Bầu không khí trong sạch:
Không khí yếu tố không ththiếu được cho sự sống của con người. Nếu không
không khí, con người sẽ chết sau vài phút. Theo Tổ chức Y tế thế giới các vấn đề do ô
nhiễm không khí nguy môi trường nghiêm trọng đối với sức khỏe đặc biệt các
nước đang phát triển. Các ô nhiễm thường gặp do bụi (PM) và Ozone (O3) thường gặp
các thành phố lớn. Các khí NOx, SO2 cũng các tác nhân y ô nhiễm không khí
thường gặp, thể gây các vấn đề về đường hô hấp cho con người. Theo ước tính của
tổ chức Y tế thế giới, ô nhiễm không khí y ra 165.000 trường hợp tử vong do ung
thư phổi trên toàn cầu năm 2004, trong đó khoảng 108.000 trường hợp do ô nhiễm
không khí ngoài nhà, 36.000 trường hợp do ô nhiễm không khí do đun nấu sưởi,
21.000 trường hợp do phơi nhiễm với khói thuốc lá thụ động.
Nước sạch và đủ nước:
Nước cũng một yếu tố không thể thiếu được của cuộc sống. Con người cần tối
thiểu 1 đến 2 lít nước mỗi ngày từ qua ăn, uống. Nếu thiếu nước trong vòng 4 ngày,
con người sẽ chết. Nước cũng được sử dụng cho các hoạt động sinh hoạt khác của con
người, trong nông nghiệp ng nghiệp, việc thiếu nước ớc không sạch
nguyên nhân gây ra các vấn đề trầm trọng cho sức khỏe con người. Theo ước tính của
tổ chức Y tế thế giới, hàng năm có 2 triệu người tử vong do nguyên nhân các tiêu chảy
do sử dụng nước không sạch. Cũng theo báo cáo của WHO, n 50 quốc gia vẫn lưu
3
hành dịch tả, hơn 260 triệu người nhiễm sán máng. Hàng triệu người bị ung thư và các
vấn đề răng miêng do nhiễm arsenic và nồng độ không an toàn của fluoride trong
nước.
Đủ thực phẩm và thực phẩm an toàn:
Thực phẩm đóng vai tquan trọng cung cấp năng lượng cho thể con người, nếu
không thực phẩm, còn người sẽ chết sau 4 tuần. Tuy nhiên thực phẩm cũng
nguồn nhiễm các yếu tố hại cho sức khỏe con người như hóa chất độc hại, vi sinh
vật v.v.
Nhiễm bẩn thực phẩm thể từ môi trường (đất, nước, không khí) hoặc từ các hoạt
động của con người như sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật. Do vậy môi trường đất,
nước, không khí không lành mạnh có thể dẫn đến nguồn thực phẩm thiếu an toàn và vệ
sinh cho con người, gây ra các vấn đề sức khỏe như tiêu chảy, bệnh tả v.v.
Nơi ở an toàn và lành mạnh:
Để sinh sống con người cần có nơi ở với hạn tầng lành mạnh và an toàn. Sự lành mạnh
thể hiện qua sở hạ tầng phù hợp, không quá chật chội không ô nhiễm. Môi
trường trong nhà xung quanh an toàn với các nguy cơ chấn thường từ hóa chất, bạo
lực, đặc biệt là đối với các đối tượng dễ bị tổn thương như trẻ em, người già
Môi trường toàn cầu ổn định:
Sự ổn định của môi trường toàn cầu liên quan đến các ô nhiễm mang tính đa quốc gia,
dụ như các khí NOx SO2 y mưa a xít, ung thư gia do tầng Ozone bị phá hủy,
việc di chuyển của các chất y ô nhiễm trên phạm vi lớn, biến đổi khí hậu v.v. dụ
về trận động đất tại Nhật Bản năm 2011 gây ra rỉ phóng xạ, y ra các đám mây
phóng xạ ảnh hưởng đến nhiều quốc gia thể một dụ về vấn đề môi trường tại
một quốc gia có thể ảnh hưởng sâu sắc tới các quốc gia khác.
2. Vai trò của vệ sinh môi trƣờng, kỹ thuật môi trƣờng trong phát hiện kiểm
soát các yếu tố nguy cơ môi trƣờng và nghề nghiệp
Vệ sinh học (môi trường nghề nghiệp) khoa học về việc xác định, đánh giá
kiểm soát các tác nhân trong môi trường có thể gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người.
Mục đích của vệ sinh học nhằm giảm thiểu nguy cơ con người chịu ảnh hưởng bởi các
yếu tố vệ sinh môi trường và tại nơi lao động.
Trong vệ sinh học không chỉ quan tâm đến hậu quả sức khỏe về thể chất mà cả các yếu
tố tâm lý và cảm xúc.
Khoa học và k thuật vệ sinh giúp xác định, đánh giá, theo dõi các chỉ số vệ sinh, cũng
như đảm bảo giảm thiểu hoặc loại trừ các yếu tố vệ sinh ảnh hưởng tới sức khỏe.
Đo lường, theo dõi các chỉ số vệ sinh:
- Trong quy trình đánh giá nguy sức khỏe môi trườngnghề nghiệp, việc đo
lường các chỉ số vật hóa học, sinh học v.v. ý nghĩa quyết định trong việc
đánh giá nguy đối với sức khỏe con người. Việc thực hiện đo lường thuộc
bước 1 và bước 2 trong quá trình đánh giá nguy cơ
- Theo dõi các chỉ số vệ sinh: việc đo ờng giám sát môi trường sẽ giúp cho
quá trình nhận diện nguy mới phát sinh, tăng lên hay giảm đi của nguy cơ
4
hiện có, giúp cho việc đánh giá xem các giải pháp kiểm soát nguy hiện
hiệu quả hay không
Kỹ thuật vệ sinh:
Khi nguy sức khỏe do môi trường nghề nghiệp mang lại đã được xác định
đánh giá là trầm trọng, việc quản nguy trong đó việc áp dụng các giải pháp
giảm thiểu yếu tố nguy cơ trong môi trường là cần thiết.
3. Các khái niệm bản về yếu tố nguy cơ, đánh giá nguy cơ, các kỹ thuật kiểm
soát nguy cơ môi trƣờng và nghề nghiệp
Theo Ropeik Grey (2002): nguy được định nghĩa xác suất việc phơi
nhiễm với yếu tố nguy cơ sẽ để lại một hậu quả xấu”. Một định nghĩa khác cũng tương
tự nhưng cụ thể hơn nsau: Nguy cơ SKMT la
xác suất một hậu quả xấu sẽ xẩy ra
trong một khoảng thời gian nào đó, trên một người, một nhóm người, hay trên cây cối,
động vật hay hệ sinh thái của một vùng nào đó do phơi nhiễm với một yếu tố nguy cơ ở
một liều hay nồng độ nhất định(enHealth Council, 2004), nghĩa nguy phụ
thuộc vào mức độ độc hại của chất phơi nhiễm mức độ phơi nhiễm. vậy, các
định nghĩa này có thể được mô tả bằng công thức sau đây:
Nguy cơ = Xác suất x Hậu quả x Yếu tố nguy cơ x Phơi nhiễm
Cán bộ thực hiện công tác Đánh giá quản nguy cần hiểu các yếu tquyết
định nguy cơ được liệt ở công thức trên. Xác suất một yếu tố mang tính thống
nhằm tả khả ng một việc đó sẽ xẩy ra, dụ „Nguy mắc bệnh ung thư do
phơi nhiễm với chất hóa học X nồng độ Y một phần triệu‟, „Nguy mắc bệnh
tiêu chảy do khuẩn Salmonella trong nem chua nếu bạn ăn 100 g nem chua mỗi
tuần Z”. Xác suất “Z” phụ thuộc vào nhiều yếu tố như lượng khuẩn Salmonella
trong thịt, mức độ nhạy cảm của từng nhân, lượng nem chua đã ăn, nem chua được
ăn ngay hay rán lên rồi mới ăn v.v.
Hậu quả những tác động xấu tới sức khỏe do việc tiếp xúc với yếu tố hay chất ô
nhiễm môi trường có tác động rất lớn đến nhận thức nguy của người dân, dụ,
„khả năng (xác suất) một tai nạn xảy ra tại một nhà máy điện nguyên tử rất thấp,
nhưng vẫn tiềm ẩn một nguy do thể dẫn đến những hậu quả thảm khốc nếu
điều đó xảy ra‟ hay “khả năng bị mập tấn công khi bơi các bãi biển Việt nam
thấp, tuy nhiên mọi người vẫn sợ bị mập tấn công do họ đã được xem trên truyền
hình một vài trường hợp tử vong do mập tấn công những nơi khác. vậy, với
nhiều nguy cơ, mặc dù xác suất khá thấp nhưng hậu quả lại khá nghiêm trọng
mọi người vẫn nhận thức chúng tiềm n những nguy cao”. Do vậy, “hậu quả”
một yếu tố quan trọng tạo nên nguy cơ. Hậu quả có thể nhiều cấp độ từ không đáng
kể, nhỏ, không nghiêm trọng, nghiêm trọng cho đến thảm khốc.
Yếu tố nguy khả năng một chất hay một yếu tố sẽ gây ra một tác động tiêu cực
lên sức khỏe nếu sự tiếp xúc. dụ, „loại vi rút này là một yếu tố nguy cơ thể
gây ra sốt xuất huyết người; hay vi khuẩn này một yếu tố nguy vì có thể y ra
5
dịch tả ở người v.v.”. Tuy nhiên, nếu chúng ta không phơi nhiễm với một tác nhân nào
đó, thì cho rằng yếu tố nguy y thể tạo ra những mối nguy hiểm tiềm ẩn
nhưng nguy hiện hữu tối thiểu. dụ, một người sẽ không mắc bệnh sốt xuất
huyết nếu không bị muỗi Aedes (muỗi vằn) đốt. Bảng 1 và nh 1 i đây mô tả một
số yếu tố nguy cơ vi sinh vật phổ biến trong thực phẩm và nước.
Các yếu tố nguy cơ được phân loại dựa trên bản chất của yếu tố nguy cơ. Có bốn nhóm
yếu tố nguy cơ chính:
- Hóa học
- Vật lý
- Sinh học
- Tâm sinh lý Éc gô nô my
Định nghĩa về yếu tố hóa học: Các yếu tố hoá học là những chất, hoặc hợp chất có một
hoặc nhiều nguyên tố kết hợp với nhau dạng xác định theo tỷ lệ nguyên tử lượng
(Vincoli, 2000)
Định nghĩa y giúp phân biệt các hợp chất, đơn chất nguyên tử lượng không bền
vững, dụ ncác chất phóng xạ. Khi các hợp chất các đơn chất nguyên tử
lượng không bền vững, chúng sẽ được xếp vào nhóm các yếu tố vật lý. Về mặt bản
chất, các yếu tố này khác các yếu tố hóa học do đặc tính không bền vững. Về mặt tác
động, các yếu tố y cũng chế tác động khác so với các yếu tố hóa học, sẽ được
bàn luận chi tiết hơn ở trong các bài sau.
Các yếu tố vật thể được liệt như: tiếng ồn, ánh sáng, tốc đgió, nhiệt độ, độ
ẩm v.v.
Các yếu tố sinh học thường gặp trong môi trường trong lao động: con người, động
vật, vi khuẩn, vi rút, nấm mốc và ký sinh trùng
Các yếu tố m sinh éc my: các yếu tố liên quan đến sự phù hợp của môi
trường, môi trường lao động với khả năng của con người. Các yếu tố tâm sinh lý éc
my thường gặp trong môi trường như bàn ghế sử dụng trong sinh hoạt, phương tiện
đi lại, đường xá, biển chỉ dẫn, kích thước thiết kế của giày dép, quần áo v.v. Trong
lao động, các yếu tố này đặc biệt ảnh hưởng tới khả năng lao động sức khỏe của
người lao động
Phơi nhiễm là sự tiếp xúc giữa chất hay yếu tố ô nhiễm với đối tượng đích , dẫn đến sự
thấm nhiễm; ví dụ trẻ em tiếp xúc với đất bân va cac mâm bê
nh trong đât . Hậu quả
những tác động xấu tới sức khỏe do việc tiếp xúc với yếu tố hay chất ô nhiễm i
trường. Nếu một người không phơi nhiễm với một yếu tố nguy thì sẽ không
nguy cơ sức khỏe. Ví dụ, „sự phun trào của núi lửa có thể không là một nguy cơ với tôi
do tôi sống nội; hay “sốt xuất huyết thể không một nguy đối với những
người dân Châu Âu do họ không phơi nhiễm với vi rút sốt xuất huyết muỗi Aedes
không lưu hành Châu Âu; hay “nguy mắc bệnh ung thư của người dân sống tại
Hà nội do phơi nhiễm với TCDD chất độc nhất thuộc nhóm dioxin- là tối thiểu bởi vì
họ không phơi nhiễm với TCDD trong môi trường, trong khi nguy của người dân
địa phương sống tại các điểm nóng dioxin Việt nam khá cao nếu họ tiêu thụ các
thực phẩm nguy cao được nuôi trồng tại địa phương”; “nguy bị bệnh tiêu